Bài mới

HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN (3)

1b. Những bài thơ của T.T.Kh:

                   + Bài số 1: HSHTG.

                             Huyền thoại hoa Ti-Gôn

Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa Ti-Gôn có tên khoa học là “Antigono leptopus”; nhưng “Antigone” trong bi kịch Hy Lạp của thi hào Sophocles (năm 442 trước Tây lịch) còn thể hiện người đẹp mang đức tính và khát vọng yêu đương của một phụ nữ.

Hoa Ti-Gôn có hai sắc màu hồng và trắng (có người cho nó có ba màu: trắng, hồng và tím đỏ) với những cánh hoa bé tí xinh xinh như hình trái tim. Vì thuộc dạng dây leo nên hoa Ti-Gôn không tự đứng mà phải nhờ vào giàn cây khác. Vậy gọi ”Hai sắc hoa” nghĩa là sao? Có phải ngụ ý muốn nói tới hai màu của hoa để ẩn dụ cho hai khía cạnh của một tình yêu?

Lê Bá Lân trong “Đặc khảo về những ‘Loài hoa tim rướm máu’ “ cho chúng ta những điều hiểu biết lý thú về loại hoa máu này:“Trong mắt Tây phương, hoa ti gôn hoàn toàn không dính dấp gì với tình yêu như trong chuyện TTKH. Cái tên ti gôn bắt nguồn từ thần thoại Hy lạp. Tuy nhiên, nhân nói đến biểu tượng về tình yêu, nói đến những tu từ bóng bảy như ‘hoa lòng,’ ‘hoa máu,”hoa trông dáng như tim vỡ,’ trong đoạn sau, tôi mời quí bạn tìm hiểu thêm về những đóa hoa hình ‘Tim Rướm Máu’

Hoa ti gôn nguyên tên Tây phương là Antigone, ta gọi tắt là ti gôn. Nó còn mang nhiều tên khác rất đẹp tùy theo địa phương, xứ sở như:

– Tràng hoa vương miện của Nữ Hoàng (Queen’s Wreath)

– Hoa hồng của vùng Montana (Rose de Montana).

Khi về hưu ỏ Austin, Texas, tôi tình cờ tìm được hoa ti gôn ở Nursery dưới tên Mỹ thông dụng là Coral Vine (dây leo san hô).

Đặc biệt theo sách Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ, ti gôn còn được gọi là ‘Dây Hiếu nữ’ do phiên dịch cái tên Antigône nguyên là tên của một nữ nhân vật trong thần thoại Hy lạp. Antigone là con gái của ông Oedipe và bà Jocaste (viết theo chữ Pháp).

Oedipe (phiên âm Việt Nam đọc là Âu Điệp) và gia đình ông gặp phải một định mệnh trớ trêu, ngang trái và bi thảm nhất. Âu Điệp nguyên là con của vua vùng Thébès là Laios (Lai Ất) và hoàng hậu Jocaste (Du Cát). Vua Lai Ất phạm tội hoang dâm, cướp vợ người ta nên bị một lời nguyền rủa tiên tri là bản thân của ông sẽ bị chính con đẻ của mình giết, và đứa con này sẽ lấy mẹ nó. Do đó, vợ chồng Lai Ất và Du Cát tránh ăn nằm với nhau để không sinh con nhưng rồi nhân một đêm say rượu, ông bà lỡ sinh ra Âu Điệp. Sợ lời nguyền rủa, vua Lai Ất sai người đem bỏ Âu Điệp trong núi sâu cho chết, còn cẩn thận lấy dáo đâm xuyên chân nó, với ý đồ là oan hồn của nó không hiện về được! Nhưng Âu Điệp được mục đồng cứu sống, sau đó, được vua vùng Corinthe nuôi. Cái tên Âu Điệp đặt cho nó có nghĩa là bàn chân bị sưng húp (do vết dáo đâm!). Khôn lớn, Âu Điệp ra đi tìm kiếm pháp sư để hiểu về gốc gác gia đình. Trên đường đi, Âu Điệp gặp chính cha mình là Lai Ất nhưng vì không biết mặt nhau nên sinh ra gây gổ, Âu Điệp giết chết cha đúng như lời nguyền rủa!

Khi đến cửa thành Thébès là quê hương, Âu Điệp ra tay trừ khử con quái vật Sphinx (Linh Sư) để cứu dân tình khi đi qua thì bị nó ăn thịt! Linh Sư Sphinx hình thù đầu người đàn bà nhưng mình là sư tử có cánh, nằm chận bên đường ở cổng thành, bộ hành ai đi qua đều bị nó hỏi một câu đố, giao hẹn rằng đáp sai thì nó ăn thịt, còn đáp đúng thì chính nó tự lao mình xuống núi đá mà chết. Câu đố của Linh Sư là: ‘ Con vật gì lúc bé thì đi 4 chân, lớn thì đi 2 chân, khi già yếu thì đi 3 chân,’ Âu Điệp đáp đúng là: ‘ Con người!’

Nhờ công lao trừ khử Linh Sư, Âu Điệp được vị nhiếp chánh vương Créon (Khế Ông) cai trị vùng Thébès thay vua Lai Ất, tưởng thưởng bằng cách nhường ngôi vua và gả em gái của mình, bà hoàng hậu Du Cát góa bụa, cho làm vợ, đúng như lời tiên tri nguyền rủa: Âu Điệp đã giết cha và lấy mẹ mình mà không biết. Âu Điệp ăn ở với mẹ ruột mình một cách hạnh phúc và sinh ra 2 con trai là Étéocle (Thế Ốc) và Polynice ( Bá lý Nhi) và 2 con gái là Antigone (Thi Ân) và Ismène (Y Miên).

Về sau, vua Âu Điệp khám phá ra tông tích mình và tội lỗi giết cha cùng loạn luân với mẹ. Bà Du Cát xấu hổ treo cổ quyên sinh. Ông Âu Điệp thì tự đâm mắt cho mù. Bị đàm tiếu và khai trừ khỏi xứ, ông bỏ đi lang thang. Antigone Thi Ân là gái hiếu thảo, cũng bỏ cảnh nhà sung sướng, êm ấm, mà đi theo để dìu dắt người cha mù loà. Cả hai lang thang đến thành Nhã Điển thì cha chết. Tấm lòng cao quí hy sinh của nàng Thi Ân không ngừng ở đây. Ít lâu sau, khi nghe tin anh ruột mình là Bá Lý Nhi nổi loạn chống cậu ruột là vua Khế Ông, bị giết và bỏ phơi thây nhục nhã. Lệnh vua nghiêm nhặt, tuyệt đối cấm không cho ai chôn cất, mục đích cốt để linh hồn tử tội lang thang vất vưởng, không phục thù báo oán được. Nhưng nàng Thi Ân là người em gái lễ nghĩa, nhất quyết tìm xác anh rồi cưỡng lệnh vua mà rắc đất lên, làm một nghi lễ mai táng tượng trưng. Nàng liền bị vua Khế Ông là cậu ruột đem xử tử không một chút xót thương.

Huyền thoại Oedipe đã gợi ý cho văn hào tác kịch gia Hy Lạp Sophocle dựng hai vở bi kịch trứ danh về Oedipe. Bác sĩ Sigmund Freud, cha đẻ ngành Phân tâm học, là người đặt ra danh từ “complex,” nghĩa là mặc cảm, dùng để chỉ tập hợp những cảm xúc phức tạp bị dồn nén, ẩn sâu trong đáy tận cùng của tiềm thức người ta nhưng lại có sức mạnh chi phối, điều động cái bản ngã chiều nổi của mỗi con người, như mặc cảm tự tôn, tự ti; mặc cảm tội lỗi. Freud đã dựa vào thần thoại Hy Lạp trên mà đặt ra danh từ ‘mặc cảm Oedipe,’ chỉ khuynh hướng kín đáo của con trai thường luyến ái mẹ ruột qua hành vi bú mớm, vuốt ve da thịt trong tuổi thơ ấu được mẹ ẵm bồng mà ngược lại, thù ghét cay đắng đối cha ruột vì là tình địch, tranh dành ân ái với mẹ mình và nghiêm khắc răn đe, roi vọt đối với mình.

Mặc cảm Oedipe thì áp dụng cho con trai, đối với con gái thì là ‘mặc cảm Électre,’ dựa vào chuyện thần thoại Hy Lạp của người con gái tên Électre, con của ông Agamemnon và bà Clytemnestre. Để trả thù cho cha, Électre xúi đẩy em trai mình là Oreste ra tay giết chết bà mẹ và người tình của mẹ là Égisthe. Chuyện Électre đã được nhiều thi văn sĩ trong nhiều thế kỷ xưa nay dựng thành bi kịch như Sophocle, Euripide, Giraudoux, Eschyle.

Trở lại chuyện nàng Antigone hay Thi Ân, đã hy sinh tận tụy đối với người cha Oedipe Âu Điệp và liều chết vì anh là Polynice( Bá lý Nhi) cũng có thể hiểu trong một khía cạnh tâm lý trong tiềm thức, là bản ngã luyến ái tự nhiên chăng? Tôi chưa tìm được tài liệu vì sao tên của nàng Antigone Thi Ân hiếu đễ trong thần thoại Hy Lạp lại được dùng để đặt cho loài dây hoa leo ti gôn, dây Hiếu nữ! Có thể hoa này trông giống như tràng hoa quấn đầu mà nàng Antigone Thi Ân hay đội trong một vở bi kịch danh tiếng nào đó chăng? Hoặc có thể trên mộ nàng, đã bỗng nhiên mọc ra dây hoa này, giống như truyện Trầu Cau của Việt nam. Ai có trồng hoa ti gôn đều thấy lá cây hình quả tim, hoa cũng hình tim màu đỏ tươi như máu và thân nó có nhiều dây vòng như lò xo để bám leo lên dàn, tượng trưng cho sự quấn quít tự nhiên của sợi giây huyết thống, của tấm lòng hiếu thảo!

Ở Việt nam, TTKH là người đã dùng hình ảnh của hoa ti gôn trong những bài thơ danh tiếng của mình vì nó chứng kiến mối tình kín đáo, chung thủy của nàng trong hàng rào lễ giáo. Nàng đã trước bạ nó vào văn học rồi và gọi nó là loài hoa trông ‘dáng như tim vỡ,’ một cái tên mà kẻ yêu thơ Việt nam ghi nhớ mãi! Kỳ thực, về thảo mộc học,trên thế giới và nhất là ở Mỹ, những người chơi hoa còn gặp nhiều thứ hoa khác có tên là ‘ Hoa rướm máu’ ( Bleeding heart) mà tôi xin kể ra để quí bạn tường lãm:

1-Bleeding Heart Vine (Clerodendrum thomsoniae): loại dây leo gốc từ vùng bán nhiệt đới Á châu và Phi châu, 5 cánh hoa trắng kết lại, giống trái tim như hoa ti gôn nhưng có thêm một cái tua nhị đỏ tươi, ló ra ở giữa như một tia máu vọt ra!

2-Bleeding Heart (Dicentra formosa) là loại thường niên thảo, có hoa giống trái tim, màu hồng phớt, hồng đỏ ửng hay trắng. Ở đầu cánh hoa lú ra hai nhánh, trông giống như hai cái cựa nhỏ, nên loại hoa này mang một tên phân loại là loài ‘lưỡng cự’ ( di: hai; centra: cựa. G/s Phạm hoàng Hộ gọi là loài Cựa ri! )… Loại Hoa Tim rướm máu (Bleeding heart) thuộc gia đình Lưỡng Cự (Dicentra) thì nhiều xứ có và mang những tên đẹp khác nhau như: – Hà bao mẫu đơn (Hà bao là trông giống búp hoa sen) hay Ngư nhi mẫu đơn (giống hình cá nhỏ) tại Trung quốc – Hoa Man mẫu đơn (Man là lả lướt, mượt mà, lan man như làn tóc) tại Nhật bản. – Hoa Đậu San Hô vì có sắc đỏ tại nước Áo…

1- Hoa ti gôn có tên Mỹ thông dụng là CORAL VINE, thường bán ở các Nursery tại những tiểu bang miền Nam Hoa kỳ, nhất là Texas nóng bức, lá tươi xanh luôn vì tigôn ưa thích nắng chói chang. Tên khoa học là ANTIGONON LEPTOSUS. Đây là một loại dây leo cho ra hoa rất dài mùa trong năm, mọc mau, lan nhanh và che kín dàn và hàng rào.

2- Thời gian ra hoa nhiều: cuối hè đến thu…” (nguoi-viet.com).

– Nguồn cảm hứng từ đâu để T.T.Kh viết HSHTG?

Từ truyện “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu?

Hồ Thông kể lại lời TT: “Nhà văn Thanh Châu, có lẽ rõ tâm sự của tôi, đã viết và đăng truyện ngắn Hoa Ty-gôn, hàm ý an ủi và tỏ lộ cho biết ở đời chẳng có gì là bền vững cả. Truyện ấy còn đượm một chân lý, một triết lý sống. Rất thanh cao. Đạo đức. Rất mới. Vẫn bảo tồn văn hoá cổ truyền Việt-Nam’ (“Về những kỷ niệm quê hương”, NTK, sđd tr 190).

Như chúng ta đã xét ở trên: Thanh Châu đã khẳng định động cơ để ông ta viết là hoa Ti-Gôn nở rợp trời ở Hà Nội với chàng họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ Ti-Gôn. Khi tác giả đã khẳng định như thế thì người đọc chúng ta “thêm mắm muối” làm gì! NTK ghi lại tâm sự cuối cùng của TT kể cho Hồ Thông nghe như trên “Trong lửa đạn thù“. Tình tiết này cũng chưa ăn khớp. Ta loại bỏ.

Hoài Việt trong “Thâm Tâm và T.T.KH” (Nxb HNV – 1991) cho rằng: “người có tiếng nói trọng lượng nhất trong chuyện này là nhà văn Thanh Châu. Ông là tác giả bài ‘Hoa Ti-Gôn’ đã gợi hứng cho T.T.KH…”.

Nguyễn Thạch Kiên trong “Huyền thoại về nàng thơ T.T.KH” (VNKNQH, sđd) cùng ý: “Nhà văn Thanh Châu, ký dưới truyện ngắn Hoa Ty-gôn đăng trong TTTB. số 174 ra ngày 27-9-1937, vô tình là một ‘thủ phạm’ chính… Nội dung truyện Hoa Ty-gôn chợt khơi dậy niềm tâm sự T.T.KH…”.

Mã Giang Lân trong “Ghi thêm về Thâm Tâm và T.T.KH” (Văn nghệ số 13 tháng 3-90) cùng ý: “Thanh Châu chính là người khơi nguồn thiên tình hận này…” (“T.T.KH nàng là ai”, Thế Nhật).

Thế Nhật trong “Dẫn nhập” (T.T.KH nàng là ai? Nxb VH – 1994) chỉ ghi: “Một nghi án văn học từ đó đến nay… từ ngày truyện ngắn Hoa ti gôn của Thanh Châu đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy của Vũ Đình Long từ 1937…”.

Đây là sự thật hiển nhiên không cần lý luận gì cả vì Thanh Châu đã nói rõ và bài thơ HSHTG cũng ghi rõ vì sao T.T.Kh viết HSHTG.

Nguyễn Tấn Long trong “T.T.KH.” (VNTNTCTT sđd) thì “Sau khi phân tích hai bài thơ, xét về thời gian và sự kiện diễn biến, chúng tôi nghĩ bài Hai sắc hoa ty gôn là nỗi lòng hòa hợp với cảnh tình người con gái trong thiên tiểu thuyết của Thanh Châu. Nàng đưa ra bài Hai sắc hoa ty gôn như để hưởng ứng cuộc hòa tấu ngay giữa Hoa Ty gôn và Hai sắc hoa Ty gôn…”.

Thống nhất  HSHTG bắt nguồn từ truyện ngắn Hoa Ty-Gôn của Thanh Châu. Còn thông tin “râu ria”, chúng ta loại bỏ.

Mượn cốt truyện người để viết thành chuyện mình cũng không lạ gì. Nguyễn Du cảm “Kim vân kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân tận Trung Quốc mà viết “Truyện Kiều“. Nguyễn Du cảm Kinh Kha mà có “Kinh Kha cố lý”. Lạc Tân Vương cảm Kinh Kha mà viết “Dịch thủy tống biệt”. Á Nam Trần Tuấn Khải cảm Kinh Kha mà có “Tráng sĩ hành”. Vũ Hoàng Chương cảm Kinh Kha mà ra ”Bài ca sông Dịch”. Khái Hưng cảm Phạm – Trương mà viết ”Tiêu Sơn tránh sĩ”. Bùi Giáng cảm Vua Quang Trung mà viết ”Nguyễn Huệ”. Bạch Cư Dị cảm người ca kỹ mà viết ”Tỳ bà hành’’

TT tại sao không cảm được cốt truyện “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu mà “tức truyện sinh thơ” chứ? TT cảm được. T.T. Kh cũng ”cảm” được nên HSHTG ra đời. Báo ăn khách quá! Thế là các thi sĩ ”phục” lăn cũng vác bút xông trận nhưng khoác cái áo TT cho chắc ăn nên bài ”Màu máu Ti-Gôn, Các anh, Dang dở” nhanh chóng nhập cuộc tạo cơn sóng gió cho văn học thời bấy giờ để “trả đũa” bài HSHTG:

        Hai Sắc Hoa Ti-Gôn
Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài những lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

Thuở đó, nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh li,
Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng,
Là chút lòng trong chẳng biến suy!”

Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá! Tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

Từ đấy thu rồi thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ?
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Và từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng một người.

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha!

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi,
Một mùa thu trước rất xa xôi…
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu hoa đỏ rụng. Chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

                 (Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 179, 30-10-1937)

– Khai sinh bài thơ? Không tài liệu nào cung cấp chính xác.

– Bài thơ bao nhiêu đoạn?

Nguyễn Tấn Long: Trong VNTNTCTT cung cấp chỉ 10 đoạn với những từ thu không viết hoa và có dấu chấm, phẩy như trên.

Nguyễn Thạch Kiên: Trong VNKNQH, cung cấp 11 đoạn với những từ thu viết hoa và không dấu tu từ. Thêm một đoạn thứ nhì:

              Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát
Tay vít dây hoa trắng, chạnh lòng.
Thế Nhật: Trong “T.T.KH nàng là ai?” cung cấp 10 đoạn như NTL.

Khác : + Từ: “máu pha/máu phai

           + Thời gian đăng: “Bài thơ được đăng vào ngày 23 tháng 9 năm 1937”.

– Thời gian nào chính xác? Cần tính thời gian truyện ngắn Hoa Ti-Gôn trước:

Nguyễn Tấn Long ghi rõ truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu được TTTB số 174 đăng “ngày 27 tháng 9 năm 1937“.

Thế Nhật cho bài thơ HSHTG đăng “ngày 23 tháng 9 năm 1937“?

Té ra, HSHTG đăng… trước truyện “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu… 4 ngày?

Chúng ta chẳng rõ ai ghi đúng nhưng nếu như chưa có nguồn chính thức, thông tin thời gian của Thế Nhật bị bác bỏ vì trái khoáy với thực tế. Chúng ta chỉ còn chọn 27/9/1937 hay 30/10/1937?

Chúng ta cần hiểu thêm:

Thanh Châu đăng truyện đầu tháng 9. Báo TTTB phát hành mỗi thứ bảy hàng tuần. Do đó, báo đăng truyện Thanh Châu nhanh nhất cũng sẽ rớt vào thứ bảy của tuần thứ nhất/ tháng 9. Báo tới tay T.T.Kh nếu ngay trong tuần phát hành thì cũng sẽ phải rơi vào tuần thứ nhì của tháng 9 mới đến tay T.T.Kh được. Đọc xong, viết ngay thì cũng phải bay tuần thứ ba cái đã. Tuần thứ ba/tháng 9, T.T.Kh nếu gởi thư tới tòa soạn bằng xe… hai chân thì mau hơn gởi tới Bưu điện Hà Nội cho “bưu tá” chuyển bằng  xe… bốn chân (xe kéo). Tòa soạn có nhận bài nhanh nhất cũng phải chuyển qua tuần đầu tháng 10 mới in. In xong tuần thứ nhất tháng 10 ngày thứ bảy, báo mới như bánh mì nóng dòn ra lò… Làm sao thơ T.T.Kh ra trong tháng 9 được?

“Lịch Sách Vạn Niên” (Nxb Thẩm Dương 1995 – Hồ Thị Lạc dịch, Nxb VHDT – 1997) chỉ rõ: Ngày 23 tháng 9 năm 1937 tức là ngày 19 tháng 8 âm lịch Đinh Sửu. Đó là ngày thứ năm. Ngày 30 tháng 10 năm 1937 tức là ngày 27 tháng 9 âm lịch. Đó là ngày thứ bảy. (Cách chuyển đổi ngày giờ trên tuvi.vietshare.com rất tiếc, không tra được thứ trong tuần). Tính theo lịch Ngày Julius như tự điển bách khoa hướng dẫn:

JD mod7:    0       1         2         3        4          5          6 

Ngày:    Thứ 2  Thứ 3  Thứ 4   Thứ 5  Thứ 6   Thứ 7  Chủ nhật

thì lại đi trước cách tính của Lịch Sách Vạn Niên một ngày. Nghĩa là nếu trong tháng 9 năm 1937, có các ngày ứng vào ngày thứ bảy: 4. 11. 18. 25 thì lịch Ngày Julius là 5. 12. 19. 26 mới đúng vào ngày thứ bảy. Cách áp dụng này cũng chỉ chính xác tương đối. Ai còn giữ lịch năm 1937 thì giở ngay khỏi tra tìm, mệt!

Thống nhất thời gian đăng bài của HSHTG trên TTTB là ngày thứ bảy 30/10/1937.

– Bài thơ HSHTG gởi đăng trước hay BTTN gởi trước?

+ Bài HSHTG được gởi sau.

HT – HC trong TNVN, tr 360 ghi: “tòa báo nhận được một bài thơ nhan đề ‘Bài thơ thứ nhất’, rồi lại nhận một bài thơ nữa: ‘Hai sắc hoa ti gôn'”.

Phạm Thanh trong: “Thi Nhân Việt Nam hiện đại”, quyển thượng, “nối gót” HT – HC cho rằng: “T. T. Kh. là tên tắt của một nữ sĩ xuất hiện trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy xuất bản tại Hà Nội vào khoảng tháng 9 năm 1937, sau bài Hoa ti-gôn chuyện ngắn của ký giả Thanh Châu. Nữ sĩ gởi đến cho nhà báo trên một bài thơ nhan đề là Bài thơ thứ nhất, kế một bài nữa là bài Hai sắc hoa ti-gôn. Cả hai, đều ký bút hiệu là T. T. Kh” (petalia.org).
Xét:

* TTTB không phải cuốn sách nên tác giả nào ghi “xuất bản tại Hà Nội” là không chính xác. Phải ghi là “phát hành tại Hà Nội”.

* T.T.Kh. không thể xuất hiện vào khoảng tháng 9 năm 1937 được như đã phân tích trên.

* Nếu HT – HC cho BTTT gởi trước, tại sao TTTB lại không cho đăng trước? Bằng chứng BTTN đã đăng ngày 20/11/1937, còn HSHTG gởi sau lại đăng ngày 30/10/1937? Khi tác phẩm đăng thì tác giả mới xuất hiện bằng bút hiệu chứ?

+ Bài HSHTG đăng trước.

Thanh Châu trong “Những cánh hoa tim” (“Về những kỷ niệm quê hương“, sđd tr 166): “cùng dạo ấy, ở tòa soạn nhận được một bài thơ đầu của bà T.T.Kh…. Bài thơ tả cái tâm sự não nùng thầm kín của một người đàn bà đã có chồng nhớ lại tình duyên cũ…

                       Bảo rằng: “Hoa dáng như tim vỡ

                       Anh sợ tình ta cũng thế thôi!”.

NTL với VNTNTCTT cùng thông tin trên.

Ai đúng?

– Thanh Châu là người trong tòa soạn, là người trong cuộc. Tức là nhân chứng.

– HT – HC, Phạm Thanh chưa đúng vì về thời gian thiếu tính chính xác.

– Thời gian các bài  thơ của T.T.Kh không ai có phản kiến bằng tư liệu gốc thì chúng ta tin rằng chúng là vật chứng hữu hiệu nhất để khẳng định mọi vấn đề, trong đó bao hàm bút hiệu T.T.Kh xuất hiện trong ngày 30/10/1937 mà không nhân chứng nào có thể thay thế hoàn toàn.

Ngày nào đăng trước, tính bài đó trước như hiện nay là xong.

Khúc mắc của hậu thế?

HT – HC nhầm lẫn thời gian lớn khi so với Thanh Châu. Do đó, dù cuốn TNVN của HT – HC được xem như cuốn phê bình, giới thiệu tác giả có giá trị nhưng ở thời gian khai sinh những bài thơ T.T.Kh, thiên hạ không theo hai ông trừ Phạm Thanh. Trái lại, họ tin vào nguồn Thanh Châu hơn.

Lưu An từ Thụy Sĩ năm 2003 với bài “TTKh và những khám phá về thân thế của tác giả” (tuoitho.net) đã có công tổng hợp và nêu ra một vấn đề: “Khi bài thơ thứ nhất được đưa lên báo, có người thắc mắc tại sao bài thơ Hai sắc hoa Tigôn lại được gửi đăng báo trước bài Thơ thứ nhất?

Người ta cho rằng, tác giả đã làm bài Thơ thứ nhất, than khóc cho mối tình lỡ dở của mình từ lâu nhưng vì một lý do nào đó không gửi đăng báo. Nhưng sau đó, ngẫu nhiên đọc câu truyện ngắn Hoa Tigôn cuả ký gỉa Thanh Châu, cảm động với câu truyện và nhất là tìm thấy nhiều dữ kiện tương đồng với mối tình ngang trái của chính mình, tác gỉa đã làm bài thơ Hai sắc hoa Tigôn rồi gửi ngay cho toà báo. Chính vì thế bài thơ thứ nhất được phổ biến sau bài Hai sắc hoa tigôn”.

Giả thuyết này không đứng vững khi ta thấy: Hai bài thơ đều có nguồn động lực là hoa Ti-Gôn khi T.T.Kh “xem tiểu thuyết“, từ “ai đó mang lại cánh hoa tim“. Nội dung hai bài đều giống nhau nên không thể cho rằng vì lý do nào đó, BTTN làm trước mà không gởi đăng. Chúng ta không thấy chính HT – HC đã ghi trong TNVN là tòa soạn TTTB nhận bài “Bài thơ thứ nhất” trước hay sao? Nghĩa là T.T.Kh đã gởi bài này trước nếu theo cách hiểu trên.

+ BTTN cũng lấy nguồn từ hoa Ti-Gôn: “Bỗng ai mang lại cánh hoa tim”? Nếu theo Lưu An đưa ra thắc mắc của thiên hạ thì cũng đi lạc đường. T.T.Kh đã làm trước ư? Vậy ai là người “mang lại cánh hoa tim” cho T.T.Kh viết BTTN rồi cất lại? Khi đọc truyện Thanh Châu, T.T.Kh mới viết HSHTG gởi báo “vì thấy nhiều dữ kiện tương đồng với mối tình ngang trái của chính mình”? BTTN không cùng dữ kiện ư?

Thắc mắc và lý giải này không có cơ sở. Chúng ta loại trừ.

+ BTTN cung cấp dữ kiện khá “dữ dội” về cuộc tình dang dở này: Nhà nghệ sĩ. Vườn Thanh. Hẹn hò dưới trăng nghiêm trong mùa thu khô. Lấy chồng nghiêm luống tuổi nên hồn héo. Khóc buồn. Hoa Ti-Gôn gợi nhớ kỷ niệm. Không dám gặp người cũ dù biết người ấy vẫn thiết tha theo đuổi mình… Nó là lực lượng “hậu cần” cho “quân tiên phong” HSHTG đánh trước. BTTN ra đời sau là hợp lý.

+ HSHTG: Đơn giản hơn: Mùa thu. Hoa Ti-Gôn và người yêu thường… vuốt tóc. Cô gái tiễn người yêu đi xa. Cô gái kia có chồng nhưng chồng ái ân lạt lẽo vì biết vợ mình cứ nhớ thương người cũ. Hoa Ti-Gôn từ tiểu thuyết nọ gợi kỷ niệm buồn. Cô gái vẫn thương nhớ người yêu cũ.

Xét ra, HSHTG còn giấu nghề nghiệp của người yêu, không cho biết nơi chốn hẹn hò; còn BTTN khai ráo trọi: Đó là “chàng nghệ sĩ” (TT là họa sĩ, không gọi nghệ sĩ thì gọi là chi?). Nơi hẹn hò cũng “thú thật cùng qúy vị”: “Vườn Thanh”. Xem ra, BTTN mới… “đốt nhà” mình! Nếu nói vì truyện ngắn Thanh Châu có nhiều tương đồng với cuộc tình tác giả nên tác giả làm ngay bài HSHTG gởi ngay mà không gởi BTTN làm trước là cũng chưa chính xác. Ngay cả NTL cũng chưa “sáng suốt” khi nhìn nhận “nỗi lòng hòa hợp với cảnh tình người con gái trong trường thiên tiểu thuyết của Thanh Châu” sau khi “phân tích hai bài thơ, xét về thời gian và sự kiện diễn biến”. Thật là một kết luận “thầy bói sờ vòi voi”!

Truyện “Hoa Ti-Gôncủa Thanh Châu đi khá xa chi tiết của bản tự khai trong hai bài thơ trên của T.T.Kh về “thời gian và sự kiện diễn biến“. Cô gái không yêu chàng họa sĩ Lê Chất trong thời gian 8.9 năm mà chỉ yêu sau thời gian đó nhân tình cờ gặp lại trong buổi tiệc chiêu đãi của tòa lãnh sự Pháp. Nhân vật của T.T.Kh hay T.T.Kh yêu từ hồi nào. Nhân vật Mai Hạnh thích hái Ti-Gôn còn T.T.Kh hay nhân vật nữ trong bài thơ thì không. Lê Chất cùng Mai Hạnh rủ nhau bỏ trốn còn hai nhân vật trong hai bài thơ thì không. Nhân vật nữ T.T.Kh trong thơ bỏ đi lấy chồng. Nhân vật Mai Hạnh không dám bỏ trốn cùng Lê Chất và chết bất ngờ do chồng Mai Hạnh báo tin (chi tiết này được Thanh Châu dàn dựng vụng về, không đúng tâm lý). Còn hai nhân vật trong thơ thì… sống nhăn răng! Chỉ giống nhau: Chàng họa sĩ. Hoa Ti-Gôn. Dang dở một cuộc tình. Những cái sườn dang dở này áp dụng vào những mối tình oan nghiệt nào mà chẳng được.

Điểm đặc biệt ở đây chính là: Hoa Ti-Gôn!

Dù sao thì bài HSHTG cũng đã ra mắt độc giả trước với thời gian không thể chối bỏ. Cả hai bài, bài nào đăng trước hay sau (lý do nào đó) cũng cùng một nội dung. Nhưng nhẹ nhàng xét xem, chỉ có HSHTG mới lấy nguồn từ truyện ngắn Thanh Châu, còn BTTB thì lấy nguồn từ… HSHTG. Một tác giả có thể viết cùng một chủ đề, cùng một nội dung nhưng chi tiết, tình tiết phải khác đi chứ. Ta có thể thấy ngay ở Nguyễn Bính cùng chủ đề tình yêu, cùng nội dung viết cho người yêu, Nguyễn Bính có viết hai bài thơ cho cùng một cô gái cùng tình tiết, chi tiết bao giờ! Đây cũng là quy luật văn học. Chúng ta có thể tìm thấy quy luật văn học này trong tất cả các loại hình văn học: Chủ đề tình yêu. Lao động. Chống Pháp. Chống Mỹ… có một tác giả nào viết một tình tiết, một chi tiết trong một nội dung mà hai bài? Đi lạc động cơ này, không thấy có gì “quang minh chính đại” cả, dù mình “copy” của chính mình!

Ví dụ tác giả có 2 cuốn sách như Thế Nhật, in khác năm (1994 và 2001), sửa đổi lại rồi xuất bản hai nơi khác nhau (VH và VHTT), hai giấy phép, hai nhà in khác nhau nhưng… cùng nội dung, một cái tên “T.T.KH nàng là ai?” mà không ghi là “tái bản!”. Hoàng Tiến có hai bài “T.T.Kh là ai?” và “Giả thuyết về T.T.Kh” cùng nội dung đăng trên Nhân Dân Chủ Nhật, các nhà viết sách giáo khoa, tham luận cũng thế, chỉ cần thay đổi vài dòng, đổi tên thì thành bài khác. Không biết có hợp với nghĩa “Khoa học trong văn học” hay không? Riêng trường hợp những bài thơ của T.T.Kh, cùng nội dung mà có tới ba bài na ná như nhau sẽ lập tức bị đưa vào nghi án: Không phải một tác giả làm.

Còn bây giờ?

Bây giờ, ta xét nội dung của bài HSHTG xem xét hồi ức một cuộc tình của T.T.Kh với chàng nghệ sĩ trong thơ có ăn khớp với chuyện tình Khánh và TT bên ngoài hay không?

                          Nhân vật trong thơ?

Về nhân vật trong thơ, ta cũng không nên nặng về nhân vật đó chính là tác giả. Nhân vật trong thể loại trữ tình (Thơ, Trường ca) hay tự sự (Truyện, Tiểu thuyết, Kịch) đều có thể là nhân vật của tác giả qua đại từ xưng “Tôi” chứ không nhất thiết phải là tác giả “Tôi”. Do đó, tác giả T.T. Kh có thể kể chuyện mình, có thể kể chuyện người khác. Ta xem xét coi HSHTG nghiêng về “cái tôi là nhân vật của tác giả hay “cái tôi” của chính mình qua hồi ức bằng thơ?

Nội dung chuyện tình nhân vật của tác giả:

Bài thơ HSHTG được T.T.Kh hồi ức hai nỗi lòng đau xót biết bao nhiêu, trân trọng biết bao nhiêu về “người ấy” :

                             Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng

                             Dải đường xa vút bóng chiều phong.

 

                        …  Người ấy hường hay vuốt tóc tôi,

                             Thở dài trong lúc thấy tôi vui,


… Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
 

                            Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

Cảm nhận yêu và được yêu thương là cái hạnh phúc tuyệt vời nhất của tình yêu dù trọn vẹn hay không trọn vẹn. T.T. Kh là con người biết yêu thương thật lòng nên dòng thơ, câu nào cũng lấy nước mắt người ta. Câu nào cũng nghĩ cũng hiểu cho ”người ấy”:

                              Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng

                              Trời ơi, người ấy có buồn không?

                              Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ

                              Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

Lời than ”trời ơi !” kia không của riêng ai nhưng người than cũng nào có dám bật ra thành tiếng kêu lớn cho trời long, đất lở đâu! Than mà nuốt trở lại trong lòng ép trái tim kia vỡ máu ra mới đau tận xương, mới buốt tận cốt. Con sáo sang sông sao sáo vẫn ngóng trông! Buồn chết nửa con người đồng nghĩa với một trái tim vô hồn từ dạo người đi không trở lại cho từng cánh Ti-Gôn rơi rụng mãi bên đời!

Người đọc mang tâm trạng Thúy Kiều khóc mả Ðạm Tiên, tất nhiên, chẳng thể cầm giọt nước mắt khóc mướn, thương vay đau lòng này! Tan vỡ như thế, nát lòng như thế dù là người trong cuộc hay ngoài cuộc vẫn cảm nhận một tình yêu bên cạnh trong BTTN:

                         Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ

                         Người ấy ghi lòng: ”Vẫn nhớ em!”.

Đem cái đoạn hay nhất, đau đớn nhất của bài mà ai cũng thuộc:

                          Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

                          Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,

                          Và từng thu chết, từng thu chết

                          Vẫn giấu trong tim bóng một người!

để so với những dòng viết về người con gái ”cam chịu” hy sinh tình yêu của mình để cùng người chồng song bước cho ”phải đạo” này trong thơ TT giả mới thấy một trời một vực.

Tại sao mãi đến ngày 4/5/1940, TT mới có bài “Các anh“, nghĩa là phải chờ tới… ba, bốn năm sau TT mới có bài ”đáp lễ” cho HSHTG? Sao mà TT hững hờ, sao mà TT lạnh nhạt với mối tình độc nhất của mình như vậy? Có nghịch lý không? Chúng ta thấy có cái gì bất bình thường không? Đọc bài thơ, ta sao nghe mà khinh cái gã ”nghệ sĩ” cô hồn kia. Bài thơ rõ ràng hàm ý mỉa mai cái mối tình tuyệt vời mà T.T. Kh đã xây dựng nhân vật ”cô gái”:

                             Hãy vui lên các anh ơi !

                             Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về.

 

                         … Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi,

                             Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh.

                             Sá chi những chuyện tâm tình,

                             Lòng đau đem chữa trong bình rượu cay!

Bao nhiêu trân trọng yêu thương của độc giả dành cho TT đã bị cái từ ”sá chi”… ”lột” sạch sẽ. Sá chi nghĩa là sá gì, nghĩa là nhằm nhò chi… là rẻ rúng, là coi thường rồi còn chi nữa! Con người như TT nghe Vũ Cao đọc thơ cũ của mình đã khóc thì làm sao có một TT cợt đùa, chà đạp tình yêu mình đến thế?

Đã vậy, trong bài, thằng đàn ông trong đó thật tệ lậu, thật trâng tráo khi dựa trên nỗi đau thương của người con gái trong thơ T.T. Kh mà cười cợt, mà hợm hĩnh:

                            Miệng chồng Khánh gắn lên môi

                            Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.

TT viết như vậy chẳng khác nào ”bỏ bom” vô hạnh phúc người ta, chẳng khác nào đưa Kh đi vào tận cùng với sự rẻ khinh của chồng. Có sống sượng gì cũng không ai ngu ngốc bê cái  tên ”cúng cơm” thả tùm lum lên báo cho người ta ”thóc mách”! Người trong cuộc yêu thương ngần ấy, lỡ làng ngần ấy chắc chắn không thể thả xuống những câu mô tả tầm thường như vậy! Nó vừa phi đạo đức, vừa nặng tính cách ”dục tình” chứ yêu thương gì nữa với ”người ấy” mà T.T.Kh xây dựng. Từ ”sáng ngời” thả xuống, đám mây xám kéo lại bịt bùng …

                            Vâng, tôi vẫn biết có người

                            Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng.

                            Ðể hôm sau khóc trong lòng,

                            Vâng, tôi vẫn biết cánh đồng thời gian.

Từ ”vâng” vô thưởng vô phạt nhưng viết bình, phân tích có dẫn chứng càng tránh dùng từ này tốt hơn vì nó ngợi lên một ý hời hợt, cẩu thả một khi được lạm dụng dùng đầu câu. Trong bài thơ này, từ “vâng” lại như có một ý đắc chí, gật gù khinh khỉnh của kẻ tưởng mình biết tỏng tòng tong ruột gan kẻ khác. Đây không phải là thái độ của một người cảm thông.

Nhân vật này ”cố tưởng” mình là ”kẻ được” đang mơ màng đến hình ảnh ”choáng ngợp” tệ hại hơn một gã Mã Giám Sinh đối xử tàn nhẫn với Kiều trong ”đêm tân hôn”. Có một người yêu cũ như vậy thì thà: Cành lan, xác bướm chôn vào mồ sâu! Những lời này là nội tâm mà quyền được thố lộ chỉ dành cho người đàn bà đau khổ mà thôi. Ngòi bút TT giả này thật sự chả hiểu gì về nội tâm phụ nữ nên phun ra thêm:

                            Bao nhiêu hạt lệ còn thừa,

                            Dành ngày sau khóc những giờ vị vong.

                            Bao nhiêu những cánh hoa lòng

                            Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha.

Lời ”giáo huấn đạo đức” dỏm này ném xuống chà nát dòng nước mắt người yêu. Người cao thượng mà thế ư! Cười cợt, dửng dưng như chưa bao giờ biết rung động dưới những tia nắng ấm, chưa biết ngậm ngùi khi nắng tắt ngoài sân. Có người yêu như thế, nếu trước đó ”nhụy đào” đã lỡ bẻ cho hắn, giờ chỉ còn nước ”vạch trời kêu mà tuốt gươm ra”… chém!

Hai nhân vật, hai tính cách trái ngược không có một chút nào đồng nhất về sự rung cảm: Một người con gái thật lòng, đau khổ đáng thương! Một gã đàn ông hợm hĩnh, tầm thường phát ghét! Người con gái này quả thật là Kh thì gã cợt đùa kia dứt khoát không phải là TT. Vậy tác giả thật sự những bài thơ ký TT là ai?

Chứng minh một vấn đề, lý giải cho một quan niệm chỉ dựa trên một vài dẫn chứng như thế quả chưa thể thuyết phục. HSHTG là bản tình ca cho cuộc tình hai ngã rẽ, là nỗi niềm tâm sự sâu lắng đến đắng lòng của người con gái “xuôi chèo mát mái về bên ấy rồi”!.

Kiều sau khi thăm mả Đạm Tiên đã đoán biết và phập phồng cho số phận của mình: “Thấy người đó biết mình sau thế nào” thì trong HSHTG, nhân vật “người ấy” cũng đã lo lắng :

                             Bảo rằng: ”Hoa dáng như tim vỡ,

                             Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi”!

Sự linh cảm này đã từ hiện thực xã hội lúc bấy giờ như Nguyễn Nhật Huy trong ”Hai sắc hoa Ti-Gôn, bức thông điệp màu thắm pha” (suutap.com) đã nhận xét: ”Trước mối tình ‘không môn đăng hộ đối’ trái với những lễ giáo khắt khe và nghiệt ngã của xã hội lúc bấy giờ, chàng trai đã dự cảm được sự đổ vỡ đớn đau sẽ đến với cuộc tình của mình mà lòng nặng trĩu niềm u buồn khó tỏ bày”. Người con gái (cũng như Thúy Vân vô tư bảo chị: “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa“) đã ngây thơ cho cuộc tình mình là chắc chắn. Lưu Trọng Lư trong ”Tình điên” ”Một chút tình” như đứng về phía nàng:

                             Mười bảy xuân, em chửa biết gì

                          …Ngây thơ em đã biết gì đâu.

Vì không linh cảm được những bóng giăng hiu quạnh quanh tình yêu nên người con gái trong HSHTG mới thơ ngây:

                             Cho nên cười đáp: “Hoa màu trắng

                             Là chút lòng trong chẳng biến suy”..

Hoa Ti-Gôn mà ”người ấy” nói đến là hoa màu máu ”dáng như tim vỡ”, có sự suy nghĩ từ tim mà ra nên sâu lắng nhưng đầy lo âu, thắc thỏm trước hạnh phúc mong manh.

Hoa Ti-Gôn của người con gái là hoa màu trắng ngây thơ tuổi học trò nào có biết gì lo âu mà thắc thỏm? Màu trắng là màu bất di, bất dịch không phai cũng ”chẳng biến suy” theo thời gian.

Một hạnh phúc mà có hai  màu đối đầu cả ý và sắc đang ngược nhau. Tình yêu không thể dung hòa những đối nghịch này thì trước sau gì cái hạnh phúc hai sắc màu kia cũng không cánh mà bay!

Cuộc đời mấy ai biết được chữ ngờ. Đêm mờ sương bao phủ. Con bướm vàng đã đậu trái mù u. Nàng đó đã: “Trong một ngày vui pháo nhuộm đường” . Ý Nhi trong ”Thu rụng lá” có nhắc:

                             Mùa đông đến đón bên sông

                             Vội vã cô em đi lấy chồng.

”Cô em đi lấy chồng” cùng nghĩa với ”pháo nhuộm đường” nhưng mức độ giá trị thì ”pháo nhuộm đường” mang sắc thái ẩn dụ kín đáo hơn. (Chúng ta chú ý lời thơ đầy “ẩn dụ” này trong HSHTG và đó cũng là nét độc đáo của giọng thơ TT mang bản chất họa sĩ. Ngay cả đầu đề bài thơ cũng bao hàm ẩn dụ chứ không thẳng thừng là BTTN, BTCC hay ĐACC…). Đó là nguyên nhân cho nhân vật “người ấy” xa xót trong HSHTG :

                             Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,

                             Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

Lời thơ thắm đượm những “Chiều thu hoa đỏ rụng. Chiều thu” với một tiếng lòng buồn thê thiết như cả cuộc đời chưa bao giờ biết buồn gói gọn trong 10 đoạn (theo NTL) với 40 câu và 11 đoạn (theo MGL) với 44 câu thơ thất ngôn dù nam hay nữ làm thì hai người này phải là người trong cuộc hay “những người trong cuộc”.

Đấy là nội dung của bài thơ qua nhân vật tôi của tác giả T.T.Kh. Tới phiên, chúng ta xét nội dung bài thơ có giống chuyện tình TT và Kh trong cuộc đời?

Nội dung nhân vật trong thơ là nhân vật thật TT và Khánh:

Họ có mấy mùa thu yêu đương?

Ta thấy bài thơ mở đầu đã ghi rõ: “Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn”. Bài thơ đăng ngày 30/10/1937. Mùa thu trước tức là thu của năm 1936. Nhưng hai câu này “Từ đấy thu rồi thu lại thu” và “Mà từng thu chết, từng thu chết” đã làm hư hỏng nội dung hiện thực của bài thơ. Mới có cách một năm tức là một mùa thu, sao T.T.Kh  lại dùng “thu lại thu, từng thu, từng thu”? Tức cũng như ba năm. Lùi lại là năm 1935. Trong bài, nhân vật khẳng định lần nữa: “Tôi nhớ lời người đã bảo tôi. Một mùa thu trước rất xa xôi”. Mùa thu trước” mà “rất xa xôi” thì ít ra cũng mấy mùa thu rồi! Điều này là sai thời gian vì TT lên Hà Nội năm 1936 (theo Nguyễn Vỹ, theo nội dung bài thơ “một mùa thu trước“. Nếu nhiều mùa thu quá “thu lại thu, từng thu, từng thu…”, tuổi của hai nhân vật sẽ nhỏ lại và cơ sở lý luận sẽ có nhiều khe hở khi  TT mới 18. Thực tế, TT lên Hà Nội năm 1936. Còn TT lên Hà Nội năm 1935 không tài liệu có cơ sở đủ lý luận và chứng minh. Vậy họ có mấy mùa thu để yêu đương? Bài thơ HSHTG đưa người lên núi để… cỡi voi chơi thì BTCC, năm 1938 đã dẫn người xuống núi… cỡi… cọp về nhà: “Ba năm ví biết anh còn nhớ. Em đã câm lời có nói đâu!”. Ba năm này chính xác thời điểm họ yêu và xa nhau: 1936 – 1938.

Thắc mắc được đặt ra: Tại sao cùng một người làm mà hai bài thơ, hồi ức hai thời điểm khác nhau? HSHTG thì cho 1937-1935, BTCC cho 1938-1936? Nhưng trong hai câu thơ trong BTCC đang “khai khẩu” trên lại sinh ra mâu thuẫn:

– Khánh (nếu là T.TKh) hồi ức trong HSHTG có chân thật hay không?

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Và từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng một người.

Nguyễn Vỹ trong “Thâm Tâm và sự thật về T.T.KH.” (Văn thi sĩ tiền chiến, sđd tr 261): “Người đau khổ trong cuộc tình- duyên dang dở này không phải là cô Khánh. Trái lại, cô có đầy đủ hạnh- phúc với người chồng rất chìu chuộng cô. Trần-huyền-Trân gặp cô đi hí- hởn với chồng vào ăn kem ở tiệm Blanche- Neige (kem Bạch- Tuyết), Bờ-Hồ, hai lần. Hai ông bà nhìn nhau và cười với nhau ra vẻ âu- yếm lắm. Khánh đã có thai, được chồng nâng đỡ lên chiếc xe nhà Citroen, lúc ra về, còn đi một vòng quanh Hồ Hoàn- Kiếm. Trần-huyền-Trân kể lại cảnh âu- yếm đó cho Tuấn-Trình nghe và kết luận: ‘Con Khánh nó cho cậu leo cây, cậu còn si nó làm gì nữa thêm tủi nhục’ Người đau- khổ, dĩ-nhiên là Tuấn-Trình THÂM-TÂM. Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ-sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ-trọng-Can…”.

Nếu bài thơ này của Khánh làm như Hoàng Tiến khẳng định đã được nghe Phạm Quang Hòa kể lại trong “T.T.KH là ai?”: “Cô Khánh đọc Tiểu Thuyết Thứ Bảy in truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu (số tháng 9/1937) xúc động, tự thố lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn và gửi đăng Tiểu Thuyết Thứ Bảy…” (Thâm Tâm và T.T.KH, Hoài Việt) chắc chắn không thể nào. Người vui như thế, bận bịu với con cái, được chồng giàu có săn sóc, đau đớn gì mà viết những câu thơ hồi ức lộn xộn năm tháng như cứa vào lòng mình những vết thương… những vết thương… tự tạo!

Ta tạm cho nhân vật của T.T.Kh vừa mang tính cách nhân vật hư cấu vừa mang giá trị hiện thực của một cuộc tình mà mình là người trong cuộc. Hư cấu nhân vật và đặt nhân vật trong một bối cảnh đau thương, tan vỡ là môtip của hầu hết nhân vật trong các thể loại văn học. Đấy cũng là một trong những tiêu chuẩn để “ăn khách”. Điều này, chúng ta có thể thấy rõ nếu tờ báo nào đăng người tốt, việc tốt thì chắc chắn báo ế nhề, ế nhịt so với tờ báo đăng người xấu, việc xấu.

Riêng với trường hợp báo chí ngày xưa thì như thế nào?

TT đã kể với Hồ Thông “Trong lửa đạn thù” (sđd tr 190): “Nhờ ở bài viết của Thanh Châu, và cũng do những gợi ý của ông Vũ Đình Long, tôi đã nẩy ra ý tưởng ngộ nghĩnh là viết một loạt bài về những vấn đề đang ăn khách hiện nay: cảnh ép duyên con cái với những nét chấm phá bi thương giữa hạng giàu kẻ nghèo trong xã hội; tục tảo hôn nơi xóm làng: gái 15 phải lấy ông già 60 hoăc cô gái 17 phải lấy một cậu bé 4, 5 tuổi con nhà giàu… Cái éo le, mất hạnh phúc sau đó, chằng chéo nhau làm cho con người phát sinh rất nhiều hệ lụy chua xót”.

Cho dù Khánh, T.T.Kh hay một tổ hợp quen biết của TT làm bài thơ này thì nguồn cảm hứng được ghi nhận từ “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu: “Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết. Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa”. Tức là hơn tháng sau, T.T.Kh mới nói rằng đã đọc được truyện (không phải tiểu thuyết) của Thanh Châu. Đó là sự thật không thể nào phủ nhận. Vấn đề ở đây là nảy sinh những điều ấm ớ từ các bài thơ của T.T.Kh.

                     Thơ T.T.KH xuất hiện năm nào?

NTL trong “T.T.KH.” (VNTNTCTT, sđd tr 399) có đăng trích bài viết của Anh Đào “đăng trên báo Nhân Loại bộ mới số 108 tháng 7/1958”. Anh Đào đã… đào ra được mấy câu thơ trong BTTN, BTCC của T.T.Kh:

Biết đâu tôi, một tâm hồn héo

Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

                  (Hà Nội Báo, số 22, 3-6-36) (Bài thơ thứ nhất)

Buồng nghiêm thơ thẩn hồn eo hẹp,

Đi nhớ người không muốn nhớ lời.

                  (Hà Nội Báo, số 15, 15-4-36) (Bài thơ cuối cùng)

Càng chết dở! Năm 1936 mà T.T.Kh nhà ta đã có thơ trước truyện ngắn Thanh Châu rồi! Nếu Anh Đào thực sự… đào trúng huyệt phần quật xác T.T.Kh lên thì toàn bộ những gì từ trước đến nay viết về T.T.Kh hay Thâm Tâm, Trần Thị Vân Chung phải… chôn lại vào huyệt trống!?

Năm 1936, theo Anh Đào, T.T.Kh đã lấy chồng mà chồng trước đó những ba năm tức 1933. Thời điểm này, Thâm Tâm mới 16 tuổi đã bị… bồ đá, còn nếu T.T.Kh là Vân Chung mới…14 tuổi đã bị… chồng lấy! Vậy câu “Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết”, T.T.Kh 14 tuổi “thần thơ” này đã xem tiểu thuyết của ai chứ có phải của Thanh Châu đâu?

Anh Đào tức là Đào Tiến Đạt. Nguyễn Thạch Kiên trong “Huyền thoại về nàng thơ T.T.KH.” (VNKNQH, sđd tr 28-29) biết rõ: “Dịp này tôi được nghe, được biết về một huyền thoại trong thi ca Việt Nam: hiện tượng nàng thơ T.T.KH. đang được huyên truyền, xôn xao trong dư luận mấy năm trước… Tôi cố công dò hỏi. Và được rõ một số điểm cần biết qua bạn hữu của Thâm Tâm cũng như các văn nghệ sĩ Hà-Nội, trong số đó có nhà thơ Đào Tiến Đạt, tác giả Mấy nét thơ – Giải khuyến khích về Thơ năm 1939 do Tự Lực Văn Đoàn tổ chức”. NTK chú thích thêm: “Đào Tiến Đạt, nhà thơ, phục vụ trong ngành Hỏa Xa Đông Pháp. Năm 1949 đăng thơ trên tờ Thời Sự Chủ Nhật ở Hà-Nội ký dưới bút hiệu là Anh Đào. Di cư vào Nam, tiếp tục làm trong ngành Chuyên Chở Công Cộng (Hãng xe ô-tô-buýt của thành phố) rất thân với tác giả. Ông mất tại Sài-Gòn trước 1975”.

Tờ báo Nhân Loại mà Nguyễn Tấn Long đề cập tới đó là của Anh Đào làm chủ nhiệm kiêm chủ bút từ năm 1952 như Vũ Đình Long vừa chủ nhiệm kiêm chủ bút TTTB từ 1934. Một chủ bút mà thông tin mờ ớ như vậy sao?

T.T.Kh đã xuất hiện trên Hà Nội Báo từ năm 1936 theo Anh Đào là một thông tin rất đáng chú ý và rất quan trọng. Bởi vì nó đúng, nó sẽ phủ nhận sạch bách Huyền thoại T.T.Kh năm 1937 – 1938 và những cuốn sách, những bài viết “ăn theo” cũng… cười ra nước mắt, thẹn với người xưa. Nếu nó sai, nền Văn học Việt Nam lại phải mua thuốc tẩy để tẩy đi thêm những chữ viết bậy trên tường! Sách in sai, tác giả tuyển nhầm cũng lâm trận tiền là kẻ hại thanh danh, xúc phạm nhân thân người đã khuất! Phía nào cũng không tránh “thiên cổ tội nhân”!

Rất tiếc là không có ai đọc được HNB với TTTB. Đây là hai tờ báo duy nhất vừa là vật chứng vừa là nhân chứng. Nếu cả hai được mở ra thì tất cả vu vơ, cà pháo về “Huyền thoại T.T.Kh” phải khép lại vĩnh viễn! Sự kiện Anh Đào coi như không nguồn chính xác nên cho nó theo gió theo mây trôi đi đâu thì đi…

– Bài thứ 2:

 Bài thơ thứ nhất

Thuở ấy hồn tôi phơi phới quá,

Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương…

Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại,

Êm ái trao tôi một vết thương.

 

Tai ác, ngờ đâu gió lạ qua,

Làm kinh giấc mộng những ngày hoa,

Thổi tan âm điệu du dương trước

Và tiễn người đi bến cát xa.

 

Ở lại vườn Thanh có một mình,

Tôi yêu lá rụng lúc tàn canh,

Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo,

Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

 

Và một ngày kia tôi phải yêu

Cả chồng tôi nữa lúc đi theo

Những cô áo đỏ sang nhà khác,

– Gió hỡi! Làm sao lạnh rất nhiều.

 

Từ đấy không mong, không dám hẹn

Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm,

Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ,

Người ấy ghi lòng vẫn  nhớ em!

 

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,

Bỗng ai mang lại cánh hoa tim

Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên?

 

Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ

Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ!

Tóc úa giết dần đời thiếu phụ…

Thì ai trông ngóng chả nên chờ!

 

Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá

Vì tôi vẫn nhớ hẹn nhau xưa:

– “Cố quên đi nhé, câm mà nín

Đừng thở than bằng những giọng thơ!”

 

Tôi run sợ viết, lặng im nghe

Tiếng lá thu khô xiết mặt hè

Như tiếng chân người len lén đến.

Song đời nào dám gặp ai về!

 

Tuy thế tôi tin vẫn có người

Thiết tha theo đuổi nữa, than ôi!

Biết đâu… tôi một tâm hồn héo,

Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!

                    (Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 182, 20-11-1937)

Nội dung nhân vật trong bài thơ là nhân vật của tác giả.

Mang âm hưởng của HSHTG, bài thơ này đã ngậm ngùi nhắc lại trong hai khổ đầu một vết thương lòng đau nhói vì chia xa. Tám đoạn sau chuyển sang tâm trạng vừa muốn đối diện vừa muốn lẩn trốn quá khứ với hình ảnh người yêu cũ đang theo ngày tháng lớn dần lên trong ký ức với hơi thơ bỗng như mỉa mai…

T.T. Kh một lần nữa khắc họa hình ảnh người yêu cũ của nhân vật “Tôi” trong bài thơ với sự chắc chắn:

                             Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ,

                             Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em!

Thật tội nghiệp cho một niềm tin thơ ngây làm cho Xuân Diệu cũng ái ngại dùm trong ”Giục giã”:

                             Ai nói trước lòng anh không phản trắc

                             Mà lòng em sao lại chắc trơ trơ?

Tình yêu dù biết nó có lý lẽ riêng của nó từ lâu nhưng ở đời có cái gì là bền vững đâu vậy mà khối người đã tin đến mù quáng. Niềm tin này đã đi vào máu thịt cũng vì vậy mà những ai nếu đã yêu càng sâu thì đau càng nặng khi rơi vào hai cảnh hai lòng như Huy Cận trong “Vạn lý tình”:

                             Người ở bên trời, ta ở đây

                             Chờ mong phương nọ, ngóng phương này.

Mượn câu của Ts. Chu Văn Sơn trong bài viết về TBH của TT để nói về cái quả quyết chắc chắn trên của nhân vật nữ của T.T. Kh:“Người thiếu thông cảm chỉ thấy bề ngoài, người tri kỷ thì thấu từ gan ruột mà ra”. Với hồi ức của nhân vật tác giả T.T.Kh, tình yêu của họ đã đến giai đoạn vô cùng thắm thiết thì… tan vỡ! Nhớ thương, dằn vặt, tự trách là tiếng lòng của kẻ yêu mà xa. T.T.Kh đã để cho nhân vật “Tôi” thở dài, bối rối:

                             Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá

                             Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:

                          – “ Cố quên đi nhé, câm mà nín

                             Đừng thở than bằng những giọng thơ!”

Tự khuyên mình, tự vực mình đứng dậy, nhân vật của T.T.Kh cũng có sự đồng điệu với Thu Hồng qua “Mảnh hồn thơ” cũng khuyên nhủ:

                              Ðừng sầu lá rụng, khóc hoa rơi

                              Ðừng than thở tiếc ngày qua chóng.

Thái Can cũng khuyên nhủ với người yêu trong “Quên”:

Đã hẹn với em rồi, không tưởng tiếc

Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!

Thế nhưng, tất cả đã “phạm quy” hết rồi, đã nghĩ về nhau mất rồi. Lời thơ đã trào ra rồi. Dòng thơ đã viết ra rồi:

                             Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

                             Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên.

Đây là hai câu thơ hay nhất (đoạn thứ 6) trong 10 đoạn của bài thơ với sự chọn lựa, chắt lọc từ kỹ càng đến mức “cực xảo” về nội tâm với giọt nước mắt đã cạn cùng, nỗi nhớ thương về kỷ niệm đã tan ra, vỡ ra, rớt xuống…

Người thơ nhặt được. Có người nâng niu, đưa lên thành “Cô gái vườn Thanh” hay “Dòng dư lệ” như Nguyễn Bính. Có người “vấp” nó giữa đường, lượm lên, cười cợt trong “Các anh, Màu máu Ti-Gôn” ký Thâm Tâm.

Trong dòng nhạc, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh “Khi người yêu tôi khóc” đã rung động: “Khi người yêu tôi khóc, trời cũng giăng sầu. Cho từng cơn mưa lũ xoáy trong tâm hồn. Khi người yêu tôi khóc thành phố buồn thiu”. Trong thi ca, Nguyễn Du đã biến giọt nước mắt trên “nét hoa” của Thúy Kiều khi khóc Đạm Tiên thành “châu sa“: 

        Lại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

Nguyễn Du cũng biến dòng thu của Kiều thành “giọt ngọc” khi khóc Từ Hải:

Nàng càng giọt ngọc tuôn dào,
Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng.

Nâng niu làm sao! Trân trọng làm sao! Quý giá biết bao! Dù cho Nguyễn Bính có thấy rằng:

                           Tặng người gọi một dòng thơ

                           Hay là dòng nước mắt thừa đêm qua.

trong “Cô gái vườn Thanh” hay “Dòng dư lệ” thì người đọc cũng nghe thương yêu, cay đắng lắm vì hai câu thơ đắng cay nằm trong bài thơ đắng lòng, toàn những lời chân thật, cảm thông sâu sắc của Nguyễn Bính dành cho cô gái tội nghiệp nọ:

                          Đau thương qua mấy nhịp cầu

                          Cạn dòng nước mắt còn đâu khóc người.

Trong khi đó, người ký Thâm Tâm phun ra toàn những lời “máu lạnh” trong “Các anh”:

                          Bao nhiêu hạt lệ còn thừa

                          Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.

Trời ơi! Người ta chắt nuớc mắt “ép” thành dòng thơ có nghĩa bóp trái tim vỡ máu để yêu thương vậy mà kẻ làm “người ấy” kia “cạn máu tanh lời” cho đó là “hạt lệ còn thừa” sao mà gọi là tri kỷ, tri âm? Người  yêu tầm thường như thế  sao nhân vật của T.T. Kh có thể yêu trong mù đui mà không phát hiện ra?

Cái “người ấy” của nhân vật T.T. Kh là một người biết ngắm cả cái “lạnh lùng” (với “người ấy“, “cái lạnh lùng” cũng có hồn) nên nàng mới yêu thiết tha đến vậy. Nếu không, ai mà đi chắt ép ruột gan phèo phổi mình để mà… dâng hiến cho một người coi tình yêu như gió thoảng mây bay, cười tình cũ đã cạn ngày, cạn tháng!

Tình yêu một chiều không lấy sự thật lòng làm gốc rễ thì dẫu có đến trong bình minh thì cũng theo hoàng hôn ra đi mà thôi!

Nhân vật “Tôi” của T.T. Kh nào hay biết gì, vẫn yêu không đổi trong BTCC.

Đấy là chúng ta đang rung cảm với nhân vật của tác giả.

Còn đây nội dung nhân vật hiện thực là Khánh (theo Phạm Văn Hòa, Hoàng Tiến…) trong hai đoạn sau:

Tai ác, ngờ đâu gió lạ qua,

Làm kinh giấc mộng những ngày hoa,

Thổi tan âm điệu du dương trước

Và tiễn người đi bến cát xa.

 

Ở lại vườn Thanh có một mình,

Tôi yêu lá rụng lúc tàn canh,

Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo,

Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

Nếu Khánh là người viết bài thơ này hồi ký cuộc tình mình thì cô cũng… xạo pà cố! Khánh than rằng vì “tiễn người đi bến cát xa”để dẫn tới cô phải “Ở lại vườn Thanh có một mình”.

                             Thực sự có như vậy không?

 Nguyễn Vỹ trong “Thâm Tâm và sự thật về T.T.KH. (sđd tr 260) kể rằng: “Thế rồi một hôm, chàng họa sĩ đa- tình nhận được một bức thư của người yêu, không- của người hết yêu- báo tin nàng sắp lấy chồng. Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học- trò… Thư do một cô bạn gái của Khánh đem đến tòa báo Bắc- Hà trao tận tay Tuấn- Trình… Đại-khái Khánh nhắc lại tình-yêu ‘ thơ mộng’ của cô với ‘người nghệ- sĩ tài hoa son trẻ’ (những chữ cô dùng trong thư), tình-yêu rất đẹp, nhưng vì Thầy Mẹ của cô rất ‘nghiêm’, theo lễ -giáo, nên dù vị hôn-phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi, nhưng cô vẫn có bổn phận ‘giữ tròn chữ hiếu, không dám cãi lời Thầy Me đặt đâu ngồi đấy v.v…” Cô nói cô buồn lắm vì tình –yêu dang- dở, ‘em vẫn yêu anh mãi mãi’! không bao giờ quên anh, nhưng ‘van anh đừng giận em, thương hại em, chứ đừng trách móc em v.v…” Cô than thở đời cô khổ nên tình-duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm…”.

Cô đi lấy chồng chứ có tiễn TT đi “bến cát xa” nào? Thời 1935 – 1936 – 1937, TT đi đâu mà cô phải tiễn? Cô đi lấy chồng thì theo chồng về nhà chồng cho đúng tập tục lễ nghi phong kiến như thư cô viết cho Tuấn Trình: “theo lễ giáo… ” cô vẫn có “bổn phận giữ tròn chữ hiếu, không dám cãi lời thầy mẹ đặt đâu ngồi đấy” (Nguyễn Vỹ, sđd). Tất nhiên, thầy mẹ cô đằng nào không biết câu: “Tại gia tòng phụ. Xuất giá tòng phu. Phu tử tòng tử”? Cô Khánh vừa chia tay TT cuối mùa thu 1936 thì cô lấy chồng liền và một năm sau thì hồi ức bằng thơ cuộc tình mình?! Thời gian nào cho cô ở vườn Thanh để than khóc mối tình dang dở của mình? Nếu không phải chỉ còn TT “ở lại vườn Thanh có một mình” thì chẳng phải Khánh.

Còn hai câu đầu trong đoạn này:

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,

Bỗng ai mang lại cánh hoa tim

Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên?

Ta có thể diễn xuôi: Cô Khánh hay T.T.Kh muốn được yên thân, nghĩa là muốn quên mối tình này thì ai đó “mang lại cánh hoa tim” tức nhắc tới hoa Ti-Gôn?

Dòng dư lệ?

Nếu hiểu theo ý nghĩa từng từ một, thì “dòng dư lệ” mà T.T.Kh dùng, hóa ra chính là “dòng nước mắt thừa” (over tears). Nước mắt quá nhiều mới dư, mới thừa. Lại nữa, động từ “ép” ở đây dùng có vẻ “nhân tạo” nhiều hơn là dòng nước mắt tự nhiên. Tức là khóc giả đò. Khóc giả vờ, khóc giả đò nên mới ráng… rặn, ráng ép, ráng chắt thêm nữa cho người ta mủi lòng! Xảo ngôn thì gọi là “dòng dư lệ”!

Dòng lệ tràn nhiều thì chẳng cần chi mà “ép nốt“. Dòng lệ thì chảy tràn chứ không thể nhiễu ra từng giọt. Trong thơ, nhân vật này đã không khóc được mà cứ cố khóc nên mới “ép“. Nếu nước mắt thiệt thì không cần dùng các động từ, tính từ trợ giúp thì nó vẫn trào ra, nhỏ giọt ra như thường.

Chỉ là hai câu kiểu cách của một loại thơ ngày xưa. Ngôn ngữ này, chúng ta thấy rõ trong các sáng tác của nhóm “Tự lực văn đoàn”hay nhóm “Thơ Mới”.

Trong cuộc tình của TT và Khánh, không chi tiết của bất cứ nguồn nào kể cả TT cho rằng Khánh từng khóc nhất là khóc vì phải chia tay với TT ngoài Nguyễn Vỹ kể chuyện về bức thư của Khánh mà TT đã nhận.

                                    “Ai” ở đây là ai?

– Là Thanh Châu? Nếu đúng nữa, ai ở đây là cái người viết truyện “Hoa Ti-Gôn” cho T.T.KH viết HSHTG khơi lại mối tình xưa? Thế nhưng,“con kiến mà leo cành đa”, bài thơ đó có hai câu này: “Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết. Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa”. Xúc cảm từ truyện “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu nên T.T.Kh mới làm bài HSHTG chứ ai? Ai đây chính là Thanh Châu. Một đại từ “Ai” phiếm chỉ hoàn toàn ngẫu nhiên.

– Là chính… T.T.Kh?: Tự mình phủ định mình: “Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên. Bỗng ai mang lại cánh hoa tim… “?! Vậy, “Ai” ở đây là đâu còn là Thanh Châu nữa mà chính là…  T.T.Kh?

Nếu cả hai đại từ phiếm chỉ Aitrong hai bài thơ cùng một tác giả này đều hướng về Thanh Châu để viết ra hai bài thơ giống nhau nội dung thì dư thừa. Người khác viết với chủ để hoa Ti-Gôn và tình yêu này thì không sao. Chúng ta phải cho thật thông trong đầu chỗ này thì mới thấy có sự lạ. Hai tác giả từ nguồn ai” Thanh Châu để viết ra hai bài thơ, không vấn đề gì! Một tác giả, viết “ai”một Thanh Châu ngẫu nhiên, một Thanh Châu bị hờn trách? Vô lý ngay. Đại từ phiếm chỉ “ai” trong BTTN được hiểu phải là người trong cuộc chứ không còn là ngẫu nhiên nữa. Cho nên, nó xuất hiện hai lần trong BTTN: “Bỗng ai mang lại cánh hoa tim” với “Thì aitrông ngóng, chả nên chờ”. Không lẽ “ai” này T.T.Kh dùng để ám chỉ Thanh Châu!? Thật lãng!

Chỉ còn T.T.Kh tự hờn T.T.Kh trong BTTB? Điều đó nếu ngược lý, chúng ta mới “tóm” được “cái đuôi”. Một tác giả ngẫu nhiên khi đọc Thanh Châu mà viết HSHTG với một sự rung động thật lòng. Một tác giả “giả hờn” HSHTG mà có BTTN. Họ là… người trong cuộc… mà cuộc… chơi thôi!

Một tác giả viết, không thể có một chuỗi mâu thuẫn, không thống nhất như trường hợp T.T.Kh mà Hoàng Tiến ghi lại lời kể của Lương Trúc: “Tiếp đó để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh. gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề là Bài thơ thứ nhất và viết riêng gửi tặng Thâm Tâm bài thơ Đan áo… Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ, với tính hiếu thắng của tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Tất nhiên không có sự đồng ý của T.T.Kh.

Và thế là T.T.Kh. giận, cô viết bài thơ lấy tiêu đề Bài thơ cuối cùng gửi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, vừa hờn vừa giận đầy yêu thương, và cũng từ đấy T.T.Kh. “tắt lịm” trên thi đàn…” (Hoài Việt, Thế Nhật, sđd).

Chúng ta xét tiếp bài thơ cuối cùng (4 bài thơ của T.T.Kh có hai nội dung nên người viết đưa “Đan áo cho chồng” tạm xếp qua nội dung khác, tiếp bài này) để thấy sự mâu thuẫn, không thống nhất đó trong cùng một tác giả.

Bài thứ ba (Tức là bài thơ thứ tư – BTCC của T.T.Kh):

 Bài thơ cuối cùng

Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ?

Một mùa thu cũ, một lòng đau…

Ba năm ví biết anh còn nhớ,

Em đã câm lời có nói đâu!

 

Đã lỡ, thôi rồi chuyện biệt li,

Càng khơi càng thấy lụy từng khi.

Trách ai mang cánh “ty gôn” ấy,

Mà viết tình em, được ích gì?

 

Chỉ có ba người đã đọc riêng,

Bài thơ ”đan áo” của chồng em.

Bài thơ “đan áo” nay rao bán,

Cho khắp nguời đời thóc mách xem…

 

Là giết đời nhau đấy, biết không?

… Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung,

Giận anh, em viết dòng dư lệ,

Là chút dư hương điệu cuối cùng!

 

Từ đây, anh hãy bán thơ anh,

Còn để riêng tôi với một mình,

Những cánh hoa lòng… hừ đã ghét,

Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

 

Ngang trái đời hoa đã úa rồi,

Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi…

Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp,

Đi nhớ người không muốn nhớ lời!

 

Tôi oán hờn anh mỗi phút giây

Tôi run sợ viết bởi rồi đây

Nếu không im được thì tôi… chết

Đêm hỡi! Làm sao tối thế này?

 

Năm lại qua năm cứ muốn yên

Mà phương trời gió chẳng làm quên,

Và người vỡ lở duyên thầm kín

Lại chính là anh, anh của em!

 

Tôi biết làm sao được hỡi trời?

Giận anh, không nỡ nhớ không thôi

Mưa buồn, mưa hắt trong lòng ướt

Sợ quá đi anh… có một người…

(Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 217, 23-7-1938)

HT – HC trong TNVN không đề cập đến bài này và cho rằng T.T.Kh chỉ có hai bài thơ HSHTG và BTTN mà thôi. Các tác giả có sách trên đều thống nhất: T.T.Kh có 4 bài thơ. Còn Anh Đào (NTL, sđd tr 431) cho T.T.Kh còn một bài “Trả lại cho đời cánh hoa tim”. Hư thực thế nào, ta vẫn đi theo quan niệm cho T.T.Kh có bốn bài từ 1937 – 1938.

Không biết ngẫu nhiên hay chủ ý mà T.T.Kh lấy đầu đề BTTN không có bài thứ hai, ba, tư… tiếp theo mà chỉ tiếp BTCC này rồi biến mất tăm, mất tích. Đầu đề BTCC giống như Xuân Diệu khẳng định “Tôi chỉ có một tình yêu thứ nhất” và nghĩa là tình yêu dành cho em (anh) cũng thật sự cuối cùng.

Trong BTCC, nhân vật nữ của T.T. Kh nghĩ về “người ấy” của mình ra sao?

                           Thêm một đại từ “ai“:

Ngôn từ bóng gió hàm ý sâu sa “người ấy” trong HSHTG và BTTN sang BTTC đã chuyển thành “anh” trong trách móc, hờn giận lẫn thương nhớ. Nàng trách vì sao “người ấy” viết về Ti-Gôn:

                          Trách ai mang cánh ‘ti gôn” ấy,

                          Mà viết tình em, được ích gì?

Ai mang cánh Ti-Gôn” để viết tình của T.T.Kh?

Đến bài này, nhân vật hư cấu hay nhân vật thật đều… chui vào một chốn màng nhện bịt bùng!

+ Nàng trách Thanh Châu? Không thể nào! Truyện ngắn Thanh Châu đã qua hơn một năm. Truyện này chẳng viết gì đến “tình em” với “tình anh” cả. Có thông chỗ này, nghĩa là cảm xúc ngẫu nhiên của T.T.Kh từ Thanh Châu đã không còn dính líu, dây nhợ tới các bài BTTN, BTCC, chúng ta mới dễ hiểu bí ẩn. Các bài thơ ký T.T.Kh ra đời sau đó và bài này dắt dây như trẻ nhỏ cầm tay dung dăng, dung dẻ mới khiến cho T.T.Kh viết BTCC. Tức là T.T.Kh1 nào đấy đã… chọc ổ kiến bò nhọt T.T.Kh.

+ T.T.Kh1 trách… tác giả viết HSHTG và BTTN?

Sao kỳ vậy? T.T.Kh viết cả hai bài thơ ấy đó chứ? Bây giờ trách ai viết tình em“? T.T.Kh có phải “tóc úa giết dần đời thiếu phụ” nên lầm lẫn chăng? Còn nữa, nàng nhắc đến bài “Đan áo cho chồng” chính nàng viết:

                          Chỉ có ba người đã đọc riêng,

                          Bài thơ “đan áo” của chồng em.

Lạ thật, nếu là nhân vật của tác giả thì T.TKh đã để nhân vật mình quên mất bài thơ nào mình viết, bài nào ai viết và ngay cả anh chồng tội nghiệp “luống tuổi” cũng trở thành tác giả bài thơ “Đan áo của chồng em“. Ba người đọc là ai? Nàng, chàng và chồng? Hay nàng, người chị và chàng? Rối rắm quá! Nàng cho rằng sau khi ba bài thơ trên ra đời đã gây tác hại vô cùng khi cuộc tình đã bị “rao bán”:

                          Bài thơ đan áo nay rao bán

                          Cho khắp người đời thóc mách xem…

                          Là giết đời nhau đấy, biết không?

Như vậy, xét về phương diện tác giả, “Đan áo cho chồng” ký T.T.Kh không phải của T.T.Kh. Nếu là cùng một người, sao có thể mình lại nổi tam bành với mình thế?

Động cơ nào khiến T.T.Kh viết BTCC?

T.T.Kh nêu ra lý do vì giận ”người ấy” mang bài thơ đan áo của chồng ra rao bán mà làm BTCC. Tức là sau ba năm im như thóc thì T.T.Kh mới “phun lửa” một bài này thôi.

Hiểu tới đây, chúng ta sẽ thấy Phạm Quang Hòa kể chuyện mà không suy nghĩ: Tại sao Khánh không tặng TT hai bài thơ HSHTG, BTTN mà lại tặng bài thơ “Đan áo“? Bài thơ này nội dung rất chung cho những người con gái bị ép duyên trong bất cứ thời đại nào cũng có nhất là thời đại phong kiến. Nó chẳng có giá trị “rao bán” mối tình của Khánh và TT. Người “rao bán” tình mình chẳng ai khác hơn, chính là cô “Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau nhưng biết không lấy được nhau, hẹn nhau giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này…” như Lương Trúc – Phạm Quang Hòa đã kể cho Hoàng Tiến, Trần Lê Văn, Tú Sót nghe. Cô Khánh này đã (như lời kể trên và như bài thơ với bút hiệu T.T.Kh đã ghi) làm hai bài thơ bán rao tình mình trên báo TTTB. Nếu đó là sự ngược lý của cô Khánh – T.T.Kh, đây cũng là mấu chốt để “tóm” cái đuôi “tổ hợp thơ” T.T.Kh mà TT là người trong cuộc đã “im như thóc”!

Nội dung cơn giận của nhân vật thơ:

Trong cơn giận, người ta thường hay trẻ con mà Xuân Diệu hay gọi là làm ”nư”. Với người con gái thì nàng quyết liệt hơn bằng ”tối hậu thư”:

                          Giận anh, em viết dòng dư lệ

                          Là chút dư hương, điệu cuối cùng.

Với cơn giận không tên như thế của người yêu, người tri kỷ không thể làm ngơ nên đành ”xuống ngựa” như Châu Thái Lê trong”Vùng trời thương hận”:

                          Em còn hận, đầu ta đây hãy trút

                          Cho oán thù vẩn đục cả dòng sông.

Cuối cùng, dòng sông là kẻ chịu đựng sự trừng phạt thay cho con người để cho họ có được chút dư hương dù chỉ là ”dư hương điệu cuối cùng”!

Nếu êm ái như thế, ai nói làm gì!

                        Lại mâu thuẫn trong nhân vật thơ?

Ta thật sự không hiểu nổi mới trong BTTN, nhân vật “Tôi” đã xin: “Cho tôi ép nốt dòng dư lệ, nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên” thì còn ”dòng dư lệ” nào nữa để mà chắt ra, để vì ”giận anh” mà viết? Hóa ra, dòng dư lệ nàng ép trong đau đớn kia chỉ vì giận cái người làm thơ Ti-Gôn, viết tình nàng “rao bán“. Thế nhưng, nàng viết chứ ai viết mà “giận anh”? Anh ở đây nào có phải là Thanh Châu? Anh ở đây là anh đã viết hai bài HSHTG, BTTN, ĐACC để bán rao tình nàng. Thanh Châu bị oan mà TT “có miệng ăn mà không có miệng nói”. Trời cho mỗi một cái miệng. Chịu ăn thì nhịn nói. Có người chịu nhịn ăn mà nói hay sao? Có thực mới vực phát ngôn!

Đây là điểm mấu chốt thứ hai để tìm ra chủ nhân bài thơ này đã không để ý đến tính thống nhất của văn bản, nghĩa là có kẻ “vừa đốt nhà vừa la làng”!

Cơn giận mâu thuẫn của nhân vật Kh – T.T.Kh đồng tác giả:

Ta xét câu này:

                        Ba năm ví biết anh còn nhớ

                        Em đã câm lời, có nói đâu!

Câm lời” có nghĩa là “im như thóc“. Tức là không hở môi, hở miệng, không nói. Thế nhưng viết cũng là “ngôn ngữ nói” của con người. Sau khi câm nín 3 năm, nàng như núi hỏa diệm sơn ngủ yên, bất chợt thức giấc… phun ra bốn bài thơ ký tên T.T.Kh đã một năm qua gây sóng gió trên văn đàn và kích động sự tò mò của độc giả vì “bài thơ được đăng báo. Được phổ biến. Được truyền tụng khắp nơi. Độc giả xôn xao” và “Rất nhiều người còn muốn được gặp mặt Nàng… Người ta đòi hỏi, mong mỏi, đợi chờ” (“Về những kỷ niệm quê hương“, tr 82, 190)? Thế sao mà cho mình “câm lời, có nói đâu“, chỉ… viết thôi ư?

Tác giả BTCC này mới thật là T.T.Kh? T.T.Kh tức Khánh (nếu người đời cho cô Khánh là tác giả) im lặng trong ba năm, nay đọc thấy người ta viết về mình hoài nên.. xung thiên… mắng mỏ “thằng người yêu bố láo” ấy cho một trận. Thế nhưng, muốn chứng minh rằng mình là người “câm lời” không nói, không làm ba bài thơ “giết đời nhau” kia thì tại sao nàng không lấy bút hiệu khác mà cứ khoác cái bút hiệu đã có người đội lên cho sự việc rắc rối thêm ra như mớ bòng bong? Nàng tự nhận mình là Khánh đấy sao? Những dấu hỏi cong queo này sẽ từ từ bị nội dung các bài thơ nhiều tác giả… đẵng cho hết cong!

Thanh Châu trong vụ này không hề liên can tí nào vì ông ta chẳng hề dính líu gì tới bài thơ “Đan áo cho chồng” gây tai họa cho T.T.Kh để nàng sau ba năm câm nín phải “run sợ viết” rồi mất hồn “nếu không im được, không yên đưọc thì tôi chết“! Nội dung giận dữ, trách hờn chỉ từ các bài thơ ký T.T.Kh ra mà thôi!

Hiểu từ chỗ mâu thuẫn này mới thấy thông tin năm 1994, Thế Nhật cho Thanh Châu là người yêu của T.T.Kh là gán ép. Thanh Châu làm sao mà mang bài thơ ĐACC tức BTĐA của T.T.Kh đăng lên Báo Thời Đàm? Chi tiết nào chứng tỏ T.T.Kh tặng bài thơ lục bát này cho Thanh Châu?

Thật ra, nơi phương trời nào đó người con gái tên Kh cũng đã không còn dám mơ mộng khi có một người chồng mà nàng phải sống vì lễ giáo. Nguyễn Khuyến buồn thời cuộc nên có những bài thơ “Tự thuật”, “Tự trào” để tự nói, tự an ủi mình, ta không lạ. Ta chỉ lạ cho cái người viết những bài thơ tình ướt át đầy đắng cay kia lại không hề nghĩ mình đã “sinh con” mà cho người khác “đẻ con” rồi bán con mình mà ra “tự trách”! Giọng thơ sau khi trách móc xong chuyển tông xưng “tôi” thật lạnh lùng với cái từ “hừ” nặng trịch rớt xuống:

                          Những cánh hoa lòng… hừ đã ghét,

                         Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

“Những cánh hoa lòng – tình yêu trái tim” đem đi đánh đổi nó để lấy cái ảo vọng tiếng tăm bề ngoài. Kỳ quặc nữa. Nàng trách ai nếu không là lời tự trách mình. Âm điệu này mang nặng khẩu khí hậm hực, bất cần. Chúng có phải là tiếng lòng của một cô gái chỉ biết yêu thương kia trong thời buổi loạn  ly hay chỉ là tiếng lòng của người con trai thời loạn như Châu Thái Lê:

                             Ta bây giờ mọi sự nhẹ như không

                             Ðời mấy kẻ bận lòng người ngã ngựa.

Trong các bài thơ trên của T.T.Kh, nhất là BTCC cảm giác hờn giận, thương yêu, trách móc lập đi, lập lại không lối thoát. Chị Dậu của Ngô Tất Tố đã sống trong “Tắt đèn“. Thị Nở  trong ”Chí Phèo” của Nam Cao cũng lẩn quẩn trong cái lò gạch. Người phụ nữ của T.T. Kh cũng chập chờn trong bóng đêm:

                             Nếu không yên được thì tôi… chết

                             Đêm hỡi! Làm sao tối thế này?

Con người nếu không thoát ra được cái vòng kềm kẹp của những giáo điều, những luật lệ “thâm căn cú đế“, của những cuộc chiến tranh làm bần cùng cuộc sống… thì cũng đồng số phận với những kẻ không quyết định cho mình một cuộc sống hạnh phúc vốn đã phải có nên tất cả rơi vào “bước đường cùng“!

Xét về nội dung cho nhân vật của tác giả: Bài thơ gồm 9 khổ với những mâu thuẫn đan chéo kia: Tình yêu và bổn phận; giữa bổn phận và khát vọng… đã không dừng lại ở chỗ đơn giản là những lời tình tự mà còn là một tiếng kêu thương cho số phận con người trong nghịch cảnh trái ngang mà ta cần hiểu rõ nguyên nhân để có hướng giải quyết! Trước hết, ta hiểu là tiếng thở than nếu không tự mình cởi trói cho mình trong ĐACC:

                  b. T.T. Kh than thân:

Bài thứ tư (bài thứ ba theo thứ tự của T.T.Kh):     

                            Đan áo cho chồng

“Chị ơi! Nếu chị đã yêu

Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương,

Đã xa hẳn quãng đời hương,

Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng.

 

Biết chăng chị? Mỗi mùa đông,

Đáng thương những kẻ có chồng như em.

Vẫn còn thấy lạnh trong tim,

Đan đi đan lại áo len cho chồng.

 

Như con chim hót trong lồng,

Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ.

Tháng ngày nổi tiếng tiêu sơ,

Than ơi! Gió đã sang bờ ly tan…

 

Tháng ngày miễn cưỡng em đan,

Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.

Như con chim nhốt trong lồng,

Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!

 

Ngoài trời mưa gió xôn xao,

Ai đem khóa hết chim vào lồng nghiêm?

Ai đem lễ giáo giam em?

Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời?

 

Lòng em khổ lắm chị ơi!

Trong bao tủi cực với lời mỉa mai.

Quang cảnh lạ, tháng năm dài,

Đêm đêm tưởng tới  ngày mai, giật mình!”

                     (Phụ Nữ Thời Đàm – 1938)

Năm tháng và nơi đăng của bài thơ? 2 ý kiến

+ NTK không ghi ngày tháng. Ông viết: “Bài Đan áo cho chồng quá kém, vẫn được gửi đăng trên tờ Phụ Nữ Thời Đàm, sau đó được nhà thơ J. Leiba cho in lại trên Ngọ Báo với bốn câu thơ đề tặng T.T.KH.

                  “Anh chép bài thơ tự trái tim

Của người thiếu phụ lỡ làng duyên

Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ

An ủy anh và để tặng em”

                                                     J.Leiba

(“Về những kỷ niệm quê hương”, sđd tr 80-81).

Nhưng NTK trong “Huyền thoại về nàng thơ T.T.KH.” (sđd tr 29) lại ghi rằng: “Nhận được nhiều thư từ độc giả tò mò hỏi han, Thâm Tâm lần lượt cho đăng các bài thơ: Gửi T.T.KH., Dang dở, Màu máu Ty-gôn… Và J. Leiba cũng nhảy vào hỗ trợ bằng cách in lại bài Hai sắc hoa Ty-gôn trên tờ Ngọ Báo với mấy câu phụ đề:

                     Anh chép bài thơ tự trái tim

Của người thiếu phụ lỡ làng duyên

Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ

An ủy anh và để tặng em.                                

Như vậy, J. Leiba tặng bốn câu cho hai bài thơ của T.T.Kh? NTK có nhớ nhầm không?

+ Thanh Châu có ghi năm“Nói thêm về T.T.KH.”(“Về những kỷ niệm quê hương”, sđd tr 176): “Đã thế lại còn bài Bài thơ Đan Áo (1938). Ai đã đem bài thơ này của TT.T.Kh. đăng lên báo Phụ Nữ Thời Đàm (phố Hội Vũ)?

Không thấy tài liệu nào nói về báo “Phụ Nữ Thời Đàm” của ai? Những cộng tác viên nào? Tin tức về  bài “Đan áo cho chồng” hay “Bài thơ đan áo” là của T.T.Kh do người đầu tiên nào đã đọc được, chép lại và nguồn?

Chúng ta xét về giá trị nội dung của nhân vật trong bài thơ:

– ĐACC: Tiếng thở dài đêm đông hay nỗi lòng của kẻ…”ngoài cuộc”?

Căn cứ theo lời trách móc của nhân vật nữ trong BTCC, BTĐA này được viết trước BTCC. Bởi chính vì nó mà BTCC mới được tung ra. Tạm hiểu: Hai bài thơ HSHTG, BTTN được tác giả X làm (tác giả X này còn có thể là X1, X2). Bài ĐACC tiếp đó được tác giả Y  làm vì khác nội dung, khác thi pháp, xa ý tưởng. Sau đó, tác giả X bị tác giả… X “nhiếc” bằng BTCC?? Đây chính là “huyệt hở”. Bởi vì, theo bút hiệu, ẩn số X, Y gì cũng là X, tức T.T.Kh cả. Chúng ta xem xét ĐACC theo hướng này để tìm ra mâu thuẫn tiếp theo cho bốn bài thơ cùng một tác giả.

Người”“Người ấy” trong thơ của T.T.Kh biến mất trong ĐACC:

Ta thấy chỉ còn lại đại từ phiếm chỉ “Aikhông còn là ngẫu nhiên khi, T.T.Kh đọc truyện “Hoa Ti-Gôn“, chẳng phải là hờn trách của tình yêu khi T.T.Kh chính mình kể chuyện mình trên TTTB. “Ai” ở đây được T.T.Kh sử dụng như điệp từ nhấn mạnh đầu câu (Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm? Ai đem lễ giam em?) để ám chỉ nguyên nhân và “thủ phạm” gây tù túng, mất tự do cho nhân vật. “Ai” đó là ai thì phải xem xét từng bài mới biết nghĩa chính xác. Trong bài thơ này, rõ ràng, cô gái đang có chồng thấy lạnh lòng với công việc đan áo. Nàng là con chim bị khóa trong lồng. Ai ở đây giữ chùm chìa khóa nếu không phải chồng nàng? Cha mẹ nàng gả chồng cho con gái. Nếu ai đem lễ giáo ở đây không ám chỉ cha mẹ nàng thì ám chỉ chế độ phong kiến – phong tục tập quán cổ lỗ sĩ? Bài thơ này, cô gái là chim trong lồng kia hoàn toàn chẳng có gì liên quan tới hai bài thơ HSHTG và BTTN cả. Thế nhưng, vì nó nằm trong “tổ hợp thơ” nên nó sẽ có những từ “chỉ chứng” bị lợi dụng triệt để như chữ “nghiêm” trong “lồng nghiêm” ứng với ông chồng tên Nghiêm (Phạm Thanh, TNVN hiện đại, quyển Thượng): “Nữ sĩ chính là Trần Thị Khánh, một nữ sinh nhà ở phố Sinh Từ, Hà Nội, có tâm hồn thơ lắm. Nữ sĩ có yêu một thanh niên, hai người đã cùng đi lại, hứa sẽ thành hôn, nhưng nửa chừng vì sự ép buộc của gia đình, nữ sĩ đành phải hát khúc chia ly, về làm vợ một người khác tên Nghiêm, làm công cho một hãng buôn nọ…”.
Trong BTTN, T.T.Kh cũng nhắc “nghiêm” trong “Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêmhay “Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi“.

Thông tin của Phạm Thanh về người chồng của Trần Thị Khánh tên Nghiêm đầy suy diễn. Thông tin Nguyễn Vỹ dễ lọt tai hơn:“Trần-thị-Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm-Tâm. Cô thường nói: ‘Thầy mẹ em NGHIÊM lắm, gia-đình em NGHIÊM lắm…’ lần nào Khánh cũng lặp lại chữ NGHIÊM gia-giáo ấy để trả lời kỳ-vọng khát-khao của người yêu… Tuấn-Trình hỏi chua –chát: ‘Giờ phút này chỉ có thơ và mộng, chỉ có anh và em, ánh trăng đẹp của hai đứa mình có nghiêm không nhỉ?’. Có lẽ vì bất- bình câu nói mỉa mai của người yêu, Khánh yên lặng một phút rồi đáp: ‘Ánh trăng đẹp nhưng vẫn nghiêm đấy anh ạ” (VTSTC, sđd tr 258).

Chúng ta nên hiểu chữ “nghiêm” theo nghĩa gia giáo.

Loại bỏ suy diễn người chồng của nhân vật trong thơ T.T.Kh hay người chồng của Khánh tên Nghiêm.

Chúng ta xét bài thơ: ĐACC:

Nghiên cứu về một bài thơ theo thi pháp lục bát, trước hết, chúng ta coi thử bài thơ đó làm đúng thể loại hay chưa? Một bài lục bát dù nội dung có hay đến đâu nhưng “ngã sấp” trong thi pháp lục bát là đành coi như… hỏng!

+ Giá trị thi pháp lục bát của ĐACC:

ĐACC là một bài thơ tạm coi tương đối đúng thi pháp, ngoại trừ những vần thông “bà con xa”  như “mùng – đông”;  “em – tim – len”; “đan – len”; nghiêm – em – duyên”. Ta có thể khẳng định rằng: Người làm bài thơ này vững thi pháp lục bát. Một người mới tập làm thơ không bao giờ có được một bài lục bát với thi pháp vững như thế. Thể loại khác, chúng ta không dám khẳng định nhưng lục bát là phải luyện. Không luyện thì đừng hòng làm có hồn, không nắm chắc thi pháp, người làm bê hết cả thúng vần thông “chữa cháy” bí vần vào là “lửa bỏng, hỏng xôi”!

+ Giá trị nội dung: Được đánh giá trên giá trị nghệ thuật sử dụng các phép tu từ.

Khác với ba bài thơ cùng thể loại thất ngôn, bài ĐACC gồm 24 câu lục bát. Nó là bài thơ đứng độc lập khi nhân vật phụ nữ trong bài thơ không viết về ”người, người ấy” hay ám thị “ai” nữa mà chỉ thở than thân phận với người chị nào đó hoặc người người nào đó đã cất tiếng “than thở” dùm người phụ nữ qua thán ngữ “Chị ơi!”.

Với ĐACC, tác giả sử dụng ba lần thán ngữ:

Đầu câu: “Chị ơi! Nếu chị đã yêu”

Giữa câu: “Than ơi! Gió đã sang bờ ly tan…”

Gần cuối: “Lòng em khổ lắm chị ơi!”

Đây cũng là cái “huyệt” cho chúng ta tìm ra “thủ phạm” thường dùng thán ngữ trong thơ mình.

Bài thơ như có ba cái khóa, khóa ba cánh cửa cuộc đời: Sáng. Trưa. Chiều. Tiếng than của “thân phận con rùa, trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia” cất lên từ song sắt đau thương cần được người thông cảm.

Lẽ thường, người phụ nữ gặp nghịch cảnh nhất là trong nhân duyên thường bộc lộ phản kháng mãnh liệt. Thật có, truyện có như Chiêu Quân, Hạnh Nguyên, Nguyệt Nga, Thúy Kiều… nhảy sông tự tử. Chị Dậu đánh lại tên lý trưởng. Hồ Xuân Hương dùng thơ thanh mà… tục “đả kích” đàn ông… Còn nhân vật nữ của T.T.Kh trong ĐACC chỉ rặt lời than thở :

                             Lòng em khổ lắm chị ơi!

                             Trong bao tủi cực với lời mỉa mai.

Nàng khổ vì lấy chồng mà đời nàng không khác gì:

                             Như con chim nhốt trong lồng,

                             Hạt mưa nó rụng bên song bơ thờ.

Ai nhốt? “Ai đem lễ giáo giam em?” Nhân duyên đã đành “cha mẹ ép” nhưng xưa nay có cái gì có thể cài then khóa cửa nhốt một đời người ta? Kiều khi không có ai ở nhà, quên tuốt luốt câu “trâu tìm cọc” mà “gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường” tìm Kim Trọng. Nguyệt Nga chẳng chịu ở nhà họ Bùi mà trốn mãi trong rừng chờ đợi Lục Vân Tiên. Hấp dẫn hơn là  cô gái trong “Xống chụ xôn xao” (Tiễn dặn người yêu) quyết liệt:

             Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông

           Không lấy được nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi góa bụa về già.

Bài thơ ĐACC mở đầu bằng những câu dàn trải tâm lý. Ta cũng không cần phải mất công đi tìm ”người chị” đó là ai (vì nó cũng có thể nằm trong những người “chị” văn học như của Nguyễn Bính, Quang Dũng hay của những thi nhân khác):

                             Chị ơi! Nếu chị đã yêu,

                             Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương,

                             Đã xa hẳn quãng đời hương,

                             Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng.

Công việc hằng ngày với hoàn cảnh thực tại:

                             Tháng ngày miễn cưỡng em đan,

                             Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.

Cô gái nếu chấp nhận lấy người ta thì nên dằn lòng mà làm tròn bổn phận nếu chẳng có cách nào bứt phá ra khỏi vòng giam con chim muốn hót tự do. Hình ảnh người phụ nữ ngồi đan áo len cho con, cho chồng là một hình ảnh đẹp đẽ. Nó mang giá trị truyền thống nhân văn hiền thục, mềm mại của người phụ nữ và có cả giá trị hình tượng văn học. Ví dụ như hình ảnh người phụ nữ đan áo trong “Chuyện tình người đan áo” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (hay Trường Sa?):

Có người con gái, đông về đan áo ấm ra sa trường
Ước mơ không nhiều, mong niềm vui bé đến phương trời xa.
Ai đi trong giá lạnh chẳng nghĩ chuyện người đan áo
Một vầng trăng xẻ bóng chia đôi
Áo đan chưa rồi lỡ mùa đông về giá lạnh người đi.

Mỗi mùa đông đến đem từng cơn gió rét run vai gầy
Những ai âm thầm gom đầy nhung nhớ viết lên thành thơ.
Trong tâm tư áo dệt bằng những giòng lệ yêu dấu
Tặng người yêu lạnh giá đêm thâu
Đã thương nhau rồi mấy ai không ngồi đan mộng từng đông.

Mùa đông ai đan áo gửi đi
Mùa đông ai đan ước lời mặn nồng?
Như chim chiều về có đôi
Để gió mưa về đừng lạnh lùng
Để em trong bao ngày xa cách
Đan mộng đẹp vào chiếc áo mùa đông
Cây lá âm thầm chờ mùa xuân thêm tươi
Lá rơi mấy mùa là mấy mùa đông em chờ!

Nhớ mùa đông em đến ngồi đan áo ấm ra sa trường
Áo tuy không dầy nhưng lòng thêm ấm khi hành quân
Cho em mơ có một chiều nắng đẹp tình đất nước
Người về vui hạnh phúc tương lai
Áo đan xong rồi nhớ cho em gửi muôn vàn niềm thương”.
Trong ĐACC, hình ảnh này chuyển sang giá trị ẩn dụ hiện thực khác: Đan đi, đan lại mãi chưa xong chiếc áo không phải cho những người hành quân ra trận mà là cho… chồng với sự rối rắm trong lòng. Đơn giản như vậy nhưng “đan áo” chỉ là cái cớ nhất thời còn sự “rối rắm” kia mới là một đời không gỡ nổi với lời “than ơi” rớt xuống nặng nề:

                             Tháng ngày nổi tiếng tiêu sơ,

                             Than ôi! Gió đã sang bờ li tan…

Cho dù ai viết thì đây cũng là đoạn có thể cho là hay nhất của bài thơ với hình ảnh “con chim bị nhốt” xuyên qua mũi kim đan áo cho chồng mà… xông ra ngoài… rồi lại bị “lễ giáo” níu áo trở lại:

                             Quang cảnh lạ, tháng năm dài,

                             Đêm đêm nằm tưởng ngày mai, giật mình.

Lời than thở này trong bài thơ sáu đoạn, 24 câu lục bát đã đi ngược lại hình ảnh “can đảm” mà người phụ nữ trong BTTN đã chấp nhận:

                             Và một ngày kia tôi phải yêu

                             Cả chồng tôi nữa lúc đi theo .

để vui sống “Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!”.

Còn nữa, nhân vật trong bài thơ này đã “quên sạch” những lời mình hứa trong BTTN:

Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá

Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:

-“Cố quên đi nhé, câm mà nín

Đừng thở than bằng những giọng thơ!”.

Hai bài thơ, một người viết mà hai nội dung trái ngược? Một điểm hở sườn để địch điểm trúng huyệt non là chỗ này!

Thật sự ai là người con gái mà TT thương nhớ? Người con gái cam chịu trong BTTN hay kẻ than ngắn, thở dài trong ĐACC?

Trái với ba bài thơ trên, người phụ nữ trong ĐACC không nêu đích danh “chàng nghệ sĩ, vườn Thanh, mùa Thu, vuốt tóc, chồng già, hoa tim…”. Bài thơ này chỉ đề cập tới hình ảnh con chim bị nhốt như phụ nữ bị lễ giáo giam bằng cuộc hôn nhân bất ưng ý để ví mình vì “lễ giáo” mà chịu hy sinh một đời. Không rõ người chồng trong bài thơ thuộc loại “đêm đêm lỡ bị nó… quằm, chỉ bằng… cái lợi chứ nhầm nhò chi”  hay “bồng bồng cõng chồng đi chơi”? Một đề tài “ăn khách” thời xưa.

Những cấu trúc điệp từ đầu câu “đã” (đã từng, đã qua, đã đem) có tác dụng nhấn mạnh “vết thương lòng” của người “chị” trong quá khứ, hướng người “chị” này thông cảm cho nhân vật “em” cũng đang bị những “tháng ngày tiêu sơ, đau thương, gió sương mịt mùng) làm cho tơi tả.

Hình ảnh nhân hóa sự vật song song ẩn dụ kiếp người với “Hạt mưa nó rụng”, “Gió sang bờ ly tan”, “Mưa gió xôn xao”, “Tháng ngày mong đợi”, “lễ giáo giam em”, đã làm nội dung lắng dần, đọng lại trong người đọc một khung cảnh hết sức thương tâm: Mùa đông lạnh giá. Tâm tư cô đơn. Trạng thái buồn bã. Cuộc sống thiếu tự do và nhất là mong ước một “ánh hồng” –  biểu tượng một mặt trời chiếu sáng qua đời tăm tối dù chỉ là mặt trời của ngày hôm qua!

Những động từ biểu thị sự lê thê, tàn nhẫn: “đan đi, đan lại, kéo dài, khóa chết” nhập với tính từ tính chất, mức độ: “miễn cưỡng, sống hờ, tủi cực” với cụm danh từ tréo cẳng ngỗng, dài ngoằn ngoặt: “duyên trái đời, tháng năm dài” hợp thành bản hợp xướng lê thê của một số phận bên lề yêu đương và bên bờ vực thẳm! Đây có phải là lời tâm sự não nùng như tiếng than của những hoàng hậu, cung nhân thất sủng bị nhốt vào lãnh cung? Phải chăng đấy cũng là một khúc oán hờn mà “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều thuở nào đã tấu:

Vì đâu nên nỗi dở dang
Nghĩ mình, mình lại thêm thương nỗi mình.

… Nơi lạnh lẽo nơi xem gần gặn
Há son phai lạt phấn ru mà
Trêu ngươi chi bấy trăng già
Trao con chỉ thắm mà ra tơ mành!
Lòng ngán ngẫm buồn tênh mọi nỗi
Khúc sầu tràng bối rối đường tơ
Ngọn đèn phòng động đêm xưa
Đài hoa tịnh đế trơ trơ chưa tàn.
… Đêm phong vũ lạnh lùng có một
Giọt ba tiêu thánh thót cầm canh
Bên tường thấp thoáng bóng huỳnh
Vách sương hót gió đèn xanh lờ mờ.
Mắt chưa nhắp đồng hồ đã cạn
Cảnh tiêu điều ngao ngán dường bao
Buồn này mới gọi buồn sao ?
Một đêm nhớ cảnh biết bao nhiêu tình.

Lẩn quẩn, kinh hoàng “đêm đêm nằm tưởng ngày mai, giật mình!“: Không lối thoát! Thơ ca lại dung dưỡng những lối thoát không đường mà những lời thở than về một kiếp hồng nhan là nguồn sáng tác và nguồn sống cho thi ca muôn đời!

Thanh Tâm Tuyền từng tuyên thệ trong bài thơ “Chim”:

            Tôi chối từ giam cầm chim đẹp trong rừng tóc
dù tiếng hót đã chọn mấy hàm răng
Người bộ hành cô đơn chờ đêm để lên đường
về quá khứ
Chim bay vào trận mưa sao…

Trong “Khúc Thụy Du”, con chim bói cá kiếm ăn khắp sông lạch ao tù của Du Tử Lê sao mà thanh nhàn!

Với Trần Huyền Trân (một trời “chim” trong thơ người bạn nối khố của TT  mà chúng ta sẽ đề cập sau) tỏ sự mỉa mai “chanh chua chuối chát” vào nữ thần tình yêu bằng hình ảnh con chim trong lồng qua bài “Thưa bà” trong sách NTL:

Kinh thành mây đỏ như son

Gió lồng ep hẹp giam con chim trời.

Văn Giá cung cấp “Cái lồng eo hẹp giam con chim trời” trong bài viết “Thâm Tâm, một thời và mãi mãi” (thotre.com). Không biết bản NTL và MGL – Ý Nhi, ai chép đúng?

Kết luận:

Ba bài thơ HSHTG, BTTN, BTCC là những bản tình ca bên bờ vực thẳm, là tiếng lòng khao khát yêu thương với những nỗi đoạn trường đầy mùa thu u uất. Riêng bài ĐACC là tiếng than thân trách phận, là tiếng thở dài đêm đông “an phận thủ thường” hay nỗi lòng người ngoài cuộc vẫn còn nhiều dấu hỏi có phải là T.T. Kh làm không? Thế nhưng, dù ai làm, ĐACC là bài thơ có giá trị về mặt thi pháp lục bát và hình ảnh “con chim bị nhốt trong lồng” nâng cấp lên thành hình tượng của một thân phận phụ nữ, một kiếp người mất tự do như con hổ nhớ rừng đã “ngậm một mối căm hờn trong cũi sắt” của Thế Lữ. ĐACC có giá trị tố cáo xã hội với những tập tục cổ hủ, lễ giáo phong kiến khắt khe và hoài mong vượt khỏi cảnh đời éo le là cái đích của quyền sống, quyền tự do, khát vọng của loài người nhất là người phụ nữ không thể như “những con chim ẩn mình chờ chết” của Colleen Mc Cullough mà nhân vật bài thơ chưa đủ sức mạnh vươn tới. Đây là một bài thơ đầy ý nghĩa nếu đứng độc lập và được hiểu đúng cách.

Xét về phương diện nhân vật thật là Khánh:

– Khánh có làm nổi bài lục bát này không? Không thể nào!

– Thắc mắc về nơi đăng bài thơ:

Tại sao ba bài thơ, T.T.Kh đã gởi đăng cùng một chỗ: TTTB mà bài giữa này thì gởi đăng một nơi: “Phụ nữ Thời Đàm” và “Ngọ Báo”?

Hoàng Tiến ghi lời lý giải của Lương Trúc: “T.T.KH gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề là Bài thơ thứ nhất và viết tặng riêng Thâm Tâm bài thơ Đan áo…. Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ, với tính hiếu thắng của tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Tất nhiên không có sự đồng ý của T.T.KH. Và thế là T.T.Kh. giận, cô viết bài thơ lấy tiêu đề Bài thơ cuối cùng gửi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, vừa hờn vừa giận đầy yêu thương, và cũng từ đấy T.T.Kh. ‘tắt lịm’ trên thi đàn”.

TT mang bài thơ T.T.Kh tặng mà gởi báo Phụ Nữ Thời Đàm?

Nguyễn Tố kể chuyện TT kể chi tiết hơn: Có một hôm cô Khánh (T.T.Kh) làm xong bài Đan áo cho chồng đưa cho người bạn gái thân nhất đời của nàng xem. Cô bạn đó tên là Tuyết. Bài thơ ấy cố nhiên là chứa một niềm cay đắng của tâm hồn nàng! Có riêng Tuyết là hiểu cuộc đời đau đớn của chúng tôi, nên Tuyết được ‘hân hạnh’ đón đọc nỗi lòng thầm kín của chúng tôi. Đọc xong bài thơ Đan áo cho chồng, Tuyết trao cho tôi xem. Tôi thấy bài thơ đó hay, liền đăng vào Phụ Nữ Thời Đàm (hồi ấy xuất bản tại Hà Nội)….(VNTNTCTT, sđd tr 431).
Nghịch lý:
Một bài thơ ĐACC, T.T.Kh đã gởi cho ít nhất 3 người: Người chị, TT, cô Tuyết nào đó? Không lẽ, viết cho người chị nào đó, mà lại không gởi cho chị? Hai bài thơ đã xét ở trên: Chẳng có cô Khánh nào làm thơ gởi đăng báo TTTB và gởi tặng TT bài thơ “Đan áo” như Hoàng Tiến kể hoặc gởi cho cô bạn Tuyết như Nguyễn Tố kể cả. Việc TT mang bài “Đan áo” đi đăng chỗ khác mà không đăng chỗ TTTB nơi mình làm việc là chuyện vô lý. Đăng để chứng tỏ T.T.Kh là người yêu của mình thì càng vô duyên. Người lý giải hồ đồ. Nếu có, TT đăng nó trên TTTB thì không chứng minh được T.T.Kh là người yêu à? Hoặc theo Nguyễn Tố, bài thơ ĐACC có gì mà TT phải nói là “cô Tuyết được hân hạnh đọc nỗi niềm cay đắng của chúng tôi”? Hai bài thơ trước HSHTG và BTTN mới là thổ lộ chuyện tình riêng tư mà thiên hạ đọc hết cả rồi? Cô Tuyết hân hạnh biết chút sơ múi gì nữa trong ĐACC? Trong bài thơ ĐACC có cái gì để chứng minh T.T.Kh là người yêu của TT?

Từ lỗ hổng này, ta có thể suy ra là vì có ít nhất là hai tác giả làm việc trong hai tờ báo này đang… hoạt động bí mật. Cả hai cùng ký T.T.Kh nên chẳng có ai dám “vạch áo cho người xem lưng“. Ngồi cùng mâm. Đâm cùng huyệt. Biết cùng lúc. Kết cục… lúc nhúc là… ăn giòi! Nên thôi!… “im lặng là vàng”! Sự “tắt lịm” của T.T.Kh trên thi đàn cùng một lúc là có “tín hiệu” tập thể thống nhất “ngừng chơi” rồi! Nếu không? Đừng hòng thiên hạ im cái miệng!

Chúng ta thấy rõ ràng hiện tượng này, Thanh Châu kêu gọi đừng tách bạch thơ T.T.Kh ra làm gì! NTK năn nỉ hãy để yên huyền thoại mãi mãi là huyền thoại. Những ai ái mộ huyền thoại này cũng muốn như thế. Vậy mà có ai chịu im đâu! Bài viết vẫn tung lên báo… báo hại thiên hạ u u minh minh. Sách của NTL, Nguyễn Vỹ, Thế Phong, Phạm Thanh, Hoài Việt, Thế Nhật, NTK… “hô phong hoán vũ” mà thiên hạ vẫn đi trên sa mạc khát nước trước T.T.Kh là ai, sau ngập lụt bởi râu ông T.T.Kh kia cắm cằm bà T.T.Kh nọ!

Nếu “tổ hợp thơ T.T.Kh” không phát tín hiệu “Stop“, liệu T.T.Kh thật, ra lệnh “tôi không viết nữa, các anh câm cái mồm, im” mà mấy “đực rựa” ăn theo chịu nghe lệnh “dạ, bẩm bà, con im” sao?

Lý giải của Lương Trúc qua lời ghi của Hoàng Tiến hay lời kể của Nguyễn Tố và những thông tin tương tự nên bác bỏ tại đây!

– Đại từ “Ai” trong bài ĐACC ám chỉ ai?

Theo Nguyễn Vỹ, Khánh là cô gái có hiếu với cha mẹ và biết lễ “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” nên cô mới chia tay với TT. Nay cô mở lời than thở và cay đắng, oán trách qua đại từ “Ai”?:

Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm?

Ai đem lễ giáo giam em?

Không lẽ cô oán trách cha mẹ mình? Không lẽ cô trách móc người chồng thương gia giàu có của cô?

Hồ Thông ghi lời TT: “Ông chồng của Khánh là một trung niên, khoảng 38, 39 gì đó tuổi, đâu có già, có luống tuổi… tạm gọi có của ăn, của để” (“Trong lửa đạn thù” sđd tr 194).

Nguyễn Vỹ kể THT từng gặp Khánh có… bầu cùng chồng âu yếm hạnh phúc ở Bờ Hồ Tây ăn kem.

Hai gia đình Khánh và chồng Khánh là tiểu tư sản “môn đăng hộ đối“. Bản thân chồng Khánh lại là thương gia chứ đâu như vợ chồng anh Vệ quốc quân Trần Dần tiểu tư sản nhưng… mất sản nghèo khổ ở phố Sinh Từ? Khánh làm sao có thể ngày này qua ngày kia ôm cuộn len mà đan cho chồng chiếc áo mùa đông? Bị giam trong “ngục tối” vậy, thời gian đâu Khánh ngồi làm thơ với thẩn để tưởng nhớ tình xưa? Thời gian đâu mà ngồi “buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết”. Người nhàn hạ mới đọc tiểu thuyết chứ? Ông chồng giàu thế, cưng vợ trẻ như thế làm gì để cho vợ ngày nào cũng đan, cũng móc, không có thời gian cho… chuyện khác sao? Giàu thế, tây thế, “tân” thế thì sao không mua quách mấy cái áo len mà mặc? Vậy, Khánh nói “ngoa dụ” nỗi khổ khi lấy chồng thương gia, gấp đôi số tuổi mình để cho ai nghe và ai đọc với nghe và đọc để làm gì? Những tờ báo cô gởi đăng bài toàn là những tờ bán chạy nhất Hà Nội dạo ấy vì số lượng độc giả phong phú, tin tức truyền nhanh. Bởi vậy mà truyện “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu mới tới tay cô. Bởi vậy mà HSHTG mới ra đời và ĐACC đành phải được… sinh sau khi BTTN khai hết mọi thứ! Cô Khánh làm hết 4 bài thì còn trách móc ai bây giờ?

Không lý giải được thì chúng ta cứ coi như Khánh đã cố tình cho người ta biết về mối tình của mình rồi lại mượn thơ mình làm trách người cũ là TT? Sự thật này làm gì có nên khả năng Khánh làm ĐACC để than thở cho người đời thương hại hay ba bài thơ kia vừa kể mình vừa chửi người càng ngày càng mong manh, không chứng cứ và chẳng bờ đê nào ngăn nổi con sóng dữ cho “sự thật” vô lý trên. Vậy ai đã làm bài thơ này?

Tác động của những bài thơ ký T.T.Kh nói chung?

Những bài thơ trên nhất là bài HSHTG làm nao nao lòng người không những vì chúng mang lời thơ thấm buồn man mác mà còn cho người đọc tâm đắc một chuyện tình có thật. Đó là chuyện tình giữa tác giả TBH nổi tiếng cùng cô nữ sinh tên Kh. Tức là chuyện tình của Trần (Từ) Thị Khánh (Kh chứ không nhất thiết phải T.T.Kh) và Thâm Tâm – Nguyễn Tuấn Trình mà người ta cho qua những mâu thuẫn trong hồi ức mối tình dang dở bằng thơ.

Xuyên suốt mấy chục năm, người ta cố tìm ra sự thật “T.T. Kh là ai?” và tất cả cũng hoài công vô ích để lại một “huyền thoại” cho đời. Nhưng có một điều chắc chắn là cuộc đời luôn có sự đối lập: Nếu mùa xuân có nắng ấm thì mùa đông có tuyết rơi (nơi nào tuyết không rơi thì mưa buồn cũng đến đó mà!). Giữa cái “không” sẽ tìm ra cái “có” và giữa bế tắc đời thường, ta luôn lóe ra một tia hy vọng. Hẳn nhiên, kết quả cho ta một sự hấp dẫn cũng là… huyền thoại nốt: “Người, Người ấy” núp bóng một người ra đi trong TBH và“người ấy” trong hai bài thơ HSHTG, BTTN, BTCC vừa là một người vừa là hai người mang tính cách thẩm mỹ vừa mang giá trị hiện thực. Bởi vì, chúng được sinh ra từ một người… cha đó là TT và chất liệu nuôi dưỡng là từ người… mẹ Kh (có đồng ý hay không, độc giả thử tư duy).

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá?

             1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình:

%d bloggers like this: