Bài mới

HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN (2)

B: T.T. KH LÀ AI?:
    I. Sự liên quan giữa ”Người” và ”Người ấy” trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb VH – 2000).
         1. ”Nỗi đau ngày trước” : Cuộc tình của TT với người con gái tên Khánh (Kh): Có thật hay không?
               a. Cuộc tình TT:
Trong “Nỗi đau ngày trước” (Giai thoại Văn học, Nxb DT – 2000), Vũ Cao có nhắc đến TT:‘Thâm Tâm trước Cách mạng tháng Tám là một nghệ sĩ sống rất tự do, làm nhiều nghề, duyên văn phát lộ ra rất sớm. Nhưng đến Cách mạng rồi vào kháng chiến, không hiểu sao Thâm Tâm phủ nhận mình hết sạch, tự rèn mình hết sức nghiêm ngặt, tuyệt không bao giờ nhắc tới thơ mình ngày trước. Mới hơn ba mươi tuổi mà đã như một ông già, gầy ốm, tong teo, tóc bạc, trầm lặng…”.
Ngẫm trở lại, thời gian đó chính là năm 1947-1950, TT vào quân đội được ba năm và cũng hơn mười năm, TT đã để tang lòng cho mối tình ”Huyền thoại T.T. Kh” 1936 kia một đi không trở lại! Những mảnh đời chấp vá thường hay sinh ra những cuộc tình nghiệt ngã. Những mối tình học trò cũng không cánh mà bay!
TT trước cách mạng là ”một nghệ sĩ”. Trong BTTN, T.T.Kh (chưa biết là ai thật, ai giả) đã nhắc lại:
 Thưở trước hồn tôi phơi phơi quá,
                            Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương…
                            Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại,
                            Êm ái trao tôi một vết thương.
Chàng nghệ sĩ đó “sống rất tự do, làm nhiều nghề duyên văn phát sớm”. Sau đó, chàng đi vào kháng chiến và chẳng hiểu sao lại trở thành… ông cụ non, không muốn nhắc thơ mình ngày trước. Khi “nghe Vũ Cao đọc đến câu:
 Mẹ thà coi như chiếc lá bay
                             Chị thà coi như là hạt bụi
                             Em thà coi như hơi rượu cay.
Thì cũng như cung đàn cũ bốn dây ứa máu, TT bật khóc và sau đó càng trầm lặng hơn” (sđd tr 338-339). Người xưa ao ước ”vỡ cổ kính để tìm nhân ảnh. Xếp tàn y đợi chút hương thừa’’. (Tự Ðức đã muốn ”Ðập cổ kính ra tìm lấy bóng. Xếp tàn y lại để dành hương”trong bài ”Khóc Duơng phi”) nên có một Xuân Diệu giàu cảm xúc:
Áo em để lại dáng hình.
                             Treo trên mắc áo cho mình thấy thương.
để gợi bóng hình với ý của ca dao: ”Áo em chín nhớ mười thương anh chờ”. Thời gian làm cho kỷ niệm xưa chết đi trong dĩ vãng thì thời gian cũng sẽ làm cho nó sống dậy mà lang thang.
Trong văn học, người ta thương Nguyễn Du vì ông đã để Thúy Kiều nhỏ nước mắt khóc thương cuộc đời Đạm Tiên. Người đời trọng Victor Marie Hugo vì ông đã cúi xuống với “Những người khốn khổ”. Trong cuộc đời thật, TT để rơi giọt nước mắt vì cái gì đây? Vì  “tiếng sóng trong lòng” vì ”chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say?”. Giọt nước mắt của TT mười năm trước ”Ly khách ven trời nghe muốn khóc” hay ”Buồn ở lưng trời nghe đã lại” gặp lại… ông già TT ”ba mươi tuổi” mười năm sau! Kỷ niệm không đong đầy, không ”uẩn khúc”, không thương đau… thì dòng lệ tri âm làm sao có thể gặp nhau trên đoạn cầu tri kỷ?
1Giai thoại là một chuyện. Đầu dây mối nhợ của sự việc mới là điểm chốt. Cái gì làm cho TT cố quên hẳn cái quá khứ? Nhưng ở đời làm gì có chuyện cố quên! Trong ”Sầu lẻ bóng”, nhạc sĩ Anh Bằng đã đau: ”Người ơi khi cố quên là khi lòng nhớ thêm”. Cuộc đời này có những nỗi đau đưa người ta đến chán chường là: Thất bại trên chính trường. Thất bại trên danh trường. Thất bại trên tình trường. Chính ”Thất bại trên tình trường” mới đủ sức mạnh đẩy người ta… nhảy núi! Bao nhiêu hồn ma bất đắc kỳ tử đang lang thang trong mây, trong gió là do ba chữ “Tình Tuyệt Vọng” mà ra!
TT đã không nhảy núi mà chỉ cố quên nhưng… tại sao… đùng một cái, mười  năm sau khi ”người con gái vườn Thanh” bỏ chàng ra đi, TT đã thổ lộ nỗi đau xót này với một người bạn đồng đơn vị về ”Huyền thoại về nàng thơ T.T.Kh” mà Nguyễn Thạch Kiên ghi lại trong cuốn ”Về những kỷ niệm quê hương” (Nxb Phượng Hoàng – 1996) với nội dung “Trọn vẹn về những bài thơ ‘Hai sắc hoa Ty-gôn’ và sự thực Huyền thoại Nàng T.T. Kh“. Về việc TT còn thổ lộ điều bí mật tình cảm của mình và Khánh với Hồ Thông, Nguyễn Vỹ, Nguyễn Tố, Anh Đào, Ngân Giang… như tin “cá tháng tư”, chúng ta sẽ xét tiếp phần sau.
Nỗi đau mà TT nếm trải trước khi những thi phẩm độc đáo ra đời ký dưới hai cái bút hiệu Thâm Tâm và T.T. Kh (đang chờ giải mã) đó chính là mối tình dang dở giữa TT và người con gái tên Khánh (Kh) khi họ còn ở tuổi học trò ”ăn chưa no, lo chưa tới” trong HSHTG:
Đâu biết lần đi một lỡ làng
                            Dưới trần gian khổ chết yêu đương.
Trái tim TT hay Kh rỉ máu trong HSHTG, BTTN, BTCC và TBH vì “người” và “người ấy” :
 Tai ác ngờ đâu gió lạ qua,
                            Làm kinh giấc mộng những ngày hoa,
                            Thổi tan âm điệu du dương trước


Một cuốn sách TNVN của HT – HC (Nguyễn Đức Phiên) đã in TBH năm 1941 mà tái bản lần ba thì ghi 1943 là sao? Tác giả này cũng lấy TBH từ đâu ra?
                            Và tiễn người đi bến cát xa.
                                                                       (BTTN)
Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi…
Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp,
Đi nhớ người không muốn nhớ lời!
                                                   (BTCC)
      Đưa người, ta không đưa qua sông,
      Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
                                                 (TBH)
Những từ “người” trong thơ của họ không còn cho riêng một người mà ẩn dụ cái ta nằm trong cái tôi huyền thoại đó! Ai đã ra đi và ai còn ở lại? Nhân vật trong thơ ra đi trong mơ hồ nhưng ngoài đời, TT đã là người đi thật. Trước đó, Kh cũng là người ra đi. Tại sao cuộc tình đang ”phơi phới” ”nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn” mà lại phải chia tay? Hỏi thơ, thơ chẳng trả lời. Hỏi người, người đã cuối trời đi xa! Ta đành quay về hỏi sách vậy.
b. Nỗi đau ngày trước với những nghi vấn về tiểu sử TT:
– TT ra đi trong trong bối cảnh nào ngoài “Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm”?
Người ra đi trong BTTN năm 1937 ( tiễn người đi bến cát xa) mà TBH có nhắc (đưa người ta không đưa qua sông/ ta chỉ đưa người ấy/ một giã gia đình, một dửng dưng) chưa khẳng định là một ở đây nhưng trong tất cả những trang sách viết về TT đều xác định: Có một TT đã đi vào đơn vị sau Cách mạng tháng Tám thành công. Như vậy, mối tình “chàng nghệ sĩ” TT  và “cô gái vườn Thanh” có thật và đã tan tành mây khói trước đó. Tìm hiểu ảnh hưởng của Kh có tác động gì đến sự ra đi của TT cũng như ảnh hưởng qua thời đại là một thao tác cần phải có đối với những bài thơ nhiều uẩn khúc như TBH. Bởi vì, tất cả những tác động tình cảm riêng tư đó sẽ quyết định một phần nào đến sự nghiệp sáng tác của tác giả cũng như chủ đề từng tác phẩm.
– TT lên Hà Nội cùng gia đình năm nào?
Tôn Thảo Miên (TTM) trong ”Từ điển tác giả, tác phẩm văn học” – (Nxb ĐHSP – 2004, tr 662) chỉ ghi: ”Ông sinh trong một gia đình nhà nho nghèo. Thuở nhỏ học tiểu học ở Hà Nội, hết bậc tiểu học, ông bỏ học đi làm, kiếm sống bằng nghề vẽ tranh. Ông bắt đầu làm thơ, viết văn từ đầu những năm 1940”.
Trần Hữu Tá (THT) trong ”Từ điển văn học bộ mới” (Nxb Thế giới – 2004, tr 1641) cho rằng: ”Khoảng 1938, cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ tranh và bắt đầu làm thơ, viết văn”.
Hai bài này không thấy chua từ nguồn nào và nội dung na ná giống nhau.
Hà Bình Trị (HBT) trong “Ngữ văn, 11 tập 2 (Nxb GD – 2004, tr 97) ghi: “Khoảng năm 1938, ông cùng gia đình chuyển lên sống ở Hà Nội và bắt đầu làm thơ, viết truyện ngắn, tiểu thuyết và soạn kịch nhưng thành công nhất là những sáng tác thơ”.
Bài này ngắn gọn quá đã đánh mất tính chất “nghệ sĩ” tài hoa của TT và không nêu được những tác phẩm cơ bản của tác giả. Tức là HBT không nói đến TT là họa sĩ và tác phẩm văn học tiêu biểu. Đây là phần thiếu sót lớn khi chúng ta viết tiểu sử tác giả.
Như vậy, TT từng lên Hà Nội vào năm 1938? Tài liệu này, các tác giả cũng lấy từ đâu ra, đào từ đâu mà có?
Bởi vì năm tháng là một trong những căn cứ (thời gian chứng) rất quan trọng để chứng minh TT có phải là T.T.Kh hay không? TT có mối tình với Khánh hay không? Nếu các tác giả nói trên và các tác giả cùng ý kiến đồng ý “biểu quyết”: TT cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống từ năm 1938 thì tất cả những chi tiết liên quan đến T.T.Kh và những bút hiệu ký Thâm Tâm trong các bài “Dang dở, Màu máu Ti-Gôn, Các anh” hay những đơm đặt chuyện kể “cá tháng 4” về TT và T.TKh phải kết thúc tại đây. Chúng ta khỏi cần bàn vì:
– TT từ Hải Dương lên Hà Nội 1938 tức TT đã 21 tuổi cách các bài thơ T.T.Kh một năm.
– Các bài thơ T.T.Kh xuất hiện ở Hà Nội trên TTTB bắt đầu năm 1937, TT có liên quan gì đến bút hiệu này? Không lẽ ở dưới Hải Dương (thành phố của bánh đậu xanh và vải thiều) cách Hà Nội 57 km, TT gởi… hồn tương tư lên Hà Nội… bồ với Khánh rồi làm thơ ký T.T.Kh gởi lên TTTB (lúc đó TT đã làm việc cho TTTB đâu?) “hù” thiên hạ? Có “bồ” thì cũng gặp ở đâu, quen biết chỗ nào đấy trước chứ? Hồi đó, làm gì có mục “Tìm bạn bốn phương” và tìm bồ trên vi tính trong room “Chat” như hiện nay mà yêu búa xua, vùa một cái là có cả vốc bồ?
– Đã không liên quan gì tới cuộc tình Khánh hay K, TT lại mới tập tành làm thơ đã vội làm thơ giành giật với bóng ma Khánh hay Kh trên thi đàn? Chúng ta không thấy chúng ta đã… nhầm lẫn thời gian hay sao?
– Cuộc tình TT nếu có với Khánh thì ở Hà Nội từ năm 1936-1937 theo Nguyễn Vỹ, và căn cứ theo nội dung bài thơ năm 1937 đi ngược dòng thời gian 1936 – 1935… (một mùa thu trước mỗi hoàng hôn, từ ấy thu rồi thu lại thu) sao mà nghịch lý đến thế?
Nhưng thực sự, mối tình đầu của TT và Khánh đã có nhân chứng (những người quen biết) và vật chứng (thơ) rồi. Nghĩa là TT lên Hà Nội năm 1936. Tức là ở tuổi 19 – 20.
Chúng ta loại bỏ chi tiết trong các cuốn sách: TT lên Hà Nội kiếm sống năm 1938” tại đây.
– TT bắt đầu làm thơ từ năm nào?
Khi những nhà nghiên cứu đều thống nhất ý kiến cho rằng: TT gia nhập làng ”Thơ Mới” muộn nhưng đã có tiếng vang với TBH được ghi năm 1940 (đăng năm 1941 theo HT – HC nhưng TTM ghi đăng năm 1942 trong TNVN. TTM nhầm hay còn cuốn TNVN nào khác hay không!? Hà Bình Trị ghi năm 1943 với cuốn “Thi Nhân Việt Nam in lần thứ hai, Nguyễn Đức Phiên xuất bản, Hà Nội 1943” sđd tr 99).

2NTL ghi: “Thâm Tâm chính thức góp mặt vào làng thơ tiền chiến từ năm 1938” (sđd tr 412).
Như vậy: TT làm thơ sớm nhất là năm 1938 (không có bài thơ nào đóng mốc) và trễ nhất là 1940 (TBH đóng mốc)?
TT năm 1940 chỉ thấy có các bài: “Các anh, TBH,, Hoa gạo, Vạn lý trường thành, Không đề, Mơ thuở thanh bình, Chết, Ngược gió” theo NTL (VNTNTC, sđd). Nhưng các nguồn này cũng chưa thật chính xác vì NTL chẳng biết có chính mắt đọc TTTB hay không? HT – HC trong sách mình từ năm 1941 cũng chỉ ghi về TBH “rút ở tập Thơ Thâm Tâm chưa xuất bản” mà chẳng ghi năm tháng. Tập “Thơ Thâm Tâm” này do ai chọn, ai cung cấp? Tập thơ ấy có bao nhiêu bài? Bây giờ, nó ở đâu? Có phải tập “Thơ Thâm Tâm” do MGL tuyển chọn và in năm 1987 không? Đã tuyển chọn thì chắc chắn, MGL biết TT còn những bài thơ khác? Chúng nằm ở đâu? (MGL trả lời với người viết, những bài thơ TT và T.T.Kh do ông trích từ TTTB năm 1976 bằng bản viết tay. Nhưng các tác giả khác cũng nói trích thơ TT, T.T.Kh từ TTTB lại khác nhau từng bản một?!). Năm 1941, khi tuyển chọn, HT – HC cũng không hề đọc TTTB. Vậy, ai đã chính mắt đọc được TTTB có đăng những bài thơ ký T.T.Kh và Thâm Tâm? Người nghiên cứu văn học lại cố tình quên lãng “nguồn tư liệu” tối quan trọng này. Tư liệu văn học không rõ nguồn gốc, cũng giống như hàng hóa, thuốc men, thức ăn chẳng có nhãn hiệu bảo chứng thật hay giả, uy tín hay không? Làm sao chúng ta có thể phân biệt bằng mắt thường?
Không có căn cứ nào thì chúng ta cũng chỉ căn cứ theo bài thơ TBH đã được đóng dấu “bảo chứng” này: Thâm Tâm làm thơ năm 1940.  TT là T.T.Kh năm 1937 được đặt ra với HSHTG! Bài thơ liên quan tới T.T.Kh như “Các anh, Dang dở” năm 1940 tồn tại dưới bút hiệu Thâm Tâm. Ta hãy xét tới nội dung để xem thử phải TT làm hay không? Còn bài thơ “Màu máu Ty Gôn” ký Thâm Tâm, cả hai MGL (1987) và NTL (1968) khi đưa vào sách mình đều không ghi chú thời gian. Bài thơ này nhất định phải làm từ 1938 – 1940. Ta tìm hiểu nội dung để phân biệt chơn, giả? Chúng ta chỉ xét tới những cuốn sách viết cũ nhất vì những cuốn sau hoặc những bài viết khác không ghi nguồn nào rõ hơn thì cũng chỉ là… sao chép lại mà thôi!
TT chia tay tình đầu với Kh vào năm 1936 (không phải chia tay với bút hiệu T.T. Kh vì làm sao ta có thể khẳng định T.T. Kh là con gái qua những bài thơ tác giả xưng ”tôi” và gọi ”người ấy” là ”anh” và càng không thể nghĩ rằng hễ bất cứ ai mang thơ vào nhà xuất bản là người đó chính là tác giả).
Chúng ta thống nhất với thời gian này thì càng khẳng định TT không phải là T.T.Kh của năm 1937. Thế nhưng, khả năng TT lấy bút hiệu T.T.Kh bộc phát lớn. Còn nói TT có hay không có, làm bao nhiêu bài trong 4 bài ký T.T.Kh, chúng ta lại xét riêng phần khác.
– TT mất năm nào? Ở đâu? Nguyên nhân? Tư liệu?
NTL (sđd tr 412) đã… cho TT chết sớm hơn hai năm: “Sau cơn bệnh tim tái phát, thi sĩ Thâm Tâm đã chết bên bờ sông Đuống ở đất Bắc vào năm 1948”!? Thế nhưng, cùng tác giả, cùng cuốn sách nói trên do nhà xuất bản Văn Học chịu trách nhiệm với biên tập Phan Đang thì biên tập… cải tử hoàn sinh cho TT… sống thêm… 8 năm (từ 1948 theo NTL đến 1956 và 6 năm theo sách hiện hành 1950-1956) mới cho… theo diện… bệnh tim. VNTNTCTT ghi như sau:
THÂM TÂM
(1917-1956)
3Hiện tượng ghi nhầm hoặc cố làm vẻ hiểu biết kiến thức về ngày sinh tử cho các tác giả cũng lắm cái buồn cười. Ví dụ tác giả nào viết tiểu sử Đông Hồ trên “vi.wikipedia.org”: “Đông Hồ (10 tháng 3 năm 1936… tên thật Lâm Tấn Phác), rồi cố tình “chua” thêm bằng cách mở ngoặc: “Mất ngày 25 tháng 3, năm 1969 (33 tuổi) tại Sài Gòn” dưới cái hình… ông già đội khăn đóng đeo gương cận khoảng 50-60 tuổi! Còn ghi rõ Đông Hồ đã có… tập thơ Đông Hồ (1922), Lời Hoa (1934), Linh Phượng (1934), Cô gái xuân (1932-1935). Thật biết “nhát ma” người! Đúng là “sinh ông rồi mới sinh cha… “. TT thì gởi hồn đi yêu, chưa làm thơ mà cũng có thơ, chưa lên Hà Nội mà đã có người yêu ở Hà Nội thì sao Đông Hồ chưa được mẹ đẻ mà đã có 4 tập thơ xuất bản trên? Tác giả nhầm thì đã không mở (…) để chú thích buồn cười như vậy? Tai hại là: Các trang web thường có những “thợ săn” bài cũng “săn tin nhầm” luôn. Ví dụ web thivien.net cũng sao lại “Thi sĩ Đông Hồ (10/3/1936 – 25/3/1969) tên thật là Lâm Kỳ Phác”!?
Các cuốn sách các thầy chúng ta thì sao: Tác giả Mai Hương trong “Từ điển văn học Việt Nam” – dùng trong nhà trường- (Nxb ĐHSP – 2004, tr 111) ghi Đông Hồ sinh năm “1896 – 1969” nghĩa là Đông Hồ sống tới 73 tuổi; còn Lê Chí Dũng trong “Từ điển văn học bộ mới”, (Nxb TG – 2004, tr 454) ghi: Đông Hồ (1906 – 25-III-1969), Đông Hồ chỉ sống tới 63 tuổi. Những con số 33, 63, 73, số nào đúng? Con số 63 đúng với HT – HC trong TNVN, đúng với NTL trong VNTNTCTT.
Trở lại năm mất của TT:
Nguyễn Tố trên báo Sống 15/4/1967 (“Phá vỡ ‘Nghi án T.T.KH.và Thâm Tâm”, NTL sđd tr 429): “Năm 1936! Bọn chúng tôi gồm năm thanh niên, chưa tên nào quá 25 tuổi. Cả năm gã đều có máu nghệ sĩ giang hồ… Trần Huyền Trân… Vũ Trọng Can… Nguyễn Tuấn Trình người bé nhỏ, loắt choắt… lấy bút hiệu là Thâm Tâm, ngoài tài viết kịch, làm thơ, gã còn là một họa sĩ trình bày báo rất cừ. Thâm Tâm còn mấy bài thơ ký tên T.T.Kh… Với thiên hồi ký ngắn này, tôi xin nói lên một sự thật, ngỏ hầu làm sáng tỏ một vấn đề… với cái xuất xứ lờ mờ. Hơn nữa, để đáp lại tấm thạnh tình giữa tôi và Nguyễn Tuấn Trình tức Thâm Tâm tự thuở thiếu thời… Sức Thâm Tâm quá yếu, lại mắc chứng bệnh tim nên anh đã từ trần… Năm đó là năm 1948. Thâm Tâm vừa đúng 35 tuổi…”.
Có lẽ vì để tỏ “tấm thạnh tình” với TT nên Nguyễn Tố đã cho người bạn “thuở thiếu thời” này… đi theo ông bà sớm hơn hai năm (1948 so với 1950) để khỏi khổ sở với chứng… bệnh “đau tim” tái phát chăng?!
Hồ Thông (NTK, sđd tr 198): “Chỉ tội cho Thâm Tâm. Hai năm sau chúng tôi được tin anh chết trên cầu sông Đuống trong một trận đánh thẳng vào Thủ đô…”.
Tính mốc năm 1947, Hồ Thông kể: “năm 1947, tình cờ tôi được điều về đơn vị có nhà thơ Thâm Tâm hiện diện…” đến “hai năm sau, chúng tôi được tin anh chết…” vị chi là năm 1949?!
Hà Bình Trị (Ngữ văn 11 tập 2, Nxb GD – 2004) ghi: “Trên đường hành quân đi chiến dịch Biên giới, Thâm Tâm bị sốt rét ác tính và mất tại Cao Bằng”.
Trúc Kỳ: Những phút cuối cùng của Thâm Tâm” đã hồi ức năm 1992: “anh đã phải nằm lại ở chân đèo Mã Phục… gần thị trấn An Lại, cách thị xã Cao Bằng khoảng mười tám kilômét về phía Bắc” (qdnd.vn). (Đèo Mã Phục cao 620 m cách Cao Bằng 22 km).
Văn Giá: “Thâm Tâm một thời và mãi mãi” với tâm sự trùng trùng: “Ông mất vì bệnh sốt rét rừng. Cũng là do làm việc quá sức, ăn uống kham khổ, lại khí hậu khắc nghiệt mà ra cả. Đồng đội ông kể lại rằng khi phát hiện ra Thâm Tâm bị ốm thì đã vội cáng nhà thơ về trạm xá của đơn vị cách chừng một ngày đường đi bộ để điều trị, tiếc thay trên đường nhà thơ đã lặng lẽ tắt thở, không kịp trăng trối điều gì. Lúc ấy vào rạng sáng một ngày thu sương trên núi rừng Việt Bắc – 18.8.1950. Người viết bài này đã cùng thân nhân gia đình Thâm Tâm và một số nhà văn nhà thơ khác của tỉnh Cao Bằng cất công đi tìm mộ nhà thơ Thâm Tâm… Vậy là ngôi mộ Thâm Tâm hiện giờ không rõ đích xác ngôi mộ nào, nhưng chỉ biết chắc chắn là đã có mặt trong các hàng mộ liệt sĩ vô danh tại Nghĩa trang Quảng Hoà” (thotre.net).
Như vậy, tư liệu của NTL trong VNTNTC cuốn năm 1968, tái bản năm 2000 về ngày, nơi mất của TT trong VNTNTCTT là sai cơ bản.
Sông Đuống: “Sông Đuống, sử còn ghi là sông Thiên Đức hay Thiên Đức Giang là con sông đào dài 68 km, nối sông Hồng với sông Thái Bình. Điểm đầu từ ngã ba Dâu (Xuân Canh, Đông Anh, Hà Nội) tại địa giới giữa 2 huyện Đông Anh và Gia Lâm thành phố Hà Nội). Điểm cuối là ngã ba Mỹ Lộc (Trung Kênh, Lương Tài, Bắc Ninh)”.
Cao Bằng là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn. Phía bắc và phía đông giáp các địa cấp thị Bách Sắc và Sùng Tả của Quảng Tây (Trung Quốc)” (vi.wikipedia.org).
Con sông Đuống và tỉnh Cao Bằng này chẳng láng giềng gì với nhau. Bệnh tim với bệnh sốt rét ác tính cũng chẳng họ hàng thân thích!
Chúng ta thống nhất: Thâm Tâm trong một cuộc hành quân giữa chiến dịch Biên giới Thu – Đông đã mất ngày 18 tháng 8 năm 1950 dưới chân đèo Mã Phục gần bản Pò Noa, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng vì chứng sốt rét ác tính. Hiện nay, tại bản Pò Noa có ngôi mộ tưởng niệm nhà thơ – liệt sĩ Thâm Tâm.
Những ai viết huyện Quảng Hòa theo Hoàng Viêm (Thâm Tâm với danh tác Tống Biệt Hành, newvietart.com) sau năm 2001 thì chúng ta nên chỉnh lại cho đúng vì Cao Bằng hiện nay gồm 1 thị xã và 12 huyện không có huyện nào tên Quảng Hòa mà chỉ có huyện Phục Hòa. Trước đó, năm 1967 hai huyện này nhập chung thành Quảng Hòa.
Những người nghiên cứu văn học chúng ta chưa thật cẩn thận khi xử lý tư liệu và bộ phận biên tập cần trang bị thêm kiến thức văn học để biên tập! Không biết còn bao nhiêu dạng sinh ông rồi mới sinh con như thế này trên các cuốn sách được gọi là “Từ điển Văn học“?!
Chúng ta thấy thời gian chính xác của mỗi tác phẩm khi có “vấn đề” như thế này rất quan trọng. Với TT, nếu biết tác phẩm được viết năm nào, ta dễ dàng biết:
– Bài thơ đầu tiên của TT là bài thơ nào?
Hoài Việt trong “Thâm Tâm, cuộc đời ngắn, tiếng thơ dài“, (Thâm Tâm & T.T.KH., NxbTrẻ – 2003) viết: “Bài thơ đầu tiên của Thâm Tâm. Khi bước vào tuổi thanh niên thì gia đình Thâm Tâm lâm vào cảnh khó khăn. Từ Hải Dương, gia đình chuyển lên Hà Nội sinh sống. Thâm Tâm làm đủ nghề: đóng sách cho nhà in Mai Lĩnh, rồi vẽ cả tranh “Bờ Hồ” bán rất chạy ở cửa các trại lính Tây – mong kiếm thêm thu nhập cho kinh tế gia đình. Dường như sự thúc ép khó khăn của đời sống không ngăn nổi tình cảm mơ mộng, dạt dào của tuổi trẻ. Cùng với khả năng hội họa, Thâm Tâm bắt đầu viết. Bài thơ đầu tiên ông chỉ rụt rè gửi cho tờ Tiểu thuyết ba xu với bút danh Trăm Năm. Đây là một bài thơ tình phảng phất nỗi buồn man mác nhưng cũng báo hiệu nhiều nét tài hoa của một thi sĩ tương lai. Bài thơ đăng xong, một điều bất ngờ đến với tác giả, ông chủ nhiệm Trường Xuân đến nhà tìm ông. Gặp tác giả, ông không thể ngờ một người ít tuổi với vóc dáng thư sinh, nhỏ bé lại có thể viết được những dòng thơ tài hoa ấy. Sau bài thơ được đăng cùng buổi gặp gỡ với ông chủ nhiệm, Thâm Tâm bỏ qua những mặc cảm rụt rè, ông trở nên phấn khích. Từ đây ông mạnh dạn viết, đặc biệt là viết nhiều truyện ngắn thường xuyên cho Tiểu thuyết thứ bảy. Kể lại cho tôi nghe xuất xứ bài thơ đầu tiên. Đây cảnh cũ, đâu người xưacủa Thâm Tâm, bà Oanh, chị nhà thơ còn nhớ ‘khi viết bài thơ này cậu ấy viết trên chiếc bàn mọt ở phố Thái Phiên ngày nay’. Cũng nói thêm với bạn đọc, bài thơ này được ghi lại cũng từ lời kể của bà Oanh. Bà vẫn nhớ như in bài thơ từ lần đầu được đọc trên báo. Cũng chẳng biết sau bài thơ này Thâm Tâm còn lấy bút danh Trăm Năm nữa không và người còn gái có tên Trinh được nhắc tới là ai?” (khanhly.net)
Tin “cá tháng 4”: “Đây cảnh cũ, đâu người xưa” do chính TT làm năm 1941 đăng trên TTTB mà bà Oanh “vẫn nhớ như in bài thơ từ lần đầu được đọc trên báo”? Chỉ một lần đọc mà bà Oanh đã thuộc 22 câu thơ? Thiên tài trí nhớ thế?
Nếu đúng như Hoài Việt đã ghi thì TT làm thơ năm 1941? Vậy “TBH, Các anh, Hoa gạo, Vạn lý trường thành, Ngược gió…” năm 1940 được in trong sách MGL, NTL chẳng phải của TT ư? Lại “sinh con rồi mới sinh cha…”!
Nhưng nói Hoài Việt “bịa” lại chẳng… đúng vì Nguyễn Tuấn Khoa, con trai TT, từng xác định bà cô Oanh của ông tức chị nhà thơ TT đã đọc cho Hoài Việt nghe có ông. Thế nhưng, bài “Đây cảnh cũ, đâu người xưa” chẳng ăn nhập gì tới mối tình của TT và cô Khánh năm 1937. Hồi ức cảnh cũ, người xưa phải là hồi ức cuộc tình năm 1937 với khu vườn Thanh Giám và một mùa thu với cô Khánh mới đúng chứ! Ai lại đi nhớ cô Trinh nào?
Đó là một bài thơ hỗn hợp giữa 4 câu thất ngôn lạc loài (câu đầu tiên chỉ 6 từ) và 18 câu lục bát trật thể… lả lơi, lạt lẽo, trẻ con, nhạt nhòa…
Bài hỗn tạp này tệ hơn… vợ thằng Đậu như trên mà Hoài Việt ca gãy lưỡi: “báo hiệu nhiều nét tài hoa của một thi sĩ tương lai”! Mất công thiên hạ đi tìm cô Trinh như đi tìm cô Khánh nữa thì giấy bút mực, tiền thuê mạng lên giá!
Vậy mà cũng một đề tài, nhà thơ bác sĩ Thái Can trong “Cảnh đó, người đâu?” chỉ bốn câu mà đủ ý của hồi ức chia xa:
Gặp em thơ thẩn bên vườn hạnh,
Hỏi mãi mà em chẳng trả lời
Từ đó bắc nam người một ngã:

Bên vườn hoa hạnh bóng giăng soi
(Những nét đan thanh)
So với bài thơ trên gọi là của TT, một trời, một vực!
Bài hỗn tạp ấy mà Hoài Việt cho rằng TT làm năm 1941 lại đứng trước (đầu tiên) những bài 1940 như TBH chẳng hạn? Hèn chi với T.T. Kh, “Bài thơ thứ hai” sau HSHTG mà gọi là “Bài thơ thứ nhất“?! Đấy là người đời tra năm tháng và thêu dệt tùm lum vào hoặc TT từng có những phút giây quên lãng… “bác học” đến nhập nhằng thế!
4TT làm bài thơ trên ư? Một bài thơ năm 1940 “Các anh” gọi “Khánh ơi, Khánh hỡi”. Bài thơ này thì “Trinh nâng giấc, Trinh cười”! Hai thời điểm, hai bài thơ, hai cuộc tình, hai cái tên, hai giọng thơ, hai mùa Xuân – Thu trái cẳng ngỗng: Dở nghệ thuật và dỏm nội dung sao có thể xuất phát từ một tác giả có tiếng là nghiêm khắc và đàng hoàng? Chúng ta sẽ thấy chất họa sĩ trong TT ẩn hình trong những bài thơ đích thực của TT làm. Những bài thơ bề nổi, bề bộn đời thường, nặng nề dục vọng không thể có trong người thơ họa sĩ. Bấm bụng bình, bực bội biết bao! Khá khen cho bà Oanh tỷ tỷ TT vô tình hại chết thi sĩ và hiền đệ của mình! Sự hợp tác của hai ông bà này (nếu có thật) đã “đẻ” ra đứa con hoang đầy ghẻ lở: “Đây cảnh cũ, đâu người xưa” cũng giống như Thế Nhật và Thư Linh Đỗ Thị Lạc năm 1994 cùng “rặn” ra Trần Thị Vân Chung – Vân Nương trong đứa con vô thừa tự “T.T.KH nàng là ai?”!
Vậy “nỗi đau ngày trước” của TT là nỗi đau nào?
Cô Trinh hay cô Khánh? Báo chí Hà Nội đăng đầy, bà Oanh là người hay đọc báo, lẽ nào bà không biết? Có phải Tuấn Trình yêu cả hai cô?
Nhìn đi, nhìn lại, cuộc tình chóng vắng của TT chỉ là cô Kh (mối tình đầu của TT như chúng ta đã biết) chứ chẳng có cô Trinh nào chui vào thơ TT. Vậy thì bà Oanh đã đọc bài thơ… lòi ra một cô Trinh cho Hoài Việt ghi vào sách mình là chưa đủ “cơ sở khoa học thời gian biện chứng” nếu không nói là “lắm chuyện”. Nếu có thật thì sao trưởng nam của TT là Nguyễn Tuấn Khoa và gia đình TT từ đó đến nay chẳng buồn hở miệng, không thiết hé môi?
Thống nhất: TT không làm bài thơ “Đây cảnh cũ, đâu người xưa” năm 1941 và vì bài hỗn tạp này theo nguồn thông tin cung cấp thiếu chính xác và nó không phải là bài thơ đầu tiên của TT.
Những ai thêm thắt hoặc muốn “đẻ” thêm đứa con nào dùm cho TT để thay vì quét dọn vườn hoa văn học lại đi trồng cỏ dại, “cha mẹ” đó phải cung cấp nguồn thông tin và nguồn thông tin đó phải có bảo chứng lịch sử và văn học (sách nào in, ai chép, người nào kể, mục đích gì? nội dung?). Nếu không sẽ là “thiên cổ tội nhân” bởi làm vẩn đục thêm dòng sông văn học vốn đã đục ngầu…
– TT gặp Khánh năm nào? Ở đâu?
Thắc mắc được đặt ra: Khánh là cô gái ở phố Sinh Từ – Hà Nội. Mối tình Tuấn Trình và Khánh kết thúc năm 1936 bằng hồi ức trong HSHTG năm 1937. Không lẽ chia tay tình đầu với Khánh năm 1937, TT đi về đâu? (Hải Dương quê mình chăng?) để một năm sau – 1938 lên Hà Nội lại gặp cô Trinh và hồi ức “Đâu cảnh cũ đâu người xưa”? năm 1941?
Nguyễn Vỹ trong bài “Thâm Tâm và sự thật về T.T.Kh.” đã đăng trên “Phổ thông tạp chí, số 63, ngày 15.8.1961″ (Nguyễn Thạch Kiên, sđd phần 12, trang 149) và “Văn thi sĩ tiền chiến” của Nguyễn Vỹ: “Năm 1936-37, có xuất hiện ở phố Chợ-Hôm, ngoại-ô Hànội, một nhóm văn-sĩ trẻ với bút hiệu là Trần-huyền-Trân, Thâm-Tâm và một vài người khác nữa“. Như vậy, tài liệu Nguyễn Vỹ cung cấp đáng tin cậy hơn vì thời gian viết khá lâu so với những tài liệu không nguồn bây giờ.
TT gặp Trần Thị Khánh tại Hà Nội theo Nguyễn Vỹ: “Trần-thị-Khánh là một cô học trò lớp Nhất trường tiểu-học Sinh – Từ… ngay cạnh Thanh – Giám, nơi đền thờ Khổng-Tử… Tuấn-Trình có người cô, nhà ở phố chợ Cửa Nam, gần Sinh-Từ. Anh thường đến đây và thường thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2, năm 1936, họa sĩ Tuấn-Trình (tên gọi hồi đó) mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi, thi rớt Tiểu-Học và đã nghỉ học từ Mùa Hè năm trước. Tuấn-Trình cũng mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc-Hà của Trần huyền Trân vừa xuất-bản… Ở phố Sinh – Từ, Antigone mọc rất nhiều… Tình-yêu của Tuấn-Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm Antigone vừa hé nụ, và chết trong những ngày giữa mùa Đông năm đó, trong lúc giàn hoa Ti-gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân”.
Nguyễn Vỹ cũng chỉ ra được nhà thơ nổi tiếng “Em đi chùa Hương” là “Nguyễn-nhược-Pháp, nhà ở gần nhà cô Khánh, chỉ cách 5, 6 căn”. Nhà TT, theo Nguyễn Vỹ “ở Chợ Hôm” Hà Nội.
Cuộc tình tan vỡ tạo nên tiếng thở dài cho chàng nghệ sĩ ”nghèo rớt mồng tơi” này. Không mong đợi gì người đi trở lại nên chàng ngần ngại chi mà không tự mình… đi luôn! ”Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật”, TT không nói cho mình thì nói cho ai? Nếu tìm hiểu kỹ hơn thì ”người ra đi” trong TBH chẳng có ăn nhập gì với TT ra đi vào quân đội năm 1947 vì TBH  được làm năm 1940 mà cuộc tình tan vỡ là trước đó. Vậy TT viết bài này cho ai? Để làm gì? Khoảng thời gian ”thất tình” đó, TT còn là người tự do, tự tại giữa chốn giang hồ cho đến năm 1945 (theo lời Nguyễn Tuấn Khoa, con trai TT) TT mới lấy Phạm Thị An.
NTK trong “Về những kỷ niệm về quê hương” đã kể lại lời của TT sau mười năm tình yêu tan vỡ: ”Nàng lẩn tránh tôi vì nghe lời bà mẹ.” Điều đó có nghĩa là Kh đau khổ không kém gì TT khi buộc phải lánh xa một mối tình thơ ngây? Có phải vì anh chàng nghệ sĩ ”cơm ăn chưa có, lo sao nổi bồ” này chưa có danh gì với núi sông nên đã ”lọt qua” chứ không “lọt vào” cặp mắt của bà mẹ Kh? Sự ”ngoan ngoãn” với câu ”cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó” này khiến Mỵ Châu mắc lừa Trọng Thủy trong lịch sử. Những tình duyên chênh lệch tuổi tác đã thành nguồn cảm hứng cho ca dao mỉa mai:
Gái tơ vớ phải chồng già.
                            Nằm bên chông chà chớ có ngon chi.
Sự ngoan ngoãn đó trong thi phẩm là những tiếng khóc đứt đoạn, là những lời nghẹn ngào, là những câu đắng cay, là nỗi niềm hối tiếc… với ”một tâm hồn héo, bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!” khi mà ”chồng thấp, vợ cao như đôi đũa lệch so sao cho bằng?”. Té ra, người ta quan niệm:
Se duyên sánh phận quần thoa
                             Không Trạng nguyên cũng Thám hoa rỡ ràng.
Trong thời buổi loạn lạc Tây, Tàu, Ta lộn xộn, không… đào đâu ra được một chàng rể vinh quy bái tổ thì ít ra cũng… chộp cho được một kẻ có chút bạc tiền rủng rỉnh cỡ… thương gia. Còn TT? TT là con nhà nho, nhà giáo thuộc loại ”kiếm sống bằng nhiều nghề” trong thời buổi ”thắt lưng buộc bụng” kiếm miếng ăn đã khó chắc gì có cho bồ mà Đào Xuân Quý trong ”Nhớ lại” – Nxb Thanh niên, có nhắc ”Lương không có bao nhiêu, tiền nhuận bút không đủ”. Trong “Huyền thoại về nàng thơ T.T. Kh”, tr 30 – 34, NTK cũng hồi ức: “Trường hợp Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Vũ Trọng Can, Nguyễn Vỹ, Vũ Trọng Phụng, Tân Hiến, Đặng Đình Hồng và bao anh em văn sĩ khác, với cuộc sống thực rất khổ cực của họ, là những thí dụ… nên họ phải sống chui rúc trong những căn nhà phố chuột ở làng Trung – Phụng… nhưng viết cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy thì không khá được, vì ông chủ rất kỹ về tiền bạc và rất nguyên tắc về việc chi ra. Cả bọn thường bị đói, và rét”. Cho nên, ”quả cầu” kén chồng của Khánh ném ra, TT đã không có duyên mà hưởng nên rơi vào một người khác, lạ hoắc mà TT đã mô tả: ”Là trung niên, khoảng 38, 39 tuổi… là một thương gia tạm thời có của ăn của để, một tiểu tư sản thành thị sống quẩn quanh trong năm cửa ô Hà Nội” (“Về những kỷ niệm quê hương“, sđd).
Thất tình, nản chí nhưng không… nhảy núi là may cho TT lắm. Lúc này, giữa cuộc chiến tranh thế giới lần hai năm 1939 bùng nổ. Ở Hà Nội, phong trào đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa bắt đầu: ”Triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh cách mạng” (Lịch sử Vìệt Nam tập 2, 1858 – 1945 trang 384). Khi báo chí là phương tiện dùng để đấu tranh cách mạng thì: Anh, chị sẽ phải viết cái gì ngoài những chủ đề về cách mạng? Bởi thế mà phong trào ”Thơ Mới 1932 – 1945” ra đời ít ra, cuộc đời có chút xí đỉnh hương hoa cây cỏ, của gió, của trăng, của màu mắt người yêu để quên bớt đi ”những cuộc chia ly màu đỏ”!
TT đến với ”Thơ Mới” muộn màng nhưng dù sao cũng đã đến. Thế nhưng:
Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng.
mà Hàn Mặc Tử đã rên trong “Lang thang“. Tiền lương từ nghiệp thơ văn không đủ để sống. Xuân Diệu phải than: “Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt. Cơm áo không đùa với khách thơ”. Nghèo chết đến nơi! Hà Nội thời đó ngột ngạt không khí chiến tranh, sặc mùi máu tanh đồng loại khi thực dân Pháp ra tay tàn sát tất cả những ai tham gia kháng chiến. Khung cảnh đó có quyến rũ không? TT đã chọn bước tiếp cho đời mình như thế nào trong cái khốn khó của đường đời ngao ngán như Cao Bá Quát từng chán ngán trong “Sa hành đoản ca”:
  Bãi cát dài, bãi cát dài
                       Bước một bước lại như lùi một bước?
Cách mạng tháng Tám thành công, TT mới tham gia văn nghệ trong quân đội. Nếu TT viết TBH năm 1940, và những tác phẩm sau 1940, chắc chắn thời đại xô động đó đã tác động không ít vào thi phẩm. TBH được làm trong khoảng thời gian nước Việt Nam nằm trong “một cổ hai tròng” Pháp – Nhật và nằm trong thế chiến thứ hai (1939 – 1945). Khoảng thời gian đó, TT đã chứng kiến những cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương bị thực dân Pháp tắm trong biển máu. TT còn chứng kiến ngày 28/01/1941, Bác Hồ từ Trung Quốc về nước nhìn lại kết quả bản ”Luận cương chính trị” theo khuynh hướng “tả khuynh” soạn thảo từ 1930 ảnh hưởng tới chủ trương “thanh Đảng” của xứ uỷ Trung Kỳ: ”Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” năm 1931 – 1941 mà ”vẫn chưa có biện pháp cụ thể về tổ chức và chính sách” (Đại cương Lịch sử Việt Nam tập 3, – Nxb KHXH).
Kết qủa: ”Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm” trong bốn câu cuối của TBH được HT – HC ”cắt xén tài tình” mà NHQ đã ngợi ca.
Không trách HT – HC vì văn học thời bấy giờ với quan điểm thơ ca phải phục vụ cách mạng nên trong TBH chỉ còn lại hình ảnh”ly khách” mà người ta cho rằng những tính cách quyết liệt rất phù hợp cả thời xưa (Kinh Kha tráng sĩ), cả thời nay (người chiến sĩ, trượng phu, nam nhi…).
Hình tượng ly khách phù hợp ấy đã được các Giáo sư, Tiến sĩ các nhà Nghiên cứu bình luận, phân tích hết lòng ca ngợi cái ý chí dứt áo ra đi theo tiếng gọi non sông với khúc nhạc ”Lên đàng” của Lưu Hữu Phước, theo bước chân ”Tiến quân ca” của Văn Cao. Tiếc thay, cả đến ngàn năm sau, có ”tri âm, tri kỷ” gì với TBH, có thương yêu TT gì thì cũng chỉ hiểu ngần ấy mà thôi!
Giữa những bề bộn đời thường, chính trị rối ren thêm mất đi một tình cảm mà ta có thể hình dung từ trong: “Ngậm ngùi cố sự” của TT trong VNTNTCTT:
Lảo đảo năm năm lệ mấy hàng
Ngậm ngùi cố sự, bóng lưu quang.
Cuối thu mưa nát lòng dâu biển
Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.


Chán ngắt gia tình, sầu ngất ngất,
Già teo thân thế, hận mang mang
Thẹn cùng trời đất mòn xuôi ngược,
Chí lớn không đầy nửa tấc ngang.

                        (Tiểu Thuyết Thứ Bảy)
Bài thơ này không ghi ngày tháng và nhiều chỗ khác với bản trong Thơ Thâm Tâm của Mã Giang Lân (năm canh/năm năm; dâu bể/dâu biển; một tấc gang/nửa tấc gang) và các dấu chấm phẩy bài có, bài không. Đây là bài thơ thất ngôn bát cú nên 8 câu này có “Đề. Thực. Luận. Kết” nên không thể tách 2 đoạn như NTL, MGL tách như trên mà phải kết lại với nhau.
Đây là bài thơ duy nhất mà TT nhắc đến chuyện nhân duyên, vợ chồng qua “ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng”. Hẳn là TT làm trước khi lập gia đình năm 1945.
Thi nhân này ”phẫn chí” không nghĩ đến chuyện ”đăng ký” một xuất trong đơn vị thì đợi chừng nào? TT mang cái ”chí lớn không đầy nửa tấc gang” như đã tự cười mình đến với cách mạng như để tự ”giải phóng” mình thoát khỏi nỗi đau đã có. Đó cũng chỉ là một trong những yếu tố thúc đẩy TT đi Vệ quốc quân. Chí phá bỏ thực tại bằng mộng giang hồ chấm dứt, TT thay nó bằng chiếc nón cối anh bộ đội và đôi dép lốp.
Ngoài sự lựa chọn đó ra, còn vì động lực to lớn thúc đẩy nữa chính là “chuyện đá vàng” để lại trong lòng chàng nghệ sĩ vết thương lòng đau xót. Tình yêu tan vỡ đã làm TT đau, nản chí, mất mặt nam nhi quá! Không đi lính thì đi đâu cho ”hạ hoả’? Cơ hội có. Động cơ có. TT… nhảy dù vào bộ đội nhưng vì vốn ”có duyên văn ngộ sớm” như Vũ Cao nói nên TT được ngồi vào ghế ”Thư ký toà soạn báo vệ quốc quân” –Một lực lượng to lớn chỉ có tiến không thoái”! (LSVN, sđd). Giọng thơ lãng mạn đầy âm hưởng thơ cổ phong Trung Quốc của TT đã chuyển sang giọng tuyên truyền cách mạng cho hợp với tình hình bấy giờ như các nhà thơ nổi lên từ “Thơ Mới” như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Thế Lữ…
Nhưng kỳ quặc, thơ TT dường như ”chững” lại với mỗi bài ca ngợi Việt Bắc trong ”Chiều mưa đường số 5” hòa với “Việt Bắc” của Tố Hữu, đầy nhiệt tình cách mạng “đâu rồi anh du kích… tiếng cười reo khúc khích, đón chiến sĩ quay về” còn lại  tất cả hình như ”vô hồn”. Cuối cùng cũng chỉ có TBH và một trong những bài thơ ký T.T.Kh hay Thâm Tâm (đang chờ giải mã) là đỉnh cao của thơ TT mang nét buồn thời đại với những thương đau cho cuộc tình đi không trở lại là ”sống” mà thôi!
Có thể nói: Không có thời đại đó, không có một tình yêu đổ vỡ đó, TT không có TBH. Ta không có thi phẩm chỉ bốn câu đầu đã bất hủ này. Một cách hơi tàn nhẫn: Cám ơn Kh đã không chọn TT.
TT đi vào đơn vị cho quên hết thơ mình ngày trước nhưng nghe lại thơ mình với ngày tháng nào đã ra đi, TT bật khóc! Tức là với TT hay những ai đã từng có những tháng ngày da diết nhớ thương từng con đường ngập nắng, nhớ bàn tay nghe ngóng tin sang là những gì đã ăn vào máu thịt không rứt bỏ được bao giờ. Kh chính là nỗi đau máu thịt của TT mất rồi!
Nhà thơ Hà Huyền Chi trong bài thơ “Anh thèm cơn lú lẫn” thú thật:
Anh thèm cơn lú lẫn
                    Quên cuộc đời, trừ em.
Thiết tưởng dùng nó cho TT của Kh không hẳn không đúng!
TT đi theo cách mạng trong ”tiếng đời xô động” đã nằm xuống tại Cao Bằng ngày 18/8/1950 nhưng không mang theo bài thơ ”Tống biệt” và anh đã gởi lại cho đời một cái tên với ”Huyền thoại T.T.Kh” như ”còn một chút gì để nhớ để thương”.
Nỗi đau ngày trước của TT chính là nỗi đau “thất bại trên tình trường” này! Xưa nay, “anh hùng nan quá mỹ nhân quan” đều thế cả!

2. Nhà thơ bí ẩn T.T. Kh với những bài thơ làm điêu đứng bao người:
a. T.T. Kh và những dòng thơ viết cho “người ấy”:
– T.T.Kh xuất hiện khi nào?
HT – HC trong TNVN, mục T.T.KH tr 360, ghi thật vắn tắt: “Hồi tháng 9 -1937, Tiểu thuyết thứ bảy đăng một truyện ngắn của Ô. Thanh Châu: ‘Hoa ti gôn’. Ít ngày sau, tòa báo nhận được một bài thơ nhan đề ‘Bài thơ thứ nhất’, rồi lại nhận được một bài thơ nữa: ‘Hai sắc hoa ti gôn’. Hai bài ấy đều ký tên T.T. Kh. và đều một nét chữ run run“.
NTL ghi kỹ lưỡng hơn dù chẳng biết ông lấy từ nguồn nào: “Vào ngày 27 tháng 9 năm 1937, trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 174 xuất bản tại Hà Nội có đăng một tiểu thuyết tựa đề: Hoa ty gôn, tác giả là ông Thanh Châu… Sau khi báo phát hành chẳng bao lâu, tòa soạn nhận được từ người thiếu phụ trạc 20 tuổi, hình dáng bé nhỏ, vẻ thùy mị, nét mặt u buồn, mang đến một phong bì dán kín gửi cho ông chủ bút, trong ấy chỉ gọn có bài thơ Hai sắc hoa ty gôn dưới ký tên T.T.Kh. Khi người thiếu phụ đi rồi, tòa soạn xem thơ nhận thấy thi bản ghi lại cảnh tình đáng thương tâm, nhưng người ta chỉ nhớ lờ mờ hình ảnh thiếu phụ. Có thể nói đây là lần thứ nhất thiếu phụ xuất hiện và cũng là lần cuối cùng. Rồi từ đó, khóa chặt tung tích của ‘người con gái vườn Thanh’ ”  (sđd tr 398).
Hai cuốn sách, bốn tác giả, 8 con mắt, 8 cái tai mà nhìn, nghe cũng trời ơi, đất hỡi!
HT – HC nào có nói tới cô gái gì? Nhưng lòi ra “nét chữ run run”. Ông NTL nhiều chuyện hơn, thêm mắm “thiếu phụ… 20 tuổi”! thêm muối “hình dáng bé nhỏ, vẻ thùy mị, nét mặt u buồn” mà kêu là “chỉ nhớ lờ mờ“. Nhớ lờ mờ mà lại có thể tả chừng ấy!
Đã vậy, NTL cung cấp “nhân chứng” biết T.T.Kh là ai như ông Giang Tử, Thạch Hồ, Y Châu, Thế Nguyên, Lê Công Tâm, Phạm Trọng Tuy, Nguyễn Tố… từ trang 428 đến 432. Những người này đã đến với sách NTL như thế nào và họ “nhân chứng” được “tích sự” gì để hóa giải TT thực, giả và T.T.Kh là ai? Chúng ta sẽ lần lượt xét tới.
Chúng ta cũng “xóa” thông tin “cà pháo” của Anh Đào (NTL, sđd tr 398-399) về việc T.T.Kh xuất hiện trên Hà Nội Báo năm 1936 bằng HSHTG ngày 15-4-36 và BTTN ngày 3-6-36?! HSHTG lấy cảm hứng từ nguồn truyện ngắn của Thanh Châu. Chết nỗi! Thời kỳ này, Thanh Châu nào đã viết truyện ngắn “Hoa Ty-Gôn”?
Tác hại: Những người thích núp bóng từ bi cứ thế mà “copy” ra thành loạn văn chương. Chúng ta cứ bấm vào từ khóa Thâm Thâmhay T.T.Kh và tên các bài thơ thì sẽ nhảy ra hằm bà lằn những bài viết kiểu này y như họ là tác giả vậy, không có nguồn, thảy đầy mạng, đầy sách! “Đạo văn” đó! Ngay cả cuốn VNKNQH của NTK có những chi tiết: “cô này chừng 20 tuổi, vóc dáng bé nhỏ, đầy vẻ u buồn, và phong thư cô gửi chỉ vỏn vẹn có bài thơ Hai sắc hoa Ty-gôn” cũng lấy từ nguồn nào mà không trích dẫn nếu không từ VNTNTC của NTL, NHT quyển thượng năm 1968?
Không ai biết thêm được gì hơn ngoài những suy diễn tràng giang đại hải chẳng trúng trật vào đâu! Người ta tìm T.T. Kh như “thủy trung lao nguyệt – mò trăng đáy nước”!
– Vai trò của TT trong TTTB?
Theo NTL, thiếu phụ 20 tuổi đích thân mang bao thư gửi cho ông chủ bút bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, tòa soạn xem rõ ràng. Vậy mà… lòi ra chuyện “Suýt nữa  không có Hai sắc hoa ti gôn” của Anh Chi kể chuyện Ngọc Dao (nguoidaibieu.com.vn) thư ký TTTB lúc bấy giờ là người “có công” nhặt bài thơ vận mệnh đó lên từ… thùng rác! Người hùng Vũ Bằng theo Văn Giá trong bài “Thâm Tâm một thời và mãi mãi” (webđd): “Nhà văn Vũ Bằng kể lại: Khi đương giữ chân thư ký toà soạn cho tờ Tiểu thuyết thứ bẩy quãng năm 1941- 1943, ông thấy gia cảnh bạn mình túng thiếu, nên thường ưu tiên cho đăng của Thâm Tâm hai bài trong một số (hoặc một truyện, một thơ, hoặc một truyện, một kịch với hai bút danh: Thâm Tâm và Tuấn Trình) để bạn mình có chút đỉnh nhuận bút. Bây giờ nếu ai có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tờ Tiểu thuyết thứ bẩy vào quãng thời gian này sẽ thấy liên tục trên các số báo có tác phẩm của Thâm Tâm với hai bút danh như vậy”. Vậy, ông Ngọc Dao thôi làm Thư ký cho TTTB năm 1941 để Vũ Bằng lên thay “làm phước” giúp TT? Không nhân chứng nào có mặt còn sống để chứng nhận hai thông tin “Vịt con” (bút hiệu Vũ Bằng) này cả!
TT chỉ là người viết bài được chăng hay chớ thôi ư? Vậy, cuốn sách của NTK sai lầm chăng khi cho TT là người có quyền trong tòa soạn TTTB: “Nhận được nhiều thư từ độc giả tò mò chú ý hỏi han, Thâm Tâm lần lượt cho đăng các bài thơ: Gửi T.T.KH., Dang dở, Màu máu Ty-gôn…” (sđd tr 29) “Với Hai sắc hoa Ty-gôn, bạn đọc suốt Nam-Trung-Bắc nhiều người đã gửi thư về tòa soạn báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Hỏi thăm nàng T.T.KH. Xin ảnh. Với tất cả tình cảm mến thương. Tội nghiệp Thâm Tâm và Thanh Châu luôn phải thay nhau trả lời. Họ thay phiên nhau tìm cách chống chế sao cho thật xuôi. Một cách ‘nói dối vô hại’ như lời ai kia đã bảo. Riêng ông Vũ Đình Long thì thích thú ra mặt…” (tr 75).
Vậy Thanh Châu và TT lúc ấy làm cái chức gì mà có quyền hạn “thay nhau tìm cách chống chế”?, “cho đăng bài?”?
Chỉ xét về phần việc họa sĩ vẽ ký họa, vẽ bìa của TT, vai trò của TT trong TTTB không đơn giản chỉ là người chờ Vũ Bằng cho đăng bài để “có thêm chút đỉnh nhuận bút”?
Chúng ta thống nhất “bác” tin “báo vịt(tờ báo Vũ Bằng cộng tác) này của Vũ Bằng.
– Thời gian lộn xộn:
HT – HC có chút… “lẩn thẩn” khi chẳng cung cấp được thông tin nào có giá trị vật chứng và nhân chứng hơn khi viết về T.T.Kh!
Thanh Châu – người trực tiếp làm việc cùng TT trên TTTB thì “giật sốt” khi cung cấp thông tin có tới hai bức thư từ T.T.Kh: trong“Những cánh hoa tim” viết vào mùa thu 1939 đăng trên TTTB: “Nhưng điều mà tôi lấy làm sung sướng nhất là cùng dạo ấy, ở tòa soạn nhận được một bài thơ đầu của bà T.T.Kh. kèm với một bức thư xin chữ ký của tôi. Bức thư giảng rõ vì sao nảy ra thi hứng viết nên thơ” (sđd tr 166).
Ta thấy nực cười: NTL, HT – HC đều không nói tới hai bức thư. Thanh Châu nói có. HT – HC và Thanh Châu không nói tới sự xuất hiện thiếu phụ 20 tuổi, NTL, NTK nói có. Ông Ngọc Dao và ông Vũ Bằng từng nhận mình là “thư ký tòa soạn TTTB” ở đâu? Sao chẳng nói tới bức thư thứ hai của T.T.Kh gửi kèm với bức thư có bài thơ đầu tiên? Ngay cả bài thơ thứ nhất  của T.T.Kh, HT – HC cho là “Bài thơ thứ nhất” thì Thanh Châu, NTK, NTL cho là bài thơ thứ nhì. Lộn xộn như tơ vò rối rắm trăm đường cũng từ những người thích gây tin giựt gân mà ra cả!
Nếu Thanh Châu từ 1939 đã có nói tới T.T.Kh viết thư xin chữ ký mình và ông còn giảng giải vì sao hứng làm thơ thì người đó có phải là người yêu Thanh Châu, bà Trần Thị Vân Chung như Thế Nhật năm 1994 khẳng định là T.T.Kh không? Chúng ta thử đặt mình vào T.T.Kh và Thanh Châu là người yêu của nhau xem? Thật là vô duyên tập thứ mấy không biết nếu chúng ta làm cái trò mèo chuột trên thi đàn như vậy? Người yêu đi xin chữ ký người yêu sau khi lấy chồng? Người yêu đọc truyện người yêu rồi làm thơ? Làm thơ xong gởi tới chỗ người yêu đăng báo? Đăng báo rồi còn viết thư cắt nghĩa với người yêu là tại sao mình hứng làm thơ? Thật là “dư cơm, thừa cháo“! Một tình yêu tầm thường. Một tình yêu con nít! Một kiểu yêu tâm thần hết thuốc chữa! Nhưng quy lại tất cả chỉ là “cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Ngón tay dài, cụt lận lẹo lương tri” của thiên hạ thôi!
– Thời gian TTTB đăng truyện ngắn Hoa Ti-Gôn của Thanh Châu?
HT- HC:  Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu đăng tháng 9/ 1937.
Thế Nhật, NTK: Ghi “Tháng 7/1937”.
NTL: “Vào ngày 27 tháng 9 năm 1937… số 174″.
Nguồn nào cũng không có bảo chứng! Chúng ta phải vay mượn “Lịch vạn niên” cùng căn cứ nội dung trong tác phẩm.
Giả sử cho là ngày 27/9/1937 thì khi T.T.Kh xuất hiện với HSHTG đăng ngày 30/10/1937 cũng “ngốn” mất tháng trời. Vậy mà HT – HC tỉnh rụi bảo “Ít ngày sau“? Còn Thanh Châu thì bảo “cùng dạo ấy”?! NTK cho là “Chỉ ít ngày sau khi số báo phát hành” tức là trong vòng một tuần trở lại vì TTTB ra ngày thứ bảy mà thôi. Ta tin nguồn nào? Tin ai thì thời gian ba bốn tháng với một tháng không thể nói là thời gian ngắn “ít ngày sau” hay “cùng dạo ấy” hoặc “chỉ ít ngày sau” được. Tai hại là những người đi sau như “thợ bốc vác chữ – thợ phu chữ” cứ thế mà “phang” tới chứ chẳng chịu suy nghĩ câu nào thật, lời nào chưa chính xác?
Thống nhất bằng cách nào? Chúng ta xét tới nguồn cảm hứng của Thanh Châu từ hoa Ti – Gôn.
                                  Đặc điểm hoa Ti-Gôn:
Lê Văn Lân: Trong bài “Đặc khảo về loài những ‘Loài hoa tim rướm máu’ ” (nguoi-viet.com) ghi rõ: “Ti gôn là loại hoa leo dàn và có màu đỏ tươi… 1- Hoa ti gôn có tên Mỹ thông dụng là CORAL VINE, thường bán ở các Nursery tại những tiểu bang miền Nam Hoa kỳ, nhất là Texas nóng bức, lá tươi xanh luôn vì tigôn ưa thích nắng chói chang. Tên khoa học là ANTIGONON LEPTOSUS. Đây là một loại dây leo cho ra hoa rất dài mùa trong năm, mọc mau, lan nhanh và che kín dàn và hàng rào. 2- Thời gian ra hoa nhiều: cuối hè đến thu. 3- Kích thước của cây dài 30 đến 40 feet, mọc rất nhanh…”.
Thanh Châu đã ghi hồi ức trong “Những cánh hoa tim” về “một mùa thu cũ” tức mùa thu viết truyện Hoa Ti-Gôn: “Nhắc cho người ta nghĩ đến mùa thu, có lẽ là thứ hoa ‘ti-gôn’ không hiếm đó… buổi chiều lạnh chớm thu, đã thấy thoáng hiện ra trong đầu… Phút này rất có lợi cho sự viết văn… nhưng còn đương mệt, nên tôi chưa muốn làm việc vội…”. Khi gặp cô gái gỡ hoa Ti-Gôn, Thanh Châu kể: “Tối hôm đó, tôi viết trong cơn sốt rét. Và hai tuần sau, cái truyện ngắn ‘Hoa ti-gôn’ của tôi đã in trên mặt báo này” (sđd tr 164-165).
Căn cứ theo đặc điểm hoa Ti-Gôn ở Hà Nội thời 1937, căn cứ vào hồi ức viết truyện của Thanh Châu, chúng ta nhận ra: Thời gian: Chớm thu là tháng tám. Hai tuần sau là giữa và cuối tháng tám. Hoa Ti-Gôn như Lê Văn Lân nghiên cứu trên ra hoa từ “cuối hè đến thu”. Vậy là hoa cũng sắp tàn. Nếu Hữu Thỉnh nhận ra “chớm thu” trong bài “Sang thu” với “hương ổi/ phả vào trong gió se… Có đám mây mùa hạ. Vắt nửa mình sang thu” thì Nguyễn Phan Hách nhận chớm thu qua hương “Hoa Sữa”: “Hôm ấy mùa thu anh vẫn nhớ. Hoa sữa thơm ngây ngất bên hồ. Tình yêu đầu mang hương sắc mùa thu. Mùi hoa sữa trong áo em và mái tóc”. Thanh Châu nhận ra chớm thu qua ba sắc màu hoa Ti-gôn “giữa đám lá xanh non”. Lâu hơn nữa là hoa Ti-Gôn chết hết!
Thanh Châu đã hồi ức trong “Những cánh hoa tim” năm 1939 là ông đã đi dạo Hà Nội vào mùa thu 1937: “trong buổi sáng tinh sương của mùa thu này” và ông hồi ức “Một mùa thu cũ, tôi đã ngắt những bông hoa ấy…. Tối hôm đó, tôi viết trong cơn sốt rét. Và hai tuần sau, cái truyện ngắn ‘Hoa Ti-gôn’ của tôi đã in trên mặt báo này…”.
Mở “Lịch Sách Vạn Niên (Hồ Thị Lạc dịch, Nxb VHDT – 1997), chúng ta sẽ thấy tháng 7 năm 1937 là tháng “hạ chí hạ” (giữa hạ) không là tháng mùa thu. Ngày 5 tháng 8 năm 1937 mới là ngày “lập thu”. Mùa thu năm 1937 kéo dài từ 5 tháng 8 đến 29 tháng 9 là hết (thu phân hạ) để chuyển qua ngày 1 tháng 10 là mùa đông (lập đông hàn lộ thượng).
Do đó, chúng ta loại bỏ thông tin của Thế Nhật và NTK hay những bài viết cho truyện Thanh Châu đăng vào tháng 7.Trong tháng 8 mùa thu (coi như chỉ có hơn 3 tuần), Thanh Châu có thể “thai nghén” truyện. Hai tuần sau mới đăng tức cũng đã vào đầu tháng 9 năm 1937. Ngày chính xác của truyện ngắn Thanh Châu đăng sẽ được tính trên 4 ngày thứ bảy của tháng: 4. 11. 18. 25. Vì TTTB chỉ ra báo vào ngày thứ bảy. Tháng 9 mà tới ngày 23 như NTL ghi thì hoa Ti-Gôn bắt đầu háp có thể đưa về “Cuối thu” của Hàn Mặc Tử: “Cây gì mảnh khảnh run cầm cập. Điềm báo thu vàng gầy xác xơ. Thu héo nấc thành những tiếng khô” mất rồi! Với nước ngoài có 4 mùa rõ rệt thì thu chớm từ ngày 8 tháng tám đến 8 tháng 11. Ở Việt Nam có hai mùa nóng, lạnh rõ rệt nên thu đến từ tháng 8 và kết thúc cuối tháng 9. Hoa Ti-Gôn mau tàn không thể sống đến hết tháng 9! Ngày 23 tháng 7 như NTL ghi, đã không phải là ngày thứ bảy mà là ngày thứ năm. TTTB ra ngày thứ bảy, bắt buộc, những tác phẩm muốn chính xác cả ngày ngoài tháng, năm, thì ngày đó phải rớt vào ngày thứ bảy. Chúng ta thấy rất rõ những bài thơ T.T.Kh: HSHTG đăng ngày 30 tháng 9 năm 1937, BTTN đăng ngày 20 tháng 11 năm 1937 và BTCC đăng ngày 23 tháng 7 năm 1938 đều rớt vào ngày thứ bảy là ngày TTTB phát hành.
Kết luận: Truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu đăng trên TTTB vào thứ bảy, ngày 4 tháng 9 năm 1937.
Nguồn động lực nào cho Thanh Châu viết truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn”?
Chỉ là những cánh hoa Ti-Gôn như theo lời kể của ông trong “Những cánh hoa tim” (NTK, sđd tr 163): ông chỉ là xúc động trước những cánh Ti-Gôn mọc đầy Hà Nội: “Bỗng nhiên, nhìn những cánh hoa đỏ trong tay, tôi nghĩ đến một quả tim rớm máu. Tôi nghĩ đến những đoạn tình duyên đau khổ ở đời… Phút này rất có lợi cho sự viết văn“.
Nhân vật Lê Chất trong truyện “Hoa Ti-Gôn” là thật hay hư cấu?:
Trước hết, chúng ta cần hiểu nhân vật truyện ngắn: Nhân vật ngoài đời dù có thật đi nữa, khi đưa vào thể loại truyện, nhân vật đó được thể loại này khoác áo nhân vật hư cấu của tác giả.
Nhân vật trong truyện ngắn của Thanh Châu là họa sư Lê Chất nhưng nhân vật mà Thanh Châu muốn gặp ở làng Mọc trong hồi ức “Những cánh hoa tim” là người thật, họa sư Lê: “Tôi sẽ về quê hoạ sĩ Lê chơi. Họa sĩ là con thứ một vị quan to – từng làm Khâm Sai – xứ Bắc Kỳ” (Không biết có phải là Lê Khâm hay không?).
Như vậy, họa sĩ Thâm Tâm – Tuấn Trình chẳng liên can gì đến họa sĩ Lê Chất của Thanh Châu, càng không liên can gì đến nhân thân Thanh Châu hóa thân vào nhân vật họa sư Lê Chất. Nếu chúng ta không nắm được ý này, chúng ta dễ sa vào ngộ nhận Thanh Châu “biết chuyện tình TT” và giữa Thanh Châu và T.T.Kh có mối liên quan “tình xưa, nghĩa cũ“.
Hiểu được nội dung hồi ức “Những cánh hoa tim” năm 1939 của Thanh Châu, chúng ta mới bác bỏ những bài viết cho rằng Thanh Châu muốn an ủi TT nên viết truyện này như Hồ Thông kể trong sách NTK. Đồng thời bác bỏ sự ngộ nhận cử chỉ của Thanh Châu khi“ngắt những bông hoa ấy trong tay và vò nát chúng nó đi trước một giàn hoa” là hờn Trần Thị Vân Chung – T.T.Kh của Thế Nhật.
Theo nghiên cứu của Lê Văn Lân (webđd) hành động vò nát hoa này là một trò chơi vì: “Một đặc điểm bí ẩn của hoa tim này là trong lòng hoa, dưới cánh hoa nhìn bên ngoài giống quả tim, nếu ta lấy tay vạch ra, sẽ thấy thêm một vòng cánh hoa trong có tua nhị, trông hệt như một hình búp bê nhỏ xíu mặc cái váy trắng rộng. Hoa này rất dễ kiếm mua trong các Nursery ở Mỹ, nở suốt mùa hè, chịu nắng dịu và có đặc điểm là hoa rất ít bị sâu và bịnh nên bền bỉ…như ý nghĩa quả tim chung tình khắc khoải với thời gian. Một trò chơi lý thú mà người ta hay thử là lấy cánh hoa này vò ra, nếu hoa vẫn còn đỏ là ‘tình ta không ngừng như thác đổ,’ còn cánh hoa bầm tím thì đúng là một:… ‘kẻ vô duyên vẫn cứ mong. Trăm năm ôm mãi khối tình không, Trọn đời làm kẻ đưa thuyền khách. Thuyền chẩy, trơ vơ đứng với sông”.
Xuân Diệu cũng có thói quen vò hoa này: “Có khi vò một cành hoa. Bỗng lên hương mới như là đậm sâu” trong “Đánh em đau“. Đánh hay Vò cũng là một cách làm cho mình được hả lòng, mát dạ, trút hơi… Với Thanh Châu thì sao, ông giải thích rõ: “Nhưng thực bấy giờ tôi chẳng có tâm địa của một Beaudelaire ốm yếu khi thấy cảnh khỏe mạnh của hoa lá tốt mà bực mình đến đập vào hoa cho tơi tả để báo thù Tạo Hóa… Sự tàn ác vô tình ấy đã đem lại cho ‘nhà văn’ một tài liệu quý để viết nên vài trang tiểu thuyết…”.
Nghĩa là không có bất kỳ chi tiết nào trong truyện ngắn của Thanh Châu chứng minh Thanh Châu viết về TT hay viết về mình với T.T.Kh – Vân Chung nào đó cả! Chúng ta sẽ thấy rõ điều đó qua từng nhân vật.
Nhân vật Mai Hạnh?
Nhân vật Mai Hạnh trong truyện hư cấu từ nhân vật có thật: “Buổi chiều xuống chầm chậm trong khi tôi bước trên những con đường nhỏ trong làng. Một vài nóc nhà mới lợp ngói đỏ nổi lên giữa những khoảnh vườn cây xanh tốt. Người Hà – Nội đã bảo nhau về cái làng xinh đẹp này xây nhiều biệt thự nghỉ ngơi. Tôi đã ngửi thấy nhiều hương hoa quý quen quen lúc đi qua những thửa vườn đất rộng có bờ rào cây cao rậm. Thế rồi, trong một cái vườn như vừa nói đó, tôi đã trông thấy một bóng người con gái hái hoa. Đó là một thiếu nữ độ 17, 18 tuổi. Nàng đứng trên một chiếc ghế gỗ, với tay lên giàn nứa, đương bận gỡ những giây hoa ‘ti-gôn’ đỏ. Tôi không trông rõ mặt nàng, nhưng chỉ để ý đến hai cánh tay trắng để trần trên đám lá xanh, và suối tóc như đêm chảy sau lưng.
Tối hôm đó, tôi viết trong cơn sốt rét. Và hai tuần sau, cái truyện ngắn ‘Hoa ti-gôn’ của tôi đã in trên mặt báo này. Truyện có gì đâu: ‘Một họa sĩ đi vẽ về, qua làng Mọc, gặp một thiếu nữ hái hoa như tôi gặp trên kia… Họa sĩ dừng lại ngắm, nhận ra vẻ đẹp khác thường trên mặt người thiếu nữ, ghi vài nét vào cuốn sổ tay, rồi trở ra về với tấm lòng yêu viển vông của tuổi hai mươi. Nhưng một lần sau nữa đến chỗ cũ, họa sĩ thấy mất bóng người hôm trước, cửa nhà vắng vẻ, hình như không có ai ở nữa, trong vườn chỉ có một ông già cuốc cỏ lom khom…” (Những cánh hoa tim, sđd tr 165).
Mở đầu hồi ức, đập vào mắt người đọc là những cô gái hàng hoa Hà Nội: “Có ai để ý đến những cô hàng hoa ở các vườn làng Hữu Tiệp, Ngọc Hà, Yên Phụ v.v… trong buổi sáng tinh sương của mùa thu, rủ nhau họp chợ bên Hồ Kiếm? Trong những rổ hoa tươi thắm, rực rỡ mùa xuân chất trên xe của các cô, có ai để ý đến một thứ hoa của cây leo, mỏng mảnh và nhẹ nhàng như giấy, dáng hoa chum chúm như một thứ quả khi chưa xòe cánh?
Hơn một loài hoa đã ‘nở’ rồi!
Bên bờ giậu sắt trước cửa những biệt thự lặng im của các phố tây, trên giàn nứa trước mái hiên, bên cửa sổ của mọi nhà trong Hà-Nội, những dây hoa ‘ti-gôn’ đã điểm màu trắng, màu hồng, màu đỏ vào giữa đám lá xanh non. Và sáng sáng, có những thiếu nữ vui như bướm, với những bàn tay nhẹ, gỡ dần những dây hoa ấy để thay cho những hoa hôm trước trong phòng khách đã tàn (Vì loài hoa ấy chóng tàn).
Báo trước mùa hè đã có những hoa huệ tây trắng (hay loa kèn) làm trẻ thêm cho Hà-Nội không già. Nhắc cho người ta nghĩ đến mùa thu, có lẽ là thứ hoa ‘ti-gôn’ không hiếm đó…”.
Thanh Châu đã từ cô gái gỡ hoa làng Mọc mà dựng lên nhân vật Mai Hạnh. Chỉ đơn giản có thế. Nhân vật Mai Hạnh này không phải là cái bóng của T.T.Kh hay cô Khánh hoặc Trần Thị Vân Chung. Bởi vì những người này, thực tế, chẳng có ai đi bán hàng hoa, cũng chẳng có ai từng đứng gỡ dây hoa leo Ti-Gôn và chẳng có ai “tình không cũ mà cũng rủ tới” như nhân vật Mai Hạnh, cũng không có ai… chịu chết không trăn trối, chết không kịp nói như Mai Hạnh và cũng chẳng có ông Thâm Tâm hay Thanh Châu nào đi mua hoa Ti-Gôn để viếng mộ… các bà! Không ai tranh nhau với cái bóng người khác mà tưởng của mình là đấy!
Như vậy, nhân vật Mai Hạnh trong truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn” chẳng “quen biết, bà con” gì với cô Trần Thị Khánh hay bút hiệu T.T.Kh hoặc Trần Thị Vân Chung. Chuyện truyện giống chuyện đời cũng chẳng có gì lạ. Chuyện nhà văn bị hăm doạ vì người ta thấy cuộc đời mình bị phơi trên trang sách tác giả cũng là thường tình. Các còng số 8 và nhà tù phơi lịch cũng không thiếu chỗ cho những nhà văn, nhà thơ có những nhân vật trong tác phẩm của mình… là cái bóng của kẻ khác “có tật giật mình“. Nhà văn đoạt giải Nobel văn chương 2006, Orhan Pamuk vẫn bị người nước mình hăm giết vì tội chỉ trích quân đội cản trở tiến trình dân chủ của đất nước Thổ Nhĩ Kỳ (Turky) là chuyện thường.
– Nguyên nhân nào Thanh Châu viết hồi ức “Những cánh hoa tim“?
Truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu đăng trên TTTB số 174 vào thứ bảy, ngày 4/ 9/1937. Hơn tháng sau, tòa soạn báo TTTB của Vũ Đình Long nhận được hai bức thư có bài thơ HSHTG ký T.T.Kh và thư của T.T.Kh xin chữ ký của Thanh Châu. Chúng ta bác bỏ thời gian “ít ngày sau” của HT – HC, “chẳng bao lâu” của NTL và  “cùng dạo ấy” của Thanh Châu…
HSHTG được đăng trên TTTB số 179 thứ bảy, ngày 30/10/1937 với nguồn cảm hứng từ truyện ngắn của Thanh Châu. Ông hồi ức lại tâm trạng mình: “Truyện có gì đâu? Nhưng tôi viết với tất cả cảm giác trong trẻo, chân thành, tươi tốt đã có trong buổi chiều thu ấy, sau buổi đi chơi trong làng Mọc. Có lẽ vì thế, mà cách đấy ít hôm, một buổi trưa, có hai người đàn bà đến thăm tôi trong lúc tôi đi vắng, và đã để lại trên bàn những cánh hoa trong truyện, những người đó tôi đoán, là đã lấy làm bằng lòng câu chuyện tình ảm đạm kia, mà những cánh hoa để lại không phải ngoài cái nghĩa thưởng công cho người đã viết (Dẫu sao tôi cũng có lời cám ơn hai người không trở lại ấy trên mặt báo này rồi)
Nhưng điều tôi sung sướng nhất là cùng dạo ấy, ở tòa soạn nhận được một bài thơ đầu của bà T.T.Kh. kèm với một bức thư xin chữ ký của tôi…
Tôi đọc bài thơ đầu của T.T.Kh. với một sự cảm động thực thà. Tôi cho là những lời thơ xuất phát tự tâm hồn, giản dị nhẹ nhàng và chân thật ấy còn đẹp hơn cả những lời thơ đẹp nhất của các Desbordes, Valmores hay Rosemonde Gérard của Pháp nữa. Và tôi thấy chán cái nghề viết tiểu thuyết. Bởi tôi nghĩ: cùng một mối cảm mà T.T.Kh có thể viết nên những vần réo rắt mãi trong tâm can người như vậy được, còn câu chuyện của tôi, có khéo kể lắm, thì rồi người ta đọc qua một lần cũng sẽ quên đi. Tôi chỉ có thể diễn bày tâm trạng người đời bằng tiếng nói của người thường. Còn thi sĩ, họ nói cái thứ tiếng riêng của ‘thiên thần’ thì phải ‘chiếm lòng’ người hơn chứ…”.
Trước có T.T.Kh “xin chữ ký“, sau, có hai cô gái đến nhà “tặng hoa”, tác giả nào trong tâm trạng ấy mà chẳng “sướng điên”? Nhưng nghịch nỗi, so với thơ T.T.Kh, Thanh Châu lại cảm thấy mình “non tay nghề” hơn. Ông chịu lùi bước. Vì vừa là người sung sướng vừa phục lăn cái tiếng nói “thiên thần” riêng của thơ T.T.Kh, Thanh Châu đã hồi ức “Những cánh hoa tim” và đem câu thơ“thiên thần” của T.T.Kh “Bảo rằng hoa dáng như tim vỡ” là câu đầy đủ ý nghĩa nhất về loại hoa dây leo chóng tàn này trong bài HSHTG để trước bài hồi ức của mình một cách trân trọng. Chính hoa tim ấy mang lại cho ông cảm giác “sung sướng”, ông mới trịnh trọng nó như thế chứ. Thành quả lao động chất xám của ông đã được trả công xứng đáng. Ông tự hào mà nhận là điều hiển nhiên. Hiểu rõ tâm lý từ chi tiết này, chúng ta mới không rơi vào ngộ nhận ông có tình ý gì với T.T.Kh nên mới lấy thơ T.T.Kh để lên đầu mà… đạp đoạn văn của Khái Hưng – Nhất Linh trong “Gánh hàng hoa” xuống dưới. Theo thứ tự, cái nào ra trước thì lùi xuống cho cái ra sau! Bài vở vi tính, trên mạng cũng thế mà. Ngay cả khi chúng ta đánh máy vi tính, đánh máy chữ, có phải con chữ này ra đã… hất con chữ nọ qua một bên không? Có phải hàng mới đánh, đứng trước hàng đánh rồi không?
Còn ý nghĩa câu trong “Gánh hàng hoa” là hoa Ti-Gôn, trong HSHTG cũng là hoa Ti-Gôn. Thanh Châu viết hoa Ti-Gôn, gặp hoa Ti-Gôn không “vớt” vào thì vớt cái gì? Người hứng cá, câu cá, câu mực, không câu cá, câu mực không lẽ đi câu… Khủng Long! Kẻ săn nai, không…nai lưng săn lại đi săn… cá mập?
Tóm lại: Nhân vật trong truyện Thanh Châu chẳng giống nhân vật ngoài đời TT và T.T.Kh nhưng những bài thơ ký T.T.Kh và Thâm Tâm lại có những tương quan và tương quan này lại nghịch lý trong mỗi bài thơ mà chúng ta cần phân tích, đối chiếu hơn là đi suy diễn, áp đặt, chụp mũ…
Đã bao nhiêu năm trôi qua, thơ kia còn đó, “dòng dư lệ” còn đây nhưng người trong cuộc đã về cõi vĩnh hằng! Trong cõi vô hình đó, họ đã gặp nhau chưa hay vẫn còn bên bờ sông ”tống biệt”?
Những bài thơ ký bút hiệu T.T.Kh vẫn tiếp tục gây thắc mắc cho bao người yêu thương văn học qua từng thời đại. Con tằm rút ruột mình dệt tơ cho người. Con yến ép xương dùng nước miếng mình tạo ra ”vàng trắng” cho đời. Thơ văn là sự chắt lọc, là tâm huyết, là ”dòng dư lệ” rớt xuống mà thành. Tình yêu có thể bỏ nhau, có thể lìa nhau, lạc nhau. Trong cuộc sống, con người có khi vì lý do nào đó không thể nhận con mình mới có những đứa con ”vô thừa nhận”, có những nấm mồ vô chủ không tên… Nhưng trong văn học, tác phẩm là ”đứa con tinh thần” dù không ”mang nặng đẻ đau” nhưng cũng vắt óc, bóp tim mà có nên không ai tự nhiên đi từ bỏ chúng? Chúng ta nên bắt đầu với sự vô lý này về những đứa con vô thừa nhận của T.T.Kh.
Trường hợp T.T.Kh kia với những bài thơ gây sóng gió cho sự tò mò của độc giả mà lại không chịu ”xuất đầu lộ diện” nhìn nhận? T.T.Kh là nam hay nữ mà sao chỉ viết có bốn bài thơ rồi biến mất?
T.T.Kh có vào TTTB đưa bài thơ xin đăng báo hay không?
– Ý kiến “không“:
HT- HC trong TNVN chỉ căn cứ vào bài thơ mà cho T.T. Kh là con gái: ”Cô bé T.T. Kh yêu. Người yêu của cô có nét mặt rầu rầu”.Khi HT – HC ”tuyên bố” xanh lè như thế thì khối người trong thiên hạ xúm vào cho đó là… cô gái! Nếu suy diễn như thế thì có khối người bị chuyển ”gien” lộn tùng phèo hết trọi vì không thiếu người nam lấy bút hiệu nữ (Vũ Bằng với Hoàng Thị Trâm, Phan Bội Châu với La Thị Hán, Đào Tiến Đạt với Anh Đào, Lê Quang Lương với Bích Khê và Lê Mộng Thu, Nguỵ Như Ban Mê Thuật với Mộng Huyền, Hoàng Tấn với Nguyễn Thị Xuân Trâm…) không thiếu người nữ viết dùm tâm sự cho nam và ngược lại. Cả ba Thanh Châu cùng HT – HC không có nói  T.T.Kh đã vào tận tòa soạn mà chỉ nói là nhận bài thơ (không biết qua đường nào) mà thôi. Nguồn tin cô gái, thiếu phụ hay T.T.Kh vào tòa soạn đưa thơ từ đâu ra?
– Ý kiến “có”:
+ NTK trong “T.T.Kh., Nàng là ai?” (“Về những kỷ niệm quê hương” sđd tr 70) ghi: “Truyện Hoa Ty-gôn thực sự đã khơi dậy vết thương lòng của Thâm Tâm và cô gái tên Khánh. Một ngày, Tòa soạn báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy bỗng nhận được bức thư, trong đó chỉ có một bài thơ nhan đề Hai sắc Hoa Ty-gôn do một thiếu phụ còn rất trẻ đem lại…”. NTK khẳng định điều đó lần nữa trong “Huyền thoại về nàng thơ T.T.KH” (sđd tr 29): “Nội dung truyện Hoa Ty-Gôn chợt khơi dậy niềm tâm sự T.T.KH. Chỉ ít ngày sau số báo phát hành, nhân viên tòa soạn nhận được một phong thư dán kín, do một cô gái đem lại. Theo lời kể, cô này chừng 20 tuổi, vóc dáng bé nhỏ, đầy vẻ u buồn, và phong thư chỉ vỏn vẹn có bài thơ Hai sắc hoa Ty-Gôn ký tên T.T.KH. Giản dị vậy và chỉ có thế”.
Cũng chỉ là “theo lời kể” thôi chứ bản thân NTK về việc này cũng chưa có nguồn tư liệu chính xác.
+ Hồ Thông kể chuyện TT: “Trong lửa đạn thù” (VNKNQH, tr 191): “Thiếu phụ đem bài thơ lại tòa soạn chỉ là một cô gái tôi nhờ. Còn ông Vũ Đình Long thì chỉ biết vui vì lượng báo bỗng tăng vọt do bài thơ Hai sắc hoa Ty-gôn đem lại…”.
Điều này có sự hợp lý hóa là nếu cô gái do TT nhờ thì TT sẽ “im như thóc”. Còn giả như T.T.Kh là cô Khánh thật thì làm sao cô ta có thể vào TTTB, nơi có người yêu cũ là TT làm biên tập để mà… đăng thơ? THT từng thấy cô và chồng ăn kem ở bờ Hồ Tây (theo Nguyễn Vỹ) thì việc nhận mặt người đưa bài thơ có gì là khó? Hay T.T.Kh cũng… nhờ người vào tòa soạn đưa thơ? Tại sao cô Kh không đi hay nhờ người đi tới các tòa soạn khác như tờ “Ngày nay” của Nhất Linh hoặc “Phổ thông bán nguyệt san” cũng của Vũ Đình Long (không có TT làm việc), hay đến “Hà-Nội Báo” của Lê Tràng Tiền? (Có, theo Anh Đào, T.T.Kh có gởi thơ đến báo này năm… 1936?!). Trong khi đó, “Tòa soạn báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, ngoài ông Vũ Đình Long làm chủ biên kiêm quản lý, còn có Thanh Châu, Thâm Tâm, Lê Văn Trương, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Vũ Trọng Can…” (“Về những kỷ niệm quê hương“, sđd trang 36). Họ quen biết với nhau, chuyện tình TT và Khánh là “giấy không gói được lửa” sao họ lại không biết gì! Nếu người thiếu phụ 20 tuổi còn rất trẻ đó có vào tòa soạn trên, nhất định không thể nào là cô Khánh. Cô Khánh không thể là T.T.Kh còn T.T.Kh nào đó thì lại có cuộc tình y chang Khánh chăng? Vậy bút hiệu T.T.Kh phải là một kẻ khác biết chuyện tình này. Người đó là ai vẫn còn bỏ ngỏ…
Với cuốn “Về những kỷ niệm quê hương” do Phượng Hoàng xuất bản tại Mỹ năm 1996 của NTK bao nhiêu người đã đọc được hai chi tiết này để khẳng định T.T.Kh hay có cô gái nào đó từng vào tòa soạn? Không bao nhiêu. Vậy thì “tin vịt” này trên tất cả các mạng và sách báo bấy nhiêu năm nay “copy” từ nguồn nào? Nếu chúng ta viết thiếu chứng từ, suy sót căn cứ là chúng ta đã làm công việc: Phi khoa học.
– Nguồn từ cuốn VNTNTCTT của NTL: Đây chính là cuốn sách cung cấp thông tin về TT và T.T.Kh có thời gian lâu hơn (từ 1968). Hầu hết các tác giả viềt về TT và T.T.Kh đều “copy” từ nguồn này mà không ghi rõ sách của ai! Thế nhưng cuốn này, NTL cũng không cung cấp nguồn ông đã lấy. Một chuỗi thông tin dài như xe lửa xuyên bang không có điểm đích. Có điểm nguồn từ TTTB nhưng cũng chỉ “kỳ thanh bất kỳ hình“! Những người làm việc trong TTTB hầu như theo diện ông bà hết cả rồi! Chết không đối chứng!
Có hay không hiện tượng có người không biết làm thơ bỗng chốc thành thi sĩ nổi tiếng rồi biến mất như T.T.Kh?
Thụy Khê trong bài “Tác giả bài thơ ‘Hai sắc hoa ty gôn là ai?'” (thuykhe.free) cũng tóm lược thông tin từ cuốn sách của NTL và cũng chỉ ghi nhận:Có thể nói hầu hết những nhà phê bình biên khảo từ Hoài Thanh, Hoài Chân, trong Thi Nhân Việt Nam (1940), Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên (1965), Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Tấn Trọng trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến (1968) … và gần đây trong Tuyển Tập Thơ Mới 1932-1945 Tác Giả và Tác Phẩm do Lại Nguyên Ân và Ý Nhi tập hợp phát hành năm 1992. Tất cả đều đánh dấu hỏi về TTKh”.
Có người khi chết rồi mới được ”vinh danh”. Có những cuốn sách gần xong thì người trong cuộc đã mất như Giáo sư Đỗ Đức Hiểu (cùng đồng nghiệp) làm cuốn “Tự điển Văn học – Bộ mới”. Hồng Nguyên chỉ viết mỗi bài thơ “Nhớ” mà đã đi vào sách giáo khoa. Thi sĩ Pháp Félix Arvers bất tử với một bài thơ Sonnet d’Arvers (“Mối tình câm” hay “Tình tuyệt vọng” – Khái Hưng dịch). Nhà văn Mỹ Margaret Munnerlyn Mitchell chỉ với một tiểu thuyết “Gone with the wind” (Cuốn theo chiều gió) gây hiện tượng “hot” về văn học và phim trường… Họ là những tác giả bằng xương, bằng thịt. Ngược lại, T.T.Kh lại thuộc dạng “văn kỳ thanh bất kỳ hình”. Đây là điểm đáng nghi ngờ nhất với cái bút hiệu tạo ra huyền thoại này bao nhiêu năm nay. Kẻ đã lấy một danh bí mật để làm một việc bí mật thì tất chẳng thể nhìn nhận. Còn kẻ giả danh lại càng không dám nhận vì những sản phẩm của kẻ giả danh có thể chẳng có giá trị văn học; nhận những đứa con lở ghẻ chỉ tổ cho người thiên hạ cười vào mũi ư? Nếu tính về phương diện “ăn khách” nhờ “có tiếng”, văn học không thiếu những “ốc mượn hồn” mượn bút hiệu người nổi tiếng để tự túm tóc mình lên. Buồn thay cho “văn dĩ tải đạo” kiểu này!
Chưa cần biết Kh là nam hay nữ vội, ta đi tìm giá trị của bốn bài thơ này trước, coi thử bài nào đúng của T.T. Kh, TT (người trong cuộc dĩ nhiên rõ ràng hơn kẻ ở ngoài cuộc) và bài nào của những chàng ”thi sĩ ngông” nhập cuộc viết cho “người ấy“?
b. Những bài thơ của T.T.Kh:

%d bloggers like this: