Bài mới

XUÂN DIỆU VÀ DÒNG CHẢY TÌNH YÊU

1(dạng trào phúng)

(Qua hơi thở ca dao và các “ngã rẽ” tâm tình tiêu biểu)

I. Mở:

Cuộc đời muôn màu, muôn vẻ mà tình yêu là chất liệu gợi nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của con người. Không phải ai cũng làm thơ tình được nhưng không làm thơ tình được thì chẳng thể nói người đó không biết yêu. Một điều chỉ có thể khẳng định là: Người làm thơ tình yêu cuồng nhiệt quả phải có một trái tim yêu. Xuân Diệu là một điển hình trong những trái tim yêu đó.

Người ta biết đến Xuân Diệu (1916 – 1985) vì những bài thơ tình độc đáo.Thế nhưng Xuân Diệu là một người tài hoa. Suốt thời gian 1939 đến 1983, chàng tóc quăn này lả lướt ngọn bút như những nhạc sĩ chơi mười ngón điêu luyện trên phím đàn. Bên cạnh những tập thơ nổi tiếng như ”Thơ Thơ” (1938), ”Gửi Hương Cho Gió” (1945), những tập truyện ngắn, bút ký, tiểu luận phê bình của Xuân Diệu xuất hiện như: ”Phấn thông vàng” (1939), ”Trường ca” (1945), ”Việt Nam ngàn dặm” (1946), ”Ba thi hào dân tộc” (1959), ”Phê bình giới thiệu thơ” (1960), ”Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, các nhà thơ cổ điển Việt Nam” (1968 -1981), ”Một Khối Hồng” (1964), ”Thanh Ca” (1982), ”Tuyển tập thơ”(1983)… đã lần lượt ra đời trong suốt bốn mươi bốn năm liền. Bên cạnh đó, Xuân Diệu còn xông vào cả lĩnh vực dịch thuật: “Thi hào Nadim Hitmet” (1962), ”Những nhà thơ Bungari” (1978-1985)…

Tài hoa như thế nhưng ít ai gọi chàng trai của Xã Tùng Giản, Tuy Phước, Quy Nhơn gốc Hà Tĩnh này là nhà văn, nhà phê bình, dịch thuật mà chỉ dùng bốn từ gọn ghẽ: “Nhà thơ Xuân Diệu“. Thân mật hơn nữa, mọi người quen gọi chàng tóc quăn này là “nhà thơ tình yêu!” Tình yêu muôn màu như cuộc đời. Không ai yêu ai mà giống nhau. Vì thế, chàng trai xứ Rùa này yêu đương cũng… khác người.“Cái khác người” này qua hơi thở ca dao và các “ngã rẽ tâm tình – thơ bè bạn” tiêu biểu bổ sung vào dòng chảy tình yêu của Trảo Nha – Xuân Diệu với sáu tính cách.

1. Trong tình yêu, chàng tóc quăn này thể hiện rất là “đàn ông”:

Trước hết, đó là người đàn ông chịu thương, chịu khó đầy… nịnh bợ:

Anh ta đã xắn tay áo xông vào… nhà bếp để nấu nướng mà không biết anh ta nấu cái món gì ngoài cái món mà ca dao “mớn” dùm:

Canh bầu nấu với cá trê

Ăn vô cho mát mà mê vợ già.

Nhưng chàng không thèm nấu cái món “bình dân học vụ
này mà nấu món bí mật sau khi “chăm xong cái bếp nhà”:

Tâm thành cơm nước dọn bưng ra

Một tuần mong đến, hôm nay tiếp

Vào bát cho em vị đậm đà.

(Đứng chờ em)

Người ta nói: “Vắng đàn ông quạnh nhà. Vắng đàn bà quạnh bếp” nghe ra… trật lất! Căn nhà Xuân Diệu nghe ấm cúng hẳn lên bởi chính chủ nhân lao vào bếp. Kẻ nào mà được chàng “chăm chút” đến như vậy? Ta hãy nghe chàng tự hào:

Đời anh, em đã đi qua

Sáng thơm như một luồng hoa giữa đời.

(Đời anh em đã đi qua)

Vợ? Chắc chắn là không. Người con gái bí ẩn kia mà chàng “một tuần mong đến” mới hấp dẫn, mới hồi hộp còn bà vợ ở sẳn trong nhà ngày nào mà chả thấy, ngán đến tận mang tai, gai muốn chết! Rồi kẻ đợi chưa đến, chàng đợi lâu quá nhưng đâu có dám cáu. Chàng đầu bếp bất đắc dĩ này rất… dễ thương, cam lòng nhẫn nại: “Hãy đợi thôi, thương em vất vả, anh quên hết”. Không biết chàng có bực mình vì chờ một phút hơn nghìn thế kỷ mà làm tình, làm tội với ông bà Táo chăng? Khi nàng đến, ta hãy thử xem nàng là con cái nhà ai? Tiên nữ giáng trần hay Hằng Nga tái thế mà khiến chàng trai kia thiệt “tỉ mỉ” ngắm nàng trong “Em làm bếp”:

Trên trán em như gương

Giọt mồ hôi lấm tấm.

Tóc đôi cọng rơm vương

Anh nhìn em thương lắm.

Tính từ “thương lắm” biểu hiện mức độ tình cảm thân thiết lắm mới nhìn kỹ như thế chớ không chàng sẽ bị… chấm rớt cái bịch vì:

Đàn ông gì quá sổ sàng

Mới quen ngó dọc, ngó ngang hỡi chàng?

Nhưng cô nàng kia có lẽ… mệt quá, đói quá nên quên phắt… cặp mắt cú vọ xăm xoi mà ngồi vào bàn ăn ngay:

Bữa ăn thành một hội vui

Có em gắp với rau thôi cũng tình.

Cảnh thường cũng hóa ra xinh

Có em, anh hết ngẫm mình bơ vơ.

(Đời anh em đã đi qua )

Bây giờ, vỡ lẽ, cái “món bí mật” kia, bật mí ra là… “rau” thôi, chớ có mẹ gì đâu! Chàng dạo bản nhạc mở màn cho nàng nhớ tục ngữ nhân gian: “Đói ăn rau, đau uống thuốc“. Thế là nàng hoảng quá, thưởng thức tài nấu nướng của chàng thật là đậm đà nên cũng xắn tay áo, để nguyên cái đầu “vương rơm” mà nhào vô bếp chứ không dám để chàng trổ tài đâu. (Ăn làm sao nổi, nuốt làm sao trôi!) Chàng lúc này “chai mặt” nên đâu biết “quê” lại trở nên ngoan ngoãn, nịnh bợ:

Em có tài nấu nướng

Anh có tài ngợi khen.

Thế này gọi là thế “lật ngược thế cờ” hay thiệt, thấp cơ mà chẳng có hèn. Cả hai cùng có tài: ”Em có tài nấu nướng. Anh có tài…ngợi khen”. Huề cả làng. Thế là khán giả… vỗ tay!

Vậy thì cái người đang cùng chàng quăn làm bếp có phải là Hoàng Cát? Một chàng trai trong muôn ”Tình trai” của Xuân Diệu? Trong bài ”Xuân Diệu và Huy Cận hai nhà thơ đồng tình luyến ái” (tienve.org) Minh Nguyệt hé mở ”Hoàng Cát đi rồi, Xuân Diệu buồn vô cùng. Trong bài ‘Đời anh em đã đi qua’, còn có một đoạn cuối nói đến nỗi buồn trống vắng người yêu của Xuân Diệu:

Từ đây anh lại trong đời

Bữa ăn ngồi với một đôi đũa cầm

Giường kia một bóng anh nằm

Phòng văn một sách đăm đăm sớm chiều”.

Ta hãy đồng ý với Minh Nguyệt ”dù người yêu là con trai thì tình cảm của Xuân Diệu vẫn dạt dào và nồng cháy. Nếu chúng ta đừng để ý đến chuyện đồng tính luyến ái của nhà thơ”. Ta hãy cứ xem xét thơ Xuân Diệu trong lớp áo tình yêu đơn thuần Việt Nam.

Nguyên Sa khác Xuân Diệu, trong “Áo lụa Hà Đông“, chàng Trần Bích Lan này chân thành hơn: “Gặp một bữa, anh đã mừng một bữa“. Khỏi bày vẽ ăn uống mất thời gian quá nhưng nỗi mừng lẹ làng đó chứng tỏ chàng Nguyên chưa thấm cái câu: “Có thực mới vực được đạo” bằng chàng Xuân!

Thiệt ra, người con gái mà chàng tóc quăn xứ Rùa thương yêu, săn đón chỉ là con nhà dân giả với “tóc vương rơm“. Đi làm đồng mới vương rơm chớ đi đâu mà chui vào… đống rạ! Đàn bà, con gái thì cài bông, cài hoa chứ ai lấy rơm giắt lên tóc mà làm duyên bao giờ! Con gái nhà quê hiền lành, mộc mạc làm chàng quăn nhớ, đâu như người con gái… hiền như Masoeur của Nguyễn Tất Nhiên đã làm lòng chàng tan nát:

Em hiền như ma soeur

Vết thương ta bốn mùa.

Trái tim ta làm mủ

Ma soeur này ma soeur.

Có dịu dàng ánh mắt

Có êm đềm cánh môi

Ru ta người bệnh hoạn

Ru ta suốt cuộc đời.

                    (Ma soeur)

Với mối tình dân giả của chàng trai tóc quăn, cách hay nhất là khuyên chàng nấu món bình dân này:

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.

Khi chàng và nàng cưới nhau, chỉ cần tặng cho họ vài ký tôm (không phải râu) vài trái bầu (không phải ruột) thế là “nhất cử lưỡng thiện” nhưng nhớ kỹ đừng tặng món quà đặc biệt này cho “nàng masoeur” của Nguyễn Tất Nhiên mà làm chàng Nguyễn khốn khổ tập hai với vết thương ”tứ thời khúc” đó!

Công nhận phát “nhất cử lưỡng thiện” ấy linh nghiệm. Họ đã có… con (chẳng biết công chúa vương cọng rơm hay hoàng tử nịnh đầm?). Người đàn ông tóc quăn xứ Rùa lại càng da diết, cưng chìu, nịnh tiếp:

Con giống em, con cũng giống cha

Giống cái mũi thật thà thẳng sóng.

Nhìn gần giống trông xa cũng giống

Cũng mái đầu dợn sóng Nha Trang.

                         (Đứa con của tình yêu)

Bài thơ này mà ta nói… hay thì đúng là “mắt đui”, tâm hồn ”thui chột” nhưng chưa tìm ra cái “mượt mà” cũng không nói là dở vì cái ý thuộc loại “quỷ quái” lắm. Này nhé, cha ở xứ Rùa (Quy Nhơn) mà khen mái đầu con “dợn sóng Nha Trang” chứ không phải dợn sóng Quy Nhơn. Thôi, cho mày giống mẹ mày. Bỏ bốn từ “con cũng giống cha” ra thì còn “con giống em” (chưa chắc con anh vì anh đâu có… con được?) và giống thằng cha nó với mái đầu dợn sóng Nha Trang? (đâu phải riêng anh… quăn!). Trời ơi! Bình thơ như vậy là “đốt nhà” người ta rồi còn gì! Người cha xứ Rùa này đời nào dám nghĩ vậy vì “khiếp” cái tật của nàng tức “cái nư khi dỗi“. Thông qua hình ảnh đứa con, kẻ mới lên chức cha này đã “ớn lạnh” gián tiếp khi nựng cục cưng:

Nhưng con ta nó giống em hơn

Giống đi đứng, nghĩ suy, ăn nói.

Duy chẳng giống cái nư khi dỗi

Khi em hờn trời cũng phải thua.

Tục ngữ có câu: “Con gái giống cha, giàu ba họ. Con trai giống mẹ, khó ba đời“. Chắc chàng cũng biết điều đó nên dù cho “giàu ba họ, khó ba đời” gì cũng lạy trời, con đừng giống mẹ cái lẫy, cái hờn. Như vậy, chàng Xuân đâu có phải là ”đồng tình luyến ái”? Chỉ là ước mơ bình thường của một người biết yêu và khát khao hạnh phúc gia đình. Ta cứ cho, cứ hiểu là như vậy. Trong khi đó, chàng Nguyễn Tất Nhiên mới lò cò yêu iếc và cũng vẽ rồng, vẽ rắn cho mơ ước của mình:

Ta sẽ là vợ chồng.

Sẽ yêu nhau mãi mãi.

Sẽ se sợi chỉ hồng

Sẽ hát câu ân ái .

Sống trong mái nhà tranh.

(Hôn nhau lần cuối)

Sống trong mái nhà tranh” mà không con thì ôi thôi:

Có chồng mà chẳng có con

Khác gì hoa nở trên non một mình.

Thơ năm chữ của Nguyễn Tất Nhiên mộc mạc như cái tên cúng cơm của chàng và cũng họ hàng chú bác gì với câu thần chú của dân gian: “Một túp lều tranh, hai trái tim vàng” mà hai ca sĩ Hùng Cường, Mai Lệ Huyền đã “phát ngôn tình yêu”… nghèo mạt rệp cho bản nhạc “Túp lều lý tưởng!” vang bóng một thời!

Cái gì trước hôn nhân cũng “sẽ“… đẹp đẽ, sau hôn nhân cũng “sẽ” nhưng cái “sẽ bẽ bàng” chống nạnh đứng chờ sau cánh cửa Tân hôn! Bởi vậy mới có câu:

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở

Đời mất vui khi đã vẹn câu thề.

Chàng trai tóc quăn với cái “vẹn câu thề” này ra sao? Chàng không còn là một chàng trai chịu thương chịu khó, nịnh đầm nữa mà trở thành:

2. Một chàng trai khổ với tình yêu vì mang nghiệp “đa tình”:

Xét kỹ mà nói: Bao nhiêu người “còn dang dở” nhưng tình đâu “chỉ đẹp”?. Xuân Diệu trong “Tình thứ nhất” thố lộ:

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

Anh cho em nên anh đã mất rồi.

Đã nói “thứ nhất” là phải có thứ tiếp theo nên chàng này yêu cũng… ba xạo! Thật ra, trên đời này, mỗi một con người nếu chỉ có một“tình thứ nhất” mà không thứ hai thì kẻ này sẽ… bẻ bút và không… gọi điện thoại nữa vì “nguồn sinh sự” đã cạn kiệt! Chao! Chuyện ấy không bao giờ xảy ra thế mới “khổ”! Các nhân vật trong kiếm hiệp của Kim Dung cũng hùng hùng, hổ hổ để rồi gát kiếm, ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Hỡi thế gian, tình là cái chi chi?”. Người thế gian điên cái đầu. Câu hỏi ấy vẫn nghìn năm treo trước gió!

Bởi vậy, chàng Xuân tóc quăn (khác ”Xuân tóc đỏ” của Vũ Trọng Phụng) càng yêu lắm nơi, bồ lắm chỗ chỉ có rước khổ vào thân. Mối tình thứ nhất của chàng ta đã “không chồng mà có con” sinh sôi nẩy nở, yêu qua hết bài thơ này đến bài thơ khác; hết tập thơ này đến tập thơ khác. Khiếp! Cho nên, chàng tha hồ rên trong “Em đọc lại thơ” như một lời trăn trối:

Mai sau dù có bao giờ

Em ngồi đọc lại chùm thơ đắng này.

Câu đầu thấy “quen quen”. Chúng hình như giông giống hai câu thơ mà Nguyễn Du đã để Kiều trăn trối với Thúy Vân:

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy, so tơ phiếm này.

“E thơ” giống lúc Kiều năn nỉ Thúy Vân lấy Kim Trọng dùm:

Cậy em, em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa.

Nhưng không sao, văn học có khó tính như bà già góa chồng đi chăng nữa cũng không nỡ bắt lỗi “thơ vẫn giống thơ, người giống người!”.

Trở lại chữ “Tình” của Xuân Diệu, chàng vỗ ngực khẳng định chắc nụi với nàng rằng:

Có ai trên trái đất này

Yêu em sâu thẩm như ngày anh yêu?

Tan đi, nát lại bao hồi

Yêu em ai khổ trên đời bằng anh!

Thằng cha này mới đợi một chút đã than khổ, mới nấu ăn (luộc rau) có một bữa cũng than khổ “tan đi nát lại“, mới chịu cái “” một chút đã rên khổ! Ngón đòn “gậy ông đập lưng ông” là một nét đặc sắc của thơ Xuân Diệu… bị chửi cho chừa trong mảng thơ tình yêu của chàng quắn này. Mình rên “khổ” trong khi mình xuống bút, giấy trắng mực đen hẳn hoi:

Người ta khổ vì thương không phải cách

Yêu sai duyên và mến chẳng nhầm người.

Có kho vàng nhưng tặng chẳng tùy nơi

Người ta khổ vì xin không phải chỗ.

Đường êm quá ai đi mà nhớ ngó

Đến khi hay gai nhọn đã vào xương.

Vì thả lòng không kềm chế dây cương

Người ta khổ vì lui không được nữa.

                                              (Dại khờ)

Toàn bộ thơ tình của Xuân Diệu nói riêng, thơ Xuân Diệu nói chung, bài thơ “Dại khờ” này coi như bài thơ “kết luận” được đúc kết từ thực tiễn. Tôi cho đó là bài thơ lý trí hay nhất của Xuân Diệu về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật.

Cái “khổ” của chàng Xuân tóc quăn vì ”thương không phải cách” làm “tan đi, nát lại” là cái khổ ”bụng làm dạ chịu“. Chàng phạm lỗi lầm cho nên bị nàng cho “de” một bên, bỏ mặc chàng với “lỗi lầm anh trả bằng đau đớn rồi“. Cho chừa!

Cái yêu “sâu thẩm” của Xuân Diệu khác cái yêu dịu dàng của Bàng Bá Lân trong “Tình trong mưa”:

Xa nhìn đắm đuối tìm trong gió

Chỉ thấy màn mưa nước ngập đường.

Ta nhìn theo bước đi run len lén

Bỗng cả lòng yêu náo nức liền.

Yêu một bước đi “run” trong “màn mưa nước ngập đường” không rõ mặt thì chắc chàng yêu đương tột đỉnh với ma men hoặc bậm gan mà yêu đại một… con ma trong mưa. Yêu “ma” khỏi sợ mất bồ! Tính toán bậc thầy! Còn chàng họ Chế chưa thấy mở đầu dạo nhạc cho chữ yêu đã… nhào đại vào nàng, quắp nàng cùng bay lên “Ngủ trong sao”:

Đầu gối lên hàng Thất tinh vừa mọc

Ta hôn nàng trong bóng núi mây cao

Ta ôm nàng trong những nguồn trăng đổ

Ta ghì nàng trong những suối trăng sao.

Với “hôn”, “ôm”, “ghì” liên tục của Chế thì thiệt tội nghiệp cho nàng nào vô phước nếu không “thất đởm kinh hồn” vì lời tỏ tình “lý thuyết đi đôi với thực hành” có một không hai này. Yêu thì yêu, muốn “làm gì thì làm”, sao còn la om sòm lên ngu thế, lại vác cả người yêu mà bay lên cao quá lỡ xảy tay… ôi xương tan! Yêu như chàng, thiếp ngán tới trời! Gãy xương cổ bỏ mẹ!

Xuân Diệu vì yêu mà rên. Bàng Bá Lân vì yêu mà bất chấp. Chế Lan Viên vì yêu mà bạo. Còn Nguyên Sa, Nguyễn Bính, Hồ Zếnh, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…?

Vương Duy (Trung Quốc), Nguyên Sa và Nguyễn Bính có hai bài thơ cùng tựa đề “Tương tư“. Tương tư của Vương Duy gởi vào… trái đậu:

Hồng đậu sinh Nam Quốc,
Xuân lai phát kỷ chi.
Nguyện quân đa thái hiệt,
Thử vật tối tương tư
.

Trương Đình Tín dịch:
Đất Nam, hồng đậu sinh này,
Đến xuân lại nảy một vài nhánh cao.
Xin anh hái thật nhiều vào,
Đậu này giữ lấy nhớ nhau suốt đời
.

Một kiểu tương tư gắn liền một loại thực vật đầy đủ chất đạm đáng nhớ một đời trong… bao tử! Ui cha! Còn Lý Bạch trong ”Trường tương tư” (Thơ Đường tập II, Viện văn học 1962) thì gởi hồn vào tiếng đàn tri âm khúc của nàng một dạo gặp ở Trường An:

Trường tương tư
Tại Trường An…

Thiên trường lộ viễn hồn phi khổ
Mộng hồn bất đáo quan sơn nan.
Trường tương tư
Tồi tâm can.

Quỳnh Chi phỏng dịch trên chimviet.free.fr:

Nhớ nhau mãi, ở Trường An
“Trường Tương tư khúc” tiếng đàn đêm thu.
Bay về tìm gặp người thương
Làm sao về đến bên nàng đêm nay??
Quan san muôn dặm đường

                 Trường tương tư dạ ai hoài canh thâu.

Trong bài thứ hai, Lý Bạch thay tiếng đàn tương tư bằng dáng hoa u sầu:

Nhật sắc dục tận hoa hàm yên

Nguyệt minh như tố sầu bất miên
Triệu sắt sơ đình phượng hoàng trụ
Thục cầm dục tấu uyên ương huyền

…Tích thời hoành ba mục
Kim tác lưu lệ tuyền
Bất tín thiếp trường đoạn
Quy lai khán thủ minh kính tiền

Quỳnh Chi dịch:

Bóng chiều bảng lảng hoàng hôn
Trăng lên hoa khép ngậm sương đọng sầu
Trăng soi óng ánh lụa đào
Trăng khuya thao thức dạ sầu ngẩn ngơ

…Sầu dâng đòi đoạn tơ vò
Xa xôi ai có thấu cho chăng là
Khi về đến trước thềm hoa
Gương trong còn bóng dáng hoa u sầu

Trong ”Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã để cho Kiều với ”dáng hoa u sầu” tương tư Kim Trọng qua bóng trăng:

Một mình lặng ngắm bóng nga
Rộn đường gần với nỗi xa, bời bời.
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay chăng?

Đêm khuya ngắt tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.
và Kiều nhớ nhung Thúc Sinh cũng qua ánh trăng:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Toàn là những tương tư khóc gió than mây gọi hồn tri kỷ cả! Tuyệt vời thay! Thế nhưng khi trăng bị mây che khuất hay khuyết rồi mất hút bên rèm, lúc ấy, ai có còn tương tư ai qua… bóng đêm? Sự tương tư của người xưa ẩn nấp vào một điểm tựa và khi điểm tựa đổ thì trạng thái tinh thần cũng tiêu! Ta hãy coi thử người thời nay tương tư có khác người xưa không?

Hàn Mặc Tử trong ”Trường tương tư” là một tương tư huyền hoặc như khói như sương, âm u đầy nhang khói:

Một mối tình nức nở giữa âm u,
Một hồn đau rã lần theo hương khói,
Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi,
Một lời run hoi hóp giữa không trung,
Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng,
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn.

Đấy là tất cả người anh tiêu tán,
Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ,
Cùng tình em tha thiết như văn thơ,
Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế.

Tương tư trong “hương khói” với “vũng máu đào” như Hàn thì chắc chắn tình yêu nhang khói “cõi trên” thế kia trước sau gì cũng tan vào trăng với gió! Buồn thật nhưng chẳng chút gì của cái gọi là… thất tình trong thơ Hàn!

Nguyên Sa trong “Tương tư” yêu em trong lớp áo mây:

Có phải em mang trên áo bay

Hai phần gió thổi, một phần mây

Hay là em gói mây trong áo

Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Có phải mùa xuân sắp sửa về

Hay là gió lạnh lúc đêm khuya

Hay là em chọn sai màu áo

Ðể nắng thu vàng giữa lối đi?

đến nổi… mờ con mắt:

Cho nên đôi mắt mờ hư ảnh

Cả bốn chân trời chỉ có em.

Cái dạng chập chờ, chập choạng “mờ hư ảnh” này nguy quá lỡ mà… “nhìn gà hóa cuốc” vợ người tưởng vợ mình, dễ ăn bợp tai. Trời bao la quá, để chắc ăn nên chàng Sa (Satăng) mới lấy “đinh ba” hô “biến” thành bốn cái cọc đóng giăng nàng lại cho khỏi lộn. Nàng tự do bay nhảy nhưng chỉ trong “bốn chân trời” đó thôi (bốn chân… gường thì nàng “cũng liều một thác cho xong“!).

Nguyễn Bính yêu khác Nguyên Sa, khác hết, tình yêu đến với chàng là cái bệnh:

Gió mưa là bệnh của trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai hỏi ai người biết cho,
Bệnh hết trơn vì tương tư? Thiệt ra, có “ấm đầu sổ mũi” gì đâu! Chứng “kinh niên” này của Nguyễn Bính, Đông y, Tây y bó tay. Huê Đà tái thế cũng đầu hàng. Thằng cha này khôn ngoan quá, “sỏ lá” quá nhưng ai cũng nhìn vào, nghe mát lỗ tai cho rằng chàng hiền lành nên yêu chơn chất. Lầm! Này nhé: Dám cả gan cho rằng: ”Trời mắc bệnh mưa gió. Tôi mắc bệnh tương tư yêu nàng”. Thế là “nhất trời, nhì… tôi” rồi còn gì! Mưa (mát mẻ, ướt át). Gió (mát mẻ, vỗ về). Tổng hợp lại: Ta đem cái ướt át, mát mẻ vỗ về này để yêu em. Em đồng ý không? Trời bệnh… mát mẻ, ướt át. Tôi yêu ướt át, mát mẻ. Té ra hai… thằng này… khỏe re mà dám nói bệnh hoạn! (Trời ạ! Nếu có sai thiên lôi thì sai Nguyễn Bính này vác cái búa “Tương tư” giáng xuống là con nguyện chết… ướt trên tay của chàng, ngu gì làm con bướm chết khô!). Ai cũng cho Nguyễn Bính “chân quê” từ xưa đến nay, trật hết trơn!

Trên là “trời”, dưới là “tôi”, vốn dĩ “hai ta” đã hài hòa giữa đất trời và con người. Cô nàng của Hỗ Dzếnh thật cũng “gan dạ” lắm dù chỉ “be bé” thôi:

Mày ai bán nguyệt, người ai nhỏ

Em ạ! Yêu nhau… chết cũng đành.

                                                          (Xuân ý)

Chàng Hồ này quả thật cũng loại “hồ ly tinh”. Ai lại “yêu nhau” mà… quăng…”trái lựu đạn” vào tình yêu bao giờ? Chết thì chết một mình đi, sao lại rủ người yêu cùng chết chung! Người ta đẹp như… Thúy Vân… trăng rằm bị xẻ nửa (bán nguyệt), người ta chuẩn bị đóng phim “con… cây” (người ai nhỏ) vậy mà rủ đi thăm… ông nội sớm vậy! Ác!

Nàng của Vũ Hoàng Chương trong “Say” khác nàng “nư” của Diệu, chẳng phải nàng “masoeur” của Sa, không giống “Cô hàng xóm” của Bính, xa lạ với nàng “cây” của Dzếnh:

Em ơi lửa tắt bình khô rượu

Đời vắng em rồi say với ai?

Nàng dòng dõi… Lưu linh chớ còn ai nữa! Khá khen cho họ Vũ, nửa say, nửa tỉnh trong tình yêu làm người ta không biết đâu là thật, đâu là giả? Hết rượu, hết say. Vắng em, ta lăn quay. Ta ôm cái bình rượu mà không có linh hồn em trong đó để làm gì? Tử Kỳ đập đàn vì không có Bán Nha. Nay ta… đập quách cái “bình khô rượu” này vì thiếu nàng! Chậc! Vì sao người ta yêu mà khổ, mà tương tư mà sầu muộn chớ? Cũng bởi một chữ “đa tình” mà ra cả. ”Đa tình tự cổ nan di hận” là thế!

Trở lại với Xuân Diệu, chàng thanh niên trong “đa tình” đã tự viết “sơ yếu lý lịch” trích ngang:

Tôi biết yêu từ khi chưa có tuổi

Lúc chưa sinh vơ vẩn giữa dòng đời

Tôi đã yêu khi đã hết tuổi rồi.

Không xương vóc chỉ huyền hồ bóng dáng.

Cách phóng đại của chàng quăn nói theo nghĩa giang hồ là… “nói dóc”. “Chưa sinh”, “chưa có tuổi” mà đã “biết yêu” là quỷ quái mà đến khi “hết tuổi rồi” nghĩa là “lợi đi đàng lợi, răng đi đàng nào?” vẫn còn yêu là ông tổ nội quỷ quái. Thiệt “gừng càng già càng cay“! Thiệt là “càng già càng dẻo càng dai” nói theo giang hồ nữa là: “Già không nên… nết“! Văn chương lại một lần nữa mỉm cười, bỏ qua, lại coi đó là “hình ảnh mẫu mực”, một ly nước lạnh dưới 0oC tạt vào những cái hồn trơ như đá không biết chữ yêu thương là gì!

Quang Dũng trong “Trắc ẩn” đã đứng một bên Xuân Diệu để bổ sung:

Chưa gặp sao đành thương nhớ nhau

Đôi phen số mệnh cũng cơ cầu.

Cái “số mệnh cơ cầu” đã đưa biết bao bao mối tình trắc trở vào huyền thoại! Dòng ca dao “nhớ ai như điếu thuốc lào” không phải ngẫu nhiên mà chảy qua dòng sông đa tình. Nó hiện diện từ khi có con người, có những tương tư khi Ađam và Eve ăn trái cấm. Khi từ “nhớ”bắt đầu xuất hiện trong dòng ca dao: “Nhớ ai nhớ mãi thế này, nhớ đêm quên ngủ nhớ ngày quên ăn” thì trần gian đã loạn lên vì nó. Trong ”Tứ tuyệt tương tư”, Xuân Diệu như khóc như than với nỗi nhớ xanh núi, tím trời này:

Lâu lắm em ơi, tháng rưỡi rồi
Sao nhiều xa cách thế, em ơi!
Sớm trông mặt đất thương xanh núi;
Chiều vọng chân mây nhớ tím trời

Bỗng nhiên trời đất nhớ người yêu
Cây vắng: chim bay, nắng vắng chiều
Nước cũng lơ thơ, bờ líu ríu
Mây chừng ấy đó, gió bao nhiêu…

Hoa tím tương tư đã nở đầy
Mời em dạo bước tới vườn đây
Em xem: yêu mến em gieo hạt
Hoa tím tương tư đã nở đầy…

“Tương tư, chiều” của Xuân Diệu không thoát khỏi cái “nhớ” ác nghiệt này:

Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm

Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh

Anh nhớ em. Anh nhớ lắm, em ơi!

Có tất cả 7 từ “anh nhớ” trong 3 câu thơ tạo thành chùm điệp ngữ gào thét để được bày tỏ tình yêu! Trời à! Tả cảnh ngụ tình nếu ai làm được không cần dùng động từ, tỉnh từ trực tiếp tả như trên ắt vượt qua cái câu: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” của Nguyễn Du. Không nói chữ “buồn” mà người ta đọc cảm giác “buồn” mới là kỹ xảo của thơ. Xuân Diệu khi làm thơ, viết: “Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm” thì cũng chỉ xuất phát từ mạch cảm xúc mà ra thôi nhưng không ngờ, nó lại trở thành một trong những câu đại diện cho một nét nghệ thuật độc đáo: Sự cộng hưởng!

Cái lạnh: Tâm hồn thiếu vắng, cô đơn khi ”mặt trời đi ngủ sớm”. Trừ lúc buồn ngủ, ngoài ra là cái tâm bệnh “tương tư, chiều buồn”. Nằm ngủ mới thả hồn qua chữ “nhớ”. Chữ “nhớ” kéo cả họ cả hàng cả hóc cả hang ra.

Trở lại cái nghệ thuật trên, từ nghĩa thật: Lạnh có nghĩa thời tiết vào mùa đông rồi nên mặt trời lúc nào cũng lặn sớm hơn mùa hè để chuyển sang sự “cộng hưởng”: Mặt trời bị mây mù che khuất gợi con người một xúc cảm cho chữ buồn không buông ra được: Không thể nói: Mặt trời buồn, ngủ sớm! Một câu trên chưa nói tới cách nhân hóa, cách ẩn dụ đã đủ ý rồi, thêm nhiều điệp từ “anh nhớvào và dẫn ra nhiều cái nhớ quá làm nỗi buồn nhớ bị kéo dài, trải rộng, không cô động nên rất uổng cho cái ý “Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm“!

Nhưng điều đáng phục ở đây là chàng Xuân tóc quăn dám yêu, dám nói khác với những “mày râu nhẵn nhụi” chỉ mới hé chữ “yêu” là sợ tổn thương danh dự, lu mờ công danh, tan tành sự nghiệp làm gì có chữ “nhớ” quằn quại như Xuân Diệu! Từ xưa đến nay, người ta nói “cờ bạc là bác thằng bần” chứ có thấy nói “yêu đương là con đường bần của… các bác” đâu!

Cho nên nói: Một kẻ chưa sinh như Diệu đã yêu, một người chưa gặp như Quang Dũng đã thương. Cả hai đồng cao thủ hết. Nâng lên cấp nữa, chàng quăn làm kẻ nhẹ vía sợ le lưỡi:

Kẻ đa tình không cần đủ thịt da

Khi chết rồi tôi sẽ yêu ma.

Con người khi vướng vi rút “đa tình” sao mà dễ sợ, hăng máu quá đến nổi yêu “không cần đủ thịt da” gì cả. Yêu đến nổi chỉ còn “bộ xương” với cái đầu lâu biết nói? Eo ơi! Yêu như vậy là quá trời, quá đất! Yêu từ kiếp này qua kiếp khác làm kẻ yêu hoài không biết chán này, giật mình! Cảnh ma cỏ này sao nghe rờn rợn, giông giống “trên đường về” của Chế Lan Viên:

Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn

Muôn ma hời sờ soạng dắt nhau đi.

Thì ra, ma của chàng Diệu là ma thất tình, ma của chàng Viên là ma mất nước! Ma của Đoàn Phú Tứ chưa thành hình chỉ vì:

Phấn hương chưa ủ tình yêu lạnh

Em chết! Trời ơi! Anh tủi lòng.

                                           (Tủi )

Đinh Hùng trong “Tiễn em cay đắng” lại “phụ diễn” cho Xuân Diệu:

Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết

Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn.

Một ông Xuân tóc quăn nhớ em đến lóc cả thịt da. Một ông Hùng lại bắt chước Nguyễn Tất Nhiên “bởi vì em mà thiên tài chán sống” để “chết vì em” “hôn”. Có lẽ hôn lâu quá, nàng ú ớ, chàng không nghe nên nàng giở độc chiêu… cắn cho một phát, chàng… tắt thở! Diễn thơ kiểu này giống bọn học sinh cơm nguội, gà mờ mà báo chí hay “mượn trò chửi thầy” đây! (mượn trò ngu, chửi thầy dốt!). Tình là cái chi chi? Đàn ông sao mà yếu xìu, yêu đương búa xua, la lối om sòm không còn oai phong gì ráo! Ca dao có câu chống lưng hay thế này mà không chàng nào thuộc lòng để phùng man trợn mắt với cái ”tương tư” với cái “thất tình”:

Có ai ta cũng thế này

Không ai ta cũng như rằng có ai.

Có ai nước cũng đứng bờ

Không ai nước cũng đứng cơ mực này!

Họ chỉ khư khư ôm lấy cái:

Trường gian, trường lộng, bất cộng chi tình

Ai kia hờ hững, riêng mình tương tư!

Đáng đời!

Người ta nói: “Yêu nhau lắm, cắn nhau đau”. Xuân Diệu với những “ngã rẽ” là một chứng minh hùng hồn cho câu tục ngữ “có răng” trên khi yêu đến tột đỉnh!

3. Xuân Diệu với tột đỉnh tình yêu:

Tình yêu bỗng bị gán cho cái tội “có răng” với cái răng nanh nhọn quắc! “Cắn” thôi cũng đủ làm người bị cắn… nhiễm trùng, dở sống dở chết rồi mà Xuân Diệu còn chơi trội hơn… giết quách!

Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim

Từ đây, anh không được yêu em ở trong sự thật.

Tại em cố chấp nên anh giết em rồi anh chôn vào trái tim anh

Anh đã giết em rồi, anh vẫn ngày đêm yêu mến.

                                                                (Anh đã giết em)

Lời thơ chỉ có bốn dòng trên mà đã sử dụng “giết” tới ba lần nhưng không thấy nói đến “hung khí” gây án? Giết người đền mạng còn giết tình đền chi? Muốn “giết”, trước hết, người ra tay phải ghét, thù, căm, hận trước rồi mới đủ sức mạnh đẩy đến động cơ! Lại đụng cái mụ ca dao:

Ghét nhau câu câu xấu bửa ba

Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra.

Kinh khủng mà cũng hú hồn vì chàng quăn chỉ giỏi “yêu, nhớ” bằng cái mồm thì “giết” cũng chỉ bằng cái miệng. Không ai giết người mà la làng, báo trước: “Trời ơi tôi muốn giết người tôi đã yêu” như ca sĩ Trường Vũ gào trên sân khấu? La như thế thì người sắp bị giết… trốn mất bởi đâu có ngu mà đứng đó cho chúng tới… thịt!

Bài “Anh đã giết em” của chàng quăn này không thể gọi là thơ được bởi nó như văn xuôi. Bỏ vào trong văn xuôi cũng chưa chắc nó có “chỗ trọ”! Đọc thơ mà ngứa tay nên làm dùm chàng quăn đoạn này:

Anh giết em rồi chôn ở tim

Tìm đâu em nữa để yêu nhiều.

Vì em cố chấp nên anh giết

Giết mất em rồi, anh vẫn yêu.

Ngó… chưa chuẩn lắm nhưng đảm bảo… lọt tai, mát mắt.

Kiểu yêu và giết của chàng quăn thiệt quá lắm. Giết thật không nỡ mà để sống thì ngứa gan. Lỗi nàng “cố chấp” cũng chỉ là “cái nư” của nàng mà chàng từng nói “trời cũng phải thua”. Yêu mà nóng nảy, chấp nhứt thì cũng giết chết tình yêu. Kẻ “cố chấp” chính là Xuân Diệu chớ không phải nàng. Trước đó, chàng quăn cũng đã từng: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào mi”, nên giờ tình lên đỉnh điểm, ta không lạ gì cái tính đa tình và “đánh võ mồm” của chàng. Chế Lan Viên cũng… cắn nhưng không thèm cắn cái…”xuân hồng” của chàng quăn mà… cắn cái… sọ người: “Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ”!

Buồn tình đi cắn… sọ người có… ê càng, ê que một chút nhưng nhân đạo hơn đi giết người yêu dù dưới bất cứ hình thức nào, phương tiện nào. Người ta cho Chế Lan Viên làm thơ có chút trí tuệ coi bộ không sai!

Yêu có “trí tuệ” té ra cũng không chỉ có một Chế mà Bàng Bá Lân trong: “Chưa bao giờ thương thế“, tự xét:

Em cắn răng chịu đựng.

Được thể ta lại càng.

Làm em thêm đau khổ

Ôi thương em, thương em.

Trong “Hối hận”:

Em được gì kia chứ? Mà phải chịu đau buồn

Ta được gì kia chứ? Mà làm em đau thương.

Nếu có ai yêu mà biết nghĩ vậy cho người mình yêu như chàng Lân thì quả tuyệt cú mèo! Rất tiếc! Với Xuân Diệu, em “cố chấp” nên ta “giết” quách và nếu nhẹ hơn, ta “đánh em đau” để “bắt đền sầu anh“.

Còn Nguyễn Bính muôn đời vẫn khôn ngoan trong cái lớp vở “chân” trong “Chân quê” xuống giọng… năn nỉ khi em quá quắc:

Nói ra sợ mất lòng em

Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa.

Giới phụ nữ cũng có nhiều loại. Loại nghe hù, nghe dọa là sợ toát mồ hôi hột; loại chịu đòn mà vẫn bám dai như… đĩa; loại “trên đe dưới búa” chẳng nhằm nhò chi ráo thuộc loại “công phu thượng thừa” nên phải sử dụng chiêu “năn nỉ xuống nước”, vừa tỏ lòng tôn trọng nàng vừa khẳng định mình. Thế là “nhứt tiễn song điêu” vừa lòng nàng, mát dạ chàng! Ban giám khảo nhất định trao vương miện “đối nhân xử thế” cho chàng Nguyễn lập tức!

Sau cái màn yêu “độc đáo” của các chàng, người ta đang chờ đợi một thứ tình mà người đàn ông trong đó phải thật hiền lành, phải yêu tha thiết, phải chung tình:

Thương anh chín công toại, danh thành

Thương anh ăn ở hiền lành, dễ thương.

Đặc điểm của tột đỉnh tình yêu là đánh, cắn, giết chỉ là một vế, cái vế thứ hai là sự bộc lộ tình cảm (chủ yếu) của kẻ làm thơ mà Xuân Diệu đã từng tuyên ngôn:

Có ai trên trái đất này

Yêu em sâu thẩm như ngày anh yêu!

Cái “sâu thẩm” của Xuân Diệu xét kỹ cũng chỉ là của một kẻ “gởi hương cho gió” không cân đo đong đếm gì được. Có cái “sâu thẩm” khác không bột phát miền mà âm ỉ, âm ỉ… Đây, một chàng Nguyễn Bính ốm yếu, hiền lành, dễ thương, đau khổ trong “Cô hàng xóm“:

Đêm qua, nàng đã chết rồi

Nghẹn ngào tôi khóc quả tôi yêu nàng.

Bài thơ này nổi tiếng từ lâu với những câu lục bát muôn đời vẫn ngọt ngào nhưng không phải ai sử đụng 6/8 cũng được như thế cả. Chỉ hai câu trên, chàng Nguyễn tình cờ cho ta hai giả thuyết:

Một, chàng nghe tin nàng chết từ “đêm qua” mới hôm nay (từ cách ít nhất nửa thời gian của ngày) nên “khóc“, chứng tỏ chàng “yêu”nàng!

Hai, chàng hay tin nàng chết “đêm qua” nhưng đến hôm nay mới có cảm giác từng cấp độ “nghẹn ngào” (không tin, nín lặng) đến bật ra “khóc” để khẳng định chữ “yêu”.

Giả thuyết một được loại trừ vì nó không làm nội dung sâu sắc khi diễn tả nội tâm cực điểm.

Phân tích thơ, bình thơ, nói chuyện về thơ, ta vẫn không bỏ qua phương pháp loại trừ nhằm mục đích mang lại cho người đọc nội dung tốt nhất của người làm thơ ngay khi người viết không chủ ý và không ngờ đến.

Trở lại giả thuyết thứ hai của Nguyễn Bính từ hai câu thơ trên: Với một người xa lạ, khi ta nghe một cái tin dữ hoặc tin vui, ta với tình người, ta sẽ thở dài hoặc vui vui ngay nhưng với một người thân thiết (thân nhất) khi ta nghe tương tự, phản xạ thứ nhất… không tin liền. Với những vụ sìcangdan thì càng… nửa vui, nửa ngờ. Một thông tin bất ngờ từ một tin dữ đó sẽ bị não bộ giữ lại kiểm nghiệm rồi phản hồi.

Trong “Nghe em vào đại học“, Giang Nam đã để cho nhân vật anh khi được tin vui: “Nửa tin, nửa ngờ tên lại trùng tên”. Còn với Nguyễn Bính, “cô hàng xóm” mà chàng thỉnh thoảng “sang chơi thăm nàng” rồi đến mình “chiêm bao rất nhẹ nhàng” ấy đã từ từ chiếm lấy trái tim chàng dù lúc nàng còn sống, chàng khó lòng khẳng định. Nói đúng hơn, chàng chưa có dịp khẳng định tình yêu. Nghe tin nàng chết từ đêm qua, chàng đã khó tiếp nhận rồi. Lúc này, ta mới thấy thời gian đóng vai trò quyết định là “phương thuốc tiên” để người ta khẳng định hoặc phủ định một điều gì đó.

Nguyễn Bính qua một đêm tiếp nhận tin buồn từ lý trí (não bộ) nói rằng: Đó là sự thật thì nội tâm có phản ứng liền: Nghẹn ngào! Tính từ chỉ mức độ tình cảm dùng trong câu rất “chuẩn” và không có tính từ nào thế vào câu trên để diễn đạt khá hơn và theo vần “ngọt” như vậy! (Đau lòng, nát lòng, xé lòng, thét gào… cộng ghép với “tôi khóc” đưa tới mức độ cảm xúc giảm hết một nửa.)

Khóc nghẹn ngào là tiếng khóc như thế nào? Khi ta nghe câu:

Con chim nhạn lạc bầy nhớ bạn

Tiếng nghẹn ngào vàng cả hoàng hôn.

2

Khóc nghẹn ngào là tiếng khóc như thế nào? Khi ta nghe câu:

Con chim nhạn lạc bầy nhớ bạn

Tiếng nghẹn ngào vàng cả hoàng hôn.

là đã biết rằng con chim ấy đang nhớ bạn mà khóc, khóc đến nỗi mờ mắt, khóc đến nỗi “vàng cả hoàng hôn”, nghĩa là khóc hết nổi. Từ “vàng” thay từ “khóc” ở đây vì từ tiếng ”con chim” chi phối: Con chim la khản cả giọng, tiếng gào vọng tràn ngập cả bầu trời, buồn bã vì… nhớ bạn. Khóc của Nguyễn Bính từ “con người” chi phối. Khóc nghẹn ngào là tiếng khóc không phát ra âm thanh hù hụ như người ta ví ý ”khóc như cha chết, mẹ chết“. Khóc của chàng Nguyễn là khóc với tiếng nuốt hết vào trong, ít nhiều nước mắt. Đúng với tâm sinh lý học: Tuyến nước mắt đàn ông ít nhạy hơn tuyến nước mắt của đàn bà và trái tim người đàn bà yếu đuối hơn đàn ông. Như vậy, sự nghẹn ngào của Nguyễn Bính cũng khác hẳn tiếng khóc của Giang Nam khi nghe tin ”em tôi” bị giặc giết, quăng mất xác: ”Đau xé lòng anh chết nửa con người”. Tiếng khóc của Giang Nam là tiếng khóc không nước mắt vì “đau xé lòng”, lịm chết nửa người trong đó có một chữ “thù” bên trong nên câu thơ trở nên cứng cỏi. Giả thuyết được đặt ra:

Một, người làm cách mạng thì không nên khóc lóc kiểu “nhi nữ thường tình”, kiểu Nguyễn Trãi lẽo đẽo theo khóc cha Nguyễn Phi Khanh khi bị Trương Phụ bắt giải qua Ải Nam Quan?

Hai, người chết không phải là “người yêu” thật sự mà chỉ mang một thứ tình “em gái” với quê hương bởi Giang Nam không khẳng định chữ yêu em mà chỉ ”yêu quê hương” ngay cả hai câu kết bài thơ “Nghe em vào đại học”:

Nay yêu quê hương vì trong từng nấm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

Đi xa hơn chút nữa, bổ sung cho giả thuyết hai là bài: “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Hữu Loan coi người vợ hứa hôn cũng chỉ như người em gái: “Tôi thương nàng như tình yêu em gái“. Nên khi nghe tin nàng té sông, chết đuối, chàng vệ quốc quân kia không dùng chữ “yêu” mà chỉ buốt lòng vì:

Giây phút cuối không được nghe em nói

Không được trông nhau một lần.

Tình yêu có nặng “tình em gái” khó có thể nói là một tình yêu “tột đỉnh” của gào như Xuân Diệu, khóc như Nguyễn Bính, rên như Vũ Hoàng Chương, đau như Hoàng Trúc Ly, kêu như Đinh Hùng và xót như Đoàn Phú Tứ. Thơ là tiếng lòng (nhưng khi “tiếng lòng” có sự “chỉ đạo nghệ thuật” có “đường lối nội dung” thì tiếng lòng ấy chỉ là “tiếng lòng sân khấu”?). Một hình ảnh, chi tiết trang trải trên thơ qua từ ngữ chọn lọc đều phản ảnh “tiếng lòng” đó. Có những nội dung không cần nói “hoạch toẹt” vẫn dễ dàng chấp nhận, thậm chí được coi là nghệ thuật độc đáo.

Đỉnh điểm tình yêu của Nguyễn Bính là sau tiếng “nghẹn ngào khóc” mới phát hiện, khẳng định một trăm phần trăm ”quả tôi yêu nàng“. Người đọc chỉ chờ có thế, thở… hắt ra! Thế là dòng ca dao lên tiếng:

Ai buồn ai khóc thiết tha

Tôi vui tôi cũng chan hòa giọt châu!

Hỡi ơi! Thế gian này còn bao nhiêu người mượn thời gian, mượn bối cảnh mới khẳng định được chữ yêu? Khi người ta sống nhăn răng thì không “dốc hết tình này ta trả nợ… nàng” mà yêu cho đến nơi, đến chốn lại hời hợt chờ cho đến khi: “Em chết, trời ơi!” mới… đòi vuốt mắt, mới nghe tủi lòng! Người ta đã bị “tình yêu lừa” rồi “đi lừa tình yêu”. Đảo qua, đảo lại, tình yêu là con dao bào hai lưỡi, là đồng tiền với hai mặt mà khối người gieo xuống “úp hay ngửa”, “lúa hay bông”?

Đỉnh cao tình yêu của Xuân Diệu còn là những lời tự kiểm điểm và lời tự tình ngọt ngào, cay đắng bên cạnh những ngã rẽ khác tương đồng! Tình yêu sợ nhất cái gì? Bị cắn? Bị giết! Không! Tình yêu sợ nhất là sự “dối trá” mà chàng quăn ngán ngẩm: “Nói chi nữa tiếng buồn ghê gớm ấy”. Dối trá cũng là tội ác: “Em ác quá lòng anh như tự xé”. Nàng “ác” vì “nư” quá, “ăn nói vô duyên quá” (Đơn sơ – Xuân Diệu). Đó cũng chỉ là một cách đổ thừa khi người đàn ông kiếm chuyện mà thôi để rồi “tự thú trước bình minh”:

Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo

Yêu em rồi anh đã vội quên ngay.

Vậy mà mình từng cho là mình “chỉ có một tình yêu thứ nhất“! Người ta chửi mình “bạc bẽo” là thường, mình tự cho mình “bạc bẽo” mới đáng cho đi… nhà thương. Kẻ đa tình như Xuân Diệu, lời thú tội này chỉ là lời tự mãn của kẻ ỷ mình có quá nhiều tình yêu, có quá nhiều người yêu mà thôi! Nói theo kiếm hiệp của Kim Dung: ”Nhà ngươi tưởng nhà ngươi là ai đây?”. Yêu mà quên ngay là kiểu “ăn nóng, uống lạnh” kiểu “cơm nguội đỡ khi đói lòng“. Bởi vậy, ca dao vẫn thường truyền tụng:

Lưỡi không xương nhiều điều lắc léo

Miệng không vành méo mó tứ tung.

Xuân Diệu sẽ cười to mà thoát nạn vì chàng quăn này có cái miệng với vành môi rất có duyên. Nhưng chớ vội cười lâu hỡi chàng tóc quăn:

Tóc quăn chải lược đồi mồi

Chải đứng chải ngồi quăn vẫn hoàn quăn.

Quăn đi liền “điếm xảo” đó chàng! Vậy mà cái chàng “dối trá” bạc bẽo này trước khi thành “người bạc bẽo” là một chàng trai yêu hết ý. Tình yêu tột đỉnh biến chàng trai xứ Rùa thành… “thầy pháp” hô “biến” tới “biến” lui khi yêu từng cử chỉ của nàng trong “Chén nước“:

Em cho anh chén nước

Anh biến thành rượu nho.

Anh lại nâng chén nước

Mời em nhấp môi cho.

Em ơi đừng uống hết

Kẻo say chết bây giờ!

Người trò chuyện thơ bật nói:

Nếu được say mà chết bởi vì tình

Em xin nguyện mình… chơi nguyên thùng nữa!

Mô Phật! “Kỳ phùng địch thủ, tửu lượng khó lường!”. Nước thành “rượu nho” y như bà tiên có chiếc đũa thần kỳ gõ vào ly hô “biến”! Uống nước thì không thể say, chỉ đầy bụnh, không khát thì ai ngu mà uống cho bụng bể! Rượu mới làm say người. Cái men tình này sao mà đắm đuối và nàng không phải là rượu cũng làm say chết lòng ta! Thiệt thành giả, giả như thiệt: “Lộng giả thành chơn” để nói lên lời tình tự hết sức nồng nàn. Bởi “thương ai, thương cả đường đi lối về” nên chàng quăn “say” nàng khi nấu bếp, “say nàng” khi đưa chén nước, lại “say” giọng nói rất mến thương của nàng:

Em như suối mát đến soi gương

Dù ai tốt tiếng như ca hát

Cũng chẳng bằng em giọng nói thường.

Rồi chàng quăn này dùng phép “phóng đại” cho cố để nịnh đầm:

Và khi không nói, em im lặng

Anh vẫn nghe hay tựa tiếng đàn.

Hà! Chàng so sánh giọng của nàng “êm như suối mát” ngay cả những ngôi sao ca nhạc cũng nghe tiếng nàng mà… chào thua! Thế nhưng giọng em tốt như suối thiệt đó (suối chảy róc rách cũng còn ồn) hay hơn ca sĩ (ồn gấp trăm bởi ca sĩ phải luyện tập mỗi ngày). Nhưng em ơi! Em không nói anh đã nghe… hay như tiếng đàn rồi. Vậy thì lạy trời cho em “không nói”, em “im lặng” cho anh nhờ. “Im lặng là vàng” đó em! Nhắc nhở khéo quá trời quá đất! Chàng đưa nàng lên tận đỉnh núi rồi dịu dàng… thả cho nàng rớt bịch xuống chân núi thật… êm ái! Nịnh nọt là nghề của chàng:

Nói đẩy đưa cho vừa lòng bạn

Con sông Giang Hà chỗ cạn chỗ sâu.

Nếu Xuân Diệu lạy cho ”em im lặng” thì Nguyên Sa trong “tháng sáu trời mưa” cũng lạy quá chừng:

Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt

Trời không mưa anh cứ lạy trời mưa.

Té ra hai chàng mong các nàng “im đi”, “ngủ hết đi” để các nàng khỏi nhiều chuyện mà thôi! Người ta “Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm”. Còn Nguyên Sa? Chàng “lạy trời mưa” để nhìn nàng ngủ:

Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc

Sẽ nâng tay cho ngọc sát vào môi.

                               (Tháng sáu trời mưa)

Câu thơ với hình ảnh vuốt tóc thật dễ thương. Con gái ai mà không khoái có người yêu vuốt tóc chứ? Câu trên như vậy còn câu dưới tối nghĩa quá y như thơ “Bóng chữ” của Lê Đạt, “Cây Tam cúc” của Hoàng Cầm, hiểu không nổi. Cái gì “ngọc sát vào môi”?

Với chàng Diệu, tình yêu tột đỉnh có con ma men làm chàng săn đón, thủ thỉ bên nàng với cây quạt không chán:

Anh nằm khẽ quạt
Cho gió mát về em
Em ngủ ngon không biết
Nhưng vẫn thở êm đềm

Anh quạt cho đôi tay
Anh hằng ngày yêu mến
Anh quạt đôi lông mày
Sáu nǎm nay quyến luyến.

Bài thơ ”Quạt” này không ghi thời gian nên làm sao ta có thể… tò mò xem thử người mà chàng quăn ”sáu năm nay quyến luyến” đây? Yêu gì đến ngần ấy thời gian mà không gối mỏi chân chùn!
Anh thương khi em ngủ

Phong thái rất hồn nhiên.

Em ngủ như trẻ nhỏ

Ngon say một giấc liền.

Chàng sử dụng luôn hàng loạt động từ của kẻ làm hoàng tử gát đêm nào “canh, thức, lắng nghe” nàng ngủ và ao ước:

Anh vô cùng sung sướng

Nếu em mơ thấy anh.

Hình ảnh người con gái ngủ trong “Ngậm ngùi” của Huy Cận (Phạm Duy phổ nhạc) là đầy chất thơ hơn hết:

Nắng chia nửa bãi chiều rồi…
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau;
Em ơ!! Hãy ngủ… anh hầu quạt đây.
Lòng anh mở với quạt này;
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ…
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ…
Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi…

Nếu Nguyên Sa “vuốt tóc”, “nâng tay”; Xuân Diệu “canh, thức, lắng nghe” thì Huy Cận lại… phe phẩy cây quạt mo… ru em! Hình tượng “tựa đầu” vào tay nghe “trái sầu rụng rơi” là hình tượng đầy chất suy nghĩ. Ngủ ngon thế sao lại nghe sầu? Tình không đến được mới làm người ta sầu đau. Cái tên “ngậm ngùi” đã tóm gọn hết cái ý của bài thơ rồi: Huy Cận được yêu mà đau, mà sầu! Nếu tình không hấp hối, tình không trăn trở, tình không tan vỡ ai đau mà làm gì! Gỡ không ra cách nên “con nhện” (”nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?”) xuất hiện với cái ý lòng rối như tơ nhện, rối như bòng bong, rối như canh hẹ! Hỡi thế gian, tình là cái chi chi? Dân gian nói:

Buồn như tiếng cú ban đêm

Sầu như tiếng nhạn lạc bầy kêu sương.

Nghe ra, ca dao đã thê thiết mà thơ ca cũng da diết vô cùng! Yêu tha thiết nên xa mới nghe đau thương. Cũng có loại yêu mãnh liệt mà xa dễ dàng nên mới thêm cái câu:

Càng thắm thì lại càng phai

Thoang thoảng hoa lài, lại được thơm lâu.

Hình ảnh “người đàn ông bạc bẽo” mờ đi khi hình ảnh chàng trai yêu với ”tột đỉnh nhớ thương” đã tới:

Áo em để lại dáng hình

Treo lên mắc áo cho mình thấy thương.

Áo em ngày nhớ đêm thương

Áo em chín nắng mười sương anh chờ.

Thành ngữ “một nắng, hai sương” đi vào dòng lục bát của Xuân Diệu đã thành “chín nắng, mười sương“, tuyệt cú mèo! “Một nắng hai sương” đã quá khổ rồi mà chàng chơi luôn “chín, mười” nữa nghe ra chàng quả là người nặng tình với “cây đa bến cũ con đò… khác xưa“! Không gian (thương, chờ) vô bờ, thời gian (đêm, ngày) vô tận qua cái hoán dụ (áo em là em) như một kiểu “xếp tàn y tìm chút hương thừa” sao mà da diết! Thôi đi! Còn không chịu lôi áo xuống ôm mà ngủ, treo làm gì? Nào ai ”trách người quân tử đa tình” mà sợ quê?

Cũng chiếc áo để lại “dáng hình” ấy mà Nguyên Sa trong “Tuổi mười ba” đã ngơ ngẫn:

Áo nàng vàng, tôi về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh, tôi mến lá sân trường.

Khác nào mang bệnh “tương tư màu sắc”! Hoa cúc thường nở vào mùa thu. Lá xanh chỉ có ở mùa xuân. Tình yêu của chàng gián tiếp qua bông hoa cúc – lá sân trường – là tình yêu học trò hồn nhiên có chiều dài theo năm tháng theo mùa mà lớn lên. Tuổi mười ba như vậy là quỷ lắm. Không có ai chơi khăm, xúi nàng của Nguyên Sa mặc áo màu… đen chắc dám chàng cũng chơi luôn: “Áo nàng đen, anh về yêu… con quạ!!” hay “anh về yêu quách chú… ngựa ô”!! Còn nếu nàng không mặc áo thì… trời trời… kẻ trò chuyện sẽ nhảy vào “gỡ rối tơ lòng thòng” của chàng:

Áo nàng đen, anh về yêu… con quạ

Nàng… không áo, anh về yêu… Eva.

Không biết từ hồi nào chú em Sa học cách “nịnh đầm” của ông anh Diệu trong “Áo lụa Hà Đông” tương thông, tương cảm:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.

Bài thơ được phổ nhạc bởi Ngô Thụy Miên và chiếc áo lụa Hà Đông trở thành biểu tượng cho áo dài của người phụ nữ Việt Nam làm sây mê cả thế giới. Tài thế!

Với Xuân Diệu, chẳng thơ mộng như Nguyên Sa yêu sắc màu của áo em mà tình yêu chàng quăn như những cánh hoa tàn tạ trong sa mạc hoang liêu và chàng si tình này cũng định nghĩa hai chữ Tình Yêu coi như… mù tịt trong bài ”Yêu”:

Yêu là chết trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà đã được yêu.
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu;
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết

Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.
Tưởng trǎng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
Yêu, là chết trong lòng một ít.

Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt
Những người si theo dõi dấu chân yêu.
Và cảnh đời là sa mạc cô liêu.
Và tình ái là sợi dây vấn vít
Yêu, là chết ở trong lòng một ít.

Bài thơ ba khổ vậy mà chỉ điệp ngữ ”yêu là chết ở trong lòng một ít. Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu” làm thiên hạ… nuốt trọn để phát ra khi bị… thất tình! Xem ra, chàng quăn cũng là… quân sư trên trận chiến tình yêu tốn nhiều giấy mực mang vào không được, rứt bỏ chẳng xong! Vậy mà trước đó, chàng còn phơi phới trong ”yêu mến”:

Một phút gặp thôi là muôn buổi nhớ
Vài giây trông khơi mối vạn ngày theo
Mộng bay chơi nhằm một buổi trời chiều
Gặp tóc biếc: tưởng sắc ngày xưa nở!
Mới gặp ”một phút”, mới trông ”vài giây” mà đã như… chết trong trận tình. Người ta dùng phương pháp phóng đại để… nói dóc thiệt không sai khi chàng quăn cũng sử dụng chiêu này tung vào khuấy sóng yêu cho thiên hạ… phục chơi! Nhưng hoa nở, hoa tàn ấy mà. Luật tạo hóa có sinh tất có diệt và cuối cùng, những đắm say trong cung trầm tưởng ấy lại là một dấu hỏi to đùng rớt xuống đời ô trọc, không làm sao lý giải cho kiếp đa tình mà chàng quăn đã đầu hàng vô điều kiện trong ”Vì sao?”:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu …

Cô hãy là nơi mấy khóm dừa
Dầm chân trong nước, đứng say sưa,
Cho tôi là kẻ qua sa mạc
Tạm lánh hè gay; thế cũng vừa

Rồi một ngày mai, tôi sẽ đi.
Vì sao, ai nỡ hỏi làm chi!
Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá,
Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.

Những “mày thanh, mắt lá liễu” trong thơ Xuân Diệu qua những từ ám chỉ phái yếu như nàng, cô thì ta cứ tin rằng ”thái giám Xuân Diệu” thật ra cũng chỉ là tin đồn nhảm trong muôn vàn tin đồn của ngày ”Cá tháng tư” Việt Nam mà thôi!

Đa tình, yêu tột đỉnh của Xuân Diệu kết lại:

Ngươi si muôn kiếp là hoa núi

Uống nhụy lòng tươi tặng khách hờ.

                      (Gởi hương cho gió).

Cùng với những ngã rẽ khác, thơ tình Xuân Diệu mở ra cho một tư tưởng mà tình yêu cũng rất sợ sau cái “dối trá”.

4. Xuân Diệu với những ngã rẽ “ghen”… say đắm!

Tình yêu sợ nhất là dối trá và ghen.

Ghen của Hoạn Thư trong Kiều ai cũng biết: “khôn ngoan hết mực, nói năng phải lời” khiến cho Kiều định đập một trận cho biết tay mà cũng chỉ: “Giơ cao đánh khẽ”. Đàn bà khôn ngoan cỡ Hoạn Thư hiếm có nên đàn bà “ghen” ác chiến là nhà tan, cửa nát, dao lam, muối ớt kè kè thấy ghê! Những câu văn nào, hình tượng nào trong văn học xấu nhất, hạ cấp nhất thậm chí “bịa ra câu chuyện thật đen”, các bà gom hết… thảy cho tình địch. “Ghen” là chuyện bình thường của đàn bà vậy mà, đàn ông cũng nhào vô… ghen. Ghen túi bụi có. Ghen ngấm ngầm có. Ghen trực tiếp, gián tiếp đều có hết. Ghen của đàn ông thường… vô duyên vì không thèm nghe ai giải thích. Đời thường ghen. Văn thơ lẽ nào không có một khoảng trời cho cái ghen đó chớ?

Nguyên Sa với những dòng thơ đầy nốt nhạc gắn với những tên tuổi Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Song Ngọc… cũng không thoát khỏi cái ghen qua sự cáu kỉnh khi để nàng mặc chiếc áo dài mượt mà cho thiên hạ chiêm ngưỡng rồi nổi cơn giận:

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết

Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu.

Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau

Để anh giận, mắt anh nhìn vụng dại…

Anh sẽ chép thơ trên thời gian

Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen

                    (Paris có gì lạ không em)

Giận quá… “mất khôn”. “Chép thơ trên thời gian” là chép làm sao? Thời gian không mỏi mệt, đi hoài không bến đỗ y như một thách thức một sự liều mạng đuổi theo thời gian cho tình thơ kết trái… ghen! Ghen kỳ quặc!

Nguyễn Bính với sức vóc mảnh giẻ như con gái nhà… tàn mà cũng bày đặt ”ghen”:

Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười.
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi.

Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
Đừng hôn dù thấy cánh hoa tươi.
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay biển lắm người.

…Nghĩa là ghen qúa đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu qúa mất rồi.
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi.

Tôi muốn” của Nguyễn Bính là cái tôi ích kỷ nhưng dễ thương của tình yêu. Nó không giống cái ”tôi muốn” được hòa mình ”tìm đến thiên nhiên” để được thấy ”tình yêu ban đầu” như của Lê Hựu Hà bao la, trong sáng đầy nhân bản cho một kiếp người!

Xuân Diệu với cái ”Ghen tuông nhìn chạnh gió chen cây. Chim lẻo không im. Liễu cứ gầy” trong ”rạo rực” lại ra chiêu ghen độc đáo hơn trong “Bên ấy bên này“:

Bởi vì ta có được em đây

Tay kia sẽ ấp nhiều tay khác.

Môi ấy vì ai sẽ đượm màu

Họ sẽ yêu em với cánh tay

Và em yêu họ đến muôn ngày.

Người ta thường nói: “Chớ lấy bụng tiểu nhân để đo lòng quân tử“. Xuân Diệu đâu có “lấy bụng” mà lấy… cái đầu đầy đặc yêu đương, yêu cả ma khi chết để lú lẩn nghĩ… tầm bậy. Suy diễn hay gọi là thước phim tự mình viết kịch bản rồi kiêm luôn đạo diễn và bức bách người ta làm diễn viên! Suy diễn là một phương cách “động não” tốt nhưng diễn giải lan man, sang tận miền đất cấm, hủy hoại cái chất xám mà thiếu nó, con người trở thành thời nguyên thủy. Với chàng quăn, chàng ta không “được em đâu” vì:

Một, nàng không yêu chàng. Không yêu, ai lại “cho” đâu bao giờ!

Hai, nàng yêu chàng nhưng ba cái “lễ giáo” phong kiến hoặc vì nàng quá “tự trọng” mà không chịu “trao ra” trước hôn nhân!

Thế thôi, đơn giản như vậy mà làm bộ không hiểu còn nghĩ xấu cho nàng. Đại danh từ “họ” số nhiều, độc địa, phụ trợ cho “nhiều tay khác” hoán dụ, ám chỉ nàng “tiếp” cả đống thằng đàn ông! Ghen đến nổi ”tầm thường hóa” người yêu! Hoặc giả “họ yêu em” và “em yêu họ” thì còn “ghen” cái nỗi gì mà không chịu chúc phúc cho họ! Chung quy lại, ghen bậy chỉ làm người ta đánh mất sự cao thượng cần có để nuôi dưỡng tình yêu mà thôi!

Xuân Diệu “ghen bậy” không nói gì, ca dao cũng “ghen hờn” vô duyên nữa:

Đến ta mới biết của ta

Trăm nghìn năm trước biết là của ai?

Ghen hờn, dằn vặt làm chi cái quá khứ của người ta mà không chịu đồng ý, chấp nhận cái hiện tại. Đó chính là sự ích kỷ, nhỏ nhen. Ai ghen, ai dằn vặt mình mà mình làm tình làm tội người khác chớ! Nàng của Xuân Diệu bị quấy nhiễu, bị xúc phạm quá nên, bực mình, bực thét rồi chút tình còn lại cũng biến mất:

Không tăng âu yếm trong câu nói

Trong mắt còn nguyên vẻ hững hờ.

                           (Bên ấy bên này)

Trong “muộn màng“, cái ghen trẻ con biến mất nhường chỗ cho sự năn nỉ:

Anh biết yêu em đã muộn màng

Nhưng mà ai cưỡng được tình thương.

Ngậm ngùi tặng trái tim lưu lạc

Anh chỉ xin về một chút thương.

Ghen bậy cho đã rồi đi xin xỏ “một chút thương” là cách nói giảm “rộng rãi”: Đem tặng nguyên trái tim nặng ít nhất vài trăm grams để xin về “một chút” không biết nặng bao nhiêu! Không ai đi ban bố tình thương cho một kẻ cầu cạnh vì yêu là sự đồng hành của hai con tim chư không hề là sự ban phát cho kẻ tiếp, người nhận. Người đàn bà kiêu ngạo không thích yêu loại đàn ông yếu đuối nhưng cũng không làm cho người đàn ông kiêu ngạo yêu. Kiêu ngạo quá giết chết tình yêu ngay khi còn trứng.

Trái tim vô hình nhưng vẫn biết tự tìm nhau không ai cưỡng ép được. Yêu bao giờ cũng chỉ là mới bắt đầu nên không thể nói “muộn màng”! Ai biết được chàng quăn này “được yêu” quá rồi trở nên sinh chuyện tìm cách nói giảm để khiêm tốn nhận cái phần quá nhiều làm cho người ta nghĩ rằng chàng là một con người dễ mũi lòng, đáng thương biết chừng nào với “một chút thương” của “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” mà Hồ Xuân Hương mai mỉa chua chát? Đã yêu lỡ như:

Chuồn chuồn mắc phải nhện vương

Đã trót quấn quít thì thương cho cùng.

Mấy trăm bài thơ của Xuân Diệu ít có bài với những lời “khiêm tốn” như vậy. Toàn bộ là giọng thơ yêu dữ dội, thương mãnh liệt và “ác” cũng khét tiếng ghen cũng ác nhơn với những ý nghĩ quái dị:

Có khi vò một cành hoa

Bỗng lên hương mới như là đậm sâu.

Muốn cho em khổ, em phiền

Đánh em đau để bắt đền sầu anh.

                                 (Đánh em đau)

Người ta quan niệm: “Cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa” để nói lên một ý thận trọng pha chút mỉa mai. Trứng thuộc loại dễ vỡ, hoa dễ bị dập nên mới “cưng” mới “hứng”. Sự so sánh không có vế so thứ nhất mà chỉ có vế bị so thứ hai. Cưng cái gì? Hứng cái gì? Ai đi “vò”?

Trở lại nghĩa thật: Với “hoa”, ta có thể chiêm ngưỡng gần, xa (tùy mắt cận hoặc viễn thị nữa!!). Xuân Diệu chơi… ngông, nhào tới, bẻ đầu xuống… vò cho khác người ta! Động từ “vò” mắc dịch này đã nặng nề, còn ác hơn “bóp”, “xé”, “đập”… để làm cho hoa tan tành mà“dậy hương” cho thi sĩ ác này… ngửi chơi!

Dừng ở đây, ta nói thêm về cái hoa “lên hương” của Xuân Diệu khi “vò”. Có loại hoa “hữu xạ tự nhiên hương” như hoa bưởi, hoa trà, hoa sứ, hoa hồng… thơm tự nhiên còn những hoa khác chỉ để ngắm nhìn hơn để ngửi. Trên thế gian này người có cái “hữu xạ tự nhiên hương này” chỉ có một Hương Phi đời nhà Thanh (Càn Long Cao Tông hết lòng sủng ái còn là huyền thoại) mà thôi! Chính vì nàng phi tần có mùi thơm kia làm cho Kim Dung vội vã đưa nàng vào tình sử trong ”Thư Kiếm ân cừu lục”.

Như vậy, Xuân Diệu bắt người yêu “vò nhàu” để dậy hương mà hưởng thụ sao mà ác mà phi lý quá! Nhưng ta cũng biết chàng quăn này chỉ “võ mồm”. Hoa nào chàng ta chọn để “vò” đây? Hoa sứ thì mủ nhiều, hoa lài, trà, bưởi nhỏ xíu mắc công vò cả nắm. Chàng này “ăn nóng, uống lạnh” chỉ có thể chọn hoa hồng. Hồng nào cũng thơm ngào ngạt, càng nát càng thơm.

Xuân Diệu không sai nhưng dùng từ “cành hoa” thì phải coi lại. Cành hồng luôn có gai nhọn đó! Xời ơi! Có điên như Hàn Mặc Tử lúc cuồng cũng đố mà dám vò cành hoa gai! Có cắn sọ người như Chế Lan Viên khi ngông cũng không dám nhào vô mà cắn cành hoa gai! Xuân Diệu quả liều mạng cùi. Chưa nói “cành hoa” chắc gì có hoa trên đó? Không có hoa thì vò cành hoa làm sao mà “lên hương”? Hà! Chàng quăn đã từng ảo thuật cho chén nước thành rượu nho thì tại sao không “úm ba la” cho cành hoa có hoa chứ hả?

Lúc này, ta mới thấy: Ngôn ngữ thơ cần phải chắt lọc. Người làm thơ làm lúc nổi hứng, cảm hứng hay vì gì đi nữa thơ với chữ chạy ra ào ào nhưng khi đọc lại mới thấy cái “hớ” trong bài thì đã “bút sa gà chết”. Mình lơ lễnh, người đọc phát hiện ngay. Lẽ ra, câu thơ phải là:

Có khi vò một đóa hồng

Bỗng lên hương mới thấy lòng đậm sâu!

Xuân Diệu dùng từ so sánh “như là” trong “Bỗng lên hương mới như là…” thật vô nghĩa, câu thơ trên nối từ “hồng” với “bỗng“, nối“hồng” với “lòng” không bị bắt bẻ về ý (cành hoa có hoa và cành hoa không có hoa) mà thơ được trùng vần. Cái hờn ghen dẫn ra phi lý bao điều. Xuân Diệu là bậc cổ thụ trong lĩnh vực yêu bạo, ghen ẩu thì Đinh Hùng là Xuân Diệu thứ hai là cái cây con mọc bên cha cổ thụ. Đi bên người yêu mà cũng hờn:

Anh giận bình minh, ngờ nắng hồng

Hờn ghen bao nhiêu hoa mùa xuân.

Sánh vai nhưng không là vợ chồng

Kề môi vẫn không là tình nhân.

Chàng Đinh nổi chứng:

Oán cả không gian, thù cả mộng

Ghen cả trời xanh trong mắt nhau.

Cuối cùng kết:

Nụ cười rung cánh hoa hờn giận

Trong mắt em còn bóng dáng ai?

                                (Hờn giận)

Giận, ngờ, oán, ghen cả “trời xanh trong mắt nhau” thì ôi thôi, thằng cha này sắp sửa… vò đóa hoa thứ hai. Cuộc đời này hễ đi bên nhau mà thành chồng, thành vợ thì biết bao cuộc hôn nhân “đa hệ” xảy ra, kiện thưa tùm lum, Bao Công tái thế cũng chào thua huống hồ… Người viết bực mình quá, quát:

Đi bên nhau đâu nhất thiết phải thành chồng, thành vợ

Thành vợ, thành chồng đâu bắt buộc phải yêu nhau!

Nhưng “kề môi vẫn không là tình nhân” thì coi chừng một nụ hôn “hời hợt” vì nếu chỉ “tình người” không ai đi “kề môi”? Tất nhiên, gã Đinh Hùng vẫn còn có lòng nhân đạo hơn sư phụ.

Trở lại bài thơ “Đánh em đau”, chàng sư phụ này không biết mắc cái bệnh “thích hành hạ người khác” bao giờ mà ra tay “uýnh” người. Đánh đau (bằng cái gì cũng mặc) thì người bị đánh thấy “đau thí bà nội” thể xác trước rồi mới tính chuyện… trả thù chứ “khố”, “phiền” cái nỗi gì! Sau khi bị ăn đòn thì người bị đánh chỉ thấy “thù, ghét, căm, hận, oán” nên coi chừng “dao phay” trên thì bổ hai, dao lam dưới thì… cắt bỏ thì mình còn mạng trai đâu mà để “bắt đền sầu anh“!

Thơ vẫn là con dao hai lưỡi. Khi nó sắc, nó cắt ta đau; khi nó cùn, nó làm ta bầm dập. Cho nên, ra đòn phải tính nước đỡ lỡ bị phản công.Yêu phải phòng hờ… mở đường máu ra cửa sau mà… tẩu!

Tìm mãi không thấy nhà thơ, nhà thi sĩ nào “đánh đập”, “vò nhàu” khi yêu như chàng quăn nên phong quách cho chàng “đăng quang” ở lĩnh vực không đối thư này! Đinh Hùng cũng chỉ là bậc… đệ tử! Vì sao, chàng hành hạ nàng? Trong bài thơ “Bên ấy, bên này“, chàng quăn đã nêu lý do:

Lòng ta trống lắm, lòng ta sụp

Như túp nhà không, bốn vách xiêu.

Em chẳng cứu dùm, em bỏ mặc

Mưa đưa ta đến bến đìu hiu.

Dòng thơ nghe “đắng” mà “ngọt” lắm với hình ảnh căn nhà không gọi là nhà “chỉ cần chút gió đổ cha mất rồi!” bởi cái tâm trạng hụt hẩng lắm rồi, suy sụp lắm rồi, chi phối!

Đọc thấy mà thấy đáng đời cho cái gã đa tình, yêu “ác” này qua loạt từ “chẳng cứu, bỏ mặc“. Chàng quăn này thả xuống hình ảnh“mưa”, “bến đìu hiu” thật tuyệt vời! Lẽ ra, tác nhân gây ra sự suy sụp tâm hồn này là “em” nên chỉ cần xuống từ ”em”: “Em đưa ta đến bến đìu hiu” là bao tội lỗi một lần nữa khẳng định sự tàn nhẫn của “Em”. Nhưng không: “Biết người rồi biết cả ta” nên chàng mượn tác nhân thiên nhiên “mưa“: “Mưa đưa ta đến bến đìu hiu” để khỏi mích lòng em mà thiệt ra, gã quăn đang… mắng luôn cả tác nhân thiên nhiên cũng hùa vào mà đưa gã đến vực thẳm. Ta ướt nhẹp. Ta lê bê, lếch bếch như con mèo mắc mưa đi ngoài đường mà không biết đi đâu! Cô đơn quá (lòng ta trống lắm), cô đơn tợn (lòng ta sụp)!

Hú vía là chàng không xách theo chai rượu chứ thường những kẻ “thất tình” hay mượn con ma men chỉ lối soi đường. Nhẹ thì khập khễnh, ngất ngư bò về nhà; nặng thì “phải gió” nhập vào gan là tiêu diêu miền cực… khổ (tại ác). Uổng quá, chàng không vớt Hằng Nga dưới sông nên ta không có một Lý Bạch thứ hai!

Cái ghen say đắm của Xuân Diệu trở thành tiếng thơ rên xiết vì lòng nghi ngờ tột đỉnh. Thơ viết về chuyện tình phụ, tình dang dở thì lũ khũ và dòng thơ hay nhất, lãng mạn nhất, hấp dẫn nhất mà cũng xót xa nhất, “cô hồn” nhất vẫn là dòng thơ “người đã phụ người, ta phụ ai?”. Trong “hẹn hò”, chàng Diệu đã gào lên: “Em ác quá lòng anh như tự xé” và sự “đồng sàn dị mộng” chắc trong ai không nhiều thì ít kẻ “nhắm mắt đưa chân lòng tiễn đưa lòng” để rồi:

Cùng giường khác mộng sao em

Tình ta đau đớn hơn đem tử hình.

Trăm năm mơn trớn dục tình

Sao bằng được bóng in hình trong tim.

                                  (Khác mộng)

Lại đụng đến cái “hồn” và “xác”: Xác nằm đây, hồn ở nơi đâu? Xưa nay, người ta hay nói về “hồn, xác” kiểu như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký xuất hồn đi trộm đào tiên của Tây Vương Mẫu, “xuất hồn” đi đập phá cây nhân sâm ngàn năm của Trương chơn nhơn vì giận Thanh Phong, Minh Nguyệt. Giới mê tín đồng bóng thì “kẻ khuất mặt” mượn xác nhập vào nói dăm điều bốn chuyện rồi… thăng! Nếu người phàm thiếu một trong hai cái đó (có hồn mà không xác, có xác mà không hồn) thì coi như… tắc thở!

Trở lại bốn câu thơ của Xuân Diệu “cùng giường khác mộng” mới thiệt quái quăm. Làm sao chàng ta biết được nội tâm của nàng chôn giấu một bóng hình? Có thể trong mơ, nàng ngu ngốc ú ớ gọi tên ai đó rồi kể lể nên bị gã chồng nằm bên nghe hết trọi? Hay là nàng “ngay đơ cán cuốc” thế là thằng đàn ông… cụt hứng mới hầm hầm lên?

Xác định “em” trong bài thơ là người yêu, người bị yêu hay là vợ hoặc “người tình không bao giờ cưới” của chàng quăn? Người yêu thì “cùng giường” không thể “khác mộng” được rồi vì hai người yêu nhau “hồn, xác” nhập một, vô tội, tha bỗng. Người “bị” yêu tức không yêu chàng thì “cùng giường” làm sao được? Đây chỉ có “hiền nội” mà thôi!

Trên thế gian này có biết bao nhiêu người, bao nhiêu cặp lầm chữ “Yêu” mà lấy, khi lấy rồi mới biết mình vẫn hụt hẩng cái phần hồn.

Lấy nhau có biết bao nhiêu lý do mà biện hộ, biện minh cho sự phụ tình và tình phụ! Đâu có gã đàn ông nào chịu nhận mình là kẻ “bạc bẽo” như Xuân Diệu đâu! Chính cái điểm sáng “can đảm này”, chàng quăn đã đứng trên bao nhiêu gã đàn ông bạc bẽo! Hiền nội cùng giường không cùng mộng khiến gã chồng cảm thấy “đau đớn hơn đem tử hình“. Hình phạt tử hình là mức án cao nhất (chỉ còn tồn tại một vài nước trên thế giới mà thôi) nhưng gã chồng cảm thấy nhẹ hơn “tội cùng giường”. Có ai trên thế gian này chịu mức phạt nhẹ tử hình đâu mà toàn bộ chấp nhận hình phạt cao nhất hơn cả tử hình là “tù chung thân”! Sao mà khôn dữ, khôn dằn! Chữ “đau đớn” của Xuân tóc quăn bỏ vào đây có chân, chạy mất!

Câu thơ thấy… lạnh da gà vì gã quăn bê nguyên cái “mơn trớn dục tình” bỏ vào. Động từ “mạnh” gợi một hình ảnh “bạo”. Ngòi bút mạnh bạo như vậy mà lại xuất phát từ một con người có trái tim thơ? Uổng quá! Hai từ đó đã giảm mất cái nghĩa “tào khang”, cái tình chồng vợ mà ít ai chú ý. Dẫu rằng sự “chung đụng” là sự thường tình nhưng không nên đem những từ ngữ quá bạo gợi một hình ảnh “không mấy lành mạnh” vào thơ. Chế Lan Viên và Đinh Hùng cũng có viết “mạnh bạo” như vậy. Gần đây, chủ nghĩa tự nhiên trong thơ đã làm mất nghĩa từ THƠ khiến cho lời văn hoa, tính hàm xúc của THƠ không còn là THƠ như trước nữa! Đáng tiếc! Mạch thơ vẫn chảy lúc ri rỉ, lúc ào ạt như suối nhưng thường khi suối chảy mạnh quá làm cát, bùn, đá sỏi, rong rêu trôi theo một lượt. Thơ cũng vậy, “chủ nghĩa tự nhiên” quá làm hỏng cái “thơ” của thơ. Con người mạnh dục tình quá cũng làm chết cảm xúc yêu thương.

Có lẽ người đọc thông cảm, xót xa cái cảnh “khác mộng” của người con gái trong “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính hơn. Người ấy mới thật “đau đớn” theo cả hai nghĩa xác và hồn:

Năm xưa đêm ấy giường này

Nghiến răng nhắm mắt… châu mày… cực chưa!

Từ “ba chấm…” sao mà dài dằng dặc! Có người đến cả một đời không thoát khỏi chữ “cực” với ba chấm… dài như có khóa! Người ta cũng “thương” cái “dị mộng” của T.T.Kh trong “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” hơn chữ “đau đớn” của Xuân Diệu:

Rồi từng thu chết từng thu chết

Vẫn giấu trong tim bóng một người.

Ngữ “từng thu chết, từng thu chết” đọc lên như một sự rã rời, không thấy chữ “đau đớn” mà nghe “đau đớn” quá! Còn Xuân Diệu kêu la “đau đớn” nhưng ta “dửng dưng” không thấy lòng thương cảm chút nào! Ta bắt gặp cái chiêu “gậy ông đập lưng ông” này của Xuân Diệu trong rất nhiều bài thơ phải chăng cũng là nét đặc biệt trong thơ mà Xuân Diệu là một điển hình?

Chàng quăn rên mà ta không xót cho hắn lại đi xót cho kẻ bị lên án “giấu trong tim bóng một người“, kẻ coi chồng “không bằng được bóng in hình trong tim”. Ở tâm trạng này, người phụ nữ dễ được thương tâm hơn và yêu dưới bất cứ hình thức nào, người bị thiệt cả hai mặt xác và hồn bao giờ cũng là phụ nữ. Mạch cảm xúc này mà người đàn ông dù có tài ba cỡ nào cũng không lột cả hết cái chiều sâu hun hút đau khổ của cái cảnh “dị mộng cùng giường” đó đâu! Lĩnh vực này, Xuân Diệu rớt, thử hỏi ai có công lực thâm hậu hơn nhảy vào?

Làm thơ không có hậu thuẩn thì cũng như lính ra trận không người tiếp lương mà thôi! Câu này chấp nhận được:

Buồn vì một trái tim thơ

Phía sau không hậu phương chờ đợi ta.

Một trái tim thơ” oai lắm nhưng vẫn cần nguồn năng lượng từ tình yêu, nhưng “nguồn năng lượng” không thể cân, đo, đong, đếm này gặp trắc trở không phát sinh nhiệt để cho tua binh tình yêu quay. Hai câu thơ này bỗng “cứu khổ, cứu nạn” cho chàng đa tình, ghen quá quắt: “Tim không tình yêu, tim tan vỡ. Thơ không tình, thơ cũng bơ vơ“. Một chút tình yêu le lói cũng đủ làm người ta ấm áp suốt một đời nhưng với chàng quăn thì dù chàng có ”rạo rực” trong yêu đương như ”mặt trời vừa mới cưới trời xanh” ; có hân hoan reo vui trong ”thơ duyên”:

Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên.
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,
Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.

Con đường nho nhỏ, gió xiêu xiêu,
Lả lả cành hoang nắng trở chiều.
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn.
Lần đầu rung động nỗi thương yêu

…Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy
Lòng anh thôi đã cưới lòng em.
thì cũng chìm vào trong ”xa cách”:

Em vẫn là em; anh vẫn là anh

Có thể nào qua Vạn lý trường thành!

Chẳng ai hay biết rằng vì sao trong tình yêu đang như thơ, như nhạc hòa mộng trên nhánh duyên xanh như ngọc, đổ đầy ngập cả trời thu trong nắng trở chiều như vậy thì có cái “Vạn lý trường thành” nào… mắc toi, mắc dịch lù lù hiện ra, chắn mẹ giữa đường yêu! Tức chết được vì bao nhiêu cái ”rung động nỗi thương yêu” từ một giây gặp gỡ, tiến tới vội vã thúc giục người yêu: ”Gần thêm nữa! Thế vẫn còn chưa đủ” hay trong ”giục giã”: ”Mau lên chứ, vội vàng lên đi chứ” để mà hưởng nụ hoa xuân ”hoa anh ơi, một chiều nở trong lòng”… mất trắng! Môi chàng… chu ra không có môi nàng… chu lại. Tay chàng dang ra… chỉ ôm lấy bóng vô hình! Lòng anh cưới lòng em nhưng đêm… động phòng, em… “drọt” mất tiêu! Thế thì lỡ làng! Thế là phủ phàng! “Vạn lý trường thành” chắc là đây! Tức ói! Ghen nổi lên là phải rồi!

Than ôi! một chữ ”Tình” đủ rồi gắn chi một chữ vừa là động từ, vừa là danh từ “Yêu” vào thành ra quỷ quái khó lường!

Xin mượn bốn câu trong “Lá thư ngày trước” của Vũ Hoàng Chương để kết thúc phần “ghen” của Xuân Diệu với đỉnh điểm “ghen say đắm, thắm cái đau, ghen càng sâu càng đau vì… khác mộng”:

Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp

Tình mười năm còn lại chút này thôi.

Lá thư xưa màu mực đã úa rồi

Duyên hẳn thắm ở phương trời đâu đó!

Khép lại cái “ghen” đồng thời mở ra một phần ngã rẽ khác bên cạnh Xuân Diệu với dòng thơ tuyên ngôn yêu.

5. Xuân Diệu: Tuyên ngôn – phát ngôn viên của tình yêu ngọt ngào, cay đắng:

Hình ảnh Eva và Adam khi ăn trái cấm đã khiến nhân loại đi qua con đường ngọt ngào và cay đắng. Không có tình yêu, thế giới này vô hồn. Chàng trai Xuân Diệu trong “Bài thơ tuổi nhỏ” phán một câu xanh rờn khiến bao nhiêu dòng họ trên đất nước này thuộc lòng dễ hơn học lịch sử:

Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào.

Hãy đốt đời ta trăm thứ lửa

Cho bừng tia mắt đọ tia sao!

Có người hay ngứa miệng sẽ hỏi: Vậy mấy người xuất gia, mấy cha nhà thờ đang sống sờ sờ chắc họ cũng “đang giấu trong tim bóng một người” để sống mà tu cho… đáng kiếp vì ”làm sao sống được mà không yêu”?

“Không” loại từ phủ định mà lại để khẳng định trong đoạn thơ này nặng đô hơn phó từ “chẳng“. Chàng đa tình này nhất quyết như thế nghĩa là ăn chắc một trăm phần trăm. Tự tin là tính tốt nhưng tự tin quá hóa… gà mờ! Hai câu đầu phát ra từ “phát thanh viên” Xuân tóc quăn sao mà nghe dũng mãnh quá, trơn tru, quyến rũ quá! Hai câu sau, chàng năn nỉ người ta đốt lửa. Lửa gì đây ngoài lửa tình? Bệnh nào thuốc đó, ai đi cạo gió để chữa bệnh nhức răng? Một thứ lửa còn kêu trời thêm chín mươi chín thứ lửa nữa thiêu luôn cái đời còn nhúm tro, làm sao còn mạng mà: “Cho bừng tia mắt, đọ tia sao”.

Câu thơ này thuộc loại câu “nghênh chiến” giữa con người và thiên nhiên nghe thấy oai phong lắm, dũng cảm lắm nhưng bình tĩnh, sáng suốt lại rồi lật cái chiêu “gậy ông đập lưng ông” của chàng quăn xem: “Đốt trăm thứ lửa“, bùm! Tia mắt bừng lên sáng rực để… đọ tia sao!? Nghe ghê gớm nhưng thử xem “tia sao” là tia thế nào?

Tia?: Danh từ chỉ kích thước vật thể bé tí tẹo và mong manh như lưới nhện.

Sao? Tinh thể cách xa trái đất hàng triệu triệu năm ánh sáng ngay như ngôi sao gần nhất là sao Hôm (sao Mai chỉ là một) khi chết đi thì nghìn chục nghìn năm sau, người trái đất mới biết là mất. “Sao” nhìn lên thấy bé như hạt mè, hạt tiêu nên ánh sáng phát ra yếu xìu không đủ soi cái gì cả. “Sao” đã như vậy mà “tia” nữa nhỏ cỡ nào? Mắt… lé cũng ”đọ” nổi huống chi mắt thường? Vậy mà cái lão quắn này mang “trăm thứ lửa” để tấn công vào một cái “tia” không có chút công suất nào chẳng phải uổng phí và mang tiếng “ỷ đông hiếp yếu” sao? Có ngon thì lấy “tia mắt” đọ với “tia nắng” thử xem! Kết quả nhanh chóng: “Tia nắng chẳng lui mà mắt… đui”. Đệ tử Đinh Hùng khôn hơn: “Em hãy đốt dùm anh trong mắt lửa” coi bộ có lý hơn sư phụ!

Hình tượng trong thơ buộc phải có nhưng hình tượng phải hợp tình, hợp lý mang sức thuyết phục tự nhiên. Trái với lẽ trên, hình tượng khập khễnh, so sánh lệch lạc làm “tổn thương” cái giá trị đáng được có của thơ.

Tài hoa đôi khi cũng sơ hở – một sơ hở cũng dễ thương nên cũng chỉ “giơ cao, đánh khẽ”! Với chàng quăn khi thương thì chăm chút, chịu khó; khi yêu thì ghen dữ tợn, “ác” cũng không nhẹ hơn chữ “ác” bởi đã lỡ phát ngôn cái sống cần yêu nên được yêu thì quá tham lam, ham quá độ trong ”vô biên”:

Trời cao trêu nhử chén xanh êm

Biển đắng không nguôi nổi khát thèm.

Những lúc môi ta kề mộng thắm

Trời ơi, ta muốn uống hồn em!

3

Trời cao trêu nhử chén xanh êm

Biển đắng không nguôi nổi khát thèm.

Những lúc môi ta kề mộng thắm

Trời ơi, ta muốn uống hồn em!

Mãnh liệt quá! Bệnh yêu điên, yêu ngấu nghiến như đồ ăn, thứ uống kiểu này thì thuốc đắng ngó bộ chẳng dã tật được chàng này! Trước đó, chàng quăn đã ”hôn” ngấu nghiến như thế:

Hôn em nước mắt chảy ròng;
Em ơi! Như ngọn đèn chong vẫn chờ.
Em hôn anh suốt một giờ
Anh hôn em mấy cho vừa lòng đau.
…Hôn em ngàn thuở chưa xuê
Ấp yêu da thịt, gắn kề tâm linh.

Yêu giục giã, yêu vội vàng, hối nhanh lên… cũng chỉ để… hưởng một nụ hôn. Hôn ”ngàn thuở” nghĩa hôn chung thủy rồi còn gì! Chưa có ai hôn mà lâu lơ, lâu lắc như cha này! Nghẹt thở đến nơi!

Thiết tưởng, người đời thường mang nụ hôn ra cười cợt, hời hợt. Đụng chút là hôn. Hôn ban phát. Hôn thưởng thí. Hôn giao kèo. Hôn lấy le. Hôn xã giao. Hôn bù lỗ. Những nụ hôn này đến bao giờ mới làm người trong cuộc ”nước mắt chảy ròng”? Nụ hôn như ”ngọn đèn chông vẫn chờ” sẽ tắt khi cạn dầu nhưng nụ hôn sẽ là vĩnh viễn khi tim người là ngọn đèn mà tình yêu là loại dầu chong không bao giờ cạn kiệt. Đem ngọn đèn ví với tình yêu xem ra khập khiễng nhưng bù lại, trong so sánh khập khiễng là một sự đối lập giữa cái hiện hữu là vật thể nhìn thấy rõ ràng (đèn) với cái ẩn hình là thứ không nhìn thấy được (tình yêu) để nói lên một giá trị tình yêu chỉ có khi lòng mình có lửa đèn sáng soi. Ngọn lửa đèn trong lòng có tình yêu (ngoa dụ) ”hôn ngàn thuở” thì làm sao mà tắt? Tuyệt!

Nếu cuộc đời có những ước mơ mà không dễ tới tay mình thì mình lại phải biến mình vào một vật thể khác để ước mơ tồn tại. Nụ hôn mà chàng quăn ước ngày, mơ đêm đã hóa thành con sóng biếc:
Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng.

Một lần khiêm tốn “không xứng” bằng “bốn mươi lần tự kiêu” để nhỏ nhẹ:

Anh xin làm sóng biếc.

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ thật êm.

Hôm êm đềm mãi mãi.

                      (Biển )

Chàng tham lam này xin được “làm sóng biếc” tưởng chỉ “hôn” thôi ai dè không dừng lại: “Như nghiến nát bờ em, tan cả đất trời. Như hôn mãi nghìn năm không thỏa”. ”Biển” của Xuân Quỳnh với những con sóng tình yêu tìm về bờ cát, êm dịu hơn như một quy luật tự nhiên bất di, bất dịch:

Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ.
Sóng hôn bờ dịu dàng của Xuân Quỳnh khác với cái hôn ác nghiệt của Xuân Diệu: Nụ “hôn” đang dịu dàng làm sao! Cái “bờ cát trắng” chưa kịp lim dim cảm nhận, đón lấy hết sự êm ả này thì lại… “Á” mất hết cảm giác vì bỗng đâu ngón “cẩu sực xí quách”… phập! “Cắn” rồi “nghiến nát“! Chao!

Dã man dòng họ dã tràng

Không điên sao nghiến nát bờ vàng em?

Không có ai yêu mà điên cắn, điên nghiến như Xuân Diệu và cũng chẳng có ai “hôn” mà hôn nhiều, hôn đi, hôn lại như thằng cha Xuân Diệu. Có người yêu, yêu kiểu này… khiếp quá đi! Mình may mắn mà còn không chịu khấn:

Cúi xin đức Phật từ bi

Cho con lấy đại thằng già chín lăm!

Đêm khuya lỡ bị nó… quằm

Chỉ bằng cái “lợi” có nhằm nhò chi!!

“Phụ bản” cho Xuân Diệu với chiếc hôn “kinh thiên động địa” còn có một Trần Dạ Từ trong “Nụ hôn đầu”:

Lần đầu ta ghé môi hôn

Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang.

Trên môi ta, vạn đóa hồng

Hôn em trời đất một lòng chứa chan.

Một cái hôn đầu chao! Thiệt dễ thương quá đổi nhưng cũng thuộc loại tham lắm! Mỗi nụ hôn được ví một đóa hồng mà chàng Từ này được tới “vạn đóa hồng“. Nói cho cố! Mới ghé môi hôn thôi mà những con ve đã khiếp hồn còn “hôn vạn cái” nữa cả bầy chồn… lăn quay, chết!

Trở lại hình tượng nhân hóa của Xuân Diệu: Chàng là biển, là sóng. Nàng là bờ cát trắng, là bờ để chàng:

Như hôn mãi ngàn năm không thỏa

Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

Tạo sao hình tượng đã có mà không chịu đưa vào câu cho có chủ ngữ mà lại đưa từ so sánh “như”, từ chỉ mục đích “bởi” vào đầu câu làm câu thơ “không mặn mòi” cho lắm. Sao không chịu viết:

Sóng hôn mãi ngàn năm không thỏa

Biển yêu bờ lắm lắm, em ơi!

Chủ ngữ Sóng, Biển chỉ tính chất vĩnh cửu của tự nhiên: Sóng biển, bờ sẽ muôn đời có nhau. Chúng đã có trước loài người và vẫn có thể tồn tại khi chẳng còn con người nữa. Tình yêu giữa người và người dẫu có “thương xanh cả trời và yêu tím cả núi” mà non đã cạn thì đá cũng mòn thôi!

Cái hôn của Xuân Diệu là cái hôn bất tử nếu đặt hai chủ ngữ Sóng và Biển vào đầu câu thơ trên. Chúng có giá trị nhất định là tăng thêm mức độ “khẳng định” cảm xúc vô biên: Hôn mãi ngàn năm! Xuân Diệu “hôn mãi ngàn năm” không thỏa thì Trịnh Công Sơn cũng “ru mãi ngàn năm” không chán. Hai hình tượng, hai con người tài hoa một thơ, một nhạc như hai ngã rẽ bổ sung vào dòng sông tình yêu một hương vị hết sức dịu dàng nhưng không kém phần nồng nàn thiết tha kêu gọi ai đó có thêm “ngàn năm” nữa thì hãy tự mình tìm một ngã rẽ cho mình vào dòng thơ mẹ!

Tình yêu là nguồn cảm hứng vô tận với dòng đắng cay, ngọt ngào chảy vào thơ ca với những lớp phù sa mà qua sự gạn lọc của thời gian, chúng theo năm tháng sinh sôi, nẩy nở thay thế cho những gì già cỗi như một quy luật của cuộc đời, của tạo hóa bất di, bất dịch! Có trùng phùng vẫn phải có biệt ly. Dòng thơ Xuân Diệu trong “Biệt ly êm ái” mà lại không “êm ái” chút nào:

Chúng tôi ngồi vây phủ bởi trăng thâu

Sương bám hồn, gió cắn mặt buồn rầu.

Cứ nhìn nhau rồi lại vẫn nhìn nhau

Hạnh phúc ngừng giữa đôi trái tim đau.

Cảnh đêm khuya lơ, khuya lắc không nỡ rời nhau qua một loạt danh từ tả cảnh “trăng thâu, sương gió“. Từ “bám” rơi xuống “bám hồn”cho “gió cắn mặt” không cần thêm từ “buồn rầu” thì chúng cũng tự nói lên được cái cảm giác lạnh lẽo, buốt giá cố tình bám víu bởi hai tác nhân: Tác nhân từ bên ngoài là cái lạnh của đất trời. Tác nhân từ bên trong là cái cảnh chia tay. Chia tay kiểu này sâu lắng quá, đắng lòng quá rồi còn gì! “Không có nỗi đau nào đau nhất bằng nỗi đau mất mẹ. Không có nỗi buồn nào buồn nhất bằng buổi chia tay người yêu!”. Nguyễn Ánh 9 đã phải kêu van trong nhạc khúc “Đêm mai ai đưa em về”:

Thời gian ơi! Xin dừng lại

Cho đôi tình nhân yêu trong muộn màng đừng khóc ly tan.

Xuân Diệu kêu không được nên “cứ nhìn nhau rồi lại nhìn nhau“. Ở ngoài đời, những cặp tình nhân chia tay trong mưa, trong hoàng hôn, trong nước mắt thì không thiếu những lời dặn này, dặn nọ: “Đừng hôn ai, đừng đi với ai ngoài anh, em nhé…”. Bởi một lẽ, họ cũng tin “người ra đi rồi sẽ quay về” và ngày hội ngộ sẽ có nên cái hạnh phúc vẫn trôi. Ngược lại có những buổi chia tay tình đầu, tình cuối, tình… mà không có ngày trùng phùng (hiếm hoi) thì sẽ thê thiết hơn bao giờ hết! Cả hai đều “nghẹn”, chỉ có thể như Xuân Diệu“nhìn nhau rồi lại vẫn nhìn nhau” rên xiết trong lòng như Thái Can:

Anh biết em đi chẳng trở về

Dặm ngàn liễu khuất với sương che.

                          (Anh biết em đi)

Chia tay trong im lặng mới là cách chia tay sâu sắc nhất vì nói chi nhiều chỉ “lời nói gió bay“! Lưu Trọng Lư trong “Một mùa đông”cũng vậy:

Nhìn nhau buồn vời vợi

Có nói cũng không cùng.

Thật vậy:

Năm nay xuân còn trở lại

Người xưa không thấy tới.

Nên cái chia tay đau xót “không cùng.”

Nguyên Sa trong “Tiễn biệt” cũng rất đau trong lặng lẽ:

Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ

Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

Ý “lòng tiễn đưa lòng”, “tôi đưa tôi” quá hay. Đỗ Phủ trong “Xuân vọng” đã viết: ”Hận biệt điểu kinh tâm” (Biệt ly tủi hận đến chim cũng phải đau lòng). Hồ Dzếnh trong “Cảm xúc” cũng không một lời trong buổi chia tay mà vẫn thấy được lòng nhau:

Tôi biết tình cô u uất lắm

Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi.

Hoàng Trúc Ly với “Xuân về” mà:

Những người xưa đi rồi không về nữa

Em bảo anh người đi không trở lại.

Cho nên, họ đến bên nhau thật nghẹn ngào:

Ta đến bên nhau sao chùng bước mỏi

Lời sắp xé môi sao bỗng nghẹn lời.

Chàng Đinh Hùng – bản sao của Xuân Diệu trong “Bài hát mùa thu” cũng một trời xa xót:

Em đi hoài cảm một mình

Hai lòng riêng để mối tình cô đơn.

Lạnh lùng chăng gió tha hương

Em về bên ấy, ai thương em cùng?

Hai câu cuối chạy qua mắt, người viết bất giác… chạnh lòng vì sự ân cần dù chỉ trong tâm tưởng “ai thương em cùng?”. Chua chát quá, đau lòng quá! Cái “sương bám hồn”, “gió cắn mặt” của Xuân Diệu và cái “hạnh phúc ngừng trôi giữa đổi trái tim đau” như có thêm dàn hợp xướng cho cuộc chia ly. Bài thơ, có những câu thơ hay nhất về sự chia ly vẫn là “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:

Đưa người ta không đưa sang sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng.

Bóng chiều không thắm không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Một bài thơ hai mươi sáu câu, riêng bốn câu thơ đầu này là đủ một bài “Tống biệt hành“! Không đưa mà có, không thấm mà đầy gói gọn trong hai chữ “bão lòng” không cần thêm hai mươi hai câu sau. Nó hay ở chỗ: Bối cảnh tiễn đưa (đưa người, đưa ta, đưa lòng), nội tâm xáo động (tiếng sóng lòng), thời gian chiều buồn (bóng chiều, vàng vọt) không gian đầy cô đơn (hoàng hôn trong mắt) quyện lại với nhau, không tháo gỡ nổi!

Làm thơ không nói đau mà người đọc thấy đau, không nói buồn mà ta cảm nhận buồn, không reo vui mà người thưởng thức biết vui, không nói bão mà ta nghe có tiếng sóng: Ấy mới là tuyệt đỉnh của người cầm bút. Cái chất liệu cần cho cái “đỉnh cao xuất thần” ấy vẫn không xa lạ, chúng ở chung quanh ta thôi mà sự quyết định chính vẫn là sự cảm thụ, khả năng rung động của người cầm bút.

Trong lĩnh vực chia tay, Thâm Tâm đã vượt trên hết những bài thơ, những câu thơ tuyệt vời kia. Ngoài ra, còn có một Duyên Anh rất vững thi pháp này. Sự khen ngợi trên có quá đáng chăng? Chờ thời gian xem có những “anh hùng xuất thiếu niên”.

Với bài thơ ”Tan tác” chỉ vỏn vẹn có hai câu này:

Trang tan tác vỡ toang trên cát ướt

Biển nhạt nhòa từng đợt sóng khơi xa…

Hình ảnh của cái ý gì đây? Muôn ngàn ánh trăng trên biển bị sóng dập cho “tan tác” rồi đẩy vào bờ “cát ướt” (khác với cát khô không được tiếp cận với nước biển nữa). “Từng đợt sóng” đi xa, xa mãi đến ”nhạt nhòa” tạo một hình ảnh đối lập. Sự đối lập giữa bờ và sóng, giữa sóng và trăng, giữa bờ và khơi. Trăng không tròn trên sóng, không nguyên vẹn trên cát “tan tác, vỡ toang“. “Bờ cát ướt” không bao giờ gặp được “khơi xa“. Tan tác, nhạt nhòa thêm ba chấm nữa chìm mất tăm một mối tình, một lần tiễn biệt!

Hai câu thơ, hai người viết. Họ là ai mà cũng “bóng chim tăm cá”?

Hình ảnh “bóng chim tăm cá” xưa nay vẫn là nguồn thi liệu cho thơ. Những cánh cò trong gió cũng bổ sung vào nguồn thi liệu này tồn tại mãi mãi như “phút thanh viên Xuân Diệu” đã tuyên bố:

Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào.

Vượt lên trên tất cả là tình yêu vũ trụ bao la, vô tận, vô cùng nhưng buộc kẻ si tình như Xuân Diệu… lạm phát tình yêu tham lam trong”phải nói”:

Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ
Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần.
Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân
Đem chim bướm thả trong vườn tình ái.

…Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ.

Thơ chàng Xuân yêu như thế còn chưa đủ nên phải mượn thêm những tác nhân phụ diễn với những hình ảnh cũng đầy chim, lắm cò của thời “ngựa non háu đá“. Để trở thành một kẻ tiêu biểu cuộc sống không thể thiếu bóng dáng tình yêu, chàng Xuân đã phải lặn lội đi tìm “cái tôi”.

6. Xuân Diệu “đi giữa thiên nhiên” với những ngã rẽ tâm tình:

Trong “Lưu học sinh” (đầu đề cũng hóa búa bắt người ta phải đi tìm Lưu là gì? Chỉ là một người đi học nước ngoài mà thôi) Xuân Diệu đã đi tìm “cái tôi”:

Chàng trai nhỏ nhẹ như tôi ấy

Đi giữa thiên nhiên để kiếm mình.

Nhỏ nhắn” chỉ vóc dáng, “nhỏ nhẹ” chỉ lời ăn tiếng nói. Thế mà cậu quăn này bỏ đại vào thơ. Nếu thơ mà làm bây giờ hẳn nhiều tranh cãi. Một con người nhỏ nhắn, nhỏ bé mà đi giữa thiên nhiên mênh mông mới nổi bật, chứ một kẻ “nhỏ nhẹ” lọt thỏm vào thiên nhiên đâu gây ấn tượng gì? Người nhỏ nhẹ phải đối lập với kẻ ăn to nói lớn mới nổi?! Nhưng, nhỏ nhẹ hay nhỏ nhắn cũng chỉ là một cậu quăn Xuân Diệu mà thôi! Cậu ta “đi giữa thiên nhiên” nghe ngông nghênh lắm với sự khiêm nhường trong hai từ “nhỏ nhẹ” chỉ phẩm chất con người. Kiếm chưa ra cái “tôi” nên… chộp quách mấy con cò. Cò bay nhanh quá chộp không nổi nên… chộp tiếng cò rớt lại, hú hồn, chúng không… ị lên đầu làm… kỷ niệm:

Trong tiếng cò nay vương nắng trưa

Thu sang chim trắng vội bay ngừa.

Cổ dài rẽ biếc kêu vô định

Trở lại bên lòng sợi gió thưa.

(Lưu học sinh)

Bốn câu này đọc lên phảng phất hơi thơ Đường luật thất ngôn với lời lẽ và hình ảnh sống động đi một mạch nghe “xôm” lắm… nhưng (cái thằng phó từ ”nhưng” đáng ghét) khi “bửa ngang” thì ôi thôi một trời để nói: Này nhé: “tiếng cò” là âm thanh con cò nhả ra rồi mất tiêu trong không gian đâu có thể nào đi với “vương nắng trưa” là sắc màu tồn tại? Nên tiếng cò phải được đổi là “sắc cò” mới đi với “vương nắng”. Một đoạn thơ có hai tiếng cò (tiếng cò, kêu) thì dư ra. “Chim trắng bay ngừa” là bay làm sao? (Người ta chỉ nói chích ngừa hay ngừa bệnh, phòng ngừa…). Từ “trưa” đi xuống “ngừa” nặng nề quá thể, trái với cách bay nhẹ nhàng của chim, của cò. Lại nữa: “Cổ dài rẽ biếc kêu vô định”? Dùng từ “rẽ biếc” giết mẹ cái ý thơ hay. “Rẽ biếc” là rẽ làm sao? Vì tiếc ý thơ hay của chàng quăn nên người trò chuyện thơ mới nhảy vào làm “bác sĩ thẩm mỹ viện” (không phải thằng cha bác sĩ thuộc loại này lúc nào cũng… may mắn):

Trong sắc cò nay vương nắng trưa

Thu về, chim trắng vội bay chưa?

Cổ dài đưa tiếng kêu vô định

Bỏ lại bên mình sợi gió thưa!

Ý thơ của chàng quăn là một sự khắc khoải, chưa tìm ra một phương hướng nào mà chỉ có một phương trời vô định qua cái hình ảnh con cò bay trong mùa thu u buồn. Chim, cò không thiếu nhưng mượn chúng để nói chuyện “tâm tình” thì cũng chẳng dễ dàng. Với hình ảnh này, các nhà thơ thời Đường quả không hổ danh sư phụ.

Ta thấy cái “Hận biệt điểu kinh tâm” (Cảm động trước thời thế ấy, hoa rơi nước mắt. Thương hận cảnh biệt ly kia, lòng chim rung động) trong “Xuân Vọng” của Đỗ Phủ, cái “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên” (trăng tà tiếng quạ kêu sương) trong “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế, cái “Tích nhàn dĩ thừa hoàng hạc khứ” (hạc vàng ai cưỡi đi đâu) trong “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu là tuyệt đỉnh.

Ta đọc “Nhất điểu hoa gian minh” (gió xuân đưa tiếng Oanh ca) trong “Xuân Nhật Túy khởi ngôn chí” của Lý Bạch, câu “Lạc hà dữ cô vụ tề phi… Bội ngọc minh loan bãi ca vũ” (Nọ bãi le, kìa nơi bến hạc, giờ còn đâu tiếng ngọc chạm, chuông va) trong “Đằng Vương các tự” của Vương Bột, câu “Vọng đế xuân tâm, thác Đỗ Quyên” ( vọng đế lòng xuân Vọng đế, Đỗ Quyên gởi vào” trong “Cầm sắt“) của Lý Thương Ẩn là tuyệt vời! Thơ của người xưa sao mà ngậm ngùi, mà thoát tục đến thế!

Thời mẹ ru ta trong nôi cũng từng hát:

Chim chuyền bụi ớt líu lo

Nhằm thương quân tử ốm o gầy mòn.

Từ “líu lo” vui bắt chết mà “thương” cái nỗi gì? Thương hại cho cái người quân tử không gặp thời, còn vô định như con cò chao cánh trong thu nên “ốm o, gầy mòn“? Nếu “người quân tử” ấy là chàng Xuân tóc quăn thì cái lý do để kẻ “quân tử” này ốm o chắc hẳn vì yêu quá trời, quá đất! Bài hát “Trái tim còn trinh”- nhạc ngoại, đã giải thích dùm:

Này hỡi con tim xinh xinh

Vì yêu đương quá nên tim xanh xao, gầy còm.

Trái tim “gầy còm” chỉ là một ẩn ý thêm cho một “cái tôi” mà Xuân Diệu đi giữa thiên nhiên tìm kiếm. Tình yêu bất diệt không bao giờ “già” nhưng con người lại thấy mình già đi. Cái tôi đã lẫn vào cái ta của cuộc đời để níu kéo một thời tuổi trẻ. Sắc đẹp là niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ và “những dấu chân chim” trên mặt là nỗi buồn năm tháng của tuổi già, là “niềm đau không thể chôn giấu” của xuân thì! Chàng quăn trên đường đi tìm “tôi” đã sớm nhận thấy điều ấy nên trong“ngẩn ngơ“, chàng xuống bút:

Ta tiếc theo sau những đóa hồng

Những người con gái sớm phai bông.

Hoa nào nở mà không tàn nhưng trong tình yêu, càng né đichữ “già” bao nhiêu thì các chàng đỡ bị… dép guốc bay vô đầu bấy nhiêu. Xuân Diệu buông ra từ “tiếc” với “phai bông“, Nguyễn Tất Nhiên thành thật một cách “ngu ngơ” thả một chữ “già” xuống trong “Hai năm tình lận đận”:

Hai năm tình lận đận

Hai đứa cùng hư hao.

Hai năm tình lận đận

Em đã già hơn xưa.

Nếu được cũng nên chửi cho đã: “Hai năm tình lận đận. Anh… ngu như bận nào!!”. Thiên hạ sợ chữ “bạc đầu” hơn sợ khốn khó. Đàn bà “kinh hãi” chữ ”già”, đàn ông ngán ngẩm chữ ”suy”! Cái tôi hay cái ta gì cuối cùng cũng bị… ném vào chữ già và bị chữ “già” nuốt trọng.

Đỗ Phủ trong “Xuân vọng” đã than:

Bạch đầu trao cánh đoản,

Hồn dục bất thăng trầm.

(Ðầu bạc, xoa thấy càng lưa thưa. Coi bộ không đủ dày để cài trâm).
Đặng Dung trong “Cảm hoài” cay đắng:

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma.

(Thù nước chưa xong đầu đã bạc. Mấy độ gươm mài dưới ánh trăng).

Lê Đạt với “Gốc khế” kêu:

Người yêu anh đốm bạc.

Tóc khế xanh đầu hè.

“Đốm bạc” hay “bạc đầu” cũng:

Theo sông vào trăm sóng

Sóng như ta bạc đầu.

trong “Một thuở buồn như sông” của Hoàng Chính Nghĩa nhẹ nhàng hơn chữ “già”. Ngay cả T.T.Kh trong “Bài thơ thứ nhất” cũng “né” chữ “già” khi nói về người chồng với một từ ”luống tuổi”:

Biết đâu… tôi: Một tâm hồn héo

Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

Nhưng một số người tự nhận mình “già” với “cái tôi” xa xót, kiểm điểm cuộc đời mình như một con số không!:

Con số có tên, kiếp người có tuổi

Anh già rồi chối bỏ tên anh.

(Môi giới – Hoàng Trúc Ly)

Với Nguyễn Khuyến chữ già như một niềm riêng đắng lòng trong “Tự thuật”:

Sách vở ích gì thời buổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.

Nói gì thì nói, “già” vẫn có cái tự hào của “Gừng càng già càng cay” với những câu độc đáo:

Trăng bao nhiêu tuổi trăng tròn

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?

Người ta mấy tuổi là non

Tuổi con thêm mấy tuổi son rằng già?

Câu hỏi không cần lời đáp này đã ủng hộ cho cái hương vị cuộc đời mà “Tình yêu” là đại biểu trẻ mãi không già! Khi người ta hát, một chữ “già” lại trở thành lời tự tình, nịnh đầm ngọt nhất, khôn ngoan nhất mà cũng “thật lòng” nhất dành cho người tri kỷ:

Vẫn biết trên cõi đời tình yêu đến như cơn mơ thoáng qua…

Vẫn biết em không già đi trong lòng anh?

(Tình băng giá. Nhạc Hoa, Lê Quốc Dũng)

Chàng quăn cũng trở lại chữ già cần thiết trong ”giục giã”:

Mau lên chứ, vội vàng lên đi chứ

Em, em ơi, tình non đã già rồi.

Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi

Mau lên chứ, thời gian không đứng đợi.

Một cái nhìn của người sống hết mình với tình yêu, sống bằng tình yêu và… đói thì cũng… gặm tình yêu nhai đỡ! Vì sao phải hối vội vàng?Vì sao phải giục vội vã? Chưa thấy bình minh đã thấy trời hoàng hôn! Chưa ngắm hoa nở đã ngỡ hoa tàn! Chưa nhìn tận nhau đã biết tới ngày ly biệt! Xem ra, kẻ này chắc… bệnh trong tư tưởng nhiều hơn hưởng xuân thì! Tình non mà đã già là trái chín háp rồi còn gì!

Tóm lại, chàng không có lòng tự tin nếu không nói là… ham ăn, háu uống! Người phong lưu thì cho chàng biết cách ”hưởng thụ”. Thật vậy, các nàng như bông hoa hàm tiếu trong sương, như đóa hồng trong bình minh dậy, bóng chiều tàn, như cành Lan chỉ nở trong lòng… Điệp, như hoa Quỳnh trong đêm ngắn tàn phai! Không nhanh đi chứ, không vội vàng lên đi chứ cho đàn ông… thưởng thức thì tự mấy bà… bỏ phí tuổi xuân mấy bà đấy! Uổng! Nâng niu, quý trọng xuân sắc mấy bà thì chỉ có những kẻ biết yêu như chàng quăn mới vậy thôi đấy! Thậm chí, gã si tình Xuân Diệu cũng… rộng lượng… cho qua chỉ số nợ lút cán của mấy bà dù mấy đóa hồng này đã bay đi tìm lối mộng khác:

Anh tưởng em là của anh rồi

Em mắc nợ, anh đòi em sao được?

Từ thiện vậy còn gì hơn nữa? Cao thượng quá rồi còn gì? Trong khi đó, người đời cười như điên:

Bắt thang lên hỏi ông trời

Tiền cho gái hỏi có đòi được chăng?

Trời già dê mới nói rằng:

Tao còn mắc nợ huống chăng là… mày!

Tiền đi với tình. Tiền là lao lực. Tình là lao tâm. Một trong hai cái đó không trọn vẹn thì tình có tràn như biển Thái Bình, tiền có cao như núi Thái Sơn cũng sứt mẻ hết trơn. Thành ra, chim bay biển bắc, anh tìm biển đông! Cuối cùng, người thấu hiểu cho người là ở chỗ làm một kẻ quân tử dù bị phụ phàng, không hề oán giận:

Lòng ta là một cơn mưa lũ
Đã gặp lòng em là lá khoai.
Mưa biết tha hồ rơi hạt ngọc
Lá xanh không ướt đến da ngoài
.
Ngày mai nắng mọc, mưa rơi hết
Mặt tạnh cơn si, lòng cạn hồ.
Ta sẽ thôi yêu như đã giấu
Không hề oán hận lá khoai khô.

Vậy là mang ”tâm Phật” rồi đó! Chúc mừng người đã đắc đạo. Bỏ xuống một chữ YÊU, không giữ trong lòng một từ HẬN, coi như… phủi tay cuộc tình ta đầy ”cơn mưa lũ” để chỉ nhận tình em ”là lá khoai” như ”nước đổ đầu vịt, nước đổ lá khoai” vô cảm, vô tâm để ta rảnh rang mà… yêu người khác vì làm sao sống được mà không yêu! Hà! Cho em… già héo cho chừa em ơi!
Phải nói chàng quăn đã khôn ngoan, thận trọng với hình ảnh “phai bông” so với chữ “già” tàn nhẫn! Đó cũng là một cảm xúc trong muôn vàn cảm xúc của người mang đầy hồn thơ. Chàng thanh niên đi tìm cái “tôi” giữa thiên nhiên để rồi trở thành nhà thơ có tên tuổi hồi nào chẳng rõ. Cái “cảm xúc” của thi sĩ tất nhiên từ thiên nhiên:

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây.

Để linh hồn ràng buộc với muôn dây

Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.

                                      (Cảm xúc)

Bài thơ này mấy chục năm trước đã bị thiên hạ “phanh thây, mổ bụng” và lũ học trò beo nào cũng phải thuộc ít nhất hai câu đầu để minh họa cho phần văn học lãng mạn bị kết án là… vô tích sự trong truyên tuyền cách mạng! Nhưng thơ mà bị ngắt để phân tích chẳng khác nào tôm sú bị bóc đầu! Cái “vớ vẩn” trên là để nói cái bay bỗng của hồn thơ. Làm thơ không “bay bỗng” thì thành… thợ thơ.

Câu: “linh hồn ràng buộc với muôn dây” đã gắn ”cái tôi” trong “cái ta” với trăm ngàn mối quan hệ xã hội. Câu “chia sẻ bởi trăm tình yêu mến” là cái Hồn” của nguyên bài “Cảm xúc“. Nó lãng mạn thật nhưng cái lãng mạn này có nguồn gốc từ tính Người. Thưởng thức Thơ không đứng trên cái nền “trăm tình yêu mến” ấy chẳng khác nào xây cái nhà lầu trên cát mà thôi! Thơ không mang đôi cánh lãng mạn thì không còn là thơ nữa mà chỉ là:

Con mèo, con chó có lông.

Cây tre có mắt, nồi đồng có quai.

Quải!

Bởi vậy, con người nặng nợ với thơ luôn đầy ắp ước mơ. Con người bình thường nặng chữ “Tham” thì ham muốn trúng độc đắc, mơ lượm được cục vàng bự bằng… đầu gối!! Con người thơ ca thoát tục, chỉ ước ao như Xuân Diệu:

Không có cánh nhưng vẫn thèm bay bỗng

Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời.

Tuy có chút vớ vẩn thật nhưng là cái “vớ vẩn” cần có của thơ ca. Một “vớ vẩn” dễ yêu không có gì mà bị dạt qua một bên, nấp một xó mà chờ nghe định tội. Sự định tội của cái ”lưỡi không xương” thì người bị tội cũng không có gì mất giá mà người định tội cũng chẳng được tiếng hay ho!

Con người không nuôi ước mơ thì nhân loại trí tuệ nghèo nàn, tâm hồn trầm mặc, sống với thời ăn lông ở lỗ, có biết đâu thiên đàng, biết đâu địa ngục! Các nhà bác học, khoa học gia, nhân chủng học, thiên văn học, vạn vật học, vật lý học… đã trở thành vĩ đại không phải đã từng nuôi ước mơ từ trong trứng nước mà ra hay sao? Càng nhiều mơ ước, càng tiếp cận với đời mới thấy mình chỉ là bé nhỏ, cái tôi bé nhỏ này của Xuân Diệu cũng từ “cảm xúc” mà ra:

Tôi chỉ là cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn lá nam châm.

Cách nói giảm khá chỉnh của “tôi” (cây kim) gặp lực hút vạn vật (đá nam châm) để ôm vào lòng cái khôn khiêm tốn bằng bốn mươi lần tự kiêu. Bởi vậy, chàng tóc… quăn bao giờ cũng “khôn” ghê gớm! Chàng quăn này không biết hồi ở phổ thông học vật lý được mấy phẩy mà thuộc lòng “Định luật vạn vật hấp dẫn” của Niu-Tơn (Isaac Newton) mang cả vào thơ… hù mấy “cây kim bé nhỏ” khác?

“Tôi đi tìm tôi” với cây kim bé nhỏ mà vạn vật hút tôi trở thành cái “ta” ưỡn ngực lên tí nữa trong “Hy mã lạp sơn”:

Nghìn thế kỷ đã theo nghìn thế kỷ

Ta đứng đây để thấy triệu mặt trời.

Tắt và nhen và phân phát cho đời

Những thời tiết tái tê hay ấm áp.

Sự oai phong hùng dũng theo thời gian “nghìn thế kỷ” gặp độ phóng đại “kính thiên văn học” nhìn thấy tới “triệu mặt trời“! Ôi chao! Một mặt trời đủ sống không nổi nếu hắn nỗi điên, triệu triệu nữa cái núi nhà mi có tồn tại để “ngóng cổ” nhìn trời đất chăng? Chàng quăn lại chen vào hai liên từ “và” trong cùng một câu thơ xem ra… dư nhưng cái ý chính là chàng đã thấy được chu kỳ hoạt động của vũ trụ, cũng sẽ thấy được loài người ấm, lạnh như thế nào! Chính hai câu dưới đây đã đẩy chàng quăn vào ”lò luyện kim” cách mạng:

Ta là một là riêng là thứ nhất

Không có ai bè bạn nổi cùng ta.

Thật ra, trên trái đất có ngọn núi nào cao hơn ngọn núi này mà không “thứ nhất”! Nghĩa thật đúng phóc còn nghĩa bóng thì cho mày cô đơn trong tù đơn côi suốt đời cho chừa cái tật kiêu ngạo. “Một” đã là “thứ nhất” rồi còn thêm “riêng” làm chi nữa thành ra ý tự tách mình khỏi tập thể cho cô đơn? Ta bỏ đời nên đời cũng bỏ ta! Chàng quăn đánh võ mồm cho cố mà cuối cùng cũng chúi mũi vào giấy viết lấy, viết để bởi “làm sao sống được mà không yêu, không nhớ không thương một kẻ nào” khi vạn vật là nam châm hút cây kim bé nhỏ!

Tình yêu sợ nhất dối trá và hờn ghen. Cuộc đời sợ nhất là sự già cỗi trong cô đơn. Khi người ta thấy buồn, đau khổ là đã thấy cô đơn đi kèm.Trong bài “Chiều” tặng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, chàng quăn bộc bạch:

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều

Lòng không sao cả chỉ hiu hiu buồn.

Cái buồn vô cớ của chàng quăn là cái buồn có cớ của chàng Kim tương tư Kiều:

Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương

Phất phơ hồn của bông hường

Trong hơi phiêu bạt còn vương má hồng.

Cái “tôi” của cánh chim giang hồ ”phiêu bạt” gặp áng mây mờ trôi phất phơ mà buồn tình. Xuân Diệu buồn tình vơ vẩn, bâng quơ. Chế Lan Viên buồn trong cái buồn “thương tiếc dân Hời” dù mình chẳng có chút dòng máu Hời nào cả! Chàng vật vã với “cái tôi” trong bài“Xuân”:

Tôi có chờ đâu có đợi đâu

Đem chi xuân lại chỉ khơi sầu

Với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

Chộp được bốn câu này, người ta vội vã bỏ vào nhóm “tiêu cực” ngay mà không thấy rằng cái tiếng kêu “vô nghĩa” lại bắt đầu từ nỗi nhớ nước đến nỗi con cuốc cuốc còn đau lòng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan trong bài thơ độc đáo ”Qua đèo ngang”:
Qua đỉnh đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
huống hồ là người trong cuộc như Chế. Cái “vô nghĩa” lại là “rất có nghĩa” của một tâm hồn yêu nước đó. Tiếng lòng này đáng trân trọng quá. Sự“khổ đau” này đáng cho ta thắp một nén hương… Cái đau của kẻ mất nước khi đem vào thơ yêu cũng đầy cái “tôi” tuyệt vọng:

Nàng hỡi nàng! Trên tay ta là mộ trống

Trong lòng ta là huyệt bỏ, với trong hồn.

(Mồ không – Chế Lan Viên)

Cho tới một Bộ trưởng Bộ văn hóa, văn nghệ từ năm 1945 và là một trong những ngòi bút xuất sắc của phong trào “Thơ Mới”, Huy Cận đi tìm cái “tôi” cũng đã long đong, lận đận:

Chàng trai gối mộng trên trang sách

Tỉnh thức, mùa xuân rụng hết hồng.

                                              (Buồn)

Mùa xuân có chữ “hồng” là nhựa sống, là tinh hồn và điểm tựa. Xuân “rụng hết hồng” thì chỉ còn lại số không! Nhiều người nói đến chữ “tôi” để bộc lộ “cái tôi” như đang tự viết “bản kiểm điểm” (trừ những bản tự cho “điểm” nhiều hơn là “kiểm”!) nhưng không phải để “nhận tội” (có tội gì mà nhận?) mà là để tự khẳng định mình hơn. Du Tử Lê trong “Giao khúc tháng sáu” đã cho rằng:

Tôi từ đó nhỏ nhoi như châu chấu

Như cào cào vỗ cánh chả bay xa.

Lỳ đòn:

Như rêu xanh ôm đá tảng

Khinh loài người nên chọn kiếp vô tri.

Những hình ảnh: “một bóng mây, chuồn chuồn, chiếc lá, như bọ ngựa, như củi mục…” sao mà “khập khừ” y như gã “võ sĩ bọ ngựa” của Tô Hoài! Chàng Du này cũng để thời gian trôi tuồn tuột đi trong những kiếp phiêu bồng như loài côn trùng tách hẳn ra thế giới loài người và ta cho chàng làm thêm kiếp… thằn lằn, tắc lưỡi: “Chợt nhớ ra từ lâu đã già trước tuổi”!

Thế mới hay Xuân Diệu “kiêu” cho hung rồi cũng cô đơn. Chế Lan Viên “tiếc” cho cố rồi cũng tiếc trong cô đơn. Huy Cận “mộng” cho đã rồi cũng “mộng” trong cô đơn. Du Tử Lê “vô tri” chai đá rồi cũng vô tri trong cô đơn. Duyên Anh càng khẳng định nỗi cô đơn đó trong “Khai bút”:

Rượu xuân mừng chén lênh đênh

Nghìn năm sau vẫn một mình mình thôi.

Sau những yêu đương cuồng nhiệt của Xuân Diệu thì ta lại thấy chàng quay về với tiếng lòng thật của mình bằng những nỗi buồn như có cánh bay lên:

Những chiều thu góp lạnh giữa mù sương

Những đêm đông giạt bước ở bên đường.

Gió khuya khắt dậy con buồn lá uá

Sao rải rác như lệ vàng đêm nhỏ

Mưa lơ phơ như dạ khúc âm thầm.

                                                (yêu mến)

Không gian (chiều mùa thu lạnh, đêm đông giạt bước), vũ trụ (gió lạnh, sương mù, lá úa, sao rải rác, mưa lơ phơ) bao trùm con người nhỏ bé (lệ vàng, âm thầm khúc). Đem cái số đông của tác nhân thiên nhiên để đối lập với con người chỉ một mà lại ẩn hình để nói cái ý hiện hình buồn như thu tàn, như đông lạnh như sao cô đơn như mưa lớt phớt. Tất cả cuộn lại thành khúc tình buồn! Ai hát dùm Xuân Diệu khi xót xa? Nỗi xót xa được thực tế minh chứng trong bài ”Khung cửa sổ”:

Anh có nhà có cửa
Nhưng không vợ không con
Sợ cái bếp không lửa
Sợ cái cửa không đèn.
Ôi cái khung cửa sổ,
Của kiếp anh, đời anh!
Tay em không đến mở
Thôi còn gì tươi xanh?

Có lẽ, đây là bài thơ miêu tả hiện thực cuộc sống trần trụi, cô đơn trong hy vọng duy nhất của Xuân Diệu. Khi người ta thiếu cái gì thì người ta ao ước cái đó. Phải chăng vì Xuân Diệu đã không hề có được một tình yêu bình thường chân thành nên ước mơ yêu đương trong thi nhân đã trở thành sự yêu đương thần thánh? Anh là khung cửa sổ. Mở ra hay khép lại cũng chỉ là vô nghĩa, làm sao mà ”tươi xanh” khi không có em tức là có một tình yêu thật sự ngự trị!

Cuối cùng, người si tình cũng chỉ ”ao ước” như Tế Hanh:
Nếu em chết, chắc là anh có thể
Tỏ mối tình lặng lẽ quá sâu thâm:
Anh đến nơi em nghỉ giấc ngàn năm
Ngồi điên dại sầu như cây liễu rủ.

Anh không uống, anh không ăn, không ngủ,
Anh khóc than, than khóc đến bao giờ.
Nước mắt anh lầy lội cả nấm mồ
Nhỏ từng giọt xuống thân em lạnh lẽo.

Rồi anh chết, anh chết sầu, chết héo;
Linh hồn anh thất thểu dõi hồn em.
Đời thiếu hẳn lý tưởng sống, thiếu vắng cái hương vị tình yêu, con người rơi vào hố thẳm của cùng cực cô đơn. Tình yêu chân thật là liều thuốc sống, là cái vuốt mắt êm dịu cuối cùng cho người nằm xuống không còn vướng vấn cái danh hời! Yêu và được yêu là cái “tôi” cuối cùng còn lại cho người mang theo sang bên kia thế giới!

II. Kết:

Nhận xét về thơ tình của Xuân Diệu, Lưu Khánh Thơ trong ”Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam”, Nxb ĐHSP – 2004, trang 812 có viết: ”Cái rạo rực của tình yêu trong thơ Xuân Diệu là cái rạo rực của một con người ham sống, ham yêu” nhưng xét về mặt nghệ thuật, Lưu Khánh Thơ ca ngợi thơ Xuân Diệu đạt đến chất lượng tuyệt hảo với ”những hình ảnh được trau chuốt, giọt giũa kỹ càng, câu văn giàu nhạc điệu” thì cần xem lại. Tuy nhiên, là người được coi là điển hình của phong trào Thơ Mới, ”Xuân Diệu là thành viên của Tự lực văn đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào Thơ Mới”, Xuân Diệu đã mang lại cho nền thi ca Việt Nam những sắc màu huyền diệu của tình yêu không lẫn lộn với bất cứ nhà thơ nào cùng thời đại.

Chỉ riêng ”Hai tập ‘Thơ thơ’ và ‘Gửi hương cho gió’ được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống”. (Huy Cận, tháng 4 năm 2000) (vi.wikipedia.org).

Xuân Diệu với những ngã rẽ bao gồm sáu tính cách khó phân biệt trên (kẻ thương chịu khó, người yêu đa tình, lúc tột đỉnh yêu sinh ra cắn giết và hối hận tột cùng, khi ghen say đắm nghiệt ngã, một phát ngôn cho lẽ sống yêu của cuộc đời) cuối cùng, quay về với nỗi buồn muôn năm khi đã đi tìm cái tôi vinh quang và cô đơn, cuối cùng đã đưa tình yêu từ đơn giản đến phức tạp (là yêu giữa người khác giới thính và đồng giới tính). Sự đơn giản và phức tạp này cần có trong cuộc đời vì nó đã mang hương vị tình yêu đầy sắc màu đến cho cuộc đời, cho văn học. ”Thơ Xuân Diệu là ‘vườn mơn trớn’, ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị trong Thơ Thơ, pha lẫn chút vị đắng cay trong Gửi Hương Cho Gió. Nhiều câu nhiều bài chịu ảnh hưởng từ thi ca lãng mạn Pháp” (thovn.net).

Dòng thơ tình yêu vẫn lặng lẽ trôi cho ta cái cảm giác chạm tay vào dòng nước thật mạnh mẽ và thật nhẹ nhàng, êm ái. Xuân Diệu với những ngã rẽ đã soi bóng mình xuống dòng sông và tắm mình trong dòng sông đầy phù sa này. Cát sạn, bùn đen sẽ lắng và dòng đời cứ lặng lẽ trôi…

Xuân Diệu – Trảo Nha hày chàng quăn, chàng quắn xứ Rùa đã từng say đắm và cùng với bạn thơ – những ngã rẽ tâm tình không giai cấp, không tước vị, không danh hời quên đi nỗi cô đơn trong một cuộc sống không gia đình, không con cái mà vẫn yêu, yêu tha thiết cho đến bạc đầu, yêu đắm say cho đến khi về bên kia thế giới!

Ngưỡng mộ quá! Ta bỗng nhiên ước muốn làm “bờ cát trắng” chờ từng cơn ”sóng biển” hôm nao…

Dòng thơ tình yêu với hơn bốn trăm bài – một mảng nhỏ trong gia tài thơ văn của Xuân Diệu với ca dao đi cùng dòng thơ nhạc của anh em, bè bạn “nghìn thế kỷ đã theo nghìn thế kỷ” không cô đơn!./.

Tháng 11/24/2004

Ngọc Thiên Hoa

TƯ LIỆU THAM KHẢO CÓ SỬ DỤNG:

I. Thơ: Thơ Xuân Diệu (Tuyển tập Xuân Diệu, Nxb HNV – 1983). Thơ Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên, Bàng Bá Lân, Chế Lan Viên (Điêu tàn, Nxb HNV – 1995), Hồ Drếnh, Vũ Hoàng Chương, Quang Dũng, Đoàn Phú Tứ, Đinh Hùng, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hoàng Trúc Ly, Nguyễn Khuyến, Xuân Quỳnh, Thâm Tâm, Hoàng Chính Nghĩa, Du Tử Lê, Trần Dạ Từ, Bà Huyện Thanh Quan, Đỗ Phủ,Trương Kế, Thôi Hiệu, Lý Bạch, Vương Bột, Lý Thương Ẩn.

II. Nhạc và những tư liệu khác: Trịnh Công Sơn, Ngô Thuỵ Miên, Phạm Duy, Nguyễn Ánh 9, Nhạc Hoa (music.com)…

III. Bài viết, sách:

1. Lưu Khánh Thơ “Xuân Diệu…” (Từ điển, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam”, Nxb ĐHSP – 2004).

2. ”Đường thi tuyển dịch” (Trương Đình Tín, Nxb Thuận Hóa – 2003).

3. Xuân Diệu và Huy Cận là hai nhà thơ đồng tình luyến ái”, Minh Nguyệt (tienve.org).

IV. Web site đăng trích:

http://www.vi.wikipedia.org/ vietnamthuquan.com/ vhvn.com/ vnmusic.com/ baoanhdatmui.com/ hoahoctro.com/ vietanamsigle.com/ thovn.net/ eVan.com/ nhanmonquan.net/ ykien.net/ annonymous.online/ hoasontrang.us/ pkucn.com/ tienve.org/ chimviet.free.fe/…

Xin trân trọng cám ơn.

Quảng cáo/Rao vặt

%d bloggers like this: