Bài mới

VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ)

1LỜI GIỚI THIỆU

Với Việt Nam lục bát sử, nữ tác giả đa tài Ngọc Thiên Hoa lại đem đến cho độc giả một bất ngờ thú vị. Bất ngờ vì lâu lắm rồi mới lại có người để mắt tới Sử ca, bằng một tác phẩm đồ sộ vào loại bậc nhất thuộc thể loại này. Không kể đến những tác phẩm diễn ca từng đoạn lịch sử hay từng nhân vật, mà hãy đem so sánh với Đại Nam quốc sử diễn ca, một công trình quy mô của rất nhiều người, qua nhiều đời để cuối cùng được cho là của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, xuất bản bởi hiệu Trí Trung Đường tại Hà Nội năm 1870 cũng chỉ với 2054 câu lục bát. Trong khi đó Việt Nam lục bát sử, của riêng Ngọc Thiên Hoa, có độ dài tới gần 5000 câu lục bát. Biên niên sử trong Đại Nam quốc sử diễn ca từ thời Hồng Bàng đến hết đời vua Lê Chiêu Thống. Trong khi đó Việt Nam lục bát sử cũng từ thời Hồng Bàng kéo dài cho đến khi thực dân Pháp hoàn thành việc biến toàn cõi Việt Nam thành thuộc địa của họ những năm đầu thế kỷ XX, tức là dài hơn khoảng gần 300 năm.

Nhưng dài ngắn chưa phải là điều đáng nói.

Bám sát vào nguồn sử liệu là cuốn Việt Nam sử lược (VNSL) của Trần Trọng Kim, điểm đáng nói nhất của Việt Nam lục bát sửchưa phải là hàng ngàn câu lục câu bát rất nhuần nhuyễn về vần điệu, mà trước hết là ở khả năng tải theo các sự kiện lịch sử của những câu thơ có vần rất dễ nhớ ấy. Cũng nhằm diễn ca lịch sử, nhưng khi đọc Đại Nam quốc sử diễn ca người ta thấy giá trị sử học quá mờ nhạt so với giá trị văn học. Các sự kiện trong đó – có thể do mục đích sáng tác của các tác giả – chỉ là cái cớ. Vì thế nhiều khi chúng bị kéo dãn hoặc dàn mỏng ra, đóng vai trò thứ yếu. Chúng ta không bàn điều đó là hay hay dở, nhưng với mục đích truyền bá kiến thức lịch sử bằng văn học (cụ thể là bằng thơ lục bát) thì có thể khẳng định ngay rằng Việt Nam lục bát sử hiệu quả hơn, tiện dụng hơn cho người muốn nhớ sử. Tức là văn học đựơc sử dụng như một phương tiện để tải lịch sử. Có thể vì thế mà trong Việt Nam lục bát sử các sự kiện lịch sử được dồn nén, cô đọng tới mức tối đa, để trong một câu 6 hay 8 chữ, cung cấp được nhiều tư liệu nhất – và đó cũng là điểm độc đáo thú vị của cuốn sách. Chẳng hạn một đoạn rất dài trong VNSL như sau:

Nhà tiền Lý (544-602): 1 – Lý Nam Đế; 2 – Triệu Việt Vương; 3 – Hậu Lý Nam Đế.

  1. Lý Nam Đế (544-548): “Năm Tân Dậu (541) là năm Đại Đồng thứ 7 đời vua Vũ Đế nhà Lương, ở huyện Thái Bình có một người tên là Lý Bôn, tài kiêm văn võ, thấy nước mình, trong thì quan lại Tàu làm khổ, ngoài thì người Lâm Ấp cướp phá, bèn cùng với những người nghĩa dũng nổi lên, đánh đuổi Tiêu Tư về Tàu, rồi chiếm giữ lấy thành Long Biên. Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu. Tổ tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ là bảy đời, thành ra người bản xứ. Khi chiếm giữ được đất Giao Châu rồi, ông sửa sang mọi việc, định lập nghiệp lâu dài. Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước. Năm Giáp Tý (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức, rồi phong cho Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, và Phạm Tu là tướng võ. Năm Ất Sửu (545) vua nhà Lương sai Dương Phiêu sang làm thứ sử Giao Châu, và sai Trần Bá Tiên đem quân sang đánh Nam Việt. Lý Nam Đế thua phải bỏ thành Long Biên chạy về giữ thành Gia Ninh (huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên). Trần Bá Tiên đem quân lên vây thành Gia Ninh, Lý Nam Đế chạy về giữ thành Tân Xương, tức là đất Phong Châu cũ thuộc tĩnh Vĩnh Yên bây giờ. Nhà Lương lại tiến lên đuổi đánh, Lý Nam Đế thấy thế mình yếu, chống không nổi, mới rút quân lên đóng ở động Khuất Liêu (thuộc đất Hưng Hóa), để đợi thu xếp được quân sĩ lại ra đánh. Được non một năm, Lý Nam Đế đem hai vạn quân ra đánh nhau với Trần Bá Tiên ở hồ Điển Triệt (?), lại thua. Lý Nam Đế bèn giao binh quyền lại cho tả tướng quân Triệu Quang Phục chống nhau với quân nhà Lương rồi trở về Khuất Liêu. Triệu Quang Phục là con quan thái phó Triệu Túc người ở Châu Diên (Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên) theo cha giúp Lý Nam Đế lập được nhiều công, nay đem quân chống cự với nhà Lương được ít lâu, rồi sau thấy thế quân Tàu còn mạnh, địch không nổi, bèn rút quân về Dạ Trạch. Dạ Trạch là chỗ đồng lầy, chung quanh cỏ mọc như rừng, ở giữa có bãi cát làm nhà ở được. Triệu Quang Phục vào ở đấy, ngày nấp ẩn, tối thì cho lính chở thuyền độc mộc ra đánh quân của Trần Bá Tiên, cướp lấy lương thực về nuôi quân sĩ. Trần Bá Tiên đánh mãi không được. Người thời bấy giờ gọi Triệu Quang Phục là Dạ Trạch Vương” (tusach.vietnhim.com). Đã được Ngọc Thiên Hoa tóm lảitong một đoạn thơ rất dễ nhớ:

NHÀ TIỀN LÝ  (544-602)

  1. Lý Nam Đế (544-548):

Giao Châu thóc chín lưng chừng

Thân trâu, kiếp ngựa vang lừng trống khua.

Ngoài biên, giặc Tống hơn thua

Bên trong, Lâm Ấp vào mùa phá ranh.

Bên Tàu, lưỡng thổ phân tranh

Tề vừa phế Tống, Lương thanh toán Tề.

Tham tàn thái thú, người ghê

Hùng tâm, Lý Bí giương cờ diệt gian.

 

“Vạn Xuân” thoát cảnh lầm than

“Thái bình thiên đức”, xua tan bóng tà.

Bình minh chiếu sáng sơn hà

Thanh bình tự chủ như là đến phiên!

 

Nghe qua, Lương Đế đảo điên

Xua quân lấn chiếm, Bá Tiên phụng quyền.

Thua đi, thắng lại truân chuyên

Lý Bôn quyết định trao quyền Triệu Vương.

Còn đây là một đoạn khác trong VNSL:

Lịch Triều Lược Kỷ: 1. Nam-triều Bắc triều; 2. Trịnh Nguyễn phân tranh

Nước Nam ta từ khi Ngô Vương Quyền đánh đuổi được quân Nam-Hán, vua Đinh Tiên-Hoàng dẹp yên được loạn Thập-nhị Sứ-quân lập thành một nước tự-chủ, đời nọ qua đời kia kế truyền được non 600 năm. Đến đầu thập-lục thế-kỷ, bởi vì vua nhà Lê hoang dâm vô độ, bỏ việc chính-trị đổ-nát, cho nên trong nước loạn-lạc, nhà Mạc nhân dịp mà làm sự thoán-đoạt. Nhà Lê tuy đã mất ngôi, nhưng lòng người còn tưởng nhớ đến công-đức của vua Thái-tổ và vua Thánh-tông, cho nên lại theo phò con cháu nhà Lê trung- hưng lên ở phía nam, lập ra một Triều-đình riêng ở vùng Thanh-hóa, nghệ- an để chống nhau với nhà Mạc. Ấy là thành ra Nam-triều và Bắc-triều; hai bên đánh nhau trong năm sáu mươi năm trời. Đến khi nhà Lê nhờ có họ Trịnh giúp rập, dứt được nhà Mạc, tưởng là giang-sơn lại thống-nhất như cũ, ai ngờ họ Trịnh và họ Nguyễn lại sinh ra lòng ghen-ghét, gây nên mối thù-oán, rồi mỗi họ hùng-cứ một phương, chia nước ra làm hai mảnh: họ Nguyễn giữ xứ Nam, họ Trịnh giữ xứ Bắc, mỗi họ chiếm-giữ một Xứ để làm cơ-nghiệp riêng của mình. Từ đó giang-sơn chia rẽ, Nam Bắc phân tranh, ấy là một thời-đại riêng trong lịch-sử nước ta vậy. Nhà Hậu-Lê từ khi trung-hưng lên, con-cháu vẫn giữ ngôi làm vua, nhưng quyền chính-trị ở cả họ Trịnh. Còn ở phía nam thì từ sông Linh-giang trở vào là cơ-nghiệp của họ Nguyễn. Tuy vậy, hai họ chỉ xưng chúa, chứ không xưng vua, và bề ngoài vẫn tôn-phù nhà Lê. Sau này ta hãy chép tóm cả các đời vua và các đời chúa để cho rõ sự kế truyền. Còn những công-việc về thời bấy giờ thì ta sẽ bàn riêng rẽ từng mục cho rõ-ràng” (tusach.vietnhim.com).

Khi chuyển sang Việt Nam Lục Bát sử của Ngọc Thiên Hoa, trở thành:

NHÀ HẬU LÊ 

Thời phân tranh (1533-1788)

Chương I:

Lịch triều lược kỷ.

Nước Nam một cõi biển Đông

Ngô Vương đuổi Hán uy phong lẫy lừng.

Tiên Hoàng dẹp loạn sứ quân

“Quan quang thượng quốc” vào chừng sáu trăm.

 

Hậu triều Lê quá hoang dâm

Để cho họ Mạc ngấm ngầm cướp ngôi.

Phục hưng Lê cũ xa rồi

Lê Trung Hưng mới chia đôi nước nhà.

Lẽ dĩ nhiên mỗi loại hình có ưu thế và hạn chế riêng của nó, không thể cái này thay thế cái kia. Nhưng chỉ riêng việc nỗ lực làm cho người đọc hào hứng học lịch sử, khơi gợi ở họ những cảm hứng và nhu cầu tìm hiểu sâu hơn về quá khứ cũng đủ thấy tấm lòng của tác giả đối với lịch sử nước nhà, với thế hệ trẻ nhất là khi dạy và học lịch sử đang trở thành vấn nạn của hệ thống nhà trường phổ thông hiện nay.

Một điểm đáng nói khác là tác giả cho người đọc hình dung bao quát về một đất nước Việt Nam ở tất cả các yếu tố tạo ra nó, chứ không chỉ ở việc liệt kê các sự kiện lịch sử như trong phần lớn tác phẩm diễn ca khác, kể cả Đại Nam quốc sử diễn ca .

Tuy nhiên, Việt Nam lục bát sử không chỉ có vậy. Chẳng hạn trong suốt gần 5000 câu, ta luôn phải sống với nhiều trạng thái tình cảm: Niềm tự hào, nỗi thán phục, sự phán xét nghiêm khắc, niềm thích thú hoặc buồn đau cũng như những mỉa mai cay đắng…tương ứng với các sự kiện lịch sử hay cuộc đời của những nhân vật. Tức là tác giả đóng luôn cả vai trò “Thái sử công” bằng vị thế của một thi sĩ! Và những lời bình ấy thường lại là những gì khiến độc giả thấy thú vị nhất vì tính sắc sảo và hóm hỉnh. Nó cho thấy tác giả rất giỏi làm “sống lại thời cuộc” cũng như khả năng cao tay khi sử dụng ngôn ngữ đầy biến hoá. Nhưng trong khuôn khổ một bài giới thiệu, chúng tôi không thể lạm dụng làm mất thì giờ quý báu của bạn đọc. Vả lại chính bạn đọc sẽ nhanh chóng kiểm nghiệm điều đó. Xin cảm ơn tác giả và xin vui mừng giới thiệu Việt Nam lục bát sử mà theo chúng tôi là một cuốn sách quý – với xa gần.

Ban biên tập

VIỆT NAM LỤC BÁT SỬ                                           

LỜI MỞ:

Đây lời sông núi, hồn dân tộc

Bài học muôn đời nhắc cháu con.

       Dòng thời gian trôi qua. Bánh xe lịch sử đã, đang và sẽ mãi quay trong đẫm đầy nước mắt lúc chia cắt hay xiết đổi vui mừng khi xum họp. Ai đã từng được sinh ra và lớn lên trên đất nước hình chữ S, dù đi đâu hay ở nơi phương trời xa xôi nào đó thì trong mình vẫn chảy chung dòng máu Lạc Hồng. Lịch sử là nhân chứng. Lịch sử là những dòng ngậm ngùi… Mỗi thời đại đi qua, người ta có cách nhìn, cách đánh giá khác nhau về những giai đoạn lịch sử. Lịch sử Việt Nam thấm đầy xương máu anh em, cho ta xót xa cảnh “nhồi da xáo thịt”, “cốt nhục tương tàn”. Bên cạnh đó, lịch sử Việt Nam là những trang hào hùng, bất khuất chống ngoại xâm dưới bất cứ hình thức nào, phương diện nào. Lịch sử Việt Nam là bản trường ca bất tận về dân tộc Việt Nam hơn bốn ngàn rưỡi năm. Những gì thuộc về lịch sử sẽ mãi mãi bất tử.

“Việt Nam sử lược” (VNSL) được Trần Trọng Kim (TTK) viết bằng chữ quốc ngữ năm 1919 (Nxb Trung Tâm Học Liệu – 1921, Nxb VHTT – 1999) là một trong hiếm cuốn chính sử đã dày công ghi lại tiến trình lịch sử trong 5 giai đoạn từ sơ khai – thời Hồng Bàng dựng nước 2879 trước Tây lịch đến khi thực dân Pháp toàn quyền bảo hộ Việt Nam năm 1902. Với cuốn sử này, TTK đã tham khảo tới 26 cuốn sử khác bằng chữ Nho, chữ Quốc ngữ và sách tiếng Pháp. Trong các chính sử chữ Hán, có “Đại Nam thực lục tiền biên” và “Đại Nam thục lục chính biên” là hai cuốn chính sử tạm cho là tương đối chân xác nhất về lịch sử Việt Nam. Vì thế, nhận định của nhà xuất bản VHTT về  VNSL của ông: “cuốn sách được viết dưới chế độ thực dân phong kiến nửa thuộc địa nên không khỏi có đôi điều hạn chế về cách nhìn nhận cũng như thiếu sót về mặt sử liệu” (tr 5, sđd) là chưa chính xác. TTK đã bày tỏ rõ cách nhìn nhận lịch sử của mình: “Thời đại nào, nhân vật ấy và tư tưởng ấy” (sđd tr 11). Do đó, chúng ta không thể lấy tiêu chuẩn thời đại nay để đánh giá chuẩn mực giá trị của thời đại trước. Mục đích viết VNSL của tác giả TTK cũng khá rõ ràng: “ta hãy làm thế nào cho những thiếu niên nước ta ngày nay ai cũng có thể biết một đôi chút sự tích nước nhà, cho khỏi tủi quốc hồn. Ấy là mục đích của soạn giả…”(sđd tr 12).

    Sau khi tham khảo các cuốn sử khác, chúng ta có thể nhận thấy cách viết sử của TTK tương đối khách quan với nguồn tham thảo sử liệu phong phú được thể hiện qua kiến thức sử học và năng lực ngoại ngữ của tác giả có thừa. Từ lối văn xuôi của TTK, tôi mạn phép chuyển sang “Lục bát” là thể thơ truyền thống của văn học Việt Nam và có ít lời bình khi cần thiết. Quá trình chuyển thể từ sách sử phải bảo đảm theo tình tự, ngày tháng năm, chi tiết và cách hành văn của tác giả nên việc thể hiện văn phong lục bát là một sự mạo hiểm. Chúng ta thừa biết rằng: Thể “Lục bát” không đơn giản. Nó khó gieo vần chính suốt toàn bài. Vì thế, người ta phải vay mượn vần thông hay khi bí từ phải gieo lạc vận. Vay mượn vần thông như thế nào? Lượng tải lạc vận bao nhiêu? Hai ẩn số đó vẫn là bài toán văn học hóc búa cho những người làm lục bát.

Nói về thể Lục bát“, giáo sư Dương Quảng Hàm trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” (Nxb HNV – 2002) trang 137 – 138  có nhắc tới luật:

bb/tt/bb

bb/tt/bb/tb

lệ (nhất tam ngũ bất luật, nhị tứ lục phân minh):

bb/tt/bb

bb/tt/bb/tb

Chữ in nghiêng (1-3-5) cho phép theo lệ. Như vậy, người làm lục bát đúng luật thể thì bắt buộc chữ thứ 7 trong câu 8 phải là vần trắc (t) chứ không phải là (b) như chúng ta đã thấy trong lục bát ngày xưa và hiện nay có thể là đã sai luật. Trong quá trình bám nguyên tác cuốn VNSL để chuyển thể, Ngọc Thiên Hoa dù đã  gieo toàn bộ bằng vần chính, có khi phải vay mượn một vài Vần thông, cố gắng không phạm vào Lạc vận – Cưỡng vận nhưng không tránh khỏi gieo trật vần ở chữ thứ 7 của câu 8.

Văn học không của riêng ai. Chúng ta thành tâm góp ý để bổ sung kiến thức cho nhau là một hành động chính nhân và một việc làm thiêng liêng. Xin trân trọng cám ơn cố tác giả Trần Trọng Kim và chân thành cám ơn sự khích lệ bằng tấm lòng yêu thương dân tộc của độc giả yêu thích Văn học – Sử Việt Nam dành cho người mạn phép chuyển thể./.

Tháng 9/24/2004
Chỉnh lại lục bát, tháng 1/2007.
Ngọc Thiên Hoa

2

VIỆT NAM L ỤC B ÁT SỬ
ỚC VIỆT NAM ( )

  1. Quốc hiệu:

Hồng Bàng lập nước Văn Lang
Âu Lạc, Thục Phán sửa sang bội phần.

Tượng Quận gọi bởi nhà Tần
Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam:
Cửu Chân, Giao Chỉ, Nhật Nam
Giao Chỉ, Đông Hán đổi làm Giao Châu.
 
Nhà Đường nước chiếm, nhà thâu:
“An Nam đô hộ phủ”, sầu quốc vong!
Nhà Đinh dẹp loạn sứ xong
Đổi Đại Cồ Việt ngoài trong một lòng.

Sang đời nhà Lý Thánh Tông
Xưng danh Đại Việt, tuyên ngôn sử hồng.
Cùng thời, vua Lý Anh Tông
An Nam quốc” nhận gia phong Tống triều.

Bắc Nam tranh chấp tiêu điều
Gia Long thống nhất, xây triều Việt Nam.
Dân tình khổ cực đã cam
Việt Nam, Minh Mệnh đổi làm Đại Nam.
 
Bá quyền chưa bỏ ý tham
Phương trời đất Bắc nhúng chàm đảo điên.
Sử vàng dệt một trường thiên
Việt Nam hai chữ gắn liền tự do!

  1. Vị trí, diện tích:

Việt Nam chữ S quanh co
Thắt lưng buột bụng, ấm no hai đầu.
Xem qua số sướng, sang giàu
Ai ngờ mấy kỷ vương sầu, xót xa!

Đông – Nam hai hướng đi qua
Ký lô vuông khoảng vào ba trăm ngàn!
Đông Nam rào cản Hải Nam
Miếng mồi tranh chấp mộng tham của Tàu.

Miền Tây giáp giới Ai Lao
Vương triều một cõi ngày nào: Cao Miên.

  1. Địa thế:

Bắc – Trung – Nam cả ba miền
Gần Tàu ấm lạnh chia phiền với ta!
Sông sâu nước thẳm Hồng Hà
Thái Bình, miền Bắc phù sa đắp bồi.

Trời sinh núi cặp, người đôi
Trung xuôi, Thượng ngược sinh sôi tháng ngày.
Miền Trung cát trắng đong đầy
Trường Sơn một giải trời mây thắm hồng.

Miền trong, ruộng nước khai thông
Đồng Nai cuộn sóng sánh dòng Cửu Long.
Chung tay gắng sức vun trồng
Chen vai cuốc đất, cày đồng, trổ mương.

  1. Chủng loại:

Giống nòi chung một tình thương.
Thái, Mèo, Chàm, Mán, Mọi, Mường, Khách, Vân…
Người Kinh chiếm bảy, tám phần
Sáu mươi sắc tộc góp phần giữ quê.

  1. 5. Gốc tích:

Ta, Tàu, Tây đã thống kê:
Tây Tạng đất tổ, cội bờ nam đông.
Hoàng Hà cùng với Mê Kông
Bắc có Việt – Thái, nam: dòng Tam Miêu.

Cội nguồn trên cũng là… điêu
Ngón chân giao chỉ ít nhiều thiện chân.
Lai ngàn năm dễ gì phân
Trước sau dân cũng chuyên cần vạn năm.

Trăm năm cũng ánh trăng rằm
Ngàn năm vẫn kiếp con tằm nhả tơ.

  1. Người Việt Nam:

Da vàng trọn nghĩa phu thê
Thông minh, trí tuệ, trăm nghề thủ thân.
Chữ “Lễ, Trí, Tín, Nghĩa, Nhân”
Luân thường đạo lý đã phân rõ ràng!

Đàn bà mẫu mực, trung can
Tiết, Nghĩa, Cần, Kiệm” đảm đang việc nhà.
Đàn ông giữ vững sơn hà
Xông pha sóng gió xứng là… mày râu!

Dầu rằng vóc sắc khác nhau
Cho dù tốt, xấu cũng đâu khác nguồn?
Muôn lòng giữ cội, gìn khuôn
Bắc – Nam kết một chiếc xuồng Việt Nam!

  1. Sự mở mang bờ cõi:

Rồng trong giếng cạn nào cam
Tổ tiên theo biển phía nam mở bờ.

  1. Lịch sử Việt Nam:

Cha ông lập nước đến giờ
Nếm khổ sở, sống vật vờ gió mưa.
Tự cường, tự chủ vẫn thừa
Sử xanh dệt để ngăn ngừa lũ lam.
 
Quyển I
THƯỢNG CỔ THỜI  ĐẠI
            
Chương I

  1. Họ Hồng Bàng 鴻 龐

Đế Minh tuần thú Hồ Nam
Cảm nàng tiên nữ, kết làm phu thê.
Sinh ra Lộc Tục, bấy giờ
Cùng anh nam bắc chia bờ mỗi phương.

Lộc Tục xưng Kinh Dương Vương
Quốc hiệu Xích Quỷ liệu lường bão giông.
Thần Nông cháu lấy nàng Long
Con Đình quân cũng phi phong cốt thần.
Sinh Sùng Lãm – Lạc Long quân
Năm đời vương giả, đế nhân khác phàm.

  1. Nước Văn Lang

(2879 – 258 trước Tây Lịch)
Người xa bến bãi sông Lam
Ta về Đồng Tháp không cam lỗi thề!
“Giấy rách còn giữ lấy lề”
Người Việt đâu cũng nhớ về chốn quê.

Lạc Long Quân lấy Âu Cơ
Mười lăm bộ họp dưới cờ Văn Lang.
Họ Hồng Bàng, giữ giang san
Mười tám đời rạng ngai vàng Hùng Vương!

  1. Chuyện cổ tích về đời Hồng Bàng:

Giặc Ân thua bởi nhiễu nhương
Thiên Vương Phù Đổng phi thường lớn mau.
Núi cao theo nước nông, sâu
Năm nào Sơn, Thủy tranh cầu Mỵ nương.

Sử xanh chép lại mà thương:
Chử Đồng Tử khổ mới tường Tiên Dung.
Lòng trời lượng cả bao dung
Tu nhân, tích đức hòa chung tiếng cười.

Chương II
NHÀ THỤC (258-207 trước Tây Lịch)

  1. Gốc tích nhà Thục:

Thục Phán lấy đất, chiếm người
Văn Lang, Âu Lạc, đồng thời nhập chung.
Thục – Tàu chẳng thể cùng vùng
Khâm định Việt sử bàn cùng một chương.

  1. Nước Âu Lạc:

Phong ba, nắng gió ai lường
Xây trang huyền thoại Mị nương ngậm ngùi.
Hờn vây, oán trả nào nguôi
Duyên tình tráo trở, bùi ngùi thế gian.

  1. Nhà Tần đánh Bách Việt:

Ai xui Thục chiếm Văn Lang
Cho chàng Trọng Thủy lừa nàng Mỵ Châu.
Giặc Tần gieo rắc thương đau
Thục Phán – Bách Việt, lấy đầu Đồ Thư.

  1. Nhà Thục mất nước:

Loa thành nhà Thục thật, hư:
Nỏ thần trăm phát”? Gian mưu Triệu Đà:
Se duyên, Thục – Triệu thông gia
Đà mang giảo kế lừa nhà Thục Vương.

Xót nàng duyên gãy mà thương
Tội nàng tình thiệt vạ vương rụng rời.
Triệu Đà được nỏ, nuốt lời
An Dương Vương phải bỏ đời giữa khơi!

Chương III
XÃ HỘI NƯỚC TÀU VỀ ĐỜI
TAM ĐẠI VÀ ĐỜI NHÀ TẤN
Triệu – Thục hỗn chiến máu rơi
Bên Tàu, nhà Hán đánh rơi họ Tần.

  1. Phong kiến:

Mỗi người thủ lãnh một phần
Lập thành một nước, cống thần mỗi năm.
Chư hầu có đến tám trăm
Chia công, hầu, bá, tử, nam hưởng cùng.

  1. Quan chế:

Tam công, nhà Hạ ra khung:
Đại khanh, Nguyên sĩ với  cùng Cửu khanh.
Nhà Ân, hai tướng, năm quan
Sáu quan thái, sáu phủ đàn, sáu công.
 
Sáu quan, đặt bởi Chu Công
Thiên, Xuân, Địa, Hạ, Thu, Đông, được thành.
Thiên quan, cấp đứng đầu ngành
Tên là Chủng tể, tuần hành ở trong.

Đại tư đồ giữ thương, công
Giáo dục, cảnh sát, hội đồng: Địa quan.
Đại tư mã, đầu Hạ quan
Cầm binh phụng mạng, trị an nước nhà.

Tam công một chức đặt ra
Quan trên chính sự, dưới là lục quan.
Hành chính chẳng được cùng can
Tam cô, Thái, Thiếu phó bàn chiến chinh.

  1. Pháp chế:

Đời Thái Tổ có năm hình
Thêm roi da với đày mình: tội lưu.
Nhà Ân, nhà Hạ, nhà Châu
Lăng trì, mổ, muối, chặt đầu, xé thây…
 

  1. Binh chế:

Năm người, nhập ngũ binh ngay
Quân, Sư, Súy, Lữ mỗi tay một phần.
Thiên tử thì có sáu quân
Nước nhỏ được một, chư thần được ba.
Nhà, Tỉnh từ Nước mà ra
Ấp, Khâu, Điện cổ xa, trăm người.
 

  1. Điền chế:

Mười phần ruộng lấy một mươi
Đi theo Phép cống tùy thời biến thiên.

Ân, Chu dùng phép Tỉnh điền
Công, tư hoa lợi, nộp liền đức vua.
Người nông của chẳng dư thừa
Giàu nghèo cấp bậc thì chưa rõ ràng.

Lý Khôi, Chiến quốc, luật ban:
Toàn dân làm ruộng, chẳng màng phép chi.
“Thiên mạch” được mở tức thì
Hai phép Cống, Tỉnh biệt ly, bất hoàn.

  1. Học hiệu:

Vua, quan, nếu có sinh con
Vào trường Đại Học đọc mòn lễ, thư.
Tiểu học dạy phép công tư
Kính, nhường ứng xử, dùng từ khéo khôn.

  1. Học thuật:

Đời Chu có lắm danh ngôn
Khổng, Lão lễ nghĩa tiếng đồn chẳng ngoa.
Mặc Định kiêm ái, ôn hòa
Hàn Phi, Quỷ Cốc sáng lòa hiếu nhân.

  1. Phong tục:

Công, thương, nông, sĩ đã phân
Phu tùy, phụ xướng mười phần lễ nghi.
Tổ tiên thờ phụng kính tri
Đến đời Ngũ bá mất đi tục này.
Văn minh Tần đã đổi thay
Triệu Đà truyền luật mới này mọi nơi.

Chương IV
NHÀ TRIỆU
(207 – 111 trước Tây lịch)

  1. Triệu Vũ Vương:

Tránh cho máu chảy đầu rơi
Triệu Vũ Vương mới chịu lời Hán Vương.
Nam Việt một cõi nhún nhường
Vua con yếu nhược, tính phương bán nhà.
 

  1. Vũ Vương thụ phong nhà Hán:

Vũ Vương lập nghiệp bên ta
Bên Tàu, Hán diệt Sở là Lưu Bang.
Cao Tổ thấy Vũ đăng quang
Bèn sai Lục Giả chiêu hàng, tấn vương.

Kiêu căng, Vương mới coi thường
Lục Giả phân giải hư tường, mới thông.

  1. Vũ Vương xưng Đế:

Khi Cao Tổ khuất ngôi rồng
Lữ Hậu quay lại tranh dòng, lấn vua.
Cấm quan hệ với bán mua
Vũ Vương bất mãn mới xua lính càn.

Xưng làm Hoàng Đế lại gan
Trường Sa đánh tới, mở màn chiến chinh.
Quân Hán chẳng thuộc địa hình
Không quen thủy thổ muôn tình bệnh đau.
Quay đầu rút chạy về mau
Thanh thế Vũ Đế ngầu ngầu đỉnh thiên.

  1. Vũ Vương thần phục nhà Hán:

Hán Văn Đế gởi thư riêng
Lục Giả nhận biển, trao liền Vũ Vương.

“Trẫm nay mọi việc đã tường
Lấy lại đất nước từ phường Lữ gian.
Quần thần thúc ép đăng quang
Nay thư gởi đến vua bàn chuyện binh.
 
Vì dân, trẫm mới cầu xin
Trường Sa hỗn loạn, dân tình khổ đau.
Nhà vua hãy rút binh mau
Hai bên chiến loạn thêm sầu thế nhân.
 
Đôi lời trẫm đã tường phân
Mộ phần đã sửa ở Chân Định rồi.
Hai nơi mấy núi xa xôi
Ganh nhau chẳng khác chi nòi tiểu nhân”.

Lời thư tử tế hiền nhân
Tin lời, Vũ Đế xưng thần Hán cao.
Giáp Thìn, Triệu Vũ bãi trào
Trăm hai mốt tuổi đi vào vạn thu.

  1. Triệu Văn Vương:

Văn Vương trí nhược, tâm nhu
Lên ngôi, giặc giã biên khu loạn ngầu.
Quân nhà Hán cứu binh nhau
Mân Việt giết chúa nạp đầu mới yên.

Mời chầu, Trang Trợ phụng thiên
Vũ Vương chẳng chịu mới liền gởi con.
Anh Tề Thái tử tâm non
Mười năm lạc nước nên mòn nghĩa quê.

  1. Triệu Minh Vương:

Nghe Vũ mất, Anh Tề về
Lập hậu, xưng Đế đâu ngờ kẻ gian.
Tư thông kiếm lợi hai đàng
Cù bà vợ lẽ, ra màn cướp ngôi.

  1. Triệu Ai vương:

Minh Vương khi đã mất rồi
Thái tử Hưng được lên ngôi trị vì.
Hán sai Thái Qúi tùy nghi
Cùng bà Thái hậu thị phi mập mờ.

Dụ con dâng nước, bán bờ
Hai bên chỉ đợi đến giờ nạp ra.
May nhờ Tể tướng Lữ Gia
Vạch mưu Cù Thái hậu và Ai Vương.

Người Nam đánh Hán kiên cường
Cho rằng vĩnh cữu, ai tường bại vong!

Quyển II
BẮC THUỘC THỜI ĐẠI
           
(111 tr. Tây lịch – 931 s. Tây lịch)
BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT

  1. Chính trị nhà Tây Hán:

Vũ Đế chiếm Đại Việt xong
Đổi Giao Chỉ bộ mà hòng nuốt tươi.
Thái thú, Thứ sử trêu ngươi
Lạc hầu, Lạc tướng, chia người trực phiên.

Thạch Đái đóng phủ Long Yên
Là quan thứ sử trước tiên quận này.
Vương Mãng cướp Hán vào tay
Tích Quang, Đổ Mục thẳng ngay chẳng về.
Đến khi Quang Vũ yên bề
Quang, Mục, Đặng Nhượng theo lề cống sang.

  1. Tích Quang và Nhâm Diên:

Thái thú Giao Chỉ: Tích Quang
Khai hóa, dạy nghĩa cho hàng thứ dân.
Nhâm Diên, Thái thú Cửu Chân
Chăm lo khai khẩn, canh tân ruộng đồng.

Chương II
TRƯNG VƯƠNG (40-43)

  1. Trưng thị khởi binh:

Thời kỳ Bắc thuộc long đong
Thù chồng, khởi nghĩa, Châu Phong lập thề.
Người Giao Chỉ lại cùng về
Ba năm dựng nước theo cờ Nhị Vương.

Tô Định bạo ngược khôn lường
Giết người Giao Chỉ không tường thị phi.
Bắt Thi Sách đem giết đi
Hai Trưng Trắc, Nhị tức thì khởi binh.

Con dòng Lạc tướng Mê Linh
Đuổi quân Tô Định mà bình đất Nam.
Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam
Chẳng bao lâu hạ sáu lăm thành trì.

Xưng vua, lừng lẫy ai bì
Mê Linh đóng phủ, uy nghi một miền.

  1. Mã Viện sang đánh Giao Chỉ:

Tân Sửu, Quang Vũ lệnh truyền
Phục Ba Mã Viện, binh liền thẳng dong.
Đoàn Chí cùng với Lưu Long
Phó và thuyền tướng tháp tòng xuất chinh.

Hai bên giáp chiến tử sinh
Hát Môn đẫm máu giấu hình Nữ Vương.
Trung lưu nữ kiệt can trường
Thua cơ Mã Viện, cùng đường nhảy sông.

Sông xanh nước chảy mênh mông
Ghi trang quốc sử muôn dòng tiếc thương.
Hồn thiêng phảng phất trong sương
Hát Giang sông sáng soi gương Hai Bà!

Ba năm một cõi sơn hà
Nghìn năm Bắc thuộc sao mà sánh qua!
Anh thư, lịch sử nước ta
Nữ vương chỉ có Hai Bà, chẳng ai!

Qúy Mão mồng sáu tháng hai
Hương hoa khói tỏa tạc đài ngợi ca!

Chương III
BẮC THUỘC LẦN HAI (43-544)

  1. NHÀ ĐÔNG HÁN:
  2. Chính trị nhà Đông Hán:

Nhà Đông Hán trị dân ta
Tham tàn, hiếp đáp quả là Khuyển Ưng.
Người Giao Chỉ khổ vô chừng
Tìm vàng dưới biển, lên rừng kiếm châu.

  1. Lý Tiến và Lý Cầm:

Nhân tài bị bỏ, còn đâu
Lý Cầm, Lý Tiến cùng nhau khẩn cầu.
Hán Minh Đế ngẫm lời tâu
Thăng quan chức hậu, nể nhau mấy phần.
Trương Trọng đi sứ cầu thân
Năm phần cứng cỏi, năm phân nhún nhường.

Nhìn người chớ có khinh thường
Nhân tài trí dũng, ai nương tướng ngoài.

  1. Sĩ Nhiếp (187- 226):

Người nước Lỗ, đổ mậu tài
Tránh loạn biên tái nên ngài đến ta.
Đời Hiến Đế, năm thứ ba
Trong Châu giặc giã, xin ra trấn ngoài.

Đình hầu thọ sắc phong rồi
Tướng quân An Viễn đến hồi trị gia.
Lấy điều phép tắc xây nhà
Nhân dân trọng đức tôn là Sĩ Vương.

  1. ĐỜI TAM QUỐC (220-265)
  2. Nhà Đông Ngô (222-280):

Đông Ngô thế mạnh hùng cường
Nhà Đông Hán đã vào đường thế cô.
Nước Tàu xé lẻ địa đồ
Giao Châu lệ thuộc Đông Ngô Tôn Quyền.

Bính Ngọ, Sĩ Nhiếp quy tiên
Sĩ Huy xưng Thái thú liền thế cha.
Quảng Châu: Hợp Phố trở ra
Giao Châu: Hợp Phố ngược mà trở đi.

Đái Lương cùng bọn Trần Thì
Đem quân đến bắt Sĩ Huy phải hàng.
Anh em năm kẻ liên can
Bị giết bởi tội chịu hàng họ Tôn.

Bấy giờ, Ngô chủ tính khôn
Hai châu Giao, Quảng phải dồn một Châu.
Lữ Đại – Thứ sử đứng đầu
Đem quân lấn chiếm chư hầu Cửu Chân.

  1. Triệu Ẩu:

Giao Châu, Giao Chỉ tương phân
Thứ sử Lục Dận muôn phần ác tinh.
Mậu Thìn, Quốc Đạt khởi binh
Quân tôn nữ Triệu Thị Trinh đứng đầu.

Anh em bảo bọc cho nhau
Ai ngờ gặp phải chị dâu chẳng hiền.
Thị Trinh lập tức giết liền
Lên rừng mộ lính, múa quyền, cỡi voi.

Non nhà lửa bỏng, dầu sôi
Anh em Triệu Ẩu song đôi chém Kình.
Anh hùng, nữ tướng kiên trinh
Lục Dận lạc phách, hồn kinh lắm điều.

Theo mây về cõi tiêu diêu
Non sông tạc tiếng: “Nhụy Kiều tướng quân”!
“Tài trinh đệ nhất phu nhân
Bậc chính anh liệt nữ thần” tỉnh Thanh.
 

  1. Nhà Ngô chia đất Giao Châu:

Nhà Ngô chặt cội, đẵng cành
Đem đất Nam Việt chia thành hai Châu.
Quảng Châu cùng với Giao Châu
Quan Tàu Thái thú thay nhau bạo tàn.

Dân gian loạn lạc, mới bàn
Giết quan Thái thú mà hàng Ngụy quân.
Giao Châu mục, có Đào Hoàng
Đầu Ngô, hàng Tấn để còn Giao Châu.

III. NHÀ TẤN (265-420)

  1. Chính trị nhà Tấn:

Thiên hạ, nhà Tấn đã thâu
Thương nhà Ngụy mới phong hầu cháu con.
Các thân vương vì sống còn
Thi nhau thủ đoạn chẳng tròn đệ huynh.

Thiên tai tại thượng vô tình
Xưng vương, xưng đế một mình, một sân.
Hơn mười sáu nước tranh phân
Ngũ Hồ loạn lạc muôn dân cực hình.

  1. Nước Lâm Ấp quấy nhiễu Giao Châu:

Bên trong chính sự bất bình
Bên ngoài giặc phá, dân tình oán than.
Giặc Lâm Ấp muốn thi gan
Phạm Hùng cướp cạn, quân càn Nhật Nam.

Canh Thân, Tuệ Độ đã làm
Giao Châu Thứ sử diệt Chàm trị yên.
Phạm Hồ Đạt được mấy niên
Bị Chư Nông phản cướp quyền, hỏng xôi!

Khi Phạm Dương Mại chiếm ngôi
Nam Bắc triều đã phân đôi nước Tàu.
Đông Tấn và Tống đánh nhau
Vua Lâm Ấp mới gây sầu Giao Châu.

  1. NAM BẮC TRIỀU (420-588)
  2. Tình thế nước Tàu:

Canh Thân, Lưu Dụ mưu sâu
Cướp ngôi Đông Tấn chia nhau Bắc triều.
Giao Châu phụ thuộc Nam triều
Ngụy, Tề, Chu đế gây điều ngoại xâm.

  1. Việc đánh Lâm Ấp:

Nói về họ Phạm ngấm ngầm
Ngôi người khác lại rộ rầm cướp đi.
Thấy Tàu nội loạn ra chi
Sai cống nhà Tống bảo trì Giao Châu.

Tống triều nào há chịu đâu
Họ Phạm kia mới hái dâu nhử tằm.
Hòa Chi, Tông Xác đã căm
Mang binh sang đánh, Phạm ngầm chạy mau.

Đàn Hòa Chi vội tóm thâu
Người vàng một tượng, báu châu chật nhà.
Gian tham chẳng đổi thật thà
Vàng kia cái lộng cũng là con dao.
Hòa Chi rớt chức, mất bào
Giao Châu Thứ sử lộn nhào, hỡi ôi!

  1. Sự biến loạn ở đất Giao Châu:

Kỷ Mùi, nhà Tống mất ngôi
Nhà Tề kế nghiệp không thôi cướp giành.
Nhà Lương khởi sự máu tanh
Tiêu Tư tàn bạo lòng đành dửng dưng.

Chương IV
NHÀ TIỀN LÝ 前 李   (544-602)

  1. Lý Nam Đế (544-548):

Giao Châu thóc chín lưng chừng
Thân trâu, kiếp ngựa vang lừng trống khua.
Ngoài biên, giặc Tống hơn thua
Bên trong, Lâm Ấp vào mùa phá ranh.

Bên Tàu, lưỡng thổ phân tranh
Tề vừa phế Tống, Lương thanh toán Tề.
Tham tàn thái thú, người ghê
Hùng tâm, Lý Bí giương cờ diệt gian.

Vạn Xuân thoát cảnh lầm than
Thái bình thiên đức“, xua tan bóng tà.
Bình minh chiếu sáng sơn hà
Thanh bình tự chủ như là đến phiên!

Nghe qua, Lương Đế đảo điên
Xua quân lấn chiếm, Bá Tiên phụng quyền.
Thua đi, thắng lại truân chuyên
Lý Bôn quyết định trao quyền Triệu Vương.

  1. Triệu Việt Vương (549-571):

Triệu Việt Vương – Dạ Trạch Vương
Trung kiên dạ tướng, cung thương quật cường.
Thông gia Phật Tử, lầm đường
Nhằm tin rể phản, nào lường vạ, may!

  1. Hậu Lý Nam Đế (571-602):

Tranh ngôi, Phật Tử ra tay
Hậu Lý Nam Đế thua ngay nước Tùy.
Giao Châu hết thịnh thì suy
Ba trăm năm lẻ chịu quỳ Bắc phương!

Chương V
BẮC THUỘC LẦN THỨ BA
              (603 – 939)

  1. NHÀ TUỲ (589-617)

Việc đánh Lâm Ấp:
Nhà Tùy sai tướng Lưu Phương
Sang đánh Lâm Ấp xem dường ý gian.
Vì đồn Lâm Ấp lắm vàng
Phạm Chí chạy, Phương giữa đàng bệnh… thăng!
Giết người, cướp của nên chăng
Mạng đi thay của họa rằng đã vương.
 

  1. NHÀ ĐƯỜNG (618-907)
  2. Chính trị nhà Đường:

Mậu Dần, Tùy mất bởi Đường
Tân Tỵ, Cao Tổ phô trương thế ngoài.
Cắt Đại tổng quản trông coi
Cùng việc cai trị coi mòi ở lâu.
Khâu Hòa quản đất Giao Châu
Ngang tàn, bạo ngược như nhau, một phường!
 

  1. An Nam đô hộ phủ:

Nhà Tùy tiếp đến nhà Đường
Đời nào cũng vẫn coi thường Giao Châu.
Dân ta lệ thuộc vào Tàu
Mười hai mảnh đất chư hầu ngó nhau!

  1. MAI HẮC ĐẾ (722):

Nhằm trừ giặc cướp nương dâu
Họ Mai một cõi Hoan Châu đứng đầu.
Nhỏ người, sức khỏe tựa trâu
Thúc Loan mặt mũi, mày râu đen sì!

Xưng vua Hắc Đế gây uy
Đánh nhau nổi tiếng gan lỳ tướng quân!
Anh hùng, thất thế sa chân
Họ Mai bỏ chốn phong trần, lánh xa.
 

  1. Giặc bể:

Tân Tỵ có quân Đồ Bà
Ngoài bể vào phá non nhà Côn Lôn.
Ra vào cướp giật cô thôn
Quan Kinh lược đánh, hoảng hồn chạy nhanh.
Trương Bá Nghi xây La thành
Phòng ngừa cướp đánh và canh cướp ngầm.
 

  1. Bố Cái Đại Vương (791):

Họ Quang kia thật là thâm
Làm quan bảo hộ chuyên nhằm vét vơ!
Nhân dân ta, lúc bấy giờ
Sưu cao, thuế nặng hai bờ chẳng cam.

Phùng Hưng vốn ở làng Cam
Vùng lên giết chết quan tham Chính Bình.
Đại Vương Bố Cái thâm tình
Thương thay yểu mạng, vô hình thở than.

  1. Việc đánh nước Hoàn Lương:

Phùng An nhút nhát cầu an
Cha giành độc lập, con hàng giặc Xương!
Nhà Đường đánh nước Hoàn Lương
Giết người Mường, Mán, ăn lường thảm thương!

  1. Nam Chiếu cướp phá Giao Châu:

Tư thù, Mán tộc và Mường
Xui người Nam chiếu cướp đường Giao Châu.
Tranh nhau đến loạn xà ngầu
Mười năm đổ máu đi chầu Diêm Vương!

  1. 9. Cao Biền bình giặc Nam Chiếu.

Công việc của Cao Biền:
Cao Biền tướng giỏi nhà Đường
Tinh thông sách học, làu thường tướng môn.
Trừ căn, tính quẻ Càn Khôn…
Bình quân Nam Chiếu, huyệt môn yểm trừ.

  1. Sự trị loạn của nước Tàu:

Vua mà chính trực công tư
Nhân gian chẳng hát khúc từ “Sâm thương”!
Hưng – Suy, nghĩ cũng là thường
Ta – Tàu nội loạn, sa trường tử thương.

III. ĐỜI NGŨ QÚY (907-959)

  1. Tình thế nước Tàu:

Bên Tàu, Ngũ Quý phân vương:
Hậu Đường, Hán, Tấn, hậu Lương, ngũ vùng.
Hậu Chu:  năm nước xưng hùng
Để Khúc Thừa Dụ được cùng tấn quan.

  1. Họ Khúc dấy nghiệp:

Khúc Thừa Dụ (906-907)
Giao Châu, họ Khúc xây làng
Người giàu tốt bụng, không màng dã tâm.

  1. Khúc Hạo (907-917):

Làm quan chỉ độ tròn năm
Trao quyền Khúc Hạo lo chăm nước nhà.

  1. Khúc Thừa Mỹ (917-923):

Khúc Thừa Mỹ, nối nghiệp cha
Mất lòng phải vạ, họa nhà: Tù binh!
Khúc cha đại nghĩa thâm tình
Khúc con chính nghĩa thường tình bỏ đi!

  1. Dương Diên Nghệ và Kiều Công Tiễn:

         (931-938)
Lý Khắc Chính ác ai bì
Nên Dương Diên Nghệ mới vì Khúc gia.
Đánh cho Lý Tiến chạy xa
Dạy cho Khắc Chính biết ta, biết mình!

Ai ngờ nội phản, tham sinh
Kiều Công Tiễn lại vong tình, giết đi!
Gian thần, lịch sử còn ghi:
Trong lo thí chúa, ngoài thì loạn tâm.

Ngô Quyền khởi nghiệp Đường Lâm
Căm phường phản chúa, kiên tâm báo thù.
Kiều Công tiếng xấu thiên thu
Tìm đàng cứu viện quân thù: Hán Vương.

Hoằng Tháo: Thái tử bắc phương
Xâm lăng chẳng thấy con đường hiểm sâu.
Ngô Quyền sai vót nhọn đầu
Đằng Giang đóng cọc chìm sâu xuống dòng.
Gian thần phải tội bên trong
Bạch Đằng Giang sóng đầy chông giết thù.

Ngô Quyền đức trí cương – nhu
Quăng đi cái ách nghìn thu thuộc Tàu.
Danh thơm, tiếng mãi về sau
Non sông gấm vóc cùng nhau bảo toàn.

Chương VI
KẾT QỦA THỜI BẮC THUỘC

  1. Người nước Nam nhiễm văn minh của Tàu:

Theo dòng lịch sử tính toan
Ngàn năm Bắc thuộc gì còn nước ta!
Hay, dở từ ấy mà ra
Luân lý, phong tục ruột rà với nhau.

  1. Nho Giáo:

Theo gương “trung hiếu” làm đầu
Để” “Thử” là gốc, làm câu sửa mình.
Nho gia, lý tưởng anh minh
Luân thường đạo lý thâm tình sử xanh.

Làm người trọng nghĩa, khinh danh
Ai ai cũng thể cây xanh, hiệp hòa.
Tăng, Sâm, Khổng Tử đề ra
Đi qua Khổng Cấp, Mạnh Nha, đạo thành.

Nho gia vất vả trường sanh
Thủy Hoàng đốt sách, máu tanh học trò!
Đời Cao Tổ, đạo thịnh to
Nhà Hán bớt khó nên cho mở trường.

Đạo nào mà có chủ trương:
Lập trường “Nhân-Nghĩa“: Đạo đường Việt Nam.

  1. Đạo Giáo:

”Vô tri, điềm tỉnh”, trừ tham
Không dùng “trí lựcmà cam khổ mình.
Đạo giáo triết học cao minh.
Tu tâm, trị nước mô hình “trường sinh”.

Lý Đan nước Sở phát sinh
Làm dây “Tầm Gởi” qua mình nhà Chu.
Quên chuyện tình, lo ”chuyên tu”
Cho mình “bất tử” mà đu với đời.

Trương Đạo Lăng, quả gặp thời
Tần, Đường, Hán mới tin lời viễn vong.
Đồng hành tiên thuật, hạnh thông
Hoàng Cân Trương Giác, Cát Hồng nối nhau.

Tử – Sinh vốn đã từ lâu
”Trường sinh” ai đã được đâu, phép màu?

  1. Phật Giáo:

Đời người đầy ải khổ đau
“Sinh, lão, bệnh, tử”, nỗi sầu biến thiên.
Luân hồi kiếp bởi nhân duyên
Làm sao thoát được ưu phiền thế gian?

Đức Thích Ca đã không màng
Quên thân Thái tử, tìm đàng Phật ngay.
Niết bàn” khi đã rũ tay
Bất sinh, bất diệt thành thầy Phật gia.

Bà-La-Môn, gốc Thích Ca
Từ Ấn Độ đã đi qua nước Tàu.
Rồi vì “Tông Chỉ” khác nhau.
Nên Phật tích đổi ra màu Phật kinh.

Nhà Đông Hán có Huệ Sinh
Thái Am với Tống Vân tinh Phật đàn.
Vua Đường hạ chiếu Huyền Trang
Đi sang Thiên Trúc, Kinh mang phổ truyền.
 
“Tây Du Ký“, động địa thiên
Ngô Thừa Ân viết giải phiền chúng sinh.
Bao nhiêu  ý nghĩa thâm tình
Bao nhiêu ẩn chữ mang hình tử sinh.

Tiền Lê, nhà Lý, nhà Đinh
Thịnh hành đạo Phật; Nho vinh Lý – Trần.
Quốc đạo thống nhất bất phân
Đạo nào cũng đã góp phần đấu tranh!

  1. Sự tiến hóa của người nước Nam:

Nho, Phật, Lão phát triển nhanh
Dân ta tín ngưỡng theo thành thói quen.
Cần dùng, cách chống ươn hèn
Tranh đua chẳng phải bon chen cạn cùng.
 
Ta – Tàu tục lệ như chung
Văn minh nước Việt, không sùng bái Tây.
Gì của Tàu, cũng cho hay
Tiến hóa chẳng mấy, loay hoay kém người.
 
Quyển III
TỰ CHỦ THỜI ĐẠI
(Thời kỳ thống nhất)
   
Chương I
NHÀ NGÔ  (939-965)
I.

  1. Tiền Ngô Vương (939-944):

Ngô Quyền nối tiếp ngôi trời
Xưng Vương, Kỷ Hợi, sáng ngời Cổ Loa.
Sáu năm chỉnh đốn gần xa
Giáp Thìn, chèo chống sơn hà, hết duyên.

  1. Dương Tam Kha: (945-950):

Tam Kha em vợ cướp quyền
Xưng Bình Vương phản, đời nguyền rủa không?
Non nhà ngập cảnh bão giông
Xương Ngập trốn ở Lịnh Công đợi thời.

  1. Hậu Ngô Vương (950-965):

Xương Văn, em ruột thay lời
Giam cha nuôi – cậu, vạ trời tạm qua.
Người nhà, chẳng giết, nên tha
Truyền cho giáng chức còn là lệnh Công.
Cùng anh, trị quốc song song.
Hai vua một nước theo dòng Hậu Ngô.

Anh em dựng lại cơ đồ
Như tình Trắc – Nhị cùng khô máu đào.
Hiềm rằng đại loạn gươm đao
Công Ngô Quyền đã rơi vào đáy sông!

  1. THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967):

Thổ hào Trần Lãm, Kiều Công
Thái Bình, Cảnh Thạc với dòng Nguyễn Khoan.
Lý Khuê, Nguyễn Siêu sống còn
Lữ Đường, Khánh, Thuận thủ đòn Tá Công.
Đằng Châu, Bạch Hổ, Phạm Phòng
Tranh ngôi, trở mặt, sanh lòng đánh nhau.

Chương II
NHÀ ĐINH   (960-980)

  1. Đinh Tiên Hoàng (968-979):

Họ Đinh – thứ sử Giao Châu
Con là Bộ Lĩnh chăn trâu khác thường.
Thông minh, khí chất quân vương
Cờ lau tập trận, người thường nể danh.

Thương người trí dũng, hùng anh
Trần Minh Công mới phong thành tướng quân.
Hoa Lư tiếng đã vang lừng
Đem quân bắt giết, thanh trừng loạn quan.

Bộ Lĩnh khí chất cao sang
Sứ quân thập nhị quy hàng bốn phương.
Vinh tôn đức Vạn Thắng Vương”
Lên ngôi hoàng đế hùng cường nước Nam.

Bên Tàu, họ Triệu tham lam
Hậu Chu – Khuông Dận gian phàm giống nhau.
Mở đường ”Nam tiến” trước sau
Tiên Hoàng tính kế: Hòa nhau Tống Triều.

Ngoài yên, triều cống kẻ kiêu
Bên trong lập tức ra điều dạy quan.
Dầu sôi giữa điện phòng gian
Nuôi đàn hổ dữ ngăn can phản thần.

Quân binh ngũ hạng mà phân:
“Đạo, Quân, Lữ, Tốt, Ngũquân vạn hàng.
Chừng như ổn thỏa giang san
Phế trưởng, lập út, Tiên Hoàng chết oan!

Sử rằng: Đỗ Thích tính toan…
Giết Tiên Hoàng cướp ngai vàng hưởng hơi.
Đêm nằm mộng thấy sao rơi
Cho mình số Đế khơi khơi, mới lầm.

Đời người dễ được trăm năm
Làm con giòi chết, tiếng tăm để đời!

Nam Việt Vương – Liễn,  một thời
Lẫy lừng trận mạc, ngôi rơi mới cuồng.
Giết em cũng giống một tuồng
Bị người giết lại rặc khuôn sử Tàu.

Tội đồ Đỗ Thích trước sau
Đình thần bắt được chặt đầu, bệu thây.
Cùng ngày, Đinh Tuệ lên ngay
Nhiếp chính: Thái hậu cùng thầy họ Lê.

  1. Phế Đế (979-980):

Nước nguy, vua bé, mập mờ
Lê Hoàn, Thái hậu đến giờ tự thông.
Vua – chồng chết cũng coi không
Xem ra chẳng phải là dòng chính chuyên!

Ai người dựng tích mà truyền
Khen Dương Thái hậu người hiền, thiện chân?!
Đinh Điền, Nguyễn Bặc trung thần
Can ngăn đổi chúa, nhận phần thảm thê!

Vừa phiên Tống đế thừa cơ
Vua còn nhỏ dại, giương cờ xâm lăng.
Tướng quân họ Phạm bàn rằng:
Ai luận thưởng, phạt? Chi bằng phế vua?
 
Dù trong, quả thật hơn, thua
Nhưng ngoài đánh giặc cần vua có tài.
Thái hậu có một không hai
Lột áo con mặc, chuyển ngai họ Hoàn!

Đinh Triều thế phổ cung son
Hai vua, mười bốn năm tròn phải cam!

Chương III
NHÀ TIỀN LÊ  前 蔾   (980-1009)

  1. Lê Đại Hành (980-1009):

Lê Hoàn ở tỉnh Hà Nam
Xưng Hoàng đế bởi không cam rợ người.
Hay rằng Tống chúa mười mươi
Manh tâm lấn chiếm, ăn tươi nước mình.
Vẽ vời binh vực nhà Đinh
– “Ba đời truyền tập“, bất bình xuất chinh.

  1. Phá quân nhà Tống:

Lưu Trừng thống lĩnh thuỷ binh
Toàn Hưng, Nhân Bảo: Lục binh đánh tràn.
Đại Hành giữ Bạch Đằng Giang
Trá hàng giết chết Hầu gian, địch tàn.

Non nhà thắng lợi vinh quang
Cho rằng chẳng thể sánh ngang Tống trào.
Thôi thì… để Tống trên cao
Người Nam chịu cống miễn sao được lành.

  1. Đánh Chiêm Thành:

Đại Hành đối Tống đã thành
Đánh Chiêm vì lỗi giam đành sứ ta.
Bắt người, lấy của chẳng qua
Chỉ là bắt chước người ta đấy mà!

  1. Việc đánh dẹp và sửa sang trong nước:

Sửa sang trong nước, triều ca
Tử An cùng với quan nha họ Từ.
Phạm, Ngô sách lược, binh thư
Đại Hành rảnh rỗi dẹp trừ Mường qua.

Năm Ất Tỵ, vua băng hà
Hăm bốn năm Đế, phước nhà sáu lăm.
Công lao xóa trắng lỗi lầm
Người dân nước Việt rầm rầm ngợi ca.
 
Thanh danh lừng lẫy gần xa
Buồn thay! Cốt nhục toàn là bạo quân.
Anh lo đấm đá tưng bừng
Giành ngôi thể chẳng chưa từng đệ huynh!

  1. Lê Trung Tông (1005):

Đăng cơ, thái tử vạ rình
Ba ngày tại vị, đầu mình… rớt êm!
Long Đĩnh ngày ác, dâm đêm
Giết em Long Việt, đã thèm thú riêng!

  1. Lê Long Đĩnh (1005-1009):

Lê Ngọa Triều quả vua… điên
Ác bằng Kiệt, Trụ lại ghiền máu tanh.
Hành người khác, tính trời sanh
Tẩm rơm đốt sống đã thành trò chơi.

Đẳng cây, người té khơi khơi.
Đầu sư: Róc mía, vẽ vời xảy tay!
Giữa triều trò nhái, vua bày
Đem người bỏ sọt, ban ngày thả sông!

Vua nòi “khát máu, tanh dòng”
Ăn chơi trụy lạc, không lòng nghĩa nhân.
Ngọa Triều” cho đáng tấm thân
Ngàn năm bia miệng hại dân, để lời.

Tiền Lê truyền dẫn ba đời
Hăm chín năm Đế, hết thời, công… toi!

Chương IV
NHÀ LÝ  李  (1010-1225)

  1. LÝ THÁI TỔ (1010-1028)

Niên hiệu: Thuận Thiên 順 天

  1. Thái tổ khởi nghiệp:

Công Uẩn được chọn lên ngôi
Họ Lý khởi nghiệp quê ngoài Bắc Ninh.
Tương truyền chỉ có mẹ sinh
Nhân khi mộng thấy ”thất trinh” với Thần.

Khánh Văn nuôi dưỡng, đỡ đần
Vừa ba tuổi đã quen dần kệ kinh.
Chìu theo thế thái nhân tình
Dời đô ý sẵn cho mình phát quang.
 

  1. Dời đô về Thăng Long thành:

Thái Tổ mộng thấy điềm sang:
Rồng vàng uốn khúc bay ngang chánh thành.
Đại La đổi Thăng Long thành
Con Rồng cháu Thánh, xứng danh Lạc Hồng.

  1. Lấy kinh Tam Tạng:

Đời Lý, đạo Phật đã thông
Đạo Thanh, Phạm Hạc bỏ công tới Tàu.
Mang kinh Tam Tạm truyền nhau
Chùa chiền, chuông đúc có hầu mọi phương.

  1. Việc chính trị:

Nhận phong Giao Chỉ Quận Vương
Chiêm Thành, Chân Lạp cũng đương thái bình.
Các hoàng tử giỏi cầm binh
Công chúa thu thuế quân bình mỗi năm.

Công Uẩn thọ đến năm lăm
Mười chín năm Đế, thâm trầm thiện lương.

  1. LÝ THÁI TÔNG (1028-1054)

Niên hiệu: Thiên Thành 

  1. Lê Phụng Hiểu định loạn:

Hoàng triều phải cảnh tai ương
Hoàng tử thì lại như phường bọ sâu.
Giữa triều, lấy nghĩa can nhau
Không nghe, Phụng Hiểu chém đầu Võ Vương!

Đông Chinh, Dực Thánh cùng đường
Hai vương rớt lại coi dường chịu thua.
Thương tình cốt nhục, nhà vua:
”Chức cũ không được hơn thua, hãy dùng”.
 

  1. Sự đánh dẹp:

Nhà vua trước dẹp giặc Nùng
Sau bình Chiêm cũng là cùng giúp dân.
Thái Tông vốn thật từ nhân
Thứ tha Nùng Trí, nới chân kẻ thù.
Thương dân, tiếng để thiên thu
Người nào có tội được bù chuộc thân.

  1. Giặc Nùng:

Trí Cao chẳng chịu yên phần
Xưng là Hoàng Đế mở dần Đại Nam.
Tám Châu chiếm lấy vì tham
Địch Thanh phá trận, Trí cam mất đầu.

  1. Đánh Chiêm Thành:

Chiêm Thành quấy nhiễu từ lâu
Thái Tông ngự giá tiến sâu Phật thành.
Tướng Chiêm phản chúa đoạn đành
Chém đầu Sạ Đẩu để thành quốc vong.

Thái Tông trông thấy động lòng
Lệnh truyền các tướng chớ hòng giết dân.
Bắt vương phi với cung nhân
Ê Mị giữ tiết gieo thân giữa dòng.

  1. Việc chính trị:

Chăm lo muôn việc ngoài trong
Hoàng nam, cấm bán làm dòng bộc nô.
Đường quan lộ mở ra vô
Thêu thùa, cung nữ, gia nô có phần.

Hăm bảy năm đã trị dân
Vua hiền, con thảo mẫn cần chí tôn.

III. LÝ THÁNH TÔNG  (1054-1072)
Niên hiệu: Long Thụy Thái Bình

  1. Việc chính trị:

Thái Tông tiên đế di ngôn
Cho con thái tử Nhật Tông kế vì.
Thánh Tông lấy hiệu hợp thì
Đổi nước Đại Việt, trị vì sắc son.

  1. Lất đất Chiêm Thành:

Gương hiền hiếu độ làm con
Còn thêm trí dũng song toàn phá Chiêm.
Ba Châu, mới được thâu thêm
Chế Cũ sợ chết mà đem biếu ngài.

Hậu tiền, tả hữu phân hai
Điều binh khiển tượng, đem tài giữ ngai.
Chu Công một bức tượng đài
Thờ Khổng Tử với bảy hai loại người.

Ngài qua cái tuổi năm mươi
Ngai vàng đã ngự đúng mười bảy năm.

  1. LÝ NHÂN TÔNG (1072-1127)

Niên hiệu: Thái Ninh

  1. 2. Ỷ Lan Thái Phi. Lý Đạo Thành:

Năm Tý được lợi chữ Nhâm
Nhân Tông bảy tuổi, thiên mầm nổi danh.

Ỷ Lan, mẹ được buông mành
Làm Thái Phi cạnh Đạo Thành Thái sư.
Cùng nhau Phụ chính thanh trừ
Tôi hiền, tướng giỏi công tư rõ ràng.

  1. Việc sửa sang trong nước:

Vua cho mở cuộc thi văn
Trường Quốc Tử Giám sánh bằng Hàn Lâm.
Võ, Văn chín phẩm lao tâm
Vua Chiêm, Tống Đế ngấm ngầm đánh ta.

  1. 5. Việc đánh nhà Tống. Nhà Tống lấy đất

Quảng Nam:
“Thơ Thần” đã được truyền ra
Lý Thường Kiệt viết như là thánh thư:
Sơn hà, Nam quốc đế cư
Tiệt nhiên định tự thiên thư” ngọn ngành.
Như hà nghịch lỗ lai” tranh
Hành khương nhữ đẵng” thanh danh phí phàm.

“Nước Nam là của người Nam”
Thơ Thần đã được dùng làm chánh ngôn.
Non sông hợp nhất càn khôn
“Tuyên ngôn độc lập” trường tồn khắp nơi.

Thường Kiệt danh sáng rạng ngời
Bình Chiêm, Phá Tống dù ngoài bảy mươi.
Danh ngang Lã Vọng nước người
Cho nhân dân Việt tiếng cười tự do.

Dân tình hưởng phút ấm no
Trời Nam nhuộm trắng cánh cò ngã nghiêng.
Nhân Tông cưỡi hạc quy tiên
Con Hoàng, cháu Đế, Hầu Hiền thế ngôi.
 
Chương V
NHÀ LÝ (Tiếp theo – 1010-1025)

  1. LÝ THẦN TÔNG (1128-1138):

Niên hiệu: Thiên Thuận .
Tương truyền thế tử nằm nôi
Là con cầu tự, đến hồi hóa thân.
Từ Đạo Hạnh, đạt thiện chân
Chùa tu một đấng, chẳng cần tranh đua.

Cháu vua đã được làm vua
Hiền từ đức độ không thua kém gì!
Giúp vua giữ vững ngôi vì:
Anh Nhị, Bá Ngọc, quan tri Khánh Đàm.

Nương vườn, lính đổi phiên làm
Tù nhân đại xá, An Nam thái bình.
Ngài là một đấng hiền minh
Mười năm tại vị, trời sinh phước nhà.

  1. LÝ ANH TÔNG (1138-1175)

Niên hiệu: Thiệu Minh

  1. Đỗ Anh Vũ:

Phụ chính vua nhỏ lên ba
Có bà Thái hậu nết nhà chẳng chuyên.
Dám cùng Anh Vũ đưa duyên
Lộng quyền quá độ, căn nguyên mọi đường.

Bá quan mưu sự, đáng thương
Tự Minh, Vũ Đái, Quốc, Dương rụng đầu!
Thái hậu dám cướp ngôi đâu
Tô tướng phụ đã đỡ đầu bệ cao.

  1. Tô Hiến Thành:

Hiến Thành hữu dũng lược thao
Giúp chúa đánh dẹp giặc Lào, nước yên.
Ngưu Hống phải chạy như điên
Thân Hợi bị bắt, Thái Nguyên được bình.
Thái tế vốn trọng thâm tình
Quan chức lớn vẫn giữ mình sáng sao.

  1. Giặc Thân Lợi:

Thái Nguyên, Thân Lợi loạn trào
Xưng con thiên tử năm nào: Nhân Tông.
Tô Hiến Thành dẹp mới xong
Xuất gia tham vọng, vướng vòng tội vong.

  1. Việc chính trị:

Giáp Thân, nhà Tống sắc phong
An Nam vương quốc cho xong mọi bề.
An Nam tên nước bấy giờ
Đem con giao Thái phó, nhờ gởi trao
Lý Anh Tông bệnh, thoái trào
Ngôi ba mươi bảy, thọ vào bốn mươi.
 
VII. LÝ CAO TÔNG (1176-1210)
Niên hiệu: Trinh Phù

  1. Tô Hiến Thành làm phụ chánh:

Thái hậu đã muốn đổi người
Lập Long Xưởng tính nuốt tươi ghế vàng.
Đem tiền của lót mọi đàng
Họ Tô từ chối, lòng vàng dễ mua?

Trung thành chẳng tính hơn thua
Vâng theo chiếu chỉ ngôi vua luận bàn.
Giàu sang phú quý không màng
Cùng Gia Cát Lượng ngang hàng, quý sao!

  1. Sự nội loạn:

Tiếc rằng vua ở ngôi cao
Khi Hiến Thành mất, sa vào cuộc chơi.
Làm cho nội loạn tơi bời
Phạm Du, Quách Bốc ngôi trời quyết đua.

Hai mươi lăm tuổi, xế mùa
Mất năm Canh Ngọ, về chùa khói hương.

VIII. LÝ HUỆ TÔNG (1211-1225)
Niên hiệu: Kiến Gia

  1. Trần Thị:

Thái tử Sam nối tông đường
Yêu Trần thị, phá cương thường lập Phi.
Trần thị giàu có, kiêu lỳ
Cha đêm đánh cá, ngày thì phá dân.

Họ Trần có một chút ân
Đỡ đần thái tử sa chân ở đời.
Có nhan sắc nên gặp thời
Lấy Thái tử hưởng phước trời Thứ phi.

  1. Quyền về họ Trần:

Thái hậu tìm cách giết đi
E rằng vua quá yêu vì, họa mang.
Vua mê nàng, đem giang san
Chín đời Lý gán cho quan Độ liền.

Vua thân mắc phải cơn điên
Nên Trần Thủ Độ toàn quyền ghét thương.
Đi tu khi biết nhầm đường
Vì thương gái út nên nhường ghế cha.

  1. LÝ CHIÊU HOÀNG (1225)

Niên hiệu: Thiên Chương Hữu Đạo
          
Không trai, số tại mình ra
Sinh hai công chúa, chị là Thuận Thiên.
Cùng vương Trần Liễu se duyên.
Em là Chiêu Thánh, tục truyền Phật Kim.

Huệ Tông quý mến thiên kim
Giang sơn gấm vóc, ngài đem tặng nàng.
Chiêu Thánh công chúa đăng quang
Thủ Độ ép chuyển ngôi sang phía chồng.

Hai trăm mười chín năm ròng
Họ Lý đã chấm dứt dòng lập vua!
Danh thơm đâu dễ mà mua
Vì dân sao lại hơn thua lỗ lời?

Thi đua giữ nước chín đời
Việt Nam cường thịnh sáng ngời một nơi.
Cuối đời, vua chỉ ham chơi
Huệ Tông nhu nhược mới thời cáo chung!

Chương VI
NHÀ TRẦN (1275-1400)

2

Chương VI
NHÀ TRẦN (1275-1400)
Thời kỳ thứ nhất (1225-1293)

  1. TRẦN THÁI TÔNG (1225-1258)

Niên hiệu: Kiến Trung 建 中

  1. Trần Thủ Độ: …

Thủ Độ bày vẽ mông lung
Cướp ngôi nhà Lý gian hùng, bất lương.
Chiêu Hoàng bảy tuổi nào lường
Nhường ngôi đứa trẻ chưa tường yêu đương!

Trần Cảnh tám tuổi hiền lương
Một tay Thủ Độ đảo lường thị phi!
Triệt Lý“, lịch sử còn ghi
Nhổ cỏ tận gốc” mới phi giống người!

Huệ Tông hiểu ý mười mươi
Thắt cổ tự tử, ngậm cười thế gian.
Độ lấy Thái hậu, chẳng màng:
Hai chị em họ, rõ ràng trớ trinh.

Làm cho họ Lý điêu linh
Đào hầm chôn sống, cầm tinh bạo tàn.
Luân thường đảo lộn họ hàng
Bỏ em, lấy chị, phủ phàng thế gian.

Cướp về người vợ có mang
Vừa tròn ba tháng, con quan Trần Thừa.
Ép làm hoàng hậu cho vừa
Bức Trần Liễu loạn, gan thừa: Thái sư.

Hại ngầm họ Lý cho nư
Đổi Lý thành Nguyễn nát nhừ càn khôn!
Nghiệp Trần giật lấy sinh tồn
Thủ Độ tạo nghiệt oan hồn quá sâu!
Sơn hà dùng mẹo mà thâu
Một tay xóa Lý, mưu sâu đã cài!

  1. 3. Việc đánh dẹp giặc giã. Việc cai trị:

Xem ra… Thủ Độ cũng… tài
Với Trần, giúp đỡ vua ngoài tới trong.
Ngôi nhà Lý lấy vừa xong
Xoay qua trị nước, giao thông, học hành…”.
 

  1. 5. Việc thuế má. Đắp đê:

”Quan là quan”, lệ đã thành
Không quan, tiền chảnh, vẫn anh lính hàn.
Sưu thuế chẳng tính hèn sang
Thuế thân, ruộng, muối, cá, vàng, ốc, ngao…

  1. Việc học hành:

Học hành chẳng chút lãng xao
Mở khoa Tiến sĩ thấp cao đệ trình.
Nhâm Thìn mở “Thái học sinh”
“Tam khôi“, Đinh Vị, quy hình một khoa:

Trạng nguyên, Bãng nhỡn, Thám hoa
Văn Hưu viết sử, một khoa, đổ nhì.
Lại cho Tam giáo được thi
Đạo Nho, Thích, Lão, chọn đi đạo nào?

  1. Pháp luật:

Gia hình thấy cũng hơi cao
Người nào “trộm cắp” thì vào chặt tay.
Nhẹ chặt chân, nặng voi giày
Người tham xám mặt, xanh mày, bớt gian.

  1. Quan chế:

Nhà Trần lo việc sửa sang
Chia quan chức với phân quan đại thần.
Thị Lang – Văn nội đồng cân
Lang Trung, Viên ngoại cũng gần Thượng thư.
An Phủ Sứ, Tri phủ thư
Đối Thông, Thiên tứ gia trừ, tứ ân.

Võ ngoại có Ngự sứ quân
Đô thống, Kinh lược, quan thân Thử, Phòng…
Võ nội có những sắc phong:
Phiêu kỵ Thượng tướng, Kim phòng, Phó đô.
 

  1. Binh chế:

Quân – Thần nghĩa chẳng mấy khô
Cùng nhau yến ẩm nào phô lễ nghì.
Mười năm một Bậc, lệ ghi:
Mười tám năm mới vinh quy một Hàm!

  1. Việc đánh Chiêm Thành:

Gìn sông, giữ núi An Nam
Bắc chống Mông Cổ, bình Nam: Chiêm Thành.

  1. Quân Mông Cổ xâm phạm đất An Nam:

Mông Cổ hiếu chiến, gian manh
Lanh nghề cưỡi ngựa, giỏi ngành kiếm cung.
Bành trướng vốn tính khí chung
Xăm lăng Tây Hạ với cùng nước Kim.

Đất người chiếm lấy, vô tim
Triều Tiên, Trung Á chẳng ghìm vó câu!
Thiết Mộc Chân, chúa cầm đầu
Tư Hãn tắm máu, ngõ hầu lập Nguyên.

Thái tổ băng giá đến phiên.
Đăng ngai, nối nghiệp chuyển quyền: Thái Tông.
Nguyên Định Tông mới nối dòng
Ba năm đã mất, Kha Mông giở trò.

Mông con nhà chú Quí Do
Khác “Chi” nhưng cũng một “lò”, một “chiêu”.
Hiếu Tông – Mông Cổ cà khiêu
Sai Hạt Lỗ đánh Tống triều, Ba Tư.

Đồng liêu Hạt Lỗ, tay cừ
Là Hốt Tất Liệt không từ tiến binh.
Giữa chừng hai nước chiến chinh
Mông Kha mất, Liệt tự mình kế ngay.

Đánh khắp Nam, Bắc, Đông, Tây
Nhà Mông đổi chủ thay thầy, hóa Nguyên.
Ngột Lương Hợp Thai cầm quyền
Sai sứ đến Thái Tông khuyên thuận hàng.

Vua, quan Trần quyết hai đàng:
Một, giam sứ giả. Hai, dàn trận nghinh.
Thái Tông anh dũng thân chinh
Cùng Trần Quốc Tuấn chống binh Nguyên triều.

Binh phân, thế yếu tiêu điều
Bỏ kinh đô chạy như diều đứt dây.
Thái Tông bụng dạ trên mây
Trần Nhật Hiệu với cách hay “phải hàng”!
 
Thái sư Thủ Độ vội can:
Đầu thần chưa rớt, đừng bàn thuận Nguyên”.
Nghe lời cứng cỏi, vua yên.
Đồng tâm đánh giặc, quân Nguyên rút về.

Cùng đường mỏi mệt, la lê
Coi làgiặc Phậtkhông hề cướp chi!
Quân Mông Cổ bị đuổi đi
Nhưng khi dứt Tống, tức thì giở chiêu:

Bắt vua Trần đến Mông triều
Lạy chầu để nhận những điều phải theo.
Lê Phụ Trần đổi một keo:
Ba năm chịu cống, qua đèo, vượt sông.

Chuyên cần thế sự, Thái Tông
Truyền ngôi Thế tử ngừa phòng trước sau:
”Anh em chớ có tranh nhau
Chăm dân, trị nước về sau một lòng”.
 
Đỡ đần việc nước, Thái Tông
Được tôn làm Thái Thượng Hoàng giúp vua.
Thái bình qua hết bốn mùa
Băm ba năm Đế, về chùa, sáu mươi.

  1. TRẦN THÁNH TÔNG (1255-1278)

Niên hiệu: Thiệu Long 紹 隆

  1. Việc chính trị:

Non sông nở đóa hoa tươi
Thái tử tử tế, thương người giống cha.
Trời xanh một cõi bao la
Thánh Tông đổi lấy hiệu là Thiệu Long.

Anh em lấy đức trời đong
Cha ông để nước chớ hòng thị phi.
Quan Nho có Mạc Đỉnh Chi
Lê Văn Hưu viết sử thi nước nhà.

Trang điền, thời ấy mà ra
Vương hầu, Phò mã lo qua ruộng đồng.

  1. Sự giao thiệp với Mông Cổ:

Nhà Trần dẫu nhận sắc phong
Ba năm cống nạp, vẫn phòng giặc Mông.
Hòa ngoài vẫn biết bên trong
”Xâm lăng” mưu giặc chất chồng thế thôi.

Cho nên lính ngũ phân đôi
Quân“, “Đô” cũng phải không thôi hợp thời.
Cứng bên trong, ngoài dịu lời
Nhà Nguyên kia mới không thời khó ta.

Thông minh, tiếng đã gần xa
Năm mươi bốn tuổi, vua ta băng hà.
Thái Thượng Hoàng được mười ba
Hai mốt năm Đế quả là nghĩa nhân.

III. TRẦN NHÂN TÔNG  (1279-1293)
Niên hiệu: Thiệu Bảo 紹 寶

  1. Việc chính trị:

Thái tử Khăm được triều thần
Tôn làm vua, tức Nhân Tông bấy giờ.
Thời ngài đánh giặc mỏi mê
Thiệt con vua giỏi chẳng chê chút nào!

  1. Việc văn học:

Vua quan học rộng, tài cao
Thi thơ Phạm, Nguyễn đương trào hảo văn.
Hưng Đạo, Quang Khải ai bằng
Oai phong khí lực đằng đằng xuyến xao!

Chương VII.
GIẶC NHÀ NGUYÊN (1284-1288)
I.

  1. Sài Thung sang sứ An Nam:

Nhà Nguyên cậy ở trên cao
Sài Thung ngạo mạn muốn vào nước ta.
Nhà Trần thủ lễ, thiệt ra:
Lượn con sóng dữ để mà lái ghe.
 

  1. Trần Di Ái theo nhà Nguyên:

Nguyên – Mông ỷ mạnh, hăm he
Bày ra lắm lẽ để… đè nước Nam:

Vua Nam cấp tốc sang chầu
Châu vàng, báu ngọc… cung cầu phải hay.
Người hiền sĩ, kẻ khéo tay
Thầy giỏi giảng dạy, đưa ngay tới Tàu!
 
Nhà Trần cũng lắm mưu sâu:
Đưa Trần Di Ái sang hầu giặc Nguyên.
Vua Nguyên nổi giận như điên
Phong Di Ái chức quan liền: Quốc vương.

Vua Trần phái tướng ngăn đường
Bắt Trần Di Ái, triệt đường quân nhu.
Sài Thung bị bắn mà mù
Đi đời một lũ theo thù, phản trong.

  1. Thoát Hoan sang đánh lần thứ nhất:

Nguyên chủ nổi giận thua không
Sai con Thái tử quyết lòng bá vương.
Mượn đường“, sách cũ một chương
Đánh Chiêm nhưng cũng gian lường bẫy giăng.

Giặc năm mươi vạn hung hăng
Quân ta thủy, bộ chỉ bằng nửa thôi!
Trứng mà chọi đá, than ôi
Diên Hồng hội nghị “đánh” thôi, hay “hòa“?

Bà Trưng, Bà Triệu quần thoa
Nữ lưu đánh giặc có hòa được không?

Quân dân, bô lão một lòng
Dưới cờ Quốc Tuấn ngoài trong đã đồng.
Giữ đường bộ lẫn đường sông
Không cho giặc kiếm cớ hòng lẻn qua.

  1. Trần Hưng Đạo Vương quân thua về

Vạn Kiếp:
Một lòng giữ lấy sơn hà
Trận đầu: Kỳ Cấp với là Khả Li.
Hy sinh thân xác, xá gì
Lộc Châu thất thủ, phất kỳ Chi Lăng.
Quân đông, địch quá hung hăng
Kế nào bằng kế phải chăng, giữ mình?

Quy hàng, vua định trọn tình
Nhưng còn xã tắc, quân mình, phải lo?
Ngặt vì thế giặc quá to
Vua Trần lòng dạ đói no rối bời!

Đại Vương đã quyết một lời:
“Chém đầu thần trước mới thời hàng Nguyên”.
Lời tâu trung liệt, vua yên
Đức Trần Quốc Tuấn soạn liền “Binh thư”.

Thơ Thầnthời  Lý – thiên thư
Đời Trần, “Hịch tướng sĩ” như thi thần.
Thường Kiệt, Quốc Tuấn thương dân
Khác bao vô sĩ vong thân, mắt mù!

”Này là Kỷ Tín, Do Vu
Dự Nhượng, Thân Khoái… trung lưu chẳng thừa.
Trung thần, nghĩa sĩ đời xưa
Liều thân cứu Chúa, nắng mưa chẳng sờn.
 
Đây còn Kính Đức chính chơn
Kiểu Khanh miệng mắng Lộc Sơn nghịch đồ.
Văn Lập sức yếu thế cô
Một mình giữ lấy thành đồ Điếu Ngư.
 
Lại còn có Xích Tu Tư
Đánh quân Nam Chiếu rạng chừ đức danh.
Nay quân Mông Cổ vây thành
Cậy danh Tất Liệt, quyền hành Vân Vương.
 
Bạc vàng vơ vét tứ phương
Thân dê chó, lưỡi cú, thường mắng vua.
Ta đêm ăn ngủ thớt thưa
Ruột đau như cắt, mắt thừa lệ tuôn!
 
Quân thù chưa diệt mà buồn
Thây nội cỏ rũ mới suông dạ này!
Dẫu rằng ‘da ngựa bọc thây’
Chỉ mong thấy cảnh nước mây thái bình.
 
Các ngươi nay chẳng thấu tình
Lính: Cơm đâu có; ngựa mình ai cho?
Bệnh đau, sống chết ai lo
Quan: Ai thăng thưởng; bổng kho đâu dùng?
 
Nghĩ gần, sao chẳng thẹn thùng
Đứng nhìn chủ nhục suy cùng chẳng run?
Nghĩ xa, chẳng trọn tình chung
Lấy điều ‘quốc sỉ’ mà nung chí bền?
 
Thân làm tướng, hầu giặc trên
Thái Thường đãi yến chẳng ‘rên’ trong lòng!
Chọi gà, đánh bạc coi không
Vui thú vườn ruộng mà lòng chẳng đau?
 
Nước nhà trong cảnh bể dâu
Còn ham săn bắn, đá cầu để vui!
Mắt thấy giặc đến mà đui
Áo giáp giặc? Cựa gà  dùi thủng sao?
Mẹo cờ bạc dẫu là cao
Đem vào mưu sự, hư hao mọi điều!
 
Ôi chao! Ruộng lắm, vườn nhiều
Lấy nhiều  vàng bạc mà chìu giặc chăng?
Quân thù nào sợ chó săn
Rượu ngon, tiếng hát, giặc rằng: điếc tai?
 
Thiệt là chẳng nghĩ một mai
Thái ấp ta mất, bia ai bị nguyền?
Vợ con gia quyến, quan quyền
Tiếng xấu còn mãi lưu truyền sử sau!
 
Đau lòng, ta bảo mấy câu:
Cẩn thận củi lửa, lo hầu kiếm, tên.
Thanh danh từ đó mà nên
Để tâm vì nước ở trên vị lòng.
Sức bền, người tựa Bàng Mông
Nhà nhà Hậu Nghệ mới hòng rạng danh’’.

  1. Thành Thăng Long thất thủ:

Lời vàng dẫn dạy đã thành
Cánh tay Sát Thát” rành rành giết Mông.
Chí khí lớn nhưng giặc đông
Thăng Long phải bỏ trống không đoạn đành!

  1. Toa Đô đánh Nghệ An:

Toa Đô quân tiến khá nhanh
Nghệ An giặc chiếm, cũng đành bỏ đi.

  1. Hưng Đạo Vương đem vua về Thanh Hóa:

Thượng tướng Quang Khải chỉ huy
Quân binh lúc thủ, lúc khi vội vàng.
Phản nòi, Trần Kiện đầu hàng
Giữa đàng bỏ mạng vì màn loạn tên.

Thân giòi có mấy kẻ nên
Danh cao, đức trọng mấy tên để đời?
Đây hồn sông núi trùng khơi
Đi bên đất nước nhắc thời vẻ vang!

Trần Bình Trọng:
Trung thần, lịch sử thêm trang
Tướng Trần Bình Trọng sánh Quan Vân Trường.
Ngẫm lời khẳng khái mà thương:
Giặc dụ: “Có muốn làm Vương, được làm?”.

“Ta thà làm qunước Nam
Không màng Vương Bắc, chẳng tham hơi đồng”.
Khác chi nghĩa khí Quan Công
(Không hàng Tào Tháo), một lòng đầu rơi!

Chết đi, tiếng tốt để đời
Còn hơn tham sống, người thời rẻ khinh.
Nghĩa nhân sau trước trọn tình
Bền lòng cứu nước, hy sinh nghiệp đồ.

  1. Trận Hàm Tử Quan:

Trần Nhật Duật phá quân Toa Đô:
Được tin binh mã Toa Đô
Thế cùng lương cạn, mưu đồ hợp binh.
Chiêu Vương xuống lịnh, chớ khinh
Nguyễn Khoái, Quốc Toản dẫn binh đón đường.

Trần Nhật Duật – Chiêu Văn Vương
Triệu Trung, Tống tướng chẹn đường Toa Đô.
Tưởng Tống khôi phục cơ đồ
Hãi hùng binh giặc cơ hồ vỡ tan!

Hàm Tử nổi sóng Bình Than
Toa Đô khiếp vía lùi sang Thiên Tường.

  1. Trận Chương Dương Độ:

Trần Quang Khải khôi phục Thăng Long:
Hàm Tử rồi đến Chương Dương
Con đường thắng trận, hai Vương lẫy lừng.
Thoát Hoan bị đánh giữa chừng
Bỏ Thăng Long chạy, bừng bừng giận căm.
Mừng lòng, Quang Khải xướng ngâm:
“Chương Dương đoạt sáo, hồ cầm Tử Quan”.
 

  1. Trận Tây Kết:

ớng nhà Trần chém được Toa Đô:
Một lòng Hội nghị Bình Than”
Vua quan Trần đã chẳng màng hiểm nguy.
Đuổi về Tàu lũ Mã Nhi
Toa Đô tử trận, còn chi cái đầu!

Lòng trung ai cũng như nhau
Hiểu người đối xử là câu gốc nền.
Xứ người, bỏ mạng, ơn đền
Nhân Tông thương cảm nghĩa bền kẻ trung.

Ngự bào cởi đắp, chôn chung
Lễ nghi tử tế cạn cùng nghĩa nhân!
Thương người như thể thương thân”
Làm con người tốt, trí nhân phải cần.
 

  1. Trận Vạn Kiếp:

Thoát Hoan trốn chạy về Tàu:
Thoát Hoan… chạy thoát lấy thân
Ba quân khiếp hãi theo lần, trốn sau.
Binh thua, ai cũng giữ đầu
Mở gấp đường máu về Tàu, phước cha!

Biết Thoát Hoan muốn chạy xa
Đạo Vương điều động quân ra cản đường.
Hai con Nghiêu, Úy, tước vương
Cùng nhau chận lấy nẻo đường Tự Minh.

Bắc Giang, chặn đánh Nguyên binh
Khiến bọn Hằng, Quán bỏ mình trúng tên.
Thoát Hoan, Phàn Tiếp còn hên
Hoan chui vào ống mới nên giữ mình.

Bài học cho kẻ viễn chinh
Nghinh ngang lúc đến, thất kinh lúc về!

Đại Vương quyết định mọi bề
Bằng tài thao lược, tràn trề đức nhân.
Thêm vua tôi của nhà Trần
Một lòng hòa hợp giữ phần cán cân.

Địch quân tan tác mười phân
Sơn lam, chướng khí gì cần đánh lâu!
Sanh ra bệnh tật ốm đau
Xâm lăng, giặc biết dãi dầu đến phiên!

Chương VIII
GIẶC NHÀ NGUYÊN (1284-1288)

  1. Nguyên chủ định khởi binh phục thù:

Hưng Đạo phá được quân Nguyên
Nhà Nguyên xấu hổ, đương nhiên báo thù.
Sa mưa tính chuyện giả mù
Đạo Vương chuẩn bị quân nhu gấp liền.
 

  1. Thoát Hoan sang đánh lần thứ hai:

Năm Đinh Hợi, lũ giặc Nguyên
An Nam thẳng tiến, ngang nhiên, hầm hừ.
Tin từ Trấn thủ báo thư
Trần Hưng Đạo mới chần chừ tính toan:

Ngặt là lũ giặc Thoát Hoan
Thêm ba mươi vạn nên còn thế hăng.
Ta trước sau tính phải chăng
Một đằng vườn trống, một đằng Hán Nam.

Ô Mã Nhi lòng nào cam
Chiêu Lăng hóa cám mới làm lại gan!
Dân tình cực khổ ly tan
Xâm lăng, tự cổ bạo tàn bất dung!

  1. Trận Vân Đồn: Trần Khánh Dư cướp lương

của quân Nguyên:
Giặc Nguyên lương thực cạn cùng
Khánh Dư nghĩ kế, ung dung… cướp thuyền.
Mã Nhi, trước thắng, bụng yên
Sau khinh địch, xuống cửu truyền vấn vương…

Trương Văn Hổ nhận tải lương
Hết phương chống đỡ, kiếm đường thoát chân.
Giặc Nguyên hoảng hốt, phân vân
Nửa phần trốn chạy, nửa phần tử vong.

  1. Trận Bạch Đằng: Ô Mã Nhi phải bắt:

Hưng Đạo dự đoán dễ không:
Quân Nguyên tháo chạy qua sông Bạch Đằng.
Mã Nhi ngu ngốc, hung hăng
Chẳng ngờ mắc kế “cọc giăng” giữa dòng.

Vướng cọc, bị bắt vào tròng
Phàn Tiếp, Lệ, Ngọc mang gông “Hiến phù”.
Xâm lăng tiếng xấu nghìn thu
Thoát Hoan hai chữ ”cương – nhu” nhớ đời!

Gương xưa, tích cũ có lời:
Mẹ cha nào muốn con rơi máu đào!
Chẳng qua mỗi Chúa một trào
Tướng thua, binh chết, hồn nào chẳng thiêng!

  1. ng Đạo Vương đại phá Nguyên binh:

Thoát Hoan phải kiếm đường riêng
Gặp binh Ngũ Lão đương nhiên thất thần.
Ba ngàn binh của Trương Quân
Chủ mất vội chạy lấy thân trễ tràng.

Bằng Phi, Lỗ Xích vội vàng
Thoát tên thuốc độc, hợp đàng Tư Minh.
Trương Ngọc, Bát Xích bỏ mình
Xương trắng chất đống vô hình khí thiêng.

Nhà Trần đại phá quân Nguyên
Giang sơn thoát được oan khiên sấm rền.
Hai phen ngựa đá dập dềnh
Âu vàng thiên cổ vững bền núi sông.

Thăng Long khai tiệc mừng công
“Thái Bình diên yến”, mây trong, nắng lòa.
 

  1. Sứ An Nam sang Tàu xin hòa:

Mậu Tý, Thiên Thứ xin hòa
Nhà Nguyên thua trận, xuê xoa thuận tình.
Nhân dân thoát cảnh điêu linh
Nhà Trần giữ chữ công, minh đức truyền.

Hiếu sinh, thả lũ giặc Nguyên
Nhưng theo Hưng Đạo: “đắm thuyền Mã Nhi”.
Vì hắn ác chẳng ai bì
Giết người thỏa chí, vậy đì… chết sông!

  1. Định công, phạt tội:

Triều thần lắm kẻ hai lòng
Tham sống, sợ chết chẳng hòng Thiện – Chân.
Móc moi tội lỗi mà cân
Rỉ tai vua để phân trần, tiểu nhân!

Thượng Hoàng chẳng chút phân vân
Đem công thế tội, xử phân định lường.
Công thần đệ nhất Đạo Vương
Khánh Dư, Quang Khải, phong Vương nhất Hàm.

Huyền sử Toản bóp nát cam
Phá cường địch, báo hoàng ân” lập thề.
Tuổi mười sáu, sức tràn trề
Nhân, Hùng,Trí, Dũng dưới cờ Đạo Vương.

Trung thần Bình Trọng, Chiêu Vương
Ngũ Lão, Nguyễn Khoái… ban Vương, thưởng Hầu.
Đánh giặc, ai có công đầu
Cứ theo mà định, chẳng cầu tấu chương.

Võ, Văn công, tội tỏ tường
Thượng Hoàng về phủ Thiên Tường, giá băng.
Nguyên triều, Tất Liệt cũng… thăng
Đăng quang, vua mới thuận chăng: Nghị hòa.

Yên lành hóa giải nguy cơ
Nước Nam thoát khỏi những giờ chiến tranh.

Chương IX
NHÀ TRẦN
Thời kỳ thứ hai (1293-1341)

  1. TRẦN ANH TÔNG (1293-1314)

Niên hiệu: Hưng Long 興 隆

  1. Đức độ vua Anh Tông:

Vua hiếu thảo, phúc trời sanh
Thông minh trực chánh, tâm lành trị yên.
Ngài là thái tử Trần Thuyên
Hưng Long, niên hiệu Anh Tuyên, kế triều.
Cương thường chỉnh đốn mọi điều
Võ, Văn: Ngũ Lão, Hán Siêu vững vàng!

* Phạm Ngũ Lão
Đời xưa kể chuyện thế gian:
Ngồi, tay đan sọt, lòng mang nước nhà.
Giữa đàng nào thấy lính qua
Đùi bị giáo “kích” vậy mà chẳng hay!

Đạo Vương mến kẻ dũng này
Cho về dưới tướng đêm, ngày lập công.
Dực quân Quản Thánh” được phong
Võ giỏi lại nổi văn phong: Thuật hoài”:

Giữa trời, “bày tỏ lòng tôi”
Nam nhi khúc hát xa xôi vọng về.
Trung quân, ái quốc vẹn thề
Đôi vai xã tắc, não nề tiếng ru.

“Non sông múa giáo mấy thu
Ba quân thế hổ nuốt Ngưu sao dần.
Làm trai danh chẳng trước sau
Nghe người kể chuyện Vũ Hầu, thẹn tai”.
 
* Mạc Đỉnh Chi: Trạng Nguyên
Đỉnh Chi nổi tiếng văn tài
Họ Mạc thời bé, con trai kẻ hèn.
Không dầu, bắt đóm làm đèn
Học hành đổ đạt xứng hàng Trạng Nguyên!

  1. Trần Hưng Đạo Vương mất:

  (1300-20 tháng, Canh Tí)
Nước Nam yên ổn mọi miền
Đến phiên Thượng phụ hết duyên cõi phàm.
Công thần đệ nhất nước Nam
Thái sư, Nguyên soái với hàm Đại Vương.

Chuyện xưa cũng kể một chương
Trần Thừa chịu nhục mà nhường đứa dâu.
Thái sư Thủ Độ thâm sâu
Tráo ngôi, đổi vị mưu cầu lợi danh.

Trần Liễu trăn trối rành rành:
‘‘Thù nhà báo trả’’ hay đành phải quên?
Hiềm riêng, Vương quyết không nên
Vì dân, vì nước phải quên hận nhà.
Ba lần giữ lấy sơn hà
Anh em đoàn kết, một nhà phải thương.

Đời ngài đáng để làm gương
Uy quyền lớn chẳng giống phường tự kiêu.
Lo mình ít, nghĩ dân nhiều
Đi rồi, trung hiếu, mọi điều dạy vua.

Hơn đồ bán nước, hơn thua
Lo mà vơ vét, ganh đua thế thời.
Ngài đi non nước lệ rơi
Hương hoa thờ phụng cho đời đức tin.

  1. Việc đánh Ai Lao:

Ai Lao quấy nhiễu dân tình
Vua sai Ngũ Lão đi bình mới yên.
Nghệ An, Thanh Hóa hai miền
Tai qua chiến sự, họa liền: giặc sinh.
 

  1. Sự giao thiệp với Chiêm Thành:

* Huyền Trân công chúa
Tàu – Nam hai nước bãi binh
Nam – Chiêm chẳng có chiến chinh, thái bình.
Chế Mân hôn ước định tình:
Hai châu Ô, Rí dâng xin lễ quà.

Nhữ Hài kinh lý phân ra
Đặt quan cai trị Thuận và Hóa Châu.
Trần Khắc Chung nén thương đau
Thân chinh tống tiễn, chia sầu kẻ đi…

Huyền Trân đội bóng Tây Thi
Khắc Chung như Phạm Lãi vì chúng sinh.
Dẫu là nhi nữ thường tình
Quốc gia đại sự phải mình biệt hương!

Huyền Trân nhận lãnh tai ương
Hai năm hoàng hậu thảm thương: Góa chồng!
Hỏa thiêu như tục thuần phong
Phi tần, hoàng hậu chết trong lửa Hời.

Mạng người nào phải đùa chơi
Anh Tông vội vã cho mời Khắc Chung.
Bàn nhau cách cứu em cùng
Trước sau theo kế phải dùng, đón ra.

Chế Mân vừa mới ra ma
Chế Chí lo lễ táng mà thế vua.
Lòng hay phản trắc hơn thua
Cho nên mới bị Trần vua bắt đì.
Người em Chế Chí nối vì
Hận sâu tích cũ, căm vì chuyện xưa.

Nhân Tông công đức đã thừa
Ngôi hăm mốt, Thượng Hoàng vừa sáu niên.

  1. TRẦN MINH TÔNG (1314-1329)

Niên hiệu: Đại Khánh 大 慶 .
Giết cậu Trần Quốc Chân:
Thái tử Trần Mạnh nối phiên
Nghe lời nịnh hót, đảo điên sĩ hiền.
Công thần phải tiếng oan khiên
Thân sinh hoàng hậu chết phiền, oán mang.

Quốc Chân tình thật nào gian
Lại oan “mưu phản” mà mang xích xiềng!
Khen cho Trần Nhạc tham tiền
Vu gian chủ tướng, đáng nguyền lắm không?

Vì ghen, vợ vạch mưu chồng
Vua nông nổi mắc vào tròng kẻ gian!
Mấy dòng chép lại mà than:
Làm quan minh chánh, thế gian chẳng nhiều!

Can qua tức tưởi trong triều
Nhưng thời lúc ấy có nhiều đổi thay.
Chu Văn An dạ thẳng ngay
Tâu ”xin chém bảy kẻ hay nịnh thần”.

Siêu, Hài một dạ đỡ đần
Lão, Chi, Trung Ngạn góp phần lược thao.
Cùng nhau gìn giữ một trào
Đánh Chiêm Thành với Ai Lao quấy rầy.

Vẽ mình, tục cấm từ đây
Thâm tình một họ không bày kiện nhau.
Thái học sinh mở khoa đầu
Văn ôn, võ luyện cùng nhau giữ nòi.

III. TRẦN HIẾN TÔNG (1329-1341)
Niên hiệu: Khai Hữu 開 祐

  1. 2. Giặc Ngưu Hống. Giặc Ai Lao:

Minh Tông ra chiếu nhường ngôi
Lên mười, thái tử Vượng ngồi ghế vua.
Hiến Tông hoàng đế kế thừa
Quốc sự mọi việc đều đưa Thượng Hoàng.

Thời ngài, giặc giã con con
Giặc trong Ngưu Hống và còn Ai Lao.
Quân Trần đánh, giặc cao bay
Quân Trần vừa tháo, lao nhao quấy rầy!

Hiến Tông hoàng đế yếu gầy
Mười ba năm vị, tới ngày phải xa.

Chương X: NHÀ TRẦN
Thời kỳ thứ ba (1341-1400)

  1. TRẦN DỤ TÔNG (1341-1369)
  2. Việc chính trị:

Nhằm khi vua trẻ băng hà
Người em lên kế hiệu là Thiệu Phong.
Thượng Hoàng định việc ngoài trong
Nhưng khi ngài mất, Dụ Tông rượu chè.

Đào hồ, đắp núi đâu dè
Ăn chơi, bài bạc… nào khe đói nghèo.
Giặc giã cướp phá ì xèo
Cơ đồ Trần đã bay vèo khỏi tay!

  1. Việc giao thiệp với Tàu:

Bên Tàu, Nguyên cũng suy lây
Sĩ Thành, Hữu Lượng hai tay soán trào.
Họ Chu khởi nghiệp binh đao
Mười lăm năm đã lật nhào đế Nguyên.

Nhà Trần dẫu nhược uy quyền
Nhà Minh mới lập muốn liền nghỉ ngơi.
Chiêu an, Minh Đế mở lời
Dụ Tông sai sứ cống, thời được yên.

  1. Việc giao thiệp với Chiêm Thành:

Chiêm Thành loạn lại đến phiên
Anh em dòng họ Chế liền chiếm ngôi.
Quân nhà Trần quá suy đồi
Đưa quân giúp Chế, thua oai, chạy về!

Chế Bồng Nga lúc bấy giờ
Vua Chiêm uy vũ tràn trề khí danh.
Đánh An Nam mở chiến tranh
Quân Trần không mạnh, tan tành dưới giông!
Duệ Tông, xa đọa thong dong
Mất năm Kỷ Dậu, không con nối dòng.

  1. Dương Nhật Lễ:

Họ Dương có mẹ hát rong
Bỏ chồng, lấy Túc Vương ông ở triều.
Nhật Lễ tài chẳng bao nhiêu
Được Hoàng Thái hậu thương chiều mới ngông.
Triều thần chẳng chút đồng lòng:
Cung Định Vương mới là dòng dõi vua”.
 
Dương Nhật Lễ cũng chẳng vừa
Vong ân bội nghĩa có thừa ác tâm.
Dứt nhà Trần, mưu đã thâm
Thái hậu bị trảm, hại ngầm dượng nuôi.

Thương người có mắt mà đui
Ma xui, quỷ khiến mà nuôi đứa này!
Triều thần bắt Lễ phơi thây
Cung Tĩnh Vương được rước ngay, cùng ngày.

  1. TRẦN NGHỆ TÔNG (1370-1372)

Niên hiệu: Thiệu Khánh  紹 慶
Nghệ Tông nhu nhược cầu may
Cho người ngoại thích ứ đầy quyền quan.
Họ Hồ dòng dõi Chiết Giang
Sang ta, đổi họ, sắp ngàn kế trong.

Hai người cô lấy Minh Tông
Sanh hai thế tử gia phong nối dòng.
Nghệ Tông rồi đến Duệ Tông
“Trung tuyên hầu” chức phong phòng họa sau.
 
Hai năm, Hồ tính trong đầu
Nhâm Tí, ép Nghệ mau mau nhượng quyền.

III. TRẦN DUỆ TÔNG (1372-1377)
Niên hiệu: Long Khánh 隆 慶

  1. Việc chính trị:

Em vua, thế tử thay phiên
Niên hiệu Long Khánh, tên miền: Duệ Tông.
Em Quý Ly cũng được phong
Lập làm hoàng hậu cùng tông họ hàng.
Họ Trần thiệt khéo làm ngang
Cô, dì, em, chú chẳng màng, lấy nhau!

  1. Thi cử:

Giáp Dần, thi cử hàng đầu
Năm mươi Tiến sĩ vào chầu trước sau.

  1. Việc đánh Chiêm Thành:

Quân Chiêm phá sập Hóa Châu
Duệ Tông thống lĩnh đánh nhau tuyến đầu.
Chế Bồng Nga với kế mầu:
Giả hàng” nên sớm lấy đầu Duệ Tông.

Lời thiêng vọng giữa thinh không
Vua ra chiến trận, mạng vong tế thần!
Tiên trách kỷ. Hậu trách nhân”
Đánh qua, giết lại chỉ ngần ấy thôi!
Giỏi cho một lũ bọ giòi
Bỏ vua mà chạy, bề tôi nghĩa gì!

Đỗ Tử Bình với Quý Ly
Hám danh, chuộng lợi khác chi hạng bần.
Duệ Tông bướng bỉnh một phần
Bỏ mình giữa trận, phong trần liệt cương!

  1. TRẦN PHẾ ĐẾ (1377-1388)

Niên hiệu: Xương Phu 昌衭
Lên ngôi cũng cháu Đế vương
Là Thái tử Hiển, tinh tường, trí thông.
Xương Phu đổi hiệu, đắng lòng
Mười một năm Đế, quyền không, bù nhìn.

  1. Chiêm Thành sang phá Thăng Long:

Chiêm Thành đánh phá đô kinh
Ra vô như cá quẫy mình, sủi tăm.
Chế Bồng Nga quả không lầm
Vua Trần chẳng thể nào cầm quốc gia.

  1. Tình thế nước Nam:

Sinh linh tán thán gần xa
Sưu cao, thuế nặng kêu la mỗi ngày.
Kho tàng trống rỗng trong tay
Thuế thân từ đấy giáng chày xuống dân.

  1. Nhà Minh sách nhiễu:

Nhà Nguyên kết thúc số phần
Nhà Minh sách nhiễu ngàn lần vét vơ.
An Nam cống vật mệt khờ:
Tăng nhân, cây quý đưa về Bắc phương.
Giáp Tý, bắt cống thạch lương
Đòi hỏi đủ thứ đo lường thực hư.

  1. Nghệ Tông thất chính:

Nghệ Tông chẳng thể công tư
Quân binh không có coi như mất quyền.
Triều thần chỉ nghĩ tư riêng
Quý Ly, vua lại ưu tiên cậy nhờ.

  1. Lê Quý Ly mưu giết Đế Hiển:

Nhà Trần ngó bộ tàn giờ
Nên cho ngoại tộc thừa cơ truất quyền.
Họ Lê làm chuyện đảo điên
Giết chết Đế Hiển ngang nhiên giữa triều.

Thượng Hoàng tâm mỏng, lòng xiêu
Thương cho Đế Hiển ít nhiều liệt trinh.
Giải giáp” chẳng để cứu mình
Thân vua “thắt cổ” nhục hình, tội oan!

  1. TRẦN THUẬN TÔNG (1388-1398)

Niên hiệu: Quang Thái 光 扆

  1. Phạm Sư Ôn khởi loạn:

Chiêu Định con út Thượng Hoàng
Lên ngôi, dạ cũng héo hon cả lòng.
Quang Thái niên hiệu Thuận Tông
Làm vua tay vẫn trống, không chút quyền.

Giặc giã nổi dậy khắp miền
Vì “thượng bất chính“, quan viên bất bình.
Nguyễn Thanh tức Đức Vương – Linh.
Sư Ôn, Vương Kị dấy binh bên ngoài.
Lương Giang, một cõi, Quốc Oai…
Với cùng Nông Cống đánh hoài ngày đêm.

  1. Chế Bồng Nga tử trận:

Thanh Hóa lại bị giặc Chiêm
Chế Bồng Nga dẫn quân thêm, phá thành.
Quý Ly bại trận, chạy nhanh
Thiệt là nhục nhã thanh danh tướng Trần.

Thắng thua cũng đã định phần
Thượng Hoàng sai tướng Khát Chân xuống đường.
Hết thời, lũ giặc nhiễu nhương
Khiến thằng đầy tớ cùng phương, khiếp liền.

Phản vua, nó chỉ đúng thuyền
Họ Chế trúng đạn, quan viên cắt đầu.
Bồng Nga lừng lẫy còn đâu
Tài cao Bắc Đẩu, thua nhau thế, thời!

Chạy đâu cho thoát cơ trời
Tranh đua xâm lược khiến đời phải chê!

  1. Lê Quý Ly chuyên quyền:

Từ khi chiến sự yên bờ.
Quý Ly kia lại trở cờ soán ngôi.
Công thần bị giết không thôi
Nghệ Tông mọi sự coi mòi chẳng xong!
Như con chim đã vào lồng
Mượn lời Lưu Bị mà hòng gỡ nhơ.

  1. Nghệ Tông mất:

Làm hại tôn tử mà ghê
Cơ đồ đổ vỡ là… nghề… Nghệ Tông!
Thông minh, khí chất đã không
Đen, hồng quáng mắt, hư tròng, nhuốc nhơ!

Ba năm trị nước khù khờ
Vào năm Giáp Tuất, xa bờ, lánh non.
Hưởng dương bảy bốn xuân son
Hăm bảy năm giết hết con cháu mình.

  1. Lê Quý Ly mưu sự thoán đoạt:

Thái sư phụ chính trớ trinh
Quyết định đại sự, cũng mình Quý Ly.
So Trần Thủ Độ khác gì?
Đều là cướp đoạt ngôi vì thế gia!
Cá nhân tuy dạ xấu xa
Nhưng mà “đối địch” cũng ra hạng chì!

  1. Việc tài chính:

Việc tài chính đến việc thi
Lưu hành tiền giấy tức thì hạnh thông.
Giấy cây rêu bể: mười đồng
Cái sóng, ba chục; phượng, rồng tính cao.
 
Ai làm tiền giả: trảm đao
Tiền giấy dân dụng, đồng hào nộp vua.
Mười mẫu ruộng, dân được mua
Đại vương, công chúa ruộng… chùa cứ thâu.

Dân gian phạm tội như nhau
Ruộng điền kia cứ đổi hầu chuộc thân.
 

  1. Việc học hành:

Trường thi theo lệ định phân
Ám tả bãi bỏ, thế chân tứ trường.
Bài kinh nghĩa thi nhất trường
Nhị trường:  thi phú, tam trường: biểu văn.
 
Thi Hội đã trúng, thì rằng
Làm thêm bài nữa định bằng thấp, cao.
Giáo chức lộ, phủ, châu nào
Châu: mười lăm mẫu, phủ vào mười hai.
 

  1. Việc cai trị:

Y phục của các quan sai
Quý Ly định lại theo đai phẩm đồng:
Nhất, Nhị, Tam: tía đỏ hồng…
Cải tổ mọi thứ ngự phòng, đại đô.
Bởi lòng muốn dựng nghiệp Hồ
Làm bao người đã xuống mồ ngán ngao!

  1. Lập Tây Đô:

Tây Đô – Thanh Hóa xây trào
Quý Ly dời chuyển ra vào hiếp vua.
Bính Tý, xúi đạo sĩ hùa
Vào xui vua phải vô chùa bỏ đao.

Ép màn: ”Nhường nhịn ngôi cao”
Thuận Tông phải đổi áo bào mới yên.
Mười năm tại vị quá hiền
Vua gì chẳng chút binh quyền tới tay!

  1. Sự phế lập Trần Thiếu Đế (1398-1400):

Hạ hồi thiệt, giả nào hay
Thái tử ba tuổi, Hồ… bày giữa ngôi.
Kiến Tân lấy hiệu cho… oai
Hai năm đã bị phế ngôi, truất quyền!

Còn đâu vua sáng, tôi hiền
Cha truyền con nối, hết duyên họ Trần!
Thương loài tầm gởi náo thân
Cười đời con rận nương phần tóc râm.

Mười hai đời – cả trăm năm
Một thế kỷ quá thăng, trầm máu tanh!
Chống Mông Cổ, phá Chiêm Thành
Sửa sang bề cõi, rạng danh nước nhà.

Để rồi mất nước, chẳng qua
Nghệ con sa đọa, Dụ cha mắt lòa.
Để anh em chị gần xa
Lấy nhau loạn xạ đúng là loạn luân!

Chương XI
NHÀ HỒ 葫    (1400-1407)

  1. Hồ Quý Ly: (1400)

Niên hiệu: Thánh Nguyên
Quý Ly chẳng chút bâng khuâng
Họ Lê vội đổi ra khuôn Hồ – Tàu.
Nhà Ngu” vốn tổ từ lâu
“Đại Ngu” cải hiệu, mà đau giống dòng.

Theo Hồ, Quốc tổ” mà phong
Thánh Nguyễn” lấy hiệu để hòng phước sau.
Chưa chi đã phải đánh nhau
Trước sau gì cũng thua đau Chiêm Thành.

Làm vua chưa được rạng danh
Muốn làm Thái Thượng, Hồ đành nhượng ngôi.

  1. HỒ HÁN THƯƠNG (1401-1407)

Niên hiệu: Thiệu Thành   

  1. Việc võ bị:

Hán Thương nối nghiệp cha rồi
Làm vua cho có vị thôi, gọi là…
Triều cương lớn nhỏ, gần xa
Trong ngoài chính sự phải qua họ Hồ.

  1. Việc sưu thuế:

Thuyền buôn theo loại mà hô
Nhất nhị tam cứ ra vô tính tiền.
Nhà Hồ định lại thuế điền
Làm như thuyền loại, thu tiền giống nhau.

  1. Việc học hành:

Toán Pháp được đặt hàng đầu
Thêm trường, thêm cách ngõ hầu mở mang.
Đậu thi Hương muốn làm quan
Phải vào Bộ Lễ qua màn kiểm văn.

Thi Hội đã đổ, quan đăng
Thái học sinh bảng đỏ giăng rỡ ràng.
Y tỳ coi việc thuốc thang
Coi như cải cách mở mang nhà Hồ.

  1. Việc giao thiệp với Chiêm Thành:

Với Minh, lượn đợt sóng xô
Họ lăm lăm cứ muốn vồ An Nam.
Với Chiêm Thành, dạ chẳng cam
Mộng xa đánh lấy đất Chàm, cất binh.

Nhâm Ngọ, Đỗ Mãn xuất chinh
Vua Chàm Ba Đích Lại xin hiếu hòa
Cổ Lụy, Chiêm Động khói lòa
Dân Chàm bỏ đất, bóng nhòa xót xa.

Được voi đòi tới tiên nga
Hai mươi vạn lính đánh qua Chiêm Thành.
Nguyên Khôi, Đỗ Mãn hư danh
Đồ Bàn chẳng đổ mới đành rút binh.

  1. Việc giao thiệp với nhà Minh:

Nhà Minh tham vọng hết mình
Mượn chuyện Hồ giết Thiêm Bình, nổi phong.
Thiêm Bình dòng dõi Nghệ Tông
Khi không đem cả tổ tông tế thầy.

Ngôi vua Trần mất nào hay
Nghệ Tông mờ trí sinh bầy cháu đây.
Họ Hồ kia đã lên thay
Đánh Minh thấy cũng chung xây nước nhà.

Nhà Minh một lũ quỷ ma
Chu Năng, Mộc Thạnh với là Lý Bân.
Trả thù nên mới xua quân
Làm ra cái cớ “phù Trần” lấn chân!

  1. Nhà Minh đánh họ Hồ:

Quý Ly chuẩn bị mọi phần
Nhưng ngôi soán nghịch, mất dần bụng dân.
Trương Phụ dùng kế ly thân
Truyền hịch kể tội bất nhân họ Hồ.

  1. Thành Đa Bang thất thủ:

Thành Đa chẳng thể phá vô
Mộc Thạnh cho đốt lửa khô phá lần.
Thành Đa thua đã mười phân
Đông Đô cướp của, hiếp dân, bắt người.

  1. Trận Mộc Phàm Giang:

Đinh Hợi, Mộc Thạnh trêu ngươi
Dàn quân thuỷ lục nuốt tươi Nguyên Trừng.
Ba trăm thuyền chiến giữa chừng
Hai bên lính giặc như rừng phủ giăng.

Quân Mộc Thạnh khí đang hăng
Bình Than, bỏ hẳn, Hồ… thăng Bến Hàm.
Nhà Lê công cán đã làm
Họ Hồ tay đã nhúng chàm, trống khô!
 

  1. Trận Hàm Tử Quan:

Thua đau, tức tưởi nhà Hồ
Như sói mắc phải cọp vồ trong mưa!
Đâu là Hàm Tử Quan xưa
Giặc chưa đánh đến, lính… đưa giáo hàng!

Núi Cao Vọng, họ Hồ tàn
Khi bị bắt sống, người hàng, kẻ không.
Bảy năm công sức đổ đồng
Dã tràng xe cát biển đông máu đào.

Vinh hoa giống tựa chiêm bao
Phú quý thoáng chốc lao xao thác gào!
Làm chi cái chuyện loạn trào
Gây bao nhiêu cảnh máu đào sát sinh.

Ham danh chỉ nghĩ lợi mình
Lo tranh quyền lực, quên tình nước non.
Cầu người, ”nhục thể bất quờn”
Chỉ đi rước cáo, rửa hờn vịt thôi!

Chương XII
NHÀ HẬU TRẦN 陳 後 (1407-1413)

  1. Nhà Minh chiếm giữ đất An Nam:

Nhà Minh giả dối nước đôi:
Phù Trần” là cách hạ hồi. Hỡi ôi!
An Nam đã chiếm được rồi
Mới lòi đuôi cáo tha mồi tới hang.

Cắt quan cai trị tham tàn
Đất chia muời bảy Phủ đàng, năm Châu.
Mười hai Vệ giữ yếu đầu
Ba ti “Bố, Án, Chưởng” hầu dã tâm.

Phẩm hàm tặng kẻ… sơn lâm
Tài đức, học giỏi tráo nhầm giả, chân.
Cho thành quan phủ, quan thân
Ai người liêm sĩ mà cần lợi danh?

  1. Giản Định Đế (1407-1409):

An Nam tình thế mong manh
Lữ Nghị, Hoàng Phúc thi hành thế oai.
Ai mong thoát kiếp tôi đòi
Noi theo Trần Quĩ hạ hồi lập công.

Trần Quĩ con thứ Nghệ Tông
Xưng hiệp Hưng Khánh, tay không dựng Trần.
Chiếm Châu, binh được mấy phần
Quan lại, hào kiệt, quân dân lại hầu.

  1. Trận Bô Cô:

Quân Minh bốn vạn tan mau
Lữ Nghị bỏ mạng thân… trâu, đáng đời!
Dèm pha, Giản Đế hợt hời
Nghe lời kẻ nịnh, đầu rơi đại thần.

  1. Trần Quý Khoách (1403-1413):

Còn đâu Đặng Tất, Cảnh Chân…
Công thần lại nhận phước phần chẳng may!
Đặng Dung, Cảnh Dị buồn thay
Rời vua vì phụ thân rày thác oan.

Trần Quý Khoách được suy tôn
Cũng là cháu của Nghệ Tông – Thượng Hoàng.
Lên ngôi lấy hiệu Trùng Quang
Hòng mong khôi phục giang san họ Trần.
Nhưng mà mỗi cõi tự phân
Hiệu lệnh không nhất, quân dân mất đầu.

  1. Trương Phụ trở sang An Nam:

Trương Phụ thắng trận, giết ngầu
Rút xương, nấu thịt, chảy dầu ngó chơi!
Ác nhơn, ai nấy rụng rời
Hung đồ đắc ý, coi trời cái vung!

Quân Hậu Trần lắm tin hung:
Giản Định bị bắt, quân trung tận cùng.
Giặc bao vây đánh tứ tung
Hóa Châu thất thủ, chết chung tướng Trần.

Nguyễn Biểu không hổ sứ thần
Mắng giặc bị giết, xứng thân kẻ hùng.
Phần Trần Quý Khoách, Đặng Dung
Cảnh Dị… tử tiết, gương trung rạng ngời.

  1. Hóa Châu thất thủ:

Thái Phó tiếng xấu để đời
Phan cha hàng giặc, con thời bất trung.
Phan Liêu giở thói gian hùng
Bao nhiêu tướng sĩ khai cùng họ Trương.

Trương Phụ nhân thế đã tường
Bàn qua Mộc Thạnh mở đường Hóa Châu.
Đặng Dung, Nguyễn Suý chặn đầu
Lên thuyền Trương Phụ biết đâu người nào?

Trương Phụ khí số còn cao
Thuyền con xa chạy, rồi vào đánh ra.
Hậu Trần vua tướng ra ma
“Sĩ bất khả nhục” bài ca để đời.

“Thuật Hoài” truyền tụng mọi nơi
Đặng Dung viết với những lời đắng cay:
Tuổi già bao việc rối thay
Vô cùng trời đất hưởng say cuộc này.
Gặp thời, bần tiện ngất ngây
Anh hùng lỡ bước ngẫm cay đắng thừa.
 
Nghiêng vai đội đất phò vua
Tẩy binh gội rửa mây đùa gió trong.
Bạc đầu, thù nước chửa xong
Mài gươm dưới bóng trăng trong bấy rày”.
 
Bảy năm máu chảy sông đầy
Lòng người ly tán, xương dày núi cao!
Non sông lại tắm máu đào
Hờn căm một thuở anh hào có hay?

Chương XIII
THUỘC NHÀ MINH (1414-1427)

  1. Việc chính trị nhà Minh:

Nhà Minh sinh sát trong tay
Thẳng lưng bóc lột, đọa đày nước Nam.
Đồng hóa” sách lược đã làm
Phong tục, tập quán phải cam với Tàu!

  1. Việc tế tự:

Hoàng Phúc bắt các phủ, châu
Bách thần, Văn miếu thi nhau phụng hầu.

  1. Cách ăn mặc:

Bắt dân ăn mặc theo Tàu
Tóc không cho cắt mà hầu hóa dân.

  1. Sự học hành:

Mở nhà học dạy các phần:
Âm dương, thầy thuốc… đều cần chức quan.
Sư tăng, đạo sĩ đăng đàn
Giảng truyền đạo lý cho hàng thứ dân.

Tứ Thư, Tinh Lý mà phân
An Nam sách vở đong cân lấy về.
Chức quan phân bổ ê chề
Hiếm hoi như đếm hai bờ ngón tay!

  1. Việc trạm dịch:

Đông Quan – Hà Nội ngày nay
Đến Gia Lâm chạy giấy ngày: Ngựa phi.
Còn thì thuyền biển kéo đi
Hai loại trạm dịch: Ngựa phi với thuyền!

  1. Việc binh lính:

Tính theo sổ bộ phân biên
Hai hay ba xuất tùy miền có dân.

  1. Phép Hộ thiếp và Hoàng sách:

Mỗi người có giấy hộ thân
Ghi tên tuổi với gia phần ở đâu?
Tên không đúng giấy, tóm mau
Bắt đi làm lính đương đầu súng gươm.
Lý trưởng, Giáo thủ gờm gờm
Coi việc Lý, Giáp roi đòn gớm ghê!

  1. Việc thuế má:

Dâu mỗi mẫu, một lạng tơ
Mỗi cân tơ thuế một tờ lụa trơn.
Thuế ruộng chẳng có nhẹ hơn
Còn thêm thuế muối xanh dờn mặt dân.

9.Việc sưu dịch:
Trương Phụ rồi đến Lý Bân
Thêm Mã Kỳ nữa ác nhân lạ nòi.
Phu phen, khổ ải muôn nơi
Lên rừng, xuống biển tàn hơi một đời.

  1. Quan lại:

Duy Trung, Nhữ Hốt hợt hời
Nguyễn Huân nịnh giặc dựa hơi, đáng nguyền.
Vô liêm sĩ đến thản nhiên
Tham lam vơ vét của riêng một mình.

Non sông máu đổ chiến chinh
Lam Sơn khởi nghĩa, Chí Linh nặng thề.

Chương XIV
MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU
            (1418-1427)

2

Chương XIV
MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU
            (1418-1427)

  1. Lê Lợi (鯬 利) khởi nghĩa ở Lam Sơn:

Lam Sơn ruộng núi muôn bề  …
Lê Lợi giàu có bằng nghề ruộng nông.
Giúp người hào kiệt lưu vong
Người nghèo, kẻ khó những mong được về.

Nhà Minh dụ dỗ chán chê
Lợi thà giữ tiếng, chẳng về với Minh.
Truyền Hịch, giặc giết sinh linh
Dựng cờ khởi nghĩa xưng Bình Định Vương.

Thế thiên hành đạo lẽ thường
Đánh nhau vài trận đã tường trí cao.
Khởi đầu lương cạn, gian lao
Thế cô sức yếu rút vào Chí Linh.

  1. Về Chí Linh lần thứ nhất:

Lê Lợi bị giặc phục binh
Vợ con để chúng mặc tình lý lao.

  1. Về Chí Linh lần thứ hai:

Lần hai bị bắt suýt xao
Lê Lai phải đổi áo bào cứu Vương.
Liều mình cứu chúa can trường
Đem thân Kỷ Tín mà nhường Hán Cao.

  1. Bình Định Vương về đóng Lư Sơn:

Lê Lợi cầu cứu Ai Lao
Thu tàn quân lại tiến vào Lư Sơn.
Dưỡng thanh thế, đánh trả hờn
Phục binh thẳng trớn mà vờn Lỗi Giang.
Gặp ngay Nguyễn Trãi giữa đàng
Dâng “Bình Ngô sách” luận bàn chuyện quân.

  1. Nguyễn Trãi 廌:

Cháu ngoại Nguyên Đán nhà Trần
Cùng Trần Nguyên Hãn hai thân một cành.
Con bảng nhỡn Nguyễn Phi Khanh
Bị nhà Minh bắt về thành Kim Lăng.

Nam Quan ải cũ truyền rằng:
Nguyễn Trãi níu áo, chùng chằng, lệ rơi.
Phi Khanh nghĩa khí mấy lời:
Thù cha, nợ nước, con thời nhớ cho”.

Quay về, Nguyễn Trãi đắn đo
Đêm ngày viết những câu hò nhặt khoan.
Bình Ngô” kế sách vẹn toàn
Đêm dâng Lê Lợi cho tròn hiếu nhân.

  1. Bình Định Vương phá quân Trần Trí:

Trần Trí mang mấy vạn quân
Vậy đồn Ba Lậm, hậu sân có Lào.
Lê Lợi phục sẵn đánh vào
Quân Minh bỏ chạy, quân Lào kéo sang.
Lầm mưu tưởng địch đã hàng
Lê Thạch tử trận, giặc càn tới chân.

  1. Về Chí Linh lần thứ ba:

Trận đầu thắng bại đã phân
Chí Linh ở tạm đến lần thứ ba.
Quân binh đói chỉ còn da
Ăn cả voi ngựa, may ra, sống còn!

Hết lương nhưng ý chẳng mòn
Gan vàng thử lửa hóa còn trí mưu!
Lê Trăn thương thuyết “cương nhu”
Hòa hảo cùng với quân thù, dưỡng binh.

  1. Bình Định Vương hết lương

phải hòa với giặc:
Quan Minh mệt mỏi, thuận tình
Lương trao, bạc ném ra hình thiện chung.
Trần Trí, Sơn Thọ sinh lung
Bắt Lê Trăn ngỡ Lợi dùng kế gian.
Biết giặc nghi hoặc, vội vàng
Tuyệt giao, Lê Lợi về đàng Lư Sơn.

  1. Bình Định Vương lấy đất Nghệ An:

Quân binh thế đã mạnh hơn
Giáp Thìn, quân tiến chập chờn Nghệ An.
Nhữ Hốt, Phương Chính hồn tan
Trà Long chiếm lại, Ba Căng lấy về.

Vua Minh nhận sớ, bất ngờ
Vội truyền chiếu chỉ hẹn giờ phải xong.
Trần Trí, Phương Chính sợ gông
Xua binh thủy bộ trong hòng đánh ra.

Đinh Liệt ra giữ Đỗ Gia
Bắt Chu Kiệt cũng không tha Hoàng Thành.
Trần Trí khiếp vía trốn nhanh
Lý An hoảng hốt thủ thành, tính sau.

  1. Vây thành Tây Đô:

Đinh Lễ vây đánh Diễn Châu
Đuổi Trương Hùng chạy, lương thâu lính dùng.
Lưu Nhân, Lê Sát hợp cùng
Đinh Lễ lại trổ sức sung hạ thành.
Tây Đô thất thủ đã đành
Tân Bình, Thuận Hóa cũng dành tới tay!
 

  1. Lấy Tân Bình và Thuận Hóa:

Cướp lương, Đinh Lễ phủ vây
Nguyên Hãn, Lê Nổ… đều tay tướng trời.
Đại Thiên Hành Hóa” ra đời
Sức như bão nổi bù thời thế cô!

  1. Quân Bình Định Vương tiến ra Đông Đô:

Tiến quân dần đến Đông Đô
Uy danh lừng lẫy, nghiệp đồ đã cao.
Tuyên Quang chặn cửa ra vào
Vân Nam binh cứu đợt nào cũng tan.

Nguyễn Xí binh thẳng Đông Quan
Trần Trí chống giữ chờ đàng viện binh.
Lý Triện, Văn Xảo thông minh
Chia quân hai ngã phá binh viện vào.

Nhận thư Thái Phúc mật trao
Phương Chính vội vã đi vào Đông Quan.
Thái Phúc ở lại Nghệ An
Lê Bôi, Lê Thận, Lê Ngân đánh ào.

Nghiêm hình, kỷ luật khá cao
Người theo đầu phục vái chào nghĩa binh.
Đông Đô, thủ chắc như đinh
Lê Lợi hạ lệnh quân mình rút mau.

  1. Trận Tụy Động: Vương Thông thất thế:

Bị thua mấy trận phủ đầu
Quân Minh khiếp sợ vội cầu cứu binh.
Vương Thông sắp sẵn lộ trình
Năm vạn binh mã hợm mình kéo sang.
Trần Tín rớt mão, rụng gan
Phương Chính thất trận, xung hàng lính công.

Nhà Minh đã bớt cuồng ngông
Khẩn sai thống lĩnh Vương Thông thế quyền.
Lý Triệu thua, thắng liên miên
Lý Lượng, Trần Hiệp tới phiên… chịu sầu.

Quân Minh như rắn mất đầu
Tranh nhau dẫm đạp qua cầu, thảm thê!
Mã Kỳ, Phương Chính quăng cờ
Cùng Vương Thông kéo nhau về Đông Quan.

  1. Vây thành Đông Đô:

Người theo Vương có hàng ngàn
Trẻ già, hào kiệt vội vàng nhập quân.
Lê Lợi giảng giải nghĩa nhân
Anh tài hữu dụng thì thân được dùng.
Đông Đô chia lại bốn vùng
Đông Tây Nam Bắc đạo, chung sống còn.

  1. Vương Thông xin hòa lần thứ nhất:

Bấy giờ, Thông quá kinh hoàng
Muốn bãi binh, ngại không còn tiếng chi!
Liền dùng “sách cũ” một khi:
Ai con cháu họ Trần, thì mới Vua”.
 
Bình Định Vương nuốt chanh chua
Mở lòng trắc ẩn mà mua lấy tình.
Chẳng ngờ, giặc lại trớ trinh:
Mặt ngoài hòa thuận, trong mình đặt chông.

Số là phản nước Trần Phong
Với Lương Nhữ Hốt sợ “gông” nếu hòa.
Lấy gương Ô Mã ngày qua
Giữa dòng bị cọc, hù hà Vương Thông.

  1. Bình Định Vương đóng quân ở Bồ Đề

Bình Định Vương đã đề phòng
Bắt thằng thư tín, ”niêm phong” Bồ Đề.
Nghệ An, Thái Phúc não nề
Diễn Châu, Tiết Tự, thất cơ, phải hàng.

Đánh đâu, thắng đó dễ dàng
Lại vì khinh xuất, địch càn Từ Liêm.
Thanh Trì, Phù Liệt mất thêm
Triện, Lễ bị giặc lẻn đêm, giết dần.

  1. Bình Định Vương đặt pháp luật

để trị quân dân:
Lê Lợi ra “kỷ luật quân”
Phạm ba điều cấm, bất phân, gia hình:
“Gian dâm, khinh mạn, vô tình
Phạm nhằm tội ấy, dứt tình, chẳng tha”.
 
Mười điều kỷ luật tướng gia:
“Ồn ào, đặt chuyện để mà lính kinh.
Ra trận, cờ phất, chùng chình
Phòng không gìn giữ, nghe chiêng chẳng lùi.
 
Lo vợ con, việc binh lười
Mập mờ sổ, lấy tiền người, ác dâm…
Theo bụng yêu ghét để lầm
Phạm điều ấy, chém! Khắc tâm mọi ngày”.

Quân đi, dân kính phục thay
Quân về, người vẫy cờ bay đón mừng.

  1. Trận Chi Lăng: Liễu Thăng tử trận:

Chi Lăng chiến thắng vang lừng
Liễu Thăng bị mắc trong rừng núi dao.
Đầu rơi tại Mã Pha Đao
Lương Minh bị chém khi lao trận tiền.

Lý Khánh khiếp, phải tự quyên
Hoàng Thúc, Thôi Tụ vội liền tháo thân.
Tướng Trần Nguyên Hãn… chặn chân
Cướp đường lương thực, “rút gân” lũ giòi.

Tướng nhà Lê: Vấn, Xí, Khôi
Đêm quân thiết đội vây ngoài, bủa trong.
Thôi Tụ, Hoàng Phúc vội… dông
Quan binh bắt lại, chẳng hòng thoát ra.

  1. Vương Thông xin hòa lần thứ hai:

Mộc Thạnh hoảng hốt chạy xa
Vương Thông kinh hãi, bèn ra nghị hòa.
Lê Lợi chẳng sợ điêu ngoa
Thuận tình chấp nhận nghị hòa với Thông.

  1. Trần Cao dâng biểu xin phong:

Trần Cao dâng biểu xin phong
Đưa nhiều cống vật mà mong thuận đò.
Nhà Minh biết giả, vẫn cho
Tuyên Tông Minh Đế hẹn hò giải binh:

Chỉ cần thả những con tin
Bỏ tòa Bố Chính, thôi binh, rút cầu.
Có người muốn khỏi họa sau
Xúi Lê Lợi giết tránh lâu họa mình.

Bình Định Vương nói chí tình:
Báo ân, báo oán rập rình được chi.
Đã hàng còn giết, đức
Mở con đường sống, ai đi hại người.
 
Ghê gì ham uống máu tươi
Giết người tay trắng, tiếng cười vạn năm!”.
Mấy lời nghe có từ tâm
Giặc về còn cấp năm trăm chiến thuyền.

Tiễn đưa như thể hàn huyên
Từ xưa chẳng vậy, danh truyền hiếm thay!
Non sông một bóng cờ bay
Trời Nam nước Việt từng ngày sáng trong.

  1. Tờ Bình Ngô Đại Cáo:

平  吳  大 誥
Bình Định Vương dẹp giặc xong
Bình Ngô Đại Cáo” mấy dòng giải phân:
 
”Nhân nghĩa cốt ở yên dân
Điếu phạt khử bạo cũng ngần ấy thôi!
Nước Việt, văn hiến đi đôi
Sơn xuyên, Nam Bắc xa xôi cũng gần.
 
Từ Triệu, Đinh, Lý đến Trần
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên phân mỗi phần.
Cường nhược lúc khó định phân
Đời nào cũng có dấu chân anh hào!
 
Lưu Cung tham quá té nhào
Triệu Tiết mộng lớn để vào tử vong.
Toa Đô – Hàm Tử  vào tròng
Bạch Đằng cuộn sóng cuốn dòng Mã Nhi.
 
Kê Chư  vãng cổ còn ghi
Rõ ràng chứng cớ quá chi tỏ tường!
Vừa rồi, Hồ đã khoa trương
Chính sự cuồng loạn, bốn phương chán chường.
 
Cuồng Minh mượn cớ nhiễu nhương.
Gian tà bán nuớc, theo phường lợi vinh.
Lửa hung tàn nuớng dân tình
Hầm giam con đỏ, bỏ mình vạ vương. 
              
Dối trời, lừa đất khôn lường
Hai mươi năm kế kiếm đường hại dân.
Càn khôn nát nghĩa bại nhân
Núi non thuế má vét gần thớt thưa.
 
Đào mỏ núi, lam chướng thừa
Xuống biển mò ngọc chưa vừa túi tham.
Những trông hố bẫy hươu đen
Lưới dò chim sả đã quen săn lùng!
 
Tàn hại cả giống côn trùng
Không chồng, không vợ, hãi hùng biết chăng?
Chúng há miệng máu, nhe răng
Xây nhà đắp đất chẳng rằng: Chán chưa?
Tay nào phục dịch cho vừa
Bắt người canh cửi, lọc lừa xiết bao!
 
Dơ thay! Đông Hải máu đào
Ác này trúc Khánh Nam nào đủ ghi!
Thần nhân phẩn nộ sầu bi
Trời kia cũng chẳng thể chi khoan hồng.
 
Lam Sơn binh dấy đồng lòng
Cùng nghịch tặc thề không đội trời.
Đau lòng mười mấy năm rồi
Nằm gai, nếm mật hạ hồi trở trăn…
 
Đêm ngày phát giận quên ăn
Sách xưa thao lược băn khuăn dưới mành.
Cổ, Kim suy xét ngọn ngành
Nghiệm ra biết lẽ: Hưng, Thành, Bại, Hư.
 
”Đồ hồi” mộng mị, cương, nhu
Nổi cờ nghĩa lúc quân thù gieo tai.
Sao Mai – Tuấn Kiệt chẳng ai
Nhân tài như lá  thu phai, võ vàng!
 
Nơi mưu sự thiếu kẻ bàn
Đỡ đần văn, võ hiếm hàng trước sau.
Cứu dân vẫn lấy làm đầu
Con mắt chỉ thấy dầu dầu: Đông Đô.
 
Người hiền tả, hữu nơi mô
Cổ xe vắng bóng trống khô giữa đời!
Tự ta bơi giữa biển khơi
Cứu người chết đuối một trời tính toan.
 
Giận hung đồ quyết sống còn
Lo nỗi nước cũng mỏi mòn khó khăn.
Linh Sơn, lương cạn đói nhăn
Thôi Huyện, quân thiếu chỉ bằng bấy nhiêu!
 
Trời trao khốn khó quá nhiều
”Kiên cường” ta đã lấy điều làm gương.
Cờ bay, gậy múa bốn phương
Tiệc rượu tướng sĩ một phường cha con.
 
Yếu chống cường, vng tâm son
Địch nhiều, ta ít nhưng còn dạ gan.
Muôn đời: Nghĩa thắng hung tàn
Lấy chí nhân cản bạo tàn, ác gian.
 
Bồ Đằng một trận sấm vang
Trà Lâm trúc chẻ tro than xa, gần!
Quân thanh thế mạnh, khí thần
Trần Trí, Sơn Thọ tứ thân điếng hồn.
 
Lý An, Phương Chính bồn chồn…
Tây Kinh quay ngược càn khôn, rút về.
Tuyển quân tiến đánh tứ bề
Đông Đô ta lại lấy về được ngay!
 
Ninh Kiều, máu chảy, trôi thây
Tụy Động, xác chất dơ đầy vạn năm.
Trần Hiệp, chi tặc phúc tâm
Lý Lương gian, chết dập bầm, thây!
 
Lũ Vương Thông cạn cách bày
Mã Anh hết xảo đường này, kế ma.
Trần Trí khiếp vía lạy tha
Ta lấy đức phát, chúng đà chịu thua.
 
Tưởng đâu chúng hết dám đùa
Ngờ đâu kiếm cớ mà mua lấy phiền.
Chỉ quen đổ vạ, thiệt điên
Bày trò nhơ nhuốc, oan khiên một đời.
 
Nhãi con Tuyên Đức tưởng chơi
Đổ dầu vào lửa: Khơi khơi tướng quèn!
Đinh Mùi tháng chín: Liễu sang
Tháng mười: Mộc Thạnh nghênh ngang tiến vào.
 
Chỗ hiểm, ta chận xít xao
Sau, ta sai tướng đào hào, chận lương.
Ngày mười tám, Thăng cùng phương
Hai mươi, mất hướng, chết đường Mã Yên.
 
Ta đường lương đạo triệt liền
Lại điều binh giữ  những miền tối tăm.
Lương Minh bị hãm, hăm lăm
Hăm tám, Lý Khánh kế lầm, tự vong.
 
Lưỡi dao ta sắc, lượn vòng
Khiến ngọn giáo giặc lòng bòng khoảng không.
Thành vây bốn phía niêm phong
Mười lăm, hẹn diệt giặc trong tháng mười.
 
Binh sĩ khí tựa nai, hươu
Bầy tôi đủ mặt dũng mưu, vẹn toàn.
Gươm mài, núi đá phải mòn
Voi kia khát uống, không còn nước sông!
 
Trận đầu, kình ngạc nổi phong
Trận sau, chim chóc muôn giòng phá banh.
Gió to quét sạch lá cành
Tổ kiến hổng sụt, đê thành vỡ toanh.
 
Thôi Tụ vì thế mất danh
Hoàng Thúc tự trói để thành bại binh!
Lạng Giang tắc nghẽn thây sình.
Bình Than máu lính bỏ mình đ sông.
 
Gió mây biến sắc trên không
Trời trăng ảm đạm không dòng sáng trong.
Binh Vân Nam khiếp, ngã lòng
Không phương trốn chạy, ách dòng Lê Hoa!
 
Trận Cần Trạm, Thăng thua to
Mộc Thạnh như thỏ, co giò trốn mau.
Đỏ ngầu suối máu Lãnh Câu
Đan Xá, thây chất gọi sầu núi cao!
 
Đầm đìa cỏ nội, máu đào
Cứu binh hai mặt té vào hố sâu.
Các thành mất chúa, khấu đầu
Bỏ dao, cởi áo để hầu được tha!
 
Tướng giặc chúng đã hàng ta
Cọp, Lân đuôi vẫy, lột da, chịu hàng!
Thể lòng trời đất lầm than
“Thần vũ bất sát”, mở đàng chúng đi.
 
Nội quan, tham tướng Chính, Kỳ
Năm trăm thuyền cấp để đi về Tàu.
Giữa khơi hồn lạc, phách rầu
Tổng binh, tham chính Thông hầu kém đâu!
Dưới thuyền, trên ngựa như nhau
Chạy về đến nước, váng đầu, thất kinh!
 
Có câu: “Úy tử, tham sinh”
Chúng đã sợ chết mà xin hiếu hòa.
“Toàn quân vi thượng” xê xoa
Đất nước thoát họa, xóa nhòa bóng mây!
 
Ấy là mưu kế sâu dày
Cũng là chưa thấy xưa rày, tới nay!
Non sông rạng rỡ mặt mày
Nước nhà cũng đã thấy ngày được yên!
 
Đất trời quang đại đến phiên
Trời trăng mờ tối đã liền phục sinh!
Ngàn năm quang đại thái bình
Nhục thiên cổ hết, oan tinh sạch làu!
 
Tổ tiên, trời đất ơn sâu
Ông bà linh hiển cùng nhau hộ trì.
Ô hô! Một mảnh nhung y
Vẫy vùng chi chí công ghi đại thành.
 
Một nhà  bốn biển sóng xanh
Mở hội Vĩnh Thạnh mà thành duy tân.
Bố này báo khắp xa, gần
Rỉ tai nhau rõ những phần xảy ra!”.
 
Chương XV
NHÀ LÊ   (1428-1188)
THỜI KỲ THỐNG NHẤT (1428-1527)

  1. LÊ THÁI TỔ: (1428-1433)

Niên hiệu: Thuận Thiên 順 天

  1. Bình Định Vương lên ngôi tôn:

Non sông đã hết phong ba
Đến phiên Lê Lợi dọn nhà, đổi ngôi.
Ngặt vì cớ sự đã rồi
Trần Cao, ngôi vị đang ngồi ngự chơi.
Trước kia, Lợi muốn hợp thời
Lập Trần Cao để trả lời giặc Minh.

Trần Cao nghĩ cũng oan tình
Giữa đàng ách đã dính mình nạn tai.
Ba chân, bốn cẳng chạy dài
Cái ải thuốc độc đợi ngài đã lâu.

Ngẫm mà buồn kiếp thân trâu
Ruộng cày đã hết, duyên trâu chẳng còn!
Thí Cao, Lợi lấy ngôi son
Xưng Lê Thái Tổ chẳng còn vướng chân.

Lừa Minh, Lê Lợi phân vân
Kêu rằng “cháu chắt nhà Trần chẳng ai”.
Bắt quan, dân viết tờ khai
Nhà Minh mới thuận phong ngài tước Vương.

Ba năm lệ cống như thường
Đúc người vàng nộp, nhịn nhường trước sau.
Vì rằng, quốc thổ gần Tàu
Giang sơn lớn nhỏ tranh nhau đã từng.

Chi bằng lễ vật mà dưng
Cho Tàu đừng có thăm chừng nước ta.
Bên ngoài, dứt việc can qua
Bên trong, tưởng thưởng cùng ca thái hoà.

Hàng văn, Nguyễn Trãi phong hầu
Hàng Võ, Lê Vấn đứng đầu tướng quân.
Mang “Quốc tính” thưởng hiền thần
Thay dòng cả thảy xem gần mấy trăm.

Suy ra, kể cũng cười thầm
Thay danh, đổi họ, ai ngầm thích đâu!

Quốc Công – Nguyên Hãn công đầu
Thái Úy – Văn Xảo, đứng đầu võ văn.
Những người trung nghĩa hay chăng
Công thần đệ nhất sắp… văng giữa đồng!

Thượng trí tự“: Thưởng nhất công
Đại trí tự“: Thưởng cho dòng nhị công.
Trí tự“: Tưởng thưởng tam công
Học hành, cai trị, cũng đồng… tạm an.

  1. Việc học hành:

Học hành đã được sửa sang
Mở Quốc tử giám cho hàng sĩ nho.
Tứ phẩm thi Minh kinh khoa
Phật, Lão thi đậu vào tòa sĩ, tăng.

  1. Luật lệ:

Theo Đường năm tội mà răn
Lưu, Xuy, Đồ, Trượng, nặng chăng: Tử hình.
Công thần mắc tội, lưu tình
Con cái thì được sá hình bởi công.

Già yếu miễn bớt xiềng gông
Tội cắp mà nhận cũng đồng giảm cho.
Rượu chè, đổ bác, phạt to
Đánh trượng hoặc chém cụt giò, chặt chân.

Hình phạt ấy có bất nhân
Nhưng đời lắm kẻ lười mần, thích ăn.

  1. Việc cai trị:

Tân Bình, Thuận Hóa, Nghệ An
Hải Tây, Thanh Hóa năm hàng đạo quan.
Mỗi đạo, Hành Khiển giữ an
Đại xã thì có dân gian trăm người.
Trung xã thì có năm mươi
Tiểu xã thì chỉ mười người trở lên.

  1. Phép quân điền:

Thái Tổ định phép “quân điền”
Công điền, công thổ chia liền với nhau.
Thứ dân với những công hầu
Giàu nghèo chưa hẳn thấy đâu bến bờ.

  1. Việc binh lính:

Mười vạn ở lại nước nhờ
Mười lăm vạn nọ trở về ruộng nương.
Năm phiên chia lính tỏ tường
Phân nhau đi ở mà thường bảo ban.

  1. Công thần bị giết:

Ngoài yên, trong nẩy nghi gian
Lê Thái Tổ lại giết quan đại thần.
Có câu: “Điểu tận, cung tàn
Hết thỏ thì mạng chó săn chẳng còn.

Công danh đã chẳng vẹn toàn
Một người bị hại, chết oan mấy dòng.
Trần Nguyên Hãn tướng Quốc Công
Thái Úy Văn Xảo giữ không nổi đầu!

Xưa nay, mấy kẻ hiểu câu:
Công thành, danh thoái” sâu như Tử Phòng?
Giúp Lưu Bang dựng nghiệp xong
Từ quan ẩn dật mới hòng giữ thân.

Đến phiên Thái Tổ lìa trần
Ngôi vua chừng ấy chỉ ngần sáu năm.
Công lao đi với lỗi lầm
Thọ bốn mươi chín về… thăm cửu truyền!

Sang sông gọi gió đưa thuyền
Bờ kia tới được thì nguyền gió đông!

  1. LÊ THÁI TÔNG (1434-1442)

Niên hiệu: Thiệu Bình 紹 平 –
Đăng cơ, Thế tử Nguyên Long
Nghị bàn quốc sự qua… ông Tư đồ.
Mười một tuổi biết chi mô
Phụ chính Lê Sát tha hồ dọc ngang.

Cậy công, trái phép, làm càn
Khi Thái Tông lớn, kiếm đàng diệt ngay.
Thời này, vua chẳng gặp may
Trời gây lũ, hạn, phá bay mùa màng.

Việc thi cử có sửa sang:
Năm năm Hương thí, Hội hàng sáu năm.
Nhăm Tuất, Tiến sĩ hàn lâm
Tạc tên bia đá nở mầm sử xanh.

Tiền và lụa vải thông hành
Vải hăm bốn thước cho thành một cây.
Sáu mươi đồng – một tiền đây
Lụa ba mươi thước – đóng đầy tấm trơn…
Tấm vải: Hăm bốn thước hơn
Còn giấy một tập tính tròn: Trăm thôi.

Những cải cách ấy nước đôi
Chấn chỉnh đánh trống để rồi bỏ xuôi.
Nói về vua trẻ ham vui
Đắm say tửu sắc mà vùi chí trai!

* Nguyễn Trãi bị hại:
Bấy giờ, Nguyễn Trãi – Ức Trai
Sống nhàn hạ gởi đức tài Côn Sơn.
Ai xui chẳng rõ nguồn cơn
Thái Tông lúc duyệt binh còn ghé thăm.

Làm vua chỉ tạo lỗi lầm
Luân thường chẳng giữ, phạm nhầm đức nhân.
Thị Lộ tài trí muôn phần
Mang thân hoa sắc đỡ đần tiên sinh.
Can chi, vua ép theo mình
Như phường cướp vợ, nhân tình để đâu!

Quá nhiều trăng gió trước sau
Đến huyện Gia Định ngã đau, bỏ đời.
Tuổi hai mươi, chín năm trời
Ăn chơi cho lắm, sớm rời cơ ngơi!

Than rằng: Nguyễn Trãi khơi khơi
Triều thần ghen ghét, ghép rơi mất đầu!
Tru di ba họ thảm sầu
”Họa vô đơn chí”, cúi đầu, hỡi ôi!

Chữ son chỉ một mà thôi
Hai vầng nhật nguyệt sáng soi tấm lòng.
Hay cho cái giống “lọt tròng”
Thời nào chẳng có muỗi mòng, bọ ve!

Côn Sơn suối nước còn nghe
Dòng thơ Người trổ măng tre để đời!
Oan khiên, Người chẳng một lời:
Làm con người có mấy thời rạng danh?

Sống làm chiếc lá mong manh
Chết làm trùn ủi đất xanh cây đời.
Chữ Nhân – Nghĩa với thế thời
Ai người chính trực đổi đời thế gian!

III. LÊ NHÂN TÔNG (1443-1459)
Niên hiệu: Diên Ninh 筵 寧
Bang Cơ lên nắm giang san
Vừa mới hai tuổi được can chuyện gì?
Lê Khả, Nguyễn Xí tức thì
Để Hoàng thái hậu trị vì quốc gia.

Trong ngoài lại nổi can qua:
Chiêm Thành đánh phá Hóa Châu bất ngờ.
Lê Khả phụng chỉ mang cờ
Đi cùng Lê Phụ trói về Bí Cai.

Rồi lập Mã Kha Qui Lai
Cháu Bồ Đề cũ lên ngai chúa Chàm.
Đất Bồn Man phía Đông Nam
Xin hàng, lệ thuộc đổi làm một châu.

Dương thái hậu, đã từ lâu
Nghe lời xàm tấu chẳng cầu giả chân.
Khắc Phục, Lê Khả, Lê Ngân…
Can ngăn chẳng đặng, dần dần chết oan!

Nhân Tông thì vẫn vua con
Nhưng vừa thân chính, tính toan mọi phần.
Làm tròn cái việc “truy phong”
Cấp ruộng cho cháu con dòng có công.

Phù Tiên vâng lệnh Nhân Tông
Làm bộ Quốc sử vinh phong nước nhà.
Tiếc thay! Vua trẻ hiền hòa
Vì người anh phản, mới mà mạng vong!

Nghi Dân cùng bọn Phạm Đồn
Phan Ban, Lê Đắc Ninh đồng Trần Lăng.
Giết em vì bởi thù hằn
Anh em ruột thịt, chẳng bằng Tiền Ngô!

Mười bảy năm với sóng xô
Mất năm mười chín, xuống mồ tới phiên.
Nghi Dân soán cướp vương quyền
Vừa chừng tám tháng đầu liền… bị rơi.

Chẳng qua quá ác, nghe lời
Những phường xu nịnh mới thời diệt thân.
Năm Canh Thìn, những đại thần
Nguyễn Xí, Đinh Liệt… giết ngần ấy gian.

Triều cương chém giết phủ phàng
Tạm thời chấm dứt, mở màn thịnh Lê.
 

  1. LÊ THÁNH TÔNG (1460-1497)

Niên hiệu: Quang Thuận 光 順 .
Triều thần đồng ý rước về
Bình Nguyên Vương thuở bơ vơ lạc dòng.
Tư Thành, con út Thái Tông
Niên hiệu Quang Thuận, tinh thông, trí hào.

(Mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao
Thị Lộ – Nguyễn Trãi năm nào tái sanh.
Bà mang Hạo tức Tư Thành
Nào hay Phi tử Thị Anh hại mình).

Tư Thành thuở nhỏ thâm tình
Thờ mẹ hiếu thảo, bẩm sinh đã hiền.
Công thần bị giết, tổ tiên
Cho cấp đất ruộng quan điền phụng riêng.

Hương hồn Nguyễn Trãi oan khiên
Hai mươi năm đã đến phiên sạch làu.
Ức Trai tâm thượng Phục Hầu
Sao Khuê sáng xóa oán sầu vạn sau.

  1. Việc cai trị:

Luật thời Trần giữ như nhau
Trên thì Tướng quốc, lục đầu Thượng thư.
Đặt thêm Lục tự thảo từ
Quang, Hồng, Nhị – Thái, Bộ như Tự thừa.
 
Lễ nghi, quan chế giống xưa
Quan hưu trí sĩ tuổi vừa sáu lăm.
Nước mười hai đạo thay năm
Quan Tòa Thừa, Hiến, Đô chăm việc hình.

Các đạo có nhiễu sự sinh
Giám sát ngự sử tùy hình xử ngay.
Đất Chiêm đã lấy trong tay
Quảng Nam chia lại xứ này mười ba.
 

  1. Việc thuế lệ:

Ruộng điền ba hạng đóng qua
Thuế đinh đồng hạng, nộp ra tám tiền.
Một kỳ sổ hộ: Sáu niên
Kê khai hộ khẩu nộp quan huyện nhà.

3.Việc canh nông:
Khuyến nông cần phải lo xa
Ruộng hoang, Hộ Bộ liệu mà tấu thiên.
Bốn hai cơ sở đồn điền
Đặt quan khai khẩn khỏi phiền khổ dân.

  1. Nhà Tế sinh:

Đau yếu, dịch tể định phân
Phát thuốc chẩn bệnh là phần Tế sinh.
 

  1. Việc sửa phong tục:

Lễ nghi, tôn giáo loạn hình
Lắm kẻ trái lẽ thường tình thế gian.
Chùa chiền, hôn sự, lễ tang
Cấm xây cất, hát hội hàng với nhau.

Thánh Tông trong mấy năm đầu
Đã thay đổi tận gốc râu của người.
Cai trị, thuế má, tế trời
Canh nông, phong tục, hai mươi bốn điều:
 
Phép tắc, lễ phép, thương yêu
Vợ chồng cần kiệm, làm nhiều hạnh nhân.
Anh em hòa thuận xa gần
Đàn bà ở góa muôn phần xót thương.
 
Chính chuyên chẳng thể dối lường
Không nuôi trai trẻ kiếm đường loạn dâm.
Sĩ phu giữ hạnh, tránh lầm
Điển lại sổ sách tránh nhầm lận gian.
 
Giúp nhau dân với viên quan
Thương gia không được quyền bàn giá cao.
Hôn giá tế tự dạt dào
Cúng tế, du hí cấm vào nhiễu dâm.
 
Hàng quán, điếm trọ cấm thâm
Cùng bến, trai gái không nằm tắm chung.
Chọn già đức giảng lễ cùng
Ai xúi kiện tụng, vào khung tội hình.
 
Vương, Công, Đại nếu tham sinh
Dân mà cáo trạng, quan hình xử ngay.
Thừa chính, Hiếu sát đó đây
Kiểm tra huyện, phủ bề dày tiết liêm.
 
Tòa Thừa, toà Hiếu lập nghiêm
Mường, Mán không được làm điềm cưỡng thê.
 

  1. Địa đồ nước Nam:

Sau điều giáo huấn mọi bề
Thổ quan vẽ địa đồ về nước Nam.

  1. Đại Việt sử ký:

Hai bản, Ngô Sĩ Liên làm
Năm quyển chép việc Hồng Bàng, Sứ quân.
Sử xanh chẳng thể lưng chừng
Phần sau, mười quyển chép từng Đinh – Lê.
 

  1. Việc văn học:

Thánh Tôn vốn thích làm thơ
Tao đàn nguyên súychuyên về xướng ngâm.
Để đời “Hồng Đức quốc âm”
Thiên Nam dư tập” là mầm luật Lê.

  1. Việc võ bị:

Luyện quân lo thủ mọi bề
Cho thi võ nghệ, phòng hờ xâm lăng.

  1. Đánh Chiêm Thành (1470):

Chiêm Thành lại cứ lăng nhăng
Cầu Minh xin viện, tưởng rằng sách hay.
Thánh Tông trừng trị thẳng tay
Phá Đồ Bàn bắt Toàn ngay, giặc tàn.

Tướng Chiêm chịu cống, xin hàng
Trà Toại chạy tới Minh van với cầu.
Thánh Tông biết được mưu sâu
Sai Lê Niệm bắt, giải đầu tới kinh.

  1. Đánh Lão Qua (1479):

Chiêm Thành tạm dứt chiến chinh
Lào, Mường phải chịu cúi mình, khiếp danh!

  1. Đánh Bồn Man:

Bồn Man làm phản đã đành
Xui người Lào đánh để giành đất ta.
Đuổi nhau đến tận Kim Sa
Thánh Tông toàn thắng, Lão Qua đã bình.

Nhà vua ngự giá thân chinh
Đánh Bồn Man (trước đã xin quy hòa).
Nay vì có giặc Lão Qua
Cầm Công nổi dậy, mà ra sự tình.
Lê Niệm vâng lệnh cầm binh
Cầm Công thua chết, Man xin chịu hàng.

  1. Việc giao thiệp với Tàu:

Thánh Tông trị nước giỏi giang
Luôn ngừa phương Bắc ngó ngàng nước ta.
Nhắc quân thần biết phòng xa
Giữ gìn tất đất ông cha để đời.

Anh minh gương sáng rạng ngời
Quang Thuận – Hồng Đức ai thời sánh qua!
Băm tám năm gánh sơn hà
Thọ năm mươi sáu, ngài đà giá băng.

  1. LÊ HIẾN TÔNG (1497-1504)

Niên hiệu: Cảnh Thống 景 統
Thế ngôi cha, thái tử Tăng
Lấy hiệu Cảnh Thống, hiệu rằng Hiến Tông.
Vua hiền, đôn hậu, hạnh thông
Thay trời trị nước một lòng từ bi.
Đời ngài không giặc giã gì
Bảy năm ngôi vị rồi thì quy tiên!

  1. LÊ TÚC TÔNG (1504)

Niên hiệu: Thái Trinh 泰貞
VÀ LÊ UY MỤC 黎 威 穆 (1505-1509):
Túc Tông con thứ nắm quyền
Lên ngôi sáu tháng, rũ phiền tuổi xanh!

Triều thần liền chọn người anh
Tức là Uy Mục nổi danh hung tàn.
Lên ngôi đã giết họ hàng
Sát Hoàng thái hậu với quan cựu thần.

Làm vua nổi tiếng bất nhân
Đắm say tửu sắc, chẳng phân chính, tà!
Lắm đường phản trắc, yêu ma
Nên sứ Tàu mới gọi là: Qủy Vương”!

Thường dùng “ngoại thích” dối lường
Chọn người sức mạnh chẳng tường nghĩa nhân.
Họ Mạc đánh cá lọt chân
Đô Chỉ huy sứ về phần Đặng Dung.

Quan tôn thất, quyết chẳng dùng
Công thần chẳng dụng, anh hùng chán hung!
Đuổi người chớ đuổi đến cùng
Chó khôn lúc khốn, điên khùng máu tanh.

Nói về họ Giản tên Oanh
Tu Công, Uy Mục ngọn ngành một tông.
Dòng con vua cháu Thánh Tông
Bị giam, đút lót mở còng thoát thân.
Uy Mục đến lúc mãn phần
Mà người sát hại, anh gần: Tu Công.

VII. LÊ TƯƠNG DỰC (1510-1516)
Niên hiệu: Hồng Thuận 烘 順
Giết anh, con chú bác xong
Tu Công thế chỗ, đi tong ván bài.
Tương Dực xa xỉ, bất tài
Điện trăm nóc, Cửu Trùng đài dựng chơi!

Khốn thay mười mấy năm trời
Bạc tiền hời hợt, thân người chẳng ra.
Thông dâm mỹ nữ triều cha
Sứ Minh sang thấy, kêu làtướng heo”.
Làm vua chẳng mấy người theo
Sơn hà nổi loạn, người nghèo khắp nơi.

  1. Việc thuế má:

Dân gian, thuế vét… đáy vơi
Kho vua, vàng bạc của trời… thặng dư!

  1. Đại Việt thông giám:

Vũ Quỳnh, binh Bộ thượng thư
Viết Sử Đại Việt giống như trước dùng.
Thêm mười một quyển bổ sung
Tổng luận sử bộ Lê Trung đã làm.

  1. Sự biến loạn:

Hoang chơi, vua quá là ham
Bỏ lơ việc nước không cam, chẳng màng.
Đắc Bằng, Trung, Nguyễn Văn Lang
Người già, mất, kẻ từ quan chức về.

Sanh ra nội loạn tứ bề
Duy Nhạc, Văn Tổng đánh về Đông – Gia.
Nghệ An, Văn Triệt phá ra
Sơn Tây đã có loạn là Trần Tuân.

Phùng Chương, Tam Đảo một khung
Ninh, Hưng, Hy chiếm mấy vùng phá chơi.
Trần Cao xưng có “tướng trời
Có “Thiên tử khí” chỉ lời ngụy minh.

Cho mình “Đế Thích giáng sinh”
Xua binh đánh phá, còn mình cướp ngôi.
Tương Dực khí số tới rồi
Nửa đêm bị giết, ngôi ngồi tám năm.

VIII. LÊ CHIÊU TÔNG
Niên hiệu: Quang Thiệu 光 紹
VÀ LÊ CUNG HOÀNG
Niên hiệu: Thống Nguyên 統 元
 (1516-1527)
Triều đình hội ý bốc thăm
Nhằm Quang Trị mới vừa tầm tám thôi.
Phùng Mại muốn đổi cho rồi:
Cẩm vương con trẻ  lên ngôi nối quyền.

Bọn Trịnh Duy Sản thấy phiền
Đem Phùng Mại chém ngang nhiên giữa triều.
Lên ngôi, ngày chẳng bấy nhiêu
Quang Trị bị giết là điều ác nhân.

Triều đình chính sự bất phân
Hoàng Dụ nhân thế kiếm phần phủ vây.
Bọn Trịnh Duy Sản nhanh tay
Đem con của Cẩm Vương đây, lập liền.
Mười bốn tuổi có cơ duyên
Chiêu Tông, cháu của vua hiền Thánh Tông.

Thương rằng Quang Trị chết non
Giết tươi Phùng Mại, hai oan oán hồn.
Lê Khắc Xương ấy mà khôn
Chối từ chức Đế mới tồn mạng cao.

  1. Giặc Trần Cao quấy nhiễu ở Đông Đô:

Đông Đô nhiễu loạn Trần Cao
Ngõ hầu chiếm chỗ, lật nhào họ Lê.
Hai đàng chém giết chán chê
Trần Cao bí thế, rút về Lạng Nguyên.

Bọn Trịnh Duy Sản chuyên quyền
Khinh địch chuốc lấy ưu phiền, vạ vương.

Quân Trần Chân chận bốn phương
Trần Cao bị đánh hết đường hảo huyên.
Nhường con, Cao mới trao quyền
Chán chường mà cắt tóc liền tu tiên!

  1. Quan trong triều làm loạn:

Triều ca lại loạn đến phiên
Chiêu Tông, trẻ thiếu tôi hiền bảo ban.
Triều thần bè phái hai đàng
Hai họ Trịnh – Nguyễn ngang tàng đánh nhau.

Trần Chân quyền bính tóm thâu
Vua nghe sàm tấu mới hầu giết đi!
Oán vua trẻ sớm bất nghì
Quân Trần Chân phản cũng vì chủ oan!

Hai bên đánh quyết sống còn
Đăng Dung, vua phải chịu lòn, biết sao!

  1. Mạc Đăng Dung chuyên quyền:

Mạc Đăng Dung ở Đông Cao
Xem ra cũng chẳng anh hào thứ chi!
Cháu bảy đời Mạc Đỉnh Chi.
Lên quan ngự thí, chẳng thi bao giờ.

Sức mạnh đánh cá chẳng chê
Vua nào thấy cũng vỗ về, tấn phong.
Họ Mạc vì cậy có công:
Dẹp xong Trịnh – Nguyễn, dứt dòng phản vương.

Bấy giờ quyền thế mọi phương
Ra vào thấy cũng đường đường một vương.
Giết trung thần chẳng xót thương
Xưng vương, xưng tướng, cũng phường soán ngôi.

Chiêu Tông hối hận đã rồi
Nửa đêm trốn chạy, bỏ ngôi, lấy người.
Đăng Dung quyền thế đặng mười
Lập vua nhưng bủa lưới trời cung son.

Thống Nguyên tước hiệu Cung Hoàng
Phan Điền lấn lướt chỉ toàn xúi thôi!
Khiến cho “lửa bỏng, hỏng xôi”
Chiêu Tông mắc lưỡi tôi đòi Trịnh Tuy.

Đặng Dung dụ kẻ vô nghì
Chiêu Tông bị bắt, tức thì, giết đi!
Mười một năm ở ngôi vì
Thọ hăm sáu tuổi, từ ly não lòng!

Cung Hoàng, Thái hậu đồng thông
Hai năm lao khổ chết trong thét gào.
Họ Mạc làm chuyện soán trào
Cướp ngôi Lê để ra bao tiếng đời!

Triều thần máu chảy, đầu rơi
Nhiều người không phục tìm nơi ẩn mình.
Tội thay muôn vạn sinh linh
Thay triều đổi chúa chẳng tình nghĩa chi.

Xót nhà Lê chẳng bỏ đi:
Vũ Duệ, Ngô Hoán, Mậu, Huy, Duy Tường.
Bá Ký, Kim Bảng, Vô Cương
Tuấn Mậu, Bạt với Tự Cường, Hữu Cương.

Triều Lê khoa bảng đường đường
Biết điều sỉ nhục, lại tường nghĩa nhân.
Nhổ vào mặt kẻ bất nhân
Trên ngôi soán chúa, dưới sân lấn quyền.

Thị phi tiếng mãi còn nguyền
Lam Sơn tiên đế, ngôi truyền tới đâu!
Tiếng thơm nghĩa khí về sau
Chết vinh hơn sống nhục câu “sĩ hiền”!

Mười đời Lê cũng đã truyền
Trăm năm: Thái Tổ đến phiên Cung Hoàng.
Ba đời có tiếng tốt chung
Thái Tổ với Thánh Tông cùng Hiến Tông.

Ba vua giữ vững non sông
Trưởng thành nên chuyện tư công rõ ràng.
Vua non kế nghiệp bạo tàn
Hoang dâm, ngu xuẩn, dã tràng nghiệp cha!

Nhà Lê thời thế đã qua
Tiếc công vua trước, xót xa kiếp người!
Nghịch thời, nhà Mạc cướp ngôi
Làm vua cũng chẳng có ngồi được lâu!

Chuyên quyền họ Trịnh về sau
Chỉ ở ngôi “Chúa” chớ hầu ngôi “Vua“!
Đời nào cũng mãi hơn thua
Cho người chép sử từng mùa… hát rong!

Quyển IV
TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (1528-1802)
(Thời kỳ Nam Bắc phân tranh)

2


TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (1528-1802)

(Thời kỳ Nam Bắc phân tranh)
NHÀ HẬU LÊ  黎 後 
Thời phân tranh (1533-1788) …
Chương I
LỊCH TRIỀU LƯỢC KỶ
Nước Nam một cõi biển Đông
Ngô Vương đuổi Hán uy phong lẫy lừng.
Tiên Hoàng dẹp loạn sứ quân
“Quan quang thượng quốc” vào chừng sáu trăm.

Hậu triều Lê quá hoang dâm
Để cho họ Mạc ngấm ngầm cướp ngôi.
Phục hưng Lê cũ xa rồi
Lê Trung Hưng mới chia đôi nước nhà.

  1. Nam triều – Bắc triều:

Sáu năm tan nát sơn hà
Bắc Nam như chẳng cùng là mẹ cha.
Phù Lê, đuổi Mạc chạy xa
Họ Trịnh ỷ thế xoay ra lộng hành.

  1. Trịnh Nguyễn phân tranh:

Hai nhà Trịnh – Nguyễn phân tranh
Nhồi da xáo thịt chia ranh bến bờ.
Mang danh chính nghĩa phù Lê
Hai bên tiếm chúa mà chờ lấn vua.

Chương II
NAM TRIỀU 南 朝 BẮC TRIỀU 北 朝
             (1527-1592)

  1. Chính trị nhà Mạc:

Đăng Dung nổi gió được mùa
Đinh Hợi, chính thức xưng vua, tiếm triều.
Phép Lê đâu dám sửa nhiều
Sợ người tưởng nhớ tiền triều Thánh Tông.

Cho nên lấy đức mà đong
Nhưng tâm đại ác, tư công hẹp lòng.
Cựu thần Nam, Bắc, Tây, Đông
Thay tên, đổi họ mà không chịu về.

Nhiều người chẳng phục, giương cờ
Phù Lê đánh Mạc đôi bờ đảo điên.
Thọ Trường, Nguyễn Ngã, Công Uyên.
Đánh vùng Thanh Hóa, phá miền Mã Giang.

Noi phép Lê, bắt chước Trần
Ba năm chiếm lấn đến phần nhượng ngôi.
Khi làm Thái Thượng Hoàng rồi
Hèn nhát đến nổi cầu ngoài ngoại bang.

Ngôi vua truyền Mạc Đăng Doanh
Mười năm sau mất, thanh danh méo tròn.
Mạc Đăng Dung cũng vẫn còn
Nên Mạc Phúc Hải tính toan được gì?

  1. Việc nhà Mạc giao thiệp với nhà Minh:

Gian hùng, chính khí bất tri
Cầu binh, Lê lại chịu đi uốn mình.
Vị lợi”,  “vị nghĩa”, nhà Minh
Sang An Nam chỉ thêm sinh bất bình.

Đinh Dậu, mưu sự chiến chinh
Cừu Loan – đô đốc, Mạc bình giúp Lê.
Canh Tý, giặc phạm bến bờ
Đăng Dung sợ hãi quỳ chờ chiếu ban.

Giặc chưa đến đã vội vàng
Trói mình chịu tội, đầu hàng, nhục sao!
Sợ oai, bỏ mất thanh cao
Miệng cọp mới hả, vội trao mỡ vào!

Tôi trung nào lại soán trào
Giết vua để tiếng nghịch vào kiếp sau!
Một đời tiếng tốt da trâu
Ai đâu phản quốc để đau giống nòi!

Vua một cõi, lại hẹp hòi
Cởi trần, quỳ gối để… thòi lợi riêng.
Vua gì chẳng phải thuận thiên
Là người trâng tráo, sỉ liêm bất nghì.

  1. Họ Nguyễn khởi nghĩa giúp nhà Lê:

Từ khi Mạc cướp ngôi vì
Cựu thần hầu hết trốn đi chốn nào?
Nguyễn Kim lẫn ở Ai Lao
Con Nguyễn Hoằng Dụ, anh hào họ Lê.

Hoằng Dụ xưa đóng Bồ Đề
Đốt kinh đô, chém tế cờ Như Tô.
Nịnh Tương Dực nên xây… mồ
Cửu Trùng Đài đổ, mạng Tô chẳng dài!

  1. Quyền về họ Trịnh:

Lê Trang Tông (1533-1548)
Nguyễn Kim chọn sẵn trên ngai
Con Chiêu Tông, út tên ngài Duy Ninh.
Sợ triều biến động trớ trinh
Trang Tông lấy hiệu mới sinh: Nguyên Hòa.

Làm vua mười sáu năm hờ
Ba mươi mốt tuổi, đến giờ, lại… thăng!
Nguyễn Kim nắm hết võ, văn
Sau bị “thuốc” chết, không trăn trối gì!

Trịnh Kiểm, con rể kế vì
Chiêu hiền đãi sĩ, oai nghi một vùng.
Phùng Khắc Hoan tức Trạng Bùng
Với Lương Hữu Khánh về cùng giúp Lê.

Một nhà hai cảnh, hai quê
Nhà Lê, họ Mạc làm nhơ sơn hà.
Bắc triều: Thanh Hóa trở ra
Nam triều tính ngược từ xa trở vào.

Lê Trung Tông (1548-1556)
Nhà Lê vẫn giữ ngôi cao
Duy Huyên thế tử được giao nối dòng.
Thuận Bình là hiệu Trung Tông
Năm hăm tám mất, ngôi rồng tám năm.

Vua không con, Kiểm ngấm ngầm
Họ Trịnh chắc mẩm, âm thầm: Soán ngôi!
Nhưng còn lưỡng lự nước đôi
Phái người lẻn hỏi, bói coi tận tình.

Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn thông minh
Trọng hiền, nhà Mạc phong Trình Quốc Công.
Thanh Liêm, quan đã từng thông
Giỏi sấm ký, chẳng vị lòng Bắc – Nam.

Qua lời, thấy Trịnh khá tham
Trạng Trình ngoảnh bảo người làm mấy câu:
Năm nay, mùa chẳng được đâu
Hãy tìm giống cũ, mùa sau được nhờ.
Giữ chùa, tưởng Phật, mà thờ
Tha hồ ăn oản đừng lơ chữ Tình”.

Họ Trịnh nghe được giật mình
Hiểu lời mách nước của Trình Quốc Công.
Nhà Lê có một Huyền Tông
Là cháu Thái Tổ, Anh Tông tế đàn.

Lê Anh Tông (1556-1573)
Anh Tông tên húy Duy Bang
Họ Trịnh lập để mà dàn cảnh thôi!
Nhằm khi Trịnh Kiểm mất rồi
Trao quyền Trịnh Cối thuộc nòi phá chơi.

Triều cương rối loạn tơi bời
Người em Trịnh Cối khơi khơi đoạt quyền.
Trịnh Tùng hống hách đến phiên
Khiến Anh Tông phải bỏ miền, chạy xa.

Hữu Liên kiếm được vua ra
Trịnh Tùng sai giết để mà diệt căn.
Mười sáu năm hưởng thóc cằn
Bốn hai tuổi mất, chẳng bằng tớ vua.

Lê Thế Tông (1573-1599)
Giữ chùa ăn oản của Chùa”
Thái tử Đàm bị Tùng… lùa nối ngôi.

Vua Thế Tông chỉ có ngồi
Trẻ con bảy tuổi mấy hồi định phân?
Ngôi hai mươi bảy, mãn phần
Gạt dòng nước mắt lìa trần: Băm ba.

Thời ngài, họ Mạc chạy xa
Trịnh Tùng chấm dứt can qua mấy nhà.
Đông Đô, Bắc tiến thẳng đà
Thăng Long, Mậu Hợp hóa… ma giữa đồng.

Đăng Dung vây cánh đi… tong
Năm đời họ Mạc cũng xong mất rồi!
Đăng Doanh chẳng chịu thiệt thòi
Ngôi trời nối dõi giống nòi Thái Tông.

Mười năm sau đến Hiển Tông
Là Mạc Phúc Hải ngôi rồng năm năm.
Họ Mạc gây những lỗi lầm
Phúc Nguyên nhận lãnh hờn căm giống dòng.

Phúc Nguyên lấy hiệu Tuyên Tông
Mười lăm năm mất, truyền dòng đến con.
Ba mươi năm ở ngôi son
Với cùng họ Trịnh sống còn… thịt nhau!

Tưởng đâu đem kiếp thân trâu
Cùng nhau chống giặc chờ câu thái hòa.
Nào ngờ chung một bến bờ
Người trong một nước trở cờ, đánh nhau!

  1. Khôi phục thành Thăng Long:

Trịnh Tùng
Trịnh Tùng công lớn đứng đầu
Làm em lại cứ đánh nhàu với anh.
Làm tôi lại quá… tài lanh
Giết vua, đổi chúa, sử xanh khó lường.

Tuy rằng chẳng mấy người thương
Nhưng làm tướng cũng mọi đường giúp Lê.
Mặc đời tốt, xấu, khen, chê
Khi làm chúa cũng không lơ với đời.

Cho nên mới cúng tế trời
Một lòng “thủ lễ”  dưới thời nhà Lê.
Ba điều không được thờ ơ:
”Thức ăn, củi đuốc dân quê, chẳng dùng.
Không cướp của kẻ khốn cùng
Không dâm hiếp bậy, không cùng vị riêng”.
 
Thăng Long, quân tiến thản nhiên
Vừa phá hào lũy vừa khuyên dân tình.
Quân Mạc tan tác, thất kinh
Lớp hàng, lớp chạy chẳng rinh được gì.

  1. Nhà Mạc mất ngôi:

Trịnh Tùng bắt Mậu Hợp đi
Thăng Long hành tội khác chi kẻ thù.
Về Thanh Hóa chém để hù
Nhà Mạc bia miệng thiên thu lỗi lầm.

Từ khi họ Mạc rắp tâm
Soán ngôi, giết chúa sáu lăm năm ròng.
Mạc Toàn đến Mạc Kính Cung
Với Mạc Ngọc Liễn về vùng Long Châu.

Ít lâu, Liễn chết để câu:
“Số trời đã định ta hầu nhà Lê.
Chớ dân có tội gì ghê
Mà chinh chiến khồ, thảm thê thế này?
Lánh mình ngoài nước là hay
Nhưng đừng cầu cạnh Tàu này hại dân!”.
 
Mấy lời thiệt có đức nhân
Tiếc thay nhà Mạc chẳng phân một lần!
Nhà Minh che chở, đỡ đần
Cao Bằng chút đất náo thân một vùng.

  1. Việc nhà hậu Lê giao thiệp với nhà Minh:

Họ Mạc tố giác Trịnh Tùng
Thừa cơ soán vị, gian hùng họ Lê.
Vua Minh khám xét mọi bề
Thượng thư, Ngự sử chực chờ tiếp quan.

Ngàn cân bạc, trăm cân vàng
Kỳ mục mười mạng lên đàng cống sang.
Thế Tông bị buộc phải hàng
Nam Quan phó hội, nộp vàng giống xưa.
 
“Đô thống sứ” nhà Mạc thừa
Phong vua Lê để cho vừa rẻ khinh.
Khắc Khoan dâng sớ giải trình
Nhà Minh gỡ gạc là mình “tạm phong”.

  1. Con cháu nhà Mạc ở Cao Bằng:

Kính Chi, Mạc Hợp bị gông
Huyện Đông Triều lại kế dòng: Tráng Vương.
Bính Thân, Trấn thủ Hải Dương
Phan Ngạn bắt được Kính Chương dẫn về.

Con trai, Kính Dụng không ngờ
Giữ đất Yên Bắc đến giờ chết chung.
Long Châu, trước có Kính Cung
Chạy đi rồi lại về vùng Lạng Sơn.

Bị Trịnh Tùng đuổi, tay trơn
Kính Cung bày tỏ mối hờn với Minh.
Nhà Minh thấy cũng thương tình
Bắt Lê để Mạc tồn sinh: Cao Bằng.
 
Chương  III
TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH

  1. Họ Trịnh ở Miền Bắc xưng Chúa

Trịnh Tùng quá thể kiêu căng
Quyền hành tóm hết cho bằng chúa, vương.
Gây ra thảm cảnh khôn lường:
Nhồi da, xáo thịt tang thương tứ bề.

  1. Họ Nguyễn xưng Chúa ở miền Nam

Nguyễn Kim lo liệu mọi bề
Hai trai, một gái chẳng nhờ được ai.
Giúp Lê, đánh Mạc, tướng tài
Trịnh Kiểm: con rể; con trai: Uông, Hoàng.

Phước phần chẳng tới cung son
Bị thuốc độc chết, Kiểm toan cướp quyền.
Trịnh Kiểm hiểm độc đến điên
Giết em vợ, tính mưu riêng lợi mình.

Nguyễn Hoàng sợ Kiểm dứt tình
Ra Hải Dương hỏi Trạng Trình Bỉnh Khiêm.
Trịnh Tùng, được bảo bên thềm:
Giữ chùa ăn oản là điềm thọ lâu”.

Họ Mạc cũng được mách câu:
Cao Bằng tuy nhỏ, đủ sau kế cầu”.
Đến phiên họ Nguyễn thuộc làu:
Hoành Sơn nhất đái, ngày sau náu mình”.

Nguyễn Hoàng thấu hiểu lẽ tình
Cố xin anh rể cho mình lánh xa.
Cơ cùng, khổ cực không nhà
Khôn ngoan, hiền thục lấy đà tiến thân.

Một lòng giữ lấy đức nhân
Vào Nam lập nghiệp, dân bần chúng theo.
Giúp Lê qua lúc ngặt nghèo
Trịnh Tùng, thằng cháu lại gieo tiếng hèn.

Nguyễn Hoàng kiếm cách mấy phen
Chạy về Thuận Hóa giả hèn thứ dân.
Bấy giờ Nam – Bắc đã phân
Nhà Thanh đất cũ dần dần tóm thâu.

Nguyễn Hoàng cẩn thận làm đầu
Gả con Trịnh Tráng, trước sau nhịn nhường.

Chương IV
SỰ CHIẾN TRANH

  1. Họ Trịnh đánh họ Mạc ở Cao Bằng:

Lê Kính Tông
Thế Tông đến lúc lên đường
Duy Tân, hoàng tử liệu lường đăng quang.
Đình Hàm, Nhạn ở Đại An
Cùng Văn Khuê với cả ngàn loạn quân.

Thăng Long, Mạc chiếm nửa phần
Bị thua mới lại thu quân Cao Bằng.
Trịnh Tùng nhân thể kiêu căng
Kính Tông biết được cắn răng, chực hờ.
Ngờ đâu mưu sự hở cơ
Bị bức tử chết, đăng cơ: Duy Kỳ.

Lê Thần Tông
Thần Tông cũng chỉ hư vì
Trịnh Xuân phóng hỏa, hiểm nguy phố thành.
Cha con trở mặt tranh giành
Trịnh Tùng nổi trận tam bành, giết con!

Rồi Tùng mạng cũng chẳng còn
Trịnh Tráng kế nghiệp, méo tròn tấc son.
Hùm dữ không nỡ ăn con
Làm người khôn lại sống mòn nghĩa chung!

Kính Khoan là cháu Kính Cung
Xưng vương, xưng tướng ở vùng Thái Nguyên.
Nhầm phiên Trịnh Tráng cầm quyền
Tan bầy, mới tính đi lên Cao Bằng.

Họ Trịnh lại muốn trừ căn
Kính Cung bị bắt, Trịnh rằng: ”giết mau!”.
Kính Khoan vội chạy sang Tàu
Về sau dâng biểu mà đầu họ Lê.

Mạc – Trịnh mưu sự ủ ê
Trung thần nghĩa sĩ hai bờ ở đâu?

  1. Nhà Thanh dấy nghiệp:

Nước Tàu có xứ Mãn Châu
Lập nên nước lớn đứng đầu nước Kim.
Nhà Nguyên chiếm đất làm riêng
Nhà Minh dứt nghiệp, Thanh liền thế chân.

Mãn Châu bị cắt bốn phần
Gọi là Vệ địa với ngần ấy châu.
Đời Thanh, Thái Tổ gom thâu
Bốn châu nhập một, chia nhau trị vì.

Lỗ Nhĩ Cấp Xích mất đi
Thánh Tông, nối nghiệp trị vì mấy năm.
Đại Thanh Thế Tổ Phúc Lâm
Dã tâm: Tầm chúa ăn mầm đất Minh.

Đến khi đất nước chiến chinh
Lý Tự Thành loạn, Yên Kinh đánh vào.
Chừng khi Tam Quế hồi trào
Yên Kinh thất thủ mới vào Hải Quan.

Tự Thành kêu gọi đầu hàng
Khiến Ngô Tam Quế kiếm đàng viện Thanh.
Nhà Thanh suy tính gian manh
Giúp Tam Quế đánh Tự Thành, xuất binh.

Phúc Vương, vua ở Nam Kinh
Tình thế náo loạn, nộp mình cậy nương.
Đường Vương rồi đến Quế Vương
Lần lượt xưng Đế chỉ dường mấy năm!

Trời mưa, đất chịu âm thầm
Lụt lâu, nước động, rau răm héo tàn.
Dân Tàu nội loạn lầm than
Nhà Mạc cũng đã đầu hàng họ Lê.

Nhà Trịnh chuẩn bị mọi bề
Hai bên hỗn chiến mượn cờ giúp vua.
Họ Trịnh càng đánh càng thua
Chúa Nguyễn trả đũa, sức thừa phản công.

  1. Đánh nhau lần thứ nhất (1662):

Minh, Thanh chưa ngã ngũ xong
Trịnh Tráng mượn lệnh vào trong xét dò.
Bắt Nguyễn nộp thuế, mở kho
Phúc Nguyên nhận chỉ nhưng cho giả đò.

“Đàng trong quả thật họa to”
Trịnh Tráng quyết dứt mối lo cạnh mình.
Danh Thế, Nguyễn Khải ra binh
Năm ngàn binh mã rập rình Hà Trung.

Phúc Vệ, Hữu Dật chống cùng
Phao “Trịnh Nhạc phản”, Dật dùng kế mưu.
Trịnh Tráng chẳng rõ thật hư
Rút quân về Bắc, từ từ tính sau.

  1. Đánh nhau lần thứ hai (1630):

Canh Ngọ, dự tính đánh nhau
Đem sắc dụ trả, giữ đầu sông Gianh.
Nhân con là Ánh tranh giành
Chúa thư gởi Trịnh nhờ thành nội gian.

Trịnh Tráng nghi hoặc, không màng
Nhật Lệ đóng giữ, quân canh trễ tràng.
Chúa Sãi hạ lệnh quân sang
Binh Trịnh bị đánh, vội vàng rút ngay.

  1. Đánh nhau lần thứ ba (1635):

Ất Dậu, chúa mất, con thay
Em ruột Nguyễn Ánh ra tay phản loàn.
Phúc Khê giúp chúa Phúc Lan
Vây binh bắt được rồi mang xử hình.

Tưởng trời như đã giúp mình
Trịnh Tráng sai tướng ra binh tức thì.
Bắt Bùi Công Thắng giết đi
Quý Tỵ phải rút bởi vì khí oi.

  1. Đánh nhau lần thứ tư (1648):

Mậu Tý, Trịnh Tráng trổ mòi
Thuỷ, Bộ hữu lộ song đôi đánh vào.
Đất Nam Bố Chánh xôn xao
Cửa biển Nhật Lệ thêm bao sóng gào.

Trường Dực, đánh mãi không vào
Họ Trương cố giữ tường hào bất phân.
Chúa sai con Nguyễn Phúc Tần
Dùng mưu đánh úp mấy lần, Trịnh tan.

Trong Nam, chúa Thượng mạng tàn
Ngoài Bắc, vua mất, hai đàng tổn hao.
Người đi, của đổ biết bao
Tham quyền, đoạt lợi, máu đào đỏ sông.

  1. Đánh nhau lần thứ năm 1655):

Ất vị, Tiến, Dật vượt sông
Đánh Bắc Bố Chính, tấn công Thạch Hà.
Hoành Sơn, Hữu Đức đánh ra
Hà Trung, Hữu Dật đánh qua An Tràng.

Tướng Trịnh, Phạm Tất ra hàng
Văn Hiểu trúng đạn, thân tàn, mạng vong.
Vũ Lương, Hữu Đức chức tong
Lạc Xuyên, Trịnh Trượng chẳng hòng dám ra.

Tướng Nguyễn giỏi quả không ngoa
Đuổi quân Trịnh chạy nhập nhòa gió mưa.
Huyện thành lấy bảy cho vừa
Trịnh Lượng bị giáng, Tráng đưa Tạc vào.

Nghệ An, Trịnh Tạc hồi trào
Phải về lại Bắc mà vào vấn an.
Quang Nhiêu thủ ở Tràng An
Bị thua, tạ tội, quân tan phía ngoài.

Trịnh Toàn, con út ra oai
Toàn quyền quyết đoán từ ngoài tới trong.
Mọi chuyện cũng chẳng như mong
Đánh thua chỏng gọng lo hòng giữ thân.

Vừa khi, Toàn được lòng dân
Trịnh Tráng bịnh mất, Căn nhân cớ này.
Thấy em công đức đủ đầy
Giam Toàn vào ngục, mặt dày, giết ngay.

Anh em vua chúa xưa nay
Nào ai hiểu nghĩa chân tay thủ cầu.
Trịnh Căn lo hậu trước sau
Chia quân ba đạo cùng nhau tiến vào.

Quân Nguyễn được báo, phòng cao
Hai bên đánh mãi chẳng sao tiến, lùi!
Quân Nguyễn lại gặp chuyện xui:
Hàng quân bỏ trốn; tới lùi kỵ nhau.

Hữu Tiến, Hữu Dật giữa cầu
Người lui, kẻ tiến thua đau mấy đàng.
Khiến cho bảy huyện Lam Giang
Về tay quân Trịnh, lầm than võ vàn.

  1. Đánh nhau lần thứ sáu (1661):

Tân Sửu, thẳng tiến Linh Giang
Trịnh Căn rã bọn, tan hàng: Quang Nhiêu.
Tiến binh, phá trận khá nhiều
Cũng đều bị Nguyễn sáng chiều, phá tan.

  1. Đánh nhau lần thứ bảy (1661)

Rước vua, Trịnh Tạc hoang mang…
Tháng chín vua mất, vội vàng sắc phong.
Thần Tông qua đến Huyền Tông
Tám năm sau mất, Gia Tông kế dòng.

Bày ra thảm cảnh ngăn sông
Giành nhau tất đất mà hòng hại dân!
Kẻ tám lạng, người nửa cân
Tranh nhau mà lấn chẳng cần xả hơi.

Bốn mươi lăm năm lệ rơi
Chỉ vì Nguyễn – Trịnh tơi bời đánh nhau!
Linh Giang phân giới trước sau
Bắc – Nam ngưng chiến cùng nhau thủ hòa.

Chương V
CÔNG VIỆC HỌ TRỊNH LÀM Ở ĐẤT BẮC

  1. Việc giao thiệp với nhà Thanh:

Thời kỳ thứ nhất: (1570-1657)
Trịnh Kiểm (1570) – Trịnh Tùng (1570-1620)
Trịnh Tráng (1623-1657).
Những gì họ Trịnh làm qua
Chỉ là đánh Mạc với nhà Nguyễn thôi.
Nhà Thanh, lệ cống cho rồi
Còn công việc khác thì coi nhẹ nhàng.

  1. Việc lấy đất Cao Bằng của họ Mạc:

Ất Sửu, Kính Khoan xin hàng
Vua Lê phong Thái Úy hàng Quốc công.
Mạc Kính Vũ chẳng nhận phong
Cũng không về cống, ngôi rồng tự xưng.

Quân Trịnh vây đánh tưng bừng
Họ Mạc phải chạy tứ tung, rụng hồn.
Nhà Minh can thiệp tài khôn
Cao Bằng được ở chỉ tồn bốn châu.

Ba đời truyền tập không lâu
Đinh Văn Tả đánh mà thâu đất về.
Họ Mạc thuyền úp, nghiêng đê
Kính Cung, Khoan, Vũ tới giờ trảm biên.

  1. Quan chế:

Thời kỳ thứ hai: (1657-1729)
Trịnh Tạc (1657-1682), Trịnh Căn, 1682-1709)
Trịnh Cương (1709-1729)
Khi tranh chấp được tạm yên
Luật Hồng Đức đã tới phiên khác dần.
Tham tụng, Bồi tụng nhất phân
Ngang hàng Tể tướng coi phần trị an.

Thượng thư – Lục bộ hàng ngang:
Công, Binh, Lại, Hộ, Lễ quan, với Hình.
Lục phiên coi việc cung đình
Võ bị, Ngũ phủ, quan hình tam ban.
 
Triều đình chốn của vua quan
Phủ Liêu họ Trịnh là hàng Chúa cha.
Triều đình hư vị có là
Việc quân dân, chính ngồi xa ngó nhìn.

Mỗi năm quan võ thi trình
Một bài khảo hạch giữ mình hoặc không.

Quan hưu, bổng lộc chẳng đồng
Nhất phẩm được bốn trăm đồng nhận chơi.
Trăm quan: Cửu phẩm hưởng hơi.
Đời sau, chúa bán hợt hời chức quan.

Sáu trăm mua bậc chức nhàn
Trên ngàn tám: Huyện hay quan Phủ từ.
Tiền mua tất cả công tư
Tài năng xuống cấp, tâm như ván bài.

  1. Việc binh lính:

Ưu binh được cấp công điền
Vua, Chúa, có kẻ giữ đền thắp nhang.
Nhất binh giữ trấn, sửa sang
Không cần thì cứ ruộng quan cấy cày.
 

  1. Hình luật:

Hình luật từ trước tới nay
Ngũ hình: Tử, Trượng, Lưu, Xuy và Đồ.
Tiểu tụng: ẩu đả, hộ, hô
Đại tụng: mưu sát, ra vô cướp tiền.

Xử không xong, phạt nộp tiền
Xử rồi mà kiện thì liền phạt thêm.
Thừa, Trấn, Ti xử không êm
Lên Hiến ti, Giám, Đề thêm Ngự đài.

Lệ xử không được kéo dài:
Nhân mạng bốn tháng, bạc bài chỉ hai.
Điền thổ, trộm cướp cơ ngai
Hẹn cho ba tháng lệnh bài phải xong.

  1. Thuế đinh, thuế điền và sưu dịch:

Sáu năm, hộ tịch khai thông
Một quan – quan tám là đồng thuế thân.
Bình Lệ – phép đánh một lần
Sinh, tử không kể mấy lần, chẳng tha.

Công điền, ba hạng tính ra
Sáu tiền, với tám hay là một quan.
Sưu dịch: cầu cống, đường làng
Tế tự phủ chúa tùy hàng dụng chi.
 

  1. Các thứ thuế:

Thuế tuần ti
Hăm ba cơ sở tuần ti
Thuyền bè buôn bán thu chi tính phần.
Tre gỗ: Mười đóng một phần.
Tạp hóa: Bốn chục một lần thuế thôi.

Thuế muối:
Nấu xôi chẳng được ăn xôi
Cũng như nấu muối, thuế… vòi quá cao.
Trịnh Cương đánh thuế, dân chao
Trịnh Giang không lấy đồng nào mới yên.

Thuế thổ sản:
Giáp Thìn, chúa định thuế riêng:
Vàng, chì, bạc, kẽm, sơn, diêm, rượu, dầu.
Tre, lụa, chiếu, gỗ, đồng thau
Tơ, tiêu, cá, mắm, vật cầu giấy, than.
 

  1. Sổ thu chi:

Lắm giặc thời chúa Trịnh Giang
Chi thu đủ việc, các quan hội trào:
Đồng niên trưng dụng ra sao
Hộ phiên chi, phát ghi vào sổ biên.
 

  1. Việc khai mỏ:

Mỏ đồng Ngọc Tuyển, Thái Nguyên
Đồng, vàng: Kim Mã, Liêm Tuyền, Tụ Long.
Người Tàu khai thác cho không
Phu phen nhiễu sự bất đồng đánh nhau.

  1. Việc đúc tiền:

Dùng tiền Hồng Đức bấy lâu
Trịnh Doanh làm chúa bàn nhau đúc tiền.
Tham nhũng được phát sinh liền
Bính Thân, đúc ba vạn tiền Cảnh Hưng.
Đúc thêm bạc để tiêu dùng
Năm đồng: nửa lạng; quy chung: chục tiền.

  1. Sự đong lường:

Đong lường, lối cũ, lệ riêng:
Một thăng: sáu hạp; y nguyên đã từng.
Phạm Công Trứ mới tấu dưng:
Hoàng chung quản ống làm chừng để đong.
Ngàn hai hột thóc đen trong
Gọi là thược, hạp, thăng hòng định cân.

  1. Việc in sách:

Bản in sách phát toàn dân
Trịnh Giang tiết kiệm một phần phí hao.
Cấm không mua sách của Tàu
Nước nhà khắc một công đầu mở mang.

  1. Việc học hành:

Thi cử quy định dễ dàng
Bạc tiền trao đổi thành hàng chợ phiên.
Thi Hương, Hội mỗi tam niên
Ai thi phải nộp quan tiền “minh kinh”.
 

  1. Trường học võ bị:

Mở trường chiến lược chiêu sinh.
Ba tháng: đại tập, hư vinh hậu nhờ.
Xuân, Thu võ nghệ học khờ
Đông, Hạ thì học mắt mờ… võ kinh.
Ba niên, thi võ học sinh
Múa gươm, phi ngựa, đao binh, thí đài.

Canh Thân, lập miếu hiền tài,
Thành Vương, Tôn Tử với ngài Thái công.
Đằng sau, Hưng Đạo đức ông
Lập riêng cái miếu Quan Công tế hằng.
 

  1. Làm quốc sử:

Nước nhà bao nổi trầm, thăng
Nên làm quốc sử để nhằm nhắc nhau.
Việt sử toàn thư” mở đầu
Phạm Công Trứ soạn mai hầu đặng in.

Đời Hi Tông, năm Bính Thìn
Lê Hi, Đức Quí góp mình mới xong.
Trang Tông cho đến Gia Tông
Quốc sử thục lụccủa dòng hậu Lê.

Sử chép công việc mỏi mê
Chẳng hay biết đúng khen chê, bạn thù?
Đời Cảnh Hưng có sĩ phu
Lê Quý Đôn với Nguyễn Du, Nguyễn Hoàn.

Tham khảo sử cũ, làm tròn
Cùng Ngô Thời Sĩ chép toànTục biên”.
Sái quyển Quốc sử tục biên”
Nối đời vua trước mà truyền Ý Tông.

  1. Sự đánh dẹp giặc giã trong nước

Thời kỳ thứ ba (1729-1782)
Trịnh Giang (1729-1740) – Trịnh Doanh (1740-1767)
Trịnh Sâm (1767-1782)
Thời này nổi loạn ở trong
Duy Phương bị mắc vào tròng Trịnh Giang.
Giết vua, xưng chúa ngang tàng
Xa xỉ, hung bạo vào hàng ác tinh.

Nhân dân mất cảnh thanh bình
Trung thần bị hại còn tình nghĩa chi!
Duy Mật, Duy Chúc, Duy Qui
Võ Thức, Công Thế phế đi ác thần.

Chẳng may mưu sự vỡ lần
Bỏ triều mà chạy, danh cần hay thân?
Muôn dân nội loạn xa gần
Vậy mà chúa Trịnh lo phần hưởng chơi.

Để hòng gìn giữ cơ ngơi
Trịnh Giang bị phế, đáng đời rủa chê!
Trịnh Doanh, em ruột mệt khờ
Lo mà đánh dẹp tứ bề loạn thêm.

Giặc Ngân Già:
Loạn ngày nối tiếp loạn đêm
Ở làng Ninh Xá lại thêm “Ngân Già”.
Đình Dung, Cao, Chấn đánh ra
Cùng nhau cướp phá, nào tha họ Hoàng.
Chẳng may gặp phải Trịnh Doanh
Đình Dung bị chém, xóa danh ”Ngân Già”!

Giặc Ninh Xá:
Nguyễn Diên, Ninh Xá loạn qua
Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển với là Trác Oanh.
Cùng nhau tạo dựng thanh danh:
Hồng Châu, Nam Sách, Thuận Thành, Chí Linh.

Quan nha Thống lĩnh Hải Ninh
Là Hoàng Nghĩa Bá đi bình Phao Sơn.
Lương thực dự trữ hết trơn
Tuyển, Cừ thua chết, tiêu trơn sắc chàm.

Nguyễn Hữu Cầu (Quận He):
Hữu Cầu quả khác người phàm
Giỏi nghề bơi lội, lại ham vẫy vùng.
Theo Nguyễn Cừ múa kiếm cung
Đúng khi Cừ bắt, về vùng Đồ Sơn.

Giết quan Trịnh Bảng rửa hờn
Đánh lấy Kinh Bắc, thỏa cơn tang bồng.
Ra vào xem dễ như không
Đông đạo Thống quốc” tự phong bấy giờ.

Trần Đình Cẩm với Phương Đề
Bỏ ấn tính chạy thất thơ, thẹn người.
Ngũ Phúc cứ tưởng mười mươi:
Bao vây bắt sống nuốt tươi Hữu Cầu!

Hữu Cầu cá chẳng mắc câu
Quân Trịnh chẳng biết ở đâu, lúc nào?
Hữu Cầu có lắm mưu cao
Cướp nhà giàu để mà trao kẻ nghèo.

Đi đâu cũng có người theo
Ngờ đâu “kẻ cắp phải… teo mụ già”!
Anh hùng vang bóng đã qua
Phạm Đình Trọng bắt chém mà mạng vong!

Nguyễn Danh Phương (Quận Hẻo):
Có người tên Tế tên Bồng
Dấy binh khởi nghĩa ở vùng Sơn Tây.
Chẳng may bị Lý bắt đày
Còn thủ hạ đáng mặt mày: Danh Phương.

Sáng chiều lo tích trữ lương
Mười năm vùng vẫy huyện đường Tuyên Quang.
Than ôi! Tướng Trịnh: Nguyễn Phan
Đến làng Tĩnh Luyện, bắt mang trảm đầu!

Hoàng Công Chất:
Phá Xuân Tường đến Khoái Châu
Bắt quan Trấn thủ Sơn Châu chém đầu.
Mãnh Thiền lo chạy cho mau
Cướp miền Thanh Hóa, quân hầu vạn tên.
Hoàng Công Chất số chẳng bền
Nguyễn Thục vừa đến, lăn kềnh chết ngang.

Lê Duy Mật
Nhà Lê, công đã dã tràng
Âm mưu lật Trịnh chẳng màng máu tanh.
Qui, Chúc buồn chết đã đành
Những người đồng đảng cũng nhanh bỏ đời.

Duy Mật chiếm cứ vài nơi
Trước vùng Thanh Hóa sau dời Ngọc Lâu.
Ngọc Lâu bị phá, còn đâu!
Nhớ thời Lê – Nguyễn mà cầu Vũ Vương.

Bắc – Nam phân giới hai đường
Sợ phiền họ Trịnh, Vũ Vương chối từ.
Trịnh Sâm làm Chúa, đưa thư
Vỗ về không được, vội trừ khử ngay!

Nguyễn Phan, Thế Đạt ra tay
Trấn Ninh cô lập đêm ngày vắng tanh.
Hoàng Đình Thể mới liên danh
Trấn Ninh ba đạo tiến nhanh, phá thành.

Duy Mật kiên quyết thủ thành
Thế Chiêu rể phản, mới đành tự thiêu!

Khởi binh, dấy loạn cũng nhiều
Trí, mưu lại chẳng đồng đều mới thua!
Dân, quan với họ hàng vua
Hồn ma bóng quế, ngẫm chua chát lòng!

Họ Trịnh làm có như không
Đánh Đông, dẹp Bắc chẳng công cán gì.
Dân nghèo, chính trị lại suy
Về sau Trịnh đổ, Lê đi dứt dòng!

Chương VI
CÔNG VIỆC HỌ NGUYỄN LÀM
Ở MIỀN NAM
Họ Nguyễn tự quản miền trong
Xây thành đắp lũy oai phong một đàng.

  1. Quan chế:

Triều cha, chúa Trịnh bổ quan
Phúc Nguyên kháng lệnh, triều can chẳng trình.
Tam ti nơi chúa làm dinh.
Coi việc chính trị, tình hình khó khăn.

Xá sai ti tụng án văn
Chi thu thuế bởi Tướng thần lại ti.
Tế tự có Lệnh sử thi
Theo trọng hay yếu mà tùy bớt đi.

  1. Thi cử:

Đinh Hợi, chúa mở khoa thi
Thi hoa văn với lại thi chính đồ.
Tam ti, ai đậu thì vô
Văn chức, Lệnh sử khan khô một bài.
Xem ra thấy cũng sơ sài
Đánh nhau chỉ trọng võ tài, rẻ văn.

  1. Việc võ bị:

Võ bị, huấn luyện kỹ càng
Chuyên tâm tập luyện, phòng màng chiến tranh.
Đúc súng đại bác thủ thành
Quân năm loại tập tành ngựa voi.

  1. Việc thuế khóa:

Thuế điền ba hạng xét coi
Ruộng đất xấu xí cấm moi lấy tiền.
Đất hoang là ruộng tư điền
Dân cày thì thuế công điền nộp quan.
Thuế xuất nhập cảnh tiền quan
Chia thành mười loại, sáu dành trữ kho.

  1. Số tiền chi thu trong nước:

Quý Dậu, chúa lại xét dò
Xem vàng trong nước có… bò hết không?
Có năm dư… bốn trăm đồng
Có năm kho trống rỗng không có tiền.

Cho nên định luật tháng Giêng
Ngày mồng ba nộp tấu thiên phải đồng.
Tiền đồng, tiền kẽm lưu thông
Thái bình” hai chữ khắc xong mới xài.

  1. Việc giao thiệp với nước Tiêm La:

Phù Nam nước bị chia hai:
Chân Lạp, Xích Thổ, lá bài dã tâm.
Xích Thổ xé bởi ngoại xâm:
Nước Tiêm, La Hộc một mầm đệ huynh.

Về sau, bóng gắn với hình
Nước Tiêm La Hộc đủ mình với ta.
Minh Thái Tổ gọi: Tiêm La
Bị người Chân Lạp cứ qua đánh hoài.

Sinh sau nên bị cọt còi
Về sau cường thịnh ra mòi cọp, lang.
Đánh Chân, cùng Pháp ngoại bang
Gặp giờ, chúa Nguyễn xóa tan Chiêm Thành.

Tiêm La thế yếu mới đành
Để cho Chúa Nguyễn bảo hành đất Chân.
Ất Tỵ, Chân Lạp, Nặc Thâm
Đem binh Tiêm cướp phá ngầm Hà Tiên.

Phúc Khoát thư trách vua Tiêm
Dung túng kẻ nghịch để dìm nước Chân.
Ất Hợi, Tiêm  muốn hòa thân
Xin Nguyễn đừng đánh thuế dân lái thuyền.

Chúa rằng quốc lệ đã truyền
Không sao bỏ được, Tiêm nguyền tuyệt giao.
Đinh Hợi, Diến Điện đánh vào
Tiêm La mất chúa, coi mào đã xong.

Quốc Anh người tỉnh Hà Đông
Tự xưng Phi Nhã để hòng chiếm ngôi.
Chiếu qua Chân Lạp mà đòi
Nặc Ông bắt lỗi “khác nòi“, chẳng dưng.

Tiêm La gây chiến tưng bừng
Lúc Chân Lạp, lúc thẳng thừng Hà Tiên.
Hà Tiên, quan trấn Trần Liên
Quốc Anh vội vã đánh liền Tiêm La.

Nặc Ông phải kiếp không nhà
Nhờ quân Nguyễn giúp, sơn hà tạm yên.
Vua Tiêm về đến Hà Tiên
Truyền thư mời nghị hòa riêng hẹn hò.

Mặc Thiên Tứ chẳng chịu cho
Con gái bị bắt, mới lo nghị hòa.
Trần Liên được gọi về nhà
Trả con gái, đem Chiêu mà thủ tiêu.

Chiêu Thúy dõng dõi Tiêm triều
Quốc Anh sợ loạn, giở chiêu giết liền.

  1. Lập dinh Định phủ:

Đến đời chúa Sãi, Phúc Nguyên
Truyền qua chúa Thượng, chuyển sang Phúc Trần.
Lập dinh, định phủ, quan phân
Sửa sang phép tắc, định dần lễ nghi.

Vũ Vương, Giáp Tí trở đi
Mười hai cuộc đất tức thì một dinh.
Chính dinh rồi đến Cựu dinh
Quãng Bình, Vũ Xá, Bố Đình, Quảng Nam.

Phú Yên, Bình Thuận, Bình Khang
Ba dinh này trước là đang của Chàm.
Chân Lạp bị Nguyễn lấy làm:
Trấn Biên, Phiên Trấn, miền Nam Long Hồ.

Hà Tiên, Thiên Tứ lấn vô
Chúa Nguyễn khai khẩn đất khô nam phần.

Đời Nguyễn Phúc Khoát đổi dần:
Lập Vương, xưng Chúa bỏ lần chức Vua.
Mở mang một cõi tranh đua
Làm cho nước Việt chẳng thua láng giềng!

Chương VII
NGƯỜI ÂU CHÂU SANG NƯỚC VIỆT NAM

  1. SỰ ĐI TÌM ĐẤT:

Người Âu châu sang Á đông.
Người Âu châu sang đất Việt Nam.
Người ngoài đến viếng thay phiên:
Bồ Đào Nha, Nhật với thuyền Hòa Lan.
”Kinh kỳ, thứ nhất hạng sang
Thứ nhì Phố Hiến, sau… nàng Hội An”.
Anh, Pháp buôn chẳng dễ dàng
Thấy chưa có lợi, kiếm đàng trở ra.

  1. SỰ ĐI TRUYỀN GIÁO:

Đạo Thiên Chúa:
Sách sử cũng có chép là:
Đời Lê đã có Tây qua nước mình.
Sử Trương Vĩnh Ký chứng minh:
Đời Nguyễn, Kinh Thánh được… rinh tới nhà.

Người theo đạo, chúa lo xa
Nguyễn – Nam, Trịnh – Bắc cho là ”đạo gian”.
Chúa Thượng là Nguyễn Phúc Lan
Cùng Trịnh Tạc chẳng mở đàng đạo vô.

Chúa Hiền… “ác” với Gia Tô
Trịnh Căn đốt sách, sóng xô giáo đồ.
Trịnh Cương, Doanh lại khan khô
Giết, cấm giáo sĩ, hàm hồ thấy hơn!

Thành ra có sự oán hờn
Bên “Lương“, bên “Giáo” ghét hơn địch thù.
Nắm lấy “bảo thủ” mà đu
”Sùng, tín” phải diệt mới… hù ngoại bang.

Đôi bên chém giết hàng đàn
Oan hồn chồng chất hàng ngàn có vui?

Chương VIII:
VẬN TRUNG SUY CỦA CHÚA NGUYỄN

  1. Trương Phúc Loan chuyên quyền:

Đời Nguyễn Hoàng tính trở lui
Khi Vũ Vương mất cũng “xui” đủ bề:
Thế tử thì chết tỉnh bơ
Con trưởng cũng mất, phải chờ chúc thư.

Vũ Vương di chiếu lập từ
Trương Phúc Loan đổi, hầm hừ lấn sân.
Thay nhỏ để nắm cán cân
Chúa mười hai tuổi: Phúc Thuần – Định Vương.

Họ Trương đảo lộn cương thường
Nên nhiều người mới xéo đường, phá truông.
Miền Bắc, Trịnh lấy Phú Xuân
Tây Sơn cũng chiếm mất luôn Quy thành.

Anh em trở mặt phân tranh
Tương tàn cốt nhục, sông Gianh ngậm hờn.

  1. Tây Sơn dấy binh (1771-1778)

Phù Ly, huyện lỵ Quy Nhơn
Anh em Nguyễn Nhạc, tài hơn mọi người.
Họ Hồ là tổ bốn đời
Nay theo họ mẹ, kêu mời khởi binh.

Thương người khốn khổ mưu sinh
Nguyễn Nhạc hào phóng, hết mình bảo ban.
Giam thân nhốt củi thi gan
Đang đêm phá ngục, trừ quan, lấy thành.

Quảng Nam vây đánh tốc hành
Quảng Bình chiếm lấy mà thành lập dinh.

  1. Quân họ Trịnh vào lấy Phú Xuân (1775):

Khi nhà Nguyễn có loạn tình
Trịnh Sâm mượn tiếng đi bình Phúc Loan.
Bèn sai đại tướng quân Hoàng
Phùng Cơ, Đình Thể liên hoàn tấn công.

Hoàng Đình Bảo giả như không
Ra chiêu giở quẻ bòng bong rắn rồng.
Hờn xưa, đánh Nguyễn gây phong
Nhằm thời họ Nguyễn suy vong tới rồi.

Sau khi chúa Nguyễn rã rời
Đông Cung kế vị gặp thời gian truân.
Hoàng Ngũ Phúc đánh Phú Xuân
Quảng Nam, Đà Nẵng chiếm luôn lấy đà.

  1. Chúa Nguyễn chạy vào Gia Định:

Định vương ngự ở triều ca
Nghe tin thất trận báo qua, rụng rời!
 
Chúa tôi thuyền thủng ra khơi
Vào Nam để đợi chờ thời họa chăng!
Dùng thành Gia Định làm căn.
Đông Cung để lại mà ngăn địch thù.

Gia Định, Nhạc lấy êm ru
Non sông bốn cõi biên khu xóa nhòa.
Quân nhà Nguyễn đánh xuề xòa
Sau rồi chạy đến Biên Hòa, Long Xuyên.

Nguyễn Nhạc xưng Đế ở Quy Nhơn (1778):
Tây Sơn chiếm được vài miền
Quân Hoàng Ngũ Phúc đánh liền bại ngay.
Khi quân Phúc Hợp bao vây
Khôn ngoan, Nguyễn Nhạc giơ tay… trá hàng.

Trong tay ấn, kiếm Trịnh ban
Không lo mặt Bắc, Nhạc bàn kế gian.
Thọ Hương, con gái ngọc vàng
Nguyễn Nhạc đem gán cho chàng Đông Cung.

Tin lầm, Phúc Hợp vạ chung
Thua đau, phải chạy về vùng Vân Phong.
Bên Trịnh, Ngũ Phúc mạng vong
Lui về Thuận Hóa, Triệu Phong giữ mình.

Nguyễn Nhạc thấy rõ tình hình
Quân binh đã mạnh, xoay tình một chương.
Đông Cung, trúng kế nào lường
Lý Tài bắt lại, không đường trốn đi!

Công hầu “phước” chẳng ra gì
Còn thêm chữ “họa” chi chi giữa đầu!
Tân Chính, Thái Thượng còn đâu
Nguyễn Huệ vây chặn, chém đầu… thị uy!

Nguyễn Nhạc xưng Đế lập vì
Niên hiệu Thái Đức, ngại gì tiếng tăm!
Đồ Bàn tính chuyện trăm năm
Tây Sơn họ Nguyễn thăng, trầm tới đây!

Tiết chế“, phong Nguyễn Lữ ngay
Long Nhượng” đại tướng về tay Huệ liền.
Hai bên chiến sự triền miên
Vì chúa Nguyễn muốn tước quyền Tây Sơn.

  1. Nguyễn Vương khởi binh đánh Tây Sơn:

Tranh giành biết chúa nào chơn
Toàn gây những chuyện căm hờn nhiễu nhương.
Định Vương tức Thái Thượng Vương
Cùng vương Tân Chính tìm đường chạy xa.

Nguyễn Huệ bắt được, chẳng tha
Nguyễn triều dựng nghiệp bôn ba muôn phần.
Ánh, con Hưng Tổ Phúc Luân
Cũng là cháu Nguyễn Phúc Thuần, trốn ngay.

Chiêu binh đánh trả từ đây
Không lâu đã có trong tay Sài Gòn.
Anh hùng xuất thiếu niên” con
Vừa mười bảy tuổi tinh khôn lẫy lừng!

Đại nguyên súyđược tôn xưng
Vai “Nhiếp Chính quốccũng từng tới tay.
Chiếm Gia Định, nở mặt mày
Đong đo đâu đấy chờ ngày đánh nhau.

Tiêm La thống sứ từ lâu
Ăn tươi Chân Lạp, mưu sâu lấn đường.
Năm Canh Tý, Ánh xưng Vương
Thăng quan tưởng thưởng, đo lường tội, công.

Đỗ Thanh Nhân sớm thay lòng
Bên ngoài chức trọng, bên trong lộng quyền.
Vương sai người giết chết liền
Ba quân tướng sĩ khắp miền loạn lên.

Thêm vào hiếu sự hai bên
Tiêm La, Chân Lạp chẳng bền nghĩa danh.
Vua Tiêm La – Trịnh Quốc Anh
Bị Phan Văn Sản tranh giành chiếc ngôi.

Chất Tri chẳng chịu thiệt thòi
Giết luôn Văn Sản, triệt nòi… Quốc Anh.
Xưng vua, kể cũng… lừng danh
Phật Vương” lấy hiệu, mong thành… thánh nhân!

Vua Tây Sơn năm Nhâm Dần
Cùng Huệ lượt trận, thuyền gần mấy trăm.
Đường sông thẳng tiến đăm đăm
Trời xanh cuộn gió hờn căm chất chồng.

Cần Giờ, Huệ đánh tiên phong
Nguyễn Vương chạy xuống Ba Giồng, rút đi.
Gia Định lấy lại khó gì
Nguyễn Nhạc không ở, về Quy Nhơn thành.

Tây Sơn – chúa Nguyễn phân tranh
Quân Châu Văn Tiếp chiếm thành Sài Côn.
Nguyễn Vương thoát nạn, hoàn hồn
Nhờ người tướng giỏi bảo tồn đại danh.

Vương từ Phú Quốc về thành
Tây Sơn thắng lớn, Ánh đành chạy ra.
Khác nào: “Kiến leo cành đa
Leo phải cành cụt, leo ra, rớt vào”!

  1. Nguyễn Vương định cầu viện

nước Pháp – Lan Tây:
Nguyễn Vương chẳng chút núng nao
Dù ăn củ chuối, cháo rau mỗi ngày!

Bá Đa – giám mục mới bày:
“Cầu viện nước Pháp lúc này, giải vây”.
Nguyễn Vương viết quốc thư ngay
Mang hoàng tử Cảnh trao thầy, đợi tin.

Tiêm La, Ánh cũng “cầu xin”
Thua đau, phải viện quân binh mấy lần.
Vua Tiêm La không phân vân
Mượn đường xâm lấn nào cần giả, chân?!

Lời rằng tốt, xấu không phân
Con đường viện ngoại thì chân thiện gì!
Khi Châu Văn Tiếp chết đi
Quân Tiêm phá nước thua gì cướp binh!

  1. Nguyễn Huệ phá quân Tiêm La:

Dân tình oán nẩy, hờn sinh
Tây Sơn Nguyễn Huệ mang binh đón dò.
Rạch Gầm, Xoài Mút, Mỹ Tho
Dàn quân, bố trận không cho giặc về.

Đuổi Xiêm, phá Nguyễn hai bờ
Nguyễn Huệ dệt lấy trang thơ anh hùng!
Vì rằng Nguyễn Ánh đường cùng
Đi cầu cứu viện qua vùng Pháp xa.

Cõng rắn để cắn gà nhà”
Xem ra, chẳng phải chỉ là Nguyễn Vương!
Tầm thư trích cú từ chương
Huynh sao đệ vậy chung trường ấy ra!

Chương IX
HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA

2

Chương IX
HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA
(1510-1786)

  1. Chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ:

Trịnh Sâm bỏ trưởng, dâm tà
Mê say Thị Huệ nên sa thế cùng.  …
Cho mình một đấng anh hùng
Ngôi vua muốn cướp, nên dùng kế gian.

Bèn sai Vũ Thiệu Thị lang
Sang Thanh kiếm một hai đàng tấn phong.
Vũ Thiệu mắc cở tâm trong
Uống ngay thuốc độc, tỏ lòng cản ngăn.

Trong triều, đảng phái tung tăng
Hai phe Khải, Cán hung hăng mọi đường.
Cán con chẳng mấy người thương
Thường hay bệnh hoạn, cầm cương khó làm!

Sâm cha sắp chết, chưa cam
Di thư lập Cán lên làm Chúa thôi.
Con đầu, Trịnh Khải giành ngôi
Trừ quan Phụ Chính và rồi tiếm vương.

  1. Kiêu binh:

Quan quân biến loạn triều cương
Quân Tam phủ lại coi thường thế gian.
Kiêu binh phá xóm ngang tàng
Cho công họ lớn, tìm đàng lấn tranh.

Quân Tam phủ – lính Nghệ Thanh
Thời Trịnh Tạc mạnh mà thành nổi danh.
Giết quan Tham tụng Quốc Anh
Tham tụng Quý Cảnh suýt thành bóng ma.

Đốt nhà Công Trứ chẳng tha
Dương Khuông không nhả, Nguyễn La chẳng từ.
Canh coi phủ Chúa, làm nư
Bùi Huy Bích dỗ, từ từ bớt kiêu.

Nhà Trịnh đã đến thời xiêu
Tây Sơn diệt Trịnh, tàn tiêu cuộc cờ!

  1. Tây Sơn lấy Thuận Hóa:

*Nguyễn Hữu Chỉnh:
Kiêu binh giết Bảo mà ghê
Chỉnh xin Nguyễn Nhạc theo về, Nhạc cho.

Cống Chỉnh đảm lược, giỏi Nho
Hoàng Ngũ Phúc trước đã cho nhập cùng.
Sau Hoàng Đình Bảo tin dùng
Đi theo lập nghiệp anh hùng với nhau.

Hữu Chỉnh biết Nhạc từ lâu
Nay về với Nhạc mưu cầu rạng danh.
Tây Sơn – Chúa Trịnh chẳng lành
Hữu Chỉnh bàn kế lấy nhanh Bắc Hà.

Binh ra Thuận Hóa làm đà
Ngô Cầu trấn thủ, quan nhà hám sinh.
Tờ thư dụ gởi Hoàng Đình
Trao qua tướng Phạm, vô tình… cách ly.

Hoàng Đình Bảo chẳng hay chi
Quan không hợp chí, làm gì chẳng thua?
Công lao Hữu Chỉnh thêu thùa
Thương cho tướng Trịnh gan thừa tử sanh.

Đình Bảo tử chiến thơm danh
Ngô Cầu ghét Bảo lòng đành thản nhiên.
Đa nghi, nóng nảy, tham tiền
Lầm  mưu Hữu Chỉnh, hàng liền Tây Sơn.

  1. Tây Sơn dứt họ Trịnh:

Kiêu binh Bắc phủ đang lờn
Trong cơn hoạn nạn, uy sờn rã ben.
Tây Sơn đánh tới bao phen
Bùi Thế Dận, Tự Quyền hèn, chạy đi.

Bùi Thế Toại, Tạ Danh Thùy
Mất toi Thanh – Nghệ còn gì để mơ?
Bùi Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ
Bỏ Sơn Nam bởi thua cơ chẳng ngờ!

Khen cho Chúa Trịnh cầm cờ
Lên voi, thất trận, lui về Sơn Tây.
Đi đâu thoát họa đang vây
Duyên may có hạn, cùng ngày vạ mang!

Gian xảo kế, có Nguyễn Trang
Chúa lầm kẻ phản giở màn bất lương!
Can trường Khải đáng làm gương
Cùng đường tự sát hơn vươn tay còng!

Hai trăm mười sáu năm ròng
Chèn Lê, Chúa Trịnh gãy dòng, đứt dây.

Chương X
NHÀ HẬU LÊ MẤT NGÔI VUA

  1. Tây Sơn rút quân về Nam:

Nhà Trịnh số đã an bày
Hậu Lê cũng phải đến ngày diệt vong!

Tây Sơn dứt Trịnh vừa xong
Nguyễn Huệ cái chức Quốc Công tới phần.
Vua mang công chúa Ngọc Hân
Cành vàng lá ngọc nương thân tướng hiền.

Nguyễn Nhạc ở Bắc ngại phiền
Xong xuôi, vội vã lệnh truyền trở lui.
Mắt tham thấy bạc nào đui
Đang đêm tháo chạy rinh chui… bạc vàng.

Hữu Chỉnh bị bỏ, vội vàng
Bán sống, bán chết tìm đàng nhảy theo.
Xiu lòng, Nhạc chẳng làm eo
Cho theo Nguyễn Duệ, xuôi chèo Nghệ An.

Nhà Trịnh đã hết làm ngang
Là cơ hội tốt vua, quan nắm quyền.
Hiển Tông tới tuổi quy tiên
Hoàng tôn Chiêu Thống đến phiên bất tài.

Đình thần lắm kẻ hàng hai
Tây Sơn tiến tới, quăng hài thẳng dông.
Hai tên Trịnh Lệ, Trịnh Bồng
Giành tranh ghế Chúa, đèo bòng chữ Vương.

Chiêu Thống lập Án Đô Vương
Được “Vương”, muốn “Thượng”, tìm đường lấn vua.
Lê Chiêu Thống phải chào thua
Cho vời Hữu Chỉnh giúp vua, dẹp Bồng.

  1. Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền ở đất Bắc:

Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp Trịnh xong
Vua phong chức Bằng Trung Công Tư đồ.
Cậy công, Chỉnh lại hàm hồ
Làm điều hống hách, ra vô lạn lờ.

Tây Sơn máu đổ dầm dề
Anh em Nhạc – Huệ xoay cờ, đánh nhau.

  1. Tây Sơn lấy Bắc Hà:

Anh em nhồi thịt da đau”
Anh than, Huệ mới nhìn nhau hết phiền.
Hay tin Hữu Chỉnh chuyên quyền
Nguyễn Huệ sai Nhậm giết liền chẳng tha.

Vua thấy Chỉnh sắp ra ma
Bỏ Kinh đô chạy thẳng đà Mục Sơn.
Nguyễn Văn Hòa, tướng Tây Sơn
Bắt Chỉnh nhốt củi, rửa hờn Thăng Long!

Vũ Văn Nhậm giết Chỉnh xong
Tôn Lê Duy Cẩn, tức Sùng Nhượng Công.
Lên làm giám quốc” hư không
Bắc Hà chắp nối nửa Công, nửa Gà!
Ngày ngày, chầu chực người ta
Có tiếng, không miếng, quân gia chẳng nhìn.

Nguyễn Huệ khi nhận được tin
Vũ Văn Nhậm phản, tức mình, kéo binh.
Ban đêm tiến thẳng vào kinh
Đem người cháu rể gia hình, thị oai.

Nguyễn Huệ thấy việc xong rồi
Cho Ngô Văn Sở trông coi Bắc Hà.
Quan Lê lắm kẻ chạy xa
Người thì nhậm chức, kẻ… ma giữa đồng!

Lê Chiêu Thống có như không
Triều cương đổ nát, đi tong bệ rồng.
Ba trăm sáu chục năm ròng
Giàn xiêu, bí đổ, Lê không có gì!

Chương XI
NHÀ NGUYỄN TÂY SƠN (1788-1792)

  1. Nhà Nguyễn Tây Sơn dấy nghiệp:

Triều quân chủ, sử còn ghi:
An dân chí lý, đương nghi chính triều.

Nguỵ triều: tiếm vị, lòng điêu
Tham lam, bạc nhược làm điều ác gian.
Muôn dân bách họ lầm than
Khom lưng uốn gối nào màng kỹ cương.

Hưng vong, lấy lẽ đo lường
Tây Sơn thịnh bại, đường đường Đế Vương.
Nguỵ triều cầu viện Bắc phương
Gia Long chính sử trăm đường thị phi.

  1. Vua Quang Trung 光 忠 (1788-1792):

Vua tài, lịch sử còn ghi:
Anh minh, quân tử chẳng bì tiểu nhân.
Nguyễn Huệ sức khỏe tuyệt trần
Cơ mưu diệu biến, tiên thần chẳng hơn!

Cùng anh dựng nghiệp Tây Sơn
Phú Xuân đóng phủ, tay trơn đất Chàm.
Nhà Thanh dòm ngó phương Nam
Quần thần tấn lập lên làm Quang Trung.

  1. Tôn Sĩ Nghị đem quân sang An Nam:

Vua Lê thế bí đường cùng
Thái hậu hết cách bèn dùng sách quen:
Mang hoàng tử chạy bao phen
Tâm không hổ thẹn, bon chen đến Tàu.

Càn Long nghe Sĩ Nghị tâu:
Giúp người trước cũng về sau giúp mình”!
Vua Thanh chuẩn tấu, ra binh
Mang quân bốn tỉnh mà bình Tây Sơn.

Thế giặc mạnh, Văn Sở chờn
Tam Điệp lui trớn, còn hơn đối đầu.
Phú Xuân, cấp báo mấy câu
Nguyễn Huệ nhắc nhở: Mưu sâu kíp dùng!

Bắc Ninh, Nghị đến ung dung
Vua quan Chiêu Thống…kính cung lạy chào.
Đêm ngày chầu chực ra vào
Thân vua một nước! Ôi chao thẹn thùng!

Tuồng như lũ Mạc Đăng Dung
Vua hèn, lột áo, thân giun… nạp mình!
Tên Tôn Sĩ Nghị coi khinh
Nghinh ngang lính gác đưa trình ý quan.

Tàu ngày, cướp phá dân làng
Vua lo giết hại người hàng Tây Sơn.
Dân tình khiếp hãi nào hơn
Non sông khốn đốn căm hờn chẳng vơi.

  1. Vua Quang Trung đại phá quân nhà Thanh:

Đánh giặc nào chuyện đùa chơi
Bắc Bình Vương được quân mời bệ cao.
Đăng đàn, tế lễ, thay bào
Điều binh lập tức đi vào Nghệ An.

Quang Trung phủ dụ chiêu an
Cho ăn Tết trước, rồi bàn xuất chinh.
Quân ta mười vạn tân binh
Giặc hai mươi vạn, ỷ mình thiện binh.

Quang Trung mưu tựa Khổng Minh
Thần cơ diệu đoán tình hình chẳng sai!
Ngài như Hưng Đạo thứ hai
Điều binh thần tốc, thiên tài giở ra.

Cuối năm tiến thẳng Bắc Hà
Qua sông Giản Thủy vào nhà họ Lê.
Lê Chiêu Thống khiếp, không ngờ
Quang Trung phá giặc, san bờ Phú Xuyên.

Ngọc Hồi tuyến địch đầu điên
Vì cô lập chẳng ”khua chiên” gọi là…
Quang Trung rạng sáng Mồng Ba
Tháng giêng – Kỷ Dậu, đánh ra Hà Hồi.

Loa kêu, quân địch rối bời
Mất hồn, khiếp vía, rụng rời, bó tay!
Mồng Năm, rạng sáng cùng ngày
Tây Sơn tiến đến bao vây Ngọc Hồi.

Đạn Tàu xối xả không thôi
Quang Trung trí lược hạ hồi, lập mưu:
Cỏ rơm quấn lửa, đốt thù
Ba mảnh ván ghép thủ mười lính khiên.
Mỗi người có một dao riêng
Hai mươi lính nữa ráp liền phía sau.
Xáp lá cà đánh với nhau
Giặc chịu không thấu, quay đầu chạy nhanh!

Quan Thanh: Đề đốc Thế Hanh
Tiên phong, tả, dực: Long, Thăng bỏ mình.
Bị vây, Nghi Đống thất kinh
Thắt cổ tự vẩn, chôn mình Đống Đa.

Nửa đêm, tin xấu báo ra
Tôn Sĩ Nghị hoảng liệu mà chạy xa.
Lên ngựa, yên chẳng kịp tra
Quăng cha áo giáp, tranh qua chiếc cầu!

“Quân trung vô thủ”, trước sau
Tranh cầu, cầu gãy, xô nhàu chết sông!
Hồn ai oán lạnh giữa dòng
Chồng, con, mẹ, vợ khóc ròng giá đông!

Quang Trung vừa tới Thăng Long
Chiêu an, phủ dụ bền lòng nghĩa nhân.
Cho lương, thuyền đến hàng quân
Coi như một cách gia ân, mở lòng.

Vì tờ mật chiếu Càn Long
Gởi Tôn Sĩ Nghị tỏ lòng xâm lăng.
Quang Trung bảo Thời Nhiệm rằng:
“Dùng lời khéo cản, ngăn màn chiến tranh”.

  1. Vua Quang Trung cầu phong:

Càn Long chiến sự không thành
Trong mình rực lửa… tam bành, định sang.
Hoàng đệ vua, Phúc An Khang
Tổng đốc Lưỡng Quảng vội vàng trấn an.

An Khang có tính mê vàng
An Nam đút lót vàng ngàn, dễ không.
Quang Trung tấu biểu cầu phong
Yên Kinh được cống, vàng đong thế tình.

Hòa Thân được của, tâu trình
Vua nghe Khang nói chí tình, bãi binh.
Mật ngọt, ruồi chẳng coi khinh
Phong vương Nguyễn Huệ, mà sinh cảm tình.

Quang Trung chọn kẻ giống mình
Là Phạm Công Trị, rập rình tiễn đi.
Văn Chân, Văn Sở… phò trì
Huy Tấn, Huy Ích lễ nghì: Cống Voi!

Càn Long tiếp đón hẳn hoi
Làm lễ ôm gốimà coi một nhà.
Vời đến chầu ở Nhiệt Hà
“Truyền thần vẽ ảnh” thiệt là hậu ân!

  1. Vua Chiêu Thống nhà Lê bị nhục

ở bên Tàu:
Bên Tàu, Thống chẳng yên thân
May sao có được vài chân kẻ hầu!
Khang lừa đổi áo, gọt đầu”
Chờ khi phục quốc, mưu cầu Đế, Vương?!

An Khang gạt Thống cùng phương
Khi Càn Long hỏi, tấu chương mà rằng:
Duy Kỳ chẳng muốn nhọc nhằn
Đổi tóc, áo ở muôn trăng với Tàu”.
 
Càn Long chấp thuận lời tâu
Truyền cho Chiêu Thống vào chầu Yên Kinh.
Lê Quýnh trung hậu, tức mình:
Đầu, da chặt, lột mặc tình coi không.
Nhưng tóc và áo đừng hòng
Đừng mong ta bỏ tục dòng nước Nam!”
 
Vua khen trung liệt, vẫn giam
Quýnh vì quốc thể không cam cá thừa.
Còn bè bán nước, dây dưa
Ham vinh, sống nhục, mưu lừa bán vua.

Văn Quyên họ Nguyễn không vừa
Trung can, mắng kẻ gian lừa “Chó Ngao!
Sao mày dám nhục vua tao!”
Đòn roi một trận mưa rào, khổ thân!

Trung quân báo trọn hoàng ân
Mà vua mãi quốc thì ân nghĩa gì!

Tình cảnh Chiêu Thống lâm ly
Tay trơn, chí nhụt còn gì viện xin!
Thêm hoàng tử mất thình lình
Vong vua rầu rĩ, ly hình xứ xa!

“Rước voi về giày mả cha”
Đâu là đại phước, đâu là họa thân?
Lê Chiêu Thống nhục muôn phần
Xa xôi vạn dặm hư thân đã đành!

Nương mình nấp bóng nhà Thanh
Suy ra, trách kẻ gian manh đoạn tình.
Lừa trên, dối dưới coi khinh
Vong vua đãi bạc, hư vinh nhục mình.

Thiên cha cũng thiệt… thiên tinh
Con Thiên tử lại muôn hình đắng cay!

  1. Đức độ Vua Quang Trung:

Quang Trung đức độ cao dày
Am tường trị nước, dùng bầy tướng hay.

Nguyễn Thiếp dạ thẳng lòng ngay
Không theo, vua lấy nghĩa Thầy, kính thay.
La Sơn Phu Tử xưa nay
Không ham phú quý, lòng đầy nước non.

  1. Chính trị của vua Quang Trung:

Phu thê, dạ cũng vuông tròn
Bắc Cung Hoàng hậu phần còn Ngọc Hân.
Với vua Lê, trọng muôn phần
Lòng không lướt lấn, đỡ đần khó khăn.

Bắc thành tên gọi thành Thăng
Nghệ An đất tổ: “Phượng Hoàng trung đô”.
Sơn Nam nhị trấn địa đồ
Hai quan Trấn, Hiệp tha hồ giữ coi.

Phân tri, văn Huyện rập ròi
Coi về kiện cáo, lần hồi xử phân.
Phân suất, quan võ có phần
Binh lương giữ việc chuyên cần kiểm tra.
 

  1. Quan chế:

Quan chế, sử có ghi qua:
Quan cao Tam thiếu hay là Tam công.
Tư cối, lệ, khấu, Tư không
Tư Đồ, Tư mã thuộc dòng “Đại tư”.
 
Hàn Lâm, Lục bộ thượng thư
Thị trung ngự sử, Trung thư  sảnh đường.
Đại học sĩ nắm quan trường
Tiền, Trung, Tả, Hữu, về đường tướng binh.
 

  1. Việc Đinh điền:

Đinh (người) ba hạng phân minh:
Cập nách, tráng hạn (trung bình), lão nhiêu.
Điền (ruộng) tam cấp chia đều:
Tam, Nhị, Nhất đẵng mà kêu rõ ràng.

  1. Học hành:

Thi Nôm, học giỏi làm quan
Văn hay chữ tốt thênh thang tướng hầu.
Văn chương chẳng mượn chữ Tàu
Tiếng mình, mình học làm giàu chữ Nôm.

  1. Việc làm chùa chiền:

Sư nhiều, lắm sãi mòn trôn
Kinh thông dốt nát, thì không trụ trì.
Quang Trung lệnh dọn chùa đi
Cho gom gỗ lại gia vì thế nghiêm.
Tu hành phải có căn nguyên
Sư tâm đắc đạo, nhà Thiền đặng thơm.

  1. Việc định đánh Tàu:

Nước Nam, Tàu cứ ngắm dòm
An Nam chỉ dám… lôm lôm Chiêm Thành.
Chân Lạp hoặc đánh Tiêm La
Tàu kia nước lớn sao mà… ngó xa!

Quang Trung thiệt khác người ta
Cầu phong kế hoạch chẳng qua dưỡng mình.
Luyện quân chờ lúc nhuệ tinh
Đánh Tàu bắt trả lại mình mấy châu.

Cầu hôn tính nước về sau
Âu là kế sách đương đầu với Thanh.
Than ôi! Chí lớn không thành
Tiêu hao sức lực, tan tành ước ao.

  1. Vua Quang Trung mất:

Vua hiền tài, chẳng thọ cao
Nghiệp chung đại cáo đi vào vạn năm!
Ngôi vua chỉ được bốn năm
Thọ bốn mươi tuổi, bệnh ngầm giá băng!?

Rạch Gầm, Xoài Mút hay chăng
Sĩ Nghị buông kiếm, Xiêm – Thanh bạt hồn!
Người đi bóng ngã hoàng hôn
Hồn thiêng trợ hộ trường tồn nước Nam.

  1. Vua Cảnh Thịnh 景 盛 (1782-1802):

Chí cha, Quang Toản khó làm
Vua con mười tuổi đành cam ngậm ngùi.
Quyền hành ở cậu họ Bùi
Anh ruột thái hậu một hùi với nhau.

Không đem xã tắc làm đầu
Mà lo cấu xé mưu cầu lợi riêng.
Trên phân đảng, dưới phân quyền
Tây Sơn trên biển như thuyền gãy thân.

Chương XII
NGUYỄN VƯƠNG THỐNG NHẤT NƯỚC NAM

  1. Nguyễn Vương Ánh ở Tiêm La:

Nói về Nguyễn Ánh nhanh chân
Trước khi  Nguyễn Huệ thắng quân Xiêm về.
Nguyễn Ánh đành phải ở nhờ
Qua Xiêm lánh nạn mà chờ phát uy.

Lưu vong so Thống khác gì
Về tài trí, Thống sao bì Nguyễn Vương.
Vua Xiêm trọng Ánh khác thường
Vua Thanh rẻ Thống giống phường rợ nô!

Kiếp Vương sung sướng chỗ mô
Mà bao người cũng nhào vô, thiệt là…

  1. Nguyễn Vương Ánh về lấy Gia Định:

Khi Ánh khổ ở Xiêm La
Nguyễn Huệ lúc ấy đã ra Bắc Hà.
Giúp Lê qua những phong ba
Không giành thế lực, chẳng sa lấn đường.

Được phong là Bắc Bình Vương
Phế ngay Trịnh Khải tỏ tường phép khuôn.
Nguyễn Nhạc xưng Đế – Phú Xuân
Gia Định giao Lữ canh chừng, chẳng lơ.

Rồi khi Nhạc – Huệ trở cờ
Quân Gia Định phải điều về Quy Nhơn.
Tây Sơn thế đã kém hơn
Là cơ hội tốt rửa cơn oán hờn.

Nguyễn Ánh chí lớn không sờn
Nửa đêm từ tạ, thuyền quờn chốn xa.
Những điều cần kíp làm qua
Thu “Thiên địa hội” đám Hà Hỉ Văn.

Bấy giờ hào kiệt, nhân văn
Tây Sơn mấy tướng khăng khăng nhập hàng.
Đông Định Vương – Lữ, không màng
Lui về Lạng Phụ, bỏ ngang Sài Gòn.

Văn Tham, Thái phó tài non
Mắc mưu, theo Ánh, tướng còn mấy ai?
Nguyễn Lữ đại tướng bất tài
Bỏ chạy, nhận lấy lá bài tử vong.

Phạm Văn Tham đã phản công
Nguyễn Vương lại thẳng Gò Công chạy về.
May nhờ Võ Tính cao cơ
Đem binh giúp Ánh, qua đê vượt cầu.

Võ Tính đáng bậc mày râu
Vì anh chống Nguyễn rơi đầu, ruột đau!
Võ Tính về giữ vườn Trầu
Gia Định bậc nhất” dạ sầu thế chung.

Nguyễn Vương hết sức tin dùng
Đem công chúa gả mà cùng tiến binh.
Quan Tiền phong chưởng cơ Dinh
Chiếm Gia Định mở lộ trình đánh ra.

Tây Sơn, Thái Bảo ra ma
Phạm Văn Tham trước cũng sa kế lường.
Thân tướng tử chiến sa trường
Phạm không binh viện, cùng phương phải hàng.

  1. Nguyễn Vương sửa sang mọi việc ở Gia Định:

Nguyễn Ánh lo việc sửa sang
Cấm trò phù thủy, ngăn can bạc bài.
Canh nông, thuế khóa lâu dài
Quan tâm võ bị hòng… bài Tây Sơn.

  1. Việc khai khẩn điền thổ:

Nguyễn – Nam, Trịnh – Bắc căm hờn
Đầu rơi máu đổ, xám nhờn cỏ cây.
Công lao Nguyễn Ánh là đây:
Làm Gia Định héo giờ này phục sinh.
Phủ binh cho đến cùng đinh
Khai hoang, lĩnh ruộng, làng đình đổi da.

  1. Việc buôn bán:

Thông thương các nước gần xa
Cần lưu huỳnh, lấy thóc mà đổi trao.

  1. Ông Bá Đa Lộc và hoàng tử Cảnh ở Pháp về:

Ánh đem hoàng tử ngoại giao
Cho Bá Đa Lộc mà nào thấy tin?
Louis mười sáu nghĩ tình
Ký tờ giao ước, lược trình mấy câu:

”Pháp giúp Vương bốn chiếc tàu
Ba đạo: Lục, Hắc dẫn đầu pháo binh.
Nguyễn Vương cũng phải nhượng mình
Pháp quản cửa Hội, định bình Côn Lôn.
 
Pháp tự do bán với buôn.
Người Âu không được qua truông vượt rào.
Khi Pháp có loạn chiến nào
Lương thực Ánh phải thầu bao lính, tàu.
 
Nếu khôi phục nước về sau
Mỗi năm làm một chiếc tàu trả ngay”.
Giao ưóc hay nhục ước đây
Lợi mình chưa một, lợi Tây đã mười!

May sao “nhục ước” buồn cười
Tình hình bất lợi, nằm… lười Paris.
Bá Đa Lộc thấy cũng kỳ
Mộ người, mua súng giúp vì chỗ thân.

  1. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn

 lần thứ nhất (1790):
Nguyễn Ánh sai Chưởng tiền quân
Quan cũ ngày trước, công thần: Văn Câu.
Tiên phong: Võ Tính, Thành, Châu
Cùng vây Bình Thuận, phủ đầu Phan Rang.

Văn Câu binh bại tiêu tan
Gia Định nghị tội: Bãi hàng chức quan.
Con đường phú quý thênh thang…
Bất đắc kỳ tử” cũng đang đợi mình!

Nguyễn Vương lại tự thân chinh
Chiếm phủ Diên Khánh rồi bình Bình Khang.
Chiến thuyền vào bể Nha Trang
Thắng xong thẳng tới địa bàn Phú Yên.

Nguyễn Vương giục thủy binh liền
Tiền binh đánh với binh tiền Tây Sơn.
Quân Thái tử Bảo yếu hơn
Bỏ Thị Nại, hướng Quy Nhơn trốn về.

Tây Sơn – Nguyễn Nhạc não nề
Sống còn là cách cầu nhờ Phú Xuân.
Cảnh Thịnh sai Huấn, Công Hưng
Tư đồ Văn Sở với cùng Lê Trung.

Văn Châu, thống lĩnh đi cùng
Hai đường thủy, bộ trùng trùng giải vây.
Nguyễn Vương vội vã rút ngay
Chạy về Gia Định chờ ngày phản công.

  1. Thế lực Tây Sơn;

Phạm Công Hưng giải vây xong
Tịch thu của cải, niêm phong bảo tàng.
Nguyễn Nhạc tức kẻ làm ngang
Thổ huyết bỏ mạng, oán than ngậm lời.

Tây Sơn Nguyễn Nhạc về trời
Mười sáu năm đế, cuối đời chát chua!
Hai vua còn lại một vua
Sắp thêm vua nữa ăn, thua chán chường!

Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Vương
Vua nào giữ được giang sơn vững bền?

Tây Sơn thế lại mạnh lên
Vây thành Diên Khánh bấp bênh mấy lần.
Phú Xuân loạn bởi đại thần
Giết nhau mới tạo muôn phần nghịch thiên.

Bùi Đắc Tuyên lại chuyên quyền
Lừa Ngô Văn Sở vào xiềng với gông.
Bọn Nguyễn Văn Dũng đánh đồng
Nghe Văn Kỷ giết người trong thế cùng.

Dìm sông chết kẻ anh hùng
Tây Sơn đã đến đường cùng cáo chung.
Quang Diệu nghe báo hãi hùng
Không quyền, vua trẻ khóc cùng, thế thôi!

Lui binh, Quang Diệu về rồi
Hai bên Dũng – Diệu đến hồi cự nhau.
Thất kinh, vua gọi vào chầu
Vỗ về, họ mới quay đầu bắt tay.

”Tứ trụ” chẳng được bao ngày
Trần Quang Diệu bị thâu ngay tước quyền.
Vua nhỏ dại, chẳng người khuyên
Võ quan kiếm chuyện đảo điên tứ bề.

  1. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn

lần thứ hai (1797):
Nguyễn Ánh cơ hội đã chờ
Dẫn Đông cung Cảnh đánh về Quy Nhơn.

Tây Sơn con cá thờn bơn
Nhưng cò chưa thể nuốt trơn được liền.
Văn Thành, Tánh đánh Phú Yên
Tây Sơn phòng kỹ, đương nhiên thủ huề.

Nguyễn Vương thấy khó lui về
Bèn chuyển hướng đánh bất ngờ Quảng Nam.
Đánh hoài, Vương liệu chẳng kham
Rút về Gia Định, rồng cam ở chuồng.

  1. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn

lần thứ ba (1798):
Thư về cấp báo Phú Xuân
Là tin Nguyễn Bảo luông chuông, trốn tìm.
Nghe anh theo Ánh, vô tim
Cảnh Thịnh bắt Bảo mà dìm xuống sông.

Lê Trung, Trấn thủ không xong
Âm mưu tạo phản, thông đồng, chém đi.
Văn Huấn, Thiếu phó uy nghi
Vạ mang đố kỵ mà đi đứt đời.

Giết nhau quả thiệt tơi bời
Tướng Tây Sơn nản, rụng rời bỏ vua.
Nguyễn Vương như gió được mùa:
“Đại đô đốc chúng đã hùa với ta!”.
 
Vương thương lượng đến Tiêm La
Theo đường Vạn Tượng đánh ra Bắc Hà.
Một nhà, một nước, một cha
Gà làm bạn cáo, cáo tha mất liền!

Quy Nhơn, Ánh lấy về nguyên
Rút về Gia Định, giao quyền Tính, Châu.
Bá Đa Lộc lại bệnh đau
Mất rồi, Vương tặng công đầu: Quận công.

  1. 11. Quân Tây Sơn vây thành Bình Định:

Tây Sơn xáo xộn bên trong
Mượn tay Văn Dũng tấn công tướng Trần.
Quang Diệu về bắt loạn thần
Vua Cảnh Thịnh phải phân trần, biện minh.

Canh Thân, Quang Diệu ra binh
Cùng quân Văn Dũng vào bình Quy Nhơn.
Tùng Châu, Võ Tính không sờn
Giữ thành lương thực hết trơn cũng đành.

Tháng giêng Tân Dậu, tương tranh
Vương sai Tống Phúc Lương nhanh mở đường.
Di Nguy, Văn Duyệt tinh tường
Mang thủy quân chận, cắt đường Tây Sơn.

Được Thị Nại, lại tay trơn
Đông cung Cảnh ốm, căm hờn với ai?
Nguyễn Hi, hoàng tử thứ hai
Tháng sau cũng mất, Vương ai oán lòng!

  1. Nguyễn Vương thu phục Phú Xuân:

Tây Sơn vây mấy tháng ròng
Giải vây chẳng được, sai vòng cửa sau.
Vương kêu Võ Tính, Tùng Châu:
“Bỏ thành trốn chạy giữ đầu lấy công”

Võ Tính ngay thẳng một lòng:
”Phú Xuân nên lấy để hòng tiến binh”.
Nghe lời Tính, Ánh ra binh
Tây Sơn Cảnh Thịnh hoảng kinh, rụng rời!

Hai bên loạn chiến tơi bời
Đạo đồ Thiên Chúa  nhập… đời chiến chinh.
Vua hèn, quan chỉ lo mình
Nên dân tình giữ phận mình tép tôm.

Lạy trời cho có gió Nồm
Cho quân nhà Nguyễn giông buồm thẳng ra”.
Tây Sơn số kiếp không nhà
Nguyễn Huệ mất sớm, sơn hà tả tơi.

Phú Xuân như đánh giỡn chơi
Quân phò mã Trị rã rời, bại ngay.
Vua Cảnh Thịnh chống nửa ngày
Tan bầy, rã bọn ai thầy, tớ đây?
Tìm đàng “xa chạy, cao bay”
Ngày đêm vội vã ra ngay Bắc Hà.

Quang Thùy, em chẳng rời xa
Thị Xuân hộ giá vua mà rước đi.
Họ Bùi hào kiệt nữ nhi
Vợ Trần Quang Diệu, sử ghi: Anh hùng.

Tôi trung chẳng gặp thời chung
Cây xanh thiếu nắng thun chùn, héo hon!
Vợ chồng lòng dạ sắc son
Tôi trung thờ chúa vuông tròn có nhau.

  1. Võ Tính tử tiết:

Quy Nhơn: Võ Tính, Tùng Châu
Bị Trần Quang Diệu vây sâu giữa thành.
Viện binh bị đánh tan tành
Cùng phương, Võ Tính mới đành tự thiêu:

“Như ta chủ tướng thì liều
Còn như quân sĩ làm điều tội chi?
Người nên mở lượng từ bi…”
Lầu cao Bát Giác truyền ghi một lời!

Tùng Châu nghĩa đảm đầy vơi
Dùng ngay thuốc độc, muôn đời thủy chung!
Toàn là những bậc anh hùng
Thời nào, tướng nấy kiên trung phải cần.

Vào thành, Quang Diệu an dân
Chôn thây Châu, Tính tỏ phần nể yêu.
Y lời, quân tử nào điêu
Đem tâm đức độ làm điều trị gia.

  1. Trận Trấn Ninh:

Phú Xuân thất thủ, tin qua
Cảnh Thịnh vội chạy kíp ra Bắc Hà.
Viện binh các trấn kéo ra
Quân non ba vạn có đà vượt sông.

Tướng Nguyễn thấy chống không xong
Trần Thường, Tống Phúc Lương đồng rút binh.
Nguyễn Vương phải tự thân chinh
Thủy, Bộ hai hướng Trấn Ninh thủ vì.

Tháng giêng Nhâm Tuất, Quang Thùy
Cùng Thị Xuân lại kiên trì phá ra.
Nguyễn Văn Kiên dạ xấu xa
Thua trận Nhật Lệ phải ra chịu hàng.

Nguyễn Văn Thận giữ Nghệ An
Vua Tây Sơn dẫn binh tàn chạy đi.
Quang Diệu, Văn Dũng so bì
Trấn Ninh bị phá, thủ gì Quy Nhơn?
 
Bỏ thành mà chạy hay hơn
Nghệ An thẳng tiến qua cơn hoạn này.
Vua tôi gặp gỡ tại đây
Lo mà chống Nguyễn với xây dựng nhà.

  1. Nguyễn Vương lên ngôi tôn (1802)

Gia Long nguyên niên 嘉 隆 元 年
Phú Xuân chiếm giữ làm đà
Tháng năm Nhâm Tuất xưng là Gia Long.
Lập đàn tế cáo vừa xong
Đồng thời lệnh tiến thẳng dong Bắc Hà.

  1. Quân Nam ra lấy Bắc Hà:

Văn Trương, đường thủy đánh ra
Bộ binh: Duyệt, Chất chia mà đánh sang.
Quân bộ vượt sông Linh Giang
Tiến vào Hội Thống sang bằng lũy dinh.

Khiến quan Trấn thủ hoảng kinh
Bỏ Nghệ An chạy, náo mình Diễn Châu.
Quân Nguyễn triều kéo đến đâu
Tây Sơn chẳng đánh còn mau chịu hàng.

Cảnh Thịnh thấy quân vỡ tan
Cùng em tẩu tán mà sang Nhị Hà.
Dân gian ở đấy tìm ra
Đem vua bỏ củi coi là lập công.

Quang Thùy, Đốc Tú đau lòng
Hiên ngang tự tử, vợ chồng chết chung.
Thị Xuân, Quang Diệu anh hùng
Cùng Vũ Văn Dũng nhận khung giảo hình.

Tiểu nhân, quân tử khó bình
Bên ta cứu chúa, bên mình phản dân.
Trung thần, phản trắc bất phân
Luận công, định tội chờ phần kiếp sau.

Tây Sơn dựng nghiệp không lâu
Tàu không kẻ lái lao đầu hố sâu.

Quyển V
CẬN KIM THỜI ĐẠI
NHÀ NGUYỄN 阮 氏 (1802-1945)
Chương I: THẾ TỔ (1802-1819)
Niên hiệu: Gia Long 嘉 隆

  1. Thế Tổ xưng Đế hiệu:

Tây Sơn xóa xổ vương hầu
Hăm bốn năm, Ánh nối cầu Việt Nam.
Phú Xuân – Thủ phủ Bắc – Nam
Thế Tổ cấp đất, phong hàm Trịnh – Lê.

Bắc thành tên gọi bấy giờ
Văn Thành phụng chỉ vỗ về, ngó coi.
Xếp đặt đâu đó hẳn hoi
Nhâm Tuất, nghị tội rạch ròi Tây Sơn.

”Hiến phù” làm lễ rửa hờn
Tù quốc gia chẳng nặng hơn phạm nhà!
Hồn ma cũng dễ gì tha
Đào mồ, quật mả vua nhà Quang Trung.
 
Mang thây nghiền bột vứt tung…
Đầu đem xích lại  giam vùng tử lao!
Văn thần, võ tướng, ôi chao
Hàng rồi cũng đánh máu trào mới tha!
 
Vua tha, nhưng tướng chẳng tha
Thời Nhiệm chết bởi roi da Trần Thường.
Vợ chồng Quang Diệu thê lương
”Voi giày” đến chết một phường trẻ thơ!

Hình gia xử ác, người ghê
Ban công, luận tội nào ngờ tiểu nhân!
Quân thù xâm lược nào thân
Cũng đâu số phận nát gân, tróc mày!
Cho người chuyển thể dòng này
Than dài, nước mắt thương vay, đắng lòng!

  1. Việc triều chính:

Điêu linh sáu chín năm ròng
Triều cương đổ nát, thuần phong lụi tàn.
Gia Long mới cấm dân gian
Không tin Thần, Phật sinh sang rượu chè.

Quan nào lập phái, kết bè
Đua nhau quấy nhiễu hằm hè, chẳng tha.
Với Tàu, Chân Lạp, Tiêm La
Giữ tình hiếu thuận, nước nhà mới yên.

Triều ca sửa đổi mà truyền:
Theo Lê, chế độ vua quyền, phủ nha.
Bồ tụng, Tham tụng bỏ qua
Chỉ còn Lục bộ, đầu là Thượng Thư.
 
*Bộ Lại thưởng phạt công tư
Xét công trạng, thảo chiếu từ, bổ quan…
*Bộ Hộ coi việc kho tàng
Đinh điền, thuế má, bạc vàng, chuyển thông…
 
*Bộ Lễ coi tế, tôn phong
Học hành, thi cử, thọ đồng, tế nhân…
*Bộ Binh kén chọn tân quân
Thuyên bổ võ chức, hiệp quần thưởng công…
 
*Bộ Hình duyệt án chưa thông
Hình danh pháp luật, tấu dâng, nhục hình…
*Bộ Công coi việc cung đình
Xây thành, dinh thự, công trình bán mua.
 
Lập Đô sát viện can vua
Tả, hữu Ngự, Phó theo tua đứng đầu.
Bốn Doanh, ba Trấn chia nhau
Trấn có Huyện, Phủ, đầu tàu Tri Châu.

  1. Binh Chế:

Ban công, định tội liền nhau
Thờ người tử trận, phong Hầu kẻ công.
Lính già chiến trận về xong
Các Trấn theo lệ quay vòng: Giản binh.

Kinh đô nơi đặt Thâu binh
Tinh binh với lại Cấm binh giữ thành.
Lính Cơ, lính Mộ trấn hành
Binh khí đủ cỡ, tập tành với nhau.

Tàu thuyền lớn, bọc đồng thau
Tuần dinh tiền hậu, canh tàu viễn chinh.

  1. Việc Tài chính:

Tài chính đổi mới hợp tình
Gia giảm khi lũ hạn sinh mất mùa.

Thuế điền, ba hạng thu mua
Thuế đinh, lệ định khác mùa, khác nơi.
Năm năm, đinh hạ lỗ, lời
Dân, quân, chức sắc đồng thời phải khai.
 
Ruộng điền, điền bạ sinh nhai
Ba năm trả lại, không ai bán, nhường.
Thuế thân, sản vật coi tường
Thuế thuyền nước khác, ước lường: Nhỏ, to.
 
Nhà vua chế kiểu thước đo
Người Tàu khai mỏ, vua cho hưởng dài.
Năm Gia Long tính thứ hai
Gia Long thông bảo” thông khai bán hàng.

Mười lượng bạc, một lượng vàng
Cho phép Gia Định chuyển sang đúc tiền.
Đồng, chì, sản vật: cân thiên
Cân trung bình để cân riêng bạc vàng.
 

  1. Công vụ:

Gia Long cứu xét mà bàn
Xây nhà, sửa lộ, làm đàng nghỉ chân.
Quan các Trấn, phải cùng phân
Đê điều cẩn thận, phòng dân mất mùa.

  1. Pháp luật:

Làm theo luật lệ nhà Lê
Tân Mùi, Thế Tổ châu phê Văn Thành:
Đem luật Hồng Đức, nhà Thanh
Soạn thành một bộ phát hành mọi nơi.

  1. Việc Học hành:

Học hành, thi cử nào chơi
Lập miếu Khổng Tử, chẳng hời đạo Nho.
Mở thi Hương, chọn học trò
Người giỏi văn nọ vào lò luyện văn.

Nước nhà cần võ và văn
Lệ thi tuyển võ, văn thần mỗi năm.
Thời Gia Long thịnh Quốc âm
Nên nhiều tác phẩm rộ rầm nổi danh:

Văn tế” của Nguyễn Văn Thành
Hoa tiên” – Huy Tự; Bắc hành” – Nguyễn Du.
”Lẩy Kiều”, mẹ hát mà ru
Truyện Kiều” tuyệt bút, ngàn thu để đời.

Địa dư, Quốc sử cùng thời
Thượng thư Quang Định viết mười quyển xong.

  1. Việc giao thiệp với nước Tàu:

Năm Giáp Tý, Tàu sang phong
Ta ba năm cống… vía ông, một lần.

Ngà voi, quế mỗi trăm cân
Sừng Tê hai bộ, lụa cần trăm cây.
Một ngàn lượng bạc đủ ngay
Vàng hai trăm lượng tới ngày… cúng dâng!

  1. Việc giao thiệp với nước Chân Lạp

và nước Tiêm La:
Ba vua Chân Lạp tranh phần
Nặc Ông Vinh lại chẳng cần biết em.

Láng giềng, Thế Tổ… dòm xem
Sai Thành Nhân lập Ông em kế vì.
Kể từ năm đó trở đi
Nặc Ông Ấn mất, trị vì: Ông Chân.

Chân Lạp nhận phận chư thần
Ba năm chịu cống một lần nước ta.
Vương triều Chân Lạp can qua
Ba em Ông Nặc lại ra đoạt quyền.

Quân Tiêm La xuất binh liền
Ông Chân thua chiến… về miền Tân Châu.
Việt Nam nhận biểu, cứu nhau
Tiêm La mới chịu quay đầu, bỏ đao!

  1. Việc giao thiệp với nước Hồng Mao:

Năm Quý Hợi, nước Hồng Mao
Anh Cát Lợi đáo qua, rao bán hàng.
Gia Long bảo thủ, không màng
Tiêu tan cơ hội mở mang với người.

  1. Việc giao thiệp với nước Pháp-Lan-Tây:

Với Pháp, trọng chín, kính mười
Vì Bá Đa Lộc giúp Người biết bao.
Tàu hàng, thuế chẳng thu cao
Cho Lan Tây nọ ngồi vào chức quan.
Xem ra trọng hậu vô vàn
Chầu không bắt lạy, thêm quan lính hầu.

  1. Sự giết hại công thần:

Người đời vẫn có cái câu:
Được chim bẻ ná, khi giàu phủi ơn”!
Nguyễn Ánh nào khá gì hơn
Như Lê Lợi giết hết trơn đại thần!

Hồi chuông cảnh tỉnh xa gần
Nghĩa nhân chẳng giữ, muôn phần bại danh.
Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành
Công thần bậc nhất, nỡ đành trảm biên!

Văn Thành vốn ở Thừa Thiên
Vào Gia Định lại truyền duyên mấy đời.
Vương nghe học rộng, bèn mời
Phong cho chức Tổng trấn nơi Bắc Hà.

Trung quân chức cũng từng qua
Học hành xứng đáng đảm nha Tổng tài.
Văn Thành có đứa con trai
Cử nhân đổ đạt thành tài: Văn Thuyên.

Văn tài lắm nẻo truân chuyên
Chưa chi đã rước buồn phiền tới thân.
Thơ văn thỏa chí gieo vần
Tâm tư tại nội nguy thân thế này:
 
– “Ái Châu nghe lắm người hay
Cầu hiền mong ước đã  rày bấy nay.
Ngọc kinh sơn phác có đây
Ngựa kỳ ký Bắc biết hay đã rồi.
 
Hương từ nghìn dặm xa xôi
Gò cao, Phượng hát, mây trôi chín tầng.
Gặp nhau, sơn tế ân cần
Có cơ hội đổi xoay vần đó đây”.
 
Làm xong gởi đất Thanh ngay
Cho Khuê với Nhuận, hai tay tú tài.
Ai ngờ Trương Hiệu thài lai
Thêm hành ớt tỏi đến tai Duyệt rồi!

Duyệt – Thành hai tính ngược đôi
Ghét cha, Duyệt mới ra mòi chém con.
Văn Thành níu áo kêu oan
Gia Long dứt áo chẳng còn trọng đâu.

Triều đình ép nhận tội mau
Văn Thành uống thuốc chết sầu, hận sâu.
Văn Thuyên phải bị chém đầu
Thù nhau “vạch lá tìm sâu” mới… ”người”!

Trần Thường số cũng buồn cười
Hà Đông, Chương Đức quê người nghiệp trơn.
Vì sao chạy trốn Tây Sơn
Đi vào Gia Định, hỏi cơn cớ gì?

Thượng Thư Binh Bộ cũng chì
Lê Chất sao lại bươi chi lỗi lầm?
Giam Thường vào ngục tối tăm
Rồi mang xử trảm, mà lầm kẻ thâm.
Để đời bài vịnh quốc âm
Hàn vương tôn phú” thâm trầm, đáng thương.

  1. Xét công việc của vua Thế Tổ:

Nguyễn Ánh bền bỉ khôn lường
Trường kỳ kháng chiến” người thường chẳng kham!
Vì danh, khổ nhọc đều cam
Đại công thống nhất Bắc Nam vẫn truyền.

Nhưng khi hết chuyện truân chuyên
Công thần giết hại liền liền mới đang!
Không tha kẻ đã xin hàng
Vô tâm sỉ nhục tông đàng Tây Sơn!

Hán Cao, Thủ Độ còn hơn
Lòng mang nặng chữ “căm hờn” mới ra.
Thái sư, chôn sống người ta
Gia Long, mồ mả, không tha được người!

Công thần số phận trêu ngươi
Đường cùng, nhận kiếp thân cười bóng ma.
Công nhiều, tội cũng nhiều ra
Không như kiếp bọt hát ca giữa dòng.

Làm vua mười tám năm ròng
Thọ năm chín tuổi, Gia Long băng hà.

Chương II
THÁNH TỔ  (1820-1840)
Niên hiệu: Minh Mệnh 明 命

  1. Đức độ vua Thánh Tổ:

Hoàng thái tử Đảm thay cha
Thông minh nổi tiếng vốn là bẩm sinh.
Sinh thời, hiếu học, thâm tình
Thờ gương Khổng – Mạnh, giữ mình đạo Nho.

Nhìn dân ngả ”Đạo” mà lo
Nên không ngại… giết thầy trò Gia Tô.
Vì mong bảo vệ cơ đồ
Không cho kẻ lạ, ra vô nước mình.

  1. Việc Chính trị trong nước:

Lâm triều, phán xử anh minh
Thêm Tự, Viện để thông tin tới mình.
Phẩm hàm chín thể quân tình
Tùy theo công trạng mà bình chức danh.

Minh Mệnh thay đổi ngọn ngành
Đổi Trấn ra Tỉnh giống Thanh của Tàu.
Lãnh binh, Tổng đốc trước sau
Tuần phủ, Bố chính cùng nhau giữ gìn

  1. Nội các:

Nguyên niên Minh Mệnh, Canh Thìn
Thị thư viện đổi sang dinh Thư phòng.
Lấy Tam, Tứ phẩm bên trong
Đổi thành Nội các trong vòng mười năm.

  1. Cơ mật viện:

Minh Mệnh, năm thứ mười lăm
Lập Cơ mật viện để nhằm trị an.
Tam phẩm chọn lấy bốn quan
Kim bài lãnh lệnh vinh quang Đại thần.
 

  1. Tôn nhân phủ:

Minh Mệnh mười bảy, Bính Thân
Đặt Tôn nhân phủ đỡ đần họ vua.
Thờ vua bảy miếu, khác chùa
Tả Chiêu, hữu Mục chia vừa trước sau.

Một Tôn nhân lệnh đứng đầu
Tả hữu tôn chính đầu tàu bốn quan.
Tôn khanh tả hữu coi tang
Tá lý giúp đỡ con quan, họ hàng.

  1. Quan chế:

Thánh Tổ xếp đặt thứ quan
Chánh, Tòng tùy Nhất, Cửu hàm chia hai.

Chánh Nhất Phẩm có bốn vai:
Đông, Văn, Cần, Võ anh tài phía văn.
Ngũ quân Đô thống võ quan
Văn Đại học sĩ phân hàng thấp cao.

Tòng Nhất Phẩm đệ nhị trào
Hiệp biện đại học sĩ vào sĩ gia.
Hàng võ: Đô thống… nhị gia
Chánh, tòng nhất, cửu phẩm qua chín hàm.
 
Quan viên tùy chức mà làm
Vinh quy bái tổ, quan hàm rạng vai!

  1. Đặt Tổng đốc, Tuần phủ ở các tỉnh:

Minh Mệnh năm thứ mười hai
Đổi Trấn thành Tỉnh theo bài Tống, Thanh.
Tống đốc, Tuần phủ nên danh
Án sát, Bố chính thêm ngành Lãnh binh.
Việc quân, dân phải giữ gìn
Chính trị, giáo dục, luật hình, chẳng lơi.

  1. Lương bổng của các quan viên:

Kỷ Hợi, Minh Mệnh hai mươi
Thánh Tổ phân bổng hai mươi thứ quyền.
Chánh tới Hậu bổ quan viên
Từ hai đến bốn trăm tiền mỗi quan.
Gạo, tiền xuân phục, đưa sang
Sợ quan tham nhũng, vua ban dưỡng tiền.

  1. Tiền Dưỡng liêm:

Loại “quan tiền, vua thưởng riêng
Tri châu, phủ huyện, được tiền Dưỡng liêm.
Năm mươi quan cấp thanh liêm
Hai mươi quan cấp công nghiêm hạng bình.

  1. Sự học hành thi cử:

Học hành thi cử chiêu sinh
Đầu Hương, giữa Hội, cuối Đình: Tam khoa.
Đổ Tam trường gọi: Sinh đồ
Xem ra cũng được một bồ chữ Nho.
Sinh đồ – cô Tú khá to
Tứ trường: Hương cống, bằng lò Cử nhân.

  1. Sách vở:

Văn chương ưu ái dăm phần
Bình đàm, viết lách, gia ân kẻ tài.
Những người viết sách một mai
Trịnh Hoài Đức với Công Tài, Văn Thiu.
Nguyễn Đình Chính, Vũ Văn Tiêu
Nhiều tác phẩm viết nhiều điều Sử, Thi…

  1. Việc sửa phong tục:

Cuối đời Thánh Tổ trở đi
Thuần phong bị hủy khác chi chiến trường.

Mười điều răn dạy làm gương:
”Đôn nhân luân: Trọng Ngũ thường, Tam cương.
Chính tâm thuật: Chẳng vướng thường
Vụ bản nghiệp: Bảo nghề thương chẳng quèn.
 
Thương tiết kiệm: Ấy đáng khen
Hậu phong tục: Giữ tâm đèn sáng thêm.
Huấn tử để: Dạy con em
Sùng chính học: Nói không thèm đạo man.
 
Giới dâm thắc: Chẳng dâm gian
Chận phép thư: Để răn can mọi người.
Quảng thiện hạnh: Chuyện tốt tươi”
Mười điều răn dạy để đời thế gian.

  1. Nhà Dưỡng tế:

Thánh Tổ thương kẻ nghèo nàn
Lập nhà Dưỡng tế, cắt quan cấp tiền.
Người nào quan quả, ưu tiên
Kẻ tàn tật cũng được quyền ở ăn.

  1. Việc Đinh điền và Thuế má:

Đinh điền, thuế má không tăng
Người Minh Hương nộp sáu quan năm tiền.
Thuế mỏ, sản vật y nguyên
Thêm thuế ruộng muối bốn tiền ba mươi.

  1. Việc võ bị:

Võ bị cũng chẳng chây lười
Pháo đài, tàu biển tuần nơi hiểm nghèo.
Ba Doanh, mười lăm Vệ theo
Toàn quyền Đô thống lái lèo Thủy binh.
 
Kinh binh cùng với Cơ binh
Các Doanh, Vệ, Đội, thành hình Bộ binh.
Kỵ binh Pháo thủ binh
Điểu thương, cờ, súng xập xình thần công.
Tượng binh voi bốn mươi con
Bộ, Thủy, Tượng, Kỵ và còn Pháo binh.
 
Sáu loại Binh chế triều đình.
Thánh Tổ lệnh thế, quan mình có nghe!
Trọng văn, khinh võ, hai phe
Bỏ bê binh lực hằm hè gớm thay!

        
Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840)

2

Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840)

  1. Sự giặc giã:

Tiêm, Lào quấy nhiễu Nam, Tây
Cựu thần Lê dấy đó đây Bắc Kỳ. ….
Quan trường chỉ giỏi chi li
Thần dân bất mãn: Vua chi hẹp hòi.
May nhờ tướng giỏi bầy tôi
Minh Giảng, Công Trứ lần hồi tóm thâu.

  1. Giặc ở Bắc Kỳ:

Giặc cỏ quấy mấy Huyện, Châu
Loạn lớn Nam Định đứng đầu họ Phan.
Năm Minh Mệnh, đã lấn sang:
Ninh Bình, Nam Định, Tuyên Quang loạn tràn.

  1. Phan Bá Vành 潘 伯 (1826-1827):

Nguyễn Hạnh, Đức Cát, Bá Vành
Giết quan Thủy ngự Đặng Đành, Nguyễn Trung.
Trấn thủ Nam Định số cùng
Để Lê Mậu Cúc vẫy vùng tứ tung.
Bá Vành đánh phá muôn trùng
Hợp cùng giặc Khách cướp vùng biển khơi.

Tiên Minh, Huyện lệnh quấy tơi
Dẫn binh lính phá tơi bời Nghi Dương.
Quay về chiếm phủ Thiên Tường
Vây quan chợ Quán, Kiến Xương đánh tràn.

Vua sai tham biện Nghệ An
Tham biện Thanh Hóa diệt đàng họ Phan.
Binh triều đình, thế nước tràn
Bá Vành, đồng đảng, bị quan bắt về.

  1. Lê Duy Lương 黎 濰 良 (1833):

Đương thời, có cháu nhà Lê
Mưu khôi nghiệp cũ, giương cờ khởi binh.
Lê Duy Lương ở Ninh Bình
Nổi lên tự nhận xưng mình: Hoàng tôn.

Đem binh vây Huyện, Châu, Thôn
Hưng Hóa đánh trả bảo tồn chút danh.
Tổng đốc hai tỉnh Nghệ – Thanh
Quang Cự – Văn Trọng vây nhanh Ninh Bình.

Bắt Duy Lương giải về kinh
Dòng Vương dính tội, gia hình phải cam:
Bình Định, Quảng Nghĩa, Quảng Nam
Ngăn ngừa khởi loạn, đầy làm thứ dân.
 

  1. Nông Văn Vân 農 文 霧 (1833-1835):

Nông Văn Vân ở Tuyên Quang
Tri Châu Bảo Lạc, họ hàng Văn Khôi.
Loạn vì chuyện bực mình thôi
Vân bị ghép tội theo Khôi phản loàn.

Văn Khôi dấy loạn Phiên An
Vân, anh vợ chẳng thoát màn lưới giăng.
Trong lòng bất mãn đang căng
Vùng lên đánh chiếm Cao Bằng – Thái Nguyên.

Bắt quan tham, thích chữ liền
Mặt khắc bốn tiếng: ăn tiền của dân”!
Triều đình đánh dẹp mấy lần
Hao binh, tổn tướng, muôn phần khó khăn!

Quang Cự lấy lại Cao Bằng
Tiến công ba mặt nhịt nhằng kiếm cung.
Ba đạo hội ở Vân Trung
Cùng đường, Vân định dung thân xứ Tàu.
Nhà Thanh được báo từ lâu
Vân bị rượt bắt ở đầu Tuyên Quang.

Phạm Văn Điển đuổi tận hang
Văn Vân lẫn giữa bạt ngàn núi xanh.
Văn Điển đốt lửa chung quanh
Vân thà chết cháy giữ danh, chẳng hàng!

  1. Giặc ở Nam Kỳ: (1833-1838)

Nam Kỳ đất mới khai hoang
Là nơi thánh nghiệp đăng quang rỡ ràng.
Vào đời Thánh Tổ khang trang
Nhưng nghe kẻ bậy, hàm oan đại thần.

Tổng trấn Gia Định thương dân
Gia Long Thánh Tổ trọng thân cựu thần.
Biết Duyệt nóng nảy, bất cần
Thương vì “khai quốc công thần“, mới… lơ!

Lê Văn Duyệt mất, chẳng ngờ
Xuân Nguyên tráo trở, mập mờ giở chiêu.
Tham lam, làm ác khá nhiều
Móc moi chuyện nhỏ, kiếm điều hại chơi.

Tội nhân có Nguyễn Hữu Khôi
Con nuôi Văn Duyệt theo nòi họ Lê.
Văn Duyệt tưởng thưởng mọi bề
Phong phó vệ úy cầm cờ giúp cha.

Bị Xuân Nguyên bắt chẳng tha
Bất bình, Khôi giết cả nhà Xuân Nguyên.
Tổng đốc đã xuống cửu tuyền
Quan Án, quan Lãnh… ở hiền, được an.

Quân triều đang đóng Phiên An
Phần nhiều theo hết về hàng Văn Khôi.
Xưng Đại nguyên soái hẳn hoi
Cắt đặt phong thưởng như coi triều đình.

Công Triều nhận lệnh, ra binh
Gia Định lục tỉnh, rinh về biếu Khôi!
Triều đình sai những bầy tôi
Phúc Lương, Xuân, Thúy, Giảng rồi Văn Năng.

Đem Thủy, Bộ, Tượng đánh ngăn
Công Triều quăng giáo, giơ khăn, chịu hàng!
Văn Khôi bị phản, còn gan
Đóng thành chống giữ, kiếm đàng viện Tiêm.

Ngã đau mà chết im lìm
Triều đình, Ất Tị mới dìm Phiên An.
Nguyễn Xuân, Văn Trọng bạo tàn
Vào trong giết chết quân quan cả thành.

Trời còn có đức hiếu sanh
Quân hơn nghìn tám, giết đành đoạn sao!
Núi mồ tập thể, ôi chao
Có tên mả ngụy” xương cao ngất trời!

Sáu người bị bắt, hết thời
Xương gan thịt trộn, bã bời, gớm thay!
Lăng trì, ngựa xé, voi giày
Gia hình thời Nguyễn, tội này khó dung.

Một linh mục Pháp cùng chung
Vào thành truyền giáo nhận khung giảo hình.
Thế gian nào đã tận cùng
Đức nhân hai chữ chẳng dùng sáng gương?

  1. Án Lê Văn Duyệt và Lê Chất:

* Lê Văn Duyệt 黎 文 悦
Phiên An thành hủy nát tương
Lê Văn Khôi cũng hết đường tái lai.
Triều đình nghị tội cả hai
Công thần Chất, Duyệt vương tai rủa nguyền.

Sử kia, nhà Nguyễn còn truyền:
“Đại Nam liệt truyện chính biên” viết rằng:
“Năm xưa, Gia Định là căn
Văn Duyệt ở với nghịch thần trảo nha.
 
Bọn Khôi lò ấy mà ra
Cùng nhau phản loạn, quân ta cực lòng.
Nay Duyệt phải tội thông đồng
Chức quan đoạt lại, gia phong xử hình.
 
Nghe Đô sát viện tâu trình
Vua dụ Nội các lời bình như sau:
‘Văn Duyệt chết đã từ lâu
Xuất thân từ thuở thằng hầu cấm cung.
 
Đức Hoàng khảo đã tin dùng
Ban chức đại tướng cho cùng xuất binh.
Hắn mưu phản nếu mà sinh
Nước yên, một kẻ hoạn tình sợ chi?
 
Từ khi trẫm được ngôi vì
Suy đi, tuổi nó cũng thì đã cao.
Cựu thần chẳng mấy trong trào
Cho nên rộng lượng chớ nào khắc khe?
 
Ai dè nó chẳng biết nghe
Đem lời rắn rết mà khoe cái tài.
Bọn Thanh – Nghệ, lũ bạc bài
Văn Khôi vô lại, mà sai rước về?
 
Thổ hào, Văn Nhã đứa quê
Vĩnh Ưng, Vĩnh Lộc loạn nhờ nó dung.
Trần Văn Vĩnh, Đặng Vĩnh Ưng
Tù phạm mà nó cũng dùng cận thân.
 
Thuyền bè khí giới, tiền dân
Nó mang đem cất nói cần đánh Tiêm.
Phòng giặc đường biển Hà Tiên
Chân Lạp đường bộ, nó điên chẳng phòng.
 
Phiên An thành nó ở trong
Hào sâu, cao lũy, thì phòng cái chi?
Ruột nó, người biết đường đi
Nhưng chẳng chịu nói nên chi vạ này.
 
Mụt nhọt mà để lâu ngày
Thì nung lên mủ đau tay nhức liền.
Ví như Văn Quế, Xuân Nguyên
Có hiền, chúng cũng đến phiên quấy xằng.
 
Mồ cha, em, hắn tiếm ‘Lăng’
Tự xưng ‘Cô’ để bọn loạn thần nhớ chăng?
Thầy Hữu Tử có nói rằng:
‘Người trên không phạm, chỉ xằng, có đâu!’.
 
Cho nên, hắn chết chưa lâu
Con nuôi dấy loạn mà hầu gỡ danh.
Ba năm chúng bám lấy thành
Bộ khúc ở lại chẳng đành bỏ đi.
 
Triều đình mở lượng từ bi
Mà chúng chẳng hối, bất tri đáng nguyền.
Nay đem hết những căn nguyên
Trình ra thị chúng mà truyền nghịch thiên’.
 
Hôm sau, Nội các Hà Quyền
Tri Phương, Hoàng Quýnh trình nguyên tấu rằng:
Chở che phỉ loạn làm xằng
Gây nhiều biến sự đủ bằng cớ đây”.
 
Thục lục ghi chép một dây
Nhìn qua, ngó lại tớ thầy với nhau.
Nội các định sáu tội sau
Bảy tội phải trảm cái đầu… bóng ma!
 
Vua bèn xuống dụ truyền ra
‘Tội Duyệt nhổ hết tóc ta cũng thừa.
Bổ quan quách, giết thây thừa
Gia phong niêm cửa chưa vừa tội y.
 
Nhưng ta cũng phải từ bi
Xương khô đã rã, cương thi còn gì?
Vậy thì Tổng đốc, ngươi đi
Tới mồ của hắn tùy nghi phủ bằng.
 
Dựng bia khắc chữ mà rằng:
“Đây mồ Văn Duyệt làm xằng bị giam’.
Tội danh kẻ chết phải làm
Cho người sau biết người gian rủa nguyền.
 
Cháu hắn thì tội giảm thuyên
Trảm giam hậu cũng như khuyên đủ rồi.
Cực hình đã phục thì thôi
Cân nghiêm ba thước tỏ oai búa riều’ “.
 
*Án Lê Chất: 黎 質
Án Duyệt định sáng, thì chiều
Bá Tú kiếm tội sáu điều họ Lê.
Mười tội tiếm loạn nhuốc nhơ
Cộng mười sáu tội, Chất ngờ được chăng?

“Vua rằng: Tội sống không tăng
Có nhổ hết tóc cũng bằng Duyệt thôi.
Duyệt sao Chất vậy cho rồi
San bằng bia mộ chẳng đòi phá thây.
 
Vợ hắn là Lê Thị Sai
Đàn bà thì chẳng gieo tai vạ gì.
Con cái chẳng chính pháp chi
Truyền giam trảm hậu, chúng ghi khắc cùng”.
 
Suy đi, Minh Mệnh bao dung
Đại thần tiên đế dựng chung cái nhà.
Hai tay đỡ lấy nghiệp cha
Cũng nên ngoảnh lại mới là chính quân.

Nghĩ lại, mới thấy vô chừng
Văn Duyệt, Lê Chất chưa từng ngoại gian.
Công lao nhận lấy phủ phàng
Địa ngục khắp nẻo, thiên đàng một phương.

  1. Giặc Tiêm La (1833-1834):

Tiêm La thủy bộ năm đường
Đánh Nam Kỳ với cớ thường: Giúp Khôi.

Thánh Tổ được báo, tức thời
Gọi Trương Minh Giảng, truyền vời Nguyễn Xuân.
Văn Thụy, Văn Điển, Văn Xuân
Cùng nhau tiến đánh, dứt tuồng giặc Xiêm.

Nguyễn quân lấy lại Hà Tiên
Sau chiếm Châu Đốc, xuống miền Nam Vang.
Nguyễn Xuân, Minh Giảng thẳng đàng
Năm sau thắng trận, địch hàng Việt Nam.

  1. Việc Ai Lao:

Quân Tiêm đã nhúng tay chàm
Nên Lào mới chịu hòa đàm dứt binh.
Chiêu Nội, tù trưởng Trấn Ninh
Vội xin lệ thuộc vào dinh Nam Kỳ.

Cam Môn, Sầm Nứa, Mương Duy
Savanakhet trị vì bởi ta.
Thành thử nước Việt to ra
Minh Mệnh dứt chuyện hai nhà Lào, Tiêm.

  1. Việc Chân Lạp:

Lấp Trấn Tây thành (1835)
Nước Lào coi đã tạm yên
Nặc Ông Chân Lạp, đến phiên chẳng còn.
Nối ngôi, vua lại không con
Dòng Phiên liêu giữ ngôi son, tiếm triều.

Long, Kiên một bọn đồng liêu
Người Chân Lạp nhận quan triều Việt Nam.
Trấn Tây công việc phải kham
Trấn chia hai Huyện. Phủ làm băm hai.

Đại thần Tham tán quan sai
Đề đốc, Hiệp tán… coi cai các phần.
Khâm sai Văn Đức đại thần
Doãn Uẩn, Minh Giảng đỡ đần một tay.

Kiểm buôn, xét bán hàng ngày
Do ruộng đất, thuế đinh hay thuế thuyền.
Nhưng khi Thánh Tổ quy tiên
Quan quân bỏ Trấn, về miền An Giang.

  1. Việc giao thiệp với những nước ngoại dương:

Lo kẻ gian lẫn ngoại ban
Trà trộn giảng đạo, vua bàn bế quan.
Minh Mạng thật quả không màng
Thức thời học tập, mở mang dân tình.

Lãnh sự Anh, Pháp vào xin
Minh Mệnh cương quyết, triều đình chẳng ưng.
Thấy vua đối xử dửng dưng
Chaigneau trả chức, rưng rưng trở về.

Mười năm đối ngoại ơ hờ
Việt Nam lạc lõng hai bờ tối minh.

  1. Sự cấm đạo:

Ngỡ mình dân tộc văn minh
Rành rành “Chính đạo” dân mình mới theo.
Đạo Tây mê hoặc eo xèo
Cho là “Tả đạo” bọt bèo, cấm ngay.

Giáo dân bị giết thẳng tay
Triều đình chung ý, không may vận nhà.
Thiên chúa, chính đạo như ta
Lòng tin tự có sao mà cấm dân?

Sinh linh cực khổ muôn phần
Sinh ra giặc, loạn, cứu bần nổi lên.
Thời chuyên chế, ngẫm không nên
Cương – Nhu nhân mệnh khắc trên mới bền.

  1. Vua Thánh Tổ mất:

Minh Mệnh vượng số không bền
Không anh quân cũng chẳng tên bạo tàn.
Hai mốt năm giữ giang san
Mất năm Canh Tí, thọ hàng: Năm mươi.

Chương IV: HIẾN TỔ (1841-1847)
Niên hiệu: Thiệu Trị  紹  治

  1. Đức độ vua Hiến Tổ:

Miên Tông thái tử đôi mươi
Tức là Thiệu Trị vốn người hiền lương.
Lên ngôi tiếp một con đường
Chế độ, thuế má, quan trường giống cha.
Thời ngài giặc giã can qua
Tiêm La, Chân Lạp vượt đà phá ta.

  1. Việc Chân Lạp:

Giặc, loạn quấy nhiễu quốc gia
Mai này, mốt nọ, lúc xa, lúc gần.

Lâm Sâm vốn ở Nam phần
Cùng thầy chùa loạn nằm gần Trà Vinh.
Triều đình thấy vậy, ra binh
Chân Lạp nội loạn mới bình Lâm Sâm.

Nguyên niên Thiệu Trị đến năm
Tạ Quang Cự rút về nằm An Giang.
Minh Giảng mất, việc dở dang
Quang Cự chán ngán ngút ngàn, mất đi.

Trấn Tây mất tướng, giảm uy
Nên người bản xứ tức thì nổi lên.
Nghĩ suy cũng thuận lẽ trên
Nước ai, người nấy phải nên giữ gìn!

  1. Việc Tiêm La:

Tiến Lâm, Công Trứ xuất chinh
Sâm chống không nổi, quan binh rã hàng.
Tiêm La trở mặt, làm ngang
Mang binh thuyền tới đánh tràn tứ tung.

Quân Tri Phương phủ trùng trùng
Văn Nhân, Công Trứ, với cùng Nguyễn Lâm.
Quân binh trước đánh, sau hăm
Quân Tiêm hoảng loạn mới ngầm rút chân.

  1. Việc giao thiệp với ớc Pháp:

Cấm đạo đã lỏng vài phân
Giáo sĩ được thả dần dần hết ra.
Đang khi thương thuyết với ta
Thì đâu đạn Pháp từ xa bắn vào.

Quân Pháp ngang ngược, làm cao
Thiệu Trị cấm Đạo xít xao mọi nhà:
Một cấm buôn bán hàng xa
Hai cấm giảng đạo ”gian tà Ki Tô”!

Đinh Vị, Hiến Tổ xuống mồ
Ba mươi bảy tuổi, nghiệp đồ bảy năm.
Công lao chung với lỗi lầm
Trị nhà hay dở một mâm lỗ lời!

Chương V: DC TÔNG (1847-1883)
Niên hiệu: Tự Đức 嗣 德

  1. Đức độ vua Dực Tông:

Hồng Nhậm hoàng tử nhỏ người
Học hành thông thái, đôi mươi, ôn hòa.
Đăng cơ ở điện Thái Hòa
Niên hiệu Tự Đức tức là Dực Tông.

Thờ mẹ Từ Dụ hết lòng
Việc nhà, việc nước chẳng hòng lãng xao!
Triều thần lắm kẻ tài cao
Trẻ người, trung liệt đương trào Tri Phương.

Trọng Bình, Đăng Quế họ Trương
Hoàng Diệu, Thanh Giảng là phường lão quan.
Tuổi già việc nước trễ tràng
Không am thời thế, chẳng màng kiến tân!

  1. Đình thần:

Người trẻ đi khắp xa gần
Thấy qua đổi mới mười phần xứ Tây.
Nguyễn Điều, Đức Hậu mở mày
Thêm Nguyễn Trường Tộ trình bày đổi thay.

Tự Đức nhanh chóng duyệt ngay
Các lão thần ấy bác bày tỏ khinh.
Có người quê ở Ninh Bình
Dâng tờ cải cách tên Đinh Văn Điền:

”Khai mỏ, luyện tập quân chuyên
Thông thương buôn bán kiếm tiền lợi dân”.
Triều thần lại chẳng nghe phân
Vua không cả quyết, hại dân, bại nhà.

Nguyễn Hiệp đi sứ Tiêm La
Ca ngợi “nước ấy quả là đổi thay”.
Quốc gia có lợi từ đây
Giặc chẳng kiếm cớ nọ này xâm lăng.

Tân Tị, những kẻ trẻ măng
Đi sứ Hương Cảng, thấy rằng: ”nước ta.
Phú cường làm li quốc gia
Là đường buôn bán để mà dưỡng binh.
 
Lấy Tàu, Nhật Bản làm tin
Xin vua bài cựu, tân nghinh nước mình!”
Vua, quan chẳng thấu tình hình
Bảo thủ, tưởng mới dựa mình bóng râm.

  1. Việc ngoại giao:

Tự Đức phạm phải lỗi lầm
Bế quan tỏa cảng tối tăm con người.
Gia Định bị Pháp nuốt tươi
Dùng Thương bạc viện với người ngoại dương.
Bình chuẩn ti buôn bán thường
Nhưng chẳng thể hiểu tận tường ngoại giao.

  1. Việc cấm đạo:

Cấm đạo khắc nghiệt gắt gao
Giáo sĩ truyền đạo ghép vào tội chung.
Đạo trưởng bắt được hình cung
Thích chữ vào mặt đày vùng nước xa.

Ngu dân phải cúng ông cha
Ai mà bỏ đạo, tạm tha một lần.

Lửa không chịu nổi nước dâng
Giết dân theo đạo muôn phần ác tâm.
Cấm người buôn bán đã lầm
Tây kia mượn cớ gieo mầm chiến chinh.

  1. Việc Thuế má:

Đại loại thuế sản, linh tinh
Theo đời Hiến Tổ lập trình dụng thu.
Nhằm khi Pháp đánh trả thù.
Triều đình chịu phí, thấy… mù đến phiên.

Bây giờ kiếm cách thu tiền
Họ Hầu, nha phiến ưu tiên được vào.

Trưng thu chẳng được là bao
Vua, quan nghĩ cách tào lao kiếm tiền:
Ngàn quan: Cửu phẩm được liền
Chục ngàn: Lục phẩm chẳng phiền đợi lâu!

  1. Việc Văn học:

Triều đình Nguyễn tính về sau
Thâm sâu chữ nghĩa hàng đầu Dực Tông.
Nho gia gạn đục, khơi trong
Trọng văn mới mở nhiều vòng khóa thi.

Mở Nhã, Cát sĩ tập thi
Giỏi văn học được làm tùy quan viên.
“Tập hiền viện, khai kinh niên
Thiền viện, vua với quan viên hưởng nhàn.

Tiếc thay những chuyện đáng bàn
Không làm để cuối cùng hàng Pháp xa!

  1. Việc Binh chế:

Tưởng lính mình giỏi, hóa ra
Giáo gươm sao thể chọi qua đạn thù!
Nhè gương cũ kỹ mà đu
Súng châm ngòi bắn sao hù giặc đây?

Tập luyện lại chẳng hàng ngày
Một năm… hai phát đếm đầy… ngón tay!
Quá sáu phát, phải thường ngay
Cho lính xuất ngũ cởi giày, nghỉ ngơi.

Lính thế sao giỏi, hỡi ơi
“Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung“!
Quan binh thấy nản vô cùng
Chừng nào trùn đất ra vùng biển khơi?

Chương VI
CHẾ ĐỘ VÀ TÌNH HÌNH NƯỚC
VIỆT NAM ĐẾN CUỐI ĐỜI TỰ ĐỨC

  1. Cách tổ chức chính trị và xã hội:

Luận
* Vua:
Vua trong một cõi thảnh thơi
Tức là làm chủ khung trời Đế, Vương.
Minh quân: Giặc khỏi nhiễu nhương
Ác quân: Cướp đoạt chẳng đường thiện tai!

* Triều đình:
Triều thần nào của riêng ai
Toàn người đổ đạt, miệt mài sử kinh.
Triều thần đại diện dân sinh
Triều thần đốn mạt, thân vinh chủ thầy.

Đôi điều đã định xưa nay
Tôi hiền, chúa sáng: cơ may nước nhà.
Còn mà chúa sáng, tôi ma
Vua gian, tôi sáng: non nhà rã tan.

* Quan tư:
Lên quan nhờ có tông đàng
Làm người phải trọng họ hàng, luật quê.
Làm quan phụ mẫu, dân nhờ
Miệng quan, trôn chảo” làm phờ phạt dân!

* Quyền tự trị của dân làng:
Trở lên, Tổng thuộc triều thần
Tổng trở xuống dưới là phần của dân.
Tổng gồm làng, xã được phân
Có hai Tổng, Phó giữ chân quản làng.

Luật đình không được chen ngang
Phép vua thua cả lệ làng” đã lâu.
Giá thú, sinh tử có đâu
Mẹ cha phải nhớ để sau lại truyền.

Trình làng tính chuyện đưa duyên
Tiền cheo phải nạp quan tiền lễ tân.

  1. Bốn hạng dân:

Coi theo sứ mạng mà phân
”Công, Thương, Nông, Sĩ” tứ phân rõ ràng:

”Côngchỉ là thợ nghèo hèn
Như là thợ mộc, thợ rèn, dệt tơ.
Những người ít học làm nghề:
Lưới chài, thợ gốm, thợ nề, đẵng cây.

”Thương” loại buôn bán mắn may
Rày đây mai đó kiếm ngay mối lời.
Thương” mình chỉ loại… cà bơi
Cá trong hũ nước chờ thời giữa khơi!

“Phi thương bất phú” một đời
Nước mình thời đấy phú thời được chăng?
”Nông” được mùa mới nói năng
Mất mùa, ”nông” phải nhăn răng… khóc cười!

”Sĩ”  mới là đóa hoa tươi
Dạy học, bói toán, cứu người, được quan…
Nghe ra cũng khá an nhàn
Chẳng Cử nhân cũng Tú… gàn láo liên.

Thi Hương “phụng chỉ cầu hiền”
Tứ Thư, Tàu sử luân truyền phải nghe.
Ve sầu rã rích mùa hè
Thư sinh rã rích như ve rỗng hình.

Mù mờ trình độ thất kinh
Thuộc làu kinh sách, ngỡ mình thánh nhân.
Sĩ phu có học, bất nhân
Dân gian thất học, bất phân đánh đồng.

Lệ thành “Nhất sĩ, nhì nông
Hết gạo thành lệ: ”Nhất nông, sĩ nhì”!

  1. Sự sinh hoạt của người trong nước:

Điều vua dạy nhớ mà ghi:
Nhà phải tranh lá, xây thì không công (I)
Ăn nghèo, mặc khổ, quần… không
Chẳng mang gấm vóc, chân không xỏ giày!
 
Xem ra giống kẻ ăn mày
Văn minh sao lại đọa đày thứ dân!
Muốn sang, phải ráng lập thân
Ra quan mới rạng công thần tổ tông.

Thi hỏng, bức chí, hóa ngông
Đi làm giặc cỏ oai phong bỏ bà.
Nước nghèo, dân khổ, hóa ra
Triều đình bè đảng để mà giết nhau.

Lòng dân ta than oán sầu
Nước ngoài xâm lược mới cầu: Cần vương.”
Cuối đời Tự Đức vô phương
Yếu hèn chuốc lấy con đường diệt vong!

Chương VII
NƯỚC PHÁP LẤY ĐẤT NAM KỲ

  1. Nước Pháp đánh Đà Nẵng (1856-1858):

Từ đời Minh Mệnh, Dực Tông
Cuối đời Tự Đức cũng không thức thời.
Thói cũ ôm giữ khơi khơi
Khai thông dân trí lỏng lơi thế này.

Giết hại giáo sĩ người Tây
Pháp nhân cớ ấy khởi ngày xâm lăng.
Như thò túi áo lấy khăn
Pháp lấy Đà Nẵng, vua ngăn được nào?

Đình Lý, quan Nguyễn đương trào
Thủ thành, trúng đạn, ngã nhào, hy sinh.
Nguyễn Tri Phương, Chu Phúc Minh
Cùng nhau chống Pháp, thủ binh Liên Trì.

Lính Pháp tiến chẳng được chi
Dịch tả mắc vướng, đường đi chẳng rành.
Rigault đánh Huế không thành
Gia Định đánh lấy chiếm nhanh Nam Kỳ.

  1. Quân Pháp vào đánh Gia Định (1859):

Rigault ra đánh Bắc Kỳ
Dò tình hình lại chuyển đi Cần Giờ.
Cần Giờ, Pháp đóng hai bờ
Gia Định, đại bác tới giờ phá tiêu.
 
Gia Định vốn đất phì nhiêu
Binh khí đầy đủ với nhiều tài nguyên.
Nhưng quân nhà Nguyễn không chuyên
Hai đêm chống chọi thì liền bại binh.

Đô đốc là Vũ Duy Ninh
Mất thành, tự tử giữ tình với vua.
Pháp lấy Gia Định như đùa
Vào trong vội vã san chùa, đốt lương.

Ra Đà Nẵng, đánh Tri Phương
Pháp bèn chuyển hướng, tính phương nghị hòa.
Triều đình chủ chiến, chủ hòa
Bất thình lình lại hù hòa với Tây.

Thành ra thương thuyết chẳng hay
Mất đi một cái dịp may nước nhà.
Bây giờ, Anh, Pháp tính xa
Rút binh Đà Nẵng để qua đánh Tàu.

Tướng Pháp lại mắc bệnh đau
Nên chịu đàm phán bằng câu nhịn, nhường.
Triều đình phái Nguyễn Tri Phương
Thế Hiển, Thất Hợp lên đường vào Nam.

Sài Gòn, Pháp, Ý chẳng kham
Ta quân mười vạn đánh làm lại gan.
Tuy nhiên chỉ loại cà tàng
Súng thô thiển chẳng so ngang đạn thù!

Đào hầm “thủ”, chẳng dám “công”
Lấy gan giữ nước chống lòng hại dân.
Dằn co, tháng chín, Canh Thân
Anh, Pháp giải giáp, chia phần với Thanh.

Nước Pháp muôn sự được lành
Dồn quân tiến đánh… nuốt nhanh Nam Kỳ.
Tân Dậu, trung tướng Charner
Dồn binh lên tận Kỳ Hòa phủ vây.

Gan người sao chống đạn Tây
Bỏ đồn cho giặc, chạy ngay, lẽ thường!
Vassoigne thiếu tướng bị thương
Nguyễn Duy, Thế Hiển trúng thương bỏ mình.

  1. Mất tỉnh Định Tường (1861):

Binh Tri Phương loạn quân tình.
Pháp đưa thủy, bộ hành binh Định Tường.
Công Nhàn, Hộ Đốc cùng phương
Mỹ Tho bỏ giặc, kiếm đường chạy đi.

Thượng thư Bộ Hộ, Bá Nhi
Kinh lý Nam bộ vội đi xét lường.
Nguyễn Bá Nghi đã tận tường
Biết không chống nổi, xin đường hòa thôi!

Triều đình Huế tính nước đôi
Phe Trương Đăng Quế ra mòi lắm mưu.
Triều đình chẳng có trung lưu
Chỉ lo bảo thủ, cương – nhu quá lầm.

Đất mất dần bởi ngoại xâm
Quân Pháp lấn thế như tầm nuốt dâu.
Quân dân biết dựa vào đâu
Đem đầu đỡ đạn vì đau nước nhà.

  1. Mất tỉnh Biên Hòa và tỉnh Vĩnh Long (1862):

Tân Dậu, Pháp đổi tướng qua
Hải quân thiếu tướng tên là Bonard.
Thay cho trung tướng Charner
Biên Hòa ba đạo gầm gè nuốt xong.

Nhâm Tuất, đánh chiếm Vĩnh Long
Mang ngàn quân lính tấn công tỉnh thành.
Tổng đốc ra sức giao tranh
Chỉ hai ngày giặc, phá thành đại công.

Trương Văn Uyển thấy không xong
Bại quân rút tới Mê Kông đợi chờ.

  1. Hòa ước năm Nhâm Tuất (1862):

Nam, Bắc nổi loạn tứ bề
Phụng, Tường đánh phá từng giờ Hải Dương.
Mất hai tỉnh, loạn nhiễu nhương
Bắc Ninh, Văn Thịnh xuống đường chiếm luôn.
 
“Mất bò mới chịu làm chuồng”
Triều đình Huế phải vào khuôn nghị đàm!
Hai sứ thần vội vô Nam
Phan, Lâm ký ước với cam kết là:
 
“1. Pháp – Ý giảng đạo vào ra

  1. Phải nhường cho Pháp: Biên, Gia, Định Tường.
  2. Để thuyền Pháp được thông thương

Đạn dược, binh khí, tỉnh nhường, cấm qua.
 

  1. Nước Nam thương hiệp gần xa

Hoặc san, nhượng đất, báo qua Pháp tường.

  1. Pháp – Ý được ngõ thông thương

Vào cửa Đà Nẵng, thương trường Quảng Yên.
 

  1. Pháp tốn ngót bốn triệu Yên

Nước Nam phải chịu trả tiền mười năm.

  1. Vĩnh Long, Pháp trả nước Nam

Nhưng dẹp xong loạn mới cam rút về”.
 
Bảy điều ước nhục nhã ghê
Nước Nam chịu nhận ê chề, tái tê.
Nhường đất, chịu sự nhuốc nhơ
“Rượu phạt… phải uống bởi chê… rượu mời!”.

Hồn ai luyến nước trên đời
Vì đâu chết thảm, ai thời cố tri!

  1. Sứ Việt Nam sang Tây:

Nhường đất, Tự Đức sầu bi
Gia Định quê ngoại lại đi trao người!
Sai Phan làm chuyện nực cười
Sang Paris chuộc đất người đã… ăn!

Ngu khờ đâu kẻ xâm lăng
Cáo ăn gà có nhùn nhằn, nhả ra!?
Nửa năm chầu chực người ta
Phan, Phạm Phú Thứ về nhà, trắng tay.

  1. Việc bảo hộ Cao Miên (1864):

Chuộc ba tỉnh mất cơ may
Triều đình Huế chẳng có hay kế nào!
Thi hành hòa ước đã giao
Pháp lo đánh dẹp loạn trào, loạn dân.

Mở trường, định thuế, canh tân
Đem chữ Quốc ngữ thế chân Hán từ.
Hán Nôm chỉ có Thi Thư
La tinh mượn lấy coi như tiếng mình.

Grandière làm được công trình
Dù mục đích Pháp trớ trinh chẳng luờng.
Cao Miên bảo hộ tỏ tường
Tiêm La thất thế phải nhường mới xong.

  1. Nước Pháp lấy ba tỉnh phía Tây đất Nam Kỳ

(Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) 1867:
Tình hình cai trị xiềng gông
Pháp mưu nuốt trọng Vĩnh Long, An, Hà.
Ngặt vì đường sá lại xa
Aubaret chịu bàn qua chuộc nhà.

Triều đình mặt mũi nở ra
Tiễn Thành, Thanh Giản liệu xa, liệu gần.
Gia, Biên, Định trả, Pháp cần
Thủ Dầu Một với Sài Gòn, Mỹ Tho.
 
Nam Kỳ, Pháp bảo hộ cho
Hai trăm ngàn thuế mà lo trả đều.
Sứ thần cũng biết Pháp điêu
Hai bên qua lại bấy nhiêu chẳng thành.

Giáp Tí, thôi chuyện chuộc thành
Chiếu theo hòa ước thi hành thế thôi!
Ất Sửu, Grandière triệu hồi
Zoze thiếu tướng một đôi đến, về.

Pháp cai trị có lối lề
Grandière quyết định không hề nhả ra.
Cháu Ông Chân dấy can qua
Nổi lên chống với vua nhà Cao Miên.

Pháp nhân chuyện lập kế liền:
Nhận người cháu nọ, đổ phiền Việt Nam.
Cao Miên mắc kế vu oan
Vĩnh, An, Hà, Pháp nuốt ngon đất nhà.

Triều đình Huế tá hỏa ra
Bính Dần, Thanh Giản liệu mà giữ an.
Đinh Mùi, Rigault lại sang
Giúp mưu cho thiếu tướng Gran một đầu.

Cá mè một lứa hè nhau
Tháng sáu Đinh Mão bắt đầu tấn công.
Phan Thanh Giản liệu chẳng xong
Những hy sinh trước hóa không được gì!

Thôi thì… nộp quách thành trì
Để binh sĩ khỏi vạ bì máu tươi.
Cháu con muốn khỏi chê cười
Cày ruộng mà sống, quan người chớ mang”.
 
Dặn xong, thuốc độc sẵn sàng
Uống vào kết liễu một trang anh hùng.
Trung quân đến lúc cạn cùng
Tùng Châu, Võ Tính kiên trung thuở nào!

Mất đất cũng lỗi đương trào
Máu nào đổ chẳng máu đào Việt Nam!
Nam Kỳ thuộc Pháp gian tham
Trăm năm nô lệ mà cam hận nhà.

Chương VIII
GIẶC GIÃ Ở TRONG NƯỚC

  1. Việc rối loạn trong nước:

Trị dân, vua có lệnh ra:
Tri Phương, Thanh Giản, Đăng Giai lược hình.
Các Kinh lược sứ thâu tin
Dân gian hay dở mà trình thực thi.
 
Dục Tông triều đại loạn ly
Cuối đời Tự Đức trở đi, loạn nhiều.
Bắc Kỳ là xứ tiền triều
Dân tình thương tưởng đến triều họ Lê.

Cho nên nổi dậy dựng cờ
Lấy cớ khởi sự dễ bề dấy binh.
Bên Tàu có loạn Thái Bình
Bị Thanh đánh bại, sang rình phá ta.

Nào là giặc Khách, loạn ta
Hết giặc lại mắc vạ nhà: Thiên tai!
Dân tình thất nghiệp dài dài
Mới làm nghề… giặc, oán ai não nề!

  1. 2. Giặc Tam Đường (1851):

Quảng 廣, Nghĩa 義, Đường
Tân Hợi, giặc Khánh lại về
Quảng, Lục, Đức họp một rê Tam Đường.
Thái Nguyên quấy phá, nhiễu nhương.
Văn Giai dụ dỗ, Tam Đường mới yên.
Giáp Dần, Giai mất, đến phiên
Bắc Kỳ loạn lạc, truân chuyên tứ bề.

  1. Giặc Châu Chấu (1854):

* Lê Duy Cự 黎 濰 柜
Duy Cự dòng dõi nhà Lê
Nổi lên khởi nghĩa, dựng cờ Sơn Tây.
Bá Quát bất mãn quan thầy
Dấy binh cho thỏa mặt mày giáo sinh.

Xuất thân Phú Thụy, Bắc Ninh
Quốc oai giáo thụ” nổi đình văn nhân.
Bức chí, bỏ ấn quan thân
Theo Cự làm loạn, góp phần ”Quốc sư”.

Quan binh Lê Thuận dẹp nhừ
Bắt Cao Bá Quát chém trừ, lệnh vua.
Gặp năm châu chấu phá mùa
Lấy tên Châu Chấu như… đùa gọi chơi.

”Thần Siêu, Thánh Quát” về trời
Cái Cùm” ở lại… Đế mời gọi… Vương!
 

  1. Giặc tên Phụng (1861):

* Tạ Văn Phụng 謝文俸
Loạn lạc dấy khắp bốn phương
Giặc Tạ Văn Phụng cũng dường bốn năm.
Tên này trước cũng tay thâm
Theo Tây, dẫn lính đánh ngầm Quảng Nam.

Dựng Lê, hắn nẩy ý tham
Tự phong minh chủ, tên hàm Duy Minh.
Đem quân lấy phủ Hải Ninh
Cùng bọn giặc Khách thông tình một mai.

Bắc Ninh, Văn Thịnh làm cai
Xưng là nguyên suý tức Cai Tổng Vàng.
Kiếm tên Uẩn nhận họ hàng
Tôn làm minh chủ nhập đàng Tạ Văn.

Qua Yên Dũng, đánh Lạng Giang
Bắc Ninh quan phủ xin đàng giải vây.
Bấy giờ, bố chính Sơn Tây
Bố chính Hà Nội, quan thầy Hưng Yên.

Điều quân ba tỉnh thay phiên
Đánh hơn mười trận, dẹp yên loạn này.
Hải Dương bị Phụng phủ vây
Giặc Nông, giặc Khách cũng đầy Thái Nguyên.

Cao Bằng, giặc Khách chưa yên
Triều đình muôn chuyện loạn phiền chẳng an.
Vũ Tảo chiếm lại Tuyên Quang
Bắt Uẩn đóng củi, nộp quan đợi hành.

Nguyễn Tri Phương lại tảo thanh
Bắt Thanh, Vân, Đắc lấy thành Thái Nguyên.
Phá sào huyệt ở Ma Hiên
Đào Trí, Quốc Dụng lấy liền Quảng Yên.

Nam Kỳ, Văn Phụng viện binh
Thiếu tướng Bonard tức mình, gạt đi.
Giặc bể càng đáng càng lỳ
Quan Lê Quang Tiến, Phan Huy trầm mình.

Đức Dụng, Huy Sách hoảng kinh
Đức Khuê, Hồ Thiện bỏ mình Quảng Yên.
Giặc ba đạo, ba trăm thuyền
Thừa cơ cướp biển ở miền Hải Dương.

Hải An quân vụ Tri Phương
Sai Văn Vĩ đánh chặn đường, dẹp yên.
Quan Đề đốc Thiện, Trần Chuyên
Đốc binh Ông Ích Khiêm liền xuất binh.

Giặc lui về giữ Hải Ninh
Tri Phương sai Đặng Trần Chuyên phá thành.
Ích Khiêm hiệp với nhà Thanh
Ở Khâm Châu đánh lấy thành Hải Ninh.

Phụng, Ước trốn ở Quảng Bình
Quan binh bắt được, gia hình tới nơi.
Bốn năm công đổ bể khơi
Mình chết, dân khổ, tả tơi, sướng gì!

Cao Bằng, giặc Khách lấy đi
Trọng Bình kinh lược tầm nguy, diệt trừ.
Chi Hương tuần phủ nhọc nhừ
Bảy tháng sau mới thanh trừ Cận Bang.

Chia binh bốn hướng Lạng Sơn
Trương Cận Bang chịu ngậm hờn, hết phương.
Võ Trọng Bình, Nguyễn Tri Phương
Bình xong loạn vội lên đường nhập kinh.

  1. Sự phản nghịch ở kinh thành:

Loạn ngoài tỉnh, loạn thâm tình
Hồng Bảo thất lập, tức mình, loạn ngai.
Ăn chơi chẳng học thành tài
Vua cha Thiệu Trị thở dài… truất ngôi!

Hồng Bảo bức chí cái tôi
Thông đồng ngoại quốc, nên ngôi muốn dành.
Không may mưu sự chẳng thành
Bị giam ngục tối phải đành quyên sinh.

Người con lại được lưu tình
Họ Nguyễn đổi lấy họ Đinh cứ truyền.
Năm thứ mười chín, phá tiền
Tự Đức ra lệnh xây liền Vạn Niên.

“Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân.”
Lòng người oán giận, hờn căm
“Sơn đông thi tửu” hội nhằm Đế Vương.

Mưu tôn Đinh Đạo tấn đường
Là Đoàn Hữu Ái với Trương Trọng Hòa.
Đoàn Trưng, Tư Trực đồng khoa
Phạm Lương cùng với quan nhà họ Tôn.

Xông vào điện giết Dực Tông
Chưởng vệ đóng cửa, vua không việc gì!
Định Đạo phải tội giảo trì
Hữu quân Tôn Thất Cúc thì quyên sinh.

Đồng đảng, trị chẳng lưu tình
Luật hình nặng nhẹ dứt tình, xử phân.
Giặc Đá sách nhiễu nhân dân
Nhờ quan Nguyễn Tấn nhanh chân dẹp trừ.

  1. Giặc Khách ở Bắc Kỳ:

Bên Tàu chính sự cũng hư
Nhà Thanh chút nữa thì như lửa tàn.
Ngoài quân Anh, Pháp, Tây, Lan
Trong binh dấy loạn: Kim Lăng, Thái Bình.

Quảng Tây vốn có Hồng binh
Cùng Tiêu Triều Quí, Tú Thành, Tú Thanh.
Thái bình thiên quốc” xưng danh
Mười bốn niên đã chia ranh một miền.

Tướng nhà Thanh: Tăng Quốc Phiên
Hồng Chương, với Tả dẹp yên phía ngoài.
Quý Hợi – Đồng Trị thứ hai
Các tướng ấy đánh rớt ngai Tú Toàn.

Nội bộ tranh đấu mất còn
Nghĩa tình chẳng trọn, sao còn ngôi son?
Dư đảng còn lại Ngô Côn
Chạy sang ta trốn, lập đồn chống Thanh.

Trá hàng rồi phá xung quanh
Quan quân đánh mãi cũng đành bó tay!
Cao Bằng, Côn lấy trong ngày
Triều đình cạy vậy tớ thầy nhà Thanh.

Ông Ích Khiêm, Nguyễn Viết Thành
Cùng tướng Thanh: Quý, đánh thành Thất Khê.
Quan binh thất bại mọi bề
Viết Thanh tử, Chi Hương lê cực hình.

Triều đình sai Võ Trọng Bình
Ra Bắc xem xét tình hình thế vua.
Giặc trong chưa rõ thắng, thua
Giặc ngoài, Pháp lại chanh chua Bắc Kỳ!

Chương IX
QUÂN NƯỚC PHÁP LẤY BẮC KỲ
            Lần thứ nhất

  1. Người Pháp tìm đường sang Tà

Nam Kỳ, Pháp đã lấy đi
Dò la Bắc với Trung Kỳ mở mang.
Tháng ba, Lagrée kiếm đàng
Bệnh gan mà chết, thôi màn trớ trinh.
 
Chiến tranh Pháp – Phổ bấp bênh
Hoàng gia Pháp bại, lập nên Cộng hòa.
Nhằm năm Tự Đức hăm ba
Pháp thua nhưng chẳng nhả ra Nam Kỳ.

  1. 2. Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis):

Tên Đồ Phổ Nghĩa thiệt chì
Buôn bán vũ khí mà đi tới Tàu!
Không biết luật nước người đâu
Mang đồ quốc cấm, qua cầu, ngạo quan!

Triều đình biết hắn làm càng
Mà còn nhũn nhặn sai quan giảng huề.
Tên Jean cố chấp, khinh vua
Xem tờ ký ước là trò giỡn thôi!

Triều đình chẳng muốn lôi thôi
Văn Tường, Tuấn, Doãn tức thời vô Nam.
Nam Kỳ ba tỉnh hội đàm.
Xử việc Đồ Nghĩa nhờ làm phải xong.

  1. 3. Đại úy Francis Garnier (Ngạc Nhi)

ra Hà Nội:
Dupré thống đốc mưu trong
Bắc Kỳ muốn chiếm, cam lòng mật tâu:
“Đất Bắc giáp với nước Tàu
Hãy mau chiếm giữ mới hầu trị lâu”.

Pháp – Phổ vừa mới đánh nhau
Thượng thư thuộc địa, mấy câu tức thì:
“Tạm thời đình chuyện Bắc Kỳ”
Thiếu tướng Pháp lại kiên trì nài xin.

Gặp khi Tường, Doãn vào trình
Thật là gặp cái dịp mình đợi mong.
Garnier nhận lệnh đã xong
Vội đi Hà Nội ngóng trông thế tình.

  1. Hạ thành Hà Nội năm Qúy Dậu (1873):

Đại úy làm chuyện trớ trinh
Giúp Nghĩa mới khiến mưu mình lộ ra.
Không buồn hỏi đến quan ta
Ngang nhiên mở ngã đi qua Hồng Hà.

Quan nhà Nguyễn tá hỏa ra
Xoay qua phòng bị, hóa là thấm đau!
Pháp thấy cá đã ăn câu
Bắn vào Hà Nội phủ đầu đối phương.

Can trường, tướng Nguyễn Tri Phương
Giữ thành quyết chiến, bị thương quật cường.
Nguyễn Lâm phò mã phi thường
Quyết tâm chống địch, kiên cường hy sinh.

Một nhà nghĩa trọng thâm tình
Ba triều thanh bạch, trung trinh đứng đầu.
Thương dân lấy nước làm đầu
Tri Phương nhịn đói, chịu đau bỏ mình.

Triều đình Huế đã hoảng kinh
Chỉ trơ mắt ếch ngồi nhìn trái sung!

  1. Lấy mấy tỉnh ở Trung Châu:

Hà Nội thất thủ, thế cùng
Quan Nguyễn trốn sạch, cướp vùng nhóm nhen.
Hautefeuille, bảy lính quèn
Hai mươi ngày, bốn tỉnh bèn tới tay.

Uổng thân cái lũ quan thầy
“Cháy nhà ra mặt chuột” đầy nhuốc nhơ!

  1. Đại úy Francis Garnier chết:

Triều đình Huế lại ngu ngơ
Trước đi úp thúng, này nhờ cậy nia.
Dangelzer với Bohier
Linh mục, giám mục làm chìa khóa cho.

Đình Túc, Gia Hội chung đò
Cùng Nguyễn Trọng Hợp liệu lo Bắc Kỳ.
Kế Viêm phụng mệnh ra đi
Tiết chế quân vụ bảo trì các nơi.

Toàn quyền Lê Tuấn nhận lời
Nguyễn Văn Tường phó, gót dời phía Nam.
Chuyện điên điên cũng đã làm
Thương thuyết, năn nỉ“, đã nhàm lũ Tây!

Suý phủ ném đá giấu tay
Chính tên thiếu tướng thọc cây đánh mình.
Sao mà lắm kiện, còn xin
Triều đình bá bệnh, dân tin chỗ nào!

Đang khi thương thuyết cao trào
Giết chết Đại úy thiệt là… hay sao!
Quân Cờ Đen có công lao
Hai bên cùng đánh, lẽ nào nhượng nhau?

Phục binh Cầu Giấy đón đầu
Garnier bị giết, cắt cầu hiệp thương.
Vĩnh Phúc công trạng phi thường
Tiếc thay sau chót phải đường trớ trinh.

  1. Ông Philastre ra Hà Nội:

Tin đen, thống soái lôi đình
Nguyễn Văn Tường phải giải trình lý do.
Nghe lời có lý, thuận cho
Philastre mới liệu lo Bắc Kỳ.

Trả bốn thành, lệnh thực thi
Quân Pháp nhanh rút, dồn đi Hải Phòng.
Đợi cho hòa ước ký xong
Thống soái về nước khi thông mọi bề.

  1. Hòa ước năm Giáp Tuất (1814):

Mọi việc như đã mong chờ
Văn Tường, Thống soái ra về tự nhiên.
Giáp Tuất, hăm bảy, tháng giêng
Hăm hai điều ước nhường quyền, ký riêng:

”II.
Thống lĩnh Pháp công nhận quyền:
Nước Nam độc lập chẳng phiền nước chi.
Nhỡ khi phải loạn, nhờ gì
Pháp sẽ giúp đỡ không vì tính toan.
 
III.
Còn vua Nam nhớ làm tròn:
Theo chính lược Pháp chẳng hòng đổi thay.
Pháp cho ngàn khẩu súng tay
Một trăm đại bác, với ngay năm tàu.
 
IV.
Pháp còn giúp đỡ về sau
Cho người dạy thuế, giúp nhau thương trường.

  1. Miền Nam, sáu tỉnh phải nhường

Để dân tự chọn con đường Đạo, Lương?
 
Quy Nhơn – Thị Nại thông thương
Ninh Hải, Hà Nội lưu thương Hồng Hà.
Tự do buôn bán vào ra
XIII.
Pháp đặt lĩnh sự chỗ mà nhượng giao.
 
XV.
Bất kỳ người của nước nào
Có thông hành Pháp, được vào nước Nam.
XVIX.
Họ có kiện tụng làm sao
Chỉ lĩnh sự Pháp mới vào xử phân.
 
XX.
Hai nước được đặt sứ thần
Làm theo hòa ước những phần hành thôi”.

Khi hòa ước ký xong rồi
Tường về, Tuấn mất một đôi lẻ bầy.
Quan thầy Dupré chia tay
Krantz, quản đất Nam này, thế chân.

Hòa ước bán đất, buôn dân
Ai chủ, ai tớ đã phân rõ ràng!
Hài kịch đến lúc mở màn
Hết tuồng, bi kịch đầu hàng, hỡi ôi!

Chương X
TÌNH THẾ NƯỚC NAM
Từ năm Giáp Tuất về sau

  1. Văn Thân nổi loạn ở Nghệ An:

Hòa ước, nổi loạn đi đôi
Ghét nhau, Lương, Giáo cháo xôi một nồi.
Garnier lấy Hà Nội rồi
Chống Tây, mạn Nghệ tới hồi công khai.

Trần Tấn và Đặng Như Mai
Cả hai là những tú tài Nghệ An.
Văn thân địa hạt họp bàn
“Bình Tây sát tả” mấy hàng hịch ra:

“Triều đình hòa Tây bỏ ta
Sĩ phu bất xá, đuổi ra lũ này.
Nghìn năm văn hóa xưa nay
Không cho lũ giặc có ngày tỏ oai”.
 
Dẫu là nửa đúng, nửa sai
Nhưng lòng yêu nước mấy ai sánh bằng!
Triều đình ngu muội hay chăng
Hòa Tây để giặc làm xằng, mới đau!

Lấy Hà Tĩnh, đánh Diễn Châu
Quang Hoán, Huy Điển cùng nhau mở màng.
Thất Triệt, Tổng đốc Nghệ An
Ngấm ngầm giúp đỡ, hội càng mạnh lên.

Khâm sai chính Nguyễn Văn Tường
Cùng Lê Bá Thận lên đường dẹp ngay.
Văn Thân rã hội, tan bầy
Triều đình cũng chẳng đôi ngày được yên!

  1. Giặc ở Bắc Kỳ:

Mạn Hải Dương, tỉnh Quảng Yên
Còn người mạo nhận sinh tiền họ Lê.
Giúp tên Francis nào ngờ
Triều đình với Pháp đất bờ đã dưng.

Garnier quay mặt dửng dưng
Giúp thuyền cho Huế thẳng thừng dẹp tan.
Giặc cờ vàng khuấy Tuyên Quang
Vĩnh Tường, Châu Thượng lập làng làm căn.

Tôn Thất Thuyết đánh quá hăng
Sùng Anh bị bắt, vàng khăn rã bầy.
Làng Cổ Loa, mạn Sơn Tây
Có tên Trận lại quậy ngày, quậy đêm.

Tôn Thất Thuyết lại dẹp êm
Tên Trận danh bại, Thuyết thêm công thành.
Lạng Sơn, giặc Khách hoàng hoành
Lý Dương Tài chiếm rừng xanh đứng đầu.

Trước làm quan ở Tầm Châu
Bị cách chức mới phản Tàu, rắc tai.
Quảng Tây đề đốc Tử Tài
Vây núi Nghiêm Hậu bắt Tài, giặc tan.

Bắc Kỳ giặc loạn ngỗn ngang
Vua chia hai đạo Lạng Giang, Đoan Hùng.
Đặt Tĩnh biên sứ coi chung
Phụ trách hai lộ, vua dùng Kế Viêm.

  1. Sự giao thiệp với nước Tàu:

Nước Nam độc lập nhưng hiềm
Bao lần thắng cũng theo điềm đãi bôi.

Triều đình Huế tính nước đôi:
Hòa ước với Pháp, không thôi cống Tàu.
Mong rằng có thể giúp nhau
Xưng thần, cống phẩm mà cầu với Thanh.

Dực Tông sai sứ đi tranh
Lê Tuấn, Tư Giảng đồng thanh tấu trình.
Bọn giặc Khách phá nước mình
Nguyễn Tu, Hoàng Tịnh đồng tình cáo tri.

Hòa ước Giáp Tuất trở đi
Độc lập, nô lệ có gì khác đâu?
Nên theo lệ cống từ lâu
Chống Tây phá ước cầu Tàu mới xong.

Năm Bính Tý, sứ  Dực Tông:
Ân Niên, Lê Cát với ông Lâm Hoành.
Nguyễn Thuật, Khánh Tiến, Nguyễn Hoan
Xưng thần, cống phẩm chịu lòn với Thanh.

Nhà Thanh sai Trương Đình Canh
Sang Huế bàn việc ngọn ngành bán buôn.
Sẵn thăm dò nước Nam luôn
Pháp biết được mới ra khuôn trách phiền.

  1. Tình thế nước Tàu:

Nước Tàu trước vẫn thượng thiên
Cho nên lệ cống theo phiên đã thành.
Nay Tàu yếu đã rành rành
Nước Nam chẳng dám phá ranh, vượt rào.

Thế kỷ mười chín, Tây Âu
Phương Tây lược địa, nước Tàu khó tranh.
Nhờ Tàu, cơ hội mong manh
Vua cấm nha phiến mà thành khổ dân.

Mới ra hòa ước Nhâm Dần
Vua Đạo Quang ký nhượng phần bán buôn.
Hàm Phong hòa chẳng giữ khuôn
Anh, Pháp như mối ăn luồn Bắc Kinh.

Canh Thân, máu nhuộm thượng đình
Thiên Tân hòa ước hạ mình, bán dân.
Bị phương Tây lấn mấy sân
Nhà Thanh sắp đổ chỉ cần chút giông.

Triều đình Nguyễn vẫn ngóng trông
“Chết đuối vớ bọt” thật không thức thời!

  1. Sự giao thiệp với nước Pháp:

Bắc Kỳ tạm ổn mọi nơi
Philastre biến, Rheinart thế vào.
Giặc loạn Hà Nội hạ trào
Dujardin thiếu tá được vào ngó coi.
 
Hiệp thương ký mới ráo ngòi
Ông Nguyễn Tăng Doãn ra coi Bắc Kỳ.
Kiếm đất, lập trại thị uy
Hải Phòng, Ninh Hải tức thì chọn ngay.

Thượng thư Bộ Hộ gặp may
Là Phạm Phú Thứ nở mày Hải An.
Tổng lý Thương chánh Đại thần
Kiêm chức Tổng đốc nắm phần bán buôn.

Hi Tăng, Tăng Doãn vào luôn
Định việc thương chánh, diễn tuồng thế vua!
Triều đình chỉ nghĩ bán mua
Cho nên trúng một quẻ bùa bọn Tây.

Rheinart khâm sứ ra thay
Hải Phòng: ông Trúc, Kergaradec: Bắc Kỳ.
Sài Gòn, Thành Ý nhận đi
Vào làm lĩnh sự làm vì thế thôi!

Rhinart cáo bệnh về rồi
Philastre lại khứ hồi Huế ngay.
“Nghinh tân, đả cựu” mắc dây
Triều đình lộ kế cho Tây chúng bì.

Mậu Dần, đấu xảo Paris
Tăng Doãn, Thành Ý vội đi chịu đòn.
Cho người sang học Toulon
Thêm mười hai đứa trẻ con xuất hành.

Sang Hương Cảng, học trường Anh
Tiêm, Tàu thông sứ mới thành vạ đây.
Pháp mang hòa ước ra ngay
Triều đình sai quấy, tớ thầy phải nghe.

Khâm sai Huế – Philastre
Triều đình cả nể vì nghe có tài.
Hiểu Nho, tình, lý lọt tai
Khi ông về nước, không ai rọi đèn.

Xiêm, Tàu giao thiệp bao phen.
Thêm nước Anh quốc, rối ren một nùi!
Chính phủ Pháp, chúng chẳng… đui
Vi phạm hòa ước, phanh phui mọi đàng.

Hai bên tình thế chẳng an
Pháp muốn bảo hộ diễn màn kế gian.
Rheinart vừa mới lại sang
Làm khâm sứ Huế nên càng khó khăn!

Nước Anh, Mỹ, Ý lại căng
Muốn vào buôn bán khăng khăng mọi phần.
Nên không muốn Pháp chen chân
Đem chuyện buôn bán xử phân luận bàn.

Lĩnh sự Pháp lại đổi quan
Ông Le thống đốc mới sang Sài Gòn.
Triều đình Huế chẳng khôn ngoan
Thông thương, khai hóa đang còn bỏ bê.

Cờ Đen loạn, triều đình ngơ
Chẳng sao cấm cớ, quay cờ, lộng hung.
Chính phủ Pháp lập tức dùng
Kế sách trước, đánh; sau cùng kéo binh.

Tình hình chiến sự phát sinh
Chiếm Bắc Kỳ, Pháp mặc tình bán buôn.

Chương XI
PHÁP CHIẾM LẤY BẮC KỲ
Lần thứ hai (1882)

2

Chương XI
PHÁP CHIẾM  LẤY BẮC KỲ
Lần thứ hai (1882)

  1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội:

Người Pháp có giấy thông thương   …
Bị giặc Khách chận trên đường Vân Nam.
Pháp bèn bắt lỗi Việt Nam
Thống đốc Vilers mới làm tấu thư:

“Nước Pháp chẳng thể chần chừ
Nên dùng binh lực mà trừ loạn đi”.
Tháng hai, Nhâm Ngọ, Henri
Gởi thư đến Huế ra ni bực mình.

“Luật vua xem chẳng còn linh
Bắc Kỳ loạn lạc, triều đình ngó lơ.
Đi đâu cũng khó khăn ghê
Quan Huế thất lễ với bề Rheinart.
 
Nay Pháp chẳng thế làm ngơ
Bảo vệ quyền lợi chẳng chờ đi lâu”.
Mang trăm lính, hai chiếc tàu
Henri cùng hẹn gặp nhau Hải Phòng.

  1. Hạ thành Hà Nội lần thứ hai (1882):

Đãi đằng tử tế cho xong
Tổng đốc Hoàng Diệu hờ phòng thực hư.
Đại tá sắp kế đã dư
Cho nên gởi tối hậu thư tới thành.

Tám giờ, quân Pháp đánh nhanh.
Ba tiếng sau đã lấy thành như chơi.
Quan ta bỏ chạy rối bời
Tổng đốc Hoàng Diệu chịu lời đắng cay.

Thắt cổ chết, rạng mặt mày
Hơn Tôn Thất Bá mặt dày trốn xa.
Để đời khúc “Chính khí ca”
Ai hay dở đã phân ra rõ ràng!

Dực Tông triệu tập vội vàng
Kinh lược Nguyễn Chính, phó quan họ Bùi.
Mau mau tìm cách mà lui
Về thủ Mỹ Đức chịu lùi địch xa.

Rheinart khâm sứ phân qua:
“Tình thật chẳng muốn đánh Hà Nội đâu.
Vậy thời lấy lại cho mau
Thành trì còn đó chớ đâu mất gì!”.
 
Triều đình nghe nói chẳng suy
Sai Trần Đình Túc vội đi nhận thành.
Pháp chơi “mèo-chuột” đã đành
Triều đình ngu muội mới thành tội nhân!

Hai lần lấy, trả hai lần
Trước khi đớp chuột, mèo vần chuột chơi!
Trả thành, Pháp đóng khơi khơi
Qua lời thương nghị lòi đuôi cáo già:

*Pháp phải bảo hộ nước ta
*Hà Nội lập tức nhường qua Bắc Kỳ.
*Pháp đặt thương chính tc thì
*Nước Nam phải sửa nhng gì tả tơi.
 
Giao quyền Pháp quản tức thời
Triều đình hiệp hội trả lời rằng:”Không!”.
Trần Đình Túc nhiệm vụ xong
Hà Ninh Tổng đốc, nhận phong, Độ vào.

  1. Việc cầu cứu nước Tàu:

Triều đình bị ép đã chao
Nhưng trong tâm não trọng cao nước Tàu.
Sai Phạm Thận Duật mau mau
Cầu Tàu phương sách làm đầu, thói quen.
 
Ỷ Tàu với lại Cờ Đen
Ấm đầu cứ việc… ho hen, họ vào.
Cho nên rát họng kêu gào
Ngỡ đâu nếm mật chớ nào thấy chanh!

Tổng đốc Lưỡng Quảng: Thụ Thanh
Mượn cớ đánh Pháp để giành nước ta.
Đóng quân phía Bắc Hồng Hà
Kính Bưu, Diên Húc, quan nha Cảnh Tùng.

Bắc Ninh, quân tiến ung dung
Quảng Tây, Bố Chánh cũng cùng chạy qua.
Chủ nhà nuôi… hổ trong nhà
Tha về…beo nữa để mà hại dân!

  1. Quân Pháp lấy Nam Định (1883):

Pháp muốn thu xếp dần dần
Công việc bảo hộ đỡ phần chiến tranh.
Nhưng còn lính của nhà Thanh
Tràn sang các tỉnh, Pháp đành phản công.

Vilers thay bởi Thomson
Tấn công Nam Định hẹn trong nửa ngày.
Henri kéo lính bao vây
Vài trăm tên giặc trong tay súng đồng.

Triều đình đã trả lời: “Không”
Cho nên Nam Định mất trong Quý Mùi.
Trọng Bình, tổng đốc trốn chui
Đề đốc tử, Án sát lui chốn nào?

  1. Đại tá Henri Rivière chết (13-4-1883):

Vừa khi Pháp tiến, Tàu vào
Bắc Ninh, Tổng đốc ra mào thế công.
Giốc Gạch, tổng, phó đứng trông
Chực đánh Hà Nội chưa công đã lùi.

Berthe, đại uý đánh vùi
Bắc Ninh Tổng đốc, tướng Bùi Ân Niên.
Thấy quân Pháp đã tiến binh
Nhưng tin Tàu chịu chi binh giúp mình.

Lui về mà giữ Bắc Ninh
Kế Viêm, tiết chế rập rình đợi cơ.
Cờ Đen – Vĩnh Phúc đang chờ
Đóng phủ Hoài Đức dễ bề đánh Tây.

Nam Định đã ở trong tay
Henri kéo lính dong ngay Bắc Kỳ.
Cầm binh khinh địch, kiêu kỳ
Phục binh Cầu Giấy tức thì… bắn bia.

Bị thương: Đại úy Villers
Cờ Đen – Vĩnh Phúc, không dè lập công.
Non trăm mạng tử thương vong
Henri Rivière đi không thấy về.

Lục quân thiếu tướng Bouet.
Được binh khiển tướng lấy le Bắc Kỳ.
Courbet thiếu tướng cũng đi
Chiến thuyền tiếp ứng, Paris lệnh truyền.

Harmand ra Bắc toàn quyền.
Hải, Hà, Nam Định lại liền sửa sang.
Georges mộ lính cờ vàng
Cho theo binh Pháp vào hàng tiền quân.

Quân ta đánh Pháp tưng bừng
Trứng chọi với đá vang lừng chiến công.
Yêu nước nhưng chẳng đồng lòng
Đánh không thống nhất mà hòng thắng ai!

Giáo gươm chống đạn quá tài
Quân không luyện tập hằng ngày, phải thua!
Lãnh sự Thành Ý bị xua
Phe ”hòa”, phe ”chiến” hơn thua… lớp rùa!

Rối ren, đất nước te tua
Dực Tông bệnh mất, tuổi vừa năm lăm.
Ngôi vua trụ băm sáu năm
Mười sáu, tháng sáu nhằm năm Quý Mùi.
 
Chương XII
CUỘC BẢO HỘ CỦA NƯỚC PHÁP

  1. Sự phế lập ở Huế: Vua Hiệp Hòa (1883):

Nhà Nguyễn đã đến lúc xui
Hết đời Tự Đức, trở lui mất quyền.
Ngôi vua vẫn tiếp tục truyền
Nhưng quyền chính trị mọi miền trống không.

Triều thần chuyên chế bên trong
Tự Đức mắc bệnh, ngôi rồng tuyệt tông.
Ba con nuôi được nối dòng
Dục Đức, Dưỡng Thiện, Chánh Mông ruột rà.

Di chiếu cũng đã bàn qua:
Dục Đức đức tính khó mà thánh quân.
Vua chọn Dưỡng Thiện hiền nhân
Nhưng mà nước loạn, vua cần tuổi cao.

Di chiếu: Phụ chính đương trào
Đại thần đệ nhất tuổi cao: Tiễn Thành.
Văn Tường: Phụ chính nhị danh
Thứ ba: Thất Thuyết mà thành đại tam.

Ba ngày, Tường, Thuyết đã làm
Đổi tờ di chiếu mới cam thỏa lòng.
Phế vua Dực Đức cho xong
Đem em tiên đế Dục Tông lập vì.

Triều thần chẳng dám nói gì
Đình Phùng, Ngự sử tức thì cản ngăn:
“Tự quân có tội gì chăng
Chưa chi đã phế làm xằng được sao?”.
 
Tường, Thuyết quyền thế một trào
Bắt giam rồi cách chức nào nể nang.
Hiệp Hòa niên hiệu đăng quang
Giảng đường, Dục Đức thì đang ngậm ngùi!

  1. Quân Pháp lấy cửa Thuận An:

Hiệp Hòa mới lập xong xuôi
Harmand cũng đã theo đuôi Hải Phòng.
Courbet, Bouet hội xong
Phủ Hoài chiếm đóng ngoài trong sẵn sàng.

Courbet đánh cửa Thuận An
Bắt nhận bảo hộ, mưu gian rõ ràng.
Quân Pháp đang thắng Cờ Đen
Tiến lui gặp lũ mới bèn đóng binh.

Hải Phòng, trung tá Brionval
Đem lục quân đánh chiếm thành Hải Dương.
Bouet đang thắng vẫn lường
Điện Paris để xin đường viện chi.

Lục quân tiến đánh Bắc Kỳ
Mục tiêu kế tiếp tức thì Thuận An.
Ba ngày Trấn Hải vỡ tan
Quan Trấn tử nạn, Nhẫn, Hoàng nhảy sông.

  1. Hòa ước năm Quý Mùi (1883):

Triều đình thấy sự chẳng xong
Còn trông gì nữa mà không chịu đình.
Harmand bắt phải giải binh
Khâm sai Đình Túc đi xin nghị hòa.

Quý Mùi, tháng bảy, hăm ba
Hòa ước của việc ”bán nhà”, lập mau.
Harmard với De Champeaux
Trọng Hợp, Đình Túc bốn… đầu kết cam.

Hăm bảy điều khoản tham lam:
*Nước Pháp bảo hộ nước Nam rất dài.
Nước Nam giao thiệp với ai
Phải do Pháp cấp lệnh bài được, không!
 
*Bình Thuận nay thuộc đàng trong
Đèo Ngang, Pháp đóng ngoài vòng Thuận An.
* Còn phần đất từ Đèo Ngang
Khánh Hòa đổ lại, vua quan triều đình.
 
*Khâm sứ Pháp được sự sinh
*Pháp đặt Công sứ an ninh Bắc Kỳ.
Ký xong, hòa ước gởi đi
Paris lược duyệt mà tùy thực thi.
 

  1. Việc ở Bắc Kỳ:

Hòa ước bán nước, vinh chi
Kêu quân mình lập tức thì bỏ đao.
Thượng thư Bộ Lại đương trào
Là Nguyễn Trọng Hợp: Áo bào khâm sai!

Phong chức Công Bộ làm cai
Cho Văn Chuẩn: Phó khâm sai Bắc Kỳ.
Thêm khâm sai phó: Hồng Phì
Cùng nhau ra Bắc chiêu nghì vỗ an.

Non nhà đại nạn lầm than
Chia năm, xẻ bảy, gian nan não nùng!
Còn ai ngồi khóc cha chung
Còn ai phụng chỉ cúc cung triều đình?

  1. Vua Hiệp Hòa bị giết (1883):

Triều đình Huế lại rung rinh
Nhờ sách bảo hộ cho mình vững ngôi.
Triều thần chẳng chịu nước đôi
Thuyết Tường chuyên chế, vua, ngôi chẳng bền.
 
Hiệp Hòa thấy vậy, cho nên
Thượng thư Binh Bộ chuyển lên Văn Tường.
Thuyết đang Binh Bộ đường đường
Chuyển sang Lại Bộ coi dường mất uy.

Thấy vua lòng đã sinh nghi
Để lâu thành vạ, bỏ đi được rồi.
Thuyết Tường mưu sự hẳn hoi
Trình qua thái hậu hạ hồi phế đi.

Thái hậu nào dám nói gì
Con út Dưỡng Thiện lập vì mới xong.
Hiệp Hòa cái ách tự tròng
Dám vuốt râu cọp, đụng lông hai người.

Thuyết, Tường nào dễ trêu ngươi
Mượn ”lưới” thái hậu bắt người Đế Vương!
Nhốt vào Dục Đức giảng đường
Cho uống thuốc độc, coi thường sử xanh.

Thấy quan Phụ chánh Tiễn Thành
Không theo như ý, đem hành quyết luôn!
Hiệp Hòa bốn tháng lệ tuôn
Cơ ngơi chưa vững, hết tuồng, hóa ma.

  1. Vua Kiến Phúc:

Dưỡng Thiện được chọn cho qua
Niên hiệu Kiến Phúc, huý là Ưng Đăng.
Mười lăm tuổi biết đâu rằng
Chỉ là con rối trong băng Thuyết, Tường!

Bắc Kỳ, quân giữ mấy phương
Sơn Tây binh mã tướng Hoàng Kế Viêm.
Bắc Ninh: Quang Đản ngày đêm
Cùng Tàu chống Pháp là điềm họa to.

Khâm sứ Pháp Huế trách cho
Rút quân, Tường, Thuyết phải lo liệu lường.
Các quan người mỗi con đường
Người về, kẻ bỏ quan trường chạy đi.

Nước nhà gặp buổi sinh ly
Triều đình chẳng có tay chì đảm đương.
Văn Hòe tri phủ Kiến Xương
Vụ Mẫn bỏ chức, về vườn họa may.

Thiện Thuật quân vụ Sơn Tây
Về quê chống Pháp vùng này: Hải Dương.
Nam Định, Đề đốc quan lương
Theo Tàu chống Pháp, núp… tường nhà Thanh.

  1. Sự đánh lấy các tỉnh ở Bắc Kỳ:

Harmand lập lính khố xanh
Thêm đội tuần cảnh coi canh Bắc Kỳ.
Cờ vàng Bouet thị phi
Harmand ra lệnh bỏ đi chẳng dùng.

Cờ Đen chận đánh đồn Phùng
Thiếu tướng Bouet lại cùng đánh nhau.
Toàn quyền, Bouet hợp đâu
Paris, thiếu tướng xin mau trở về.

Lục quân trao lại Bichot
Ninh Bình, đại tá đi lo lấy thành.

  1. Lấy Sơn Tây:

Hai bên chiến sự giao tranh
Toàn quyền thiếu tướng Harmand phải về.
Bắc Kỳ thiếu tướng Courbet
Toàn quyền quyết định mọi bề trị an.

Thiếu tướng còn đang sửa sang
Quân ta tiến đánh, đốt càn Hải Dương.
Quan Pháp sự cố bất tường
Tỉnh thần tòng phạm, đày đường Côn Lôn.

Viện binh từ Pháp tinh khôn
Thủy, Bộ hai lộ gian ngôn tớ thầy.
Chín ngàn quân Pháp bủa vây
Chia làm hai đạo Sơn Tây đánh vào.

Cờ Đen, Tàu, lính, ôi chao
Mười sáu ngày đánh thì vào thế lui.
Súng Pháp bắn đạn như vùi
Mạn ngược rút chạy thụt lùi mới xong.

  1. Lấy thành Bắc Ninh:

Quân Tàu càng mạnh, càng đông
Thiếu binh, Pháp lại chờ trông mỗi ngày.
Hàng ngũ tướng Pháp… chia tay
Tướng Millot thế quan thầy Courbet.

Được binh, Pháp mới hăm he
Quân Tàu đe một, Pháp đe tới mười.
Quân một vạn sáu nghìn người
Hai Lữ, mười pháo nuốt tươi Hải Hà.

Bắc Ninh – Hà Nội: Tàu, ta
Thống tướng Millot mới ra lệnh liền:
Sông Hồng, Brière vượt biên
De Négrier qua liền Bắc Ninh.

Sáu ngày đánh hết sức mình
Quân Tàu bỏ mặc Bắc Ninh, rút về.
Thái Nguyên, thiếu tướng Brière
Đánh lên Yên Thế lầy về dễ không.

  1. Lấy Hưng Hóa:

Quân Pháp tiến đến mạn sông
Tuyên Quang, Hưng Hóa còn trông nỗi gì?
Lữ đoàn thứ nhất ra đi
Sơn Tây, Hưng Hóa rồi thì Đà Giang.

Hai bên khởi sự đánh càn
Lữ đoàn nhì lại hiệp đàng với nhau.
Cờ đen hợp với quân Tàu
Đốt cả phố xá, quay đầu chạy ngay.

Kế Viêm binh rút cùng ngày
Theo đường thượng đạo về ngay kinh thành.
Pháp chiếm Hưng Hóa, vội nhanh
Coronnat dẫn lính phá banh đồn Vàng.

  1. Lấy Tuyên Quang:

Cờ đen đang đóng Tuyên Quang
Millot đường thủy dò đàng Lô Giang.
Hưng Hóa, Duchesne quân sang
Việt Trì xuất phát, Tuyên Quang giặc tràn.
Một giờ chiến đấu hiên ngang
Cờ đen thất thế vội vàng thoát thân.

  1. Hòa Ước Fournier:

Giáp Thân (1884-1814)
Cao Bằng, Tàu chẳng rút chân
Còn Lao Kay với một phần Lạng Sơn.
Pháp bèn tính chuyện thiệt hơn
Sai Fournier gặp Hồng Chương nghị hòa.

Đôi bên thỏa thuận mọi bề
Coi triều đình Huế ”con cờ” trong tay!
Nước Tàu mới rút quân ngay
Nước Nam chính sự hằng ngày, Pháp coi.

Thấy ngay mưu sự cầu ngoài
Mưa lâu ướt đất, chuột lòi mặt mo!
Cờ Đen đánh Pháp công to
Coi như bỗng chốc ra tro, mất hình…

  1. Hòa ước Patennôtre tháng 5

năm Giáp Thân (5-1884):
Công sứ Pháp ở Bắc Kinh
Patennôtre tảo trình phía Nam.
Paris điện khẩn phải làm
Ra Huế sửa lại kết cam Quý Mùi.

Mười chín điều khác chút thôi
Tường, Tôn, Thận Dật lần hồi ký qua.
Bình, Hà, Thanh, Nghệ tính ra
Bốn tỉnh này thuộc phần ta, Trung Kỳ.

Ấn Tàu bắt nấu chảy đi
Từ nay nước Pháp bảo trì Việt Nam.
Cống Tàu, người Việt  không làm
Giáp Thân, hiệp ước hòa đàm cáo tri.

Pháp đô hộ cả ba kỳ
Triều đình Huế chỉ hư vì vậy thôi!
Việt Nam bị bổ ra rồi
”Tam phân, ngũ liệt” thiệt thòi trăm năm.

Còn đâu lịch sử nghìn năm
Non sông thấm máu thăng trầm, xót xa!

  1. Việc triều chính ở Huế:

Triều đình cũng chẳng nhận ra
Do đâu mà có vạ ta, vạ mình?
Làm ra chuyện loạn triều đình
Là hai phụ chính Thuyết, Tường hổ ngươi.

Thất Thuyết nóng nảy, tài bươi
Đa nghi, chém giết khiến người hãi kinh!
Văn Tường giỏi chữ, trớ trinh
Giao thiệp khôn khéo, tính tình tham gian.

Nguyễn Văn Tường nắm hàng văn
Thất Thuyết nắm võ khăng khăng mọi đường.
Hoàng thân, quốc thích, quan trường
Ai sai, trái ý, chỉ đường chết thôi.

Thuyết dùng nghi vệ vua tôi
Mộ quân phấn nghĩa tới hồi dụng sau.
Tường thì hối lộ làm đầu
Tiền sềnh giặc Khách từ Tàu đúc qua.

Tiền thời Tự Đức mà ra
Đã mỏng, lại xấu bắt ta phải xài.
Không tiêu phải tội dài dài
Vua còn nhỏ tuổi, quan ai dám bàn?

Hai ông cậy thế làm càn
Chuyên quyền cho lắm, tông đàng đảo điên.
Triều ca, vua đổi liên miên
Không bị ép thuốc, cũng liền chết không.

Ai gan dám chống hai ông
Là vua cũng chẳng mà hòng sống đâu!
Hiệp Hòa bị giết ít lâu
Đến phiên Kiến Phúc theo sau, dứt trần.

Tháng tư, mồng sáu Giáp Thân
Kiến Phúc bệnh mất, nghiệp trần hết vương.
Sự tình, sử chép hai đường:
Mắng Tường mới bị Văn Tường… thuốc tiêu!?

  1. Vua Hàm Nghi:

Thuyết, Tường sinh sát toàn triều
Vua mười hai tuổi sáng chiều lập xong.
Ưng Lịch, em của Chánh Mông
Hàm Nghi lấy hiệu mà không biết gì.

Rheinart, tư giấy có ghi:
Nam triều vua mới lập thì báo ngay.
Thuyết Tường tự tiện như vầy
Khâm sứ thấy vậy thư tay Bắc Kỳ.

Thống tướng Millot ra uy:
Guerrier với quân đi chịu phiền.
Sáu trăm quân, pháo dàn hiên
Bắt triều đình Huế… cảm phiền tấu xin.

Chữ Nôm giấy phép đệ trình
Thuyết, Tường đem gởi dinh Khâm sứ liền.
Rheinart phép tắc xỏ xiên
Chữ Nôm kia phải làm phiền chuyển Nho.
 
Bấy giờ, Khâm sứ mới cho
Chính điện mở cửa, lò dò tấn vương.
Rượu phạt uống thấy mà thương
Lên gân, xuống cốt mọi đường nhục gia.

Chương XIII
CHIẾN TRANH VỚI NƯỚC TÀU

  1. Trận Bắc Lệ:

Hòa ước Tàu – Pháp ký qua
Lao Kay, Cao, Lạng nhả ra để hòa.
Quân Tàu biết vẫn xuê xoa
Ở đồn Bắc Lệ, Pháp xa bắn vào.

Sáu ngày xin hoãn xem sao
Dugenne không chịu, ra mào đánh nhau.
Đánh cho tới sáng hôm sau
Tàu vây bốn mặt, Pháp mau rút về.

Millot sai tướng Négrier
Bốn đội bộ, pháo sang bờ cứu binh.
Đong đo tiếp ứng tình hình
Négrier được triệu chờ binh nhập thành.

  1. Đánh Phúc Châu và vây Đài Loan:

Bắc Kỳ, Tàu đánh, tin nhanh
Lanh tay, Pháp lệnh vây thành Phúc Châu.
Hai trăm rưỡi triệu, trả mau
Đài Loan bị đánh kéo nhau nghị hòa.
Hòa ước Ất Dậu thông qua
Tàu thua nhượng bộ, Pháp ra trả thành.

  1. Trận Đồn Chũ, và đồn Kép:

Bể Đông, Pháp bắn tan tành
Quân Tàu Đông – Quảng sang tranh Bắc Kỳ.
Viện binh Pháp chẳng thấy chi
Millot cáo bệnh mà đi trở về.

Viện binh hai vạn dưới cờ
Chia ra bốn đạo cùng chờ phản công.
Servière một đạo mạn Đông
Doninier một đạo vượt sông tới Đầm.

Lạng Thương, Négrier đăm đăm
Mibielle, Bảo Lạc ngấm ngầm trợ chung.
Quân Tàu lính rụng như sung
Quân Pháp, thương tật, tử cùng ngót trăm.

Đông Bắc, Tàu rút mất tăm
Duchesne kế tiếp là tầm Tuyên Quang.
Cờ đen cứ địa cần san
Berger với lính trấn đàng Thái Nguyên.

  1. Trận Yên Bạc:

Quân Tàu đóng ở Quảng Yên
Đến tháng mười một, xuống miền An Châu.
Thiếu tướng De Né theo sau
Trận đầu Núi Bóp giết Tàu sáu trăm.

  1. Lấy thành Lạng Sơn:

Ngàn viện binh Pháp lăm lăm
Thêm quân hai đạo hướng nhằm Lạng Sơn.
Quân Tàu đóng giữ hết trơn
Pháp dùng kế đánh khôn hơn: Ngang hàng.

Tức là Đồn Chũ đánh ngang
Tuần Muội đánh lại vào đàng Đồng Sơn.
Quân Tàu thanh thế đã sờn
Hết đường rút chạy mới vờn Lạng Sơn.

Hai bên giao chiến thiệt hơn
Lạng Sơn, Pháp chiếm rửa hờn Đồng Đăng.
Quân Tàu hai ngã chạy phăng:
Thất Khê với lại Nam Quan chạy về.

Ất Dậu, thiếu tướng De Négrier
Phá Ải Quan mới rút về Lạng Sơn.

  1. Thành Tuyên Quang bị vây:

Khi Pháp đánh ở Lạng Sơn
Cờ đen, Tàu mạn sông Hồng, Lô Giang.
Bấy giờ, kéo đánh Tuyên Quang
Quân chia hai đạo hiên ngang phá thành.

Dominé vừa thủ, vừa canh
Ngoài công, trong thủ bất thành thắng thua.
Lạng Sơn, Pháp lấy như đùa
Binh lên cứu viện được mùa phản công.

Ất Dậu, lính Pháp vượt sông
Đoan Hùng diễn trận, Tàu không được gì.
 

  1. Mất thành Lạng Sơn:

Quảng Tây, đề đốc thị uy
Từ Long Châu dẫn binh đi cứu mình.
Đồng Đăng, hai mặt giáp hình
Hao binh tổn tướng muôn tình khó khăn.
Phùng Tử Tài, thế đương hăng
Rút binh, Pháp bỏ một đằng Lạng Sơn.

  1. Hòa Ước Thiên Tân 24-4 Ất Dậu (1885):

Bấy giờ, Pháp tính thiệt hơn
Lạng Sơn bỏ lại, lính chờn hết đi.
Thủ tướng Jules Ferry
Từ chức xoa dịu phẩn bi thế tình.

Sứ thần Pháp ở Bắc Kinh
Patenôtre lập ước trình chiến chinh.
Thay chức và viện trợ binh:
Thống đốc sự vụ dân tình: Courcy.

Tham mưu tổng trưởng Warnel
Thiếu Jamont với tướng Prudhommè.
Tàu theo hòa ước, rút về
Hồng Chương ký ước hai bờ kết cam:

Pháp hưởng quyền ở Việt Nam
Thuyền Tàu vào cảng không làm khó khăn.
Pháp trả cửa bể mặt bằng
Tiền binh phí tổn, thì rằng miễn chân.
 
Ngay hôm hòa ước Thiên Tân
Courbet trung tướng mất gần Đài Loan.

Chương XIV
LOẠN Ở TRUNG KỲ

  1. Thống Tướng De Courcy vào Huế:

    (18-4-1885 Ất Dậu)
Pháp bảo hộ, lắm tính toan
Quan nhà sức mọn, vẫn còn đánh Tây.
Ở Huế, Tường, Thuyết hằng ngày
Triều đình thao túng, gió mây mọi đường.

Dục Đức chết thật thê lương
Hầm giam tăm tối, đói xương rã tàn.
Chết rồi, Tường, Thuyết vu gian:
Thông mưu với giặc ra màn diệt thân.

Lập đồn Tân Sở hậu thân
Chở ra Cam Lộ châu trân chất đầy.
Nói là phòng để mai này
Quân binh ra đó còn ngày chống Tây.

Đánh Pháp, ý định đã đầy
Đại bác, Pháp bắt dẹp ngay cổng thành.
Thiên Tân hòa ước với Thanh
Courcy thống tướng ra nhanh Bắc Kỳ.

Năm trăm quân tới thị uy
Bắt triều đình Huế thực thi ước hòa.
Khâm sứ Pháp De Champeaux
Cùng hai quan lớn theo nhau đón đàng.

Chào hàng ở cửa Thuận An
Hôm sau, Thống tướng triệu quan Thuyết, Tường.
Sang dinh bàn việc kiến vương
Tức là yết kiến cung đường Hàm Nghi.

Thuyết, Tường lừng lẫy uy nghi
Thấy thống tướng vậy, giận ghi ở lòng.
Cựu thần nói chuyện nho phong:
Thuyết văn, tướng võ dáng trông chẳng hùng.

Đầu trọc, người béo, đen mun
Đi không chững chạc, giao dung chẳng sành.
Xưa nay, cậy thế với danh
Hiếp người, chém giết tam bành lấy oai.

Chừng như đối đáp người ngoài
Trong bụng sợ khiếp nên oai nuốt vào.
Tường kia giao thiệp, mưu cao
Một mình phó hội “bàn đào” Courcy.

Thuyết viện cớ bệnh không đi
De Courcy bảo bệnh gì cũng khiêng.
Sợ uy quan Pháp tới phiên
Nhân động đất nghĩ trời liền khiến đây.

Thuyết bèn sửa soạn đánh Tây
Pháp bắt mở cửa quan thầy Pháp vô.

Triều đình thấy Pháp xử thô
Bắt mở cửa chính, hàm hồ, lố lăng.
Trái điều quốc thể nên chăng
Thống sứ không chịu, gạt phăng trở về.

  1. Triều đình chạy ra Quảng Trị:

Hôm sau, Cơ mật viện chờ
Bên dinh Khâm sứ định bề chính, bên.
Courcy không tiếp, chẳng lên
Thái hậu tặng phẩm, kiêu kênh chẳng cần.

Courcy khinh mạn muôn phần
Triều thần ngơ ngác thấm dần trẽn trơ.
Thất Thuyết tức giận mới thề
Sống chết một trận cũng nhờ trời đây.
 
Nửa đêm, Mang Cá đạn bay
Dinh Khâm sứ, pháo cũng cày cháy lan.
Chiều hôm, thống sứ tiệc tan
Vừa nghe súng nổ, lính quan rụng rời.

Nhà xung quanh cháy rực trời
Quân Pháp ráng giữ chờ thời sáng ra.
Sang ngày qua tới hăm ba
Pháp bèn công phá, quân ta chạy nhầu.

Văn Tường vào giữa điện tâu
Xin rước Thái hậu tới đầu Khiêm Lăng.
Tường chực sẵn, Thái hậu rằng:
Lo thu xếp hẳn họa hằn cho xong.
 
Vâng lời, Tường ở lại trong
Ngoài kia, Thất Thuyết ruổi rong một lòng.
Xa giá đi tới Kim Long
Lên chùa Thiên Mụ, Thuyết vòng đón lui.

Dân gian, già trẻ dập vùi
Đàn bà, công tử ngậm ngùi oán thương.
Dắt nhau chạy loạn mù sương
Tìm phương sống tránh mọi đường súng dao.

Trường Thi, xa giá bôn đào
Nghỉ một lát, Thuyết vội vào hối đi.
Rằng Tây đuổi tới tức thì
Sáng hăm bốn, những hiểm nguy bớt dần.

Quảng Trị, xa giá nghỉ chân
Tuần phủ Quang Đản chia phần lính canh.

Lương, tiền, khí giới mất đành
Quân vài nghìn vạn cũng thành bóng ma.
Chín mươi sáu lính gọi là
Bị thương với tử, so ra, Pháp lời.

  1. Nguyễn Văn Tường ra thú:

Pháp chiếm giữ khắp mọi nơi
Các quan chẳng dám khơi khơi nhận mình.
Nguyễn Văn Tường mới cậy xin
Caspard Giám mục thú trình Courcy.

Thương bạc viện, chức vẫn y
Đại uý Schmitz canh ky mỗi ngày.
Thời hạn hai tháng trong tay
Làm sao mọi việc yên ngay hãy làm.

  1. Xa giá các bà Thái hậu về Khiêm Lăng:

Văn Tường viết sớ kết cam
Xin rước Thái hậu dân an cạn cùng.
Hàm Nghi, Thái hậu tam cung
Bị Thuyết canh giữ, sớ dưng chẳng tường.

Hàm Nghi rồi phải lên đường
Lạy tạ từ mẫu sầu vương não nùng.
Một giờ sau, chốn từ cung
Thái giám lại chẳng đi cùng với vua.

Quảng Trị, tin tức thớt thưa
Từ Dụ tiếp được tin đưa của Tường.
Xin về Huế sống như thường
Tìm vua chẳng biết vua dường ở đâu?

Thuyết thư về nói trước sau
Rằng Tường đã thấy mưu cầu phản phe.
Xin rằng chớ vội mà nghe
Lời qua, tiếng lại e dè tính sao?

Văn Tường giục kíp hồi trào
Thái hậu quyết định trở vào, chẳng ra.
Quang Đản hộ giá bôn ba
Khiêm cung, Tường rước các bà thỉnh an.

Khi Tường đi vắng, Thọ Xuân
Được làm giám quốc, xóa luôn chức nhà.
Thượng thư Binh Bộ Champeaux
Được Courcy định để hầu bãi binh.

Tổng đốc Nam Định: Đình Bình
Kinh lược: Hữu Độ cùng dinh Văn Tường.
Coi chung Cơ mật viện thương
Vì hai ông ấy làu thường mọi khâu.

Văn Tường, Hữu Độ chống nhau
Nên Độ mới phải quay đầu trở ra.

  1. Quân Cần Vương:

Quảng Bình, hịch đã phát ra
Bình Thuận, Thanh – Nghệ dân ta tỏ tường.
Hưởng ứng hịch khắp mọi phương
Nơi nào cũng có con đường đấu tranh.

Thống tướng định dẹp cho nhanh
Ngàn rưỡi quân định rời thành Huế đi.
Nhưng mà chính phủ Paris
Điện sang lệnh cấm lạm vì đại binh.

Pháp dịch chết mấy ngàn binh
Cho nên hoãn cuộc trường chinh tảo trừ.
Hàm Nghi chẳng biết thực hư
Triều đình rối rắm y như giẻ nồi.

Văn Tường ngày hẹn xong rồi
Kỳ hạn hai tháng tới hồi nghiệm thu.
Tường bị người ghét, mới trù
Xin đem xử lý mà bù tội y.

Courcy  Thống tướng Bắc Kỳ
Chiếu quân kỷ bắt đày đi Văn Tường.
Thất Đính, Thận Duật chung đường
Trên tàu, Duật chết, đại dương dựng mồ.

Haiti, đảo lạ sóng xô
Văn Tường bệnh chết, xác khô vô hòm.
Pháp cho mang hết về chôn
Một thời Phụ chánh xác hồn rã tan!

  1. Vua Đồng Khánh 同 慶 (6-18-1885):

Trị Tường, thống lệnh đã ban
Triều chính giao Độ với Phan Chính Bình.
Bắc Kỳ, Trọng Hợp: Lược kinh
Pháp lập vua mới thân tình: Chánh Mông.
Tới phủ Khâm sứ thụ phong
Niên hiệu Đồng Khánh, vua không thực quyền.

Hàm Nghi nghĩa chẳng chao nghiêng
Cần Vương Hịch” phát thiêng liêng gọi lòng.
Thương vua, lắm kẻ còn mong
Theo lời hịch gọi, gieo giông khắp vùng.

Quảng Nam, ”Nghĩa hội” chuông rung
Quan sơn phòng sứ Trần cùng lập nên.
Bình Định, Bình Thuận, Phú Yên
Cờ nghĩa dấy khắp mọi miền đánh Tây.

Đình Hội đó, Tự Như đây
Quảng, Thanh, Bình – Trị cờ bay máu đào.
Lê Ninh, Hà Tĩnh anh hào
Nguyễn Phạm Tuân với Văn Mao hợp đoàn.

Có ông Nghè Nguyễn Xuân Ôn
Cùng Lê Doãn Nhạ xây đồn Nghệ An.
Nhiều người xướng hịch là quan
Binh vào tỉnh, phủ thiêu làng đạo lang.

Bắc Kỳ, Tạ Hiện cựu quan
Bãi Sậy Thiện Thuật cũng quan cựu triều.
Thêm Tàu quấy nhiễu liêu xiêu
Pháp chia binh chống thiếu điều hết hơi.

  1. Thống tướng De Courcy phải triệt về:

Hay việc rắc rối, lôi thôi
Courcy, Thống tướng ra coi Bắc Kỳ.
Nhưng mà khắc nghiệt, đa nghi
Cho nên sự việc rù rì chẳng xong.

Paris phe “muốn“, phe “không”
Brigoon từ chức để hòng giữ danh.
Thủ tướng Pháp mới tài lanh
Courcy bị triệu phải đành rút chân.
Varnel, trung tướng thế thần
Paul Bert, Thống đốc cũng dân văn về.

  1. Vua Hàm Nghi ở Quảng Bình:

Đồng Khánh ở Huế đăng cơ
Cựu thần chống Pháp làm lơ chẳng cần.
Quảng Bình, đại tá Chaumont
Ngăn đường Thất Thuyết thông dân Bắc Kỳ.

Nghệ An, Thanh Hóa ra uy
Văn thân đánh dữ, mấy khi nước nhờ.
Để Grégoire lại phòng hờ
Chaumont đi lấy binh về đánh nhau.

Quảng Bình, vua ở đã lâu
Thất Thuyết xem cũng vả đầu ngán ngao!
Chống không nổi Pháp, bôn đào
Để vua ở lại, bay cao tới Tàu.

”Trung quân” chẳng biết về đâu
”Ái quốc” cách cuối là cầu ngoại bang.
Triều Châu, nơi chết danh tàn
Ông già chém đá” ngục đàng lạnh tanh.

Có câu: “Cây đắng, trái lành”
Thiệp, Đạm con cái xứng danh anh hùng.
Bảo vệ vua trọn tình chung
Phạm Tuân, Lê Trực cũng cùng đảm can.

Mignot chia đánh hai đàng
Một đàng Tuyên Hóa, một đàng Nghệ An.
Văn Thân thất thế, rã tan
Metznigert rút, tìm đàng tiến ra.

  1. Ông Paul Bert (5-3-1886 đến 11-11-1886):

Quan văn tên gọi Paul Bert
Đặt phủ Thống sứ mà… đe Bắc Kỳ.
Lo toan mọi việc thu, chi
Lập Thương nghiệp cục, mở thi học đường.

Đồn điền điều lệ, chủ trương:
Làm trước rồi mới lệ thường tấu sau.
Paul Bert lo quá, bệnh đau
Cùng năm thì mất, Bihourd thế quyền.

  1. Lập Tổng Đốc toàn quyền phủ:

    (5-10 Đinh Tuất)
Pháp lập bảo hộ Cao Miên
Kiêm luôn bảo hộ ba miền nước Nam.
Rành rành bản chất tham lam
Viễn đông thuộc địa một quan… toàn quyền!

Nam Kỳ, thống đốc là trên
Cao hơn khâm sứ Cao Miên, Bắc Kỳ.
Trên các thống đốc hạng nhì
Toàn quyền thống đốc tay chì: Coustant.

Chương XV: VIỆC ĐÁNH DẸP
Ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ

  1. Việc đánh dẹp ở các nơi:

Trung Kỳ nghĩa đảm trung can
Trứng chọi đá, lửa thử vàng đó đây.
Tên Trần Bá Lộc xuống tay
Đàn áp khởi nghĩa, nịnh thầy đến phiên.

Bắt Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền
Với Nguyễn Đức Thuận thay phiên chém liền.
Cho nên Bình Thuận, Phú Yên
Đảng Văn Thân rã mới yên kinh kỳ.

  1. Vua Đồng Khánh ra Quảng Bình:

Quảng Bình, Đồng Khánh ra đi
Chiêu quan cũ, dụ Hàm Nghi tước vì.
Chuyến đi chẳng kết quả chi
Phải quay trở lại Huế vì bệnh đau!

  1. Hoàng Kế Viêm ra quân thứ mạn

Quảng Bình:
Kế Viêm, đề đốc về đầu
Kinh lược đại sứ đã hầu đến tay.
Văn Ban, Nguyễn Trực về đây
Nguyên Thành, Chư, Khải trao ngay khanh hầu.

Paul Bert, Đồng Khánh bàn nhau:
Kế Viêm An phủ thì hầu gi y.
Lại phong làm Hữu trực kỳ
Tiện nghi hành sự vỗ vì Hàm Nghi.
 
Hàm Nghi ba tỉnh bảo trì
Các quan nguyên chức, vua thì tước Vương.
Thanh Thủy, Lê Trực một đường
Hà Tĩnh, Thất Đạm một phương lách luồn.

Tôn Thất Thiệp, Nguyễn Phạm Tuân
Thanh Hóa quyết liệt, canh chừng Hàm Nghi.
Kế Viêm ra sức được chi
Năm Đinh Hợi phải chịu đi trở về.

  1. Lập đồn Minh Cầm (1887):

Triều đình lỡ vận sa cơ
Cho nên phó mặc đôi bờ lũ Tây.
Mua chuộc thủ hạ, chước hay
Nên không dùng đại binh này tấn công.

Quảng Bình, Mouteaux ra phong
Đánh đồn Lê Trực mà không lợi gì.
Thanh Thủy thủ kỹ từng ly
Minh Cầm đồn lập dự khi phải càn.

Lê Trực trung – ái hai đàng
Quan đề đốc vốn thuộc hàng chính quân.
Con người nghĩa khí đức nhân
Nên Mouteaux vẫn mong ông thuận hàng.

Lê Lộc giữ dạ trung cang:
“Vì Vua, vì nước chẳng màng hy sinh”.
Vây làng, đại uý ra binh
Phạm Tuân phải đạn, bỏ mình vinh quang!

Thuốc phiện hối lộ chỉ đàng
Tên Ngọc nhận đổi giàu sang một mình.
Đại úy ban lệnh rút binh
Lính Pháp về lại đồn binh Minh Cầm.

Để cho tên Ngọc âm thầm
Chờ thời cơ mới ngấm ngầm xuống tay.
Mouteaux mỏi mệt lâu ngày
Xin về Pháp nghỉ chờ ngày được thay.

  1. Vua Hàm Nghi bị bắt:

Tháng giêng, Mậu Tý, quân Tây
Ra Quảng Bình để mà vây vua nhà.
Vừa khi kiếm chẳng có ra
Thì đồn Mang Cá, chạy ra Đình Tình.

Minh Cầm, nó vốn bình sinh
Hàm Nghi hầu cận, khai trình chỗ vua!
Pháp truyền “bắt sống nhà vua
Những ai chống cự hay hùa, giết đi!”.

Hai tên lĩnh mệnh mà đi
Hai mươi thủ hạ kiên trì bắt vua.
Bị đâm, Thất Thiệp chịu thua
Nửa đêm bị giết, chát chua một đời!

Hàm Nghi thấy phản, truyền lời:
Gươm đây sao chẳng lấy thời giết ta.
Làm chi cái chuyện phản nhà
Giết ta hơn bắt ta mà nộp Tây!”.
 
Vua vừa đôi chín, tội thay
Năm năm vong vị chẳng may chút nào!
Dẫu rằng bị bắt, bị đày
Xem ra cũng đáng mặt mày Đế, Vương!
Vua thời loạn lạc đáng thương
Kiên trì đánh giặc sáng gương để đời!

Lễ Vương, Pháp lấy đãi Người
Algérie xứ phải đày Người đi!
Hàng năm, Pháp cấp tiền chi
Dẫu xâm lăng cũng đôi khi có… tình!

Trương Quang Ngọc, Nguyễn Đình Tình
Hai hàm quan võ, nhục mình lĩnh binh!
Thủ hạ lĩnh vài đồng trinh
Đứa hàm suất đội, bán tình lấy công!?

Tôn Thất Đạm thấy chẳng xong
Vua đã bị bắt, còn mong nỗi gì!
Thôi thì… thư gởi Hàm Nghi
Cuối đầu tạ lỗi chia ly vẹn toàn.

Thư cho thiếu tá vuông tròn
Xin cho thủ hạ sống còn, may ra:
Bây giờ, Pháp muốn bắt ta
Thì vào rừng thấy mả ta ở  rừng!”.
 
Thắt cổ, nước mắt rưng rưng
Còn hơn những kẻ tráo trưng hại người!
Thất Thuyết cư xử người cười
Hai con thì lại hóa mười hoa tươi.

Lê Trực cũng chẳng hổ ngươi
Lời lẽ khẳng khái khiến người ngợi khen.
Triều đình bắt tội, thật hèn
Pháp thì tha bỗng trắng đen một đàng.

Quảng Bình, quê cũ về làng
Mạn ngoài kính đức, trong đang quý tình!
Yêu nước đâu chỉ quyên sinh
Sống cho có ích, trung trinh để đời.

  1. Vua Thành Thái

* Đồng Khánh Mất (25-1-Mậu Tí 1888)
Đồng Khánh phải bệnh về trời
Ba năm ngôi vị tuổi đời hăm lăm.
Miếu hiệu là Cảnh Tông Thuần
Làm vua như bột vào khuôn có là…

Khâm sứ Huế chợt nhớ ra:
Ngày trước Tự Đức tức là Dực Tông.
Dực Tông trai, gái cũng không
Phải đem ba cháu cùng dòng dưỡng nuôi.

Dục Đức lớn tuổi lên ngôi
Bị phế, giam bởi bầy tôi Thuyết, Tường.
Thuở nhỏ lui tới Pháp thường
Cho nên quen biết tận tường Rheinard.

Nhớ cảnh Dục Đức xót xa
Nhìn cây biết cội mới ra nhớ người.
Bửu Lân chỉ mới lên mười
Đang cùng với mẹ ngậm cười chốn lao.

Nguyễn, Trương: Phụ chính đương trào
Giúp vua Thành Thái đi vào kỹ cương.

  1. Sự đánh dẹp ở Bắc Kỳ:

Thiên Tân hòa ước hiệp thương
Quân Thanh cũng đã hết đường đến ta.
Vua quan triều Huế chẳng qua
Bù nhìn một lũ có là thứ chi!
Các cuộc khởi nghĩa Bắc Kỳ
Bị Hoàng Cao Khải vô nghì dẹp tan!

Văn Thân – Đốc Tít ra hàng
Tán dương Thiện Thuật chạy sang xứ Tàu.
Kiều, Kỳ ra thú, giữ đầu
Cai Kinh bị bắt, biết đâu chốn đày?

Hoàng Hoa Thám chiến khu đây
Ba mươi năm đánh quân Tây khiếp hồn!
Thủ hạ ám hại, ngậm hờn
Ngàn năm gương sáng chập chờn nghĩa chung.

  1. Việc Phan Đình Phùng:

Non sông tưởng nhớ anh hùng
Đình Nguyên Ngự sử Đình Phùng họ Phan.
Can Thuyết, Tường phế tân quân
Nên bị cách chức, bãi quan về nhà.

Hương Khê, Hà Tĩnh quê cha
Mở đồn điền ở quê nhà Vụ Quang.
Qua Tàu, ông gởi người sang
Học nghề đúc súng tìm đàng đánh Tây.

Vốn người thao lược, văn hay
Tướng tài mà chẳng cơ may gặp thời!
Văn Thân, đầu đảng riêng trời
Quân Pháp nể mặt, Huế thời… phải lơ.

Đình Nguyên vùng vẫy Hương Khê
Giết Trương Quang Ngọc một bề tớ gian.
Về già, bệnh mất, quân tan
Nguyễn Thân, tổng đốc dã man “quật mồ”.
 
Thuốc súng trộn với xương khô
Ghiền cho nát xác không mồ, bắn tan.
Có người nói chỉ ý quan
Nguyễn Thân sau đó vội vàng chôn thôi.

Đình Nguyên Ngự sử mất rồi
Đảng Văn Thân mới đến hồi vỡ tan!

  1. Lòng yêu nước của người Việt Nam:

Pháp đô hộ, dân lầm than
Ngọn lửa đánh Pháp cứu màn điêu linh:
Kỳ Đồng cùng với Thiên Binh
Nổi lên ở mạn Thái Bình – Bắc Ninh.

Bắc Kỳ, ”Nghĩa Thục Đông Kinh”.
”Duy Tân” cùng với Chu Trinh sáng ngời.
Phan – Chu gương tốt để đời
Nhắc cùng con cháu một thời lầm than.

Hà Nội, đầu độc Tây lang
Sưu cao, thuế nặng oán than mỗi ngày.
Hết vua Thành Thái bị đày
Duy Tân cũng phải tới ngày biệt quê!

Việt Nam tình cảnh thảm thê
Trăm năm nô lệ mỏi mê tháng ngày!
Ai gây thảm họa như vầy
Ai người cứu thỏ giữa bầy sói lang?

Chương XVI
CÔNG VIỆC CỦA BẢO HỘ

  1. Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Phòng

thành đất nhượng địa:
Sau khi đánh dẹp đã an
Toàn quyền lần lượt mở mang mọi đường.
Triều đình Huế ký giấy nhường
Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng nhượng không.

  1. Việc kinh doanh ở các xứ bảo hộ:

Công việc bảo hộ đã xong
Chính phủ lo ngại ngoài trong phục thù.
Bảo an xét kỹ từng khu
Dùng người bản xứ mà thu dụng dần.

Binh hai sắc lính đã phân:
Khố xanh thì giữ cướp gần, cướp xa.
Khố đỏ quản trị sơn hà
Nước nhà có loạn thì ra chiến trường.

Hành binh, đường sá, thông thương
Lợi đường buôn bán, tiện đường đánh nhau.
Thương cục, lập xưởng đóng tàu
Mở đường xe lửa phòng sau lợi mình.

Cam Môn, Cam Cát, Trấn Ninh
Pháp đi lấy lại mấy dinh tận Lào.
Nhân Tiêm giết một binh trào
Hai tàu chiến Pháp đổ vào Mê Nam.

Tiêm La hòa ước phải làm
Nhường Lào cho Pháp, kết cam rõ ràng.
Bồi thường hai triệu phật lăng
Những người chống Pháp hung hăng, trị liền.
 
Lập phủ thống sứ Vientiane
Cai trị địa hạt Lào đang được nhường.
Rousseau thấy việc lương ương
Tám mươi triệu mượn chi phương Bắc Kỳ.

Đinh Dậu, Rousseau ra đi
Doumer thay chức, định vì thuế nha.
Cho độc quyền muối, rượu, nha
Bỏ Nha kinh lược, xoay qua mượn tiền.

Canh nông, công nghệ mọi miền
Hai trăm triệu mượn mở liền hỏa xa.
Nhâm Dần, Doumer về nhà
Toàn quyền tổng đốc mới là Beau.

TỔNG KẾT
Việt Nam sử lược ban đầu
Đến đây tạm dứt hạ hầu tiếp chương.
Chép sử như dệt vải thường
Dệt xong mới biết tận tường đẹp hư.

Việt Nam tấm sử công tư
Còn dài dằng dặc cũng như sợi tằm.
Khỏe mạnh, vải dệt mới chăm
Bệnh đau, bỏ dở như tầm ngán dâu.

Tương lai hay dở về đâu
Người bản quốc biết đuôi đầu nhẫn thân.
Học tập những cái ta cần
Tương lai kỳ vọng phước phần một mai.

Văn hóa ta kém chi ai
Tiềm năng hiếu học miệt mài mới thông.
Noi theo chí khí cha ông
Dệt thêm giai đoạn sử hồng gấm hoa.

Điều nên cần tránh tiêu pha
Những gì hủ bại hại nhà, bỏ đi.
Nhân cách đừng lẫn lộn chi
Đồng tâm hiệp lực cái gì cũng xong.

Thái lai, bỉ cực hưng vong
Tuần hoàn tạo hóa đã đong cạn đầy.
Đại đồng chi thể mà hay
Lương hữu dĩ giã đến ngày sấm tan.
 
Sử xanh viết dưới trăng vàng
Khúc ca suy – thịnh vô vàn đắng cay.
Xuân về trên những bàn tay
Dệt đêm xanh sử, bớt ngày héo hon.

Ai người nhớ nước, thương non
Mở trang lịch sử gọi hồn cố hương!

CHUNG
(Trọn cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim).
Mục lục:

  1. Lời mở
  2. Việt Nam sử ca:

Quyển I: Thượng cổ thời đại
Chương I. Họ Hồng Bàng
Chương II. Nhà Thục
Chương III. Xã hội nước Tàu
Chương IV. Nhà Triệu

Quyển II: Bắc thuộc thời đại
Chương I. Bắc thuộc lần thứ nhất
Chương II. Trưng Vương
Chương III. Bắc thuộc lần thứ hai
Chương IV. Nhà Tiền Lý.
Chương V. Bắc thuộc lần thứ ba
Nước Tàu về đời Ngũ Qúy
Chương VI. Kết qủa của thời đại Bắc thuộc

Quyển III: Tự chủ thời đại
Chương I. Nhà Ngô
Chương II. Nhà Đinh
Chương III. Nhà Tiền Lý
Chương IV. Nhà Lý
Chương V. Nhà Lý (tiếp theo)
Chương VI. Nhà Trần (Thời kỳ thứ nhất)
Chương VII. Giặc nhà Nguyên – I
Chương VIII. Giặc nhà Nguyên – II
Chương IX. Nhà Trần (Thời kỳ thứ hai)
Chương X. Nhà Trần (Thời kỳ thứ ba)
Chương XI. Nhà Hồ
Chương XII. Nhà Hậu Trần
Chương XIII. Thuộc nhà Minh
Chương XIV. Mười năm đánh Tàu
Chương XV. Nhà Lê

Quyển IV: Tự chủ thời đại
Chương I. Lịch triều lược kỷ
Chương II. Nam triều – Bắc triều
Chương III. Trịnh – Nguyễn phân tranh
Chương IV. Sự chiến tranh
Chương V. Công việc họ Trịnh làm ở ngoài Bắc
Chương VI. Công việc họ Nguyễn làm ở miền trong
Chương VII. Người Châu Âu sang nước Việt Nam
Chương VIII. Vận trung suy của chúa Nguyễn
Chương IX. Họ Trịnh mất nghiệp chúa
Chương X. Nhà Hậu Lê mất ngôi vua
Chương XI. Nhà Tây Sơn
Chương XII. Nguyễn vương thống nhất nước Nam

Quyển V: Cận kim thời đại
Chương I. Thế tổ
Chương II. Thánh tổ
Chương III. Thánh tổ (tiếp theo)
Chương IV. Hiến tổ
Chương V. Dực Tông
Chương VI. Tình hình nước Nam cuối thời Tự Đức
Chương VII. Nước Pháp lấy Nam kỳ
Chương VIII. Giặc giã trong nước
Chương IX. Quân Pháp lấy Bắc Kỳ lần thứ nhất
Chương X. Tình thế nước Nam từ năm Giáp Tuất về sau
Chương XI. Quân Pháp lấy Bắc Kỳ lần thứ hai
Chương XII. Cuộc bảo hộ của nước Pháp
Chương XIII. Chiến tranh với nước Tàu
Chương XIV. Loạn ở Trung Kỳ
Chương XV. Việc đánh dẹp ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ
Chương XVI. Công việc của bảo hộ
Tổng kết
(đón đọc “Việt Nam lục bát sử 2 tiếp theo cho đến nay).
 
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
65 Nguyễn Du – Hà Nội
Tel&Fax: (043) 8222135.
Email: nxbhoinhavan@hn.vnn.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản:
PHẠM TRUNG ĐỈNH
Biên tập: TẠ DUY ANH
Bìa: Họa sĩ VĂN SÁN

Quảng cáo/Rao vặt

%d bloggers like this: