Trời cao trêu nhử chén xanh êm

Biển đắng không nguôi nổi khát thèm.

Những lúc môi ta kề mộng thắm

Trời ơi, ta muốn uống hồn em!

Mãnh liệt quá! Bệnh yêu điên, yêu ngấu nghiến như đồ ăn, thứ uống kiểu này thì thuốc đắng ngó bộ chẳng dã tật được chàng này! Trước đó, chàng quăn đã ”hôn” ngấu nghiến như thế:

Hôn em nước mắt chảy ròng;
Em ơi! Như ngọn đèn chong vẫn chờ.
Em hôn anh suốt một giờ
Anh hôn em mấy cho vừa lòng đau.
…Hôn em ngàn thuở chưa xuê
Ấp yêu da thịt, gắn kề tâm linh.

Yêu giục giã, yêu vội vàng, hối nhanh lên… cũng chỉ để… hưởng một nụ hôn. Hôn ”ngàn thuở” nghĩa hôn chung thủy rồi còn gì! Chưa có ai hôn mà lâu lơ, lâu lắc như cha này! Nghẹt thở đến nơi!

Thiết tưởng, người đời thường mang nụ hôn ra cười cợt, hời hợt. Đụng chút là hôn. Hôn ban phát. Hôn thưởng thí. Hôn giao kèo. Hôn lấy le. Hôn xã giao. Hôn bù lỗ. Những nụ hôn này đến bao giờ mới làm người trong cuộc ”nước mắt chảy ròng”? Nụ hôn như ”ngọn đèn chông vẫn chờ” sẽ tắt khi cạn dầu nhưng nụ hôn sẽ là vĩnh viễn khi tim người là ngọn đèn mà tình yêu là loại dầu chong không bao giờ cạn kiệt. Đem ngọn đèn ví với tình yêu xem ra khập khiễng nhưng bù lại, trong so sánh khập khiễng là một sự đối lập giữa cái hiện hữu là vật thể nhìn thấy rõ ràng (đèn) với cái ẩn hình là thứ không nhìn thấy được (tình yêu) để nói lên một giá trị tình yêu chỉ có khi lòng mình có lửa đèn sáng soi. Ngọn lửa đèn trong lòng có tình yêu (ngoa dụ) ”hôn ngàn thuở” thì làm sao mà tắt? Tuyệt!

Nếu cuộc đời có những ước mơ mà không dễ tới tay mình thì mình lại phải biến mình vào một vật thể khác để ước mơ tồn tại. Nụ hôn mà chàng quăn ước ngày, mơ đêm đã hóa thành con sóng biếc:
Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng.

Một lần khiêm tốn “không xứng” bằng “bốn mươi lần tự kiêu” để nhỏ nhẹ:

Anh xin làm sóng biếc.

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ thật êm.

Hôm êm đềm mãi mãi.

(Biển )

Chàng tham lam này xin được “làm sóng biếc” tưởng chỉ “hôn” thôi ai dè không dừng lại: “Như nghiến nát bờ em, tan cả đất trời. Như hôn mãi nghìn năm không thỏa”. ”Biển” của Xuân Quỳnh với những con sóng tình yêu tìm về bờ cát, êm dịu hơn như một quy luật tự nhiên bất di, bất dịch:

Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ.
Sóng hôn bờ dịu dàng của Xuân Quỳnh khác với cái hôn ác nghiệt của Xuân Diệu: Nụ “hôn” đang dịu dàng làm sao! Cái “bờ cát trắng” chưa kịp lim dim cảm nhận, đón lấy hết sự êm ả này thì lại… “Á” mất hết cảm giác vì bỗng đâu ngón “cẩu sực xí quách”… phập! “Cắn” rồi “nghiến nát“! Chao!

Dã man dòng họ dã tràng

Không điên sao nghiến nát bờ vàng em?

Không có ai yêu mà điên cắn, điên nghiến như Xuân Diệu và cũng chẳng có ai “hôn” mà hôn nhiều, hôn đi, hôn lại như thằng cha Xuân Diệu. Có người yêu, yêu kiểu này… khiếp quá đi! Mình may mắn mà còn không chịu khấn:

Cúi xin đức Phật từ bi

Cho con lấy đại thằng già chín lăm!

Đêm khuya lỡ bị nó… quằm

Chỉ bằng cái “lợi” có nhằm nhò chi!!

“Phụ bản” cho Xuân Diệu với chiếc hôn “kinh thiên động địa” còn có một Trần Dạ Từ trong “Nụ hôn đầu”:

Lần đầu ta ghé môi hôn

Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang.

Trên môi ta, vạn đóa hồng

Hôn em trời đất một lòng chứa chan.

Một cái hôn đầu chao! Thiệt dễ thương quá đổi nhưng cũng thuộc loại tham lắm! Mỗi nụ hôn được ví một đóa hồng mà chàng Từ này được tới “vạn đóa hồng“. Nói cho cố! Mới ghé môi hôn thôi mà những con ve đã khiếp hồn còn “hôn vạn cái” nữa cả bầy chồn… lăn quay, chết!

Trở lại hình tượng nhân hóa của Xuân Diệu: Chàng là biển, là sóng. Nàng là bờ cát trắng, là bờ để chàng:

Như hôn mãi ngàn năm không thỏa

Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

Tạo sao hình tượng đã có mà không chịu đưa vào câu cho có chủ ngữ mà lại đưa từ so sánh “như”, từ chỉ mục đích “bởi” vào đầu câu làm câu thơ “không mặn mòi” cho lắm. Sao không chịu viết:

Sóng hôn mãi ngàn năm không thỏa

Biển yêu bờ lắm lắm, em ơi!

Chủ ngữ Sóng, Biển chỉ tính chất vĩnh cửu của tự nhiên: Sóng biển, bờ sẽ muôn đời có nhau. Chúng đã có trước loài người và vẫn có thể tồn tại khi chẳng còn con người nữa. Tình yêu giữa người và người dẫu có “thương xanh cả trời và yêu tím cả núi” mà non đã cạn thì đá cũng mòn thôi!

Cái hôn của Xuân Diệu là cái hôn bất tử nếu đặt hai chủ ngữ Sóng và Biển vào đầu câu thơ trên. Chúng có giá trị nhất định là tăng thêm mức độ “khẳng định” cảm xúc vô biên: Hôn mãi ngàn năm! Xuân Diệu “hôn mãi ngàn năm” không thỏa thì Trịnh Công Sơn cũng “ru mãi ngàn năm” không chán. Hai hình tượng, hai con người tài hoa một thơ, một nhạc như hai ngã rẽ bổ sung vào dòng sông tình yêu một hương vị hết sức dịu dàng nhưng không kém phần nồng nàn thiết tha kêu gọi ai đó có thêm “ngàn năm” nữa thì hãy tự mình tìm một ngã rẽ cho mình vào dòng thơ mẹ!

Tình yêu là nguồn cảm hứng vô tận với dòng đắng cay, ngọt ngào chảy vào thơ ca với những lớp phù sa mà qua sự gạn lọc của thời gian, chúng theo năm tháng sinh sôi, nẩy nở thay thế cho những gì già cỗi như một quy luật của cuộc đời, của tạo hóa bất di, bất dịch! Có trùng phùng vẫn phải có biệt ly. Dòng thơ Xuân Diệu trong “Biệt ly êm ái” mà lại không “êm ái” chút nào:

Chúng tôi ngồi vây phủ bởi trăng thâu

Sương bám hồn, gió cắn mặt buồn rầu.

Cứ nhìn nhau rồi lại vẫn nhìn nhau

Hạnh phúc ngừng giữa đôi trái tim đau.

Cảnh đêm khuya lơ, khuya lắc không nỡ rời nhau qua một loạt danh từ tả cảnh “trăng thâu, sương gió“. Từ “bám” rơi xuống “bám hồn” cho “gió cắn mặt” không cần thêm từ “buồn rầu” thì chúng cũng tự nói lên được cái cảm giác lạnh lẽo, buốt giá cố tình bám víu bởi hai tác nhân: Tác nhân từ bên ngoài là cái lạnh của đất trời. Tác nhân từ bên trong là cái cảnh chia tay. Chia tay kiểu này sâu lắng quá, đắng lòng quá rồi còn gì! “Không có nỗi đau nào đau nhất bằng nỗi đau mất mẹ. Không có nỗi buồn nào buồn nhất bằng buổi chia tay người yêu!”. Nguyễn Ánh 9 đã phải kêu van trong nhạc khúc “Đêm mai ai đưa em về”:

Thời gian ơi! Xin dừng lại

Cho đôi tình nhân yêu trong muộn màng đừng khóc ly tan.

Xuân Diệu kêu không được nên “cứ nhìn nhau rồi lại nhìn nhau“. Ở ngoài đời, những cặp tình nhân chia tay trong mưa, trong hoàng hôn, trong nước mắt thì không thiếu những lời dặn này, dặn nọ: “Đừng hôn ai, đừng đi với ai ngoài anh, em nhé…”. Bởi một lẽ, họ cũng tin “người ra đi rồi sẽ quay về” và ngày hội ngộ sẽ có nên cái hạnh phúc vẫn trôi. Ngược lại có những buổi chia tay tình đầu, tình cuối, tình… mà không có ngày trùng phùng (hiếm hoi) thì sẽ thê thiết hơn bao giờ hết! Cả hai đều “nghẹn”, chỉ có thể như Xuân Diệu “nhìn nhau rồi lại vẫn nhìn nhau” rên xiết trong lòng như Thái Can:

Anh biết em đi chẳng trở về

Dặm ngàn liễu khuất với sương che.

(Anh biết em đi)

Chia tay trong im lặng mới là cách chia tay sâu sắc nhất vì nói chi nhiều chỉ “lời nói gió bay“! Lưu Trọng Lư trong “Một mùa đông” cũng vậy:

Nhìn nhau buồn vời vợi

Có nói cũng không cùng.

Thật vậy:

Năm nay xuân còn trở lại

Người xưa không thấy tới.

Nên cái chia tay đau xót “không cùng.”

Nguyên Sa trong “Tiễn biệt” cũng rất đau trong lặng lẽ:

Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ

Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

Ý “lòng tiễn đưa lòng”, “tôi đưa tôi” quá hay. Đỗ Phủ trong “Xuân vọng” đã viết: ”Hận biệt điểu kinh tâm” (Biệt ly tủi hận đến chim cũng phải đau lòng). Hồ Dzếnh trong “Cảm xúc” cũng không một lời trong buổi chia tay mà vẫn thấy được lòng nhau:

Tôi biết tình cô u uất lắm

Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi.

Hoàng Trúc Ly với “Xuân về” mà:

Những người xưa đi rồi không về nữa

Em bảo anh người đi không trở lại.

Cho nên, họ đến bên nhau thật nghẹn ngào:

Ta đến bên nhau sao chùng bước mỏi

Lời sắp xé môi sao bỗng nghẹn lời.

Chàng Đinh Hùng – bản sao của Xuân Diệu trong “Bài hát mùa thu” cũng một trời xa xót:

Em đi hoài cảm một mình

Hai lòng riêng để mối tình cô đơn.

Lạnh lùng chăng gió tha hương

Em về bên ấy, ai thương em cùng?

Hai câu cuối chạy qua mắt, người viết bất giác… chạnh lòng vì sự ân cần dù chỉ trong tâm tưởng “ai thương em cùng?”. Chua chát quá, đau lòng quá! Cái “sương bám hồn”, “gió cắn mặt” của Xuân Diệu và cái “hạnh phúc ngừng trôi giữa đổi trái tim đau” như có thêm dàn hợp xướng cho cuộc chia ly. Bài thơ, có những câu thơ hay nhất về sự chia ly vẫn là “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:

Đưa người ta không đưa sang sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng.

Bóng chiều không thắm không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Một bài thơ hai mươi sáu câu, riêng bốn câu thơ đầu này là đủ một bài “Tống biệt hành“! Không đưa mà có, không thấm mà đầy gói gọn trong hai chữ “bão lòng” không cần thêm hai mươi hai câu sau. Nó hay ở chỗ: Bối cảnh tiễn đưa (đưa người, đưa ta, đưa lòng), nội tâm xáo động (tiếng sóng lòng), thời gian chiều buồn (bóng chiều, vàng vọt) không gian đầy cô đơn (hoàng hôn trong mắt) quyện lại với nhau, không tháo gỡ nổi!

Làm thơ không nói đau mà người đọc thấy đau, không nói buồn mà ta cảm nhận buồn, không reo vui mà người thưởng thức biết vui, không nói bão mà ta nghe có tiếng sóng: Ấy mới là tuyệt đỉnh của người cầm bút. Cái chất liệu cần cho cái “đỉnh cao xuất thần” ấy vẫn không xa lạ, chúng ở chung quanh ta thôi mà sự quyết định chính vẫn là sự cảm thụ, khả năng rung động của người cầm bút.

Trong lĩnh vực chia tay, Thâm Tâm đã vượt trên hết những bài thơ, những câu thơ tuyệt vời kia. Ngoài ra, còn có một Duyên Anh rất vững thi pháp này. Sự khen ngợi trên có quá đáng chăng? Chờ thời gian xem có những “anh hùng xuất thiếu niên”.

Với bài thơ ”Tan tác” chỉ vỏn vẹn có hai câu này:

Trang tan tác vỡ toang trên cát ướt

Biển nhạt nhòa từng đợt sóng khơi xa…

Hình ảnh của cái ý gì đây? Muôn ngàn ánh trăng trên biển bị sóng dập cho “tan tác” rồi đẩy vào bờ “cát ướt” (khác với cát khô không được tiếp cận với nước biển nữa). “Từng đợt sóng” đi xa, xa mãi đến ”nhạt nhòa” tạo một hình ảnh đối lập. Sự đối lập giữa bờ và sóng, giữa sóng và trăng, giữa bờ và khơi. Trăng không tròn trên sóng, không nguyên vẹn trên cát “tan tác, vỡ toang“. “Bờ cát ướt” không bao giờ gặp được “khơi xa“. Tan tác, nhạt nhòa thêm ba chấm nữa chìm mất tăm một mối tình, một lần tiễn biệt!

Hai câu thơ, hai người viết. Họ là ai mà cũng “bóng chim tăm cá”?

Hình ảnh “bóng chim tăm cá” xưa nay vẫn là nguồn thi liệu cho thơ. Những cánh cò trong gió cũng bổ sung vào nguồn thi liệu này tồn tại mãi mãi như “phút thanh viên Xuân Diệu” đã tuyên bố:

Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào.

Vượt lên trên tất cả là tình yêu vũ trụ bao la, vô tận, vô cùng nhưng buộc kẻ si tình như Xuân Diệu… lạm phát tình yêu tham lam trong ”phải nói”:

Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ
Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần.
Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân
Đem chim bướm thả trong vườn tình ái.

…Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ.

Thơ chàng Xuân yêu như thế còn chưa đủ nên phải mượn thêm những tác nhân phụ diễn với những hình ảnh cũng đầy chim, lắm cò của thời “ngựa non háu đá“. Để trở thành một kẻ tiêu biểu cuộc sống không thể thiếu bóng dáng tình yêu, chàng Xuân đã phải lặn lội đi tìm “cái tôi”.

6. Xuân Diệu “đi giữa thiên nhiên” với những ngã rẽ tâm tình:

Trong “Lưu học sinh” (đầu đề cũng hóa búa bắt người ta phải đi tìm Lưu là gì? Chỉ là một người đi học nước ngoài mà thôi) Xuân Diệu đã đi tìm “cái tôi”:

Chàng trai nhỏ nhẹ như tôi ấy

Đi giữa thiên nhiên để kiếm mình.

Nhỏ nhắn” chỉ vóc dáng, “nhỏ nhẹ” chỉ lời ăn tiếng nói. Thế mà cậu quăn này bỏ đại vào thơ. Nếu thơ mà làm bây giờ hẳn nhiều tranh cãi. Một con người nhỏ nhắn, nhỏ bé mà đi giữa thiên nhiên mênh mông mới nổi bật, chứ một kẻ “nhỏ nhẹ” lọt thỏm vào thiên nhiên đâu gây ấn tượng gì? Người nhỏ nhẹ phải đối lập với kẻ ăn to nói lớn mới nổi?! Nhưng, nhỏ nhẹ hay nhỏ nhắn cũng chỉ là một cậu quăn Xuân Diệu mà thôi! Cậu ta “đi giữa thiên nhiên” nghe ngông nghênh lắm với sự khiêm nhường trong hai từ “nhỏ nhẹ” chỉ phẩm chất con người. Kiếm chưa ra cái “tôi” nên… chộp quách mấy con cò. Cò bay nhanh quá chộp không nổi nên… chộp tiếng cò rớt lại, hú hồn, chúng không… ị lên đầu làm… kỷ niệm:

Trong tiếng cò nay vương nắng trưa

Thu sang chim trắng vội bay ngừa.

Cổ dài rẽ biếc kêu vô định

Trở lại bên lòng sợi gió thưa.

(Lưu học sinh)

Bốn câu này đọc lên phảng phất hơi thơ Đường luật thất ngôn với lời lẽ và hình ảnh sống động đi một mạch nghe “xôm” lắm… nhưng (cái thằng phó từ ”nhưng” đáng ghét) khi “bửa ngang” thì ôi thôi một trời để nói: Này nhé: “tiếng cò” là âm thanh con cò nhả ra rồi mất tiêu trong không gian đâu có thể nào đi với “vương nắng trưa” là sắc màu tồn tại? Nên tiếng cò phải được đổi là “sắc cò” mới đi với “vương nắng”. Một đoạn thơ có hai tiếng cò (tiếng cò, kêu) thì dư ra. “Chim trắng bay ngừa” là bay làm sao? (Người ta chỉ nói chích ngừa hay ngừa bệnh, phòng ngừa…). Từ “trưa” đi xuống “ngừa” nặng nề quá thể, trái với cách bay nhẹ nhàng của chim, của cò. Lại nữa: “Cổ dài rẽ biếc kêu vô định”? Dùng từ “rẽ biếc” giết mẹ cái ý thơ hay. “Rẽ biếc” là rẽ làm sao? Vì tiếc ý thơ hay của chàng quăn nên người trò chuyện thơ mới nhảy vào làm “bác sĩ thẩm mỹ viện” (không phải thằng cha bác sĩ thuộc loại này lúc nào cũng… may mắn):

Trong sắc cò nay vương nắng trưa

Thu về, chim trắng vội bay chưa?

Cổ dài đưa tiếng kêu vô định

Bỏ lại bên mình sợi gió thưa!

Ý thơ của chàng quăn là một sự khắc khoải, chưa tìm ra một phương hướng nào mà chỉ có một phương trời vô định qua cái hình ảnh con cò bay trong mùa thu u buồn. Chim, cò không thiếu nhưng mượn chúng để nói chuyện “tâm tình” thì cũng chẳng dễ dàng. Với hình ảnh này, các nhà thơ thời Đường quả không hổ danh sư phụ.

Ta thấy cái “Hận biệt điểu kinh tâm” (Cảm động trước thời thế ấy, hoa rơi nước mắt. Thương hận cảnh biệt ly kia, lòng chim rung động) trong “Xuân Vọng” của Đỗ Phủ, cái “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên” (trăng tà tiếng quạ kêu sương) trong “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế, cái “Tích nhàn dĩ thừa hoàng hạc khứ” (hạc vàng ai cưỡi đi đâu) trong “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu là tuyệt đỉnh.

Ta đọc “Nhất điểu hoa gian minh” (gió xuân đưa tiếng Oanh ca) trong “Xuân Nhật Túy khởi ngôn chí” của Lý Bạch, câu “Lạc hà dữ cô vụ tề phi… Bội ngọc minh loan bãi ca vũ” (Nọ bãi le, kìa nơi bến hạc, giờ còn đâu tiếng ngọc chạm, chuông va) trong “Đằng Vương các tự” của Vương Bột, câu “Vọng đế xuân tâm, thác Đỗ Quyên” ( vọng đế lòng xuân Vọng đế, Đỗ Quyên gởi vào” trong “Cầm sắt“) của Lý Thương Ẩn là tuyệt vời! Thơ của người xưa sao mà ngậm ngùi, mà thoát tục đến thế!

Thời mẹ ru ta trong nôi cũng từng hát:

Chim chuyền bụi ớt líu lo

Nhằm thương quân tử ốm o gầy mòn.

Từ “líu lo” vui bắt chết mà “thương” cái nỗi gì? Thương hại cho cái người quân tử không gặp thời, còn vô định như con cò chao cánh trong thu nên “ốm o, gầy mòn“? Nếu “người quân tử” ấy là chàng Xuân tóc quăn thì cái lý do để kẻ “quân tử” này ốm o chắc hẳn vì yêu quá trời, quá đất! Bài hát “Trái tim còn trinh”- nhạc ngoại, đã giải thích dùm:

Này hỡi con tim xinh xinh

Vì yêu đương quá nên tim xanh xao, gầy còm.

Trái tim “gầy còm” chỉ là một ẩn ý thêm cho một “cái tôi” mà Xuân Diệu đi giữa thiên nhiên tìm kiếm. Tình yêu bất diệt không bao giờ “già” nhưng con người lại thấy mình già đi. Cái tôi đã lẫn vào cái ta của cuộc đời để níu kéo một thời tuổi trẻ. Sắc đẹp là niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ và “những dấu chân chim” trên mặt là nỗi buồn năm tháng của tuổi già, là “niềm đau không thể chôn giấu” của xuân thì! Chàng quăn trên đường đi tìm “tôi” đã sớm nhận thấy điều ấy nên trong“ngẩn ngơ“, chàng xuống bút:

Ta tiếc theo sau những đóa hồng

Những người con gái sớm phai bông.

Hoa nào nở mà không tàn nhưng trong tình yêu, càng né đichữ “già” bao nhiêu thì các chàng đỡ bị… dép guốc bay vô đầu bấy nhiêu. Xuân Diệu buông ra từ “tiếc” với “phai bông“, Nguyễn Tất Nhiên thành thật một cách “ngu ngơ” thả một chữ “già” xuống trong “Hai năm tình lận đận”:

Hai năm tình lận đận

Hai đứa cùng hư hao.

Hai năm tình lận đận

Em đã già hơn xưa.

Nếu được cũng nên chửi cho đã: “Hai năm tình lận đận. Anh… ngu như bận nào!!”. Thiên hạ sợ chữ “bạc đầu” hơn sợ khốn khó. Đàn bà “kinh hãi” chữ ”già”, đàn ông ngán ngẩm chữ ”suy”! Cái tôi hay cái ta gì cuối cùng cũng bị… ném vào chữ già và bị chữ “già” nuốt trọng.

Đỗ Phủ trong “Xuân vọng” đã than:

Bạch đầu trao cánh đoản,

Hồn dục bất thăng trầm.

(Ðầu bạc, xoa thấy càng lưa thưa. Coi bộ không đủ dày để cài trâm).
Đặng Dung trong “Cảm hoài” cay đắng:

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma.

(Thù nước chưa xong đầu đã bạc. Mấy độ gươm mài dưới ánh trăng).

Lê Đạt với “Gốc khế” kêu:

Người yêu anh đốm bạc.

Tóc khế xanh đầu hè.

“Đốm bạc” hay “bạc đầu” cũng:

Theo sông vào trăm sóng

Sóng như ta bạc đầu.

trong “Một thuở buồn như sông” của Hoàng Chính Nghĩa nhẹ nhàng hơn chữ “già”. Ngay cả T.T.Kh trong “Bài thơ thứ nhất” cũng “né” chữ “già” khi nói về người chồng với một từ ”luống tuổi”:

Biết đâu… tôi: Một tâm hồn héo

Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

Nhưng một số người tự nhận mình “già” với “cái tôi” xa xót, kiểm điểm cuộc đời mình như một con số không!:

Con số có tên, kiếp người có tuổi

Anh già rồi chối bỏ tên anh.

(Môi giới – Hoàng Trúc Ly)

Với Nguyễn Khuyến chữ già như một niềm riêng đắng lòng trong “Tự thuật”:

Sách vở ích gì thời buổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.

Nói gì thì nói, “già” vẫn có cái tự hào của “Gừng càng già càng cay” với những câu độc đáo:

Trăng bao nhiêu tuổi trăng tròn

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?

Người ta mấy tuổi là non

Tuổi con thêm mấy tuổi son rằng già?

Câu hỏi không cần lời đáp này đã ủng hộ cho cái hương vị cuộc đời mà “Tình yêu” là đại biểu trẻ mãi không già! Khi người ta hát, một chữ “già” lại trở thành lời tự tình, nịnh đầm ngọt nhất, khôn ngoan nhất mà cũng “thật lòng” nhất dành cho người tri kỷ:

Vẫn biết trên cõi đời tình yêu đến như cơn mơ thoáng qua…

Vẫn biết em không già đi trong lòng anh?

(Tình băng giá. Nhạc Hoa, Lê Quốc Dũng)

Chàng quăn cũng trở lại chữ già cần thiết trong ”giục giã”:

Mau lên chứ, vội vàng lên đi chứ

Em, em ơi, tình non đã già rồi.

Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi

Mau lên chứ, thời gian không đứng đợi.

Một cái nhìn của người sống hết mình với tình yêu, sống bằng tình yêu và… đói thì cũng… gặm tình yêu nhai đỡ! Vì sao phải hối vội vàng?Vì sao phải giục vội vã? Chưa thấy bình minh đã thấy trời hoàng hôn! Chưa ngắm hoa nở đã ngỡ hoa tàn! Chưa nhìn tận nhau đã biết tới ngày ly biệt! Xem ra, kẻ này chắc… bệnh trong tư tưởng nhiều hơn hưởng xuân thì! Tình non mà đã già là trái chín háp rồi còn gì!

Tóm lại, chàng không có lòng tự tin nếu không nói là… ham ăn, háu uống! Người phong lưu thì cho chàng biết cách ”hưởng thụ”. Thật vậy, các nàng như bông hoa hàm tiếu trong sương, như đóa hồng trong bình minh dậy, bóng chiều tàn, như cành Lan chỉ nở trong lòng… Điệp, như hoa Quỳnh trong đêm ngắn tàn phai! Không nhanh đi chứ, không vội vàng lên đi chứ cho đàn ông… thưởng thức thì tự mấy bà… bỏ phí tuổi xuân mấy bà đấy! Uổng! Nâng niu, quý trọng xuân sắc mấy bà thì chỉ có những kẻ biết yêu như chàng quăn mới vậy thôi đấy! Thậm chí, gã si tình Xuân Diệu cũng… rộng lượng… cho qua chỉ số nợ lút cán của mấy bà dù mấy đóa hồng này đã bay đi tìm lối mộng khác:

Anh tưởng em là của anh rồi

Em mắc nợ, anh đòi em sao được?

Từ thiện vậy còn gì hơn nữa? Cao thượng quá rồi còn gì? Trong khi đó, người đời cười như điên:

Bắt thang lên hỏi ông trời

Tiền cho gái hỏi có đòi được chăng?

Trời già dê mới nói rằng:

Tao còn mắc nợ huống chăng là… mày!

Tiền đi với tình. Tiền là lao lực. Tình là lao tâm. Một trong hai cái đó không trọn vẹn thì tình có tràn như biển Thái Bình, tiền có cao như núi Thái Sơn cũng sứt mẻ hết trơn. Thành ra, chim bay biển bắc, anh tìm biển đông! Cuối cùng, người thấu hiểu cho người là ở chỗ làm một kẻ quân tử dù bị phụ phàng, không hề oán giận:

Lòng ta là một cơn mưa lũ
Đã gặp lòng em là lá khoai.
Mưa biết tha hồ rơi hạt ngọc
Lá xanh không ướt đến da ngoài
.
Ngày mai nắng mọc, mưa rơi hết
Mặt tạnh cơn si, lòng cạn hồ.
Ta sẽ thôi yêu như đã giấu
Không hề oán hận lá khoai khô.

Vậy là mang ”tâm Phật” rồi đó! Chúc mừng người đã đắc đạo. Bỏ xuống một chữ YÊU, không giữ trong lòng một từ HẬN, coi như… phủi tay cuộc tình ta đầy ”cơn mưa lũ” để chỉ nhận tình em ”là lá khoai” như ”nước đổ đầu vịt, nước đổ lá khoai” vô cảm, vô tâm để ta rảnh rang mà… yêu người khác vì làm sao sống được mà không yêu! Hà! Cho em… già héo cho chừa em ơi!
Phải nói chàng quăn đã khôn ngoan, thận trọng với hình ảnh “phai bông” so với chữ “già” tàn nhẫn! Đó cũng là một cảm xúc trong muôn vàn cảm xúc của người mang đầy hồn thơ. Chàng thanh niên đi tìm cái “tôi” giữa thiên nhiên để rồi trở thành nhà thơ có tên tuổi hồi nào chẳng rõ. Cái “cảm xúc” của thi sĩ tất nhiên từ thiên nhiên:

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây.

Để linh hồn ràng buộc với muôn dây

Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.

(Cảm xúc)

Bài thơ này mấy chục năm trước đã bị thiên hạ “phanh thây, mổ bụng” và lũ học trò beo nào cũng phải thuộc ít nhất hai câu đầu để minh họa cho phần văn học lãng mạn bị kết án là… vô tích sự trong truyên tuyền cách mạng! Nhưng thơ mà bị ngắt để phân tích chẳng khác nào tôm sú bị bóc đầu! Cái “vớ vẩn” trên là để nói cái bay bỗng của hồn thơ. Làm thơ không “bay bỗng” thì thành… thợ thơ.

Câu: “linh hồn ràng buộc với muôn dây” đã gắn ”cái tôi” trong “cái ta” với trăm ngàn mối quan hệ xã hội. Câu “chia sẻ bởi trăm tình yêu mến” là cái Hồn” của nguyên bài “Cảm xúc“. Nó lãng mạn thật nhưng cái lãng mạn này có nguồn gốc từ tính Người. Thưởng thức Thơ không đứng trên cái nền “trăm tình yêu mến” ấy chẳng khác nào xây cái nhà lầu trên cát mà thôi! Thơ không mang đôi cánh lãng mạn thì không còn là thơ nữa mà chỉ là:

Con mèo, con chó có lông.

Cây tre có mắt, nồi đồng có quai.

Quải!

Bởi vậy, con người nặng nợ với thơ luôn đầy ắp ước mơ. Con người bình thường nặng chữ “Tham” thì ham muốn trúng độc đắc, mơ lượm được cục vàng bự bằng… đầu gối!! Con người thơ ca thoát tục, chỉ ước ao như Xuân Diệu:

Không có cánh nhưng vẫn thèm bay bỗng

Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời.

Tuy có chút vớ vẩn thật nhưng là cái “vớ vẩn” cần có của thơ ca. Một “vớ vẩn” dễ yêu không có gì mà bị dạt qua một bên, nấp một xó mà chờ nghe định tội. Sự định tội của cái ”lưỡi không xương” thì người bị tội cũng không có gì mất giá mà người định tội cũng chẳng được tiếng hay ho!

Con người không nuôi ước mơ thì nhân loại trí tuệ nghèo nàn, tâm hồn trầm mặc, sống với thời ăn lông ở lỗ, có biết đâu thiên đàng, biết đâu địa ngục! Các nhà bác học, khoa học gia, nhân chủng học, thiên văn học, vạn vật học, vật lý học… đã trở thành vĩ đại không phải đã từng nuôi ước mơ từ trong trứng nước mà ra hay sao? Càng nhiều mơ ước, càng tiếp cận với đời mới thấy mình chỉ là bé nhỏ, cái tôi bé nhỏ này của Xuân Diệu cũng từ “cảm xúc” mà ra:

Tôi chỉ là cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn lá nam châm.

Cách nói giảm khá chỉnh của “tôi” (cây kim) gặp lực hút vạn vật (đá nam châm) để ôm vào lòng cái khôn khiêm tốn bằng bốn mươi lần tự kiêu. Bởi vậy, chàng tóc… quăn bao giờ cũng “khôn” ghê gớm! Chàng quăn này không biết hồi ở phổ thông học vật lý được mấy phẩy mà thuộc lòng “Định luật vạn vật hấp dẫn” của Niu-Tơn (Isaac Newton) mang cả vào thơ… hù mấy “cây kim bé nhỏ” khác?

“Tôi đi tìm tôi” với cây kim bé nhỏ mà vạn vật hút tôi trở thành cái “ta” ưỡn ngực lên tí nữa trong “Hy mã lạp sơn”:

Nghìn thế kỷ đã theo nghìn thế kỷ

Ta đứng đây để thấy triệu mặt trời.

Tắt và nhen và phân phát cho đời

Những thời tiết tái tê hay ấm áp.

Sự oai phong hùng dũng theo thời gian “nghìn thế kỷ” gặp độ phóng đại “kính thiên văn học” nhìn thấy tới “triệu mặt trời“! Ôi chao! Một mặt trời đủ sống không nổi nếu hắn nỗi điên, triệu triệu nữa cái núi nhà mi có tồn tại để “ngóng cổ” nhìn trời đất chăng? Chàng quăn lại chen vào hai liên từ “và” trong cùng một câu thơ xem ra… dư nhưng cái ý chính là chàng đã thấy được chu kỳ hoạt động của vũ trụ, cũng sẽ thấy được loài người ấm, lạnh như thế nào! Chính hai câu dưới đây đã đẩy chàng quăn vào ”lò luyện kim” cách mạng:

Ta là một là riêng là thứ nhất

Không có ai bè bạn nổi cùng ta.

Thật ra, trên trái đất có ngọn núi nào cao hơn ngọn núi này mà không “thứ nhất”! Nghĩa thật đúng phóc còn nghĩa bóng thì cho mày cô đơn trong tù đơn côi suốt đời cho chừa cái tật kiêu ngạo. “Một” đã là “thứ nhất” rồi còn thêm “riêng” làm chi nữa thành ra ý tự tách mình khỏi tập thể cho cô đơn? Ta bỏ đời nên đời cũng bỏ ta! Chàng quăn đánh võ mồm cho cố mà cuối cùng cũng chúi mũi vào giấy viết lấy, viết để bởi “làm sao sống được mà không yêu, không nhớ không thương một kẻ nào” khi vạn vật là nam châm hút cây kim bé nhỏ!

Tình yêu sợ nhất dối trá và hờn ghen. Cuộc đời sợ nhất là sự già cỗi trong cô đơn. Khi người ta thấy buồn, đau khổ là đã thấy cô đơn đi kèm.Trong bài “Chiều” tặng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, chàng quăn bộc bạch:

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều

Lòng không sao cả chỉ hiu hiu buồn.

Cái buồn vô cớ của chàng quăn là cái buồn có cớ của chàng Kim tương tư Kiều:

Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương

Phất phơ hồn của bông hường

Trong hơi phiêu bạt còn vương má hồng.

Cái “tôi” của cánh chim giang hồ ”phiêu bạt” gặp áng mây mờ trôi phất phơ mà buồn tình. Xuân Diệu buồn tình vơ vẩn, bâng quơ. Chế Lan Viên buồn trong cái buồn “thương tiếc dân Hời” dù mình chẳng có chút dòng máu Hời nào cả! Chàng vật vã với “cái tôi” trong bài “Xuân”:

Tôi có chờ đâu có đợi đâu

Đem chi xuân lại chỉ khơi sầu

Với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

Chộp được bốn câu này, người ta vội vã bỏ vào nhóm “tiêu cực” ngay mà không thấy rằng cái tiếng kêu “vô nghĩa” lại bắt đầu từ nỗi nhớ nước đến nỗi con cuốc cuốc còn đau lòng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan trong bài thơ độc đáo ”Qua đèo ngang”:
Qua đỉnh đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
huống hồ là người trong cuộc như Chế. Cái “vô nghĩa” lại là “rất có nghĩa” của một tâm hồn yêu nước đó. Tiếng lòng này đáng trân trọng quá. Sự“khổ đau” này đáng cho ta thắp một nén hương… Cái đau của kẻ mất nước khi đem vào thơ yêu cũng đầy cái “tôi” tuyệt vọng:

Nàng hỡi nàng! Trên tay ta là mộ trống

Trong lòng ta là huyệt bỏ, với trong hồn.

(Mồ không – Chế Lan Viên)

Cho tới một Bộ trưởng Bộ văn hóa, văn nghệ từ năm 1945 và là một trong những ngòi bút xuất sắc của phong trào “Thơ Mới”, Huy Cận đi tìm cái “tôi” cũng đã long đong, lận đận:

Chàng trai gối mộng trên trang sách

Tỉnh thức, mùa xuân rụng hết hồng.

(Buồn)

Mùa xuân có chữ “hồng” là nhựa sống, là tinh hồn và điểm tựa. Xuân “rụng hết hồng” thì chỉ còn lại số không! Nhiều người nói đến chữ “tôi” để bộc lộ “cái tôi” như đang tự viết “bản kiểm điểm” (trừ những bản tự cho “điểm” nhiều hơn là “kiểm”!) nhưng không phải để “nhận tội” (có tội gì mà nhận?) mà là để tự khẳng định mình hơn. Du Tử Lê trong “Giao khúc tháng sáu” đã cho rằng:

Tôi từ đó nhỏ nhoi như châu chấu

Như cào cào vỗ cánh chả bay xa.

Lỳ đòn:

Như rêu xanh ôm đá tảng

Khinh loài người nên chọn kiếp vô tri.

Những hình ảnh: “một bóng mây, chuồn chuồn, chiếc lá, như bọ ngựa, như củi mục…” sao mà “khập khừ” y như gã “võ sĩ bọ ngựa” của Tô Hoài! Chàng Du này cũng để thời gian trôi tuồn tuột đi trong những kiếp phiêu bồng như loài côn trùng tách hẳn ra thế giới loài người và ta cho chàng làm thêm kiếp… thằn lằn, tắc lưỡi: “Chợt nhớ ra từ lâu đã già trước tuổi”!

Thế mới hay Xuân Diệu “kiêu” cho hung rồi cũng cô đơn. Chế Lan Viên “tiếc” cho cố rồi cũng tiếc trong cô đơn. Huy Cận “mộng” cho đã rồi cũng “mộng” trong cô đơn. Du Tử Lê “vô tri” chai đá rồi cũng vô tri trong cô đơn. Duyên Anh càng khẳng định nỗi cô đơn đó trong “Khai bút”:

Rượu xuân mừng chén lênh đênh

Nghìn năm sau vẫn một mình mình thôi.

Sau những yêu đương cuồng nhiệt của Xuân Diệu thì ta lại thấy chàng quay về với tiếng lòng thật của mình bằng những nỗi buồn như có cánh bay lên:

Những chiều thu góp lạnh giữa mù sương

Những đêm đông giạt bước ở bên đường.

Gió khuya khắt dậy con buồn lá uá

Sao rải rác như lệ vàng đêm nhỏ

Mưa lơ phơ như dạ khúc âm thầm.

(yêu mến)

Không gian (chiều mùa thu lạnh, đêm đông giạt bước), vũ trụ (gió lạnh, sương mù, lá úa, sao rải rác, mưa lơ phơ) bao trùm con người nhỏ bé (lệ vàng, âm thầm khúc). Đem cái số đông của tác nhân thiên nhiên để đối lập với con người chỉ một mà lại ẩn hình để nói cái ý hiện hình buồn như thu tàn, như đông lạnh như sao cô đơn như mưa lớt phớt. Tất cả cuộn lại thành khúc tình buồn! Ai hát dùm Xuân Diệu khi xót xa? Nỗi xót xa được thực tế minh chứng trong bài ”Khung cửa sổ”:

Anh có nhà có cửa
Nhưng không vợ không con
Sợ cái bếp không lửa
Sợ cái cửa không đèn.
Ôi cái khung cửa sổ,
Của kiếp anh, đời anh!
Tay em không đến mở
Thôi còn gì tươi xanh?

Có lẽ, đây là bài thơ miêu tả hiện thực cuộc sống trần trụi, cô đơn trong hy vọng duy nhất của Xuân Diệu. Khi người ta thiếu cái gì thì người ta ao ước cái đó. Phải chăng vì Xuân Diệu đã không hề có được một tình yêu bình thường chân thành nên ước mơ yêu đương trong thi nhân đã trở thành sự yêu đương thần thánh? Anh là khung cửa sổ. Mở ra hay khép lại cũng chỉ là vô nghĩa, làm sao mà ”tươi xanh” khi không có em tức là có một tình yêu thật sự ngự trị!

Cuối cùng, người si tình cũng chỉ ”ao ước” như Tế Hanh:
Nếu em chết, chắc là anh có thể
Tỏ mối tình lặng lẽ quá sâu thâm:
Anh đến nơi em nghỉ giấc ngàn năm
Ngồi điên dại sầu như cây liễu rủ.

Anh không uống, anh không ăn, không ngủ,
Anh khóc than, than khóc đến bao giờ.
Nước mắt anh lầy lội cả nấm mồ
Nhỏ từng giọt xuống thân em lạnh lẽo.

Rồi anh chết, anh chết sầu, chết héo;
Linh hồn anh thất thểu dõi hồn em.
Đời thiếu hẳn lý tưởng sống, thiếu vắng cái hương vị tình yêu, con người rơi vào hố thẳm của cùng cực cô đơn. Tình yêu chân thật là liều thuốc sống, là cái vuốt mắt êm dịu cuối cùng cho người nằm xuống không còn vướng vấn cái danh hời! Yêu và được yêu là cái “tôi” cuối cùng còn lại cho người mang theo sang bên kia thế giới!

II. Kết:

Nhận xét về thơ tình của Xuân Diệu, Lưu Khánh Thơ trong ”Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam”, Nxb ĐHSP – 2004, trang 812 có viết: ”Cái rạo rực của tình yêu trong thơ Xuân Diệu là cái rạo rực của một con người ham sống, ham yêu” nhưng xét về mặt nghệ thuật, Lưu Khánh Thơ ca ngợi thơ Xuân Diệu đạt đến chất lượng tuyệt hảo với ”những hình ảnh được trau chuốt, giọt giũa kỹ càng, câu văn giàu nhạc điệu” thì cần xem lại. Tuy nhiên, là người được coi là điển hình của phong trào Thơ Mới, ”Xuân Diệu là thành viên của Tự lực văn đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào Thơ Mới”, Xuân Diệu đã mang lại cho nền thi ca Việt Nam những sắc màu huyền diệu của tình yêu không lẫn lộn với bất cứ nhà thơ nào cùng thời đại.

Chỉ riêng ”Hai tập ‘Thơ thơ’ và ‘Gửi hương cho gió’ được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống”. (Huy Cận, tháng 4 năm 2000) (vi.wikipedia.org).

Xuân Diệu với những ngã rẽ bao gồm sáu tính cách khó phân biệt trên (kẻ thương chịu khó, người yêu đa tình, lúc tột đỉnh yêu sinh ra cắn giết và hối hận tột cùng, khi ghen say đắm nghiệt ngã, một phát ngôn cho lẽ sống yêu của cuộc đời) cuối cùng, quay về với nỗi buồn muôn năm khi đã đi tìm cái tôi vinh quang và cô đơn, cuối cùng đã đưa tình yêu từ đơn giản đến phức tạp (là yêu giữa người khác giới thính và đồng giới tính). Sự đơn giản và phức tạp này cần có trong cuộc đời vì nó đã mang hương vị tình yêu đầy sắc màu đến cho cuộc đời, cho văn học. ”Thơ Xuân Diệu là ‘vườn mơn trớn’, ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị trong Thơ Thơ, pha lẫn chút vị đắng cay trong Gửi Hương Cho Gió. Nhiều câu nhiều bài chịu ảnh hưởng từ thi ca lãng mạn Pháp” (thovn.net).

Dòng thơ tình yêu vẫn lặng lẽ trôi cho ta cái cảm giác chạm tay vào dòng nước thật mạnh mẽ và thật nhẹ nhàng, êm ái. Xuân Diệu với những ngã rẽ đã soi bóng mình xuống dòng sông và tắm mình trong dòng sông đầy phù sa này. Cát sạn, bùn đen sẽ lắng và dòng đời cứ lặng lẽ trôi…

Xuân Diệu – Trảo Nha hày chàng quăn, chàng quắn xứ Rùa đã từng say đắm và cùng với bạn thơ – những ngã rẽ tâm tình không giai cấp, không tước vị, không danh hời quên đi nỗi cô đơn trong một cuộc sống không gia đình, không con cái mà vẫn yêu, yêu tha thiết cho đến bạc đầu, yêu đắm say cho đến khi về bên kia thế giới!

Ngưỡng mộ quá! Ta bỗng nhiên ước muốn làm “bờ cát trắng” chờ từng cơn ”sóng biển” hôm nao…

Dòng thơ tình yêu với hơn bốn trăm bài – một mảng nhỏ trong gia tài thơ văn của Xuân Diệu với ca dao đi cùng dòng thơ nhạc của anh em, bè bạn “nghìn thế kỷ đã theo nghìn thế kỷ” không cô đơn!./.

Tháng 11/24/2004

Ngọc Thiên Hoa

TƯ LIỆU THAM KHẢO CÓ SỬ DỤNG:

I. Thơ: Thơ Xuân Diệu (Tuyển tập Xuân Diệu, Nxb HNV – 1983). Thơ Nguyên Sa, Nguyễn Tất NhiênBàng Bá Lân, Chế Lan Viên (Điêu tàn, Nxb HNV – 1995), Hồ Drếnh, Vũ Hoàng Chương, Quang DũngĐoàn Phú Tứ, Đinh Hùng, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hoàng Trúc Ly, Nguyễn Khuyến, Xuân Quỳnh, Thâm Tâm, Hoàng Chính Nghĩa, Du Tử Lê, Trần Dạ Từ, Bà Huyện Thanh Quan, Đỗ Phủ,Trương Kế, Thôi Hiệu, Lý Bạch, Vương Bột, Lý Thương Ẩn.

II. Nhạc và những tư liệu khác: Trịnh Công Sơn, Ngô Thuỵ Miên, Phạm Duy, Nguyễn Ánh 9, Nhạc Hoa (music.com)…

III. Bài viết, sách:

1. Lưu Khánh Thơ “Xuân Diệu…” (Từ điển, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam”, Nxb ĐHSP – 2004).

2. ”Đường thi tuyển dịch” (Trương Đình Tín, Nxb Thuận Hóa – 2003).

3. Xuân Diệu và Huy Cận là hai nhà thơ đồng tình luyến ái”, Minh Nguyệt (tienve.org).

IV. Web site đăng trích:

www.vi.wikipedia.org/ vietnamthuquan.com/ vhvn.com/ vnmusic.com/ baoanhdatmui.com/ hoahoctro.com/ vietanamsigle.com/ thovn.net/ eVan.com/ nhanmonquan.net/ ykien.net/ annonymous.online/ hoasontrang.us/ pkucn.com/ tienve.org/ chimviet.free.fe/…

Xin trân trọng cám ơn.