Khóc nghẹn ngào là tiếng khóc như thế nào? Khi ta nghe câu:

Con chim nhạn lạc bầy nhớ bạn

Tiếng nghẹn ngào vàng cả hoàng hôn.

là đã biết rằng con chim ấy đang nhớ bạn mà khóc, khóc đến nỗi mờ mắt, khóc đến nỗi “vàng cả hoàng hôn”, nghĩa là khóc hết nổi. Từ “vàng” thay từ “khóc” ở đây vì từ tiếng ”con chim” chi phối: Con chim la khản cả giọng, tiếng gào vọng tràn ngập cả bầu trời, buồn bã vì… nhớ bạn. Khóc của Nguyễn Bính từ “con người” chi phối. Khóc nghẹn ngào là tiếng khóc không phát ra âm thanh hù hụ như người ta ví ý ”khóc như cha chết, mẹ chết“. Khóc của chàng Nguyễn là khóc với tiếng nuốt hết vào trong, ít nhiều nước mắt. Đúng với tâm sinh lý học: Tuyến nước mắt đàn ông ít nhạy hơn tuyến nước mắt của đàn bà và trái tim người đàn bà yếu đuối hơn đàn ông. Như vậy, sự nghẹn ngào của Nguyễn Bính cũng khác hẳn tiếng khóc của Giang Nam khi nghe tin ”em tôi” bị giặc giết, quăng mất xác: ”Đau xé lòng anh chết nửa con người”. Tiếng khóc của Giang Nam là tiếng khóc không nước mắt vì “đau xé lòng”, lịm chết nửa người trong đó có một chữ “thù” bên trong nên câu thơ trở nên cứng cỏi. Giả thuyết được đặt ra:

Một, người làm cách mạng thì không nên khóc lóc kiểu “nhi nữ thường tình”, kiểu Nguyễn Trãi lẽo đẽo theo khóc cha Nguyễn Phi Khanh khi bị Trương Phụ bắt giải qua Ải Nam Quan?

Hai, người chết không phải là “người yêu” thật sự mà chỉ mang một thứ tình “em gái” với quê hương bởi Giang Nam không khẳng định chữ yêu em mà chỉ ”yêu quê hương” ngay cả hai câu kết bài thơ “Nghe em vào đại học”:

Nay yêu quê hương vì trong từng nấm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

Đi xa hơn chút nữa, bổ sung cho giả thuyết hai là bài: “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Hữu Loan coi người vợ hứa hôn cũng chỉ như người em gái: “Tôi thương nàng như tình yêu em gái“. Nên khi nghe tin nàng té sông, chết đuối, chàng vệ quốc quân kia không dùng chữ “yêu” mà chỉ buốt lòng vì:

Giây phút cuối không được nghe em nói

Không được trông nhau một lần.

Tình yêu có nặng “tình em gái” khó có thể nói là một tình yêu “tột đỉnh” của gào như Xuân Diệu, khóc như Nguyễn Bính, rên như Vũ Hoàng Chương, đau như Hoàng Trúc Ly, kêu như Đinh Hùng và xót như Đoàn Phú Tứ. Thơ là tiếng lòng (nhưng khi “tiếng lòng” có sự “chỉ đạo nghệ thuật” có “đường lối nội dung” thì tiếng lòng ấy chỉ là “tiếng lòng sân khấu”?). Một hình ảnh, chi tiết trang trải trên thơ qua từ ngữ chọn lọc đều phản ảnh “tiếng lòng” đó. Có những nội dung không cần nói “hoạch toẹt” vẫn dễ dàng chấp nhận, thậm chí được coi là nghệ thuật độc đáo.

Đỉnh điểm tình yêu của Nguyễn Bính là sau tiếng “nghẹn ngào khóc” mới phát hiện, khẳng định một trăm phần trăm ”quả tôi yêu nàng“. Người đọc chỉ chờ có thế, thở… hắt ra! Thế là dòng ca dao lên tiếng:

Ai buồn ai khóc thiết tha

Tôi vui tôi cũng chan hòa giọt châu!

Hỡi ơi! Thế gian này còn bao nhiêu người mượn thời gian, mượn bối cảnh mới khẳng định được chữ yêu? Khi người ta sống nhăn răng thì không “dốc hết tình này ta trả nợ… nàng” mà yêu cho đến nơi, đến chốn lại hời hợt chờ cho đến khi: “Em chết, trời ơi!” mới… đòi vuốt mắt, mới nghe tủi lòng! Người ta đã bị “tình yêu lừa” rồi “đi lừa tình yêu”. Đảo qua, đảo lại, tình yêu là con dao bào hai lưỡi, là đồng tiền với hai mặt mà khối người gieo xuống “úp hay ngửa”, “lúa hay bông”?

Đỉnh cao tình yêu của Xuân Diệu còn là những lời tự kiểm điểm và lời tự tình ngọt ngào, cay đắng bên cạnh những ngã rẽ khác tương đồng! Tình yêu sợ nhất cái gì? Bị cắn? Bị giết! Không! Tình yêu sợ nhất là sự “dối trá” mà chàng quăn ngán ngẩm: “Nói chi nữa tiếng buồn ghê gớm ấy”. Dối trá cũng là tội ác: “Em ác quá lòng anh như tự xé”. Nàng “ác” vì “nư” quá, “ăn nói vô duyên quá” (Đơn sơ – Xuân Diệu). Đó cũng chỉ là một cách đổ thừa khi người đàn ông kiếm chuyện mà thôi để rồi “tự thú trước bình minh”:

Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo

Yêu em rồi anh đã vội quên ngay.

Vậy mà mình từng cho là mình “chỉ có một tình yêu thứ nhất“! Người ta chửi mình “bạc bẽo” là thường, mình tự cho mình “bạc bẽo” mới đáng cho đi… nhà thương. Kẻ đa tình như Xuân Diệu, lời thú tội này chỉ là lời tự mãn của kẻ ỷ mình có quá nhiều tình yêu, có quá nhiều người yêu mà thôi! Nói theo kiếm hiệp của Kim Dung: ”Nhà ngươi tưởng nhà ngươi là ai đây?”. Yêu mà quên ngay là kiểu “ăn nóng, uống lạnh” kiểu “cơm nguội đỡ khi đói lòng“. Bởi vậy, ca dao vẫn thường truyền tụng:

Lưỡi không xương nhiều điều lắc léo

Miệng không vành méo mó tứ tung.

Xuân Diệu sẽ cười to mà thoát nạn vì chàng quăn này có cái miệng với vành môi rất có duyên. Nhưng chớ vội cười lâu hỡi chàng tóc quăn:

Tóc quăn chải lược đồi mồi

Chải đứng chải ngồi quăn vẫn hoàn quăn.

Quăn đi liền “điếm xảo” đó chàng! Vậy mà cái chàng “dối trá” bạc bẽo này trước khi thành “người bạc bẽo” là một chàng trai yêu hết ý. Tình yêu tột đỉnh biến chàng trai xứ Rùa thành… “thầy pháp” hô “biến” tới “biến” lui khi yêu từng cử chỉ của nàng trong “Chén nước“:

Em cho anh chén nước

Anh biến thành rượu nho.

Anh lại nâng chén nước

Mời em nhấp môi cho.

Em ơi đừng uống hết

Kẻo say chết bây giờ!

Người trò chuyện thơ bật nói:

Nếu được say mà chết bởi vì tình

Em xin nguyện mình… chơi nguyên thùng nữa!

Mô Phật! “Kỳ phùng địch thủ, tửu lượng khó lường!”. Nước thành “rượu nho” y như bà tiên có chiếc đũa thần kỳ gõ vào ly hô “biến”! Uống nước thì không thể say, chỉ đầy bụnh, không khát thì ai ngu mà uống cho bụng bể! Rượu mới làm say người. Cái men tình này sao mà đắm đuối và nàng không phải là rượu cũng làm say chết lòng ta! Thiệt thành giả, giả như thiệt: “Lộng giả thành chơn” để nói lên lời tình tự hết sức nồng nàn. Bởi “thương ai, thương cả đường đi lối về” nên chàng quăn “say” nàng khi nấu bếp, “say nàng” khi đưa chén nước, lại “say” giọng nói rất mến thương của nàng:

Em như suối mát đến soi gương

Dù ai tốt tiếng như ca hát

Cũng chẳng bằng em giọng nói thường.

Rồi chàng quăn này dùng phép “phóng đại” cho cố để nịnh đầm:

Và khi không nói, em im lặng

Anh vẫn nghe hay tựa tiếng đàn.

Hà! Chàng so sánh giọng của nàng “êm như suối mát” ngay cả những ngôi sao ca nhạc cũng nghe tiếng nàng mà… chào thua! Thế nhưng giọng em tốt như suối thiệt đó (suối chảy róc rách cũng còn ồn) hay hơn ca sĩ (ồn gấp trăm bởi ca sĩ phải luyện tập mỗi ngày). Nhưng em ơi! Em không nói anh đã nghe… hay như tiếng đàn rồi. Vậy thì lạy trời cho em “không nói”, em “im lặng” cho anh nhờ. “Im lặng là vàng” đó em! Nhắc nhở khéo quá trời quá đất! Chàng đưa nàng lên tận đỉnh núi rồi dịu dàng… thả cho nàng rớt bịch xuống chân núi thật… êm ái! Nịnh nọt là nghề của chàng:

Nói đẩy đưa cho vừa lòng bạn

Con sông Giang Hà chỗ cạn chỗ sâu.

Nếu Xuân Diệu lạy cho ”em im lặng” thì Nguyên Sa trong “tháng sáu trời mưa” cũng lạy quá chừng:

Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt

Trời không mưa anh cứ lạy trời mưa.

Té ra hai chàng mong các nàng “im đi”, “ngủ hết đi” để các nàng khỏi nhiều chuyện mà thôi! Người ta “Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm”. Còn Nguyên Sa? Chàng “lạy trời mưa” để nhìn nàng ngủ:

Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc

Sẽ nâng tay cho ngọc sát vào môi.

(Tháng sáu trời mưa)

Câu thơ với hình ảnh vuốt tóc thật dễ thương. Con gái ai mà không khoái có người yêu vuốt tóc chứ? Câu trên như vậy còn câu dưới tối nghĩa quá y như thơ“Bóng chữ” của Lê Đạt, “Cây Tam cúc” của Hoàng Cầm, hiểu không nổi. Cái gì “ngọc sát vào môi”?

Với chàng Diệu, tình yêu tột đỉnh có con ma men làm chàng săn đón, thủ thỉ bên nàng với cây quạt không chán:

Anh nằm khẽ quạt
Cho gió mát về em
Em ngủ ngon không biết
Nhưng vẫn thở êm đềm

Anh quạt cho đôi tay
Anh hằng ngày yêu mến
Anh quạt đôi lông mày
Sáu nǎm nay quyến luyến.

Bài thơ ”Quạt” này không ghi thời gian nên làm sao ta có thể… tò mò xem thử người mà chàng quăn ”sáu năm nay quyến luyến” đây? Yêu gì đến ngần ấy thời gian mà không gối mỏi chân chùn!
Anh thương khi em ngủ

Phong thái rất hồn nhiên.

Em ngủ như trẻ nhỏ

Ngon say một giấc liền.

Chàng sử dụng luôn hàng loạt động từ của kẻ làm hoàng tử gát đêm nào “canh, thức, lắng nghe” nàng ngủ và ao ước:

Anh vô cùng sung sướng

Nếu em mơ thấy anh.

Hình ảnh người con gái ngủ trong “Ngậm ngùi” của Huy Cận (Phạm Duy phổ nhạc) là đầy chất thơ hơn hết:

Nắng chia nửa bãi chiều rồi…
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau;
Em ơ!! Hãy ngủ… anh hầu quạt đây.
Lòng anh mở với quạt này;
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ…
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ…
Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi…

Nếu Nguyên Sa “vuốt tóc”, “nâng tay”; Xuân Diệu “canh, thức, lắng nghe” thì Huy Cận lại… phe phẩy cây quạt mo… ru em! Hình tượng “tựa đầu” vào tay nghe “trái sầu rụng rơi” là hình tượng đầy chất suy nghĩ. Ngủ ngon thế sao lại nghe sầu? Tình không đến được mới làm người ta sầu đau. Cái tên “ngậm ngùi” đã tóm gọn hết cái ý của bài thơ rồi: Huy Cận được yêu mà đau, mà sầu! Nếu tình không hấp hối, tình không trăn trở, tình không tan vỡ ai đau mà làm gì! Gỡ không ra cách nên “con nhện” (”nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?”) xuất hiện với cái ý lòng rối như tơ nhện, rối như bòng bong, rối như canh hẹ! Hỡi thế gian, tình là cái chi chi? Dân gian nói:

Buồn như tiếng cú ban đêm

Sầu như tiếng nhạn lạc bầy kêu sương.

Nghe ra, ca dao đã thê thiết mà thơ ca cũng da diết vô cùng! Yêu tha thiết nên xa mới nghe đau thương. Cũng có loại yêu mãnh liệt mà xa dễ dàng nên mới thêm cái câu:

Càng thắm thì lại càng phai

Thoang thoảng hoa lài, lại được thơm lâu.

Hình ảnh “người đàn ông bạc bẽo” mờ đi khi hình ảnh chàng trai yêu với ”tột đỉnh nhớ thương” đã tới:

Áo em để lại dáng hình

Treo lên mắc áo cho mình thấy thương.

Áo em ngày nhớ đêm thương

Áo em chín nắng mười sương anh chờ.

Thành ngữ “một nắng, hai sương” đi vào dòng lục bát của Xuân Diệu đã thành “chín nắng, mười sương“, tuyệt cú mèo! “Một nắng hai sương” đã quá khổ rồi mà chàng chơi luôn “chín, mười” nữa nghe ra chàng quả là người nặng tình với “cây đa bến cũ con đò… khác xưa“! Không gian (thương, chờ) vô bờ, thời gian (đêm, ngày) vô tận qua cái hoán dụ (áo em là em) như một kiểu “xếp tàn y tìm chút hương thừa” sao mà da diết! Thôi đi! Còn không chịu lôi áo xuống ôm mà ngủ, treo làm gì? Nào ai ”trách người quân tử đa tình” mà sợ quê?

Cũng chiếc áo để lại “dáng hình” ấy mà Nguyên Sa trong “Tuổi mười ba” đã ngơ ngẫn:

Áo nàng vàng, tôi về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh, tôi mến lá sân trường.

Khác nào mang bệnh “tương tư màu sắc”! Hoa cúc thường nở vào mùa thu. Lá xanh chỉ có ở mùa xuân. Tình yêu của chàng gián tiếp qua bông hoa cúc – lá sân trường – là tình yêu học trò hồn nhiên có chiều dài theo năm tháng theo mùa mà lớn lên. Tuổi mười ba như vậy là quỷ lắm. Không có ai chơi khăm, xúi nàng của Nguyên Sa mặc áo màu… đen chắc dám chàng cũng chơi luôn: “Áo nàng đen, anh về yêu… con quạ!!” hay “anh về yêu quách chú… ngựa ô”!! Còn nếu nàng không mặc áo thì… trời trời… kẻ trò chuyện sẽ nhảy vào “gỡ rối tơ lòng thòng” của chàng:

Áo nàng đen, anh về yêu… con quạ

Nàng… không áo, anh về yêu… Eva.

Không biết từ hồi nào chú em Sa học cách “nịnh đầm” của ông anh Diệu trong “Áo lụa Hà Đông” tương thông, tương cảm:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.

Bài thơ được phổ nhạc bởi Ngô Thụy Miên và chiếc áo lụa Hà Đông trở thành biểu tượng cho áo dài của người phụ nữ Việt Nam làm sây mê cả thế giới. Tài thế!

Với Xuân Diệu, chẳng thơ mộng như Nguyên Sa yêu sắc màu của áo em mà tình yêu chàng quăn như những cánh hoa tàn tạ trong sa mạc hoang liêu và chàng si tình này cũng định nghĩa hai chữ Tình Yêu coi như… mù tịt trong bài ”Yêu”:

Yêu là chết trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà đã được yêu.
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu;
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết

Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.
Tưởng trǎng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
Yêu, là chết trong lòng một ít.

Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt
Những người si theo dõi dấu chân yêu.
Và cảnh đời là sa mạc cô liêu.
Và tình ái là sợi dây vấn vít
Yêu, là chết ở trong lòng một ít.

Bài thơ ba khổ vậy mà chỉ điệp ngữ ”yêu là chết ở trong lòng một ít. Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu” làm thiên hạ… nuốt trọn để phát ra khi bị… thất tình! Xem ra, chàng quăn cũng là… quân sư trên trận chiến tình yêu tốn nhiều giấy mực mang vào không được, rứt bỏ chẳng xong! Vậy mà trước đó, chàng còn phơi phới trong ”yêu mến”:

Một phút gặp thôi là muôn buổi nhớ
Vài giây trông khơi mối vạn ngày theo
Mộng bay chơi nhằm một buổi trời chiều
Gặp tóc biếc: tưởng sắc ngày xưa nở!
Mới gặp ”một phút”, mới trông ”vài giây” mà đã như… chết trong trận tình. Người ta dùng phương pháp phóng đại để… nói dóc thiệt không sai khi chàng quăn cũng sử dụng chiêu này tung vào khuấy sóng yêu cho thiên hạ… phục chơi! Nhưng hoa nở, hoa tàn ấy mà. Luật tạo hóa có sinh tất có diệt và cuối cùng, những đắm say trong cung trầm tưởng ấy lại là một dấu hỏi to đùng rớt xuống đời ô trọc, không làm sao lý giải cho kiếp đa tình mà chàng quăn đã đầu hàng vô điều kiện trong ”Vì sao?”:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu …

Cô hãy là nơi mấy khóm dừa
Dầm chân trong nước, đứng say sưa,
Cho tôi là kẻ qua sa mạc
Tạm lánh hè gay; thế cũng vừa

Rồi một ngày mai, tôi sẽ đi.
Vì sao, ai nỡ hỏi làm chi!
Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá,
Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.

Những “mày thanh, mắt lá liễu” trong thơ Xuân Diệu qua những từ ám chỉ phái yếu như nàng, cô thì ta cứ tin rằng ”thái giám Xuân Diệu” thật ra cũng chỉ là tin đồn nhảm trong muôn vàn tin đồn của ngày ”Cá tháng tư” Việt Nam mà thôi!

Đa tình, yêu tột đỉnh của Xuân Diệu kết lại:

Ngươi si muôn kiếp là hoa núi

Uống nhụy lòng tươi tặng khách hờ.

(Gởi hương cho gió).

Cùng với những ngã rẽ khác, thơ tình Xuân Diệu mở ra cho một tư tưởng mà tình yêu cũng rất sợ sau cái “dối trá”.

4. Xuân Diệu với những ngã rẽ “ghen”… say đắm!

Tình yêu sợ nhất là dối trá và ghen.

Ghen của Hoạn Thư trong Kiều ai cũng biết: “khôn ngoan hết mực, nói năng phải lời” khiến cho Kiều định đập một trận cho biết tay mà cũng chỉ: “Giơ cao đánh khẽ”. Đàn bà khôn ngoan cỡ Hoạn Thư hiếm có nên đàn bà “ghen” ác chiến là nhà tan, cửa nát, dao lam, muối ớt kè kè thấy ghê! Những câu văn nào, hình tượng nào trong văn học xấu nhất, hạ cấp nhất thậm chí “bịa ra câu chuyện thật đen”, các bà gom hết… thảy cho tình địch. “Ghen” là chuyện bình thường của đàn bà vậy mà, đàn ông cũng nhào vô… ghen. Ghen túi bụi có. Ghen ngấm ngầm có. Ghen trực tiếp, gián tiếp đều có hết. Ghen của đàn ông thường… vô duyên vì không thèm nghe ai giải thích. Đời thường ghen. Văn thơ lẽ nào không có một khoảng trời cho cái ghen đó chớ?

Nguyên Sa với những dòng thơ đầy nốt nhạc gắn với những tên tuổi Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Song Ngọc… cũng không thoát khỏi cái ghen qua sự cáu kỉnh khi để nàng mặc chiếc áo dài mượt mà cho thiên hạ chiêm ngưỡng rồi nổi cơn giận:

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết

Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu.

Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau

Để anh giận, mắt anh nhìn vụng dại…

Anh sẽ chép thơ trên thời gian

Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen

(Paris có gì lạ không em)

Giận quá… “mất khôn”. “Chép thơ trên thời gian” là chép làm sao? Thời gian không mỏi mệt, đi hoài không bến đỗ y như một thách thức một sự liều mạng đuổi theo thời gian cho tình thơ kết trái… ghen! Ghen kỳ quặc!

Nguyễn Bính với sức vóc mảnh giẻ như con gái nhà… tàn mà cũng bày đặt ”ghen”:

Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười.
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi.

Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
Đừng hôn dù thấy cánh hoa tươi.
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay biển lắm người.

…Nghĩa là ghen qúa đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu qúa mất rồi.
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi.

Tôi muốn” của Nguyễn Bính là cái tôi ích kỷ nhưng dễ thương của tình yêu. Nó không giống cái ”tôi muốn” được hòa mình ”tìm đến thiên nhiên” để được thấy ”tình yêu ban đầu” như của Lê Hựu Hà bao la, trong sáng đầy nhân bản cho một kiếp người!

Xuân Diệu với cái ”Ghen tuông nhìn chạnh gió chen cây. Chim lẻo không im. Liễu cứ gầy” trong ”rạo rực” lại ra chiêu ghen độc đáo hơn trong “Bên ấy bên này“:

Bởi vì ta có được em đây

Tay kia sẽ ấp nhiều tay khác.

Môi ấy vì ai sẽ đượm màu

Họ sẽ yêu em với cánh tay

Và em yêu họ đến muôn ngày.

Người ta thường nói: “Chớ lấy bụng tiểu nhân để đo lòng quân tử“. Xuân Diệu đâu có “lấy bụng” mà lấy… cái đầu đầy đặc yêu đương, yêu cả ma khi chết để lú lẩn nghĩ… tầm bậy. Suy diễn hay gọi là thước phim tự mình viết kịch bản rồi kiêm luôn đạo diễn và bức bách người ta làm diễn viên! Suy diễn là một phương cách “động não” tốt nhưng diễn giải lan man, sang tận miền đất cấm, hủy hoại cái chất xám mà thiếu nó, con người trở thành thời nguyên thủy. Với chàng quăn, chàng ta không “được em đâu” vì:

Một, nàng không yêu chàng. Không yêu, ai lại “cho” đâu bao giờ!

Hai, nàng yêu chàng nhưng ba cái “lễ giáo” phong kiến hoặc vì nàng quá “tự trọng” mà không chịu “trao ra” trước hôn nhân!

Thế thôi, đơn giản như vậy mà làm bộ không hiểu còn nghĩ xấu cho nàng. Đại danh từ “họ” số nhiều, độc địa, phụ trợ cho “nhiều tay khác” hoán dụ, ám chỉ nàng “tiếp” cả đống thằng đàn ông! Ghen đến nổi ”tầm thường hóa” người yêu! Hoặc giả “họ yêu em” và “em yêu họ” thì còn “ghen” cái nỗi gì mà không chịu chúc phúc cho họ! Chung quy lại, ghen bậy chỉ làm người ta đánh mất sự cao thượng cần có để nuôi dưỡng tình yêu mà thôi!

Xuân Diệu “ghen bậy” không nói gì, ca dao cũng “ghen hờn” vô duyên nữa:

Đến ta mới biết của ta

Trăm nghìn năm trước biết là của ai?

Ghen hờn, dằn vặt làm chi cái quá khứ của người ta mà không chịu đồng ý, chấp nhận cái hiện tại. Đó chính là sự ích kỷ, nhỏ nhen. Ai ghen, ai dằn vặt mình mà mình làm tình làm tội người khác chớ! Nàng của Xuân Diệu bị quấy nhiễu, bị xúc phạm quá nên, bực mình, bực thét rồi chút tình còn lại cũng biến mất:

Không tăng âu yếm trong câu nói

Trong mắt còn nguyên vẻ hững hờ.

(Bên ấy bên này)

Trong “muộn màng“, cái ghen trẻ con biến mất nhường chỗ cho sự năn nỉ:

Anh biết yêu em đã muộn màng

Nhưng mà ai cưỡng được tình thương.

Ngậm ngùi tặng trái tim lưu lạc

Anh chỉ xin về một chút thương.

Ghen bậy cho đã rồi đi xin xỏ “một chút thương” là cách nói giảm “rộng rãi”: Đem tặng nguyên trái tim nặng ít nhất vài trăm grams để xin về “một chút” không biết nặng bao nhiêu! Không ai đi ban bố tình thương cho một kẻ cầu cạnh vì yêu là sự đồng hành của hai con tim chư không hề là sự ban phát cho kẻ tiếp, người nhận. Người đàn bà kiêu ngạo không thích yêu loại đàn ông yếu đuối nhưng cũng không làm cho người đàn ông kiêu ngạo yêu. Kiêu ngạo quá giết chết tình yêu ngay khi còn trứng.

Trái tim vô hình nhưng vẫn biết tự tìm nhau không ai cưỡng ép được. Yêu bao giờ cũng chỉ là mới bắt đầu nên không thể nói “muộn màng”! Ai biết được chàng quăn này “được yêu” quá rồi trở nên sinh chuyện tìm cách nói giảm để khiêm tốn nhận cái phần quá nhiều làm cho người ta nghĩ rằng chàng là một con người dễ mũi lòng, đáng thương biết chừng nào với “một chút thương” của “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” mà Hồ Xuân Hương mai mỉa chua chát? Đã yêu lỡ như:

Chuồn chuồn mắc phải nhện vương

Đã trót quấn quít thì thương cho cùng.

Mấy trăm bài thơ của Xuân Diệu ít có bài với những lời “khiêm tốn” như vậy. Toàn bộ là giọng thơ yêu dữ dội, thương mãnh liệt và “ác” cũng khét tiếng ghen cũng ác nhơn với những ý nghĩ quái dị:

Có khi vò một cành hoa

Bỗng lên hương mới như là đậm sâu.

Muốn cho em khổ, em phiền

Đánh em đau để bắt đền sầu anh.

(Đánh em đau)

Người ta quan niệm: “Cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa” để nói lên một ý thận trọng pha chút mỉa mai. Trứng thuộc loại dễ vỡ, hoa dễ bị dập nên mới “cưng” mới “hứng”. Sự so sánh không có vế so thứ nhất mà chỉ có vế bị so thứ hai. Cưng cái gì? Hứng cái gì? Ai đi “vò”?

Trở lại nghĩa thật: Với “hoa”, ta có thể chiêm ngưỡng gần, xa (tùy mắt cận hoặc viễn thị nữa!!). Xuân Diệu chơi… ngông, nhào tới, bẻ đầu xuống… vò cho khác người ta! Động từ “vò” mắc dịch này đã nặng nề, còn ác hơn “bóp”, “xé”, “đập”… để làm cho hoa tan tành mà “dậy hương” cho thi sĩ ác này… ngửi chơi!

Dừng ở đây, ta nói thêm về cái hoa “lên hương” của Xuân Diệu khi “vò”. Có loại hoa “hữu xạ tự nhiên hương” như hoa bưởi, hoa trà, hoa sứ, hoa hồng… thơm tự nhiên còn những hoa khác chỉ để ngắm nhìn hơn để ngửi. Trên thế gian này người có cái “hữu xạ tự nhiên hương này” chỉ có một Hương Phi đời nhà Thanh (Càn Long Cao Tông hết lòng sủng ái còn là huyền thoại) mà thôi! Chính vì nàng phi tần có mùi thơm kia làm cho Kim Dung vội vã đưa nàng vào tình sử trong ”Thư Kiếm ân cừu lục”.

Như vậy, Xuân Diệu bắt người yêu “vò nhàu” để dậy hương mà hưởng thụ sao mà ác mà phi lý quá! Nhưng ta cũng biết chàng quăn này chỉ “võ mồm”. Hoa nào chàng ta chọn để “vò” đây? Hoa sứ thì mủ nhiều, hoa lài, trà, bưởi nhỏ xíu mắc công vò cả nắm. Chàng này “ăn nóng, uống lạnh” chỉ có thể chọn hoa hồng. Hồng nào cũng thơm ngào ngạt, càng nát càng thơm.

Xuân Diệu không sai nhưng dùng từ “cành hoa” thì phải coi lại. Cành hồng luôn có gai nhọn đó! Xời ơi! Có điên như Hàn Mặc Tử lúc cuồng cũng đố mà dám vò cành hoa gai! Có cắn sọ người như Chế Lan Viên khi ngông cũng không dám nhào vô mà cắn cành hoa gai! Xuân Diệu quả liều mạng cùi. Chưa nói “cành hoa” chắc gì có hoa trên đó? Không có hoa thì vò cành hoa làm sao mà “lên hương”? Hà! Chàng quăn đã từng ảo thuật cho chén nước thành rượu nho thì tại sao không “úm ba la” cho cành hoa có hoa chứ hả?

Lúc này, ta mới thấy: Ngôn ngữ thơ cần phải chắt lọc. Người làm thơ làm lúc nổi hứng, cảm hứng hay vì gì đi nữa thơ với chữ chạy ra ào ào nhưng khi đọc lại mới thấy cái “hớ” trong bài thì đã “bút sa gà chết”. Mình lơ lễnh, người đọc phát hiện ngay. Lẽ ra, câu thơ phải là:

Có khi vò một đóa hồng

Bỗng lên hương mới thấy lòng đậm sâu!

Xuân Diệu dùng từ so sánh “như là” trong “Bỗng lên hương mới như là…” thật vô nghĩa, câu thơ trên nối từ “hồng” với “bỗng“, nối “hồng” với “lòng” không bị bắt bẻ về ý (cành hoa có hoa và cành hoa không có hoa) mà thơ được trùng vần. Cái hờn ghen dẫn ra phi lý bao điều. Xuân Diệu là bậc cổ thụ trong lĩnh vực yêu bạo, ghen ẩu thì Đinh Hùng là Xuân Diệu thứ hai là cái cây con mọc bên cha cổ thụ. Đi bên người yêu mà cũng hờn:

Anh giận bình minh, ngờ nắng hồng

Hờn ghen bao nhiêu hoa mùa xuân.

Sánh vai nhưng không là vợ chồng

Kề môi vẫn không là tình nhân.

Chàng Đinh nổi chứng:

Oán cả không gian, thù cả mộng

Ghen cả trời xanh trong mắt nhau.

Cuối cùng kết:

Nụ cười rung cánh hoa hờn giận

Trong mắt em còn bóng dáng ai?

(Hờn giận)

Giận, ngờ, oán, ghen cả “trời xanh trong mắt nhau” thì ôi thôi, thằng cha này sắp sửa… vò đóa hoa thứ hai. Cuộc đời này hễ đi bên nhau mà thành chồng, thành vợ thì biết bao cuộc hôn nhân “đa hệ” xảy ra, kiện thưa tùm lum, Bao Công tái thế cũng chào thua huống hồ… Người viết bực mình quá, quát:

Đi bên nhau đâu nhất thiết phải thành chồng, thành vợ

Thành vợ, thành chồng đâu bắt buộc phải yêu nhau!

Nhưng “kề môi vẫn không là tình nhân” thì coi chừng một nụ hôn “hời hợt” vì nếu chỉ “tình người” không ai đi “kề môi”? Tất nhiên, gã Đinh Hùng vẫn còn có lòng nhân đạo hơn sư phụ.

Trở lại bài thơ “Đánh em đau”, chàng sư phụ này không biết mắc cái bệnh “thích hành hạ người khác” bao giờ mà ra tay “uýnh” người. Đánh đau (bằng cái gì cũng mặc) thì người bị đánh thấy “đau thí bà nội” thể xác trước rồi mới tính chuyện… trả thù chứ “khố”, “phiền” cái nỗi gì! Sau khi bị ăn đòn thì người bị đánh chỉ thấy “thù, ghét, căm, hận, oán” nên coi chừng “dao phay” trên thì bổ hai, dao lam dưới thì… cắt bỏ thì mình còn mạng trai đâu mà để “bắt đền sầu anh“!

Thơ vẫn là con dao hai lưỡi. Khi nó sắc, nó cắt ta đau; khi nó cùn, nó làm ta bầm dập. Cho nên, ra đòn phải tính nước đỡ lỡ bị phản công.Yêu phải phòng hờ… mở đường máu ra cửa sau mà… tẩu!

Tìm mãi không thấy nhà thơ, nhà thi sĩ nào “đánh đập”, “vò nhàu” khi yêu như chàng quăn nên phong quách cho chàng “đăng quang” ở lĩnh vực không đối thư này! Đinh Hùng cũng chỉ là bậc… đệ tử! Vì sao, chàng hành hạ nàng? Trong bài thơ “Bên ấy, bên này“, chàng quăn đã nêu lý do:

Lòng ta trống lắm, lòng ta sụp

Như túp nhà không, bốn vách xiêu.

Em chẳng cứu dùm, em bỏ mặc

Mưa đưa ta đến bến đìu hiu.

Dòng thơ nghe “đắng” mà “ngọt” lắm với hình ảnh căn nhà không gọi là nhà “chỉ cần chút gió đổ cha mất rồi!” bởi cái tâm trạng hụt hẩng lắm rồi, suy sụp lắm rồi, chi phối!

Đọc thấy mà thấy đáng đời cho cái gã đa tình, yêu “ác” này qua loạt từ “chẳng cứu, bỏ mặc“. Chàng quăn này thả xuống hình ảnh “mưa”, “bến đìu hiu” thật tuyệt vời! Lẽ ra, tác nhân gây ra sự suy sụp tâm hồn này là “em” nên chỉ cần xuống từ ”em”“Em đưa ta đến bến đìu hiu” là bao tội lỗi một lần nữa khẳng định sự tàn nhẫn của “Em”. Nhưng không: “Biết người rồi biết cả ta” nên chàng mượn tác nhân thiên nhiên “mưa“: “Mưa đưa ta đến bến đìu hiu” để khỏi mích lòng em mà thiệt ra, gã quăn đang… mắng luôn cả tác nhân thiên nhiên cũng hùa vào mà đưa gã đến vực thẳm. Ta ướt nhẹp. Ta lê bê, lếch bếch như con mèo mắc mưa đi ngoài đường mà không biết đi đâu! Cô đơn quá (lòng ta trống lắm), cô đơn tợn (lòng ta sụp)!

Hú vía là chàng không xách theo chai rượu chứ thường những kẻ “thất tình” hay mượn con ma men chỉ lối soi đường. Nhẹ thì khập khễnh, ngất ngư bò về nhà; nặng thì “phải gió” nhập vào gan là tiêu diêu miền cực… khổ (tại ác). Uổng quá, chàng không vớt Hằng Nga dưới sông nên ta không có một Lý Bạch thứ hai!

Cái ghen say đắm của Xuân Diệu trở thành tiếng thơ rên xiết vì lòng nghi ngờ tột đỉnh. Thơ viết về chuyện tình phụ, tình dang dở thì lũ khũ và dòng thơ hay nhất, lãng mạn nhất, hấp dẫn nhất mà cũng xót xa nhất, “cô hồn” nhất vẫn là dòng thơ “người đã phụ người, ta phụ ai?”. Trong “hẹn hò”, chàng Diệu đã gào lên: “Em ác quá lòng anh như tự xé” và sự “đồng sàn dị mộng” chắc trong ai không nhiều thì ít kẻ “nhắm mắt đưa chân lòng tiễn đưa lòng” để rồi:

Cùng giường khác mộng sao em

Tình ta đau đớn hơn đem tử hình.

Trăm năm mơn trớn dục tình

Sao bằng được bóng in hình trong tim.

(Khác mộng)

Lại đụng đến cái “hồn” và “xác”: Xác nằm đây, hồn ở nơi đâu? Xưa nay, người ta hay nói về “hồn, xác” kiểu như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký xuất hồn đi trộm đào tiên của Tây Vương Mẫu, “xuất hồn” đi đập phá cây nhân sâm ngàn năm của Trương chơn nhơn vì giận Thanh Phong, Minh Nguyệt. Giới mê tín đồng bóng thì “kẻ khuất mặt” mượn xác nhập vào nói dăm điều bốn chuyện rồi… thăng! Nếu người phàm thiếu một trong hai cái đó (có hồn mà không xác, có xác mà không hồn) thì coi như… tắc thở!

Trở lại bốn câu thơ của Xuân Diệu “cùng giường khác mộng” mới thiệt quái quăm. Làm sao chàng ta biết được nội tâm của nàng chôn giấu một bóng hình? Có thể trong mơ, nàng ngu ngốc ú ớ gọi tên ai đó rồi kể lể nên bị gã chồng nằm bên nghe hết trọi? Hay là nàng “ngay đơ cán cuốc” thế là thằng đàn ông… cụt hứng mới hầm hầm lên?

Xác định “em” trong bài thơ là người yêu, người bị yêu hay là vợ hoặc “người tình không bao giờ cưới” của chàng quăn? Người yêu thì “cùng giường” không thể “khác mộng” được rồi vì hai người yêu nhau “hồn, xác” nhập một, vô tội, tha bỗng. Người “bị” yêu tức không yêu chàng thì “cùng giường” làm sao được? Đây chỉ có “hiền nội” mà thôi!

Trên thế gian này có biết bao nhiêu người, bao nhiêu cặp lầm chữ “Yêu” mà lấy, khi lấy rồi mới biết mình vẫn hụt hẩng cái phần hồn.

Lấy nhau có biết bao nhiêu lý do mà biện hộ, biện minh cho sự phụ tình và tình phụ! Đâu có gã đàn ông nào chịu nhận mình là kẻ “bạc bẽo” như Xuân Diệu đâu! Chính cái điểm sáng “can đảm này”, chàng quăn đã đứng trên bao nhiêu gã đàn ông bạc bẽo! Hiền nội cùng giường không cùng mộng khiến gã chồng cảm thấy “đau đớn hơn đem tử hình“. Hình phạt tử hình là mức án cao nhất (chỉ còn tồn tại một vài nước trên thế giới mà thôi) nhưng gã chồng cảm thấy nhẹ hơn “tội cùng giường”. Có ai trên thế gian này chịu mức phạt nhẹ tử hình đâu mà toàn bộ chấp nhận hình phạt cao nhất hơn cả tử hình là “tù chung thân”! Sao mà khôn dữ, khôn dằn! Chữ “đau đớn” của Xuân tóc quăn bỏ vào đây có chân, chạy mất!

Câu thơ thấy… lạnh da gà vì gã quăn bê nguyên cái “mơn trớn dục tình” bỏ vào. Động từ “mạnh” gợi một hình ảnh “bạo”. Ngòi bút mạnh bạo như vậy mà lại xuất phát từ một con người có trái tim thơ? Uổng quá! Hai từ đó đã giảm mất cái nghĩa “tào khang”, cái tình chồng vợ mà ít ai chú ý. Dẫu rằng sự “chung đụng” là sự thường tình nhưng không nên đem những từ ngữ quá bạo gợi một hình ảnh “không mấy lành mạnh” vào thơ. Chế Lan Viên và Đinh Hùng cũng có viết “mạnh bạo” như vậy. Gần đây, chủ nghĩa tự nhiên trong thơ đã làm mất nghĩa từ THƠ khiến cho lời văn hoa, tính hàm xúc của THƠ không còn là THƠ như trước nữa! Đáng tiếc! Mạch thơ vẫn chảy lúc ri rỉ, lúc ào ạt như suối nhưng thường khi suối chảy mạnh quá làm cát, bùn, đá sỏi, rong rêu trôi theo một lượt. Thơ cũng vậy, “chủ nghĩa tự nhiên” quá làm hỏng cái “thơ” của thơ. Con người mạnh dục tình quá cũng làm chết cảm xúc yêu thương.

Có lẽ người đọc thông cảm, xót xa cái cảnh “khác mộng” của người con gái trong “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính hơn. Người ấy mới thật “đau đớn” theo cả hai nghĩa xác và hồn:

Năm xưa đêm ấy giường này

Nghiến răng nhắm mắt… châu mày… cực chưa!

Từ “ba chấm…” sao mà dài dằng dặc! Có người đến cả một đời không thoát khỏi chữ “cực” với ba chấm… dài như có khóa! Người ta cũng “thương” cái “dị mộng” của T.T.Kh trong “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” hơn chữ “đau đớn” của Xuân Diệu:

Rồi từng thu chết từng thu chết

Vẫn giấu trong tim bóng một người.

Ngữ “từng thu chết, từng thu chết” đọc lên như một sự rã rời, không thấy chữ “đau đớn” mà nghe “đau đớn” quá! Còn Xuân Diệu kêu la “đau đớn” nhưng ta “dửng dưng” không thấy lòng thương cảm chút nào! Ta bắt gặp cái chiêu “gậy ông đập lưng ông” này của Xuân Diệu trong rất nhiều bài thơ phải chăng cũng là nét đặc biệt trong thơ mà Xuân Diệu là một điển hình?

Chàng quăn rên mà ta không xót cho hắn lại đi xót cho kẻ bị lên án “giấu trong tim bóng một người“, kẻ coi chồng “không bằng được bóng in hình trong tim”. Ở tâm trạng này, người phụ nữ dễ được thương tâm hơn và yêu dưới bất cứ hình thức nào, người bị thiệt cả hai mặt xác và hồn bao giờ cũng là phụ nữ. Mạch cảm xúc này mà người đàn ông dù có tài ba cỡ nào cũng không lột cả hết cái chiều sâu hun hút đau khổ của cái cảnh “dị mộng cùng giường” đó đâu! Lĩnh vực này, Xuân Diệu rớt, thử hỏi ai có công lực thâm hậu hơn nhảy vào?

Làm thơ không có hậu thuẩn thì cũng như lính ra trận không người tiếp lương mà thôi! Câu này chấp nhận được:

Buồn vì một trái tim thơ

Phía sau không hậu phương chờ đợi ta.

Một trái tim thơ” oai lắm nhưng vẫn cần nguồn năng lượng từ tình yêu, nhưng “nguồn năng lượng” không thể cân, đo, đong, đếm này gặp trắc trở không phát sinh nhiệt để cho tua binh tình yêu quay. Hai câu thơ này bỗng “cứu khổ, cứu nạn” cho chàng đa tình, ghen quá quắt: “Tim không tình yêu, tim tan vỡ. Thơ không tình, thơ cũng bơ vơ“. Một chút tình yêu le lói cũng đủ làm người ta ấm áp suốt một đời nhưng với chàng quăn thì dù chàng có ”rạo rực” trong yêu đương như ”mặt trời vừa mới cưới trời xanh” ; có hân hoan reo vui trong ”thơ duyên”:

Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên.
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,
Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.

Con đường nho nhỏ, gió xiêu xiêu,
Lả lả cành hoang nắng trở chiều.
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn.
Lần đầu rung động nỗi thương yêu

…Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy
Lòng anh thôi đã cưới lòng em.
thì cũng chìm vào trong ”xa cách”:

Em vẫn là em; anh vẫn là anh

Có thể nào qua Vạn lý trường thành!

Chẳng ai hay biết rằng vì sao trong tình yêu đang như thơ, như nhạc hòa mộng trên nhánh duyên xanh như ngọc, đổ đầy ngập cả trời thu trong nắng trở chiều như vậy thì có cái “Vạn lý trường thành” nào… mắc toi, mắc dịch lù lù hiện ra, chắn mẹ giữa đường yêu! Tức chết được vì bao nhiêu cái ”rung động nỗi thương yêu” từ một giây gặp gỡ, tiến tới vội vã thúc giục người yêu: ”Gần thêm nữa! Thế vẫn còn chưa đủ” hay trong ”giục giã”: ”Mau lên chứ, vội vàng lên đi chứ” để mà hưởng nụ hoa xuân ”hoa anh ơi, một chiều nở trong lòng”… mất trắng! Môi chàng… chu ra không có môi nàng… chu lại. Tay chàng dang ra… chỉ ôm lấy bóng vô hình! Lòng anh cưới lòng em nhưng đêm… động phòng, em… “drọt” mất tiêu! Thế thì lỡ làng! Thế là phủ phàng! “Vạn lý trường thành” chắc là đây! Tức ói! Ghen nổi lên là phải rồi!

Than ôi! một chữ ”Tình” đủ rồi gắn chi một chữ vừa là động từ, vừa là danh từ “Yêu” vào thành ra quỷ quái khó lường!

Xin mượn bốn câu trong “Lá thư ngày trước” của Vũ Hoàng Chương để kết thúc phần “ghen” của Xuân Diệu với đỉnh điểm “ghen say đắm, thắm cái đau, ghen càng sâu càng đau vì… khác mộng”:

Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp

Tình mười năm còn lại chút này thôi.

Lá thư xưa màu mực đã úa rồi

Duyên hẳn thắm ở phương trời đâu đó!

Khép lại cái “ghen” đồng thời mở ra một phần ngã rẽ khác bên cạnh Xuân Diệu với dòng thơ tuyên ngôn yêu.

5. Xuân Diệu: Tuyên ngôn – phát ngôn viên của tình yêu ngọt ngào, cay đắng:

Hình ảnh Eva và Adam khi ăn trái cấm đã khiến nhân loại đi qua con đường ngọt ngào và cay đắng. Không có tình yêu, thế giới này vô hồn. Chàng trai Xuân Diệu trong “Bài thơ tuổi nhỏ” phán một câu xanh rờn khiến bao nhiêu dòng họ trên đất nước này thuộc lòng dễ hơn học lịch sử:

Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào.

Hãy đốt đời ta trăm thứ lửa

Cho bừng tia mắt đọ tia sao!

Có người hay ngứa miệng sẽ hỏi: Vậy mấy người xuất gia, mấy cha nhà thờ đang sống sờ sờ chắc họ cũng “đang giấu trong tim bóng một người” để sống mà tu cho… đáng kiếp vì ”làm sao sống được mà không yêu”?

“Không” loại từ phủ định mà lại để khẳng định trong đoạn thơ này nặng đô hơn phó từ “chẳng“. Chàng đa tình này nhất quyết như thế nghĩa là ăn chắc một trăm phần trăm. Tự tin là tính tốt nhưng tự tin quá hóa… gà mờ! Hai câu đầu phát ra từ “phát thanh viên” Xuân tóc quăn sao mà nghe dũng mãnh quá, trơn tru, quyến rũ quá! Hai câu sau, chàng năn nỉ người ta đốt lửa. Lửa gì đây ngoài lửa tình? Bệnh nào thuốc đó, ai đi cạo gió để chữa bệnh nhức răng? Một thứ lửa còn kêu trời thêm chín mươi chín thứ lửa nữa thiêu luôn cái đời còn nhúm tro, làm sao còn mạng mà: “Cho bừng tia mắt, đọ tia sao”.

Câu thơ này thuộc loại câu “nghênh chiến” giữa con người và thiên nhiên nghe thấy oai phong lắm, dũng cảm lắm nhưng bình tĩnh, sáng suốt lại rồi lật cái chiêu“gậy ông đập lưng ông” của chàng quăn xem: “Đốt trăm thứ lửa“, bùm! Tia mắt bừng lên sáng rực để… đọ tia sao!? Nghe ghê gớm nhưng thử xem “tia sao” là tia thế nào?

Tia?: Danh từ chỉ kích thước vật thể bé tí tẹo và mong manh như lưới nhện.

Sao? Tinh thể cách xa trái đất hàng triệu triệu năm ánh sáng ngay như ngôi sao gần nhất là sao Hôm (sao Mai chỉ là một) khi chết đi thì nghìn chục nghìn năm sau, người trái đất mới biết là mất. “Sao” nhìn lên thấy bé như hạt mè, hạt tiêu nên ánh sáng phát ra yếu xìu không đủ soi cái gì cả. “Sao” đã như vậy mà “tia” nữa nhỏ cỡ nào? Mắt… lé cũng ”đọ” nổi huống chi mắt thường? Vậy mà cái lão quắn này mang “trăm thứ lửa” để tấn công vào một cái “tia” không có chút công suất nào chẳng phải uổng phí và mang tiếng “ỷ đông hiếp yếu” sao? Có ngon thì lấy “tia mắt” đọ với “tia nắng” thử xem! Kết quả nhanh chóng: “Tia nắng chẳng lui mà mắt… đui”. Đệ tử Đinh Hùng khôn hơn: “Em hãy đốt dùm anh trong mắt lửa” coi bộ có lý hơn sư phụ!

Hình tượng trong thơ buộc phải có nhưng hình tượng phải hợp tình, hợp lý mang sức thuyết phục tự nhiên. Trái với lẽ trên, hình tượng khập khễnh, so sánh lệch lạc làm “tổn thương” cái giá trị đáng được có của thơ.

Tài hoa đôi khi cũng sơ hở – một sơ hở cũng dễ thương nên cũng chỉ “giơ cao, đánh khẽ”! Với chàng quăn khi thương thì chăm chút, chịu khó; khi yêu thì ghen dữ tợn, “ác” cũng không nhẹ hơn chữ “ác” bởi đã lỡ phát ngôn cái sống cần yêu nên được yêu thì quá tham lam, ham quá độ trong ”vô biên”:

Trời cao trêu nhử chén xanh êm

Biển đắng không nguôi nổi khát thèm.

Những lúc môi ta kề mộng thắm

Trời ơi, ta muốn uống hồn em!