Chương XI

PHÁP CHIẾM  LẤY BẮC KỲ

Lần thứ hai (1882)

1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội:

Người Pháp có giấy thông thương   …

Bị giặc Khách chận trên đường Vân Nam.

Pháp bèn bắt lỗi Việt Nam

Thống đốc Vilers mới làm tấu thư:

 

“Nước Pháp chẳng thể chần chừ

Nên dùng binh lực mà trừ loạn đi”.

Tháng hai, Nhâm Ngọ, Henri

Gởi thư đến Huế ra ni bực mình.

 

“Luật vua xem chẳng còn linh

Bắc Kỳ loạn lạc, triều đình ngó lơ.

Đi đâu cũng khó khăn ghê

Quan Huế thất lễ với bề Rheinart.

 

Nay Pháp chẳng thế làm ngơ

Bảo vệ quyền lợi chẳng chờ đi lâu”.

Mang trăm lính, hai chiếc tàu

Henri cùng hẹn gặp nhau Hải Phòng.

 

2. Hạ thành Hà Nội lần thứ hai (1882):

Đãi đằng tử tế cho xong

Tổng đốc Hoàng Diệu hờ phòng thực hư.

Đại tá sắp kế đã dư

Cho nên gởi tối hậu thư tới thành.

 

Tám giờ, quân Pháp đánh nhanh.

Ba tiếng sau đã lấy thành như chơi.

Quan ta bỏ chạy rối bời

Tổng đốc Hoàng Diệu chịu lời đắng cay.

 

Thắt cổ chết, rạng mặt mày

Hơn Tôn Thất Bá mặt dày trốn xa.

Để đời khúc “Chính khí ca”

Ai hay dở đã phân ra rõ ràng!

 

Dực Tông triệu tập vội vàng

Kinh lược Nguyễn Chính, phó quan họ Bùi.

Mau mau tìm cách mà lui

Về thủ Mỹ Đức chịu lùi địch xa.

 

Rheinart khâm sứ phân qua:

“Tình thật chẳng muốn đánh Hà Nội đâu.

Vậy thời lấy lại cho mau

Thành trì còn đó chớ đâu mất gì!”.

 

Triều đình nghe nói chẳng suy

Sai Trần Đình Túc vội đi nhận thành.

Pháp chơi “mèo-chuột” đã đành

Triều đình ngu muội mới thành tội nhân!

 

Hai lần lấy, trả hai lần

Trước khi đớp chuột, mèo vần chuột chơi!

Trả thành, Pháp đóng khơi khơi

Qua lời thương nghị lòi đuôi cáo già:

 

*Pháp phải bảo hộ nước ta

*Hà Nội lập tức nhường qua Bắc Kỳ.

*Pháp đặt thương chính tc thì

*Nước Nam phải sửa nhng gì tả tơi.

 

Giao quyền Pháp quản tức thời

Triều đình hiệp hội trả lời rằng:”Không!”.

Trần Đình Túc nhiệm vụ xong

Hà Ninh Tổng đốc, nhận phong, Độ vào.

 

3. Việc cầu cứu nước Tàu:

Triều đình bị ép đã chao

Nhưng trong tâm não trọng cao nước Tàu.

Sai Phạm Thận Duật mau mau

Cầu Tàu phương sách làm đầu, thói quen.

 

Ỷ Tàu với lại Cờ Đen

Ấm đầu cứ việc… ho hen, họ vào.

Cho nên rát họng kêu gào

Ngỡ đâu nếm mật chớ nào thấy chanh!

 

Tổng đốc Lưỡng Quảng: Thụ Thanh

Mượn cớ đánh Pháp để giành nước ta.

Đóng quân phía Bắc Hồng Hà

Kính Bưu, Diên Húc, quan nha Cảnh Tùng.

 

Bắc Ninh, quân tiến ung dung

Quảng Tây, Bố Chánh cũng cùng chạy qua.

Chủ nhà nuôi… hổ trong nhà

Tha về…beo nữa để mà hại dân!

 

4. Quân Pháp lấy Nam Định (1883):

Pháp muốn thu xếp dần dần

Công việc bảo hộ đỡ phần chiến tranh.

Nhưng còn lính của nhà Thanh

Tràn sang các tỉnh, Pháp đành phản công.

 

Vilers thay bởi Thomson

Tấn công Nam Định hẹn trong nửa ngày.

Henri kéo lính bao vây

Vài trăm tên giặc trong tay súng đồng.

 

Triều đình đã trả lời: “Không”

Cho nên Nam Định mất trong Quý Mùi.

Trọng Bình, tổng đốc trốn chui

Đề đốc tử, Án sát lui chốn nào?

 

5. Đại tá Henri Rivière chết (13-4-1883):

Vừa khi Pháp tiến, Tàu vào

Bắc Ninh, Tổng đốc ra mào thế công.

Giốc Gạch, tổng, phó đứng trông

Chực đánh Hà Nội chưa công đã lùi.

 

Berthe, đại uý đánh vùi

Bắc Ninh Tổng đốc, tướng Bùi Ân Niên.

Thấy quân Pháp đã tiến binh

Nhưng tin Tàu chịu chi binh giúp mình.

 

Lui về mà giữ Bắc Ninh

Kế Viêm, tiết chế rập rình đợi cơ.

Cờ Đen – Vĩnh Phúc đang chờ

Đóng phủ Hoài Đức dễ bề đánh Tây.

 

Nam Định đã ở trong tay

Henri kéo lính dong ngay Bắc Kỳ.

Cầm binh khinh địch, kiêu kỳ

Phục binh Cầu Giấy tức thì… bắn bia.

 

Bị thương: Đại úy Villers

Cờ Đen – Vĩnh Phúc, không dè lập công.

Non trăm mạng tử thương vong

Henri Rivière đi không thấy về.

 

Lục quân thiếu tướng Bouet.

Được binh khiển tướng lấy le Bắc Kỳ.

Courbet thiếu tướng cũng đi

Chiến thuyền tiếp ứng, Paris lệnh truyền.

 

Harmand ra Bắc toàn quyền.

Hải, Hà, Nam Định lại liền sửa sang.

Georges mộ lính cờ vàng

Cho theo binh Pháp vào hàng tiền quân.

 

Quân ta đánh Pháp tưng bừng

Trứng chọi với đá vang lừng chiến công.

Yêu nước nhưng chẳng đồng lòng

Đánh không thống nhất mà hòng thắng ai!

 

Giáo gươm chống đạn quá tài

Quân không luyện tập hằng ngày, phải thua!

Lãnh sự Thành Ý bị xua

Phe ”hòa”, phe ”chiến” hơn thua… lớp rùa!

 

Rối ren, đất nước te tua

Dực Tông bệnh mất, tuổi vừa năm lăm.

Ngôi vua trụ băm sáu năm

Mười sáu, tháng sáu nhằm năm Quý Mùi.

 

Chương XII

CUỘC BẢO HỘ CỦA NƯỚC PHÁP

1. Sự phế lập ở Huế: Vua Hiệp Hòa   (1883):

Nhà Nguyễn đã đến lúc xui

Hết đời Tự Đức, trở lui mất quyền.

Ngôi vua vẫn tiếp tục truyền

Nhưng quyền chính trị mọi miền trống không.

 

Triều thần chuyên chế bên trong

Tự Đức mắc bệnh, ngôi rồng tuyệt tông.

Ba con nuôi được nối dòng

Dục Đức, Dưỡng Thiện, Chánh Mông ruột rà.

 

Di chiếu cũng đã bàn qua:

Dục Đức đức tính khó mà thánh quân.

Vua chọn Dưỡng Thiện hiền nhân

Nhưng mà nước loạn, vua cần tuổi cao.

 

Di chiếu: Phụ chính đương trào

Đại thần đệ nhất tuổi cao: Tiễn Thành.

Văn Tường: Phụ chính nhị danh

Thứ ba: Thất Thuyết mà thành đại tam.

 

Ba ngày, Tường, Thuyết đã làm

Đổi tờ di chiếu mới cam thỏa lòng.

Phế vua Dực Đức cho xong

Đem em tiên đế Dục Tông lập vì.

 

Triều thần chẳng dám nói gì

Đình Phùng, Ngự sử tức thì cản ngăn:

“Tự quân có tội gì chăng

Chưa chi đã phế làm xằng được sao?”.

 

Tường, Thuyết quyền thế một trào

Bắt giam rồi cách chức nào nể nang.

Hiệp Hòa niên hiệu đăng quang

Giảng đường, Dục Đức thì đang ngậm ngùi!

 

2. Quân Pháp lấy cửa Thuận An:

Hiệp Hòa mới lập xong xuôi

Harmand cũng đã theo đuôi Hải Phòng.

Courbet, Bouet hội xong

Phủ Hoài chiếm đóng ngoài trong sẵn sàng.

 

Courbet đánh cửa Thuận An

Bắt nhận bảo hộ, mưu gian rõ ràng.

Quân Pháp đang thắng Cờ Đen

Tiến lui gặp lũ mới bèn đóng binh.

 

Hải Phòng, trung tá Brionval

Đem lục quân đánh chiếm thành Hải Dương.

Bouet đang thắng vẫn lường

Điện Paris để xin đường viện chi.

 

Lục quân tiến đánh Bắc Kỳ

Mục tiêu kế tiếp tức thì Thuận An.

Ba ngày Trấn Hải vỡ tan

Quan Trấn tử nạn, Nhẫn, Hoàng nhảy sông.

 

3. Hòa ước năm Quý Mùi (1883):

Triều đình thấy sự chẳng xong

Còn trông gì nữa mà không chịu đình.

Harmand bắt phải giải binh

Khâm sai Đình Túc đi xin nghị hòa.

 

Quý Mùi, tháng bảy, hăm ba

Hòa ước của việc ”bán nhà”, lập mau.

Harmard với De Champeaux

Trọng Hợp, Đình Túc bốn… đầu kết cam.

 

Hăm bảy điều khoản tham lam:

*Nước Pháp bảo hộ nước Nam rất dài.

Nước Nam giao thiệp với ai

Phải do Pháp cấp lệnh bài được, không!

 

*Bình Thuận nay thuộc đàng trong

Đèo Ngang, Pháp đóng ngoài vòng Thuận An.

* Còn phần đất từ Đèo Ngang

Khánh Hòa đổ lại, vua quan triều đình.

 

*Khâm sứ Pháp được sự sinh

*Pháp đặt Công sứ an ninh Bắc Kỳ.

Ký xong, hòa ước gởi đi

Paris lược duyệt mà tùy thực thi.

 

4. Việc ở Bắc Kỳ:

Hòa ước bán nước, vinh chi

Kêu quân mình lập tức thì bỏ đao.

Thượng thư Bộ Lại đương trào

Là Nguyễn Trọng Hợp: Áo bào khâm sai!

 

Phong chức Công Bộ làm cai

Cho Văn Chuẩn: Phó khâm sai Bắc Kỳ.

Thêm khâm sai phó: Hồng Phì

Cùng nhau ra Bắc chiêu nghì vỗ an.

 

Non nhà đại nạn lầm than

Chia năm, xẻ bảy, gian nan não nùng!

Còn ai ngồi khóc cha chung

Còn ai phụng chỉ cúc cung triều đình?

 

5. Vua Hiệp Hòa bị giết (1883):

Triều đình Huế lại rung rinh

Nhờ sách bảo hộ cho mình vững ngôi.

Triều thần chẳng chịu nước đôi

Thuyết Tường chuyên chế, vua, ngôi chẳng bền.

 

Hiệp Hòa thấy vậy, cho nên

Thượng thư Binh Bộ chuyển lên Văn Tường.

Thuyết đang Binh Bộ đường đường

Chuyển sang Lại Bộ coi dường mất uy.

 

Thấy vua lòng đã sinh nghi

Để lâu thành vạ, bỏ đi được rồi.

Thuyết Tường mưu sự hẳn hoi

Trình qua thái hậu hạ hồi phế đi.

 

Thái hậu nào dám nói gì

Con út Dưỡng Thiện lập vì mới xong.

Hiệp Hòa cái ách tự tròng

Dám vuốt râu cọp, đụng lông hai người.

 

Thuyết, Tường nào dễ trêu ngươi

Mượn ”lưới” thái hậu bắt người Đế Vương!

Nhốt vào Dục Đức giảng đường

Cho uống thuốc độc, coi thường sử xanh.

 

Thấy quan Phụ chánh Tiễn Thành

Không theo như ý, đem hành quyết luôn!

Hiệp Hòa bốn tháng lệ tuôn

Cơ ngơi chưa vững, hết tuồng, hóa ma.

 

6. Vua Kiến Phúc:  

Dưỡng Thiện được chọn cho qua

Niên hiệu Kiến Phúc, huý là Ưng Đăng.

Mười lăm tuổi biết đâu rằng

Chỉ là con rối trong băng Thuyết, Tường!

 

Bắc Kỳ, quân giữ mấy phương

Sơn Tây binh mã tướng Hoàng Kế Viêm.

Bắc Ninh: Quang Đản ngày đêm

Cùng Tàu chống Pháp là điềm họa to.

 

Khâm sứ Pháp Huế trách cho

Rút quân, Tường, Thuyết phải lo liệu lường.

Các quan người mỗi con đường

Người về, kẻ bỏ quan trường chạy đi.

 

Nước nhà gặp buổi sinh ly

Triều đình chẳng có tay chì đảm đương.

Văn Hòe tri phủ Kiến Xương

Vụ Mẫn bỏ chức, về vườn họa may.

 

Thiện Thuật quân vụ Sơn Tây

Về quê chống Pháp vùng này: Hải Dương.

Nam Định, Đề đốc quan lương

Theo Tàu chống Pháp, núp… tường nhà Thanh.

 

7. Sự đánh lấy các tỉnh ở Bắc Kỳ:

Harmand lập lính khố xanh

Thêm đội tuần cảnh coi canh Bắc Kỳ.

Cờ vàng Bouet thị phi

Harmand ra lệnh bỏ đi chẳng dùng.

 

Cờ Đen chận đánh đồn Phùng

Thiếu tướng Bouet lại cùng đánh nhau.

Toàn quyền, Bouet hợp đâu

Paris, thiếu tướng xin mau trở về.

 

Lục quân trao lại Bichot

Ninh Bình, đại tá đi lo lấy thành.

 

8. Lấy Sơn Tây:

Hai bên chiến sự giao tranh

Toàn quyền thiếu tướng Harmand phải về.

Bắc Kỳ thiếu tướng Courbet

Toàn quyền quyết định mọi bề trị an.

 

Thiếu tướng còn đang sửa sang

Quân ta tiến đánh, đốt càn Hải Dương.

Quan Pháp sự cố bất tường

Tỉnh thần tòng phạm, đày đường Côn Lôn.

 

Viện binh từ Pháp tinh khôn

Thủy, Bộ hai lộ gian ngôn tớ thầy.

Chín ngàn quân Pháp bủa vây

Chia làm hai đạo Sơn Tây đánh vào.

 

Cờ Đen, Tàu, lính, ôi chao

Mười sáu ngày đánh thì vào thế lui.

Súng Pháp bắn đạn như vùi

Mạn ngược rút chạy thụt lùi mới xong.

 

9. Lấy thành Bắc Ninh:

Quân Tàu càng mạnh, càng đông

Thiếu binh, Pháp lại chờ trông mỗi ngày.

Hàng ngũ tướng Pháp… chia tay

Tướng Millot thế quan thầy Courbet.

 

Được binh, Pháp mới hăm he

Quân Tàu đe một, Pháp đe tới mười.

Quân một vạn sáu nghìn người

Hai Lữ, mười pháo nuốt tươi Hải Hà.

 

Bắc Ninh – Hà Nội: Tàu, ta

Thống tướng Millot mới ra lệnh liền:

Sông Hồng, Brière vượt biên

De Négrier qua liền Bắc Ninh.

 

Sáu ngày đánh hết sức mình

Quân Tàu bỏ mặc Bắc Ninh, rút về.

Thái Nguyên, thiếu tướng Brière

Đánh lên Yên Thế lầy về dễ không.

 

10. Lấy Hưng Hóa:

Quân Pháp tiến đến mạn sông

Tuyên Quang, Hưng Hóa còn trông nỗi gì?

Lữ đoàn thứ nhất ra đi

Sơn Tây, Hưng Hóa rồi thì Đà Giang.

 

Hai bên khởi sự đánh càn

Lữ đoàn nhì lại hiệp đàng với nhau.

Cờ đen hợp với quân Tàu

Đốt cả phố xá, quay đầu chạy ngay.

 

Kế Viêm binh rút cùng ngày

Theo đường thượng đạo về ngay kinh thành.

Pháp chiếm Hưng Hóa, vội nhanh

Coronnat dẫn lính phá banh đồn Vàng.

 

11. Lấy Tuyên Quang:

Cờ đen đang đóng Tuyên Quang

Millot đường thủy dò đàng Lô Giang.

Hưng Hóa, Duchesne quân sang

Việt Trì xuất phát, Tuyên Quang giặc tràn.

Một giờ chiến đấu hiên ngang

Cờ đen thất thế vội vàng thoát thân.

 

12. Hòa Ước Fournier:

Giáp Thân (1884-1814)

Cao Bằng, Tàu chẳng rút chân

Còn Lao Kay với một phần Lạng Sơn.

Pháp bèn tính chuyện thiệt hơn

Sai Fournier gặp Hồng Chương nghị hòa.

 

Đôi bên thỏa thuận mọi bề

Coi triều đình Huế ”con cờ” trong tay!

Nước Tàu mới rút quân ngay

Nước Nam chính sự hằng ngày, Pháp coi.

 

Thấy ngay mưu sự cầu ngoài

Mưa lâu ướt đất, chuột lòi mặt mo!

Cờ Đen đánh Pháp công to

Coi như bỗng chốc ra tro, mất hình…

 

13. Hòa ước Patennôtre tháng 5

năm Giáp Thân (5-1884):

Công sứ Pháp ở Bắc Kinh

Patennôtre tảo trình phía Nam.

Paris điện khẩn phải làm

Ra Huế sửa lại kết cam Quý Mùi.

 

Mười chín điều khác chút thôi

Tường, Tôn, Thận Dật lần hồi ký qua.

Bình, Hà, Thanh, Nghệ tính ra

Bốn tỉnh này thuộc phần ta, Trung Kỳ.

 

Ấn Tàu bắt nấu chảy đi

Từ nay nước Pháp bảo trì Việt Nam.

Cống Tàu, người Việt  không làm

Giáp Thân, hiệp ước hòa đàm cáo tri.

 

Pháp đô hộ cả ba kỳ

Triều đình Huế chỉ hư vì vậy thôi!

Việt Nam bị bổ ra rồi

”Tam phân, ngũ liệt” thiệt thòi trăm năm.

 

Còn đâu lịch sử nghìn năm

Non sông thấm máu thăng trầm, xót xa!

 

14. Việc triều chính ở Huế:

Triều đình cũng chẳng nhận ra

Do đâu mà có vạ ta, vạ mình?

Làm ra chuyện loạn triều đình

Là hai phụ chính Thuyết, Tường hổ ngươi.

 

Thất Thuyết nóng nảy, tài bươi

Đa nghi, chém giết khiến người hãi kinh!

Văn Tường giỏi chữ, trớ trinh

Giao thiệp khôn khéo, tính tình tham gian.

 

Nguyễn Văn Tường nắm hàng văn

Thất Thuyết nắm võ khăng khăng mọi đường.

Hoàng thân, quốc thích, quan trường

Ai sai, trái ý, chỉ đường chết thôi.

 

Thuyết dùng nghi vệ vua tôi

Mộ quân phấn nghĩa tới hồi dụng sau.

Tường thì hối lộ làm đầu

Tiền sềnh giặc Khách từ Tàu đúc qua.

 

Tiền thời Tự Đức mà ra

Đã mỏng, lại xấu bắt ta phải xài.

Không tiêu phải tội dài dài

Vua còn nhỏ tuổi, quan ai dám bàn?

 

Hai ông cậy thế làm càn

Chuyên quyền cho lắm, tông đàng đảo điên.

Triều ca, vua đổi liên miên

Không bị ép thuốc, cũng liền chết không.

 

Ai gan dám chống hai ông

Là vua cũng chẳng mà hòng sống đâu!

Hiệp Hòa bị giết ít lâu

Đến phiên Kiến Phúc theo sau, dứt trần.

 

Tháng tư, mồng sáu Giáp Thân

Kiến Phúc bệnh mất, nghiệp trần hết vương.

Sự tình, sử chép hai đường:

Mắng Tường mới bị Văn Tường… thuốc tiêu!?

 

15. Vua Hàm Nghi:

Thuyết, Tường sinh sát toàn triều

Vua mười hai tuổi sáng chiều lập xong.

Ưng Lịch, em của Chánh Mông

Hàm Nghi lấy hiệu mà không biết gì.

 

Rheinart, tư giấy có ghi:

Nam triều vua mới lập thì báo ngay.

Thuyết Tường tự tiện như vầy

Khâm sứ thấy vậy thư tay Bắc Kỳ.

 

Thống tướng Millot ra uy:

Guerrier với quân đi chịu phiền.

Sáu trăm quân, pháo dàn hiên

Bắt triều đình Huế… cảm phiền tấu xin.

 

Chữ Nôm giấy phép đệ trình

Thuyết, Tường đem gởi dinh Khâm sứ liền.

Rheinart phép tắc xỏ xiên

Chữ Nôm kia phải làm phiền chuyển Nho.

 

Bấy giờ, Khâm sứ mới cho

Chính điện mở cửa, lò dò tấn vương.

Rượu phạt uống thấy mà thương

Lên gân, xuống cốt mọi đường nhục gia.

 

Chương XIII

CHIẾN TRANH VỚI NƯỚC TÀU

1. Trận Bắc Lệ:

Hòa ước Tàu – Pháp ký qua

Lao Kay, Cao, Lạng nhả ra để hòa.

Quân Tàu biết vẫn xuê xoa

Ở đồn Bắc Lệ, Pháp xa bắn vào.

 

Sáu ngày xin hoãn xem sao

Dugenne không chịu, ra mào đánh nhau.

Đánh cho tới sáng hôm sau

Tàu vây bốn mặt, Pháp mau rút về.

 

Millot sai tướng Négrier

Bốn đội bộ, pháo sang bờ cứu binh.

Đong đo tiếp ứng tình hình

Négrier được triệu chờ binh nhập thành.

 

2. Đánh Phúc Châu và vây Đài Loan:

Bắc Kỳ, Tàu đánh, tin nhanh

Lanh tay, Pháp lệnh vây thành Phúc Châu.

Hai trăm rưỡi triệu, trả mau

Đài Loan bị đánh kéo nhau nghị hòa.

Hòa ước Ất Dậu thông qua

Tàu thua nhượng bộ, Pháp ra trả thành.

 

3. Trận Đồn Chũ, và đồn Kép:

Bể Đông, Pháp bắn tan tành

Quân Tàu Đông – Quảng sang tranh Bắc Kỳ.

Viện binh Pháp chẳng thấy chi

Millot cáo bệnh mà đi trở về.

 

Viện binh hai vạn dưới cờ

Chia ra bốn đạo cùng chờ phản công.

Servière một đạo mạn Đông

Doninier một đạo vượt sông tới Đầm.

 

Lạng Thương, Négrier đăm đăm

Mibielle, Bảo Lạc ngấm ngầm trợ chung.

Quân Tàu lính rụng như sung

Quân Pháp, thương tật, tử cùng ngót trăm.

 

Đông Bắc, Tàu rút mất tăm

Duchesne kế tiếp là tầm Tuyên Quang.

Cờ đen cứ địa cần san

Berger với lính trấn đàng Thái Nguyên.

 

4. Trận Yên Bạc:

Quân Tàu đóng ở Quảng Yên

Đến tháng mười một, xuống miền An Châu.

Thiếu tướng De Né theo sau

Trận đầu Núi Bóp giết Tàu sáu trăm.

 

5. Lấy thành Lạng Sơn:

Ngàn viện binh Pháp lăm lăm

Thêm quân hai đạo hướng nhằm Lạng Sơn.

Quân Tàu đóng giữ hết trơn

Pháp dùng kế đánh khôn hơn: Ngang hàng.

 

Tức là Đồn Chũ đánh ngang

Tuần Muội đánh lại vào đàng Đồng Sơn.

Quân Tàu thanh thế đã sờn

Hết đường rút chạy mới vờn Lạng Sơn.

 

Hai bên giao chiến thiệt hơn

Lạng Sơn, Pháp chiếm rửa hờn Đồng Đăng.

Quân Tàu hai ngã chạy phăng:

Thất Khê với lại Nam Quan chạy về.

 

Ất Dậu, thiếu tướng De Négrier

Phá Ải Quan mới rút về Lạng Sơn.

 

6. Thành Tuyên Quang bị vây:

Khi Pháp đánh ở Lạng Sơn

Cờ đen, Tàu mạn sông Hồng, Lô Giang.

Bấy giờ, kéo đánh Tuyên Quang

Quân chia hai đạo hiên ngang phá thành.

 

Dominé vừa thủ, vừa canh

Ngoài công, trong thủ bất thành thắng thua.

Lạng Sơn, Pháp lấy như đùa

Binh lên cứu viện được mùa phản công.

 

Ất Dậu, lính Pháp vượt sông

Đoan Hùng diễn trận, Tàu không được gì.

 

7. Mất thành Lạng Sơn:

Quảng Tây, đề đốc thị uy

Từ Long Châu dẫn binh đi cứu mình.

Đồng Đăng, hai mặt giáp hình

Hao binh tổn tướng muôn tình khó khăn.

Phùng Tử Tài, thế đương hăng

Rút binh, Pháp bỏ một đằng Lạng Sơn.

 

7. Hòa Ước Thiên Tân 24-4 Ất Dậu (1885):

Bấy giờ, Pháp tính thiệt hơn

Lạng Sơn bỏ lại, lính chờn hết đi.

Thủ tướng Jules Ferry

Từ chức xoa dịu phẩn bi thế tình.

 

Sứ thần Pháp ở Bắc Kinh

Patenôtre lập ước trình chiến chinh.

Thay chức và viện trợ binh:

Thống đốc sự vụ dân tình: Courcy.

 

Tham mưu tổng trưởng Warnel

Thiếu Jamont với tướng Prudhommè.

Tàu theo hòa ước, rút về

Hồng Chương ký ước hai bờ kết cam:

 

Pháp hưởng quyền ở Việt Nam

Thuyền Tàu vào cảng không làm khó khăn.

Pháp trả cửa bể mặt bằng

Tiền binh phí tổn, thì rằng miễn chân.

 

Ngay hôm hòa ước Thiên Tân

Courbet trung tướng mất gần Đài Loan.

 

Chương XIV

LOẠN Ở TRUNG KỲ

1. Thống Tướng De Courcy vào Huế:

    (18-4-1885 Ất Dậu)

Pháp bảo hộ, lắm tính toan

Quan nhà sức mọn, vẫn còn đánh Tây.

Ở Huế, Tường, Thuyết hằng ngày

Triều đình thao túng, gió mây mọi đường.

 

Dục Đức chết thật thê lương

Hầm giam tăm tối, đói xương rã tàn.

Chết rồi, Tường, Thuyết vu gian:

Thông mưu với giặc ra màn diệt thân.

 

Lập đồn Tân Sở hậu thân

Chở ra Cam Lộ châu trân chất đầy.

Nói là phòng để mai này

Quân binh ra đó còn ngày chống Tây.

 

Đánh Pháp, ý định đã đầy

Đại bác, Pháp bắt dẹp ngay cổng thành.

Thiên Tân hòa ước với Thanh

Courcy thống tướng ra nhanh Bắc Kỳ.

 

Năm trăm quân tới thị uy

Bắt triều đình Huế thực thi ước hòa.

Khâm sứ Pháp De Champeaux

Cùng hai quan lớn theo nhau đón đàng.

 

Chào hàng ở cửa Thuận An

Hôm sau, Thống tướng triệu quan Thuyết, Tường.

Sang dinh bàn việc kiến vương

Tức là yết kiến cung đường Hàm Nghi.

 

Thuyết, Tường lừng lẫy uy nghi

Thấy thống tướng vậy, giận ghi ở lòng.

Cựu thần nói chuyện nho phong:

Thuyết văn, tướng võ dáng trông chẳng hùng.

 

Đầu trọc, người béo, đen mun

Đi không chững chạc, giao dung chẳng sành.

Xưa nay, cậy thế với danh

Hiếp người, chém giết tam bành lấy oai.

 

Chừng như đối đáp người ngoài

Trong bụng sợ khiếp nên oai nuốt vào.

Tường kia giao thiệp, mưu cao

Một mình phó hội “bàn đào” Courcy.

 

Thuyết viện cớ bệnh không đi

De Courcy bảo bệnh gì cũng khiêng.

Sợ uy quan Pháp tới phiên

Nhân động đất nghĩ trời liền khiến đây.

 

Thuyết bèn sửa soạn đánh Tây

Pháp bắt mở cửa quan thầy Pháp vô.

 

Triều đình thấy Pháp xử thô

Bắt mở cửa chính, hàm hồ, lố lăng.

Trái điều quốc thể nên chăng

Thống sứ không chịu, gạt phăng trở về.

 

2. Triều đình chạy ra Quảng Trị:

Hôm sau, Cơ mật viện chờ

Bên dinh Khâm sứ định bề chính, bên.

Courcy không tiếp, chẳng lên

Thái hậu tặng phẩm, kiêu kênh chẳng cần.

 

Courcy khinh mạn muôn phần

Triều thần ngơ ngác thấm dần trẽn trơ.

Thất Thuyết tức giận mới thề

Sống chết một trận cũng nhờ trời đây.

 

Nửa đêm, Mang Cá đạn bay

Dinh Khâm sứ, pháo cũng cày cháy lan.

Chiều hôm, thống sứ tiệc tan

Vừa nghe súng nổ, lính quan rụng rời.

 

Nhà xung quanh cháy rực trời

Quân Pháp ráng giữ chờ thời sáng ra.

Sang ngày qua tới hăm ba

Pháp bèn công phá, quân ta chạy nhầu.

 

Văn Tường vào giữa điện tâu

Xin rước Thái hậu tới đầu Khiêm Lăng.

Tường chực sẵn, Thái hậu rằng:

Lo thu xếp hẳn họa hằn cho xong.

 

Vâng lời, Tường ở lại trong

Ngoài kia, Thất Thuyết ruổi rong một lòng.

Xa giá đi tới Kim Long

Lên chùa Thiên Mụ, Thuyết vòng đón lui.

 

Dân gian, già trẻ dập vùi

Đàn bà, công tử ngậm ngùi oán thương.

Dắt nhau chạy loạn mù sương

Tìm phương sống tránh mọi đường súng dao.

 

Trường Thi, xa giá bôn đào

Nghỉ một lát, Thuyết vội vào hối đi.

Rằng Tây đuổi tới tức thì

Sáng hăm bốn, những hiểm nguy bớt dần.

 

Quảng Trị, xa giá nghỉ chân

Tuần phủ Quang Đản chia phần lính canh.

 

Lương, tiền, khí giới mất đành

Quân vài nghìn vạn cũng thành bóng ma.

Chín mươi sáu lính gọi là

Bị thương với tử, so ra, Pháp lời.

 

3. Nguyễn Văn Tường ra thú:

Pháp chiếm giữ khắp mọi nơi

Các quan chẳng dám khơi khơi nhận mình.

Nguyễn Văn Tường mới cậy xin

Caspard Giám mục thú trình Courcy.

 

Thương bạc viện, chức vẫn y

Đại uý Schmitz canh ky mỗi ngày.

Thời hạn hai tháng trong tay

Làm sao mọi việc yên ngay hãy làm.

 

3. Xa giá các bà Thái hậu về Khiêm Lăng:

Văn Tường viết sớ kết cam

Xin rước Thái hậu dân an cạn cùng.

Hàm Nghi, Thái hậu tam cung

Bị Thuyết canh giữ, sớ dưng chẳng tường.

 

Hàm Nghi rồi phải lên đường

Lạy tạ từ mẫu sầu vương não nùng.

Một giờ sau, chốn từ cung

Thái giám lại chẳng đi cùng với vua.

 

Quảng Trị, tin tức thớt thưa

Từ Dụ tiếp được tin đưa của Tường.

Xin về Huế sống như thường

Tìm vua chẳng biết vua dường ở đâu?

 

Thuyết thư về nói trước sau

Rằng Tường đã thấy mưu cầu phản phe.

Xin rằng chớ vội mà nghe

Lời qua, tiếng lại e dè tính sao?

 

Văn Tường giục kíp hồi trào

Thái hậu quyết định trở vào, chẳng ra.

Quang Đản hộ giá bôn ba

Khiêm cung, Tường rước các bà thỉnh an.

 

Khi Tường đi vắng, Thọ Xuân

Được làm giám quốc, xóa luôn chức nhà.

Thượng thư Binh Bộ Champeaux

Được Courcy định để hầu bãi binh.

 

Tổng đốc Nam Định: Đình Bình

Kinh lược: Hữu Độ cùng dinh Văn Tường.

Coi chung Cơ mật viện thương

Vì hai ông ấy làu thường mọi khâu.

 

Văn Tường, Hữu Độ chống nhau

Nên Độ mới phải quay đầu trở ra.

 

5. Quân Cần Vương:

Quảng Bình, hịch đã phát ra

Bình Thuận, Thanh – Nghệ dân ta tỏ tường.

Hưởng ứng hịch khắp mọi phương

Nơi nào cũng có con đường đấu tranh.

 

Thống tướng định dẹp cho nhanh

Ngàn rưỡi quân định rời thành Huế đi.

Nhưng mà chính phủ Paris

Điện sang lệnh cấm lạm vì đại binh.

 

Pháp dịch chết mấy ngàn binh

Cho nên hoãn cuộc trường chinh tảo trừ.

Hàm Nghi chẳng biết thực hư

Triều đình rối rắm y như giẻ nồi.

 

Văn Tường ngày hẹn xong rồi

Kỳ hạn hai tháng tới hồi nghiệm thu.

Tường bị người ghét, mới trù

Xin đem xử lý mà bù tội y.

 

Courcy  Thống tướng Bắc Kỳ

Chiếu quân kỷ bắt đày đi Văn Tường.

Thất Đính, Thận Duật chung đường

Trên tàu, Duật chết, đại dương dựng mồ.

 

Haiti, đảo lạ sóng xô

Văn Tường bệnh chết, xác khô vô hòm.

Pháp cho mang hết về chôn

Một thời Phụ chánh xác hồn rã tan!

 

6. Vua Đồng Khánh 同 慶 (6-18-1885):

Trị Tường, thống lệnh đã ban

Triều chính giao Độ với Phan Chính Bình.

Bắc Kỳ, Trọng Hợp: Lược kinh

Pháp lập vua mới thân tình: Chánh Mông.

Tới phủ Khâm sứ thụ phong

Niên hiệu Đồng Khánh, vua không thực quyền.

 

Hàm Nghi nghĩa chẳng chao nghiêng

Cần Vương Hịch” phát thiêng liêng gọi lòng.

Thương vua, lắm kẻ còn mong

Theo lời hịch gọi, gieo giông khắp vùng.

 

Quảng Nam, ”Nghĩa hội” chuông rung

Quan sơn phòng sứ Trần cùng lập nên.

Bình Định, Bình Thuận, Phú Yên

Cờ nghĩa dấy khắp mọi miền đánh Tây.

 

Đình Hội đó, Tự Như đây

Quảng, Thanh, Bình – Trị cờ bay máu đào.

Lê Ninh, Hà Tĩnh anh hào

Nguyễn Phạm Tuân với Văn Mao hợp đoàn.

 

Có ông Nghè Nguyễn Xuân Ôn

Cùng Lê Doãn Nhạ xây đồn Nghệ An.

Nhiều người xướng hịch là quan

Binh vào tỉnh, phủ thiêu làng đạo lang.

 

Bắc Kỳ, Tạ Hiện cựu quan

Bãi Sậy Thiện Thuật cũng quan cựu triều.

Thêm Tàu quấy nhiễu liêu xiêu

Pháp chia binh chống thiếu điều hết hơi.

 

7. Thống tướng De Courcy phải triệt về:

Hay việc rắc rối, lôi thôi

Courcy, Thống tướng ra coi Bắc Kỳ.

Nhưng mà khắc nghiệt, đa nghi

Cho nên sự việc rù rì chẳng xong.

 

Paris phe “muốn“, phe “không”

Brigoon từ chức để hòng giữ danh.

Thủ tướng Pháp mới tài lanh

Courcy bị triệu phải đành rút chân.

Varnel, trung tướng thế thần

Paul Bert, Thống đốc cũng dân văn về.

 

8. Vua Hàm Nghi ở Quảng Bình:

Đồng Khánh ở Huế đăng cơ

Cựu thần chống Pháp làm lơ chẳng cần.

Quảng Bình, đại tá Chaumont

Ngăn đường Thất Thuyết thông dân Bắc Kỳ.

 

Nghệ An, Thanh Hóa ra uy

Văn thân đánh dữ, mấy khi nước nhờ.

Để Grégoire lại phòng hờ

Chaumont đi lấy binh về đánh nhau.

 

Quảng Bình, vua ở đã lâu

Thất Thuyết xem cũng vả đầu ngán ngao!

Chống không nổi Pháp, bôn đào

Để vua ở lại, bay cao tới Tàu.

 

”Trung quân” chẳng biết về đâu

”Ái quốc” cách cuối là cầu ngoại bang.

Triều Châu, nơi chết danh tàn

Ông già chém đá” ngục đàng lạnh tanh.

 

Có câu: “Cây đắng, trái lành”

Thiệp, Đạm con cái xứng danh anh hùng.

Bảo vệ vua trọn tình chung

Phạm Tuân, Lê Trực cũng cùng đảm can.

 

Mignot chia đánh hai đàng

Một đàng Tuyên Hóa, một đàng Nghệ An.

Văn Thân thất thế, rã tan

Metznigert rút, tìm đàng tiến ra.

 

9. Ông Paul Bert (5-3-1886 đến 11-11-1886):

Quan văn tên gọi Paul Bert

Đặt phủ Thống sứ mà… đe Bắc Kỳ.

Lo toan mọi việc thu, chi

Lập Thương nghiệp cục, mở thi học đường.

 

Đồn điền điều lệ, chủ trương:

Làm trước rồi mới lệ thường tấu sau.

Paul Bert lo quá, bệnh đau

Cùng năm thì mất, Bihourd thế quyền.

 

10. Lập Tổng Đốc toàn quyền phủ:

    (5-10 Đinh Tuất)

Pháp lập bảo hộ Cao Miên

Kiêm luôn bảo hộ ba miền nước Nam.

Rành rành bản chất tham lam

Viễn đông thuộc địa một quan… toàn quyền!

 

Nam Kỳ, thống đốc là trên

Cao hơn khâm sứ Cao Miên, Bắc Kỳ.

Trên các thống đốc hạng nhì

Toàn quyền thống đốc tay chì: Coustant.

 

Chương XV: VIỆC ĐÁNH DẸP

Ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ

1. Việc đánh dẹp ở các nơi:

Trung Kỳ nghĩa đảm trung can

Trứng chọi đá, lửa thử vàng đó đây.

Tên Trần Bá Lộc xuống tay

Đàn áp khởi nghĩa, nịnh thầy đến phiên.

 

Bắt Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền

Với Nguyễn Đức Thuận thay phiên chém liền.

Cho nên Bình Thuận, Phú Yên

Đảng Văn Thân rã mới yên kinh kỳ.

 

2. Vua Đồng Khánh ra Quảng Bình:

Quảng Bình, Đồng Khánh ra đi

Chiêu quan cũ, dụ Hàm Nghi tước vì.

Chuyến đi chẳng kết quả chi

Phải quay trở lại Huế vì bệnh đau!

 

3. Hoàng Kế Viêm ra quân thứ mạn

Quảng Bình:

Kế Viêm, đề đốc về đầu

Kinh lược đại sứ đã hầu đến tay.

Văn Ban, Nguyễn Trực về đây

Nguyên Thành, Chư, Khải trao ngay khanh hầu.

 

Paul Bert, Đồng Khánh bàn nhau:

Kế Viêm An phủ thì hầu gi y.

Lại phong làm Hữu trực kỳ

Tiện nghi hành sự vỗ vì Hàm Nghi.

 

Hàm Nghi ba tỉnh bảo trì

Các quan nguyên chức, vua thì tước Vương.

Thanh Thủy, Lê Trực một đường

Hà Tĩnh, Thất Đạm một phương lách luồn.

 

Tôn Thất Thiệp, Nguyễn Phạm Tuân

Thanh Hóa quyết liệt, canh chừng Hàm Nghi.

Kế Viêm ra sức được chi

Năm Đinh Hợi phải chịu đi trở về.

 

4. Lập đồn Minh Cầm (1887):

Triều đình lỡ vận sa cơ

Cho nên phó mặc đôi bờ lũ Tây.

Mua chuộc thủ hạ, chước hay

Nên không dùng đại binh này tấn công.

 

Quảng Bình, Mouteaux ra phong

Đánh đồn Lê Trực mà không lợi gì.

Thanh Thủy thủ kỹ từng ly

Minh Cầm đồn lập dự khi phải càn.

 

Lê Trực trung – ái hai đàng

Quan đề đốc vốn thuộc hàng chính quân.

Con người nghĩa khí đức nhân

Nên Mouteaux vẫn mong ông thuận hàng.

 

Lê Lộc giữ dạ trung cang:

“Vì Vua, vì nước chẳng màng hy sinh”.

Vây làng, đại uý ra binh

Phạm Tuân phải đạn, bỏ mình vinh quang!

 

Thuốc phiện hối lộ chỉ đàng

Tên Ngọc nhận đổi giàu sang một mình.

Đại úy ban lệnh rút binh

Lính Pháp về lại đồn binh Minh Cầm.

 

Để cho tên Ngọc âm thầm

Chờ thời cơ mới ngấm ngầm xuống tay.

Mouteaux mỏi mệt lâu ngày

Xin về Pháp nghỉ chờ ngày được thay.

 

5. Vua Hàm Nghi bị bắt:

Tháng giêng, Mậu Tý, quân Tây

Ra Quảng Bình để mà vây vua nhà.

Vừa khi kiếm chẳng có ra

Thì đồn Mang Cá, chạy ra Đình Tình.

 

Minh Cầm, nó vốn bình sinh

Hàm Nghi hầu cận, khai trình chỗ vua!

Pháp truyền “bắt sống nhà vua

Những ai chống cự hay hùa, giết đi!”.

 

Hai tên lĩnh mệnh mà đi

Hai mươi thủ hạ kiên trì bắt vua.

Bị đâm, Thất Thiệp chịu thua

Nửa đêm bị giết, chát chua một đời!

 

Hàm Nghi thấy phản, truyền lời:

Gươm đây sao chẳng lấy thời giết ta.

Làm chi cái chuyện phản nhà

Giết ta hơn bắt ta mà nộp Tây!”.

 

Vua vừa đôi chín, tội thay

Năm năm vong vị chẳng may chút nào!

Dẫu rằng bị bắt, bị đày

Xem ra cũng đáng mặt mày Đế, Vương!

Vua thời loạn lạc đáng thương

Kiên trì đánh giặc sáng gương để đời!

 

Lễ Vương, Pháp lấy đãi Người

Algérie xứ phải đày Người đi!

Hàng năm, Pháp cấp tiền chi

Dẫu xâm lăng cũng đôi khi có… tình!

 

Trương Quang Ngọc, Nguyễn Đình Tình

Hai hàm quan võ, nhục mình lĩnh binh!

Thủ hạ lĩnh vài đồng trinh

Đứa hàm suất đội, bán tình lấy công!?

 

Tôn Thất Đạm thấy chẳng xong

Vua đã bị bắt, còn mong nỗi gì!

Thôi thì… thư gởi Hàm Nghi

Cuối đầu tạ lỗi chia ly vẹn toàn.

 

Thư cho thiếu tá vuông tròn

Xin cho thủ hạ sống còn, may ra:

Bây giờ, Pháp muốn bắt ta

Thì vào rừng thấy mả ta ở  rừng!”.

 

Thắt cổ, nước mắt rưng rưng

Còn hơn những kẻ tráo trưng hại người!

Thất Thuyết cư xử người cười

Hai con thì lại hóa mười hoa tươi.

 

Lê Trực cũng chẳng hổ ngươi

Lời lẽ khẳng khái khiến người ngợi khen.

Triều đình bắt tội, thật hèn

Pháp thì tha bỗng trắng đen một đàng.

 

Quảng Bình, quê cũ về làng

Mạn ngoài kính đức, trong đang quý tình!

Yêu nước đâu chỉ quyên sinh

Sống cho có ích, trung trinh để đời.

 

5. Vua Thành Thái

* Đồng Khánh Mất (25-1-Mậu Tí 1888)

Đồng Khánh phải bệnh về trời

Ba năm ngôi vị tuổi đời hăm lăm.

Miếu hiệu là Cảnh Tông Thuần

Làm vua như bột vào khuôn có là…

 

Khâm sứ Huế chợt nhớ ra:

Ngày trước Tự Đức tức là Dực Tông.

Dực Tông trai, gái cũng không

Phải đem ba cháu cùng dòng dưỡng nuôi.

 

Dục Đức lớn tuổi lên ngôi

Bị phế, giam bởi bầy tôi Thuyết, Tường.

Thuở nhỏ lui tới Pháp thường

Cho nên quen biết tận tường Rheinard.

 

Nhớ cảnh Dục Đức xót xa

Nhìn cây biết cội mới ra nhớ người.

Bửu Lân chỉ mới lên mười

Đang cùng với mẹ ngậm cười chốn lao.

 

Nguyễn, Trương: Phụ chính đương trào

Giúp vua Thành Thái đi vào kỹ cương.

 

7. Sự đánh dẹp ở Bắc Kỳ:

Thiên Tân hòa ước hiệp thương

Quân Thanh cũng đã hết đường đến ta.

Vua quan triều Huế chẳng qua

Bù nhìn một lũ có là thứ chi!

Các cuộc khởi nghĩa Bắc Kỳ

Bị Hoàng Cao Khải vô nghì dẹp tan!

 

Văn Thân – Đốc Tít ra hàng

Tán dương Thiện Thuật chạy sang xứ Tàu.

Kiều, Kỳ ra thú, giữ đầu

Cai Kinh bị bắt, biết đâu chốn đày?

 

Hoàng Hoa Thám chiến khu đây

Ba mươi năm đánh quân Tây khiếp hồn!

Thủ hạ ám hại, ngậm hờn

Ngàn năm gương sáng chập chờn nghĩa chung.

 

8. Việc Phan Đình Phùng:

Non sông tưởng nhớ anh hùng

Đình Nguyên Ngự sử Đình Phùng họ Phan.

Can Thuyết, Tường phế tân quân

Nên bị cách chức, bãi quan về nhà.

 

Hương Khê, Hà Tĩnh quê cha

Mở đồn điền ở quê nhà Vụ Quang.

Qua Tàu, ông gởi người sang

Học nghề đúc súng tìm đàng đánh Tây.

 

Vốn người thao lược, văn hay

Tướng tài mà chẳng cơ may gặp thời!

Văn Thân, đầu đảng riêng trời

Quân Pháp nể mặt, Huế thời… phải lơ.

 

Đình Nguyên vùng vẫy Hương Khê

Giết Trương Quang Ngọc một bề tớ gian.

Về già, bệnh mất, quân tan

Nguyễn Thân, tổng đốc dã man “quật mồ”.

 

Thuốc súng trộn với xương khô

Ghiền cho nát xác không mồ, bắn tan.

Có người nói chỉ ý quan

Nguyễn Thân sau đó vội vàng chôn thôi.

 

Đình Nguyên Ngự sử mất rồi

Đảng Văn Thân mới đến hồi vỡ tan!

 

9. Lòng yêu nước của người Việt Nam:

Pháp đô hộ, dân lầm than

Ngọn lửa đánh Pháp cứu màn điêu linh:

Kỳ Đồng cùng với Thiên Binh

Nổi lên ở mạn Thái Bình – Bắc Ninh.

 

Bắc Kỳ, ”Nghĩa Thục Đông Kinh”.

”Duy Tân” cùng với Chu Trinh sáng ngời.

Phan – Chu gương tốt để đời

Nhắc cùng con cháu một thời lầm than.

 

Hà Nội, đầu độc Tây lang

Sưu cao, thuế nặng oán than mỗi ngày.

Hết vua Thành Thái bị đày

Duy Tân cũng phải tới ngày biệt quê!

 

Việt Nam tình cảnh thảm thê

Trăm năm nô lệ mỏi mê tháng ngày!

Ai gây thảm họa như vầy

Ai người cứu thỏ giữa bầy sói lang?

 

Chương XVI

CÔNG VIỆC CỦA BẢO HỘ

1. Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Phòng

thành đất nhượng địa:

Sau khi đánh dẹp đã an

Toàn quyền lần lượt mở mang mọi đường.

Triều đình Huế ký giấy nhường

Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng nhượng không.

 

2. Việc kinh doanh ở các xứ bảo hộ:

Công việc bảo hộ đã xong

Chính phủ lo ngại ngoài trong phục thù.

Bảo an xét kỹ từng khu

Dùng người bản xứ mà thu dụng dần.

 

Binh hai sắc lính đã phân:

Khố xanh thì giữ cướp gần, cướp xa.

Khố đỏ quản trị sơn hà

Nước nhà có loạn thì ra chiến trường.

 

Hành binh, đường sá, thông thương

Lợi đường buôn bán, tiện đường đánh nhau.

Thương cục, lập xưởng đóng tàu

Mở đường xe lửa phòng sau lợi mình.

 

Cam Môn, Cam Cát, Trấn Ninh

Pháp đi lấy lại mấy dinh tận Lào.

Nhân Tiêm giết một binh trào

Hai tàu chiến Pháp đổ vào Mê Nam.

 

Tiêm La hòa ước phải làm

Nhường Lào cho Pháp, kết cam rõ ràng.

Bồi thường hai triệu phật lăng

Những người chống Pháp hung hăng, trị liền.

 

Lập phủ thống sứ Vientiane

Cai trị địa hạt Lào đang được nhường.

Rousseau thấy việc lương ương

Tám mươi triệu mượn chi phương Bắc Kỳ.

 

Đinh Dậu, Rousseau ra đi

Doumer thay chức, định vì thuế nha.

Cho độc quyền muối, rượu, nha

Bỏ Nha kinh lược, xoay qua mượn tiền.

 

Canh nông, công nghệ mọi miền

Hai trăm triệu mượn mở liền hỏa xa.

Nhâm Dần, Doumer về nhà

Toàn quyền tổng đốc mới là Beau.

 

TỔNG KẾT

Việt Nam sử lược ban đầu

Đến đây tạm dứt hạ hầu tiếp chương.

Chép sử như dệt vải thường

Dệt xong mới biết tận tường đẹp hư.

 

Việt Nam tấm sử công tư

Còn dài dằng dặc cũng như sợi tằm.

Khỏe mạnh, vải dệt mới chăm

Bệnh đau, bỏ dở như tầm ngán dâu.

 

Tương lai hay dở về đâu

Người bản quốc biết đuôi đầu nhẫn thân.

Học tập những cái ta cần

Tương lai kỳ vọng phước phần một mai.

 

Văn hóa ta kém chi ai

Tiềm năng hiếu học miệt mài mới thông.

Noi theo chí khí cha ông

Dệt thêm giai đoạn sử hồng gấm hoa.

 

Điều nên cần tránh tiêu pha

Những gì hủ bại hại nhà, bỏ đi.

Nhân cách đừng lẫn lộn chi

Đồng tâm hiệp lực cái gì cũng xong.

 

Thái lai, bỉ cực hưng vong

Tuần hoàn tạo hóa đã đong cạn đầy.

Đại đồng chi thể mà hay

Lương hữu dĩ giã đến ngày sấm tan.

 

Sử xanh viết dưới trăng vàng

Khúc ca suy – thịnh vô vàn đắng cay.

Xuân về trên những bàn tay

Dệt đêm xanh sử, bớt ngày héo hon.

 

Ai người nhớ nước, thương non

Mở trang lịch sử gọi hồn cố hương!

 

CHUNG

(Trọn cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim).

Mục lục:

I. Lời mở

II. Việt Nam sử ca:

Quyển I: Thượng cổ thời đại

Chương I. Họ Hồng Bàng

Chương II. Nhà Thục

Chương III. Xã hội nước Tàu

Chương IV. Nhà Triệu

 

Quyển II: Bắc thuộc thời đại

Chương I. Bắc thuộc lần thứ nhất

Chương II. Trưng Vương

Chương III. Bắc thuộc lần thứ hai

Chương IV. Nhà Tiền Lý.

Chương V. Bắc thuộc lần thứ ba

Nước Tàu về đời Ngũ Qúy

Chương VI. Kết qủa của thời đại Bắc thuộc

 

Quyển III: Tự chủ thời đại

Chương I. Nhà Ngô

Chương II. Nhà Đinh

Chương III. Nhà Tiền Lý

Chương IV. Nhà Lý

Chương V. Nhà Lý (tiếp theo)

Chương VI. Nhà Trần (Thời kỳ thứ nhất)

Chương VII. Giặc nhà Nguyên – I

Chương VIII. Giặc nhà Nguyên – II

Chương IX. Nhà Trần (Thời kỳ thứ hai)

Chương X. Nhà Trần (Thời kỳ thứ ba)

Chương XI. Nhà Hồ

Chương XII. Nhà Hậu Trần

Chương XIII. Thuộc nhà Minh

Chương XIV. Mười năm đánh Tàu

Chương XV. Nhà Lê

 

Quyển IV: Tự chủ thời đại

Chương I. Lịch triều lược kỷ

Chương II. Nam triều – Bắc triều

Chương III. Trịnh – Nguyễn phân tranh

Chương IV. Sự chiến tranh

Chương V. Công việc họ Trịnh làm ở ngoài Bắc

Chương VI. Công việc họ Nguyễn làm ở miền trong

Chương VII. Người Châu Âu sang nước Việt Nam

Chương VIII. Vận trung suy của chúa Nguyễn

Chương IX. Họ Trịnh mất nghiệp chúa

Chương X. Nhà Hậu Lê mất ngôi vua

Chương XI. Nhà Tây Sơn

Chương XII. Nguyễn vương thống nhất nước Nam

 

Quyển V: Cận kim thời đại

Chương I. Thế tổ

Chương II. Thánh tổ

Chương III. Thánh tổ (tiếp theo)

Chương IV. Hiến tổ

Chương V. Dực Tông

Chương VI. Tình hình nước Nam cuối thời Tự Đức

Chương VII. Nước Pháp lấy Nam kỳ

Chương VIII. Giặc giã trong nước

Chương IX. Quân Pháp lấy Bắc Kỳ lần thứ nhất

Chương X. Tình thế nước Nam từ năm Giáp Tuất về sau

Chương XI. Quân Pháp lấy Bắc Kỳ lần thứ hai

Chương XII. Cuộc bảo hộ của nước Pháp

Chương XIII. Chiến tranh với nước Tàu

Chương XIV. Loạn ở Trung Kỳ

Chương XV. Việc đánh dẹp ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ

Chương XVI. Công việc của bảo hộ

Tổng kết

(đón đọc “Việt Nam lục bát sử 2 tiếp theo cho đến nay).

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

65 Nguyễn Du – Hà Nội

Tel&Fax: (043) 8222135.

Email: nxbhoinhavan@hn.vnn.vn

Chịu trách nhiệm xuất bản:

PHẠM TRUNG ĐỈNH

Biên tập: TẠ DUY ANH

Bìa: Họa sĩ VĂN SÁN

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - LỜI GIỚI THIỆU

    Với Việt Nam lục bát sử, nữ tác giả đa tài Ngọc Thiên Hoa lại đem đến cho độc giả một bất ngờ thú vị. Bất ngờ vì lâu lắm rồi mới lại có người để mắt tới Sử…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN I

    VIỆT NAM L ỤC B ÁT SỬ NƯỚC VIỆT NAM (越 南) 1. Quốc hiệu: Hồng Bàng lập nước Văn Lang Âu Lạc, Thục Phán sửa sang bội phần.   Tượng Quận gọi bởi nhà Tần Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam: Cửu…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN II

    Chương VI NHÀ TRẦN (1275-1400) Thời kỳ thứ nhất (1225-1293) I. TRẦN THÁI TÔNG (1225-1258) Niên hiệu: Kiến Trung 建 中 1. Trần Thủ Độ: ... Thủ Độ bày vẽ mông lung Cướp ngôi nhà Lý gian hùng,…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN III

    Chương XIV MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU             (1418-1427) 1. Lê Lợi  (鯬 利) khởi nghĩa ở Lam Sơn: Lam Sơn ruộng núi muôn bề  ... Lê Lợi giàu có bằng nghề ruộng nông. Giúp người hào kiệt lưu vong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN IV

    Quyển IV TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (1528-1802) (Thời kỳ Nam Bắc phân tranh) NHÀ HẬU LÊ  黎 後  Thời phân tranh (1533-1788) ... Chương I LỊCH TRIỀU LƯỢC KỶ Nước Nam một cõi biển Đông Ngô Vương đuổi Hán uy phong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN V

    Chương IX HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA (1510-1786) 1. Chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ: Trịnh Sâm bỏ trưởng, dâm tà Mê say Thị Huệ nên sa thế cùng.  ... Cho mình một đấng anh hùng…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VI

    Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840) 1. Sự giặc giã: Tiêm, Lào quấy nhiễu Nam, Tây Cựu thần Lê dấy đó đây Bắc Kỳ. .... Quan trường chỉ giỏi chi li Thần dân bất mãn: Vua chi hẹp…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VII

    Chương XI PHÁP CHIẾM  LẤY BẮC KỲ Lần thứ hai (1882) 1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội: Người Pháp có giấy thông thương   ... Bị giặc Khách chận trên đường Vân Nam. Pháp bèn bắt lỗi…