Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840)

1. Sự giặc giã:

Tiêm, Lào quấy nhiễu Nam, Tây

Cựu thần Lê dấy đó đây Bắc Kỳ. ….

Quan trường chỉ giỏi chi li

Thần dân bất mãn: Vua chi hẹp hòi.

May nhờ tướng giỏi bầy tôi

Minh Giảng, Công Trứ lần hồi tóm thâu.

 

2.  Giặc ở Bắc Kỳ:

Giặc cỏ quấy mấy Huyện, Châu

Loạn lớn Nam Định đứng đầu họ Phan.

Năm Minh Mệnh, đã lấn sang:

Ninh Bình, Nam Định, Tuyên Quang loạn tràn.

 

3. Phan Bá Vành 潘 伯 (1826-1827):

Nguyễn Hạnh, Đức Cát, Bá Vành

Giết quan Thủy ngự Đặng Đành, Nguyễn Trung.

Trấn thủ Nam Định số cùng

Để Lê Mậu Cúc vẫy vùng tứ tung.

Bá Vành đánh phá muôn trùng

Hợp cùng giặc Khách cướp vùng biển khơi.

 

Tiên Minh, Huyện lệnh quấy tơi

Dẫn binh lính phá tơi bời Nghi Dương.

Quay về chiếm phủ Thiên Tường

Vây quan chợ Quán, Kiến Xương đánh tràn.

 

Vua sai tham biện Nghệ An

Tham biện Thanh Hóa diệt đàng họ Phan.

Binh triều đình, thế nước tràn

Bá Vành, đồng đảng, bị quan bắt về.

 

4. Lê Duy Lương  黎 濰 良 (1833):

Đương thời, có cháu nhà Lê

Mưu khôi nghiệp cũ, giương cờ khởi binh.

Lê Duy Lương ở Ninh Bình

Nổi lên tự nhận xưng mình: Hoàng tôn.

 

Đem binh vây Huyện, Châu, Thôn

Hưng Hóa đánh trả bảo tồn chút danh.

Tổng đốc hai tỉnh Nghệ – Thanh

Quang Cự – Văn Trọng vây nhanh Ninh Bình.

 

Bắt Duy Lương giải về kinh

Dòng Vương dính tội, gia hình phải cam:

Bình Định, Quảng Nghĩa, Quảng Nam

Ngăn ngừa khởi loạn, đầy làm thứ dân.

 

5. Nông Văn Vân 農 文 霧 (1833-1835):

Nông Văn Vân ở Tuyên Quang

Tri Châu Bảo Lạc, họ hàng Văn Khôi.

Loạn vì chuyện bực mình thôi

Vân bị ghép tội theo Khôi phản loàn.

 

Văn Khôi dấy loạn Phiên An

Vân, anh vợ chẳng thoát màn lưới giăng.

Trong lòng bất mãn đang căng

Vùng lên đánh chiếm Cao Bằng – Thái Nguyên.

 

Bắt quan tham, thích chữ liền

Mặt khắc bốn tiếng: ăn tiền của dân”!

Triều đình đánh dẹp mấy lần

Hao binh, tổn tướng, muôn phần khó khăn!

 

Quang Cự lấy lại Cao Bằng

Tiến công ba mặt nhịt nhằng kiếm cung.

Ba đạo hội ở Vân Trung

Cùng đường, Vân định dung thân xứ Tàu.

Nhà Thanh được báo từ lâu

Vân bị rượt bắt ở đầu Tuyên Quang.

 

Phạm Văn Điển đuổi tận hang

Văn Vân lẫn giữa bạt ngàn núi xanh.

Văn Điển đốt lửa chung quanh

Vân thà chết cháy giữ danh, chẳng hàng!

 

6. Giặc ở Nam Kỳ: (1833-1838)

Nam Kỳ đất mới khai hoang

Là nơi thánh nghiệp đăng quang rỡ ràng.

Vào đời Thánh Tổ khang trang

Nhưng nghe kẻ bậy, hàm oan đại thần.

 

Tổng trấn Gia Định thương dân

Gia Long Thánh Tổ trọng thân cựu thần.

Biết Duyệt nóng nảy, bất cần

Thương vì “khai quốc công thần“, mới… lơ!

 

Lê Văn Duyệt mất, chẳng ngờ

Xuân Nguyên tráo trở, mập mờ giở chiêu.

Tham lam, làm ác khá nhiều

Móc moi chuyện nhỏ, kiếm điều hại chơi.

 

Tội nhân có Nguyễn Hữu Khôi

Con nuôi Văn Duyệt theo nòi họ Lê.

Văn Duyệt tưởng thưởng mọi bề

Phong phó vệ úy cầm cờ giúp cha.

 

Bị Xuân Nguyên bắt chẳng tha

Bất bình, Khôi giết cả nhà Xuân Nguyên.

Tổng đốc đã xuống cửu tuyền

Quan Án, quan Lãnh… ở hiền, được an.

 

Quân triều đang đóng Phiên An

Phần nhiều theo hết về hàng Văn Khôi.

Xưng Đại nguyên soái hẳn hoi

Cắt đặt phong thưởng như coi triều đình.

 

Công Triều nhận lệnh, ra binh

Gia Định lục tỉnh, rinh về biếu Khôi!

Triều đình sai những bầy tôi

Phúc Lương, Xuân, Thúy, Giảng rồi Văn Năng.

 

Đem Thủy, Bộ, Tượng đánh ngăn

Công Triều quăng giáo, giơ khăn, chịu hàng!

Văn Khôi bị phản, còn gan

Đóng thành chống giữ, kiếm đàng viện Tiêm.

 

Ngã đau mà chết im lìm

Triều đình, Ất Tị mới dìm Phiên An.

Nguyễn Xuân, Văn Trọng bạo tàn

Vào trong giết chết quân quan cả thành.

 

Trời còn có đức hiếu sanh

Quân hơn nghìn tám, giết đành đoạn sao!

Núi mồ tập thể, ôi chao

Có tên mả ngụy” xương cao ngất trời!

 

Sáu người bị bắt, hết thời

Xương gan thịt trộn, bã bời, gớm thay!

Lăng trì, ngựa xé, voi giày

Gia hình thời Nguyễn, tội này khó dung.

 

Một linh mục Pháp cùng chung

Vào thành truyền giáo nhận khung giảo hình.

Thế gian nào đã tận cùng

Đức nhân hai chữ chẳng dùng sáng gương?

 

7. Án Lê Văn Duyệt và Lê Chất:

* Lê Văn Duyệt 黎 文 悦

Phiên An thành hủy nát tương

Lê Văn Khôi cũng hết đường tái lai.

Triều đình nghị tội cả hai

Công thần Chất, Duyệt vương tai rủa nguyền.

 

Sử kia, nhà Nguyễn còn truyền:

“Đại Nam liệt truyện chính biên” viết rằng:

“Năm xưa, Gia Định là căn

Văn Duyệt ở với nghịch thần trảo nha.

 

Bọn Khôi lò ấy mà ra

Cùng nhau phản loạn, quân ta cực lòng.

Nay Duyệt phải tội thông đồng

Chức quan đoạt lại, gia phong xử hình.

 

Nghe Đô sát viện tâu trình

Vua dụ Nội các lời bình như sau:

‘Văn Duyệt chết đã từ lâu

Xuất thân từ thuở thằng hầu cấm cung.

 

Đức Hoàng khảo đã tin dùng

Ban chức đại tướng cho cùng xuất binh.

Hắn mưu phản nếu mà sinh

Nước yên, một kẻ hoạn tình sợ chi?

 

Từ khi trẫm được ngôi vì

Suy đi, tuổi nó cũng thì đã cao.

Cựu thần chẳng mấy trong trào

Cho nên rộng lượng chớ nào khắc khe?

 

Ai dè nó chẳng biết nghe

Đem lời rắn rết mà khoe cái tài.

Bọn Thanh – Nghệ, lũ bạc bài

Văn Khôi vô lại, mà sai rước về?

 

Thổ hào, Văn Nhã đứa quê

Vĩnh Ưng, Vĩnh Lộc loạn nhờ nó dung.

Trần Văn Vĩnh, Đặng Vĩnh Ưng

Tù phạm mà nó cũng dùng cận thân.

 

Thuyền bè khí giới, tiền dân

Nó mang đem cất nói cần đánh Tiêm.

Phòng giặc đường biển Hà Tiên

Chân Lạp đường bộ, nó điên chẳng phòng.

 

Phiên An thành nó ở trong

Hào sâu, cao lũy, thì phòng cái chi?

Ruột nó, người biết đường đi

Nhưng chẳng chịu nói nên chi vạ này.

 

Mụt nhọt mà để lâu ngày

Thì nung lên mủ đau tay nhức liền.

Ví như Văn Quế, Xuân Nguyên

Có hiền, chúng cũng đến phiên quấy xằng.

 

Mồ cha, em, hắn tiếm ‘Lăng’

Tự xưng ‘Cô’ để bọn loạn thần nhớ chăng?

Thầy Hữu Tử có nói rằng:

‘Người trên không phạm, chỉ xằng, có đâu!’.

 

Cho nên, hắn chết chưa lâu

Con nuôi dấy loạn mà hầu gỡ danh.

Ba năm chúng bám lấy thành

Bộ khúc ở lại chẳng đành bỏ đi.

 

Triều đình mở lượng từ bi

Mà chúng chẳng hối, bất tri đáng nguyền.

Nay đem hết những căn nguyên

Trình ra thị chúng mà truyền nghịch thiên’.

 

Hôm sau, Nội các Hà Quyền

Tri Phương, Hoàng Quýnh trình nguyên tấu rằng:

Chở che phỉ loạn làm xằng

Gây nhiều biến sự đủ bằng cớ đây”.

 

Thục lục ghi chép một dây

Nhìn qua, ngó lại tớ thầy với nhau.

Nội các định sáu tội sau

Bảy tội phải trảm cái đầu… bóng ma!

 

Vua bèn xuống dụ truyền ra

‘Tội Duyệt nhổ hết tóc ta cũng thừa.

Bổ quan quách, giết thây thừa

Gia phong niêm cửa chưa vừa tội y.

 

Nhưng ta cũng phải từ bi

Xương khô đã rã, cương thi còn gì?

Vậy thì Tổng đốc, ngươi đi

Tới mồ của hắn tùy nghi phủ bằng.

 

Dựng bia khắc chữ mà rằng:

“Đây mồ Văn Duyệt làm xằng bị giam’.

Tội danh kẻ chết phải làm

Cho người sau biết người gian rủa nguyền.

 

Cháu hắn thì tội giảm thuyên

Trảm giam hậu cũng như khuyên đủ rồi.

Cực hình đã phục thì thôi

Cân nghiêm ba thước tỏ oai búa riều’ “.

 

*Án Lê Chất: 黎 質

Án Duyệt định sáng, thì chiều

Bá Tú kiếm tội sáu điều họ Lê.

Mười tội tiếm loạn nhuốc nhơ

Cộng mười sáu tội, Chất ngờ được chăng?

 

“Vua rằng: Tội sống không tăng

Có nhổ hết tóc cũng bằng Duyệt thôi.

Duyệt sao Chất vậy cho rồi

San bằng bia mộ chẳng đòi phá thây.

 

Vợ hắn là Lê Thị Sai

Đàn bà thì chẳng gieo tai vạ gì.

Con cái chẳng chính pháp chi

Truyền giam trảm hậu, chúng ghi khắc cùng”.

 

Suy đi, Minh Mệnh bao dung

Đại thần tiên đế dựng chung cái nhà.

Hai tay đỡ lấy nghiệp cha

Cũng nên ngoảnh lại mới là chính quân.

 

Nghĩ lại, mới thấy vô chừng

Văn Duyệt, Lê Chất chưa từng ngoại gian.

Công lao nhận lấy phủ phàng

Địa ngục khắp nẻo, thiên đàng một phương.

 

8. Giặc Tiêm La (1833-1834):

Tiêm La thủy bộ năm đường

Đánh Nam Kỳ với cớ thường: Giúp Khôi.

 

Thánh Tổ được báo, tức thời

Gọi Trương Minh Giảng, truyền vời Nguyễn Xuân.

Văn Thụy, Văn Điển, Văn Xuân

Cùng nhau tiến đánh, dứt tuồng giặc Xiêm.

 

Nguyễn quân lấy lại Hà Tiên

Sau chiếm Châu Đốc, xuống miền Nam Vang.

Nguyễn Xuân, Minh Giảng thẳng đàng

Năm sau thắng trận, địch hàng Việt Nam.

 

9. Việc Ai Lao:

Quân Tiêm đã nhúng tay chàm

Nên Lào mới chịu hòa đàm dứt binh.

Chiêu Nội, tù trưởng Trấn Ninh

Vội xin lệ thuộc vào dinh Nam Kỳ.

 

Cam Môn, Sầm Nứa, Mương Duy

Savanakhet trị vì bởi ta.

Thành thử nước Việt to ra

Minh Mệnh dứt chuyện hai nhà Lào, Tiêm.

 

10. Việc Chân Lạp:

Lấp Trấn Tây thành (1835)

Nước Lào coi đã tạm yên

Nặc Ông Chân Lạp, đến phiên chẳng còn.

Nối ngôi, vua lại không con

Dòng Phiên liêu giữ ngôi son, tiếm triều.

 

Long, Kiên một bọn đồng liêu

Người Chân Lạp nhận quan triều Việt Nam.

Trấn Tây công việc phải kham

Trấn chia hai Huyện. Phủ làm băm hai.

 

Đại thần Tham tán quan sai

Đề đốc, Hiệp tán… coi cai các phần.

Khâm sai Văn Đức đại thần

Doãn Uẩn, Minh Giảng đỡ đần một tay.

 

Kiểm buôn, xét bán hàng ngày

Do ruộng đất, thuế đinh hay thuế thuyền.

Nhưng khi Thánh Tổ quy tiên

Quan quân bỏ Trấn, về miền An Giang.

 

11. Việc giao thiệp với những nước ngoại dương:

Lo kẻ gian lẫn ngoại ban

Trà trộn giảng đạo, vua bàn bế quan.

Minh Mạng thật quả không màng

Thức thời học tập, mở mang dân tình.

 

Lãnh sự Anh, Pháp vào xin

Minh Mệnh cương quyết, triều đình chẳng ưng.

Thấy vua đối xử dửng dưng

Chaigneau trả chức, rưng rưng trở về.

 

Mười năm đối ngoại ơ hờ

Việt Nam lạc lõng hai bờ tối minh.

 

12. Sự cấm đạo:

Ngỡ mình dân tộc văn minh

Rành rành “Chính đạo” dân mình mới theo.

Đạo Tây mê hoặc eo xèo

Cho là “Tả đạo” bọt bèo, cấm ngay.

 

Giáo dân bị giết thẳng tay

Triều đình chung ý, không may vận nhà.

Thiên chúa, chính đạo như ta

Lòng tin tự có sao mà cấm dân?

 

Sinh linh cực khổ muôn phần

Sinh ra giặc, loạn, cứu bần nổi lên.

Thời chuyên chế, ngẫm không nên

Cương – Nhu nhân mệnh khắc trên mới bền.

 

13. Vua Thánh Tổ mất:

Minh Mệnh vượng số không bền

Không anh quân cũng chẳng tên bạo tàn.

Hai mốt năm giữ giang san

Mất năm Canh Tí, thọ hàng: Năm mươi.

 

Chương IV: HIẾN TỔ (1841-1847)

Niên hiệu: Thiệu Trị  紹  治

1. Đức độ vua Hiến Tổ:

Miên Tông thái tử đôi mươi

Tức là Thiệu Trị vốn người hiền lương.

Lên ngôi tiếp một con đường

Chế độ, thuế má, quan trường giống cha.

Thời ngài giặc giã can qua

Tiêm La, Chân Lạp vượt đà phá ta.

 

2. Việc Chân Lạp:

Giặc, loạn quấy nhiễu quốc gia

Mai này, mốt nọ, lúc xa, lúc gần.

 

Lâm Sâm vốn ở Nam phần

Cùng thầy chùa loạn nằm gần Trà Vinh.

Triều đình thấy vậy, ra binh

Chân Lạp nội loạn mới bình Lâm Sâm.

 

Nguyên niên Thiệu Trị đến năm

Tạ Quang Cự rút về nằm An Giang.

Minh Giảng mất, việc dở dang

Quang Cự chán ngán ngút ngàn, mất đi.

 

Trấn Tây mất tướng, giảm uy

Nên người bản xứ tức thì nổi lên.

Nghĩ suy cũng thuận lẽ trên

Nước ai, người nấy phải nên giữ gìn!

 

3. Việc Tiêm La:

Tiến Lâm, Công Trứ xuất chinh

Sâm chống không nổi, quan binh rã hàng.

Tiêm La trở mặt, làm ngang

Mang binh thuyền tới đánh tràn tứ tung.

 

Quân Tri Phương phủ trùng trùng

Văn Nhân, Công Trứ, với cùng Nguyễn Lâm.

Quân binh trước đánh, sau hăm

Quân Tiêm hoảng loạn mới ngầm rút chân.

 

4. Việc giao thiệp vớớc Pháp:

Cấm đạo đã lỏng vài phân

Giáo sĩ được thả dần dần hết ra.

Đang khi thương thuyết với ta

Thì đâu đạn Pháp từ xa bắn vào.

 

Quân Pháp ngang ngược, làm cao

Thiệu Trị cấm Đạo xít xao mọi nhà:

Một cấm buôn bán hàng xa

Hai cấm giảng đạo ”gian tà Ki Tô”!

 

Đinh Vị, Hiến Tổ xuống mồ

Ba mươi bảy tuổi, nghiệp đồ bảy năm.

Công lao chung với lỗi lầm

Trị nhà hay dở một mâm lỗ lời!

 

Chương V: DC TÔNG (1847-1883)

Niên hiệu: Tự Đức 嗣 德

1. Đức độ vua Dực Tông:

Hồng Nhậm hoàng tử nhỏ người

Học hành thông thái, đôi mươi, ôn hòa.

Đăng cơ ở điện Thái Hòa

Niên hiệu Tự Đức tức là Dực Tông.

 

Thờ mẹ Từ Dụ hết lòng

Việc nhà, việc nước chẳng hòng lãng xao!

Triều thần lắm kẻ tài cao

Trẻ người, trung liệt đương trào Tri Phương.

 

Trọng Bình, Đăng Quế họ Trương

Hoàng Diệu, Thanh Giảng là phường lão quan.

Tuổi già việc nước trễ tràng

Không am thời thế, chẳng màng kiến tân!

 

2. Đình thần:

Người trẻ đi khắp xa gần

Thấy qua đổi mới mười phần xứ Tây.

Nguyễn Điều, Đức Hậu mở mày

Thêm Nguyễn Trường Tộ trình bày đổi thay.

 

Tự Đức nhanh chóng duyệt ngay

Các lão thần ấy bác bày tỏ khinh.

Có người quê ở Ninh Bình

Dâng tờ cải cách tên Đinh Văn Điền:

 

”Khai mỏ, luyện tập quân chuyên

Thông thương buôn bán kiếm tiền lợi dân”.

Triều thần lại chẳng nghe phân

Vua không cả quyết, hại dân, bại nhà.

 

Nguyễn Hiệp đi sứ Tiêm La

Ca ngợi “nước ấy quả là đổi thay”.

Quốc gia có lợi từ đây

Giặc chẳng kiếm cớ nọ này xâm lăng.

 

Tân Tị, những kẻ trẻ măng

Đi sứ Hương Cảng, thấy rằng: ”nước ta.

Phú cường làm li quốc gia

Là đường buôn bán để mà dưỡng binh.

 

Lấy Tàu, Nhật Bản làm tin

Xin vua bài cựu, tân nghinh nước mình!”

Vua, quan chẳng thấu tình hình

Bảo thủ, tưởng mới dựa mình bóng râm.

 

3. Việc ngoại giao:

Tự Đức phạm phải lỗi lầm

Bế quan tỏa cảng tối tăm con người.

Gia Định bị Pháp nuốt tươi

Dùng Thương bạc viện với người ngoại dương.

Bình chuẩn ti buôn bán thường

Nhưng chẳng thể hiểu tận tường ngoại giao.

 

4. Việc cấm đạo:

Cấm đạo khắc nghiệt gắt gao

Giáo sĩ truyền đạo ghép vào tội chung.

Đạo trưởng bắt được hình cung

Thích chữ vào mặt đày vùng nước xa.

 

Ngu dân phải cúng ông cha

Ai mà bỏ đạo, tạm tha một lần.

 

Lửa không chịu nổi nước dâng

Giết dân theo đạo muôn phần ác tâm.

Cấm người buôn bán đã lầm

Tây kia mượn cớ gieo mầm chiến chinh.

 

5. Việc Thuế má:

Đại loại thuế sản, linh tinh

Theo đời Hiến Tổ lập trình dụng thu.

Nhằm khi Pháp đánh trả thù.

Triều đình chịu phí, thấy… mù đến phiên.

 

Bây giờ kiếm cách thu tiền

Họ Hầu, nha phiến ưu tiên được vào.

 

Trưng thu chẳng được là bao

Vua, quan nghĩ cách tào lao kiếm tiền:

Ngàn quan: Cửu phẩm được liền

Chục ngàn: Lục phẩm chẳng phiền đợi lâu!

 

6. Việc Văn học:

Triều đình Nguyễn tính về sau

Thâm sâu chữ nghĩa hàng đầu Dực Tông.

Nho gia gạn đục, khơi trong

Trọng văn mới mở nhiều vòng khóa thi.

 

Mở Nhã, Cát sĩ tập thi

Giỏi văn học được làm tùy quan viên.

“Tập hiền viện, khai kinh niên

Thiền viện, vua với quan viên hưởng nhàn.

 

Tiếc thay những chuyện đáng bàn

Không làm để cuối cùng hàng Pháp xa!

 

7. Việc Binh chế:

Tưởng lính mình giỏi, hóa ra

Giáo gươm sao thể chọi qua đạn thù!

Nhè gương cũ kỹ mà đu

Súng châm ngòi bắn sao hù giặc đây?

 

Tập luyện lại chẳng hàng ngày

Một năm… hai phát đếm đầy… ngón tay!

Quá sáu phát, phải thường ngay

Cho lính xuất ngũ cởi giày, nghỉ ngơi.

 

Lính thế sao giỏi, hỡi ơi

“Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung“!

Quan binh thấy nản vô cùng

Chừng nào trùn đất ra vùng biển khơi?

 

Chương VI

CHẾ ĐỘ VÀ TÌNH HÌNH NƯỚC

VIỆT NAM ĐẾN CUỐI ĐỜI TỰ ĐỨC

1. Cách tổ chức chính trị và xã hội:

Luận

* Vua:

Vua trong một cõi thảnh thơi

Tức là làm chủ khung trời Đế, Vương.

Minh quân: Giặc khỏi nhiễu nhương

Ác quân: Cướp đoạt chẳng đường thiện tai!

 

* Triều đình:

Triều thần nào của riêng ai

Toàn người đổ đạt, miệt mài sử kinh.

Triều thần đại diện dân sinh

Triều thần đốn mạt, thân vinh chủ thầy.

 

Đôi điều đã định xưa nay

Tôi hiền, chúa sáng: cơ may nước nhà.

Còn mà chúa sáng, tôi ma

Vua gian, tôi sáng: non nhà rã tan.

 

* Quan tư:

Lên quan nhờ có tông đàng

Làm người phải trọng họ hàng, luật quê.

Làm quan phụ mẫu, dân nhờ

Miệng quan, trôn chảo” làm phờ phạt dân!

 

* Quyền tự trị của dân làng:

Trở lên, Tổng thuộc triều thần

Tổng trở xuống dưới là phần của dân.

Tổng gồm làng, xã được phân

Có hai Tổng, Phó giữ chân quản làng.

 

Luật đình không được chen ngang

Phép vua thua cả lệ làng” đã lâu.

Giá thú, sinh tử có đâu

Mẹ cha phải nhớ để sau lại truyền.

 

Trình làng tính chuyện đưa duyên

Tiền cheo phải nạp quan tiền lễ tân.

 

2. Bốn hạng dân:

Coi theo sứ mạng mà phân

”Công, Thương, Nông, Sĩ” tứ phân rõ ràng:

 

”Công” chỉ là thợ nghèo hèn

Như là thợ mộc, thợ rèn, dệt tơ.

Những người ít học làm nghề:

Lưới chài, thợ gốm, thợ nề, đẵng cây.

 

”Thương” loại buôn bán mắn may

Rày đây mai đó kiếm ngay mối lời.

Thương” mình chỉ loại… cà bơi

Cá trong hũ nước chờ thời giữa khơi!

 

“Phi thương bất phú” một đời

Nước mình thời đấy phú thời được chăng?

”Nông” được mùa mới nói năng

Mất mùa, ”nông” phải nhăn răng… khóc cười!

 

”Sĩ”  mới là đóa hoa tươi

Dạy học, bói toán, cứu người, được quan…

Nghe ra cũng khá an nhàn

Chẳng Cử nhân cũng Tú… gàn láo liên.

 

Thi Hương “phụng chỉ cầu hiền”

Tứ Thư, Tàu sử luân truyền phải nghe.

Ve sầu rã rích mùa hè

Thư sinh rã rích như ve rỗng hình.

 

Mù mờ trình độ thất kinh

Thuộc làu kinh sách, ngỡ mình thánh nhân.

Sĩ phu có học, bất nhân

Dân gian thất học, bất phân đánh đồng.

 

Lệ thành “Nhất sĩ, nhì nông

Hết gạo thành lệ: ”Nhất nông, sĩ nhì”!

 

3. Sự sinh hoạt của người trong nước:

Điều vua dạy nhớ mà ghi:

Nhà phải tranh lá, xây thì không công (I)

Ăn nghèo, mặc khổ, quần… không

Chẳng mang gấm vóc, chân không xỏ giày!

 

Xem ra giống kẻ ăn mày

Văn minh sao lại đọa đày thứ dân!

Muốn sang, phải ráng lập thân

Ra quan mới rạng công thần tổ tông.

 

Thi hỏng, bức chí, hóa ngông

Đi làm giặc cỏ oai phong bỏ bà.

Nước nghèo, dân khổ, hóa ra

Triều đình bè đảng để mà giết nhau.

 

Lòng dân ta than oán sầu

Nước ngoài xâm lược mới cầu: Cần vương.”

Cuối đời Tự Đức vô phương

Yếu hèn chuốc lấy con đường diệt vong!

 

Chương VII

NƯỚC PHÁP LẤY ĐẤT NAM KỲ

1. Nước Pháp đánh Đà Nẵng (1856-1858):

Từ đời Minh Mệnh, Dực Tông

Cuối đời Tự Đức cũng không thức thời.

Thói cũ ôm giữ khơi khơi

Khai thông dân trí lỏng lơi thế này.

 

Giết hại giáo sĩ người Tây

Pháp nhân cớ ấy khởi ngày xâm lăng.

Như thò túi áo lấy khăn

Pháp lấy Đà Nẵng, vua ngăn được nào?

 

Đình Lý, quan Nguyễn đương trào

Thủ thành, trúng đạn, ngã nhào, hy sinh.

Nguyễn Tri Phương, Chu Phúc Minh

Cùng nhau chống Pháp, thủ binh Liên Trì.

 

Lính Pháp tiến chẳng được chi

Dịch tả mắc vướng, đường đi chẳng rành.

Rigault đánh Huế không thành

Gia Định đánh lấy chiếm nhanh Nam Kỳ.

 

2. Quân Pháp vào đánh Gia Định (1859):

Rigault ra đánh Bắc Kỳ

Dò tình hình lại chuyển đi Cần Giờ.

Cần Giờ, Pháp đóng hai bờ

Gia Định, đại bác tới giờ phá tiêu.

 

Gia Định vốn đất phì nhiêu

Binh khí đầy đủ với nhiều tài nguyên.

Nhưng quân nhà Nguyễn không chuyên

Hai đêm chống chọi thì liền bại binh.

 

Đô đốc là Vũ Duy Ninh

Mất thành, tự tử giữ tình với vua.

Pháp lấy Gia Định như đùa

Vào trong vội vã san chùa, đốt lương.

 

Ra Đà Nẵng, đánh Tri Phương

Pháp bèn chuyển hướng, tính phương nghị hòa.

Triều đình chủ chiến, chủ hòa

Bất thình lình lại hù hòa với Tây.

 

Thành ra thương thuyết chẳng hay

Mất đi một cái dịp may nước nhà.

Bây giờ, Anh, Pháp tính xa

Rút binh Đà Nẵng để qua đánh Tàu.

 

Tướng Pháp lại mắc bệnh đau

Nên chịu đàm phán bằng câu nhịn, nhường.

Triều đình phái Nguyễn Tri Phương

Thế Hiển, Thất Hợp lên đường vào Nam.

 

Sài Gòn, Pháp, Ý chẳng kham

Ta quân mười vạn đánh làm lại gan.

Tuy nhiên chỉ loại cà tàng

Súng thô thiển chẳng so ngang đạn thù!

 

Đào hầm “thủ”, chẳng dám “công”

Lấy gan giữ nước chống lòng hại dân.

Dằn co, tháng chín, Canh Thân

Anh, Pháp giải giáp, chia phần với Thanh.

 

Nước Pháp muôn sự được lành

Dồn quân tiến đánh… nuốt nhanh Nam Kỳ.

Tân Dậu, trung tướng Charner

Dồn binh lên tận Kỳ Hòa phủ vây.

 

Gan người sao chống đạn Tây

Bỏ đồn cho giặc, chạy ngay, lẽ thường!

Vassoigne thiếu tướng bị thương

Nguyễn Duy, Thế Hiển trúng thương bỏ mình.

 

3. Mất tỉnh Định Tường (1861):

Binh Tri Phương loạn quân tình.

Pháp đưa thủy, bộ hành binh Định Tường.

Công Nhàn, Hộ Đốc cùng phương

Mỹ Tho bỏ giặc, kiếm đường chạy đi.

 

Thượng thư Bộ Hộ, Bá Nhi

Kinh lý Nam bộ vội đi xét lường.

Nguyễn Bá Nghi đã tận tường

Biết không chống nổi, xin đường hòa thôi!

 

Triều đình Huế tính nước đôi

Phe Trương Đăng Quế ra mòi lắm mưu.

Triều đình chẳng có trung lưu

Chỉ lo bảo thủ, cương – nhu quá lầm.

 

Đất mất dần bởi ngoại xâm

Quân Pháp lấn thế như tầm nuốt dâu.

Quân dân biết dựa vào đâu

Đem đầu đỡ đạn vì đau nước nhà.

 

4. Mất tỉnh Biên Hòa và tỉnh Vĩnh Long (1862):

Tân Dậu, Pháp đổi tướng qua

Hải quân thiếu tướng tên là Bonard.

Thay cho trung tướng Charner

Biên Hòa ba đạo gầm gè nuốt xong.

 

Nhâm Tuất, đánh chiếm Vĩnh Long

Mang ngàn quân lính tấn công tỉnh thành.

Tổng đốc ra sức giao tranh

Chỉ hai ngày giặc, phá thành đại công.

 

Trương Văn Uyển thấy không xong

Bại quân rút tới Mê Kông đợi chờ.

 

5. Hòa ước năm Nhâm Tuất (1862):

Nam, Bắc nổi loạn tứ bề

Phụng, Tường đánh phá từng giờ Hải Dương.

Mất hai tỉnh, loạn nhiễu nhương

Bắc Ninh, Văn Thịnh xuống đường chiếm luôn.

 

“Mất bò mới chịu làm chuồng”

Triều đình Huế phải vào khuôn nghị đàm!

Hai sứ thần vội vô Nam

Phan, Lâm ký ước với cam kết là:

 

“1. Pháp – Ý giảng đạo vào ra

2. Phải nhường cho Pháp: Biên, Gia, Định Tường.

3. Để thuyền Pháp được thông thương

Đạn dược, binh khí, tỉnh nhường, cấm qua.

 

4. Nước Nam thương hiệp gần xa

Hoặc san, nhượng đất, báo qua Pháp tường.

5. Pháp – Ý  được ngõ thông thương

Vào cửa Đà Nẵng, thương trường Quảng Yên.

 

6. Pháp tốn ngót bốn triệu Yên

Nước Nam phải chịu trả tiền mười năm.

7. Vĩnh Long, Pháp trả nước Nam

Nhưng dẹp xong loạn mới cam rút về”.

 

Bảy điều ước nhục nhã ghê

Nước Nam chịu nhận ê chề, tái tê.

Nhường đất, chịu sự nhuốc nhơ

“Rượu phạt… phải uống bởi chê… rượu mời!”.

 

Hồn ai luyến nước trên đời

Vì đâu chết thảm, ai thời cố tri!

 

6. Sứ Việt Nam sang Tây:

Nhường đất, Tự Đức sầu bi

Gia Định quê ngoại lại đi trao người!

Sai Phan làm chuyện nực cười

Sang Paris chuộc đất người đã… ăn!

 

Ngu khờ đâu kẻ xâm lăng

Cáo ăn gà có nhùn nhằn, nhả ra!?

Nửa năm chầu chực người ta

Phan, Phạm Phú Thứ về nhà, trắng tay.

 

7. Việc bảo hộ Cao Miên (1864):

Chuộc ba tỉnh mất cơ may

Triều đình Huế chẳng có hay kế nào!

Thi hành hòa ước đã giao

Pháp lo đánh dẹp loạn trào, loạn dân.

 

Mở trường, định thuế, canh tân

Đem chữ Quốc ngữ thế chân Hán từ.

Hán Nôm chỉ có Thi Thư

La tinh mượn lấy coi như tiếng mình.

 

Grandière làm được công trình

Dù mục đích Pháp trớ trinh chẳng luờng.

Cao Miên bảo hộ tỏ tường

Tiêm La thất thế phải nhường mới xong.

 

8. Nước Pháp lấy ba tỉnh phía Tây đất Nam Kỳ

(Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) 1867:

Tình hình cai trị xiềng gông

Pháp mưu nuốt trọng Vĩnh Long, An, Hà.

Ngặt vì đường sá lại xa

Aubaret chịu bàn qua chuộc nhà.

 

Triều đình mặt mũi nở ra

Tiễn Thành, Thanh Giản liệu xa, liệu gần.

Gia, Biên, Định trả, Pháp cần

Thủ Dầu Một với Sài Gòn, Mỹ Tho.

 

Nam Kỳ, Pháp bảo hộ cho

Hai trăm ngàn thuế mà lo trả đều.

Sứ thần cũng biết Pháp điêu

Hai bên qua lại bấy nhiêu chẳng thành.

 

Giáp Tí, thôi chuyện chuộc thành

Chiếu theo hòa ước thi hành thế thôi!

Ất Sửu, Grandière triệu hồi

Zoze thiếu tướng một đôi đến, về.

 

Pháp cai trị có lối lề

Grandière quyết định không hề nhả ra.

Cháu Ông Chân dấy can qua

Nổi lên chống với vua nhà Cao Miên.

 

Pháp nhân chuyện lập kế liền:

Nhận người cháu nọ, đổ phiền Việt Nam.

Cao Miên mắc kế vu oan

Vĩnh, An, Hà, Pháp nuốt ngon đất nhà.

 

Triều đình Huế tá hỏa ra

Bính Dần, Thanh Giản liệu mà giữ an.

Đinh Mùi, Rigault lại sang

Giúp mưu cho thiếu tướng Gran một đầu.

 

Cá mè một lứa hè nhau

Tháng sáu Đinh Mão bắt đầu tấn công.

Phan Thanh Giản liệu chẳng xong

Những hy sinh trước hóa không được gì!

 

Thôi thì… nộp quách thành trì

Để binh sĩ khỏi vạ bì máu tươi.

Cháu con muốn khỏi chê cười

Cày ruộng mà sống, quan người chớ mang”.

 

Dặn xong, thuốc độc sẵn sàng

Uống vào kết liễu một trang anh hùng.

Trung quân đến lúc cạn cùng

Tùng Châu, Võ Tính kiên trung thuở nào!

 

Mất đất cũng lỗi đương trào

Máu nào đổ chẳng máu đào Việt Nam!

Nam Kỳ thuộc Pháp gian tham

Trăm năm nô lệ mà cam hận nhà.

 

Chương VIII

GIẶC GIÃ Ở TRONG NƯỚC

1. Việc rối loạn trong nước:

Trị dân, vua có lệnh ra:

Tri Phương, Thanh Giản, Đăng Giai lược hình.

Các Kinh lược sứ thâu tin

Dân gian hay dở mà trình thực thi.

 

Dục Tông triều đại loạn ly

Cuối đời Tự Đức trở đi, loạn nhiều.

Bắc Kỳ là xứ tiền triều

Dân tình thương tưởng đến triều họ Lê.

 

Cho nên nổi dậy dựng cờ

Lấy cớ khởi sự dễ bề dấy binh.

Bên Tàu có loạn Thái Bình

Bị Thanh đánh bại, sang rình phá ta.

 

Nào là giặc Khách, loạn ta

Hết giặc lại mắc vạ nhà: Thiên tai!

Dân tình thất nghiệp dài dài

Mới làm nghề… giặc, oán ai não nề!

 

2Giặc Tam Đường (1851):

Quảng 廣, Nghĩa 義, Đường 

Tân Hợi, giặc Khánh lại về

Quảng, Lục, Đức họp một rê Tam Đường.

Thái Nguyên quấy phá, nhiễu nhương.

Văn Giai dụ dỗ, Tam Đường mới yên.

Giáp Dần, Giai mất, đến phiên

Bắc Kỳ loạn lạc, truân chuyên tứ bề.

 

3. Giặc Châu Chấu (1854):

* Lê Duy Cự 黎 濰 柜

Duy Cự dòng dõi nhà Lê

Nổi lên khởi nghĩa, dựng cờ Sơn Tây.

Bá Quát bất mãn quan thầy

Dấy binh cho thỏa mặt mày giáo sinh.

 

Xuất thân Phú Thụy, Bắc Ninh

Quốc oai giáo thụ” nổi đình văn nhân.

Bức chí, bỏ ấn quan thân

Theo Cự làm loạn, góp phần ”Quốc sư”.

 

Quan binh Lê Thuận dẹp nhừ

Bắt Cao Bá Quát chém trừ, lệnh vua.

Gặp năm châu chấu phá mùa

Lấy tên Châu Chấu như… đùa gọi chơi.

 

”Thần Siêu, Thánh Quát” về trời

Cái Cùm” ở lại… Đế mời gọi… Vương!

 

4. Giặc tên Phụng (1861):

* Tạ Văn Phụng 謝文俸

Loạn lạc dấy khắp bốn phương

Giặc Tạ Văn Phụng cũng dường bốn năm.

Tên này trước cũng tay thâm

Theo Tây, dẫn lính đánh ngầm Quảng Nam.

 

Dựng Lê, hắn nẩy ý tham

Tự phong minh chủ, tên hàm Duy Minh.

Đem quân lấy phủ Hải Ninh

Cùng bọn giặc Khách thông tình một mai.

 

Bắc Ninh, Văn Thịnh làm cai

Xưng là nguyên suý tức Cai Tổng Vàng.

Kiếm tên Uẩn nhận họ hàng

Tôn làm minh chủ nhập đàng Tạ Văn.

 

Qua Yên Dũng, đánh Lạng Giang

Bắc Ninh quan phủ xin đàng giải vây.

Bấy giờ, bố chính Sơn Tây

Bố chính Hà Nội, quan thầy Hưng Yên.

 

Điều quân ba tỉnh thay phiên

Đánh hơn mười trận, dẹp yên loạn này.

Hải Dương bị Phụng phủ vây

Giặc Nông, giặc Khách cũng đầy Thái Nguyên.

 

Cao Bằng, giặc Khách chưa yên

Triều đình muôn chuyện loạn phiền chẳng an.

Vũ Tảo chiếm lại Tuyên Quang

Bắt Uẩn đóng củi, nộp quan đợi hành.

 

Nguyễn Tri Phương lại tảo thanh

Bắt Thanh, Vân, Đắc lấy thành Thái Nguyên.

Phá sào huyệt ở Ma Hiên

Đào Trí, Quốc Dụng lấy liền Quảng Yên.

 

Nam Kỳ, Văn Phụng viện binh

Thiếu tướng Bonard tức mình, gạt đi.

Giặc bể càng đáng càng lỳ

Quan Lê Quang Tiến, Phan Huy trầm mình.

 

Đức Dụng, Huy Sách hoảng kinh

Đức Khuê, Hồ Thiện bỏ mình Quảng Yên.

Giặc ba đạo, ba trăm thuyền

Thừa cơ cướp biển ở miền Hải Dương.

 

Hải An quân vụ Tri Phương

Sai Văn Vĩ đánh chặn đường, dẹp yên.

Quan Đề đốc Thiện, Trần Chuyên

Đốc binh Ông Ích Khiêm liền xuất binh.

 

Giặc lui về giữ Hải Ninh

Tri Phương sai Đặng Trần Chuyên phá thành.

Ích Khiêm hiệp với nhà Thanh

Ở Khâm Châu đánh lấy thành Hải Ninh.

 

Phụng, Ước trốn ở Quảng Bình

Quan binh bắt được, gia hình tới nơi.

Bốn năm công đổ bể khơi

Mình chết, dân khổ, tả tơi, sướng gì!

 

Cao Bằng, giặc Khách lấy đi

Trọng Bình kinh lược tầm nguy, diệt trừ.

Chi Hương tuần phủ nhọc nhừ

Bảy tháng sau mới thanh trừ Cận Bang.

 

Chia binh bốn hướng Lạng Sơn

Trương Cận Bang chịu ngậm hờn, hết phương.

Võ Trọng Bình, Nguyễn Tri Phương

Bình xong loạn vội lên đường nhập kinh.

 

5. Sự phản nghịch ở kinh thành:

Loạn ngoài tỉnh, loạn thâm tình

Hồng Bảo thất lập, tức mình, loạn ngai.

Ăn chơi chẳng học thành tài

Vua cha Thiệu Trị thở dài… truất ngôi!

 

Hồng Bảo bức chí cái tôi

Thông đồng ngoại quốc, nên ngôi muốn dành.

Không may mưu sự chẳng thành

Bị giam ngục tối phải đành quyên sinh.

 

Người con lại được lưu tình

Họ Nguyễn đổi lấy họ Đinh cứ truyền.

Năm thứ mười chín, phá tiền

Tự Đức ra lệnh xây liền Vạn Niên.

 

“Vạn Niên là Vạn Niên nào

Thành xây xương lính, hào đào máu dân.”

Lòng người oán giận, hờn căm

“Sơn đông thi tửu” hội nhằm Đế Vương.

 

Mưu tôn Đinh Đạo tấn đường

Là Đoàn Hữu Ái với Trương Trọng Hòa.

Đoàn Trưng, Tư Trực đồng khoa

Phạm Lương cùng với quan nhà họ Tôn.

 

Xông vào điện giết Dực Tông

Chưởng vệ đóng cửa, vua không việc gì!

Định Đạo phải tội giảo trì

Hữu quân Tôn Thất Cúc thì quyên sinh.

 

Đồng đảng, trị chẳng lưu tình

Luật hình nặng nhẹ dứt tình, xử phân.

Giặc Đá sách nhiễu nhân dân

Nhờ quan Nguyễn Tấn nhanh chân dẹp trừ.

 

6. Giặc Khách ở Bắc Kỳ:

Bên Tàu chính sự cũng hư

Nhà Thanh chút nữa thì như lửa tàn.

Ngoài quân Anh, Pháp, Tây, Lan

Trong binh dấy loạn: Kim Lăng, Thái Bình.

 

Quảng Tây vốn có Hồng binh

Cùng Tiêu Triều Quí, Tú Thành, Tú Thanh.

Thái bình thiên quốc” xưng danh

Mười bốn niên đã chia ranh một miền.

 

Tướng nhà Thanh: Tăng Quốc Phiên

Hồng Chương, với Tả dẹp yên phía ngoài.

Quý Hợi – Đồng Trị thứ hai

Các tướng ấy đánh rớt ngai Tú Toàn.

 

Nội bộ tranh đấu mất còn

Nghĩa tình chẳng trọn, sao còn ngôi son?

Dư đảng còn lại Ngô Côn

Chạy sang ta trốn, lập đồn chống Thanh.

 

Trá hàng rồi phá xung quanh

Quan quân đánh mãi cũng đành bó tay!

Cao Bằng, Côn lấy trong ngày

Triều đình cạy vậy tớ thầy nhà Thanh.

 

Ông Ích Khiêm, Nguyễn Viết Thành

Cùng tướng Thanh: Quý, đánh thành Thất Khê.

Quan binh thất bại mọi bề

Viết Thanh tử, Chi Hương lê cực hình.

 

Triều đình sai Võ Trọng Bình

Ra Bắc xem xét tình hình thế vua.

Giặc trong chưa rõ thắng, thua

Giặc ngoài, Pháp lại chanh chua Bắc Kỳ!

 

Chương IX

QUÂN NƯỚC PHÁP LẤY BẮC KỲ

            Lần thứ nhất

1. Người Pháp tìm đường sang Tà

Nam Kỳ, Pháp đã lấy đi

Dò la Bắc với Trung Kỳ mở mang.

Tháng ba, Lagrée kiếm đàng

Bệnh gan mà chết, thôi màn trớ trinh.

 

Chiến tranh Pháp – Phổ bấp bênh

Hoàng gia Pháp bại, lập nên Cộng hòa.

Nhằm năm Tự Đức hăm ba

Pháp thua nhưng chẳng nhả ra Nam Kỳ.

 

2. Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis):

Tên Đồ Phổ Nghĩa thiệt chì

Buôn bán vũ khí mà đi tới Tàu!

Không biết luật nước người đâu

Mang đồ quốc cấm, qua cầu, ngạo quan!

 

Triều đình biết hắn làm càng

Mà còn nhũn nhặn sai quan giảng huề.

Tên Jean cố chấp, khinh vua

Xem tờ ký ước là trò giỡn thôi!

 

Triều đình chẳng muốn lôi thôi

Văn Tường, Tuấn, Doãn tức thời vô Nam.

Nam Kỳ ba tỉnh hội đàm.

Xử việc Đồ Nghĩa nhờ làm phải xong.

 

3. Đại úy Francis Garnier (Ngạc Nhi)

ra Hà Nội:

Dupré thống đốc mưu trong

Bắc Kỳ muốn chiếm, cam lòng mật tâu:

“Đất Bắc giáp với nước Tàu

Hãy mau chiếm giữ mới hầu trị lâu”.

 

Pháp – Phổ vừa mới đánh nhau

Thượng thư thuộc địa, mấy câu tức thì:

“Tạm thời đình chuyện Bắc Kỳ”

Thiếu tướng Pháp lại kiên trì nài xin.

 

Gặp khi Tường, Doãn vào trình

Thật là gặp cái dịp mình đợi mong.

Garnier nhận lệnh đã xong

Vội đi Hà Nội ngóng trông thế tình.

 

4. Hạ thành Hà Nội năm Qúy Dậu (1873):

Đại úy làm chuyện trớ trinh

Giúp Nghĩa mới khiến mưu mình lộ ra.

Không buồn hỏi đến quan ta

Ngang nhiên mở ngã đi qua Hồng Hà.

 

Quan nhà Nguyễn tá hỏa ra

Xoay qua phòng bị, hóa là thấm đau!

Pháp thấy cá đã ăn câu

Bắn vào Hà Nội phủ đầu đối phương.

 

Can trường, tướng Nguyễn Tri Phương

Giữ thành quyết chiến, bị thương quật cường.

Nguyễn Lâm phò mã phi thường

Quyết tâm chống địch, kiên cường hy sinh.

 

Một nhà nghĩa trọng thâm tình

Ba triều thanh bạch, trung trinh đứng đầu.

Thương dân lấy nước làm đầu

Tri Phương nhịn đói, chịu đau bỏ mình.

 

Triều đình Huế đã hoảng kinh

Chỉ trơ mắt ếch ngồi nhìn trái sung!

 

5. Lấy mấy tỉnh ở Trung Châu:

Hà Nội thất thủ, thế cùng

Quan Nguyễn trốn sạch, cướp vùng nhóm nhen.

Hautefeuille, bảy lính quèn

Hai mươi ngày, bốn tỉnh bèn tới tay.

 

Uổng thân cái lũ quan thầy

“Cháy nhà ra mặt chuột” đầy nhuốc nhơ!

 

6. Đại úy Francis Garnier chết:

Triều đình Huế lại ngu ngơ

Trước đi úp thúng, này nhờ cậy nia.

Dangelzer với Bohier

Linh mục, giám mục làm chìa khóa cho.

 

Đình Túc, Gia Hội chung đò

Cùng Nguyễn Trọng Hợp liệu lo Bắc Kỳ.

Kế Viêm phụng mệnh ra đi

Tiết chế quân vụ bảo trì các nơi.

 

Toàn quyền Lê Tuấn nhận lời

Nguyễn Văn Tường phó, gót dời phía Nam.

Chuyện điên điên cũng đã làm

Thương thuyết, năn nỉ“, đã nhàm lũ Tây!

 

Suý phủ ném đá giấu tay

Chính tên thiếu tướng thọc cây đánh mình.

Sao mà lắm kiện, còn xin

Triều đình bá bệnh, dân tin chỗ nào!

 

Đang khi thương thuyết cao trào

Giết chết Đại úy thiệt là… hay sao!

Quân Cờ Đen có công lao

Hai bên cùng đánh, lẽ nào nhượng nhau?

 

Phục binh Cầu Giấy đón đầu

Garnier bị giết, cắt cầu hiệp thương.

Vĩnh Phúc công trạng phi thường

Tiếc thay sau chót phải đường trớ trinh.

 

7. Ông Philastre ra Hà Nội:

Tin đen, thống soái lôi đình

Nguyễn Văn Tường phải giải trình lý do.

Nghe lời có lý, thuận cho

Philastre mới liệu lo Bắc Kỳ.

 

Trả bốn thành, lệnh thực thi

Quân Pháp nhanh rút, dồn đi Hải Phòng.

Đợi cho hòa ước ký xong

Thống soái về nước khi thông mọi bề.

 

8. Hòa ước năm Giáp Tuất (1814):

Mọi việc như đã mong chờ

Văn Tường, Thống soái ra về tự nhiên.

Giáp Tuất, hăm bảy, tháng giêng

Hăm hai điều ước nhường quyền, ký riêng:

 

”II.

Thống lĩnh Pháp công nhận quyền:

Nước Nam độc lập chẳng phiền nước chi.

Nhỡ khi phải loạn, nhờ gì

Pháp sẽ giúp đỡ không vì tính toan.

 

III.

Còn vua Nam nhớ làm tròn:

Theo chính lược Pháp chẳng hòng đổi thay.

Pháp cho ngàn khẩu súng tay

Một trăm đại bác, với ngay năm tàu.

 

IV.

Pháp còn giúp đỡ về sau

Cho người dạy thuế, giúp nhau thương trường.

V. Miền Nam, sáu tỉnh phải nhường

Để dân tự chọn con đường Đạo, Lương?

 

Quy Nhơn – Thị Nại thông thương

Ninh Hải, Hà Nội lưu thương Hồng Hà.

Tự do buôn bán vào ra

XIII.

Pháp đặt lĩnh sự chỗ mà nhượng giao.

 

XV.

Bất kỳ người của nước nào

Có thông hành Pháp, được vào nước Nam.

XVIX.

Họ có kiện tụng làm sao

Chỉ lĩnh sự Pháp mới vào xử phân.

 

XX.

Hai nước được đặt sứ thần

Làm theo hòa ước những phần hành thôi”.

 

Khi hòa ước ký xong rồi

Tường về, Tuấn mất một đôi lẻ bầy.

Quan thầy Dupré chia tay

Krantz, quản đất Nam này, thế chân.

 

Hòa ước bán đất, buôn dân

Ai chủ, ai tớ đã phân rõ ràng!

Hài kịch đến lúc mở màn

Hết tuồng, bi kịch đầu hàng, hỡi ôi!

 

Chương X

TÌNH THẾ NƯỚC NAM

Từ năm Giáp Tuất về sau

1. Văn Thân nổi loạn ở Nghệ An:

Hòa ước, nổi loạn đi đôi

Ghét nhau, Lương, Giáo cháo xôi một nồi.

Garnier lấy Hà Nội rồi

Chống Tây, mạn Nghệ tới hồi công khai.

 

Trần Tấn và Đặng Như Mai

Cả hai là những tú tài Nghệ An.

Văn thân địa hạt họp bàn

“Bình Tây sát tả” mấy hàng hịch ra:

 

“Triều đình hòa Tây bỏ ta

Sĩ phu bất xá, đuổi ra lũ này.

Nghìn năm văn hóa xưa nay

Không cho lũ giặc có ngày tỏ oai”.

 

Dẫu là nửa đúng, nửa sai

Nhưng lòng yêu nước mấy ai sánh bằng!

Triều đình ngu muội hay chăng

Hòa Tây để giặc làm xằng, mới đau!

 

Lấy Hà Tĩnh, đánh Diễn Châu

Quang Hoán, Huy Điển cùng nhau mở màng.

Thất Triệt, Tổng đốc Nghệ An

Ngấm ngầm giúp đỡ, hội càng mạnh lên.

 

Khâm sai chính Nguyễn Văn Tường

Cùng Lê Bá Thận lên đường dẹp ngay.

Văn Thân rã hội, tan bầy

Triều đình cũng chẳng đôi ngày được yên!

 

2. Giặc ở Bắc Kỳ:

Mạn Hải Dương, tỉnh Quảng Yên

Còn người mạo nhận sinh tiền họ Lê.

Giúp tên Francis nào ngờ

Triều đình với Pháp đất bờ đã dưng.

 

Garnier quay mặt dửng dưng

Giúp thuyền cho Huế thẳng thừng dẹp tan.

Giặc cờ vàng khuấy Tuyên Quang

Vĩnh Tường, Châu Thượng lập làng làm căn.

 

Tôn Thất Thuyết đánh quá hăng

Sùng Anh bị bắt, vàng khăn rã bầy.

Làng Cổ Loa, mạn Sơn Tây

Có tên Trận lại quậy ngày, quậy đêm.

 

Tôn Thất Thuyết lại dẹp êm

Tên Trận danh bại, Thuyết thêm công thành.

Lạng Sơn, giặc Khách hoàng hoành

Lý Dương Tài chiếm rừng xanh đứng đầu.

 

Trước làm quan ở Tầm Châu

Bị cách chức mới phản Tàu, rắc tai.

Quảng Tây đề đốc Tử Tài

Vây núi Nghiêm Hậu bắt Tài, giặc tan.

 

Bắc Kỳ giặc loạn ngỗn ngang

Vua chia hai đạo Lạng Giang, Đoan Hùng.

Đặt Tĩnh biên sứ coi chung

Phụ trách hai lộ, vua dùng Kế Viêm.

 

3. Sự giao thiệp với nước Tàu:

Nước Nam độc lập nhưng hiềm

Bao lần thắng cũng theo điềm đãi bôi.

 

Triều đình Huế tính nước đôi:

Hòa ước với Pháp, không thôi cống Tàu.

Mong rằng có thể giúp nhau

Xưng thần, cống phẩm mà cầu với Thanh.

 

Dực Tông sai sứ đi tranh

Lê Tuấn, Tư Giảng đồng thanh tấu trình.

Bọn giặc Khách phá nước mình

Nguyễn Tu, Hoàng Tịnh đồng tình cáo tri.

 

Hòa ước Giáp Tuất trở đi

Độc lập, nô lệ có gì khác đâu?

Nên theo lệ cống từ lâu

Chống Tây phá ước cầu Tàu mới xong.

 

Năm Bính Tý, sứ  Dực Tông:

Ân Niên, Lê Cát với ông Lâm Hoành.

Nguyễn Thuật, Khánh Tiến, Nguyễn Hoan

Xưng thần, cống phẩm chịu lòn với Thanh.

 

Nhà Thanh sai Trương Đình Canh

Sang Huế bàn việc ngọn ngành bán buôn.

Sẵn thăm dò nước Nam luôn

Pháp biết được mới ra khuôn trách phiền.

 

4. Tình thế nước Tàu:

Nước Tàu trước vẫn thượng thiên

Cho nên lệ cống theo phiên đã thành.

Nay Tàu yếu đã rành rành

Nước Nam chẳng dám phá ranh, vượt rào.

 

Thế kỷ mười chín, Tây Âu

Phương Tây lược địa, nước Tàu khó tranh.

Nhờ Tàu, cơ hội mong manh

Vua cấm nha phiến mà thành khổ dân.

 

Mới ra hòa ước Nhâm Dần

Vua Đạo Quang ký nhượng phần bán buôn.

Hàm Phong hòa chẳng giữ khuôn

Anh, Pháp như mối ăn luồn Bắc Kinh.

 

Canh Thân, máu nhuộm thượng đình

Thiên Tân hòa ước hạ mình, bán dân.

Bị phương Tây lấn mấy sân

Nhà Thanh sắp đổ chỉ cần chút giông.

 

Triều đình Nguyễn vẫn ngóng trông

“Chết đuối vớ bọt” thật không thức thời!

 

5. Sự giao thiệp với nước Pháp:

Bắc Kỳ tạm ổn mọi nơi

Philastre biến, Rheinart thế vào.

Giặc loạn Hà Nội hạ trào

Dujardin thiếu tá được vào ngó coi.

 

Hiệp thương ký mới ráo ngòi

Ông Nguyễn Tăng Doãn ra coi Bắc Kỳ.

Kiếm đất, lập trại thị uy

Hải Phòng, Ninh Hải tức thì chọn ngay.

 

Thượng thư Bộ Hộ gặp may

Là Phạm Phú Thứ nở mày Hải An.

Tổng lý Thương chánh Đại thần

Kiêm chức Tổng đốc nắm phần bán buôn.

 

Hi Tăng, Tăng Doãn vào luôn

Định việc thương chánh, diễn tuồng thế vua!

Triều đình chỉ nghĩ bán mua

Cho nên trúng một quẻ bùa bọn Tây.

 

Rheinart khâm sứ ra thay

Hải Phòng: ông Trúc, Kergaradec: Bắc Kỳ.

Sài Gòn, Thành Ý nhận đi

Vào làm lĩnh sự làm vì thế thôi!

 

Rhinart cáo bệnh về rồi

Philastre lại khứ hồi Huế ngay.

“Nghinh tân, đả cựu” mắc dây

Triều đình lộ kế cho Tây chúng bì.

 

Mậu Dần, đấu xảo Paris

Tăng Doãn, Thành Ý vội đi chịu đòn.

Cho người sang học Toulon

Thêm mười hai đứa trẻ con xuất hành.

 

Sang Hương Cảng, học trường Anh

Tiêm, Tàu thông sứ mới thành vạ đây.

Pháp mang hòa ước ra ngay

Triều đình sai quấy, tớ thầy phải nghe.

 

Khâm sai Huế – Philastre

Triều đình cả nể vì nghe có tài.

Hiểu Nho, tình, lý lọt tai

Khi ông về nước, không ai rọi đèn.

 

Xiêm, Tàu giao thiệp bao phen.

Thêm nước Anh quốc, rối ren một nùi!

Chính phủ Pháp, chúng chẳng… đui

Vi phạm hòa ước, phanh phui mọi đàng.

 

Hai bên tình thế chẳng an

Pháp muốn bảo hộ diễn màn kế gian.

Rheinart vừa mới lại sang

Làm khâm sứ Huế nên càng khó khăn!

 

Nước Anh, Mỹ, Ý lại căng

Muốn vào buôn bán khăng khăng mọi phần.

Nên không muốn Pháp chen chân

Đem chuyện buôn bán xử phân luận bàn.

 

Lĩnh sự Pháp lại đổi quan

Ông Le thống đốc mới sang Sài Gòn.

Triều đình Huế chẳng khôn ngoan

Thông thương, khai hóa đang còn bỏ bê.

 

Cờ Đen loạn, triều đình ngơ

Chẳng sao cấm cớ, quay cờ, lộng hung.

Chính phủ Pháp lập tức dùng

Kế sách trước, đánh; sau cùng kéo binh.

 

Tình hình chiến sự phát sinh

Chiếm Bắc Kỳ, Pháp mặc tình bán buôn.

 

Chương XI

PHÁP CHIẾM LẤY BẮC KỲ

Lần thứ hai (1882)

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - LỜI GIỚI THIỆU

    Với Việt Nam lục bát sử, nữ tác giả đa tài Ngọc Thiên Hoa lại đem đến cho độc giả một bất ngờ thú vị. Bất ngờ vì lâu lắm rồi mới lại có người để mắt tới Sử…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN I

    VIỆT NAM L ỤC B ÁT SỬ NƯỚC VIỆT NAM (越 南) 1. Quốc hiệu: Hồng Bàng lập nước Văn Lang Âu Lạc, Thục Phán sửa sang bội phần.   Tượng Quận gọi bởi nhà Tần Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam: Cửu…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN II

    Chương VI NHÀ TRẦN (1275-1400) Thời kỳ thứ nhất (1225-1293) I. TRẦN THÁI TÔNG (1225-1258) Niên hiệu: Kiến Trung 建 中 1. Trần Thủ Độ: ... Thủ Độ bày vẽ mông lung Cướp ngôi nhà Lý gian hùng,…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN III

    Chương XIV MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU             (1418-1427) 1. Lê Lợi  (鯬 利) khởi nghĩa ở Lam Sơn: Lam Sơn ruộng núi muôn bề  ... Lê Lợi giàu có bằng nghề ruộng nông. Giúp người hào kiệt lưu vong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN IV

    Quyển IV TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (1528-1802) (Thời kỳ Nam Bắc phân tranh) NHÀ HẬU LÊ  黎 後  Thời phân tranh (1533-1788) ... Chương I LỊCH TRIỀU LƯỢC KỶ Nước Nam một cõi biển Đông Ngô Vương đuổi Hán uy phong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN V

    Chương IX HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA (1510-1786) 1. Chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ: Trịnh Sâm bỏ trưởng, dâm tà Mê say Thị Huệ nên sa thế cùng.  ... Cho mình một đấng anh hùng…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VI

    Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840) 1. Sự giặc giã: Tiêm, Lào quấy nhiễu Nam, Tây Cựu thần Lê dấy đó đây Bắc Kỳ. .... Quan trường chỉ giỏi chi li Thần dân bất mãn: Vua chi hẹp…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VII

    Chương XI PHÁP CHIẾM  LẤY BẮC KỲ Lần thứ hai (1882) 1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội: Người Pháp có giấy thông thương   ... Bị giặc Khách chận trên đường Vân Nam. Pháp bèn bắt lỗi…