Chương IX

HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA

(1510-1786)

1. Chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ:

Trịnh Sâm bỏ trưởng, dâm tà

Mê say Thị Huệ nên sa thế cùng.  …

Cho mình một đấng anh hùng

Ngôi vua muốn cướp, nên dùng kế gian.

 

Bèn sai Vũ Thiệu Thị lang

Sang Thanh kiếm một hai đàng tấn phong.

Vũ Thiệu mắc cở tâm trong

Uống ngay thuốc độc, tỏ lòng cản ngăn.

 

Trong triều, đảng phái tung tăng

Hai phe Khải, Cán hung hăng mọi đường.

Cán con chẳng mấy người thương

Thường hay bệnh hoạn, cầm cương khó làm!

 

Sâm cha sắp chết, chưa cam

Di thư lập Cán lên làm Chúa thôi.

Con đầu, Trịnh Khải giành ngôi

Trừ quan Phụ Chính và rồi tiếm vương.

 

2. Kiêu binh:

Quan quân biến loạn triều cương

Quân Tam phủ lại coi thường thế gian.

Kiêu binh phá xóm ngang tàng

Cho công họ lớn, tìm đàng lấn tranh.

 

Quân Tam phủ – lính Nghệ Thanh

Thời Trịnh Tạc mạnh mà thành nổi danh.

Giết quan Tham tụng Quốc Anh

Tham tụng Quý Cảnh suýt thành bóng ma.

 

Đốt nhà Công Trứ chẳng tha

Dương Khuông không nhả, Nguyễn La chẳng từ.

Canh coi phủ Chúa, làm nư

Bùi Huy Bích dỗ, từ từ bớt kiêu.

 

Nhà Trịnh đã đến thời xiêu

Tây Sơn diệt Trịnh, tàn tiêu cuộc cờ!

 

3. Tây Sơn lấy Thuận Hóa:

*Nguyễn Hữu Chỉnh:

Kiêu binh giết Bảo mà ghê

Chỉnh xin Nguyễn Nhạc theo về, Nhạc cho.

 

Cống Chỉnh đảm lược, giỏi Nho

Hoàng Ngũ Phúc trước đã cho nhập cùng.

Sau Hoàng Đình Bảo tin dùng

Đi theo lập nghiệp anh hùng với nhau.

 

Hữu Chỉnh biết Nhạc từ lâu

Nay về với Nhạc mưu cầu rạng danh.

Tây Sơn – Chúa Trịnh chẳng lành

Hữu Chỉnh bàn kế lấy nhanh Bắc Hà.

 

Binh ra Thuận Hóa làm đà

Ngô Cầu trấn thủ, quan nhà hám sinh.

Tờ thư dụ gởi Hoàng Đình

Trao qua tướng Phạm, vô tình… cách ly.

 

Hoàng Đình Bảo chẳng hay chi

Quan không hợp chí, làm gì chẳng thua?

Công lao Hữu Chỉnh thêu thùa

Thương cho tướng Trịnh gan thừa tử sanh.

 

Đình Bảo tử chiến thơm danh

Ngô Cầu ghét Bảo lòng đành thản nhiên.

Đa nghi, nóng nảy, tham tiền

Lầm  mưu Hữu Chỉnh, hàng liền Tây Sơn.

 

4. Tây Sơn dứt họ Trịnh:

Kiêu binh Bắc phủ đang lờn

Trong cơn hoạn nạn, uy sờn rã ben.

Tây Sơn đánh tới bao phen

Bùi Thế Dận, Tự Quyền hèn, chạy đi.

 

Bùi Thế Toại, Tạ Danh Thùy

Mất toi Thanh – Nghệ còn gì để mơ?

Bùi Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ

Bỏ Sơn Nam bởi thua cơ chẳng ngờ!

 

Khen cho Chúa Trịnh cầm cờ

Lên voi, thất trận, lui về Sơn Tây.

Đi đâu thoát họa đang vây

Duyên may có hạn, cùng ngày vạ mang!

 

Gian xảo kế, có Nguyễn Trang

Chúa lầm kẻ phản giở màn bất lương!

Can trường Khải đáng làm gương

Cùng đường tự sát hơn vươn tay còng!

 

Hai trăm mười sáu năm ròng

Chèn Lê, Chúa Trịnh gãy dòng, đứt dây.

 

Chương X

NHÀ HẬU LÊ MẤT NGÔI VUA

1. Tây Sơn rút quân về Nam:

Nhà Trịnh số đã an bày

Hậu Lê cũng phải đến ngày diệt vong!

 

Tây Sơn dứt Trịnh vừa xong

Nguyễn Huệ cái chức Quốc Công tới phần.

Vua mang công chúa Ngọc Hân

Cành vàng lá ngọc nương thân tướng hiền.

 

Nguyễn Nhạc ở Bắc ngại phiền

Xong xuôi, vội vã lệnh truyền trở lui.

Mắt tham thấy bạc nào đui

Đang đêm tháo chạy rinh chui… bạc vàng.

 

Hữu Chỉnh bị bỏ, vội vàng

Bán sống, bán chết tìm đàng nhảy theo.

Xiu lòng, Nhạc chẳng làm eo

Cho theo Nguyễn Duệ, xuôi chèo Nghệ An.

 

Nhà Trịnh đã hết làm ngang

Là cơ hội tốt vua, quan nắm quyền.

Hiển Tông tới tuổi quy tiên

Hoàng tôn Chiêu Thống đến phiên bất tài.

 

Đình thần lắm kẻ hàng hai

Tây Sơn tiến tới, quăng hài thẳng dông.

Hai tên Trịnh Lệ, Trịnh Bồng

Giành tranh ghế Chúa, đèo bòng chữ Vương.

 

Chiêu Thống lập Án Đô Vương

Được “Vương”, muốn “Thượng”, tìm đường lấn vua.

Lê Chiêu Thống phải chào thua

Cho vời Hữu Chỉnh giúp vua, dẹp Bồng.

 

2. Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền ở đất Bắc:

Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp Trịnh xong

Vua phong chức Bằng Trung Công Tư đồ.

Cậy công, Chỉnh lại hàm hồ

Làm điều hống hách, ra vô lạn lờ.

 

Tây Sơn máu đổ dầm dề

Anh em Nhạc – Huệ xoay cờ, đánh nhau.

 

3. Tây Sơn lấy Bắc Hà:

Anh em nhồi thịt da đau”

Anh than, Huệ mới nhìn nhau hết phiền.

Hay tin Hữu Chỉnh chuyên quyền

Nguyễn Huệ sai Nhậm giết liền chẳng tha.

 

Vua thấy Chỉnh sắp ra ma

Bỏ Kinh đô chạy thẳng đà Mục Sơn.

Nguyễn Văn Hòa, tướng Tây Sơn

Bắt Chỉnh nhốt củi, rửa hờn Thăng Long!

 

Vũ Văn Nhậm giết Chỉnh xong

Tôn Lê Duy Cẩn, tức Sùng Nhượng Công.

Lên làm giám quốc” hư không

Bắc Hà chắp nối nửa Công, nửa Gà!

Ngày ngày, chầu chực người ta

Có tiếng, không miếng, quân gia chẳng nhìn.

 

Nguyễn Huệ khi nhận được tin

Vũ Văn Nhậm phản, tức mình, kéo binh.

Ban đêm tiến thẳng vào kinh

Đem người cháu rể gia hình, thị oai.

 

Nguyễn Huệ thấy việc xong rồi

Cho Ngô Văn Sở trông coi Bắc Hà.

Quan Lê lắm kẻ chạy xa

Người thì nhậm chức, kẻ… ma giữa đồng!

 

Lê Chiêu Thống có như không

Triều cương đổ nát, đi tong bệ rồng.

Ba trăm sáu chục năm ròng

Giàn xiêu, bí đổ, Lê không có gì!

 

Chương XI

NHÀ NGUYỄN TÂY SƠN (1788-1792)

1. Nhà Nguyễn Tây Sơn dấy nghiệp:

Triều quân chủ, sử còn ghi:

An dân chí lý, đương nghi chính triều.

 

Nguỵ triều: tiếm vị, lòng điêu

Tham lam, bạc nhược làm điều ác gian.

Muôn dân bách họ lầm than

Khom lưng uốn gối nào màng kỹ cương.

 

Hưng vong, lấy lẽ đo lường

Tây Sơn thịnh bại, đường đường Đế Vương.

Nguỵ triều cầu viện Bắc phương

Gia Long chính sử trăm đường thị phi.

 

2. Vua Quang Trung 光 忠 (1788-1792):

Vua tài, lịch sử còn ghi:

Anh minh, quân tử chẳng bì tiểu nhân.

Nguyễn Huệ sức khỏe tuyệt trần

Cơ mưu diệu biến, tiên thần chẳng hơn!

 

Cùng anh dựng nghiệp Tây Sơn

Phú Xuân đóng phủ, tay trơn đất Chàm.

Nhà Thanh dòm ngó phương Nam

Quần thần tấn lập lên làm Quang Trung.

 

3. Tôn Sĩ Nghị đem quân sang An Nam:

Vua Lê thế bí đường cùng

Thái hậu hết cách bèn dùng sách quen:

Mang hoàng tử chạy bao phen

Tâm không hổ thẹn, bon chen đến Tàu.

 

Càn Long nghe Sĩ Nghị tâu:

Giúp người trước cũng về sau giúp mình”!

Vua Thanh chuẩn tấu, ra binh

Mang quân bốn tỉnh mà bình Tây Sơn.

 

Thế giặc mạnh, Văn Sở chờn

Tam Điệp lui trớn, còn hơn đối đầu.

Phú Xuân, cấp báo mấy câu

Nguyễn Huệ nhắc nhở: Mưu sâu kíp dùng!

 

Bắc Ninh, Nghị đến ung dung

Vua quan Chiêu Thống…kính cung lạy chào.

Đêm ngày chầu chực ra vào

Thân vua một nước! Ôi chao thẹn thùng!

 

Tuồng như lũ Mạc Đăng Dung

Vua hèn, lột áo, thân giun… nạp mình!

Tên Tôn Sĩ Nghị coi khinh

Nghinh ngang lính gác đưa trình ý quan.

 

Tàu ngày, cướp phá dân làng

Vua lo giết hại người hàng Tây Sơn.

Dân tình khiếp hãi nào hơn

Non sông khốn đốn căm hờn chẳng vơi.

 

4. Vua Quang Trung đại phá quân nhà Thanh:

Đánh giặc nào chuyện đùa chơi

Bắc Bình Vương được quân mời bệ cao.

Đăng đàn, tế lễ, thay bào

Điều binh lập tức đi vào Nghệ An.

 

Quang Trung phủ dụ chiêu an

Cho ăn Tết trước, rồi bàn xuất chinh.

Quân ta mười vạn tân binh

Giặc hai mươi vạn, ỷ mình thiện binh.

 

Quang Trung mưu tựa Khổng Minh

Thần cơ diệu đoán tình hình chẳng sai!

Ngài như Hưng Đạo thứ hai

Điều binh thần tốc, thiên tài giở ra.

 

Cuối năm tiến thẳng Bắc Hà

Qua sông Giản Thủy vào nhà họ Lê.

Lê Chiêu Thống khiếp, không ngờ

Quang Trung phá giặc, san bờ Phú Xuyên.

 

Ngọc Hồi tuyến địch đầu điên

Vì cô lập chẳng ”khua chiên” gọi là…

Quang Trung rạng sáng Mồng Ba

Tháng giêng – Kỷ Dậu, đánh ra Hà Hồi.

 

Loa kêu, quân địch rối bời

Mất hồn, khiếp vía, rụng rời, bó tay!

Mồng Năm, rạng sáng cùng ngày

Tây Sơn tiến đến bao vây Ngọc Hồi.

 

Đạn Tàu xối xả không thôi

Quang Trung trí lược hạ hồi, lập mưu:

Cỏ rơm quấn lửa, đốt thù

Ba mảnh ván ghép thủ mười lính khiên.

Mỗi người có một dao riêng

Hai mươi lính nữa ráp liền phía sau.

Xáp lá cà đánh với nhau

Giặc chịu không thấu, quay đầu chạy nhanh!

 

Quan Thanh: Đề đốc Thế Hanh

Tiên phong, tả, dực: Long, Thăng bỏ mình.

Bị vây, Nghi Đống thất kinh

Thắt cổ tự vẩn, chôn mình Đống Đa.

 

Nửa đêm, tin xấu báo ra

Tôn Sĩ Nghị hoảng liệu mà chạy xa.

Lên ngựa, yên chẳng kịp tra

Quăng cha áo giáp, tranh qua chiếc cầu!

 

“Quân trung vô thủ”, trước sau

Tranh cầu, cầu gãy, xô nhàu chết sông!

Hồn ai oán lạnh giữa dòng

Chồng, con, mẹ, vợ khóc ròng giá đông!

 

Quang Trung vừa tới Thăng Long

Chiêu an, phủ dụ bền lòng nghĩa nhân.

Cho lương, thuyền đến hàng quân

Coi như một cách gia ân, mở lòng.

 

Vì tờ mật chiếu Càn Long

Gởi Tôn Sĩ Nghị tỏ lòng xâm lăng.

Quang Trung bảo Thời Nhiệm rằng:

“Dùng lời khéo cản, ngăn màn chiến tranh”.

 

5. Vua Quang Trung cầu phong:

Càn Long chiến sự không thành

Trong mình rực lửa… tam bành, định sang.

Hoàng đệ vua, Phúc An Khang

Tổng đốc Lưỡng Quảng vội vàng trấn an.

 

An Khang có tính mê vàng

An Nam đút lót vàng ngàn, dễ không.

Quang Trung tấu biểu cầu phong

Yên Kinh được cống, vàng đong thế tình.

 

Hòa Thân được của, tâu trình

Vua nghe Khang nói chí tình, bãi binh.

Mật ngọt, ruồi chẳng coi khinh

Phong vương Nguyễn Huệ, mà sinh cảm tình.

 

Quang Trung chọn kẻ giống mình

Là Phạm Công Trị, rập rình tiễn đi.

Văn Chân, Văn Sở… phò trì

Huy Tấn, Huy Ích lễ nghì: Cống Voi!

 

Càn Long tiếp đón hẳn hoi

Làm lễ ôm gối” mà coi một nhà.

Vời đến chầu ở Nhiệt Hà

“Truyền thần vẽ ảnh” thiệt là hậu ân!

 

6. Vua Chiêu Thống nhà Lê bị nhục

ở bên Tàu:

Bên Tàu, Thống chẳng yên thân

May sao có được vài chân kẻ hầu!

Khang lừa đổi áo, gọt đầu”

Chờ khi phục quốc, mưu cầu Đế, Vương?!

 

An Khang gạt Thống cùng phương

Khi Càn Long hỏi, tấu chương mà rằng:

Duy Kỳ chẳng muốn nhọc nhằn

Đổi tóc, áo ở muôn trăng với Tàu”.

 

Càn Long chấp thuận lời tâu

Truyền cho Chiêu Thống vào chầu Yên Kinh.

Lê Quýnh trung hậu, tức mình:

Đầu, da chặt, lột mặc tình coi không.

Nhưng tóc và áo đừng hòng

Đừng mong ta bỏ tục dòng nước Nam!”

 

Vua khen trung liệt, vẫn giam

Quýnh vì quốc thể không cam cá thừa.

Còn bè bán nước, dây dưa

Ham vinh, sống nhục, mưu lừa bán vua.

 

Văn Quyên họ Nguyễn không vừa

Trung can, mắng kẻ gian lừa “Chó Ngao!

Sao mày dám nhục vua tao!”

Đòn roi một trận mưa rào, khổ thân!

 

Trung quân báo trọn hoàng ân

Mà vua mãi quốc thì ân nghĩa gì!

 

Tình cảnh Chiêu Thống lâm ly

Tay trơn, chí nhụt còn gì viện xin!

Thêm hoàng tử mất thình lình

Vong vua rầu rĩ, ly hình xứ xa!

 

“Rước voi về giày mả cha”

Đâu là đại phước, đâu là họa thân?

Lê Chiêu Thống nhục muôn phần

Xa xôi vạn dặm hư thân đã đành!

 

Nương mình nấp bóng nhà Thanh

Suy ra, trách kẻ gian manh đoạn tình.

Lừa trên, dối dưới coi khinh

Vong vua đãi bạc, hư vinh nhục mình.

 

Thiên cha cũng thiệt… thiên tinh

Con Thiên tử lại muôn hình đắng cay!

 

7. Đức độ Vua Quang Trung:

Quang Trung đức độ cao dày

Am tường trị nước, dùng bầy tướng hay.

 

Nguyễn Thiếp dạ thẳng lòng ngay

Không theo, vua lấy nghĩa Thầy, kính thay.

La Sơn Phu Tử xưa nay

Không ham phú quý, lòng đầy nước non.

 

8. Chính trị của vua Quang Trung:

Phu thê, dạ cũng vuông tròn

Bắc Cung Hoàng hậu phần còn Ngọc Hân.

Với vua Lê, trọng muôn phần

Lòng không lướt lấn, đỡ đần khó khăn.

 

Bắc thành tên gọi thành Thăng

Nghệ An đất tổ: “Phượng Hoàng trung đô”.

Sơn Nam nhị trấn địa đồ

Hai quan Trấn, Hiệp tha hồ giữ coi.

 

Phân tri, văn Huyện rập ròi

Coi về kiện cáo, lần hồi xử phân.

Phân suất, quan võ có phần

Binh lương giữ việc chuyên cần kiểm tra.

 

9. Quan chế:

Quan chế, sử có ghi qua:

Quan cao Tam thiếu hay là Tam công.

Tư cối, lệ, khấu, Tư không

Tư Đồ, Tư mã thuộc dòng “Đại tư”.

 

Hàn Lâm, Lục bộ thượng thư

Thị trung ngự sử, Trung thư  sảnh đường.

Đại học sĩ nắm quan trường

Tiền, Trung, Tả, Hữu, về đường tướng binh.

 

10. Việc Đinh điền:

Đinh (người) ba hạng phân minh:

Cập nách, tráng hạn (trung bình), lão nhiêu.

Điền (ruộng) tam cấp chia đều:

Tam, Nhị, Nhất đẵng mà kêu rõ ràng.

 

11. Học hành:

Thi Nôm, học giỏi làm quan

Văn hay chữ tốt thênh thang tướng hầu.

Văn chương chẳng mượn chữ Tàu

Tiếng mình, mình học làm giàu chữ Nôm.

 

12. Việc làm chùa chiền:

Sư nhiều, lắm sãi mòn trôn

Kinh thông dốt nát, thì không trụ trì.

Quang Trung lệnh dọn chùa đi

Cho gom gỗ lại gia vì thế nghiêm.

Tu hành phải có căn nguyên

Sư tâm đắc đạo, nhà Thiền đặng thơm.

 

13. Việc định đánh Tàu:

Nước Nam, Tàu cứ ngắm dòm

An Nam chỉ dám… lôm lôm Chiêm Thành.

Chân Lạp hoặc đánh Tiêm La

Tàu kia nước lớn sao mà… ngó xa!

 

Quang Trung thiệt khác người ta

Cầu phong kế hoạch chẳng qua dưỡng mình.

Luyện quân chờ lúc nhuệ tinh

Đánh Tàu bắt trả lại mình mấy châu.

 

Cầu hôn tính nước về sau

Âu là kế sách đương đầu với Thanh.

Than ôi! Chí lớn không thành

Tiêu hao sức lực, tan tành ước ao.

 

14. Vua Quang Trung mất:

Vua hiền tài, chẳng thọ cao

Nghiệp chung đại cáo đi vào vạn năm!

Ngôi vua chỉ được bốn năm

Thọ bốn mươi tuổi, bệnh ngầm giá băng!?

 

Rạch Gầm, Xoài Mút hay chăng

Sĩ Nghị buông kiếm, Xiêm – Thanh bạt hồn!

Người đi bóng ngã hoàng hôn

Hồn thiêng trợ hộ trường tồn nước Nam.

 

15. Vua Cảnh Thịnh 景 盛 (1782-1802):

Chí cha, Quang Toản khó làm

Vua con mười tuổi đành cam ngậm ngùi.

Quyền hành ở cậu họ Bùi

Anh ruột thái hậu một hùi với nhau.

 

Không đem xã tắc làm đầu

Mà lo cấu xé mưu cầu lợi riêng.

Trên phân đảng, dưới phân quyền

Tây Sơn trên biển như thuyền gãy thân.

 

Chương XII

NGUYỄN VƯƠNG THỐNG NHẤT NƯỚC NAM

1. Nguyễn Vương Ánh ở Tiêm La:

Nói về Nguyễn Ánh nhanh chân

Trước khi  Nguyễn Huệ thắng quân Xiêm về.

Nguyễn Ánh đành phải ở nhờ

Qua Xiêm lánh nạn mà chờ phát uy.

 

Lưu vong so Thống khác gì

Về tài trí, Thống sao bì Nguyễn Vương.

Vua Xiêm trọng Ánh khác thường

Vua Thanh rẻ Thống giống phường rợ nô!

 

Kiếp Vương sung sướng chỗ mô

Mà bao người cũng nhào vô, thiệt là…

 

2. Nguyễn Vương Ánh về lấy Gia Định:

Khi Ánh khổ ở Xiêm La

Nguyễn Huệ lúc ấy đã ra Bắc Hà.

Giúp Lê qua những phong ba

Không giành thế lực, chẳng sa lấn đường.

 

Được phong là Bắc Bình Vương

Phế ngay Trịnh Khải tỏ tường phép khuôn.

Nguyễn Nhạc xưng Đế – Phú Xuân

Gia Định giao Lữ canh chừng, chẳng lơ.

 

Rồi khi Nhạc – Huệ trở cờ

Quân Gia Định phải điều về Quy Nhơn.

Tây Sơn thế đã kém hơn

Là cơ hội tốt rửa cơn oán hờn.

 

Nguyễn Ánh chí lớn không sờn

Nửa đêm từ tạ, thuyền quờn chốn xa.

Những điều cần kíp làm qua

Thu “Thiên địa hội” đám Hà Hỉ Văn.

 

Bấy giờ hào kiệt, nhân văn

Tây Sơn mấy tướng khăng khăng nhập hàng.

Đông Định Vương – Lữ, không màng

Lui về Lạng Phụ, bỏ ngang Sài Gòn.

 

Văn Tham, Thái phó tài non

Mắc mưu, theo Ánh, tướng còn mấy ai?

Nguyễn Lữ đại tướng bất tài

Bỏ chạy, nhận lấy lá bài tử vong.

 

Phạm Văn Tham đã phản công

Nguyễn Vương lại thẳng Gò Công chạy về.

May nhờ Võ Tính cao cơ

Đem binh giúp Ánh, qua đê vượt cầu.

 

Võ Tính đáng bậc mày râu

Vì anh chống Nguyễn rơi đầu, ruột đau!

Võ Tính về giữ vườn Trầu

Gia Định bậc nhất” dạ sầu thế chung.

 

Nguyễn Vương hết sức tin dùng

Đem công chúa gả mà cùng tiến binh.

Quan Tiền phong chưởng cơ Dinh

Chiếm Gia Định mở lộ trình đánh ra.

 

Tây Sơn, Thái Bảo ra ma

Phạm Văn Tham trước cũng sa kế lường.

Thân tướng tử chiến sa trường

Phạm không binh viện, cùng phương phải hàng.

 

3. Nguyễn Vương sửa sang mọi việc ở Gia Định:

Nguyễn Ánh lo việc sửa sang

Cấm trò phù thủy, ngăn can bạc bài.

Canh nông, thuế khóa lâu dài

Quan tâm võ bị hòng… bài Tây Sơn.

 

4. Việc khai khẩn điền thổ:

Nguyễn – Nam, Trịnh – Bắc căm hờn

Đầu rơi máu đổ, xám nhờn cỏ cây.

Công lao Nguyễn Ánh là đây:

Làm Gia Định héo giờ này phục sinh.

Phủ binh cho đến cùng đinh

Khai hoang, lĩnh ruộng, làng đình đổi da.

 

5. Việc buôn bán:

Thông thương các nước gần xa

Cần lưu huỳnh, lấy thóc mà đổi trao.

 

6. Ông Bá Đa Lộc và hoàng tử Cảnh ở Pháp về:

Ánh đem hoàng tử ngoại giao

Cho Bá Đa Lộc mà nào thấy tin?

Louis mười sáu nghĩ tình

Ký tờ giao ước, lược trình mấy câu:

 

”Pháp giúp Vương bốn chiếc tàu

Ba đạo: Lục, Hắc dẫn đầu pháo binh.

Nguyễn Vương cũng phải nhượng mình

Pháp quản cửa Hội, định bình Côn Lôn.

 

Pháp tự do bán với buôn.

Người Âu không được qua truông vượt rào.

Khi Pháp có loạn chiến nào

Lương thực Ánh phải thầu bao lính, tàu.

 

Nếu khôi phục nước về sau

Mỗi năm làm một chiếc tàu trả ngay”.

Giao ưóc hay nhục ước đây

Lợi mình chưa một, lợi Tây đã mười!

 

May sao “nhục ước” buồn cười

Tình hình bất lợi, nằm… lười Paris.

Bá Đa Lộc thấy cũng kỳ

Mộ người, mua súng giúp vì chỗ thân.

 

7. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn

 lần thứ nhất (1790):

Nguyễn Ánh sai Chưởng tiền quân

Quan cũ ngày trước, công thần: Văn Câu.

Tiên phong: Võ Tính, Thành, Châu

Cùng vây Bình Thuận, phủ đầu Phan Rang.

 

Văn Câu binh bại tiêu tan

Gia Định nghị tội: Bãi hàng chức quan.

Con đường phú quý thênh thang…

Bất đắc kỳ tử” cũng đang đợi mình!

 

Nguyễn Vương lại tự thân chinh

Chiếm phủ Diên Khánh rồi bình Bình Khang.

Chiến thuyền vào bể Nha Trang

Thắng xong thẳng tới địa bàn Phú Yên.

 

Nguyễn Vương giục thủy binh liền

Tiền binh đánh với binh tiền Tây Sơn.

Quân Thái tử Bảo yếu hơn

Bỏ Thị Nại, hướng Quy Nhơn trốn về.

 

Tây Sơn – Nguyễn Nhạc não nề

Sống còn là cách cầu nhờ Phú Xuân.

Cảnh Thịnh sai Huấn, Công Hưng

Tư đồ Văn Sở với cùng Lê Trung.

 

Văn Châu, thống lĩnh đi cùng

Hai đường thủy, bộ trùng trùng giải vây.

Nguyễn Vương vội vã rút ngay

Chạy về Gia Định chờ ngày phản công.

 

8. Thế lực Tây Sơn;

Phạm Công Hưng giải vây xong

Tịch thu của cải, niêm phong bảo tàng.

Nguyễn Nhạc tức kẻ làm ngang

Thổ huyết bỏ mạng, oán than ngậm lời.

 

Tây Sơn Nguyễn Nhạc về trời

Mười sáu năm đế, cuối đời chát chua!

Hai vua còn lại một vua

Sắp thêm vua nữa ăn, thua chán chường!

 

Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Vương

Vua nào giữ được giang sơn vững bền?

 

Tây Sơn thế lại mạnh lên

Vây thành Diên Khánh bấp bênh mấy lần.

Phú Xuân loạn bởi đại thần

Giết nhau mới tạo muôn phần nghịch thiên.

 

Bùi Đắc Tuyên lại chuyên quyền

Lừa Ngô Văn Sở vào xiềng với gông.

Bọn Nguyễn Văn Dũng đánh đồng

Nghe Văn Kỷ giết người trong thế cùng.

 

Dìm sông chết kẻ anh hùng

Tây Sơn đã đến đường cùng cáo chung.

Quang Diệu nghe báo hãi hùng

Không quyền, vua trẻ khóc cùng, thế thôi!

 

Lui binh, Quang Diệu về rồi

Hai bên Dũng – Diệu đến hồi cự nhau.

Thất kinh, vua gọi vào chầu

Vỗ về, họ mới quay đầu bắt tay.

 

”Tứ trụ” chẳng được bao ngày

Trần Quang Diệu bị thâu ngay tước quyền.

Vua nhỏ dại, chẳng người khuyên

Võ quan kiếm chuyện đảo điên tứ bề.

 

9. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn

lần thứ hai (1797):

Nguyễn Ánh cơ hội đã chờ

Dẫn Đông cung Cảnh đánh về Quy Nhơn.

 

Tây Sơn con cá thờn bơn

Nhưng cò chưa thể nuốt trơn được liền.

Văn Thành, Tánh đánh Phú Yên

Tây Sơn phòng kỹ, đương nhiên thủ huề.

 

Nguyễn Vương thấy khó lui về

Bèn chuyển hướng đánh bất ngờ Quảng Nam.

Đánh hoài, Vương liệu chẳng kham

Rút về Gia Định, rồng cam ở chuồng.

 

10. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn

lần thứ ba (1798):

Thư về cấp báo Phú Xuân

Là tin Nguyễn Bảo luông chuông, trốn tìm.

Nghe anh theo Ánh, vô tim

Cảnh Thịnh bắt Bảo mà dìm xuống sông.

 

Lê Trung, Trấn thủ không xong

Âm mưu tạo phản, thông đồng, chém đi.

Văn Huấn, Thiếu phó uy nghi

Vạ mang đố kỵ mà đi đứt đời.

 

Giết nhau quả thiệt tơi bời

Tướng Tây Sơn nản, rụng rời bỏ vua.

Nguyễn Vương như gió được mùa:

“Đại đô đốc chúng đã hùa với ta!”.

 

Vương thương lượng đến Tiêm La

Theo đường Vạn Tượng đánh ra Bắc Hà.

Một nhà, một nước, một cha

Gà làm bạn cáo, cáo tha mất liền!

 

Quy Nhơn, Ánh lấy về nguyên

Rút về Gia Định, giao quyền Tính, Châu.

Bá Đa Lộc lại bệnh đau

Mất rồi, Vương tặng công đầu: Quận công.

 

11Quân Tây Sơn vây thành Bình Định:

Tây Sơn xáo xộn bên trong

Mượn tay Văn Dũng tấn công tướng Trần.

Quang Diệu về bắt loạn thần

Vua Cảnh Thịnh phải phân trần, biện minh.

 

Canh Thân, Quang Diệu ra binh

Cùng quân Văn Dũng vào bình Quy Nhơn.

Tùng Châu, Võ Tính không sờn

Giữ thành lương thực hết trơn cũng đành.

 

Tháng giêng Tân Dậu, tương tranh

Vương sai Tống Phúc Lương nhanh mở đường.

Di Nguy, Văn Duyệt tinh tường

Mang thủy quân chận, cắt đường Tây Sơn.

 

Được Thị Nại, lại tay trơn

Đông cung Cảnh ốm, căm hờn với ai?

Nguyễn Hi, hoàng tử thứ hai

Tháng sau cũng mất, Vương ai oán lòng!

 

12. Nguyễn Vương thu phục Phú Xuân:

Tây Sơn vây mấy tháng ròng

Giải vây chẳng được, sai vòng cửa sau.

Vương kêu Võ Tính, Tùng Châu:

“Bỏ thành trốn chạy giữ đầu lấy công”

 

Võ Tính ngay thẳng một lòng:

”Phú Xuân nên lấy để hòng tiến binh”.

Nghe lời Tính, Ánh ra binh

Tây Sơn Cảnh Thịnh hoảng kinh, rụng rời!

 

Hai bên loạn chiến tơi bời

Đạo đồ Thiên Chúa  nhập… đời chiến chinh.

Vua hèn, quan chỉ lo mình

Nên dân tình giữ phận mình tép tôm.

 

Lạy trời cho có gió Nồm

Cho quân nhà Nguyễn giông buồm thẳng ra”.

Tây Sơn số kiếp không nhà

Nguyễn Huệ mất sớm, sơn hà tả tơi.

 

Phú Xuân như đánh giỡn chơi

Quân phò mã Trị rã rời, bại ngay.

Vua Cảnh Thịnh chống nửa ngày

Tan bầy, rã bọn ai thầy, tớ đây?

Tìm đàng “xa chạy, cao bay”

Ngày đêm vội vã ra ngay Bắc Hà.

 

Quang Thùy, em chẳng rời xa

Thị Xuân hộ giá vua mà rước đi.

Họ Bùi hào kiệt nữ nhi

Vợ Trần Quang Diệu, sử ghi: Anh hùng.

 

Tôi trung chẳng gặp thời chung

Cây xanh thiếu nắng thun chùn, héo hon!

Vợ chồng lòng dạ sắc son

Tôi trung thờ chúa vuông tròn có nhau.

 

13. Võ Tính tử tiết:

Quy Nhơn: Võ Tính, Tùng Châu

Bị Trần Quang Diệu vây sâu giữa thành.

Viện binh bị đánh tan tành

Cùng phương, Võ Tính mới đành tự thiêu:

 

“Như ta chủ tướng thì liều

Còn như quân sĩ làm điều tội chi?

Người nên mở lượng từ bi…”

Lầu cao Bát Giác truyền ghi một lời!

 

Tùng Châu nghĩa đảm đầy vơi

Dùng ngay thuốc độc, muôn đời thủy chung!

Toàn là những bậc anh hùng

Thời nào, tướng nấy kiên trung phải cần.

 

Vào thành, Quang Diệu an dân

Chôn thây Châu, Tính tỏ phần nể yêu.

Y lời, quân tử nào điêu

Đem tâm đức độ làm điều trị gia.

 

14. Trận Trấn Ninh:

Phú Xuân thất thủ, tin qua

Cảnh Thịnh vội chạy kíp ra Bắc Hà.

Viện binh các trấn kéo ra

Quân non ba vạn có đà vượt sông.

 

Tướng Nguyễn thấy chống không xong

Trần Thường, Tống Phúc Lương đồng rút binh.

Nguyễn Vương phải tự thân chinh

Thủy, Bộ hai hướng Trấn Ninh thủ vì.

 

Tháng giêng Nhâm Tuất, Quang Thùy

Cùng Thị Xuân lại kiên trì phá ra.

Nguyễn Văn Kiên dạ xấu xa

Thua trận Nhật Lệ phải ra chịu hàng.

 

Nguyễn Văn Thận giữ Nghệ An

Vua Tây Sơn dẫn binh tàn chạy đi.

Quang Diệu, Văn Dũng so bì

Trấn Ninh bị phá, thủ gì Quy Nhơn?

 

Bỏ thành mà chạy hay hơn

Nghệ An thẳng tiến qua cơn hoạn này.

Vua tôi gặp gỡ tại đây

Lo mà chống Nguyễn với xây dựng nhà.

 

15. Nguyễn Vương lên ngôi tôn (1802)

Gia Long nguyên niên 嘉 隆 元 年

Phú Xuân chiếm giữ làm đà

Tháng năm Nhâm Tuất xưng là Gia Long.

Lập đàn tế cáo vừa xong

Đồng thời lệnh tiến thẳng dong Bắc Hà.

 

16. Quân Nam ra lấy Bắc Hà:

Văn Trương, đường thủy đánh ra

Bộ binh: Duyệt, Chất chia mà đánh sang.

Quân bộ vượt sông Linh Giang

Tiến vào Hội Thống sang bằng lũy dinh.

 

Khiến quan Trấn thủ hoảng kinh

Bỏ Nghệ An chạy, náo mình Diễn Châu.

Quân Nguyễn triều kéo đến đâu

Tây Sơn chẳng đánh còn mau chịu hàng.

 

Cảnh Thịnh thấy quân vỡ tan

Cùng em tẩu tán mà sang Nhị Hà.

Dân gian ở đấy tìm ra

Đem vua bỏ củi coi là lập công.

 

Quang Thùy, Đốc Tú đau lòng

Hiên ngang tự tử, vợ chồng chết chung.

Thị Xuân, Quang Diệu anh hùng

Cùng Vũ Văn Dũng nhận khung giảo hình.

 

Tiểu nhân, quân tử khó bình

Bên ta cứu chúa, bên mình phản dân.

Trung thần, phản trắc bất phân

Luận công, định tội chờ phần kiếp sau.

 

Tây Sơn dựng nghiệp không lâu

Tàu không kẻ lái lao đầu hố sâu.

 

Quyển V

CẬN KIM THỜI ĐẠI

NHÀ NGUYỄN 阮 氏 (1802-1945)

Chương I: THẾ TỔ (1802-1819)

Niên hiệu: Gia Long 嘉 隆

1. Thế Tổ xưng Đế hiệu:

Tây Sơn xóa xổ vương hầu

Hăm bốn năm, Ánh nối cầu Việt Nam.

Phú Xuân – Thủ phủ Bắc – Nam

Thế Tổ cấp đất, phong hàm Trịnh – Lê.

 

Bắc thành tên gọi bấy giờ

Văn Thành phụng chỉ vỗ về, ngó coi.

Xếp đặt đâu đó hẳn hoi

Nhâm Tuất, nghị tội rạch ròi Tây Sơn.

 

”Hiến phù” làm lễ rửa hờn

Tù quốc gia chẳng nặng hơn phạm nhà!

Hồn ma cũng dễ gì tha

Đào mồ, quật mả vua nhà Quang Trung.

 

Mang thây nghiền bột vứt tung…

Đầu đem xích lại  giam vùng tử lao!

Văn thần, võ tướng, ôi chao

Hàng rồi cũng đánh máu trào mới tha!

 

Vua tha, nhưng tướng chẳng tha

Thời Nhiệm chết bởi roi da Trần Thường.

Vợ chồng Quang Diệu thê lương

”Voi giày” đến chết một phường trẻ thơ!

 

Hình gia xử ác, người ghê

Ban công, luận tội nào ngờ tiểu nhân!

Quân thù xâm lược nào thân

Cũng đâu số phận nát gân, tróc mày!

Cho người chuyển thể dòng này

Than dài, nước mắt thương vay, đắng lòng!

 

2. Việc triều chính:

Điêu linh sáu chín năm ròng

Triều cương đổ nát, thuần phong lụi tàn.

Gia Long mới cấm dân gian

Không tin Thần, Phật sinh sang rượu chè.

 

Quan nào lập phái, kết bè

Đua nhau quấy nhiễu hằm hè, chẳng tha.

Với Tàu, Chân Lạp, Tiêm La

Giữ tình hiếu thuận, nước nhà mới yên.

 

Triều ca sửa đổi mà truyền:

Theo Lê, chế độ vua quyền, phủ nha.

Bồ tụng, Tham tụng bỏ qua

Chỉ còn Lục bộ, đầu là Thượng Thư.

 

*Bộ Lại thưởng phạt công tư

Xét công trạng, thảo chiếu từ, bổ quan…

*Bộ Hộ coi việc kho tàng

Đinh điền, thuế má, bạc vàng, chuyển thông…

 

*Bộ Lễ coi tế, tôn phong

Học hành, thi cử, thọ đồng, tế nhân…

*Bộ Binh kén chọn tân quân

Thuyên bổ võ chức, hiệp quần thưởng công…

 

*Bộ Hình duyệt án chưa thông

Hình danh pháp luật, tấu dâng, nhục hình…

*Bộ Công coi việc cung đình

Xây thành, dinh thự, công trình bán mua.

 

Lập Đô sát viện can vua

Tả, hữu Ngự, Phó theo tua đứng đầu.

Bốn Doanh, ba Trấn chia nhau

Trấn có Huyện, Phủ, đầu tàu Tri Châu.

 

3. Binh Chế:

Ban công, định tội liền nhau

Thờ người tử trận, phong Hầu kẻ công.

Lính già chiến trận về xong

Các Trấn theo lệ quay vòng: Giản binh.

 

Kinh đô nơi đặt Thâu binh

Tinh binh với lại Cấm binh giữ thành.

Lính Cơ, lính Mộ trấn hành

Binh khí đủ cỡ, tập tành với nhau.

 

Tàu thuyền lớn, bọc đồng thau

Tuần dinh tiền hậu, canh tàu viễn chinh.

 

4. Việc Tài chính:

Tài chính đổi mới hợp tình

Gia giảm khi lũ hạn sinh mất mùa.

 

Thuế điền, ba hạng thu mua

Thuế đinh, lệ định khác mùa, khác nơi.

Năm năm, đinh hạ lỗ, lời

Dân, quân, chức sắc đồng thời phải khai.

 

Ruộng điền, điền bạ sinh nhai

Ba năm trả lại, không ai bán, nhường.

Thuế thân, sản vật coi tường

Thuế thuyền nước khác, ước lường: Nhỏ, to.

 

Nhà vua chế kiểu thước đo

Người Tàu khai mỏ, vua cho hưởng dài.

Năm Gia Long tính thứ hai

Gia Long thông bảo” thông khai bán hàng.

 

Mười lượng bạc, một lượng vàng

Cho phép Gia Định chuyển sang đúc tiền.

Đồng, chì, sản vật: cân thiên

Cân trung bình để cân riêng bạc vàng.

 

5. Công vụ:

Gia Long cứu xét mà bàn

Xây nhà, sửa lộ, làm đàng nghỉ chân.

Quan các Trấn, phải cùng phân

Đê điều cẩn thận, phòng dân mất mùa.

 

6. Pháp luật:

Làm theo luật lệ nhà Lê

Tân Mùi, Thế Tổ châu phê Văn Thành:

Đem luật Hồng Đức, nhà Thanh

Soạn thành một bộ phát hành mọi nơi.

 

7. Việc Học hành:

Học hành, thi cử nào chơi

Lập miếu Khổng Tử, chẳng hời đạo Nho.

Mở thi Hương, chọn học trò

Người giỏi văn nọ vào lò luyện văn.

 

Nước nhà cần võ và văn

Lệ thi tuyển võ, văn thần mỗi năm.

Thời Gia Long thịnh Quốc âm

Nên nhiều tác phẩm rộ rầm nổi danh:

 

Văn tế” của Nguyễn Văn Thành

Hoa tiên” – Huy Tự; Bắc hành” – Nguyễn Du.

”Lẩy Kiều”, mẹ hát mà ru

Truyện Kiều” tuyệt bút, ngàn thu để đời.

 

Địa dư, Quốc sử cùng thời

Thượng thư Quang Định viết mười quyển xong.

 

8.  Việc giao thiệp với nước Tàu:

Năm Giáp Tý, Tàu sang phong

Ta ba năm cống… vía ông, một lần.

 

Ngà voi, quế mỗi trăm cân

Sừng Tê hai bộ, lụa cần trăm cây.

Một ngàn lượng bạc đủ ngay

Vàng hai trăm lượng tới ngày… cúng dâng!

 

9. Việc giao thiệp với nước Chân Lạp

và nước Tiêm La:

Ba vua Chân Lạp tranh phần

Nặc Ông Vinh lại chẳng cần biết em.

 

Láng giềng, Thế Tổ… dòm xem

Sai Thành Nhân lập Ông em kế vì.

Kể từ năm đó trở đi

Nặc Ông Ấn mất, trị vì: Ông Chân.

 

Chân Lạp nhận phận chư thần

Ba năm chịu cống một lần nước ta.

Vương triều Chân Lạp can qua

Ba em Ông Nặc lại ra đoạt quyền.

 

Quân Tiêm La xuất binh liền

Ông Chân thua chiến… về miền Tân Châu.

Việt Nam nhận biểu, cứu nhau

Tiêm La mới chịu quay đầu, bỏ đao!

 

10. Việc giao thiệp với nước Hồng Mao:

Năm Quý Hợi, nước Hồng Mao

Anh Cát Lợi đáo qua, rao bán hàng.

Gia Long bảo thủ, không màng

Tiêu tan cơ hội mở mang với người.

 

11. Việc giao thiệp với nước Pháp-Lan-Tây:

Với Pháp, trọng chín, kính mười

Vì Bá Đa Lộc giúp Người biết bao.

Tàu hàng, thuế chẳng thu cao

Cho Lan Tây nọ ngồi vào chức quan.

Xem ra trọng hậu vô vàn

Chầu không bắt lạy, thêm quan lính hầu.

 

12. Sự giết hại công thần:

Người đời vẫn có cái câu:

Được chim bẻ ná, khi giàu phủi ơn”!

Nguyễn Ánh nào khá gì hơn

Như Lê Lợi giết hết trơn đại thần!

 

Hồi chuông cảnh tỉnh xa gần

Nghĩa nhân chẳng giữ, muôn phần bại danh.

Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành

Công thần bậc nhất, nỡ đành trảm biên!

 

Văn Thành vốn ở Thừa Thiên

Vào Gia Định lại truyền duyên mấy đời.

Vương nghe học rộng, bèn mời

Phong cho chức Tổng trấn nơi Bắc Hà.

 

Trung quân chức cũng từng qua

Học hành xứng đáng đảm nha Tổng tài.

Văn Thành có đứa con trai

Cử nhân đổ đạt thành tài: Văn Thuyên.

 

Văn tài lắm nẻo truân chuyên

Chưa chi đã rước buồn phiền tới thân.

Thơ văn thỏa chí gieo vần

Tâm tư tại nội nguy thân thế này:

 

– “Ái Châu nghe lắm người hay

Cầu hiền mong ước đã  rày bấy nay.

Ngọc kinh sơn phác có đây

Ngựa kỳ ký Bắc biết hay đã rồi.

 

Hương từ nghìn dặm xa xôi

Gò cao, Phượng hát, mây trôi chín tầng.

Gặp nhau, sơn tế ân cần

Có cơ hội đổi xoay vần đó đây”.

 

Làm xong gởi đất Thanh ngay

Cho Khuê với Nhuận, hai tay tú tài.

Ai ngờ Trương Hiệu thài lai

Thêm hành ớt tỏi đến tai Duyệt rồi!

 

Duyệt – Thành hai tính ngược đôi

Ghét cha, Duyệt mới ra mòi chém con.

Văn Thành níu áo kêu oan

Gia Long dứt áo chẳng còn trọng đâu.

 

Triều đình ép nhận tội mau

Văn Thành uống thuốc chết sầu, hận sâu.

Văn Thuyên phải bị chém đầu

Thù nhau “vạch lá tìm sâu” mới… ”người”!

 

Trần Thường số cũng buồn cười

Hà Đông, Chương Đức quê người nghiệp trơn.

Vì sao chạy trốn Tây Sơn

Đi vào Gia Định, hỏi cơn cớ gì?

 

Thượng Thư Binh Bộ cũng chì

Lê Chất sao lại bươi chi lỗi lầm?

Giam Thường vào ngục tối tăm

Rồi mang xử trảm, mà lầm kẻ thâm.

Để đời bài vịnh quốc âm

Hàn vương tôn phú” thâm trầm, đáng thương.

 

13. Xét công việc của vua Thế Tổ:

Nguyễn Ánh bền bỉ khôn lường

Trường kỳ kháng chiến” người thường chẳng kham!

Vì danh, khổ nhọc đều cam

Đại công thống nhất Bắc Nam vẫn truyền.

 

Nhưng khi hết chuyện truân chuyên

Công thần giết hại liền liền mới đang!

Không tha kẻ đã xin hàng

Vô tâm sỉ nhục tông đàng Tây Sơn!

 

Hán Cao, Thủ Độ còn hơn

Lòng mang nặng chữ “căm hờn” mới ra.

Thái sư, chôn sống người ta

Gia Long, mồ mả, không tha được người!

 

Công thần số phận trêu ngươi

Đường cùng, nhận kiếp thân cười bóng ma.

Công nhiều, tội cũng nhiều ra

Không như kiếp bọt hát ca giữa dòng.

 

Làm vua mười tám năm ròng

Thọ năm chín tuổi, Gia Long băng hà.

 

Chương II

THÁNH TỔ  (1820-1840)

Niên hiệu: Minh Mệnh 明 命

1. Đức độ vua Thánh Tổ:

Hoàng thái tử Đảm thay cha

Thông minh nổi tiếng vốn là bẩm sinh.

Sinh thời, hiếu học, thâm tình

Thờ gương Khổng – Mạnh, giữ mình đạo Nho.

 

Nhìn dân ngả ”Đạo” mà lo

Nên không ngại… giết thầy trò Gia Tô.

Vì mong bảo vệ cơ đồ

Không cho kẻ lạ, ra vô nước mình.

 

2. Việc Chính trị trong nước:

Lâm triều, phán xử anh minh

Thêm Tự, Viện để thông tin tới mình.

Phẩm hàm chín thể quân tình

Tùy theo công trạng mà bình chức danh.

 

Minh Mệnh thay đổi ngọn ngành

Đổi Trấn ra Tỉnh giống Thanh của Tàu.

Lãnh binh, Tổng đốc trước sau

Tuần phủ, Bố chính cùng nhau giữ gìn

 

3. Nội các:

Nguyên niên Minh Mệnh, Canh Thìn

Thị thư viện đổi sang dinh Thư phòng.

Lấy Tam, Tứ phẩm bên trong

Đổi thành Nội các trong vòng mười năm.

 

4. Cơ mật viện:

Minh Mệnh, năm thứ mười lăm

Lập Cơ mật viện để nhằm trị an.

Tam phẩm chọn lấy bốn quan

Kim bài lãnh lệnh vinh quang Đại thần.

 

5. Tôn nhân phủ:

Minh Mệnh mười bảy, Bính Thân

Đặt Tôn nhân phủ đỡ đần họ vua.

Thờ vua bảy miếu, khác chùa

Tả Chiêu, hữu Mục chia vừa trước sau.

 

Một Tôn nhân lệnh đứng đầu

Tả hữu tôn chính đầu tàu bốn quan.

Tôn khanh tả hữu coi tang

Tá lý giúp đỡ con quan, họ hàng.

 

6. Quan chế:

Thánh Tổ xếp đặt thứ quan

Chánh, Tòng tùy Nhất, Cửu hàm chia hai.

 

Chánh Nhất Phẩm có bốn vai:

Đông, Văn, Cần, Võ anh tài phía văn.

Ngũ quân Đô thống võ quan

Văn Đại học sĩ phân hàng thấp cao.

 

Tòng Nhất Phẩm đệ nhị trào

Hiệp biện đại học sĩ vào sĩ gia.

Hàng võ: Đô thống… nhị gia

Chánh, tòng nhất, cửu phẩm qua chín hàm.

 

Quan viên tùy chức mà làm

Vinh quy bái tổ, quan hàm rạng vai!

 

7. Đặt Tổng đốc, Tuần phủ ở các tỉnh:

Minh Mệnh năm thứ mười hai

Đổi Trấn thành Tỉnh theo bài Tống, Thanh.

Tống đốc, Tuần phủ nên danh

Án sát, Bố chính thêm ngành Lãnh binh.

Việc quân, dân phải giữ gìn

Chính trị, giáo dục, luật hình, chẳng lơi.

 

8. Lương bổng của các quan viên:

Kỷ Hợi, Minh Mệnh hai mươi

Thánh Tổ phân bổng hai mươi thứ quyền.

Chánh tới Hậu bổ quan viên

Từ hai đến bốn trăm tiền mỗi quan.

Gạo, tiền xuân phục, đưa sang

Sợ quan tham nhũng, vua ban dưỡng tiền.

 

9. Tiền Dưỡng liêm:

Loại “quan tiền, vua thưởng riêng

Tri châu, phủ huyện, được tiền Dưỡng liêm.

Năm mươi quan cấp thanh liêm

Hai mươi quan cấp công nghiêm hạng bình.

 

10. Sự học hành thi cử:

Học hành thi cử chiêu sinh

Đầu Hương, giữa Hội, cuối Đình: Tam khoa.

Đổ Tam trường gọi: Sinh đồ

Xem ra cũng được một bồ chữ Nho.

Sinh đồ – cô Tú khá to

Tứ trườngHương cống, bằng lò Cử nhân.

 

11. Sách vở:

Văn chương ưu ái dăm phần

Bình đàm, viết lách, gia ân kẻ tài.

Những người viết sách một mai

Trịnh Hoài Đức với Công Tài, Văn Thiu.

Nguyễn Đình Chính, Vũ Văn Tiêu

Nhiều tác phẩm viết nhiều điều Sử, Thi…

 

12. Việc sửa phong tục:

Cuối đời Thánh Tổ trở đi

Thuần phong bị hủy khác chi chiến trường.

 

Mười điều răn dạy làm gương:

”Đôn nhân luân: Trọng Ngũ thường, Tam cương.

Chính tâm thuật: Chẳng vướng thường

Vụ bản nghiệp: Bảo nghề thương chẳng quèn.

 

Thương tiết kiệm: Ấy đáng khen

Hậu phong tục: Giữ tâm đèn sáng thêm.

Huấn tử để: Dạy con em

Sùng chính học: Nói không thèm đạo man.

 

Giới dâm thắc: Chẳng dâm gian

Chận phép thư: Để răn can mọi người.

Quảng thiện hạnh: Chuyện tốt tươi”

Mười điều răn dạy để đời thế gian.

 

13. Nhà Dưỡng tế:

Thánh Tổ thương kẻ nghèo nàn

Lập nhà Dưỡng tế, cắt quan cấp tiền.

Người nào quan quả, ưu tiên

Kẻ tàn tật cũng được quyền ở ăn.

 

14. Việc Đinh điền và Thuế má:

Đinh điền, thuế má không tăng

Người Minh Hương nộp sáu quan năm tiền.

Thuế mỏ, sản vật y nguyên

Thêm thuế ruộng muối bốn tiền ba mươi.

 

15. Việc võ bị:

Võ bị cũng chẳng chây lười

Pháo đài, tàu biển tuần nơi hiểm nghèo.

Ba Doanhmười lăm Vệ theo

Toàn quyền Đô thống lái lèo Thủy binh.

 

Kinh binh cùng với Cơ binh

Các Doanh, Vệ, Đội, thành hình Bộ binh.

Kỵ binh  Pháo thủ binh

Điểu thương, cờ, súng xập xình thần công.

Tượng binh voi bốn mươi con

Bộ, Thủy, Tượng, Kỵ và còn Pháo binh.

 

Sáu loại Binh chế triều đình.

Thánh Tổ lệnh thế, quan mình có nghe!

Trọng văn, khinh võ, hai phe

Bỏ bê binh lực hằm hè gớm thay!

 

        

Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840)

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - LỜI GIỚI THIỆU

    Với Việt Nam lục bát sử, nữ tác giả đa tài Ngọc Thiên Hoa lại đem đến cho độc giả một bất ngờ thú vị. Bất ngờ vì lâu lắm rồi mới lại có người để mắt tới Sử…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN I

    VIỆT NAM L ỤC B ÁT SỬ NƯỚC VIỆT NAM (越 南) 1. Quốc hiệu: Hồng Bàng lập nước Văn Lang Âu Lạc, Thục Phán sửa sang bội phần.   Tượng Quận gọi bởi nhà Tần Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam: Cửu…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN II

    Chương VI NHÀ TRẦN (1275-1400) Thời kỳ thứ nhất (1225-1293) I. TRẦN THÁI TÔNG (1225-1258) Niên hiệu: Kiến Trung 建 中 1. Trần Thủ Độ: ... Thủ Độ bày vẽ mông lung Cướp ngôi nhà Lý gian hùng,…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN III

    Chương XIV MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU             (1418-1427) 1. Lê Lợi  (鯬 利) khởi nghĩa ở Lam Sơn: Lam Sơn ruộng núi muôn bề  ... Lê Lợi giàu có bằng nghề ruộng nông. Giúp người hào kiệt lưu vong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN IV

    Quyển IV TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (1528-1802) (Thời kỳ Nam Bắc phân tranh) NHÀ HẬU LÊ  黎 後  Thời phân tranh (1533-1788) ... Chương I LỊCH TRIỀU LƯỢC KỶ Nước Nam một cõi biển Đông Ngô Vương đuổi Hán uy phong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN V

    Chương IX HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA (1510-1786) 1. Chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ: Trịnh Sâm bỏ trưởng, dâm tà Mê say Thị Huệ nên sa thế cùng.  ... Cho mình một đấng anh hùng…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VI

    Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840) 1. Sự giặc giã: Tiêm, Lào quấy nhiễu Nam, Tây Cựu thần Lê dấy đó đây Bắc Kỳ. .... Quan trường chỉ giỏi chi li Thần dân bất mãn: Vua chi hẹp…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VII

    Chương XI PHÁP CHIẾM  LẤY BẮC KỲ Lần thứ hai (1882) 1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội: Người Pháp có giấy thông thương   ... Bị giặc Khách chận trên đường Vân Nam. Pháp bèn bắt lỗi…