Quyển IV

TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (1528-1802)

(Thời kỳ Nam Bắc phân tranh)

NHÀ HẬU LÊ  黎 後 

Thời phân tranh (1533-1788) …

Chương I

LỊCH TRIỀU LƯỢC KỶ

Nước Nam một cõi biển Đông

Ngô Vương đuổi Hán uy phong lẫy lừng.

Tiên Hoàng dẹp loạn sứ quân

“Quan quang thượng quốc” vào chừng sáu trăm.

 

Hậu triều Lê quá hoang dâm

Để cho họ Mạc ngấm ngầm cướp ngôi.

Phục hưng Lê cũ xa rồi

Lê Trung Hưng mới chia đôi nước nhà.

 

I. Nam triều – Bắc triều:

Sáu năm tan nát sơn hà

Bắc Nam như chẳng cùng là mẹ cha.

Phù Lê, đuổi Mạc chạy xa

Họ Trịnh ỷ thế xoay ra lộng hành.

 

II. Trịnh Nguyễn phân tranh:

Hai nhà Trịnh – Nguyễn phân tranh

Nhồi da xáo thịt chia ranh bến bờ.

Mang danh chính nghĩa phù Lê

Hai bên tiếm chúa mà chờ lấn vua.

 

Chương II

NAM TRIỀU 南 朝 BẮC TRIỀU 北 朝

             (1527-1592)

1. Chính trị nhà Mạc:

Đăng Dung nổi gió được mùa

Đinh Hợi, chính thức xưng vua, tiếm triều.

Phép Lê đâu dám sửa nhiều

Sợ người tưởng nhớ tiền triều Thánh Tông.

 

Cho nên lấy đức mà đong

Nhưng tâm đại ác, tư công hẹp lòng.

Cựu thần Nam, Bắc, Tây, Đông

Thay tên, đổi họ mà không chịu về.

 

Nhiều người chẳng phục, giương cờ

Phù Lê đánh Mạc đôi bờ đảo điên.

Thọ Trường, Nguyễn Ngã, Công Uyên.

Đánh vùng Thanh Hóa, phá miền Mã Giang.

 

Noi phép Lê, bắt chước Trần

Ba năm chiếm lấn đến phần nhượng ngôi.

Khi làm Thái Thượng Hoàng rồi

Hèn nhát đến nổi cầu ngoài ngoại bang.

 

Ngôi vua truyền Mạc Đăng Doanh

Mười năm sau mất, thanh danh méo tròn.

Mạc Đăng Dung cũng vẫn còn

Nên Mạc Phúc Hải tính toan được gì?

 

2. Việc nhà Mạc giao thiệp với nhà Minh:

Gian hùng, chính khí bất tri

Cầu binh, Lê lại chịu đi uốn mình.

Vị lợi”,  “vị nghĩa”, nhà Minh

Sang An Nam chỉ thêm sinh bất bình.

 

Đinh Dậu, mưu sự chiến chinh

Cừu Loan – đô đốc, Mạc bình giúp Lê.

Canh Tý, giặc phạm bến bờ

Đăng Dung sợ hãi quỳ chờ chiếu ban.

 

Giặc chưa đến đã vội vàng

Trói mình chịu tội, đầu hàng, nhục sao!

Sợ oai, bỏ mất thanh cao

Miệng cọp mới hả, vội trao mỡ vào!

 

Tôi trung nào lại soán trào

Giết vua để tiếng nghịch vào kiếp sau!

Một đời tiếng tốt da trâu

Ai đâu phản quốc để đau giống nòi!

 

Vua một cõi, lại hẹp hòi

Cởi trần, quỳ gối để… thòi lợi riêng.

Vua gì chẳng phải thuận thiên

Là người trâng tráo, sỉ liêm bất nghì.

 

3. Họ Nguyễn khởi nghĩa giúp nhà Lê:

Từ khi Mạc cướp ngôi vì

Cựu thần hầu hết trốn đi chốn nào?

Nguyễn Kim lẫn ở Ai Lao

Con Nguyễn Hoằng Dụ, anh hào họ Lê.

 

Hoằng Dụ xưa đóng Bồ Đề

Đốt kinh đô, chém tế cờ Như Tô.

Nịnh Tương Dực nên xây… mồ

Cửu Trùng Đài đổ, mạng Tô chẳng dài!

 

4. Quyền về họ Trịnh:

Lê Trang Tông (1533-1548)

Nguyễn Kim chọn sẵn trên ngai

Con Chiêu Tông, út tên ngài Duy Ninh.

Sợ triều biến động trớ trinh

Trang Tông lấy hiệu mới sinh: Nguyên Hòa.

 

Làm vua mười sáu năm hờ

Ba mươi mốt tuổi, đến giờ, lại… thăng!

Nguyễn Kim nắm hết võ, văn

Sau bị “thuốc” chết, không trăn trối gì!

 

Trịnh Kiểm, con rể kế vì

Chiêu hiền đãi sĩ, oai nghi một vùng.

Phùng Khắc Hoan tức Trạng Bùng

Với Lương Hữu Khánh về cùng giúp Lê.

 

Một nhà hai cảnh, hai quê

Nhà Lê, họ Mạc làm nhơ sơn hà.

Bắc triều: Thanh Hóa trở ra

Nam triều tính ngược từ xa trở vào.

 

Lê Trung Tông (1548-1556)

Nhà Lê vẫn giữ ngôi cao

Duy Huyên thế tử được giao nối dòng.

Thuận Bình là hiệu Trung Tông

Năm hăm tám mất, ngôi rồng tám năm.

 

Vua không con, Kiểm ngấm ngầm

Họ Trịnh chắc mẩm, âm thầm: Soán ngôi!

Nhưng còn lưỡng lự nước đôi

Phái người lẻn hỏi, bói coi tận tình.

 

Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn thông minh

Trọng hiền, nhà Mạc phong Trình Quốc Công.

Thanh Liêm, quan đã từng thông

Giỏi sấm ký, chẳng vị lòng Bắc – Nam.

 

Qua lời, thấy Trịnh khá tham

Trạng Trình ngoảnh bảo người làm mấy câu:

Năm nay, mùa chẳng được đâu

Hãy tìm giống cũ, mùa sau được nhờ.

Giữ chùa, tưởng Phật, mà thờ

Tha hồ ăn oản đừng lơ chữ Tình”.

 

Họ Trịnh nghe được giật mình

Hiểu lời mách nước của Trình Quốc Công.

Nhà Lê có một Huyền Tông

Là cháu Thái Tổ, Anh Tông tế đàn.

 

Lê Anh Tông (1556-1573)

Anh Tông tên húy Duy Bang

Họ Trịnh lập để mà dàn cảnh thôi!

Nhằm khi Trịnh Kiểm mất rồi

Trao quyền Trịnh Cối thuộc nòi phá chơi.

 

Triều cương rối loạn tơi bời

Người em Trịnh Cối khơi khơi đoạt quyền.

Trịnh Tùng hống hách đến phiên

Khiến Anh Tông phải bỏ miền, chạy xa.

 

Hữu Liên kiếm được vua ra

Trịnh Tùng sai giết để mà diệt căn.

Mười sáu năm hưởng thóc cằn

Bốn hai tuổi mất, chẳng bằng tớ vua.

 

Lê Thế Tông (1573-1599)

Giữ chùa ăn oản của Chùa”

Thái tử Đàm bị Tùng… lùa nối ngôi.

 

Vua Thế Tông chỉ có ngồi

Trẻ con bảy tuổi mấy hồi định phân?

Ngôi hai mươi bảy, mãn phần

Gạt dòng nước mắt lìa trần: Băm ba.

 

Thời ngài, họ Mạc chạy xa

Trịnh Tùng chấm dứt can qua mấy nhà.

Đông Đô, Bắc tiến thẳng đà

Thăng Long, Mậu Hợp hóa… ma giữa đồng.

 

Đăng Dung vây cánh đi… tong

Năm đời họ Mạc cũng xong mất rồi!

Đăng Doanh chẳng chịu thiệt thòi

Ngôi trời nối dõi giống nòi Thái Tông.

 

Mười năm sau đến Hiển Tông

Là Mạc Phúc Hải ngôi rồng năm năm.

Họ Mạc gây những lỗi lầm

Phúc Nguyên nhận lãnh hờn căm giống dòng.

 

Phúc Nguyên lấy hiệu Tuyên Tông

Mười lăm năm mất, truyền dòng đến con.

Ba mươi năm ở ngôi son

Với cùng họ Trịnh sống còn… thịt nhau!

 

Tưởng đâu đem kiếp thân trâu

Cùng nhau chống giặc chờ câu thái hòa.

Nào ngờ chung một bến bờ

Người trong một nước trở cờ, đánh nhau!

 

6. Khôi phục thành Thăng Long:

Trịnh Tùng

Trịnh Tùng công lớn đứng đầu

Làm em lại cứ đánh nhàu với anh.

Làm tôi lại quá… tài lanh

Giết vua, đổi chúa, sử xanh khó lường.

 

Tuy rằng chẳng mấy người thương

Nhưng làm tướng cũng mọi đường giúp Lê.

Mặc đời tốt, xấu, khen, chê

Khi làm chúa cũng không lơ với đời.

 

Cho nên mới cúng tế trời

Một lòng “thủ lễ”  dưới thời nhà Lê.

Ba điều không được thờ ơ:

”Thức ăn, củi đuốc dân quê, chẳng dùng.

Không cướp của kẻ khốn cùng

Không dâm hiếp bậy, không cùng vị riêng”.

 

Thăng Long, quân tiến thản nhiên

Vừa phá hào lũy vừa khuyên dân tình.

Quân Mạc tan tác, thất kinh

Lớp hàng, lớp chạy chẳng rinh được gì.

 

7. Nhà Mạc mất ngôi:

Trịnh Tùng bắt Mậu Hợp đi

Thăng Long hành tội khác chi kẻ thù.

Về Thanh Hóa chém để hù

Nhà Mạc bia miệng thiên thu lỗi lầm.

 

Từ khi họ Mạc rắp tâm

Soán ngôi, giết chúa sáu lăm năm ròng.

Mạc Toàn đến Mạc Kính Cung

Với Mạc Ngọc Liễn về vùng Long Châu.

 

Ít lâu, Liễn chết để câu:

“Số trời đã định ta hầu nhà Lê.

Chớ dân có tội gì ghê

Mà chinh chiến khồ, thảm thê thế này?

Lánh mình ngoài nước là hay

Nhưng đừng cầu cạnh Tàu này hại dân!”.

 

Mấy lời thiệt có đức nhân

Tiếc thay nhà Mạc chẳng phân một lần!

Nhà Minh che chở, đỡ đần

Cao Bằng chút đất náo thân một vùng.

 

8. Việc nhà hậu Lê giao thiệp với nhà Minh:

Họ Mạc tố giác Trịnh Tùng

Thừa cơ soán vị, gian hùng họ Lê.

Vua Minh khám xét mọi bề

Thượng thư, Ngự sử chực chờ tiếp quan.

 

Ngàn cân bạc, trăm cân vàng

Kỳ mục mười mạng lên đàng cống sang.

Thế Tông bị buộc phải hàng

Nam Quan phó hội, nộp vàng giống xưa.

 

“Đô thống sứ” nhà Mạc thừa

Phong vua Lê để cho vừa rẻ khinh.

Khắc Khoan dâng sớ giải trình

Nhà Minh gỡ gạc là mình “tạm phong”.

 

9. Con cháu nhà Mạc ở Cao Bằng:

Kính Chi, Mạc Hợp bị gông

Huyện Đông Triều lại kế dòng: Tráng Vương.

Bính Thân, Trấn thủ Hải Dương

Phan Ngạn bắt được Kính Chương dẫn về.

 

Con trai, Kính Dụng không ngờ

Giữ đất Yên Bắc đến giờ chết chung.

Long Châu, trước có Kính Cung

Chạy đi rồi lại về vùng Lạng Sơn.

 

Bị Trịnh Tùng đuổi, tay trơn

Kính Cung bày tỏ mối hờn với Minh.

Nhà Minh thấy cũng thương tình

Bắt Lê để Mạc tồn sinh: Cao Bằng.

 

Chương  III

TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH

1. Họ Trịnh ở Miền Bắc xưng Chúa

Trịnh Tùng quá thể kiêu căng

Quyền hành tóm hết cho bằng chúa, vương.

Gây ra thảm cảnh khôn lường:

Nhồi da, xáo thịt tang thương tứ bề.

 

2. Họ Nguyễn xưng Chúa ở miền Nam

Nguyễn Kim lo liệu mọi bề

Hai trai, một gái chẳng nhờ được ai.

Giúp Lê, đánh Mạc, tướng tài

Trịnh Kiểm: con rể; con trai: Uông, Hoàng.

 

Phước phần chẳng tới cung son

Bị thuốc độc chết, Kiểm toan cướp quyền.

Trịnh Kiểm hiểm độc đến điên

Giết em vợ, tính mưu riêng lợi mình.

 

Nguyễn Hoàng sợ Kiểm dứt tình

Ra Hải Dương hỏi Trạng Trình Bỉnh Khiêm.

Trịnh Tùng, được bảo bên thềm:

Giữ chùa ăn oản là điềm thọ lâu”.

 

Họ Mạc cũng được mách câu:

Cao Bằng tuy nhỏ, đủ sau kế cầu”.

Đến phiên họ Nguyễn thuộc làu:

Hoành Sơn nhất đái, ngày sau náu mình”.

 

Nguyễn Hoàng thấu hiểu lẽ tình

Cố xin anh rể cho mình lánh xa.

Cơ cùng, khổ cực không nhà

Khôn ngoan, hiền thục lấy đà tiến thân.

 

Một lòng giữ lấy đức nhân

Vào Nam lập nghiệp, dân bần chúng theo.

Giúp Lê qua lúc ngặt nghèo

Trịnh Tùng, thằng cháu lại gieo tiếng hèn.

 

Nguyễn Hoàng kiếm cách mấy phen

Chạy về Thuận Hóa giả hèn thứ dân.

Bấy giờ Nam – Bắc đã phân

Nhà Thanh đất cũ dần dần tóm thâu.

 

Nguyễn Hoàng cẩn thận làm đầu

Gả con Trịnh Tráng, trước sau nhịn nhường.

 

Chương IV

SỰ CHIẾN TRANH

1. Họ Trịnh đánh họ Mạc ở Cao Bằng:

Lê Kính Tông

Thế Tông đến lúc lên đường

Duy Tân, hoàng tử liệu lường đăng quang.

Đình Hàm, Nhạn ở Đại An

Cùng Văn Khuê với cả ngàn loạn quân.

 

Thăng Long, Mạc chiếm nửa phần

Bị thua mới lại thu quân Cao Bằng.

Trịnh Tùng nhân thể kiêu căng

Kính Tông biết được cắn răng, chực hờ.

Ngờ đâu mưu sự hở cơ

Bị bức tử chết, đăng cơ: Duy Kỳ.

 

Lê Thần Tông

Thần Tông cũng chỉ hư vì

Trịnh Xuân phóng hỏa, hiểm nguy phố thành.

Cha con trở mặt tranh giành

Trịnh Tùng nổi trận tam bành, giết con!

 

Rồi Tùng mạng cũng chẳng còn

Trịnh Tráng kế nghiệp, méo tròn tấc son.

Hùm dữ không nỡ ăn con

Làm người khôn lại sống mòn nghĩa chung!

 

Kính Khoan là cháu Kính Cung

Xưng vương, xưng tướng ở vùng Thái Nguyên.

Nhầm phiên Trịnh Tráng cầm quyền

Tan bầy, mới tính đi lên Cao Bằng.

 

Họ Trịnh lại muốn trừ căn

Kính Cung bị bắt, Trịnh rằng: ”giết mau!”.

Kính Khoan vội chạy sang Tàu

Về sau dâng biểu mà đầu họ Lê.

 

Mạc – Trịnh mưu sự ủ ê

Trung thần nghĩa sĩ hai bờ ở đâu?

 

2. Nhà Thanh dấy nghiệp:

Nước Tàu có xứ Mãn Châu

Lập nên nước lớn đứng đầu nước Kim.

Nhà Nguyên chiếm đất làm riêng

Nhà Minh dứt nghiệp, Thanh liền thế chân.

 

Mãn Châu bị cắt bốn phần

Gọi là Vệ địa với ngần ấy châu.

Đời Thanh, Thái Tổ gom thâu

Bốn châu nhập một, chia nhau trị vì.

 

Lỗ Nhĩ Cấp Xích mất đi

Thánh Tông, nối nghiệp trị vì mấy năm.

Đại Thanh Thế Tổ Phúc Lâm

Dã tâm: Tầm chúa ăn mầm đất Minh.

 

Đến khi đất nước chiến chinh

Lý Tự Thành loạn, Yên Kinh đánh vào.

Chừng khi Tam Quế hồi trào

Yên Kinh thất thủ mới vào Hải Quan.

 

Tự Thành kêu gọi đầu hàng

Khiến Ngô Tam Quế kiếm đàng viện Thanh.

Nhà Thanh suy tính gian manh

Giúp Tam Quế đánh Tự Thành, xuất binh.

 

Phúc Vương, vua ở Nam Kinh

Tình thế náo loạn, nộp mình cậy nương.

Đường Vương rồi đến Quế Vương

Lần lượt xưng Đế chỉ dường mấy năm!

 

Trời mưa, đất chịu âm thầm

Lụt lâu, nước động, rau răm héo tàn.

Dân Tàu nội loạn lầm than

Nhà Mạc cũng đã đầu hàng họ Lê.

 

Nhà Trịnh chuẩn bị mọi bề

Hai bên hỗn chiến mượn cờ giúp vua.

Họ Trịnh càng đánh càng thua

Chúa Nguyễn trả đũa, sức thừa phản công.

 

4. Đánh nhau lần thứ nhất (1662):

Minh, Thanh chưa ngã ngũ xong

Trịnh Tráng mượn lệnh vào trong xét dò.

Bắt Nguyễn nộp thuế, mở kho

Phúc Nguyên nhận chỉ nhưng cho giả đò.

 

“Đàng trong quả thật họa to”

Trịnh Tráng quyết dứt mối lo cạnh mình.

Danh Thế, Nguyễn Khải ra binh

Năm ngàn binh mã rập rình Hà Trung.

 

Phúc Vệ, Hữu Dật chống cùng

Phao “Trịnh Nhạc phản”, Dật dùng kế mưu.

Trịnh Tráng chẳng rõ thật hư

Rút quân về Bắc, từ từ tính sau.

 

5. Đánh nhau lần thứ hai (1630):

Canh Ngọ, dự tính đánh nhau

Đem sắc dụ trả, giữ đầu sông Gianh.

Nhân con là Ánh tranh giành

Chúa thư gởi Trịnh nhờ thành nội gian.

 

Trịnh Tráng nghi hoặc, không màng

Nhật Lệ đóng giữ, quân canh trễ tràng.

Chúa Sãi hạ lệnh quân sang

Binh Trịnh bị đánh, vội vàng rút ngay.

 

6. Đánh nhau lần thứ ba (1635):

Ất Dậu, chúa mất, con thay

Em ruột Nguyễn Ánh ra tay phản loàn.

Phúc Khê giúp chúa Phúc Lan

Vây binh bắt được rồi mang xử hình.

 

Tưởng trời như đã giúp mình

Trịnh Tráng sai tướng ra binh tức thì.

Bắt Bùi Công Thắng giết đi

Quý Tỵ phải rút bởi vì khí oi.

 

7. Đánh nhau lần thứ tư (1648):

Mậu Tý, Trịnh Tráng trổ mòi

Thuỷ, Bộ hữu lộ song đôi đánh vào.

Đất Nam Bố Chánh xôn xao

Cửa biển Nhật Lệ thêm bao sóng gào.

 

Trường Dực, đánh mãi không vào

Họ Trương cố giữ tường hào bất phân.

Chúa sai con Nguyễn Phúc Tần

Dùng mưu đánh úp mấy lần, Trịnh tan.

 

Trong Nam, chúa Thượng mạng tàn

Ngoài Bắc, vua mất, hai đàng tổn hao.

Người đi, của đổ biết bao

Tham quyền, đoạt lợi, máu đào đỏ sông.

 

8. Đánh nhau lần thứ năm 1655):

Ất vị, Tiến, Dật vượt sông

Đánh Bắc Bố Chính, tấn công Thạch Hà.

Hoành Sơn, Hữu Đức đánh ra

Hà Trung, Hữu Dật đánh qua An Tràng.

 

Tướng Trịnh, Phạm Tất ra hàng

Văn Hiểu trúng đạn, thân tàn, mạng vong.

Vũ Lương, Hữu Đức chức tong

Lạc Xuyên, Trịnh Trượng chẳng hòng dám ra.

 

Tướng Nguyễn giỏi quả không ngoa

Đuổi quân Trịnh chạy nhập nhòa gió mưa.

Huyện thành lấy bảy cho vừa

Trịnh Lượng bị giáng, Tráng đưa Tạc vào.

 

Nghệ An, Trịnh Tạc hồi trào

Phải về lại Bắc mà vào vấn an.

Quang Nhiêu thủ ở Tràng An

Bị thua, tạ tội, quân tan phía ngoài.

 

Trịnh Toàn, con út ra oai

Toàn quyền quyết đoán từ ngoài tới trong.

Mọi chuyện cũng chẳng như mong

Đánh thua chỏng gọng lo hòng giữ thân.

 

Vừa khi, Toàn được lòng dân

Trịnh Tráng bịnh mất, Căn nhân cớ này.

Thấy em công đức đủ đầy

Giam Toàn vào ngục, mặt dày, giết ngay.

 

Anh em vua chúa xưa nay

Nào ai hiểu nghĩa chân tay thủ cầu.

Trịnh Căn lo hậu trước sau

Chia quân ba đạo cùng nhau tiến vào.

 

Quân Nguyễn được báo, phòng cao

Hai bên đánh mãi chẳng sao tiến, lùi!

Quân Nguyễn lại gặp chuyện xui:

Hàng quân bỏ trốn; tới lùi kỵ nhau.

 

Hữu Tiến, Hữu Dật giữa cầu

Người lui, kẻ tiến thua đau mấy đàng.

Khiến cho bảy huyện Lam Giang

Về tay quân Trịnh, lầm than võ vàn.

 

9. Đánh nhau lần thứ sáu (1661):

Tân Sửu, thẳng tiến Linh Giang

Trịnh Căn rã bọn, tan hàng: Quang Nhiêu.

Tiến binh, phá trận khá nhiều

Cũng đều bị Nguyễn sáng chiều, phá tan.

 

10. Đánh nhau lần thứ bảy (1661)

Rước vua, Trịnh Tạc hoang mang…

Tháng chín vua mất, vội vàng sắc phong.

Thần Tông qua đến Huyền Tông

Tám năm sau mất, Gia Tông kế dòng.

 

Bày ra thảm cảnh ngăn sông

Giành nhau tất đất mà hòng hại dân!

Kẻ tám lạng, người nửa cân

Tranh nhau mà lấn chẳng cần xả hơi.

 

Bốn mươi lăm năm lệ rơi

Chỉ vì Nguyễn – Trịnh tơi bời đánh nhau!

Linh Giang phân giới trước sau

Bắc – Nam ngưng chiến cùng nhau thủ hòa.

 

Chương V

CÔNG VIỆC HỌ TRỊNH LÀM Ở ĐẤT BẮC

1. Việc giao thiệp với nhà Thanh:

Thời kỳ thứ nhất: (1570-1657)

Trịnh Kiểm (1570) – Trịnh Tùng (1570-1620)

Trịnh Tráng (1623-1657).

Những gì họ Trịnh làm qua

Chỉ là đánh Mạc với nhà Nguyễn thôi.

Nhà Thanh, lệ cống cho rồi

Còn công việc khác thì coi nhẹ nhàng.

 

2. Việc lấy đất Cao Bằng của họ Mạc:

Ất Sửu, Kính Khoan xin hàng

Vua Lê phong Thái Úy hàng Quốc công.

Mạc Kính Vũ chẳng nhận phong

Cũng không về cống, ngôi rồng tự xưng.

 

Quân Trịnh vây đánh tưng bừng

Họ Mạc phải chạy tứ tung, rụng hồn.

Nhà Minh can thiệp tài khôn

Cao Bằng được ở chỉ tồn bốn châu.

 

Ba đời truyền tập không lâu

Đinh Văn Tả đánh mà thâu đất về.

Họ Mạc thuyền úp, nghiêng đê

Kính Cung, Khoan, Vũ tới giờ trảm biên.

 

3. Quan chế:

Thời kỳ thứ hai: (1657-1729)

Trịnh Tạc (1657-1682), Trịnh Căn, 1682-1709)

Trịnh Cương (1709-1729)

Khi tranh chấp được tạm yên

Luật Hồng Đức đã tới phiên khác dần.

Tham tụng, Bồi tụng nhất phân

Ngang hàng Tể tướng coi phần trị an.

 

Thượng thư – Lục bộ hàng ngang:

Công, Binh, Lại, Hộ, Lễ quan, với Hình.

Lục phiên coi việc cung đình

Võ bị, Ngũ phủ, quan hình tam ban.

 

Triều đình chốn của vua quan

Phủ Liêu họ Trịnh là hàng Chúa cha.

Triều đình hư vị có là

Việc quân dân, chính ngồi xa ngó nhìn.

 

Mỗi năm quan võ thi trình

Một bài khảo hạch giữ mình hoặc không.

 

Quan hưu, bổng lộc chẳng đồng

Nhất phẩm được bốn trăm đồng nhận chơi.

Trăm quan: Cửu phẩm hưởng hơi.

Đời sau, chúa bán hợt hời chức quan.

 

Sáu trăm mua bậc chức nhàn

Trên ngàn tám: Huyện hay quan Phủ từ.

Tiền mua tất cả công tư

Tài năng xuống cấp, tâm như ván bài.

 

4. Việc binh lính:

Ưu binh được cấp công điền

Vua, Chúa, có kẻ giữ đền thắp nhang.

Nhất binh giữ trấn, sửa sang

Không cần thì cứ ruộng quan cấy cày.

 

5. Hình luật:

Hình luật từ trước tới nay

Ngũ hình: Tử, Trượng, Lưu, Xuy và Đồ.

Tiểu tụng: ẩu đả, hộ, hô

Đại tụng: mưu sát, ra vô cướp tiền.

 

Xử không xong, phạt nộp tiền

Xử rồi mà kiện thì liền phạt thêm.

Thừa, Trấn, Ti xử không êm

Lên Hiến ti, Giám, Đề thêm Ngự đài.

 

Lệ xử không được kéo dài:

Nhân mạng bốn tháng, bạc bài chỉ hai.

Điền thổ, trộm cướp cơ ngai

Hẹn cho ba tháng lệnh bài phải xong.

 

6. Thuế đinh, thuế điền và sưu dịch:

Sáu năm, hộ tịch khai thông

Một quan – quan tám là đồng thuế thân.

Bình Lệ – phép đánh một lần

Sinh, tử không kể mấy lần, chẳng tha.

 

Công điền, ba hạng tính ra

Sáu tiền, với tám hay là một quan.

Sưu dịch: cầu cống, đường làng

Tế tự phủ chúa tùy hàng dụng chi.

 

7. Các thứ thuế:

Thuế tuần ti

Hăm ba cơ sở tuần ti

Thuyền bè buôn bán thu chi tính phần.

Tre gỗ: Mười đóng một phần.

Tạp hóa: Bốn chục một lần thuế thôi.

 

Thuế muối:

Nấu xôi chẳng được ăn xôi

Cũng như nấu muối, thuế… vòi quá cao.

Trịnh Cương đánh thuế, dân chao

Trịnh Giang không lấy đồng nào mới yên.

 

Thuế thổ sản:

Giáp Thìn, chúa định thuế riêng:

Vàng, chì, bạc, kẽm, sơn, diêm, rượu, dầu.

Tre, lụa, chiếu, gỗ, đồng thau

Tơ, tiêu, cá, mắm, vật cầu giấy, than.

 

8. Sổ thu chi:

Lắm giặc thời chúa Trịnh Giang

Chi thu đủ việc, các quan hội trào:

Đồng niên trưng dụng ra sao

Hộ phiên chi, phát ghi vào sổ biên.

 

9. Việc khai mỏ:

Mỏ đồng Ngọc Tuyển, Thái Nguyên

Đồng, vàng: Kim Mã, Liêm Tuyền, Tụ Long.

Người Tàu khai thác cho không

Phu phen nhiễu sự bất đồng đánh nhau.

 

10. Việc đúc tiền:

Dùng tiền Hồng Đức bấy lâu

Trịnh Doanh làm chúa bàn nhau đúc tiền.

Tham nhũng được phát sinh liền

Bính Thân, đúc ba vạn tiền Cảnh Hưng.

Đúc thêm bạc để tiêu dùng

Năm đồng: nửa lạng; quy chung: chục tiền.

 

11. Sự đong lường:

Đong lường, lối cũ, lệ riêng:

Một thăng: sáu hạp; y nguyên đã từng.

Phạm Công Trứ mới tấu dưng:

Hoàng chung quản ống làm chừng để đong.

Ngàn hai hột thóc đen trong

Gọi là thược, hạp, thăng hòng định cân.

 

12. Việc in sách:

Bản in sách phát toàn dân

Trịnh Giang tiết kiệm một phần phí hao.

Cấm không mua sách của Tàu

Nước nhà khắc một công đầu mở mang.

 

13. Việc học hành:

Thi cử quy định dễ dàng

Bạc tiền trao đổi thành hàng chợ phiên.

Thi Hương, Hội mỗi tam niên

Ai thi phải nộp quan tiền “minh kinh”.

 

14. Trường học võ bị:

Mở trường chiến lược chiêu sinh.

Ba tháng: đại tập, hư vinh hậu nhờ.

Xuân, Thu võ nghệ học khờ

Đông, Hạ thì học mắt mờ… võ kinh.

Ba niên, thi võ học sinh

Múa gươm, phi ngựa, đao binh, thí đài.

 

Canh Thân, lập miếu hiền tài,

Thành Vương, Tôn Tử với ngài Thái công.

Đằng sau, Hưng Đạo đức ông

Lập riêng cái miếu Quan Công tế hằng.

 

15. Làm quốc sử:

Nước nhà bao nổi trầm, thăng

Nên làm quốc sử để nhằm nhắc nhau.

Việt sử toàn thư” mở đầu

Phạm Công Trứ soạn mai hầu đặng in.

 

Đời Hi Tông, năm Bính Thìn

Lê Hi, Đức Quí góp mình mới xong.

Trang Tông cho đến Gia Tông

Quốc sử thục lục” của dòng hậu Lê.

 

Sử chép công việc mỏi mê

Chẳng hay biết đúng khen chê, bạn thù?

Đời Cảnh Hưng có sĩ phu

Lê Quý Đôn với Nguyễn Du, Nguyễn Hoàn.

 

Tham khảo sử cũ, làm tròn

Cùng Ngô Thời Sĩ chép toànTục biên”.

Sái quyển Quốc sử tục biên”

Nối đời vua trước mà truyền Ý Tông.

 

16. Sự đánh dẹp giặc giã trong nước

Thời kỳ thứ ba (1729-1782)

Trịnh Giang (1729-1740) – Trịnh Doanh (1740-1767)

Trịnh Sâm (1767-1782)

Thời này nổi loạn ở trong

Duy Phương bị mắc vào tròng Trịnh Giang.

Giết vua, xưng chúa ngang tàng

Xa xỉ, hung bạo vào hàng ác tinh.

 

Nhân dân mất cảnh thanh bình

Trung thần bị hại còn tình nghĩa chi!

Duy Mật, Duy Chúc, Duy Qui

Võ Thức, Công Thế phế đi ác thần.

 

Chẳng may mưu sự vỡ lần

Bỏ triều mà chạy, danh cần hay thân?

Muôn dân nội loạn xa gần

Vậy mà chúa Trịnh lo phần hưởng chơi.

 

Để hòng gìn giữ cơ ngơi

Trịnh Giang bị phế, đáng đời rủa chê!

Trịnh Doanh, em ruột mệt khờ

Lo mà đánh dẹp tứ bề loạn thêm.

 

Giặc Ngân Già:

Loạn ngày nối tiếp loạn đêm

Ở làng Ninh Xá lại thêm “Ngân Già”.

Đình Dung, Cao, Chấn đánh ra

Cùng nhau cướp phá, nào tha họ Hoàng.

Chẳng may gặp phải Trịnh Doanh

Đình Dung bị chém, xóa danh ”Ngân Già”!

 

Giặc Ninh Xá:

Nguyễn Diên, Ninh Xá loạn qua

Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển với là Trác Oanh.

Cùng nhau tạo dựng thanh danh:

Hồng Châu, Nam Sách, Thuận Thành, Chí Linh.

 

Quan nha Thống lĩnh Hải Ninh

Là Hoàng Nghĩa Bá đi bình Phao Sơn.

Lương thực dự trữ hết trơn

Tuyển, Cừ thua chết, tiêu trơn sắc chàm.

 

Nguyễn Hữu Cầu (Quận He):

Hữu Cầu quả khác người phàm

Giỏi nghề bơi lội, lại ham vẫy vùng.

Theo Nguyễn Cừ múa kiếm cung

Đúng khi Cừ bắt, về vùng Đồ Sơn.

 

Giết quan Trịnh Bảng rửa hờn

Đánh lấy Kinh Bắc, thỏa cơn tang bồng.

Ra vào xem dễ như không

Đông đạo Thống quốc” tự phong bấy giờ.

 

Trần Đình Cẩm với Phương Đề

Bỏ ấn tính chạy thất thơ, thẹn người.

Ngũ Phúc cứ tưởng mười mươi:

Bao vây bắt sống nuốt tươi Hữu Cầu!

 

Hữu Cầu cá chẳng mắc câu

Quân Trịnh chẳng biết ở đâu, lúc nào?

Hữu Cầu có lắm mưu cao

Cướp nhà giàu để mà trao kẻ nghèo.

 

Đi đâu cũng có người theo

Ngờ đâu “kẻ cắp phải… teo mụ già”!

Anh hùng vang bóng đã qua

Phạm Đình Trọng bắt chém mà mạng vong!

 

Nguyễn Danh Phương (Quận Hẻo):

Có người tên Tế tên Bồng

Dấy binh khởi nghĩa ở vùng Sơn Tây.

Chẳng may bị Lý bắt đày

Còn thủ hạ đáng mặt mày: Danh Phương.

 

Sáng chiều lo tích trữ lương

Mười năm vùng vẫy huyện đường Tuyên Quang.

Than ôi! Tướng Trịnh: Nguyễn Phan

Đến làng Tĩnh Luyện, bắt mang trảm đầu!

 

Hoàng Công Chất:

Phá Xuân Tường đến Khoái Châu

Bắt quan Trấn thủ Sơn Châu chém đầu.

Mãnh Thiền lo chạy cho mau

Cướp miền Thanh Hóa, quân hầu vạn tên.

Hoàng Công Chất số chẳng bền

Nguyễn Thục vừa đến, lăn kềnh chết ngang.

 

Lê Duy Mật

Nhà Lê, công đã dã tràng

Âm mưu lật Trịnh chẳng màng máu tanh.

Qui, Chúc buồn chết đã đành

Những người đồng đảng cũng nhanh bỏ đời.

 

Duy Mật chiếm cứ vài nơi

Trước vùng Thanh Hóa sau dời Ngọc Lâu.

Ngọc Lâu bị phá, còn đâu!

Nhớ thời Lê – Nguyễn mà cầu Vũ Vương.

 

Bắc – Nam phân giới hai đường

Sợ phiền họ Trịnh, Vũ Vương chối từ.

Trịnh Sâm làm Chúa, đưa thư

Vỗ về không được, vội trừ khử ngay!

 

Nguyễn Phan, Thế Đạt ra tay

Trấn Ninh cô lập đêm ngày vắng tanh.

Hoàng Đình Thể mới liên danh

Trấn Ninh ba đạo tiến nhanh, phá thành.

 

Duy Mật kiên quyết thủ thành

Thế Chiêu rể phản, mới đành tự thiêu!

 

Khởi binh, dấy loạn cũng nhiều

Trí, mưu lại chẳng đồng đều mới thua!

Dân, quan với họ hàng vua

Hồn ma bóng quế, ngẫm chua chát lòng!

 

Họ Trịnh làm có như không

Đánh Đông, dẹp Bắc chẳng công cán gì.

Dân nghèo, chính trị lại suy

Về sau Trịnh đổ, Lê đi dứt dòng!

 

Chương VI

CÔNG VIỆC HỌ NGUYỄN LÀM

Ở MIỀN NAM

Họ Nguyễn tự quản miền trong

Xây thành đắp lũy oai phong một đàng.

1. Quan chế:

Triều cha, chúa Trịnh bổ quan

Phúc Nguyên kháng lệnh, triều can chẳng trình.

Tam ti nơi chúa làm dinh.

Coi việc chính trị, tình hình khó khăn.

 

Xá sai ti tụng án văn

Chi thu thuế bởi Tướng thần lại ti.

Tế tự có Lệnh sử thi

Theo trọng hay yếu mà tùy bớt đi.

 

2. Thi cử:

Đinh Hợi, chúa mở khoa thi

Thi hoa văn với lại thi chính đồ.

Tam ti, ai đậu thì vô

Văn chức, Lệnh sử khan khô một bài.

Xem ra thấy cũng sơ sài

Đánh nhau chỉ trọng võ tài, rẻ văn.

 

3. Việc võ bị:

Võ bị, huấn luyện kỹ càng

Chuyên tâm tập luyện, phòng màng chiến tranh.

Đúc súng đại bác thủ thành

Quân cơ năm loại tập tành ngựa voi.

 

4. Việc thuế khóa:

Thuế điền ba hạng xét coi

Ruộng đất xấu xí cấm moi lấy tiền.

Đất hoang là ruộng tư điền

Dân cày thì thuế công điền nộp quan.

Thuế xuất nhập cảnh tiền quan

Chia thành mười loại, sáu dành trữ kho.

 

5. Số tiền chi thu trong nước:

Quý Dậu, chúa lại xét dò

Xem vàng trong nước có… bò hết không?

Có năm dư… bốn trăm đồng

Có năm kho trống rỗng không có tiền.

 

Cho nên định luật tháng Giêng

Ngày mồng ba nộp tấu thiên phải đồng.

Tiền đồng, tiền kẽm lưu thông

Thái bình” hai chữ khắc xong mới xài.

 

6. Việc giao thiệp với nước Tiêm La:

Phù Nam nước bị chia hai:

Chân Lạp, Xích Thổ, lá bài dã tâm.

Xích Thổ xé bởi ngoại xâm:

Nước Tiêm, La Hộc một mầm đệ huynh.

 

Về sau, bóng gắn với hình

Nước Tiêm La Hộc đủ mình với ta.

Minh Thái Tổ gọi: Tiêm La

Bị người Chân Lạp cứ qua đánh hoài.

 

Sinh sau nên bị cọt còi

Về sau cường thịnh ra mòi cọp, lang.

Đánh Chân, cùng Pháp ngoại bang

Gặp giờ, chúa Nguyễn xóa tan Chiêm Thành.

 

Tiêm La thế yếu mới đành

Để cho Chúa Nguyễn bảo hành đất Chân.

Ất Tỵ, Chân Lạp, Nặc Thâm

Đem binh Tiêm cướp phá ngầm Hà Tiên.

 

Phúc Khoát thư trách vua Tiêm

Dung túng kẻ nghịch để dìm nước Chân.

Ất Hợi, Tiêm  muốn hòa thân

Xin Nguyễn đừng đánh thuế dân lái thuyền.

 

Chúa rằng quốc lệ đã truyền

Không sao bỏ được, Tiêm nguyền tuyệt giao.

Đinh Hợi, Diến Điện đánh vào

Tiêm La mất chúa, coi mào đã xong.

 

Quốc Anh người tỉnh Hà Đông

Tự xưng Phi Nhã để hòng chiếm ngôi.

Chiếu qua Chân Lạp mà đòi

Nặc Ông bắt lỗi “khác nòi“, chẳng dưng.

 

Tiêm La gây chiến tưng bừng

Lúc Chân Lạp, lúc thẳng thừng Hà Tiên.

Hà Tiên, quan trấn Trần Liên

Quốc Anh vội vã đánh liền Tiêm La.

 

Nặc Ông phải kiếp không nhà

Nhờ quân Nguyễn giúp, sơn hà tạm yên.

Vua Tiêm về đến Hà Tiên

Truyền thư mời nghị hòa riêng hẹn hò.

 

Mặc Thiên Tứ chẳng chịu cho

Con gái bị bắt, mới lo nghị hòa.

Trần Liên được gọi về nhà

Trả con gái, đem Chiêu mà thủ tiêu.

 

Chiêu Thúy dõng dõi Tiêm triều

Quốc Anh sợ loạn, giở chiêu giết liền.

 

7. Lập dinh Định phủ:

Đến đời chúa Sãi, Phúc Nguyên

Truyền qua chúa Thượng, chuyển sang Phúc Trần.

Lập dinh, định phủ, quan phân

Sửa sang phép tắc, định dần lễ nghi.

 

Vũ Vương, Giáp Tí trở đi

Mười hai cuộc đất tức thì một dinh.

Chính dinh rồi đến Cựu dinh

Quãng Bình, Vũ Xá, Bố Đình, Quảng Nam.

 

Phú Yên, Bình Thuận, Bình Khang

Ba dinh này trước là đang của Chàm.

Chân Lạp bị Nguyễn lấy làm:

Trấn Biên, Phiên Trấn, miền Nam Long Hồ.

 

Hà Tiên, Thiên Tứ lấn vô

Chúa Nguyễn khai khẩn đất khô nam phần.

 

Đời Nguyễn Phúc Khoát đổi dần:

Lập Vương, xưng Chúa bỏ lần chức Vua.

Mở mang một cõi tranh đua

Làm cho nước Việt chẳng thua láng giềng!

 

Chương VII

NGƯỜI ÂU CHÂU SANG NƯỚC VIỆT NAM

I. SỰ ĐI TÌM ĐẤT:

Người Âu châu sang Á đông.

Người Âu châu sang đất Việt Nam.

Người ngoài đến viếng thay phiên:

Bồ Đào Nha, Nhật với thuyền Hòa Lan.

”Kinh kỳ, thứ nhất hạng sang

Thứ nhì Phố Hiến, sau… nàng Hội An”.

Anh, Pháp buôn chẳng dễ dàng

Thấy chưa có lợi, kiếm đàng trở ra.

 

II. SỰ ĐI TRUYỀN GIÁO:

Đạo Thiên Chúa:

Sách sử cũng có chép là:

Đời Lê đã có Tây qua nước mình.

Sử Trương Vĩnh Ký chứng minh:

Đời Nguyễn, Kinh Thánh được… rinh tới nhà.

 

Người theo đạo, chúa lo xa

Nguyễn – Nam, Trịnh – Bắc cho là ”đạo gian”.

Chúa Thượng là Nguyễn Phúc Lan

Cùng Trịnh Tạc chẳng mở đàng đạo vô.

 

Chúa Hiền… “ác” với Gia Tô

Trịnh Căn đốt sách, sóng xô giáo đồ.

Trịnh Cương, Doanh lại khan khô

Giết, cấm giáo sĩ, hàm hồ thấy hơn!

 

Thành ra có sự oán hờn

Bên “Lương“, bên “Giáo” ghét hơn địch thù.

Nắm lấy “bảo thủ” mà đu

”Sùng, tín” phải diệt mới… hù ngoại bang.

 

Đôi bên chém giết hàng đàn

Oan hồn chồng chất hàng ngàn có vui?

 

Chương VIII:

VẬN TRUNG SUY CỦA CHÚA NGUYỄN

1. Trương Phúc Loan chuyên quyền:

Đời Nguyễn Hoàng tính trở lui

Khi Vũ Vương mất cũng “xui” đủ bề:

Thế tử thì chết tỉnh bơ

Con trưởng cũng mất, phải chờ chúc thư.

 

Vũ Vương di chiếu lập từ

Trương Phúc Loan đổi, hầm hừ lấn sân.

Thay nhỏ để nắm cán cân

Chúa mười hai tuổi: Phúc Thuần – Định Vương.

 

Họ Trương đảo lộn cương thường

Nên nhiều người mới xéo đường, phá truông.

Miền Bắc, Trịnh lấy Phú Xuân

Tây Sơn cũng chiếm mất luôn Quy thành.

 

Anh em trở mặt phân tranh

Tương tàn cốt nhục, sông Gianh ngậm hờn.

 

2. Tây Sơn dấy binh (1771-1778)

Phù Ly, huyện lỵ Quy Nhơn

Anh em Nguyễn Nhạc, tài hơn mọi người.

Họ Hồ là tổ bốn đời

Nay theo họ mẹ, kêu mời khởi binh.

 

Thương người khốn khổ mưu sinh

Nguyễn Nhạc hào phóng, hết mình bảo ban.

Giam thân nhốt củi thi gan

Đang đêm phá ngục, trừ quan, lấy thành.

 

Quảng Nam vây đánh tốc hành

Quảng Bình chiếm lấy mà thành lập dinh.

 

3. Quân họ Trịnh vào lấy Phú Xuân (1775):

Khi nhà Nguyễn có loạn tình

Trịnh Sâm mượn tiếng đi bình Phúc Loan.

Bèn sai đại tướng quân Hoàng

Phùng Cơ, Đình Thể liên hoàn tấn công.

 

Hoàng Đình Bảo giả như không

Ra chiêu giở quẻ bòng bong rắn rồng.

Hờn xưa, đánh Nguyễn gây phong

Nhằm thời họ Nguyễn suy vong tới rồi.

 

Sau khi chúa Nguyễn rã rời

Đông Cung kế vị gặp thời gian truân.

Hoàng Ngũ Phúc đánh Phú Xuân

Quảng Nam, Đà Nẵng chiếm luôn lấy đà.

 

4. Chúa Nguyễn chạy vào Gia Định:

Định vương ngự ở triều ca

Nghe tin thất trận báo qua, rụng rời!

 

Chúa tôi thuyền thủng ra khơi

Vào Nam để đợi chờ thời họa chăng!

Dùng thành Gia Định làm căn.

Đông Cung để lại mà ngăn địch thù.

 

Gia Định, Nhạc lấy êm ru

Non sông bốn cõi biên khu xóa nhòa.

Quân nhà Nguyễn đánh xuề xòa

Sau rồi chạy đến Biên Hòa, Long Xuyên.

 

Nguyễn Nhạc xưng Đế ở Quy Nhơn (1778):

Tây Sơn chiếm được vài miền

Quân Hoàng Ngũ Phúc đánh liền bại ngay.

Khi quân Phúc Hợp bao vây

Khôn ngoan, Nguyễn Nhạc giơ tay… trá hàng.

 

Trong tay ấn, kiếm Trịnh ban

Không lo mặt Bắc, Nhạc bàn kế gian.

Thọ Hương, con gái ngọc vàng

Nguyễn Nhạc đem gán cho chàng Đông Cung.

 

Tin lầm, Phúc Hợp vạ chung

Thua đau, phải chạy về vùng Vân Phong.

Bên Trịnh, Ngũ Phúc mạng vong

Lui về Thuận Hóa, Triệu Phong giữ mình.

 

Nguyễn Nhạc thấy rõ tình hình

Quân binh đã mạnh, xoay tình một chương.

Đông Cung, trúng kế nào lường

Lý Tài bắt lại, không đường trốn đi!

 

Công hầu “phước” chẳng ra gì

Còn thêm chữ “họa” chi chi giữa đầu!

Tân Chính, Thái Thượng còn đâu

Nguyễn Huệ vây chặn, chém đầu… thị uy!

 

Nguyễn Nhạc xưng Đế lập vì

Niên hiệu Thái Đức, ngại gì tiếng tăm!

Đồ Bàn tính chuyện trăm năm

Tây Sơn họ Nguyễn thăng, trầm tới đây!

 

Tiết chế“, phong Nguyễn Lữ ngay

Long Nhượng” đại tướng về tay Huệ liền.

Hai bên chiến sự triền miên

Vì chúa Nguyễn muốn tước quyền Tây Sơn.

 

5. Nguyễn Vương khởi binh đánh Tây Sơn:

Tranh giành biết chúa nào chơn

Toàn gây những chuyện căm hờn nhiễu nhương.

Định Vương tức Thái Thượng Vương

Cùng vương Tân Chính tìm đường chạy xa.

 

Nguyễn Huệ bắt được, chẳng tha

Nguyễn triều dựng nghiệp bôn ba muôn phần.

Ánh, con Hưng Tổ Phúc Luân

Cũng là cháu Nguyễn Phúc Thuần, trốn ngay.

 

Chiêu binh đánh trả từ đây

Không lâu đã có trong tay Sài Gòn.

Anh hùng xuất thiếu niên” con

Vừa mười bảy tuổi tinh khôn lẫy lừng!

 

Đại nguyên súy” được tôn xưng

Vai “Nhiếp Chính quốc” cũng từng tới tay.

Chiếm Gia Định, nở mặt mày

Đong đo đâu đấy chờ ngày đánh nhau.

 

Tiêm La thống sứ từ lâu

Ăn tươi Chân Lạp, mưu sâu lấn đường.

Năm Canh Tý, Ánh xưng Vương

Thăng quan tưởng thưởng, đo lường tội, công.

 

Đỗ Thanh Nhân sớm thay lòng

Bên ngoài chức trọng, bên trong lộng quyền.

Vương sai người giết chết liền

Ba quân tướng sĩ khắp miền loạn lên.

 

Thêm vào hiếu sự hai bên

Tiêm La, Chân Lạp chẳng bền nghĩa danh.

Vua Tiêm La – Trịnh Quốc Anh

Bị Phan Văn Sản tranh giành chiếc ngôi.

 

Chất Tri chẳng chịu thiệt thòi

Giết luôn Văn Sản, triệt nòi… Quốc Anh.

Xưng vua, kể cũng… lừng danh

Phật Vương” lấy hiệu, mong thành… thánh nhân!

 

Vua Tây Sơn năm Nhâm Dần

Cùng Huệ lượt trận, thuyền gần mấy trăm.

Đường sông thẳng tiến đăm đăm

Trời xanh cuộn gió hờn căm chất chồng.

 

Cần Giờ, Huệ đánh tiên phong

Nguyễn Vương chạy xuống Ba Giồng, rút đi.

Gia Định lấy lại khó gì

Nguyễn Nhạc không ở, về Quy Nhơn thành.

 

Tây Sơn – chúa Nguyễn phân tranh

Quân Châu Văn Tiếp chiếm thành Sài Côn.

Nguyễn Vương thoát nạn, hoàn hồn

Nhờ người tướng giỏi bảo tồn đại danh.

 

Vương từ Phú Quốc về thành

Tây Sơn thắng lớn, Ánh đành chạy ra.

Khác nào: “Kiến leo cành đa

Leo phải cành cụt, leo ra, rớt vào”!

 

6. Nguyễn Vương định cầu viện

nước Pháp – Lan Tây:

Nguyễn Vương chẳng chút núng nao

Dù ăn củ chuối, cháo rau mỗi ngày!

 

Bá Đa – giám mục mới bày:

“Cầu viện nước Pháp lúc này, giải vây”.

Nguyễn Vương viết quốc thư ngay

Mang hoàng tử Cảnh trao thầy, đợi tin.

 

Tiêm La, Ánh cũng “cầu xin”

Thua đau, phải viện quân binh mấy lần.

Vua Tiêm La không phân vân

Mượn đường xâm lấn nào cần giả, chân?!

 

Lời rằng tốt, xấu không phân

Con đường viện ngoại thì chân thiện gì!

Khi Châu Văn Tiếp chết đi

Quân Tiêm phá nước thua gì cướp binh!

 

7. Nguyễn Huệ phá quân Tiêm La:

Dân tình oán nẩy, hờn sinh

Tây Sơn Nguyễn Huệ mang binh đón dò.

Rạch Gầm, Xoài Mút, Mỹ Tho

Dàn quân, bố trận không cho giặc về.

 

Đuổi Xiêm, phá Nguyễn hai bờ

Nguyễn Huệ dệt lấy trang thơ anh hùng!

Vì rằng Nguyễn Ánh đường cùng

Đi cầu cứu viện qua vùng Pháp xa.

 

Cõng rắn để cắn gà nhà”

Xem ra, chẳng phải chỉ là Nguyễn Vương!

Tầm thư trích cú từ chương

Huynh sao đệ vậy chung trường ấy ra!

 

Chương IX

HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - LỜI GIỚI THIỆU

    Với Việt Nam lục bát sử, nữ tác giả đa tài Ngọc Thiên Hoa lại đem đến cho độc giả một bất ngờ thú vị. Bất ngờ vì lâu lắm rồi mới lại có người để mắt tới Sử…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN I

    VIỆT NAM L ỤC B ÁT SỬ NƯỚC VIỆT NAM (越 南) 1. Quốc hiệu: Hồng Bàng lập nước Văn Lang Âu Lạc, Thục Phán sửa sang bội phần.   Tượng Quận gọi bởi nhà Tần Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam: Cửu…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN II

    Chương VI NHÀ TRẦN (1275-1400) Thời kỳ thứ nhất (1225-1293) I. TRẦN THÁI TÔNG (1225-1258) Niên hiệu: Kiến Trung 建 中 1. Trần Thủ Độ: ... Thủ Độ bày vẽ mông lung Cướp ngôi nhà Lý gian hùng,…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN III

    Chương XIV MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU             (1418-1427) 1. Lê Lợi  (鯬 利) khởi nghĩa ở Lam Sơn: Lam Sơn ruộng núi muôn bề  ... Lê Lợi giàu có bằng nghề ruộng nông. Giúp người hào kiệt lưu vong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN IV

    Quyển IV TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (1528-1802) (Thời kỳ Nam Bắc phân tranh) NHÀ HẬU LÊ  黎 後  Thời phân tranh (1533-1788) ... Chương I LỊCH TRIỀU LƯỢC KỶ Nước Nam một cõi biển Đông Ngô Vương đuổi Hán uy phong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN V

    Chương IX HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA (1510-1786) 1. Chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ: Trịnh Sâm bỏ trưởng, dâm tà Mê say Thị Huệ nên sa thế cùng.  ... Cho mình một đấng anh hùng…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VI

    Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840) 1. Sự giặc giã: Tiêm, Lào quấy nhiễu Nam, Tây Cựu thần Lê dấy đó đây Bắc Kỳ. .... Quan trường chỉ giỏi chi li Thần dân bất mãn: Vua chi hẹp…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VII

    Chương XI PHÁP CHIẾM  LẤY BẮC KỲ Lần thứ hai (1882) 1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội: Người Pháp có giấy thông thương   ... Bị giặc Khách chận trên đường Vân Nam. Pháp bèn bắt lỗi…