Chương VI

NHÀ TRẦN (1275-1400)

Thời kỳ thứ nhất (1225-1293)

I. TRẦN THÁI TÔNG (1225-1258)

Niên hiệu: Kiến Trung 建 中

1. Trần Thủ Độ: …

Thủ Độ bày vẽ mông lung

Cướp ngôi nhà Lý gian hùng, bất lương.

Chiêu Hoàng bảy tuổi nào lường

Nhường ngôi đứa trẻ chưa tường yêu đương!

 

Trần Cảnh tám tuổi hiền lương

Một tay Thủ Độ đảo lường thị phi!

Triệt Lý“, lịch sử còn ghi

Nhổ cỏ tận gốc” mới phi giống người!

 

Huệ Tông hiểu ý mười mươi

Thắt cổ tự tử, ngậm cười thế gian.

Độ lấy Thái hậu, chẳng màng:

Hai chị em họ, rõ ràng trớ trinh.

 

Làm cho họ Lý điêu linh

Đào hầm chôn sống, cầm tinh bạo tàn.

Luân thường đảo lộn họ hàng

Bỏ em, lấy chị, phủ phàng thế gian.

 

Cướp về người vợ có mang

Vừa tròn ba tháng, con quan Trần Thừa.

Ép làm hoàng hậu cho vừa

Bức Trần Liễu loạn, gan thừa: Thái sư.

 

Hại ngầm họ Lý cho nư

Đổi Lý thành Nguyễn nát nhừ càn khôn!

Nghiệp Trần giật lấy sinh tồn

Thủ Độ tạo nghiệt oan hồn quá sâu!

Sơn hà dùng mẹo mà thâu

Một tay xóa Lý, mưu sâu đã cài!

 

2. 3. Việc đánh dẹp giặc giã. Việc cai trị:

Xem ra… Thủ Độ cũng… tài

Với Trần, giúp đỡ vua ngoài tới trong.

Ngôi nhà Lý lấy vừa xong

Xoay qua trị nước, giao thông, học hành…”.

 

4. 5. Việc thuế má. Đắp đê:

”Quan là quan”, lệ đã thành

Không quan, tiền chảnh, vẫn anh lính hàn.

Sưu thuế chẳng tính hèn sang

Thuế thân, ruộng, muối, cá, vàng, ốc, ngao…

 

6. Việc học hành:

Học hành chẳng chút lãng xao

Mở khoa Tiến sĩ thấp cao đệ trình.

Nhâm Thìn mở “Thái học sinh”

“Tam khôi“, Đinh Vị, quy hình một khoa:

 

Trạng nguyên, Bãng nhỡn, Thám hoa

Văn Hưu viết sử, một khoa, đổ nhì.

Lại cho Tam giáo được thi

Đạo Nho, Thích, Lão, chọn đi đạo nào?

 

7. Pháp luật:

Gia hình thấy cũng hơi cao

Người nào “trộm cắp” thì vào chặt tay.

Nhẹ chặt chân, nặng voi giày

Người tham xám mặt, xanh mày, bớt gian.

 

8. Quan chế:

Nhà Trần lo việc sửa sang

Chia quan chức với phân quan đại thần.

Thị Lang – Văn nội đồng cân

Lang Trung, Viên ngoại cũng gần Thượng thư.

An Phủ Sứ, Tri phủ thư

Đối Thông, Thiên tứ gia trừ, tứ ân.

 

Võ ngoại có Ngự sứ quân

Đô thống, Kinh lược, quan thân Thử, Phòng…

Võ nội có những sắc phong:

Phiêu kỵ Thượng tướng, Kim phòng, Phó đô.

 

9. Binh chế:

Quân – Thần nghĩa chẳng mấy khô

Cùng nhau yến ẩm nào phô lễ nghì.

Mười năm một Bậc, lệ ghi:

Mười tám năm mới vinh quy một Hàm!

 

10. Việc đánh Chiêm Thành:

Gìn sông, giữ núi An Nam

Bắc chống Mông Cổ, bình Nam: Chiêm Thành.

 

11. Quân Mông Cổ xâm phạm đất An Nam:

Mông Cổ hiếu chiến, gian manh

Lanh nghề cưỡi ngựa, giỏi ngành kiếm cung.

Bành trướng vốn tính khí chung

Xăm lăng Tây Hạ với cùng nước Kim.

 

Đất người chiếm lấy, vô tim

Triều Tiên, Trung Á chẳng ghìm vó câu!

Thiết Mộc Chân, chúa cầm đầu

Tư Hãn tắm máu, ngõ hầu lập Nguyên.

 

Thái tổ băng giá đến phiên.

Đăng ngai, nối nghiệp chuyển quyền: Thái Tông.

Nguyên Định Tông mới nối dòng

Ba năm đã mất, Kha Mông giở trò.

 

Mông con nhà chú Quí Do

Khác “Chi” nhưng cũng một “lò”, một “chiêu”.

Hiếu Tông – Mông Cổ cà khiêu

Sai Hạt Lỗ đánh Tống triều, Ba Tư.

 

Đồng liêu Hạt Lỗ, tay cừ

Là Hốt Tất Liệt không từ tiến binh.

Giữa chừng hai nước chiến chinh

Mông Kha mất, Liệt tự mình kế ngay.

 

Đánh khắp Nam, Bắc, Đông, Tây

Nhà Mông đổi chủ thay thầy, hóa Nguyên.

Ngột Lương Hợp Thai cầm quyền

Sai sứ đến Thái Tông khuyên thuận hàng.

 

Vua, quan Trần quyết hai đàng:

Một, giam sứ giả. Hai, dàn trận nghinh.

Thái Tông anh dũng thân chinh

Cùng Trần Quốc Tuấn chống binh Nguyên triều.

 

Binh phân, thế yếu tiêu điều

Bỏ kinh đô chạy như diều đứt dây.

Thái Tông bụng dạ trên mây

Trần Nhật Hiệu với cách hay “phải hàng”!

 

Thái sư Thủ Độ vội can:

Đầu thần chưa rớt, đừng bàn thuận Nguyên”.

Nghe lời cứng cỏi, vua yên.

Đồng tâm đánh giặc, quân Nguyên rút về.

 

Cùng đường mỏi mệt, la lê

Coi là “giặc Phật” không hề cướp chi!

Quân Mông Cổ bị đuổi đi

Nhưng khi dứt Tống, tức thì giở chiêu:

 

Bắt vua Trần đến Mông triều

Lạy chầu để nhận những điều phải theo.

Lê Phụ Trần đổi một keo:

Ba năm chịu cống, qua đèo, vượt sông.

 

Chuyên cần thế sự, Thái Tông

Truyền ngôi Thế tử ngừa phòng trước sau:

”Anh em chớ có tranh nhau

Chăm dân, trị nước về sau một lòng”.

 

Đỡ đần việc nước, Thái Tông

Được tôn làm Thái Thượng Hoàng giúp vua.

Thái bình qua hết bốn mùa

Băm ba năm Đế, về chùa, sáu mươi.

 

II. TRẦN THÁNH TÔNG  (1255-1278)

Niên hiệu: Thiệu Long 紹 隆

1. Việc chính trị:

Non sông nở đóa hoa tươi

Thái tử tử tế, thương người giống cha.

Trời xanh một cõi bao la

Thánh Tông đổi lấy hiệu là Thiệu Long.

 

Anh em lấy đức trời đong

Cha ông để nước chớ hòng thị phi.

Quan Nho có Mạc Đỉnh Chi

Lê Văn Hưu viết sử thi nước nhà.

 

Trang điền, thời ấy mà ra

Vương hầu, Phò mã lo qua ruộng đồng.

 

2. Sự giao thiệp với Mông Cổ:

Nhà Trần dẫu nhận sắc phong

Ba năm cống nạp, vẫn phòng giặc Mông.

Hòa ngoài vẫn biết bên trong

”Xâm lăng” mưu giặc chất chồng thế thôi.

 

Cho nên lính ngũ phân đôi

Quân“, “Đô” cũng phải không thôi hợp thời.

Cứng bên trong, ngoài dịu lời

Nhà Nguyên kia mới không thời khó ta.

 

Thông minh, tiếng đã gần xa

Năm mươi bốn tuổi, vua ta băng hà.

Thái Thượng Hoàng được mười ba

Hai mốt năm Đế quả là nghĩa nhân.

 

III. TRẦN NHÂN TÔNG  (1279-1293)

Niên hiệu: Thiệu Bảo 紹 寶

1. Việc chính trị:

Thái tử Khăm được triều thần

Tôn làm vua, tức Nhân Tông bấy giờ.

Thời ngài đánh giặc mỏi mê

Thiệt con vua giỏi chẳng chê chút nào!

 

2. Việc văn học:

Vua quan học rộng, tài cao

Thi thơ Phạm, Nguyễn đương trào hảo văn.

Hưng Đạo, Quang Khải ai bằng

Oai phong khí lực đằng đằng xuyến xao!

 

Chương VII.

GIẶC NHÀ NGUYÊN (1284-1288)

I.

1. Sài Thung sang sứ An Nam:

Nhà Nguyên cậy ở trên cao

Sài Thung ngạo mạn muốn vào nước ta.

Nhà Trần thủ lễ, thiệt ra:

Lượn con sóng dữ để mà lái ghe.

 

2. Trần Di Ái theo nhà Nguyên:

Nguyên – Mông ỷ mạnh, hăm he

Bày ra lắm lẽ để… đè nước Nam:

 

Vua Nam cấp tốc sang chầu

Châu vàng, báu ngọc… cung cầu phải hay.

Người hiền sĩ, kẻ khéo tay

Thầy giỏi giảng dạy, đưa ngay tới Tàu!

 

Nhà Trần cũng lắm mưu sâu:

Đưa Trần Di Ái sang hầu giặc Nguyên.

Vua Nguyên nổi giận như điên

Phong Di Ái chức quan liền: Quốc vương.

 

Vua Trần phái tướng ngăn đường

Bắt Trần Di Ái, triệt đường quân nhu.

Sài Thung bị bắn mà mù

Đi đời một lũ theo thù, phản trong.

 

3. Thoát Hoan sang đánh lần thứ nhất:

Nguyên chủ nổi giận thua không

Sai con Thái tử quyết lòng bá vương.

Mượn đường“, sách cũ một chương

Đánh Chiêm nhưng cũng gian lường bẫy giăng.

 

Giặc năm mươi vạn hung hăng

Quân ta thủy, bộ chỉ bằng nửa thôi!

Trứng mà chọi đá, than ôi

Diên Hồng hội nghị “đánh” thôi, hay “hòa“?

 

Bà Trưng, Bà Triệu quần thoa

Nữ lưu đánh giặc có hòa được không?

 

Quân dân, bô lão một lòng

Dưới cờ Quốc Tuấn ngoài trong đã đồng.

Giữ đường bộ lẫn đường sông

Không cho giặc kiếm cớ hòng lẻn qua.

 

4. Trần Hưng Đạo Vương quân thua về

Vạn Kiếp:

Một lòng giữ lấy sơn hà

Trận đầu: Kỳ Cấp với là Khả Li.

Hy sinh thân xác, xá gì

Lộc Châu thất thủ, phất kỳ Chi Lăng.

Quân đông, địch quá hung hăng

Kế nào bằng kế phải chăng, giữ mình?

 

Quy hàng, vua định trọn tình

Nhưng còn xã tắc, quân mình, phải lo?

Ngặt vì thế giặc quá to

Vua Trần lòng dạ đói no rối bời!

 

Đại Vương đã quyết một lời:

“Chém đầu thần trước mới thời hàng Nguyên”.

Lời tâu trung liệt, vua yên

Đức Trần Quốc Tuấn soạn liền “Binh thư”.

 

Thơ Thần” thời  Lý – thiên thư

Đời Trần, “Hịch tướng sĩ” như thi thần.

Thường Kiệt, Quốc Tuấn thương dân

Khác bao vô sĩ vong thân, mắt mù!

 

”Này là Kỷ Tín, Do Vu

Dự Nhượng, Thân Khoái… trung lưu chẳng thừa.

Trung thần, nghĩa sĩ đời xưa

Liều thân cứu Chúa, nắng mưa chẳng sờn.

 

Đây còn Kính Đức chính chơn

Kiểu Khanh miệng mắng Lộc Sơn nghịch đồ.

Văn Lập sức yếu thế cô

Một mình giữ lấy thành đồ Điếu Ngư.

 

Lại còn có Xích Tu Tư

Đánh quân Nam Chiếu rạng chừ đức danh.

Nay quân Mông Cổ vây thành

Cậy danh Tất Liệt, quyền hành Vân Vương.

 

Bạc vàng vơ vét tứ phương

Thân dê chó, lưỡi cú, thường mắng vua.

Ta đêm ăn ngủ thớt thưa

Ruột đau như cắt, mắt thừa lệ tuôn!

 

Quân thù chưa diệt mà buồn

Thây nội cỏ rũ mới suông dạ này!

Dẫu rằng ‘da ngựa bọc thây’

Chỉ mong thấy cảnh nước mây thái bình.

 

Các ngươi nay chẳng thấu tình

Lính: Cơm đâu có; ngựa mình ai cho?

Bệnh đau, sống chết ai lo

Quan: Ai thăng thưởng; bổng kho đâu dùng?

 

Nghĩ gần, sao chẳng thẹn thùng

Đứng nhìn chủ nhục suy cùng chẳng run?

Nghĩ xa, chẳng trọn tình chung

Lấy điều ‘quốc sỉ’ mà nung chí bền?

 

Thân làm tướng, hầu giặc trên

Thái Thường đãi yến chẳng ‘rên’ trong lòng!

Chọi gà, đánh bạc coi không

Vui thú vườn ruộng mà lòng chẳng đau?

 

Nước nhà trong cảnh bể dâu

Còn ham săn bắn, đá cầu để vui!

Mắt thấy giặc đến mà đui

Áo giáp giặc? Cựa gà  dùi thủng sao?

Mẹo cờ bạc dẫu là cao

Đem vào mưu sự, hư hao mọi điều!

 

Ôi chao! Ruộng lắm, vườn nhiều

Lấy nhiều  vàng bạc mà chìu giặc chăng?

Quân thù nào sợ chó săn

Rượu ngon, tiếng hát, giặc rằng: điếc tai?

 

Thiệt là chẳng nghĩ một mai

Thái ấp ta mất, bia ai bị nguyền?

Vợ con gia quyến, quan quyền

Tiếng xấu còn mãi lưu truyền sử sau!

 

Đau lòng, ta bảo mấy câu:

Cẩn thận củi lửa, lo hầu kiếm, tên.

Thanh danh từ đó mà nên

Để tâm vì nước ở trên vị lòng.

Sức bền, người tựa Bàng Mông

Nhà nhà Hậu Nghệ mới hòng rạng danh’’.

 

5. Thành Thăng Long thất thủ:

Lời vàng dẫn dạy đã thành

Cánh tay Sát Thát” rành rành giết Mông.

Chí khí lớn nhưng giặc đông

Thăng Long phải bỏ trống không đoạn đành!

 

6. Toa Đô đánh Nghệ An:

Toa Đô quân tiến khá nhanh

Nghệ An giặc chiếm, cũng đành bỏ đi.

 

7. Hưng Đạo Vương đem vua về Thanh Hóa:

Thượng tướng Quang Khải chỉ huy

Quân binh lúc thủ, lúc khi vội vàng.

Phản nòi, Trần Kiện đầu hàng

Giữa đàng bỏ mạng vì màn loạn tên.

 

Thân giòi có mấy kẻ nên

Danh cao, đức trọng mấy tên để đời?

Đây hồn sông núi trùng khơi

Đi bên đất nước nhắc thời vẻ vang!

 

Trần Bình Trọng:

Trung thần, lịch sử thêm trang

Tướng Trần Bình Trọng sánh Quan Vân Trường.

Ngẫm lời khẳng khái mà thương:

Giặc dụ: “Có muốn làm Vương, được làm?”.

 

 “Ta thà làm quỷ nước Nam

Không màng Vương Bắc, chẳng tham hơi đồng”.

Khác chi nghĩa khí Quan Công

(Không hàng Tào Tháo), một lòng đầu rơi!

 

Chết đi, tiếng tốt để đời

Còn hơn tham sống, người thời rẻ khinh.

Nghĩa nhân sau trước trọn tình

Bền lòng cứu nước, hy sinh nghiệp đồ.

 

8. Trận Hàm Tử Quan:

Trần Nhật Duật phá quân Toa Đô:

Được tin binh mã Toa Đô

Thế cùng lương cạn, mưu đồ hợp binh.

Chiêu Vương xuống lịnh, chớ khinh

Nguyễn Khoái, Quốc Toản dẫn binh đón đường.

 

Trần Nhật Duật – Chiêu Văn Vương

Triệu Trung, Tống tướng chẹn đường Toa Đô.

Tưởng Tống khôi phục cơ đồ

Hãi hùng binh giặc cơ hồ vỡ tan!

 

Hàm Tử nổi sóng Bình Than

Toa Đô khiếp vía lùi sang Thiên Tường.

 

9. Trận Chương Dương Độ:

Trần Quang Khải khôi phục Thăng Long:

Hàm Tử rồi đến Chương Dương

Con đường thắng trận, hai Vương lẫy lừng.

Thoát Hoan bị đánh giữa chừng

Bỏ Thăng Long chạy, bừng bừng giận căm.

Mừng lòng, Quang Khải xướng ngâm:

“Chương Dương đoạt sáo, hồ cầm Tử Quan”.

 

10. Trận Tây Kết:

ớng nhà Trần chém được Toa Đô:

Một lòng Hội nghị Bình Than”

Vua quan Trần đã chẳng màng hiểm nguy.

Đuổi về Tàu lũ Mã Nhi

Toa Đô tử trận, còn chi cái đầu!

 

Lòng trung ai cũng như nhau

Hiểu người đối xử là câu gốc nền.

Xứ người, bỏ mạng, ơn đền

Nhân Tông thương cảm nghĩa bền kẻ trung.

 

Ngự bào cởi đắp, chôn chung

Lễ nghi tử tế cạn cùng nghĩa nhân!

Thương người như thể thương thân”

Làm con người tốt, trí nhân phải cần.

 

11. Trận Vạn Kiếp:

Thoát Hoan trốn chạy về Tàu:

Thoát Hoan… chạy thoát lấy thân

Ba quân khiếp hãi theo lần, trốn sau.

Binh thua, ai cũng giữ đầu

Mở gấp đường máu về Tàu, phước cha!

 

Biết Thoát Hoan muốn chạy xa

Đạo Vương điều động quân ra cản đường.

Hai con Nghiêu, Úy, tước vương

Cùng nhau chận lấy nẻo đường Tự Minh.

 

Bắc Giang, chặn đánh Nguyên binh

Khiến bọn Hằng, Quán bỏ mình trúng tên.

Thoát Hoan, Phàn Tiếp còn hên

Hoan chui vào ống mới nên giữ mình.

 

Bài học cho kẻ viễn chinh

Nghinh ngang lúc đến, thất kinh lúc về!

 

Đại Vương quyết định mọi bề

Bằng tài thao lược, tràn trề đức nhân.

Thêm vua tôi của nhà Trần

Một lòng hòa hợp giữ phần cán cân.

 

Địch quân tan tác mười phân

Sơn lam, chướng khí gì cần đánh lâu!

Sanh ra bệnh tật ốm đau

Xâm lăng, giặc biết dãi dầu đến phiên!

 

Chương VIII

GIẶC NHÀ NGUYÊN (1284-1288)

1. Nguyên chủ định khởi binh phục thù:

Hưng Đạo phá được quân Nguyên

Nhà Nguyên xấu hổ, đương nhiên báo thù.

Sa mưa tính chuyện giả mù

Đạo Vương chuẩn bị quân nhu gấp liền.

 

2. Thoát Hoan sang đánh lần thứ hai:

Năm Đinh Hợi, lũ giặc Nguyên

An Nam thẳng tiến, ngang nhiên, hầm hừ.

Tin từ Trấn thủ báo thư

Trần Hưng Đạo mới chần chừ tính toan:

 

Ngặt là lũ giặc Thoát Hoan

Thêm ba mươi vạn nên còn thế hăng.

Ta trước sau tính phải chăng

Một đằng vườn trống, một đằng Hán Nam.

 

Ô Mã Nhi lòng nào cam

Chiêu Lăng hóa cám mới làm lại gan!

Dân tình cực khổ ly tan

Xâm lăng, tự cổ bạo tàn bất dung!

 

3. Trận Vân Đồn: Trần Khánh Dư cướp lương

của quân Nguyên:

Giặc Nguyên lương thực cạn cùng

Khánh Dư nghĩ kế, ung dung… cướp thuyền.

Mã Nhi, trước thắng, bụng yên

Sau khinh địch, xuống cửu truyền vấn vương…

 

Trương Văn Hổ nhận tải lương

Hết phương chống đỡ, kiếm đường thoát chân.

Giặc Nguyên hoảng hốt, phân vân

Nửa phần trốn chạy, nửa phần tử vong.

 

4. Trận Bạch Đằng: Ô Mã Nhi phải bắt:

Hưng Đạo dự đoán dễ không:

Quân Nguyên tháo chạy qua sông Bạch Đằng.

Mã Nhi ngu ngốc, hung hăng

Chẳng ngờ mắc kế “cọc giăng” giữa dòng.

 

Vướng cọc, bị bắt vào tròng

Phàn Tiếp, Lệ, Ngọc mang gông “Hiến phù”.

Xâm lăng tiếng xấu nghìn thu

Thoát Hoan hai chữ ”cương – nhu” nhớ đời!

 

Gương xưa, tích cũ có lời:

Mẹ cha nào muốn con rơi máu đào!

Chẳng qua mỗi Chúa một trào

Tướng thua, binh chết, hồn nào chẳng thiêng!

 

5. Hưng Đạo Vương đại phá Nguyên binh:

Thoát Hoan phải kiếm đường riêng

Gặp binh Ngũ Lão đương nhiên thất thần.

Ba ngàn binh của Trương Quân

Chủ mất vội chạy lấy thân trễ tràng.

 

Bằng Phi, Lỗ Xích vội vàng

Thoát tên thuốc độc, hợp đàng Tư Minh.

Trương Ngọc, Bát Xích bỏ mình

Xương trắng chất đống vô hình khí thiêng.

 

Nhà Trần đại phá quân Nguyên

Giang sơn thoát được oan khiên sấm rền.

Hai phen ngựa đá dập dềnh

Âu vàng thiên cổ vững bền núi sông.

 

Thăng Long khai tiệc mừng công

“Thái Bình diên yến”, mây trong, nắng lòa.

 

6. Sứ An Nam sang Tàu xin hòa:

Mậu Tý, Thiên Thứ xin hòa

Nhà Nguyên thua trận, xuê xoa thuận tình.

Nhân dân thoát cảnh điêu linh

Nhà Trần giữ chữ công, minh đức truyền.

 

Hiếu sinh, thả lũ giặc Nguyên

Nhưng theo Hưng Đạo: “đắm thuyền Mã Nhi”.

Vì hắn ác chẳng ai bì

Giết người thỏa chí, vậy đì… chết sông!

 

7. Định công, phạt tội:

Triều thần lắm kẻ hai lòng

Tham sống, sợ chết chẳng hòng Thiện – Chân.

Móc moi tội lỗi mà cân

Rỉ tai vua để phân trần, tiểu nhân!

 

Thượng Hoàng chẳng chút phân vân

Đem công thế tội, xử phân định lường.

Công thần đệ nhất Đạo Vương

Khánh Dư, Quang Khải, phong Vương nhất Hàm.

 

Huyền sử Toản bóp nát cam

Phá cường địch, báo hoàng ân” lập thề.

Tuổi mười sáu, sức tràn trề

Nhân, Hùng,Trí, Dũng dưới cờ Đạo Vương.

 

Trung thần Bình Trọng, Chiêu Vương

Ngũ Lão, Nguyễn Khoái… ban Vương, thưởng Hầu.

Đánh giặc, ai có công đầu

Cứ theo mà định, chẳng cầu tấu chương.

 

Võ, Văn công, tội tỏ tường

Thượng Hoàng về phủ Thiên Tường, giá băng.

Nguyên triều, Tất Liệt cũng… thăng

Đăng quang, vua mới thuận chăng: Nghị hòa.

 

Yên lành hóa giải nguy cơ

Nước Nam thoát khỏi những giờ chiến tranh.

 

Chương IX

NHÀ TRẦN

Thời kỳ thứ hai (1293-1341)

I. TRẦN ANH TÔNG (1293-1314)

Niên hiệu: Hưng Long 興 隆

1. Đức độ vua Anh Tông:

Vua hiếu thảo, phúc trời sanh

Thông minh trực chánh, tâm lành trị yên.

Ngài là thái tử Trần Thuyên

Hưng Long, niên hiệu Anh Tuyên, kế triều.

Cương thường chỉnh đốn mọi điều

Võ, Văn: Ngũ Lão, Hán Siêu vững vàng!

 

Phạm Ngũ Lão

Đời xưa kể chuyện thế gian:

Ngồi, tay đan sọt, lòng mang nước nhà.

Giữa đàng nào thấy lính qua

Đùi bị giáo “kích” vậy mà chẳng hay!

 

Đạo Vương mến kẻ dũng này

Cho về dưới tướng đêm, ngày lập công.

Dực quân Quản Thánh” được phong

Võ giỏi lại nổi văn phong: Thuật hoài”:

 

Giữa trời, “bày tỏ lòng tôi”

Nam nhi khúc hát xa xôi vọng về.

Trung quân, ái quốc vẹn thề

Đôi vai xã tắc, não nề tiếng ru.

 

“Non sông múa giáo mấy thu

Ba quân thế hổ nuốt Ngưu sao dần.

Làm trai danh chẳng trước sau

Nghe người kể chuyện Vũ Hầu, thẹn tai”.

 

* Mạc Đỉnh Chi: Trạng Nguyên

Đỉnh Chi nổi tiếng văn tài

Họ Mạc thời bé, con trai kẻ hèn.

Không dầu, bắt đóm làm đèn

Học hành đổ đạt xứng hàng Trạng Nguyên!

 

2. Trần Hưng Đạo Vương mất:

  (1300-20 tháng, Canh Tí)

Nước Nam yên ổn mọi miền

Đến phiên Thượng phụ hết duyên cõi phàm.

Công thần đệ nhất nước Nam

Thái sư, Nguyên soái với hàm Đại Vương.

 

Chuyện xưa cũng kể một chương

Trần Thừa chịu nhục mà nhường đứa dâu.

Thái sư Thủ Độ thâm sâu

Tráo ngôi, đổi vị mưu cầu lợi danh.

 

Trần Liễu trăn trối rành rành:

‘‘Thù nhà báo trả’’ hay đành phải quên?

Hiềm riêng, Vương quyết không nên

Vì dân, vì nước phải quên hận nhà.

Ba lần giữ lấy sơn hà

Anh em đoàn kết, một nhà phải thương.

 

Đời ngài đáng để làm gương

Uy quyền lớn chẳng giống phường tự kiêu.

Lo mình ít, nghĩ dân nhiều

Đi rồi, trung hiếu, mọi điều dạy vua.

 

Hơn đồ bán nước, hơn thua

Lo mà vơ vét, ganh đua thế thời.

Ngài đi non nước lệ rơi

Hương hoa thờ phụng cho đời đức tin.

 

3. Việc đánh Ai Lao:

Ai Lao quấy nhiễu dân tình

Vua sai Ngũ Lão đi bình mới yên.

Nghệ An, Thanh Hóa hai miền

Tai qua chiến sự, họa liền: giặc sinh.

 

4. Sự giao thiệp với Chiêm Thành:

Huyền Trân công chúa

Tàu – Nam hai nước bãi binh

Nam – Chiêm chẳng có chiến chinh, thái bình.

Chế Mân hôn ước định tình:

Hai châu Ô, Rí dâng xin lễ quà.

 

Nhữ Hài kinh lý phân ra

Đặt quan cai trị Thuận và Hóa Châu.

Trần Khắc Chung nén thương đau

Thân chinh tống tiễn, chia sầu kẻ đi…

 

Huyền Trân đội bóng Tây Thi

Khắc Chung như Phạm Lãi vì chúng sinh.

Dẫu là nhi nữ thường tình

Quốc gia đại sự phải mình biệt hương!

 

Huyền Trân nhận lãnh tai ương

Hai năm hoàng hậu thảm thương: Góa chồng!

Hỏa thiêu như tục thuần phong

Phi tần, hoàng hậu chết trong lửa Hời.

 

Mạng người nào phải đùa chơi

Anh Tông vội vã cho mời Khắc Chung.

Bàn nhau cách cứu em cùng

Trước sau theo kế phải dùng, đón ra.

 

Chế Mân vừa mới ra ma

Chế Chí lo lễ táng mà thế vua.

Lòng hay phản trắc hơn thua

Cho nên mới bị Trần vua bắt đì.

Người em Chế Chí nối vì

Hận sâu tích cũ, căm vì chuyện xưa.

 

Nhân Tông công đức đã thừa

Ngôi hăm mốt, Thượng Hoàng vừa sáu niên.

 

II. TRẦN MINH TÔNG (1314-1329)

Niên hiệu: Đại Khánh 大 慶 .

Giết cậu Trần Quốc Chân:

Thái tử Trần Mạnh nối phiên

Nghe lời nịnh hót, đảo điên sĩ hiền.

Công thần phải tiếng oan khiên

Thân sinh hoàng hậu chết phiền, oán mang.

 

Quốc Chân tình thật nào gian

Lại oan “mưu phản” mà mang xích xiềng!

Khen cho Trần Nhạc tham tiền

Vu gian chủ tướng, đáng nguyền lắm không?

 

Vì ghen, vợ vạch mưu chồng

Vua nông nổi mắc vào tròng kẻ gian!

Mấy dòng chép lại mà than:

Làm quan minh chánh, thế gian chẳng nhiều!

 

Can qua tức tưởi trong triều

Nhưng thời lúc ấy có nhiều đổi thay.

Chu Văn An dạ thẳng ngay

Tâu ”xin chém bảy kẻ hay nịnh thần”.

 

Siêu, Hài một dạ đỡ đần

Lão, Chi, Trung Ngạn góp phần lược thao.

Cùng nhau gìn giữ một trào

Đánh Chiêm Thành với Ai Lao quấy rầy.

 

Vẽ mình, tục cấm từ đây

Thâm tình một họ không bày kiện nhau.

Thái học sinh mở khoa đầu

Văn ôn, võ luyện cùng nhau giữ nòi.

 

III. TRẦN HIẾN TÔNG (1329-1341)

Niên hiệu: Khai Hữu 開 祐

1. 2. Giặc Ngưu Hống. Giặc Ai Lao:

Minh Tông ra chiếu nhường ngôi

Lên mười, thái tử Vượng ngồi ghế vua.

Hiến Tông hoàng đế kế thừa

Quốc sự mọi việc đều đưa Thượng Hoàng.

 

Thời ngài, giặc giã con con

Giặc trong Ngưu Hống và còn Ai Lao.

Quân Trần đánh, giặc cao bay

Quân Trần vừa tháo, lao nhao quấy rầy!

 

Hiến Tông hoàng đế yếu gầy

Mười ba năm vị, tới ngày phải xa.

 

Chương X: NHÀ TRẦN

Thời kỳ thứ ba (1341-1400)

I. TRẦN DỤ TÔNG (1341-1369)

1. Việc chính trị:

Nhằm khi vua trẻ băng hà

Người em lên kế hiệu là Thiệu Phong.

Thượng Hoàng định việc ngoài trong

Nhưng khi ngài mất, Dụ Tông rượu chè.

 

Đào hồ, đắp núi đâu dè

Ăn chơi, bài bạc… nào khe đói nghèo.

Giặc giã cướp phá ì xèo

Cơ đồ Trần đã bay vèo khỏi tay!

 

2. Việc giao thiệp với Tàu:

Bên Tàu, Nguyên cũng suy lây

Sĩ Thành, Hữu Lượng hai tay soán trào.

Họ Chu khởi nghiệp binh đao

Mười lăm năm đã lật nhào đế Nguyên.

 

Nhà Trần dẫu nhược uy quyền

Nhà Minh mới lập muốn liền nghỉ ngơi.

Chiêu an, Minh Đế mở lời

Dụ Tông sai sứ cống, thời được yên.

 

3. Việc giao thiệp với Chiêm Thành:

Chiêm Thành loạn lại đến phiên

Anh em dòng họ Chế liền chiếm ngôi.

Quân nhà Trần quá suy đồi

Đưa quân giúp Chế, thua oai, chạy về!

 

Chế Bồng Nga lúc bấy giờ

Vua Chiêm uy vũ tràn trề khí danh.

Đánh An Nam mở chiến tranh

Quân Trần không mạnh, tan tành dưới giông!

Duệ Tông, xa đọa thong dong

Mất năm Kỷ Dậu, không con nối dòng.

 

4. Dương Nhật Lễ:

Họ Dương có mẹ hát rong

Bỏ chồng, lấy Túc Vương ông ở triều.

Nhật Lễ tài chẳng bao nhiêu

Được Hoàng Thái hậu thương chiều mới ngông.

Triều thần chẳng chút đồng lòng:

Cung Định Vương mới là dòng dõi vua”.

 

Dương Nhật Lễ cũng chẳng vừa

Vong ân bội nghĩa có thừa ác tâm.

Dứt nhà Trần, mưu đã thâm

Thái hậu bị trảm, hại ngầm dượng nuôi.

 

Thương người có mắt mà đui

Ma xui, quỷ khiến mà nuôi đứa này!

Triều thần bắt Lễ phơi thây

Cung Tĩnh Vương được rước ngay, cùng ngày.

 

II. TRẦN NGHỆ TÔNG  (1370-1372)

Niên hiệu: Thiệu Khánh  紹 慶

Nghệ Tông nhu nhược cầu may

Cho người ngoại thích ứ đầy quyền quan.

Họ Hồ dòng dõi Chiết Giang

Sang ta, đổi họ, sắp ngàn kế trong.

 

Hai người cô lấy Minh Tông

Sanh hai thế tử gia phong nối dòng.

Nghệ Tông rồi đến Duệ Tông

“Trung tuyên hầu” chức phong phòng họa sau.

 

Hai năm, Hồ tính trong đầu

Nhâm Tí, ép Nghệ mau mau nhượng quyền.

 

III. TRẦN DUỆ TÔNG (1372-1377)

Niên hiệu: Long Khánh 隆 慶

1. Việc chính trị:

Em vua, thế tử thay phiên

Niên hiệu Long Khánh, tên miền: Duệ Tông.

Em Quý Ly cũng được phong

Lập làm hoàng hậu cùng tông họ hàng.

Họ Trần thiệt khéo làm ngang

Cô, dì, em, chú chẳng màng, lấy nhau!

 

2. Thi cử:

Giáp Dần, thi cử hàng đầu

Năm mươi Tiến sĩ vào chầu trước sau.

 

3. Việc đánh Chiêm Thành:

Quân Chiêm phá sập Hóa Châu

Duệ Tông thống lĩnh đánh nhau tuyến đầu.

Chế Bồng Nga với kế mầu:

Giả hàng” nên sớm lấy đầu Duệ Tông.

 

Lời thiêng vọng giữa thinh không

Vua ra chiến trận, mạng vong tế thần!

Tiên trách kỷ. Hậu trách nhân”

Đánh qua, giết lại chỉ ngần ấy thôi!

Giỏi cho một lũ bọ giòi

Bỏ vua mà chạy, bề tôi nghĩa gì!

 

Đỗ Tử Bình với Quý Ly

Hám danh, chuộng lợi khác chi hạng bần.

Duệ Tông bướng bỉnh một phần

Bỏ mình giữa trận, phong trần liệt cương!

 

IV. TRẦN PHẾ ĐẾ (1377-1388)

Niên hiệu: Xương Phu 昌衭

Lên ngôi cũng cháu Đế vương

Là Thái tử Hiển, tinh tường, trí thông.

Xương Phu đổi hiệu, đắng lòng

Mười một năm Đế, quyền không, bù nhìn.

 

1. Chiêm Thành sang phá Thăng Long:

Chiêm Thành đánh phá đô kinh

Ra vô như cá quẫy mình, sủi tăm.

Chế Bồng Nga quả không lầm

Vua Trần chẳng thể nào cầm quốc gia.

 

2. Tình thế nước Nam:

Sinh linh tán thán gần xa

Sưu cao, thuế nặng kêu la mỗi ngày.

Kho tàng trống rỗng trong tay

Thuế thân từ đấy giáng chày xuống dân.

 

3. Nhà Minh sách nhiễu:

Nhà Nguyên kết thúc số phần

Nhà Minh sách nhiễu ngàn lần vét vơ.

An Nam cống vật mệt khờ:

Tăng nhân, cây quý đưa về Bắc phương.

Giáp Tý, bắt cống thạch lương

Đòi hỏi đủ thứ đo lường thực hư.

 

4. Nghệ Tông thất chính:

Nghệ Tông chẳng thể công tư

Quân binh không có coi như mất quyền.

Triều thần chỉ nghĩ tư riêng

Quý Ly, vua lại ưu tiên cậy nhờ.

 

5. Lê Quý Ly mưu giết Đế Hiển:

Nhà Trần ngó bộ tàn giờ

Nên cho ngoại tộc thừa cơ truất quyền.

Họ Lê làm chuyện đảo điên

Giết chết Đế Hiển ngang nhiên giữa triều.

 

Thượng Hoàng tâm mỏng, lòng xiêu

Thương cho Đế Hiển ít nhiều liệt trinh.

Giải giáp” chẳng để cứu mình

Thân vua “thắt cổ” nhục hình, tội oan!

 

V. TRẦN THUẬN TÔNG (1388-1398)

Niên hiệu: Quang Thái 光 扆

1. Phạm Sư Ôn khởi loạn:

Chiêu Định con út Thượng Hoàng

Lên ngôi, dạ cũng héo hon cả lòng.

Quang Thái niên hiệu Thuận Tông

Làm vua tay vẫn trống, không chút quyền.

 

Giặc giã nổi dậy khắp miền

Vì “thượng bất chính“, quan viên bất bình.

Nguyễn Thanh tức Đức Vương – Linh.

Sư Ôn, Vương Kị dấy binh bên ngoài.

Lương Giang, một cõi, Quốc Oai…

Với cùng Nông Cống đánh hoài ngày đêm.

 

2. Chế Bồng Nga tử trận:

Thanh Hóa lại bị giặc Chiêm

Chế Bồng Nga dẫn quân thêm, phá thành.

Quý Ly bại trận, chạy nhanh

Thiệt là nhục nhã thanh danh tướng Trần.

 

Thắng thua cũng đã định phần

Thượng Hoàng sai tướng Khát Chân xuống đường.

Hết thời, lũ giặc nhiễu nhương

Khiến thằng đầy tớ cùng phương, khiếp liền.

 

Phản vua, nó chỉ đúng thuyền

Họ Chế trúng đạn, quan viên cắt đầu.

Bồng Nga lừng lẫy còn đâu

Tài cao Bắc Đẩu, thua nhau thế, thời!

 

Chạy đâu cho thoát cơ trời

Tranh đua xâm lược khiến đời phải chê!

 

3. Lê Quý Ly chuyên quyền:

Từ khi chiến sự yên bờ.

Quý Ly kia lại trở cờ soán ngôi.

Công thần bị giết không thôi

Nghệ Tông mọi sự coi mòi chẳng xong!

Như con chim đã vào lồng

Mượn lời Lưu Bị mà hòng gỡ nhơ.

 

4. Nghệ Tông mất:

Làm hại tôn tử mà ghê

Cơ đồ đổ vỡ là… nghề… Nghệ Tông!

Thông minh, khí chất đã không

Đen, hồng quáng mắt, hư tròng, nhuốc nhơ!

 

Ba năm trị nước khù khờ

Vào năm Giáp Tuất, xa bờ, lánh non.

Hưởng dương bảy bốn xuân son

Hăm bảy năm giết hết con cháu mình.

 

VI. Lê Quý Ly mưu sự thoán đoạt:

Thái sư phụ chính trớ trinh

Quyết định đại sự, cũng mình Quý Ly.

So Trần Thủ Độ khác gì?

Đều là cướp đoạt ngôi vì thế gia!

Cá nhân tuy dạ xấu xa

Nhưng mà “đối địch” cũng ra hạng chì!

 

1. Việc tài chính:

Việc tài chính đến việc thi

Lưu hành tiền giấy tức thì hạnh thông.

Giấy cây rêu bể: mười đồng

Cái sóng, ba chục; phượng, rồng tính cao.

 

Ai làm tiền giả: trảm đao

Tiền giấy dân dụng, đồng hào nộp vua.

Mười mẫu ruộng, dân được mua

Đại vương, công chúa ruộng… chùa cứ thâu.

 

Dân gian phạm tội như nhau

Ruộng điền kia cứ đổi hầu chuộc thân.

 

2. Việc học hành:

Trường thi theo lệ định phân

Ám tả bãi bỏ, thế chân tứ trường.

Bài kinh nghĩa thi nhất trường

Nhị trường:  thi phú, tam trường: biểu văn.

 

Thi Hội đã trúng, thì rằng

Làm thêm bài nữa định bằng thấp, cao.

Giáo chức lộ, phủ, châu nào

Châu: mười lăm mẫu, phủ vào mười hai.

 

3. Việc cai trị:

Y phục của các quan sai

Quý Ly định lại theo đai phẩm đồng:

Nhất, Nhị, Tam: tía đỏ hồng…

Cải tổ mọi thứ ngự phòng, đại đô.

Bởi lòng muốn dựng nghiệp Hồ

Làm bao người đã xuống mồ ngán ngao!

 

4. Lập Tây Đô:

Tây Đô – Thanh Hóa xây trào

Quý Ly dời chuyển ra vào hiếp vua.

Bính Tý, xúi đạo sĩ hùa

Vào xui vua phải vô chùa bỏ đao.

 

Ép màn: ”Nhường nhịn ngôi cao”

Thuận Tông phải đổi áo bào mới yên.

Mười năm tại vị quá hiền

Vua gì chẳng chút binh quyền tới tay!

 

5. Sự phế lập Trần Thiếu Đế (1398-1400):

Hạ hồi thiệt, giả nào hay

Thái tử ba tuổi, Hồ… bày giữa ngôi.

Kiến Tân lấy hiệu cho… oai

Hai năm đã bị phế ngôi, truất quyền!

 

Còn đâu vua sáng, tôi hiền

Cha truyền con nối, hết duyên họ Trần!

Thương loài tầm gởi náo thân

Cười đời con rận nương phần tóc râm.

 

Mười hai đời – cả trăm năm

Một thế kỷ quá thăng, trầm máu tanh!

Chống Mông Cổ, phá Chiêm Thành

Sửa sang bề cõi, rạng danh nước nhà.

 

Để rồi mất nước, chẳng qua

Nghệ con sa đọa, Dụ cha mắt lòa.

Để anh em chị gần xa

Lấy nhau loạn xạ đúng là loạn luân!

 

Chương XI

NHÀ HỒ 葫    (1400-1407)

I. Hồ Quý Ly: (1400)

Niên hiệu: Thánh Nguyên 

Quý Ly chẳng chút bâng khuâng

Họ Lê vội đổi ra khuôn Hồ – Tàu.

Nhà Ngu” vốn tổ từ lâu

“Đại Ngu” cải hiệu, mà đau giống dòng.

 

Theo Hồ, Quốc tổ” mà phong

Thánh Nguyễn” lấy hiệu để hòng phước sau.

Chưa chi đã phải đánh nhau

Trước sau gì cũng thua đau Chiêm Thành.

 

Làm vua chưa được rạng danh

Muốn làm Thái Thượng, Hồ đành nhượng ngôi.

 

II. HỒ HÁN THƯƠNG (1401-1407)

Niên hiệu: Thiệu Thành   

1. Việc võ bị:

Hán Thương nối nghiệp cha rồi

Làm vua cho có vị thôi, gọi là…

Triều cương lớn nhỏ, gần xa

Trong ngoài chính sự phải qua họ Hồ.

 

2. Việc sưu thuế:

Thuyền buôn theo loại mà hô

Nhất nhị tam cứ ra vô tính tiền.

Nhà Hồ định lại thuế điền

Làm như thuyền loại, thu tiền giống nhau.

 

3. Việc học hành:

Toán Pháp được đặt hàng đầu

Thêm trường, thêm cách ngõ hầu mở mang.

Đậu thi Hương muốn làm quan

Phải vào Bộ Lễ qua màn kiểm văn.

 

Thi Hội đã đổ, quan đăng

Thái học sinh bảng đỏ giăng rỡ ràng.

Y tỳ coi việc thuốc thang

Coi như cải cách mở mang nhà Hồ.

 

4. Việc giao thiệp với Chiêm Thành:

Với Minh, lượn đợt sóng xô

Họ lăm lăm cứ muốn vồ An Nam.

Với Chiêm Thành, dạ chẳng cam

Mộng xa đánh lấy đất Chàm, cất binh.

 

Nhâm Ngọ, Đỗ Mãn xuất chinh

Vua Chàm Ba Đích Lại xin hiếu hòa

Cổ Lụy, Chiêm Động khói lòa

Dân Chàm bỏ đất, bóng nhòa xót xa.

 

Được voi đòi tới tiên nga

Hai mươi vạn lính đánh qua Chiêm Thành.

Nguyên Khôi, Đỗ Mãn hư danh

Đồ Bàn chẳng đổ mới đành rút binh.

 

5. Việc giao thiệp với nhà Minh:

Nhà Minh tham vọng hết mình

Mượn chuyện Hồ giết Thiêm Bình, nổi phong.

Thiêm Bình dòng dõi Nghệ Tông

Khi không đem cả tổ tông tế thầy.

 

Ngôi vua Trần mất nào hay

Nghệ Tông mờ trí sinh bầy cháu đây.

Họ Hồ kia đã lên thay

Đánh Minh thấy cũng chung xây nước nhà.

 

Nhà Minh một lũ quỷ ma

Chu Năng, Mộc Thạnh với là Lý Bân.

Trả thù nên mới xua quân

Làm ra cái cớ “phù Trần” lấn chân!

 

6. Nhà Minh đánh họ Hồ:

Quý Ly chuẩn bị mọi phần

Nhưng ngôi soán nghịch, mất dần bụng dân.

Trương Phụ dùng kế ly thân

Truyền hịch kể tội bất nhân họ Hồ.

 

7. Thành Đa Bang thất thủ:

Thành Đa chẳng thể phá vô

Mộc Thạnh cho đốt lửa khô phá lần.

Thành Đa thua đã mười phân

Đông Đô cướp của, hiếp dân, bắt người.

 

8. Trận Mộc Phàm Giang:

Đinh Hợi, Mộc Thạnh trêu ngươi

Dàn quân thuỷ lục nuốt tươi Nguyên Trừng.

Ba trăm thuyền chiến giữa chừng

Hai bên lính giặc như rừng phủ giăng.

 

Quân Mộc Thạnh khí đang hăng

Bình Than, bỏ hẳn, Hồ… thăng Bến Hàm.

Nhà Lê công cán đã làm

Họ Hồ tay đã nhúng chàm, trống khô!

 

9. Trận Hàm Tử Quan:

Thua đau, tức tưởi nhà Hồ

Như sói mắc phải cọp vồ trong mưa!

Đâu là Hàm Tử Quan xưa

Giặc chưa đánh đến, lính… đưa giáo hàng!

 

Núi Cao Vọng, họ Hồ tàn

Khi bị bắt sống, người hàng, kẻ không.

Bảy năm công sức đổ đồng

Dã tràng xe cát biển đông máu đào.

 

Vinh hoa giống tựa chiêm bao

Phú quý thoáng chốc lao xao thác gào!

Làm chi cái chuyện loạn trào

Gây bao nhiêu cảnh máu đào sát sinh.

 

Ham danh chỉ nghĩ lợi mình

Lo tranh quyền lực, quên tình nước non.

Cầu người, ”nhục thể bất quờn”

Chỉ đi rước cáo, rửa hờn vịt thôi!

 

Chương XII

NHÀ HẬU TRẦN 陳 後 (1407-1413)

1. Nhà Minh chiếm giữ đất An Nam:

Nhà Minh giả dối nước đôi:

Phù Trần” là cách hạ hồi. Hỡi ôi!

An Nam đã chiếm được rồi

Mới lòi đuôi cáo tha mồi tới hang.

 

Cắt quan cai trị tham tàn

Đất chia muời bảy Phủ đàng, năm Châu.

Mười hai Vệ giữ yếu đầu

Ba ti “Bố, Án, Chưởng” hầu dã tâm.

 

Phẩm hàm tặng kẻ… sơn lâm

Tài đức, học giỏi tráo nhầm giả, chân.

Cho thành quan phủ, quan thân

Ai người liêm sĩ mà cần lợi danh?

 

2. Giản Định Đế (1407-1409):

An Nam tình thế mong manh

Lữ Nghị, Hoàng Phúc thi hành thế oai.

Ai mong thoát kiếp tôi đòi

Noi theo Trần Quĩ hạ hồi lập công.

 

Trần Quĩ con thứ Nghệ Tông

Xưng hiệp Hưng Khánh, tay không dựng Trần.

Chiếm Châu, binh được mấy phần

Quan lại, hào kiệt, quân dân lại hầu.

 

3. Trận Bô Cô:

Quân Minh bốn vạn tan mau

Lữ Nghị bỏ mạng thân… trâu, đáng đời!

Dèm pha, Giản Đế hợt hời

Nghe lời kẻ nịnh, đầu rơi đại thần.

 

4. Trần Quý Khoách (1403-1413):

Còn đâu Đặng Tất, Cảnh Chân…

Công thần lại nhận phước phần chẳng may!

Đặng Dung, Cảnh Dị buồn thay

Rời vua vì phụ thân rày thác oan.

 

Trần Quý Khoách được suy tôn

Cũng là cháu của Nghệ Tông – Thượng Hoàng.

Lên ngôi lấy hiệu Trùng Quang

Hòng mong khôi phục giang san họ Trần.

Nhưng mà mỗi cõi tự phân

Hiệu lệnh không nhất, quân dân mất đầu.

 

5. Trương Phụ trở sang An Nam:

Trương Phụ thắng trận, giết ngầu

Rút xương, nấu thịt, chảy dầu ngó chơi!

Ác nhơn, ai nấy rụng rời

Hung đồ đắc ý, coi trời cái vung!

 

Quân Hậu Trần lắm tin hung:

Giản Định bị bắt, quân trung tận cùng.

Giặc bao vây đánh tứ tung

Hóa Châu thất thủ, chết chung tướng Trần.

 

Nguyễn Biểu không hổ sứ thần

Mắng giặc bị giết, xứng thân kẻ hùng.

Phần Trần Quý Khoách, Đặng Dung

Cảnh Dị… tử tiết, gương trung rạng ngời.

 

6. Hóa Châu thất thủ:

Thái Phó tiếng xấu để đời

Phan cha hàng giặc, con thời bất trung.

Phan Liêu giở thói gian hùng

Bao nhiêu tướng sĩ khai cùng họ Trương.

 

Trương Phụ nhân thế đã tường

Bàn qua Mộc Thạnh mở đường Hóa Châu.

Đặng Dung, Nguyễn Suý chặn đầu

Lên thuyền Trương Phụ biết đâu người nào?

 

Trương Phụ khí số còn cao

Thuyền con xa chạy, rồi vào đánh ra.

Hậu Trần vua tướng ra ma

“Sĩ bất khả nhục” bài ca để đời.

 

“Thuật Hoài” truyền tụng mọi nơi

Đặng Dung viết với những lời đắng cay:

Tuổi già bao việc rối thay

Vô cùng trời đất hưởng say cuộc này.

Gặp thời, bần tiện ngất ngây

Anh hùng lỡ bước ngẫm cay đắng thừa.

 

Nghiêng vai đội đất phò vua

Tẩy binh gội rửa mây đùa gió trong.

Bạc đầu, thù nước chửa xong

Mài gươm dưới bóng trăng trong bấy rày”.

 

Bảy năm máu chảy sông đầy

Lòng người ly tán, xương dày núi cao!

Non sông lại tắm máu đào

Hờn căm một thuở anh hào có hay?

 

Chương XIII

THUỘC NHÀ MINH (1414-1427)

1. Việc chính trị nhà Minh:

Nhà Minh sinh sát trong tay

Thẳng lưng bóc lột, đọa đày nước Nam.

Đồng hóa” sách lược đã làm

Phong tục, tập quán phải cam với Tàu!

 

2. Việc tế tự:

Hoàng Phúc bắt các phủ, châu

Bách thần, Văn miếu thi nhau phụng hầu.

 

3. Cách ăn mặc:

Bắt dân ăn mặc theo Tàu

Tóc không cho cắt mà hầu hóa dân.

 

4. Sự học hành:

Mở nhà học dạy các phần:

Âm dương, thầy thuốc… đều cần chức quan.

Sư tăng, đạo sĩ đăng đàn

Giảng truyền đạo lý cho hàng thứ dân.

 

Tứ Thư, Tinh Lý mà phân

An Nam sách vở đong cân lấy về.

Chức quan phân bổ ê chề

Hiếm hoi như đếm hai bờ ngón tay!

 

5. Việc trạm dịch:

Đông Quan – Hà Nội ngày nay

Đến Gia Lâm chạy giấy ngày: Ngựa phi.

Còn thì thuyền biển kéo đi

Hai loại trạm dịch: Ngựa phi với thuyền!

 

6. Việc binh lính:

Tính theo sổ bộ phân biên

Hai hay ba xuất tùy miền có dân.

 

7. Phép Hộ thiếp và Hoàng sách:

Mỗi người có giấy hộ thân

Ghi tên tuổi với gia phần ở đâu?

Tên không đúng giấy, tóm mau

Bắt đi làm lính đương đầu súng gươm.

Lý trưởng, Giáo thủ gờm gờm

Coi việc Lý, Giáp roi đòn gớm ghê!

 

8. Việc thuế má:

Dâu mỗi mẫu, một lạng tơ

Mỗi cân tơ thuế một tờ lụa trơn.

Thuế ruộng chẳng có nhẹ hơn

Còn thêm thuế muối xanh dờn mặt dân.

 

9.Việc sưu dịch:

Trương Phụ rồi đến Lý Bân

Thêm Mã Kỳ nữa ác nhân lạ nòi.

Phu phen, khổ ải muôn nơi

Lên rừng, xuống biển tàn hơi một đời.

 

10. Quan lại:

Duy Trung, Nhữ Hốt hợt hời

Nguyễn Huân nịnh giặc dựa hơi, đáng nguyền.

Vô liêm sĩ đến thản nhiên

Tham lam vơ vét của riêng một mình.

 

Non sông máu đổ chiến chinh

Lam Sơn khởi nghĩa, Chí Linh nặng thề.

 

 

Chương XIV

MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU

            (1418-1427)

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - LỜI GIỚI THIỆU

    Với Việt Nam lục bát sử, nữ tác giả đa tài Ngọc Thiên Hoa lại đem đến cho độc giả một bất ngờ thú vị. Bất ngờ vì lâu lắm rồi mới lại có người để mắt tới Sử…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN I

    VIỆT NAM L ỤC B ÁT SỬ NƯỚC VIỆT NAM (越 南) 1. Quốc hiệu: Hồng Bàng lập nước Văn Lang Âu Lạc, Thục Phán sửa sang bội phần.   Tượng Quận gọi bởi nhà Tần Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam: Cửu…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN II

    Chương VI NHÀ TRẦN (1275-1400) Thời kỳ thứ nhất (1225-1293) I. TRẦN THÁI TÔNG (1225-1258) Niên hiệu: Kiến Trung 建 中 1. Trần Thủ Độ: ... Thủ Độ bày vẽ mông lung Cướp ngôi nhà Lý gian hùng,…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN III

    Chương XIV MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU             (1418-1427) 1. Lê Lợi  (鯬 利) khởi nghĩa ở Lam Sơn: Lam Sơn ruộng núi muôn bề  ... Lê Lợi giàu có bằng nghề ruộng nông. Giúp người hào kiệt lưu vong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN IV

    Quyển IV TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (1528-1802) (Thời kỳ Nam Bắc phân tranh) NHÀ HẬU LÊ  黎 後  Thời phân tranh (1533-1788) ... Chương I LỊCH TRIỀU LƯỢC KỶ Nước Nam một cõi biển Đông Ngô Vương đuổi Hán uy phong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN V

    Chương IX HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA (1510-1786) 1. Chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ: Trịnh Sâm bỏ trưởng, dâm tà Mê say Thị Huệ nên sa thế cùng.  ... Cho mình một đấng anh hùng…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VI

    Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840) 1. Sự giặc giã: Tiêm, Lào quấy nhiễu Nam, Tây Cựu thần Lê dấy đó đây Bắc Kỳ. .... Quan trường chỉ giỏi chi li Thần dân bất mãn: Vua chi hẹp…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VII

    Chương XI PHÁP CHIẾM  LẤY BẮC KỲ Lần thứ hai (1882) 1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội: Người Pháp có giấy thông thương   ... Bị giặc Khách chận trên đường Vân Nam. Pháp bèn bắt lỗi…