VIỆT NAM L ỤC B ÁT SỬ

ỚC VIỆT NAM ( )

1. Quốc hiệu:

Hồng Bàng lập nước Văn Lang

Âu Lạc, Thục Phán sửa sang bội phần.

 

Tượng Quận gọi bởi nhà Tần

Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam:

Cửu Chân, Giao Chỉ, Nhật Nam

Giao ChỉĐông Hán đổi làm Giao Châu.

 

Nhà Đường nước chiếm, nhà thâu:

“An Nam đô hộ phủ”, sầu quốc vong!

Nhà Đinh dẹp loạn sứ xong

Đổi Đại Cồ Việt ngoài trong một lòng.

 

Sang đời nhà Lý Thánh Tông

Xưng danh Đại Việt, tuyên ngôn sử hồng.

Cùng thời, vua Lý Anh Tông

An Nam quốc” nhận gia phong Tống triều.

 

Bắc Nam tranh chấp tiêu điều

Gia Long thống nhất, xây triều Việt Nam.

Dân tình khổ cực đã cam

Việt Nam, Minh Mệnh đổi làm Đại Nam.

 

Bá quyền chưa bỏ ý tham

Phương trời đất Bắc nhúng chàm đảo điên.

Sử vàng dệt một trường thiên

Việt Nam hai chữ gắn liền tự do!

 

2. Vị trí, diện tích:

Việt Nam chữ S quanh co

Thắt lưng buột bụng, ấm no hai đầu.

Xem qua số sướng, sang giàu

Ai ngờ mấy kỷ vương sầu, xót xa!

 

Đông – Nam hai hướng đi qua

Ký lô vuông khoảng vào ba trăm ngàn!

Đông Nam rào cản Hải Nam

Miếng mồi tranh chấp mộng tham của Tàu.

 

Miền Tây giáp giới Ai Lao

Vương triều một cõi ngày nào: Cao Miên.

 

3. Địa thế:

Bắc – Trung – Nam cả ba miền

Gần Tàu ấm lạnh chia phiền với ta!

Sông sâu nước thẳm Hồng Hà

Thái Bình, miền Bắc phù sa đắp bồi.

 

Trời sinh núi cặp, người đôi

Trung xuôi, Thượng ngược sinh sôi tháng ngày.

Miền Trung cát trắng đong đầy

Trường Sơn một giải trời mây thắm hồng.

 

Miền trong, ruộng nước khai thông

Đồng Nai cuộn sóng sánh dòng Cửu Long.

Chung tay gắng sức vun trồng

Chen vai cuốc đất, cày đồng, trổ mương.

 

4. Chủng loại:

Giống nòi chung một tình thương.

Thái, Mèo, Chàm, Mán, Mọi, Mường, Khách, Vân…

Người Kinh chiếm bảy, tám phần

Sáu mươi sắc tộc góp phần giữ quê.

 

5Gốc tích:

Ta, Tàu, Tây đã thống kê:

Tây Tạng đất tổ, cội bờ nam đông.

Hoàng Hà cùng với Mê Kông

Bắc có Việt – Thái, nam: dòng Tam Miêu.

 

Cội nguồn trên cũng là… điêu

Ngón chân giao chỉ ít nhiều thiện chân.

Lai ngàn năm dễ gì phân

Trước sau dân cũng chuyên cần vạn năm.

 

Trăm năm cũng ánh trăng rằm

Ngàn năm vẫn kiếp con tằm nhả tơ.

 

6. Người Việt Nam:

Da vàng trọn nghĩa phu thê

Thông minh, trí tuệ, trăm nghề thủ thân.

Chữ “Lễ, Trí, Tín, Nghĩa, Nhân”

Luân thường đạo lý đã phân rõ ràng!

 

Đàn bà mẫu mực, trung can

Tiết, Nghĩa, Cần, Kiệm” đảm đang việc nhà.

Đàn ông giữ vững sơn hà

Xông pha sóng gió xứng là… mày râu!

 

Dầu rằng vóc sắc khác nhau

Cho dù tốt, xấu cũng đâu khác nguồn?

Muôn lòng giữ cội, gìn khuôn

Bắc – Nam kết một chiếc xuồng Việt Nam!

 

7. Sự mở mang bờ cõi:

Rồng trong giếng cạn nào cam

Tổ tiên theo biển phía nam mở bờ.

 

8. Lịch sử Việt Nam:

Cha ông lập nước đến giờ

Nếm khổ sở, sống vật vờ gió mưa.

Tự cường, tự chủ vẫn thừa

Sử xanh dệt để ngăn ngừa lũ lam.

 

Quyển I

THƯỢNG CỔ THỜI  ĐẠI

             

Chương I

1. Họ Hồng Bàng 鴻 龐

Đế Minh tuần thú Hồ Nam

Cảm nàng tiên nữ, kết làm phu thê.

Sinh ra Lộc Tục, bấy giờ

Cùng anh nam bắc chia bờ mỗi phương.

 

Lộc Tục xưng Kinh Dương Vương

Quốc hiệu Xích Quỷ liệu lường bão giông.

Thần Nông cháu lấy nàng Long

Con Đình quân cũng phi phong cốt thần.

Sinh Sùng Lãm – Lạc Long quân

Năm đời vương giả, đế nhân khác phàm.

 

2. Nước Văn Lang 

(2879 – 258 trước Tây Lịch)

Người xa bến bãi sông Lam

Ta về Đồng Tháp không cam lỗi thề!

“Giấy rách còn giữ lấy lề”

Người Việt đâu cũng nhớ về chốn quê.

 

Lạc Long Quân lấy Âu Cơ

Mười lăm bộ họp dưới cờ Văn Lang.

Họ Hồng Bàng, giữ giang san

Mười tám đời rạng ngai vàng Hùng Vương!

 

3. Chuyện cổ tích về đời Hồng Bàng:

Giặc Ân thua bởi nhiễu nhương

Thiên Vương Phù Đổng phi thường lớn mau.

Núi cao theo nước nông, sâu

Năm nào Sơn, Thủy tranh cầu Mỵ nương.

 

Sử xanh chép lại mà thương:

Chử Đồng Tử khổ mới tường Tiên Dung.

Lòng trời lượng cả bao dung

Tu nhân, tích đức hòa chung tiếng cười.

 

Chương II

NHÀ THỤC (258-207 trước Tây Lịch)

1. Gốc tích nhà Thục:

Thục Phán lấy đất, chiếm người

Văn Lang, Âu Lạc, đồng thời nhập chung.

Thục – Tàu chẳng thể cùng vùng

Khâm định Việt sử bàn cùng một chương.

 

2. Nước Âu Lạc:

Phong ba, nắng gió ai lường

Xây trang huyền thoại Mị nương ngậm ngùi.

Hờn vây, oán trả nào nguôi

Duyên tình tráo trở, bùi ngùi thế gian.

 

3. Nhà Tần đánh Bách Việt:

Ai xui Thục chiếm Văn Lang

Cho chàng Trọng Thủy lừa nàng Mỵ Châu.

Giặc Tần gieo rắc thương đau

Thục Phán – Bách Việt, lấy đầu Đồ Thư.

 

4. Nhà Thục mất nước:

Loa thành nhà Thục thật, hư:

Nỏ thần trăm phát”? Gian mưu Triệu Đà:

Se duyên, Thục – Triệu thông gia

Đà mang giảo kế lừa nhà Thục Vương.

 

Xót nàng duyên gãy mà thương

Tội nàng tình thiệt vạ vương rụng rời.

Triệu Đà được nỏ, nuốt lời

An Dương Vương phải bỏ đời giữa khơi!

 

Chương III

XÃ HỘI NƯỚC TÀU VỀ ĐỜI

TAM ĐẠI VÀ ĐỜI NHÀ TẤN

Triệu – Thục hỗn chiến máu rơi

Bên Tàu, nhà Hán đánh rơi họ Tần.

1. Phong kiến:

Mỗi người thủ lãnh một phần

Lập thành một nước, cống thần mỗi năm.

Chư hầu có đến tám trăm

Chia công, hầu, bá, tử, nam hưởng cùng.

 

2. Quan chế:

Tam công, nhà Hạ ra khung:

Đại khanh, Nguyên sĩ với  cùng Cửu khanh.

Nhà Ân, hai tướng, năm quan

Sáu quan thái, sáu phủ đàn, sáu công.

 

Sáu quan, đặt bởi Chu Công

Thiên, Xuân, Địa, Hạ, Thu, Đông, được thành.

Thiên quan, cấp đứng đầu ngành

Tên là Chủng tể, tuần hành ở trong.

 

Đại tư đồ giữ thương, công

Giáo dục, cảnh sát, hội đồng: Địa quan.

Đại tư mã, đầu Hạ quan

Cầm binh phụng mạng, trị an nước nhà.

 

Tam công một chức đặt ra

Quan trên chính sự, dưới là lục quan.

Hành chính chẳng được cùng can

Tam cô, Thái, Thiếu phó bàn chiến chinh.

 

3. Pháp chế:

Đời Thái Tổ có năm hình

Thêm roi da với đày mình: tội lưu.

Nhà Ân, nhà Hạ, nhà Châu

Lăng trì, mổ, muối, chặt đầu, xé thây…

 

4. Binh chế:

Năm người, nhập ngũ binh ngay

Quân, Sư, Súy, Lữ mỗi tay một phần.

Thiên tử thì có sáu quân

Nước nhỏ được một, chư thần được ba.

Nhà, Tỉnh từ Nước mà ra

Ấp, Khâu, Điện có cổ xatrăm người.

 

5. Điền chế:

Mười phần ruộng lấy một mươi

Đi theo Phép cống tùy thời biến thiên.

 

Ân, Chu dùng phép Tỉnh điền

Công, tư hoa lợi, nộp liền đức vua.

Người nông của chẳng dư thừa

Giàu nghèo cấp bậc thì chưa rõ ràng.

 

Lý Khôi, Chiến quốc, luật ban:

Toàn dân làm ruộng, chẳng màng phép chi.

“Thiên mạch” được mở tức thì

Hai phép Cống, Tỉnh biệt ly, bất hoàn.

 

6. Học hiệu:

Vua, quan, nếu có sinh con

Vào trường Đại Học đọc mòn lễ, thư.

Tiểu học dạy phép công tư

Kính, nhường ứng xử, dùng từ khéo khôn.

 

7. Học thuật:

Đời Chu có lắm danh ngôn

Khổng, Lão lễ nghĩa tiếng đồn chẳng ngoa.

Mặc Định kiêm ái, ôn hòa

Hàn Phi, Quỷ Cốc sáng lòa hiếu nhân.

 

8. Phong tục:

Công, thương, nông, sĩ đã phân

Phu tùy, phụ xướng mười phần lễ nghi.

Tổ tiên thờ phụng kính tri

Đến đời Ngũ bá mất đi tục này.

Văn minh Tần đã đổi thay

Triệu Đà truyền luật mới này mọi nơi.

 

Chương IV

NHÀ TRIỆU 

(207 – 111 trước Tây lịch)

1. Triệu Vũ Vương:

Tránh cho máu chảy đầu rơi

Triệu Vũ Vương mới chịu lời Hán Vương.

Nam Việt một cõi nhún nhường

Vua con yếu nhược, tính phương bán nhà.

 

2. Vũ Vương thụ phong nhà Hán:

Vũ Vương lập nghiệp bên ta

Bên Tàu, Hán diệt Sở là Lưu Bang.

Cao Tổ thấy Vũ đăng quang

Bèn sai Lục Giả chiêu hàng, tấn vương.

 

Kiêu căng, Vương mới coi thường

Lục Giả phân giải hư tường, mới thông.

 

3. Vũ Vương xưng Đế:

Khi Cao Tổ khuất ngôi rồng

Lữ Hậu quay lại tranh dòng, lấn vua.

Cấm quan hệ với bán mua

Vũ Vương bất mãn mới xua lính càn.

 

Xưng làm Hoàng Đế lại gan

Trường Sa đánh tới, mở màn chiến chinh.

Quân Hán chẳng thuộc địa hình

Không quen thủy thổ muôn tình bệnh đau.

Quay đầu rút chạy về mau

Thanh thế Vũ Đế ngầu ngầu đỉnh thiên.

 

4. Vũ Vương thần phục nhà Hán:

Hán Văn Đế gởi thư riêng

Lục Giả nhận biển, trao liền Vũ Vương.

 

“Trẫm nay mọi việc đã tường

Lấy lại đất nước từ phường Lữ gian.

Quần thần thúc ép đăng quang

Nay thư gởi đến vua bàn chuyện binh.

 

Vì dân, trẫm mới cầu xin

Trường Sa hỗn loạn, dân tình khổ đau.

Nhà vua hãy rút binh mau

Hai bên chiến loạn thêm sầu thế nhân.

 

Đôi lời trẫm đã tường phân

Mộ phần đã sửa ở Chân Định rồi.

Hai nơi mấy núi xa xôi

Ganh nhau chẳng khác chi nòi tiểu nhân”.

 

Lời thư tử tế hiền nhân

Tin lời, Vũ Đế xưng thần Hán cao.

Giáp Thìn, Triệu Vũ bãi trào

Trăm hai mốt tuổi đi vào vạn thu.

 

5. Triệu Văn Vương:

Văn Vương trí nhược, tâm nhu

Lên ngôi, giặc giã biên khu loạn ngầu.

Quân nhà Hán cứu binh nhau

Mân Việt giết chúa nạp đầu mới yên.

 

Mời chầu, Trang Trợ phụng thiên

Vũ Vương chẳng chịu mới liền gởi con.

Anh Tề Thái tử tâm non

Mười năm lạc nước nên mòn nghĩa quê.

 

6. Triệu Minh Vương:

Nghe Vũ mất, Anh Tề về

Lập hậu, xưng Đế đâu ngờ kẻ gian.

Tư thông kiếm lợi hai đàng

Cù bà vợ lẽ, ra màn cướp ngôi.

 

7. Triệu Ai vương:

Minh Vương khi đã mất rồi

Thái tử Hưng được lên ngôi trị vì.

Hán sai Thái Qúi tùy nghi

Cùng bà Thái hậu thị phi mập mờ.

 

Dụ con dâng nước, bán bờ

Hai bên chỉ đợi đến giờ nạp ra.

May nhờ Tể tướng Lữ Gia

Vạch mưu Cù Thái hậu và Ai Vương.

 

Người Nam đánh Hán kiên cường

Cho rằng vĩnh cữu, ai tường bại vong!

 

Quyển II

BẮC THUỘC THỜI ĐẠI

            

(111 tr. Tây lịch – 931 s. Tây lịch)

BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT

1. Chính trị nhà Tây Hán:

Vũ Đế chiếm Đại Việt xong

Đổi Giao Chỉ bộ mà hòng nuốt tươi.

Thái thú, Thứ sử trêu ngươi

Lạc hầu, Lạc tướng, chia người trực phiên.

 

Thạch Đái đóng phủ Long Yên

Là quan thứ sử trước tiên quận này.

Vương Mãng cướp Hán vào tay

Tích Quang, Đổ Mục thẳng ngay chẳng về.

Đến khi Quang Vũ yên bề

Quang, Mục, Đặng Nhượng theo lề cống sang.

 

2. Tích Quang và Nhâm Diên:

Thái thú Giao Chỉ: Tích Quang

Khai hóa, dạy nghĩa cho hàng thứ dân.

Nhâm Diên, Thái thú Cửu Chân

Chăm lo khai khẩn, canh tân ruộng đồng.

 

Chương II

TRƯNG VƯƠNG   (40-43)

1. Trưng thị khởi binh:

Thời kỳ Bắc thuộc long đong

Thù chồng, khởi nghĩa, Châu Phong lập thề.

Người Giao Chỉ lại cùng về

Ba năm dựng nước theo cờ Nhị Vương.

 

Tô Định bạo ngược khôn lường

Giết người Giao Chỉ không tường thị phi.

Bắt Thi Sách đem giết đi

Hai Trưng Trắc, Nhị tức thì khởi binh.

 

Con dòng Lạc tướng Mê Linh

Đuổi quân Tô Định mà bình đất Nam.

Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam

Chẳng bao lâu hạ sáu lăm thành trì.

 

Xưng vua, lừng lẫy ai bì

Mê Linh đóng phủ, uy nghi một miền.

 

2. Mã Viện sang đánh Giao Chỉ:

Tân Sửu, Quang Vũ lệnh truyền

Phục Ba Mã Viện, binh liền thẳng dong.

Đoàn Chí cùng với Lưu Long

Phó và thuyền tướng tháp tòng xuất chinh.

 

Hai bên giáp chiến tử sinh

Hát Môn đẫm máu giấu hình Nữ Vương.

Trung lưu nữ kiệt can trường

Thua cơ Mã Viện, cùng đường nhảy sông.

 

Sông xanh nước chảy mênh mông

Ghi trang quốc sử muôn dòng tiếc thương.

Hồn thiêng phảng phất trong sương

Hát Giang sông sáng soi gương Hai Bà!

 

Ba năm một cõi sơn hà

Nghìn năm Bắc thuộc sao mà sánh qua!

Anh thư, lịch sử nước ta

Nữ vương chỉ có Hai Bà, chẳng ai!

 

Qúy Mão mồng sáu tháng hai

Hương hoa khói tỏa tạc đài ngợi ca!

 

Chương III

BẮC THUỘC LẦN HAI (43-544)

I. NHÀ ĐÔNG HÁN:

1. Chính trị nhà Đông Hán:

Nhà Đông Hán trị dân ta

Tham tàn, hiếp đáp quả là Khuyển Ưng.

Người Giao Chỉ khổ vô chừng

Tìm vàng dưới biển, lên rừng kiếm châu.

 

2. Lý Tiến và Lý Cầm:

Nhân tài bị bỏ, còn đâu

Lý Cầm, Lý Tiến cùng nhau khẩn cầu.

Hán Minh Đế ngẫm lời tâu

Thăng quan chức hậu, nể nhau mấy phần.

Trương Trọng đi sứ cầu thân

Năm phần cứng cỏi, năm phân nhún nhường.

 

Nhìn người chớ có khinh thường

Nhân tài trí dũng, ai nương tướng ngoài.

 

3. Sĩ Nhiếp (187- 226):

Người nước Lỗ, đổ mậu tài

Tránh loạn biên tái nên ngài đến ta.

Đời Hiến Đế, năm thứ ba

Trong Châu giặc giã, xin ra trấn ngoài.

 

Đình hầu thọ sắc phong rồi

Tướng quân An Viễn đến hồi trị gia.

Lấy điều phép tắc xây nhà

Nhân dân trọng đức tôn là Sĩ Vương.

 

II. ĐỜI TAM QUỐC (220-265)

1. Nhà Đông Ngô (222-280):

Đông Ngô thế mạnh hùng cường

Nhà Đông Hán đã vào đường thế cô.

Nước Tàu xé lẻ địa đồ

Giao Châu lệ thuộc Đông Ngô Tôn Quyền.

 

Bính Ngọ, Sĩ Nhiếp quy tiên

Sĩ Huy xưng Thái thú liền thế cha.

Quảng Châu: Hợp Phố trở ra

Giao Châu: Hợp Phố ngược mà trở đi.

 

Đái Lương cùng bọn Trần Thì

Đem quân đến bắt Sĩ Huy phải hàng.

Anh em năm kẻ liên can

Bị giết bởi tội chịu hàng họ Tôn.

 

Bấy giờ, Ngô chủ tính khôn

Hai châu Giao, Quảng phải dồn một Châu.

Lữ Đại – Thứ sử đứng đầu

Đem quân lấn chiếm chư hầu Cửu Chân.

 

2. Triệu Ẩu:

Giao Châu, Giao Chỉ tương phân

Thứ sử Lục Dận muôn phần ác tinh.

Mậu Thìn, Quốc Đạt khởi binh

Quân tôn nữ Triệu Thị Trinh đứng đầu.

 

Anh em bảo bọc cho nhau

Ai ngờ gặp phải chị dâu chẳng hiền.

Thị Trinh lập tức giết liền

Lên rừng mộ lính, múa quyền, cỡi voi.

 

Non nhà lửa bỏng, dầu sôi

Anh em Triệu Ẩu song đôi chém Kình.

Anh hùng, nữ tướng kiên trinh

Lục Dận lạc phách, hồn kinh lắm điều.

 

Theo mây về cõi tiêu diêu

Non sông tạc tiếng: “Nhụy Kiều tướng quân”!

“Tài trinh đệ nhất phu nhân

Bậc chính anh liệt nữ thần” tỉnh Thanh.

 

3. Nhà Ngô chia đất Giao Châu:

Nhà Ngô chặt cội, đẵng cành

Đem đất Nam Việt chia thành hai Châu.

Quảng Châu cùng với Giao Châu

Quan Tàu Thái thú thay nhau bạo tàn.

 

Dân gian loạn lạc, mới bàn

Giết quan Thái thú mà hàng Ngụy quân.

Giao Châu mục, có Đào Hoàng

Đầu Ngô, hàng Tấn để còn Giao Châu.

 

III. NHÀ TẤN (265-420)

1. Chính trị nhà Tấn:

Thiên hạ, nhà Tấn đã thâu

Thương nhà Ngụy mới phong hầu cháu con.

Các thân vương vì sống còn

Thi nhau thủ đoạn chẳng tròn đệ huynh.

 

Thiên tai tại thượng vô tình

Xưng vương, xưng đế một mình, một sân.

Hơn mười sáu nước tranh phân

Ngũ Hồ loạn lạc muôn dân cực hình.

 

2. Nước Lâm Ấp quấy nhiễu Giao Châu:

Bên trong chính sự bất bình

Bên ngoài giặc phá, dân tình oán than.

Giặc Lâm Ấp muốn thi gan

Phạm Hùng cướp cạn, quân càn Nhật Nam.

 

Canh Thân, Tuệ Độ đã làm

Giao Châu Thứ sử diệt Chàm trị yên.

Phạm Hồ Đạt được mấy niên

Bị Chư Nông phản cướp quyền, hỏng xôi!

 

Khi Phạm Dương Mại chiếm ngôi

Nam Bắc triều đã phân đôi nước Tàu.

Đông Tấn và Tống đánh nhau

Vua Lâm Ấp mới gây sầu Giao Châu.

 

IV. NAM BẮC TRIỀU (420-588)

1. Tình thế nước Tàu:

Canh Thân, Lưu Dụ mưu sâu

Cướp ngôi Đông Tấn chia nhau Bắc triều.

Giao Châu phụ thuộc Nam triều

Ngụy, Tề, Chu đế gây điều ngoại xâm.

 

2. Việc đánh Lâm Ấp:

Nói về họ Phạm ngấm ngầm

Ngôi người khác lại rộ rầm cướp đi.

Thấy Tàu nội loạn ra chi

Sai cống nhà Tống bảo trì Giao Châu.

 

Tống triều nào há chịu đâu

Họ Phạm kia mới hái dâu nhử tằm.

Hòa Chi, Tông Xác đã căm

Mang binh sang đánh, Phạm ngầm chạy mau.

 

Đàn Hòa Chi vội tóm thâu

Người vàng một tượng, báu châu chật nhà.

Gian tham chẳng đổi thật thà

Vàng kia cái lộng cũng là con dao.

Hòa Chi rớt chức, mất bào

Giao Châu Thứ sử lộn nhào, hỡi ôi!

 

3. Sự biến loạn ở đất Giao Châu:

Kỷ Mùi, nhà Tống mất ngôi

Nhà Tề kế nghiệp không thôi cướp giành.

Nhà Lương khởi sự máu tanh

Tiêu Tư tàn bạo lòng đành dửng dưng.

 

Chương IV

NHÀ TIỀN LÝ 前 李   (544-602)

1. Lý Nam Đế (544-548):

Giao Châu thóc chín lưng chừng

Thân trâu, kiếp ngựa vang lừng trống khua.

Ngoài biên, giặc Tống hơn thua

Bên trong, Lâm Ấp vào mùa phá ranh.

 

Bên Tàu, lưỡng thổ phân tranh

Tề vừa phế Tống, Lương thanh toán Tề.

Tham tàn thái thú, người ghê

Hùng tâm, Lý Bí giương cờ diệt gian.

 

Vạn Xuân thoát cảnh lầm than

Thái bình thiên đức“, xua tan bóng tà.

Bình minh chiếu sáng sơn hà

Thanh bình tự chủ như là đến phiên!

 

Nghe qua, Lương Đế đảo điên

Xua quân lấn chiếm, Bá Tiên phụng quyền.

Thua đi, thắng lại truân chuyên

Lý Bôn quyết định trao quyền Triệu Vương.

 

2. Triệu Việt Vương (549-571):

Triệu Việt Vương – Dạ Trạch Vương

Trung kiên dạ tướng, cung thương quật cường.

Thông gia Phật Tử, lầm đường

Nhằm tin rể phản, nào lường vạ, may!

 

3. Hậu Lý Nam Đế (571-602):

Tranh ngôi, Phật Tử ra tay

Hậu Lý Nam Đế thua ngay nước Tùy.

Giao Châu hết thịnh thì suy

Ba trăm năm lẻ chịu quỳ Bắc phương!

 

Chương V

BẮC THUỘC LẦN THỨ BA

              (603 – 939)

I. NHÀ TUỲ (589-617)

Việc đánh Lâm Ấp:

Nhà Tùy sai tướng Lưu Phương

Sang đánh Lâm Ấp xem dường ý gian.

Vì đồn Lâm Ấp lắm vàng

Phạm Chí chạy, Phương giữa đàng bệnh… thăng!

Giết người, cướp của nên chăng

Mạng đi thay của họa rằng đã vương.

 

II. NHÀ ĐƯỜNG (618-907)

1. Chính trị nhà Đường:

Mậu Dần, Tùy mất bởi Đường

Tân Tỵ, Cao Tổ phô trương thế ngoài.

Cắt Đại tổng quản trông coi

Cùng việc cai trị coi mòi ở lâu.

Khâu Hòa quản đất Giao Châu

Ngang tàn, bạo ngược như nhau, một phường!

 

2. An Nam đô hộ phủ:

Nhà Tùy tiếp đến nhà Đường

Đời nào cũng vẫn coi thường Giao Châu.

Dân ta lệ thuộc vào Tàu

Mười hai mảnh đất chư hầu ngó nhau!

 

3. MAI HẮC ĐẾ  (722):

Nhằm trừ giặc cướp nương dâu

Họ Mai một cõi Hoan Châu đứng đầu.

Nhỏ người, sức khỏe tựa trâu

Thúc Loan mặt mũi, mày râu đen sì!

 

Xưng vua Hắc Đế gây uy

Đánh nhau nổi tiếng gan lỳ tướng quân!

Anh hùng, thất thế sa chân

Họ Mai bỏ chốn phong trần, lánh xa.

 

4. Giặc bể:

Tân Tỵ có quân Đồ Bà

Ngoài bể vào phá non nhà Côn Lôn.

Ra vào cướp giật cô thôn

Quan Kinh lược đánh, hoảng hồn chạy nhanh.

Trương Bá Nghi xây La thành

Phòng ngừa cướp đánh và canh cướp ngầm.

 

5. Bố Cái Đại Vương (791):

Họ Quang kia thật là thâm

Làm quan bảo hộ chuyên nhằm vét vơ!

Nhân dân ta, lúc bấy giờ

Sưu cao, thuế nặng hai bờ chẳng cam.

 

Phùng Hưng vốn ở làng Cam

Vùng lên giết chết quan tham Chính Bình.

Đại Vương Bố Cái thâm tình

Thương thay yểu mạng, vô hình thở than.

 

6. Việc đánh nước Hoàn Lương:

Phùng An nhút nhát cầu an

Cha giành độc lập, con hàng giặc Xương!

Nhà Đường đánh nước Hoàn Lương

Giết người Mường, Mán, ăn lường thảm thương!

 

7. Nam Chiếu cướp phá Giao Châu:

Tư thù, Mán tộc và Mường

Xui người Nam chiếu cướp đường Giao Châu.

Tranh nhau đến loạn xà ngầu

Mười năm đổ máu đi chầu Diêm Vương!

 

8. 9. Cao Biền bình giặc Nam Chiếu.

Công việc của Cao Biền:

Cao Biền tướng giỏi nhà Đường

Tinh thông sách học, làu thường tướng môn.

Trừ căn, tính quẻ Càn Khôn…

Bình quân Nam Chiếu, huyệt môn yểm trừ.

 

10. Sự trị loạn của nước Tàu:

Vua mà chính trực công tư

Nhân gian chẳng hát khúc từ “Sâm thương”!

Hưng – Suy, nghĩ cũng là thường

Ta – Tàu nội loạn, sa trường tử thương.

 

III. ĐỜI NGŨ QÚY (907-959)

1. Tình thế nước Tàu:

Bên Tàu, Ngũ Quý phân vương:

Hậu Đường, Hán, Tấn, hậu Lương, ngũ vùng.

Hậu Chu:  năm nước xưng hùng

Để Khúc Thừa Dụ được cùng tấn quan.

 

2. Họ Khúc dấy nghiệp:

Khúc Thừa Dụ (906-907)

Giao Châu, họ Khúc xây làng

Người giàu tốt bụng, không màng dã tâm.

 

3. Khúc Hạo (907-917):

Làm quan chỉ độ tròn năm

Trao quyền Khúc Hạo lo chăm nước nhà.

 

4. Khúc Thừa Mỹ (917-923):

Khúc Thừa Mỹ, nối nghiệp cha

Mất lòng phải vạ, họa nhà: Tù binh!

Khúc cha đại nghĩa thâm tình

Khúc con chính nghĩa thường tình bỏ đi!

 

5. Dương Diên Nghệ và Kiều Công Tiễn:

         (931-938)

Lý Khắc Chính ác ai bì

Nên Dương Diên Nghệ mới vì Khúc gia.

Đánh cho Lý Tiến chạy xa

Dạy cho Khắc Chính biết ta, biết mình!

 

Ai ngờ nội phản, tham sinh

Kiều Công Tiễn lại vong tình, giết đi!

Gian thần, lịch sử còn ghi:

Trong lo thí chúa, ngoài thì loạn tâm.

 

Ngô Quyền khởi nghiệp Đường Lâm

Căm phường phản chúa, kiên tâm báo thù.

Kiều Công tiếng xấu thiên thu

Tìm đàng cứu viện quân thù: Hán Vương.

 

Hoằng Tháo: Thái tử bắc phương

Xâm lăng chẳng thấy con đường hiểm sâu.

Ngô Quyền sai vót nhọn đầu

Đằng Giang đóng cọc chìm sâu xuống dòng.

Gian thần phải tội bên trong

Bạch Đằng Giang sóng đầy chông giết thù.

 

Ngô Quyền đức trí cương – nhu

Quăng đi cái ách nghìn thu thuộc Tàu.

Danh thơm, tiếng mãi về sau

Non sông gấm vóc cùng nhau bảo toàn.

 

Chương VI

KẾT QỦA THỜI BẮC THUỘC

1. Người nước Nam nhiễm văn minh của Tàu:

Theo dòng lịch sử tính toan

Ngàn năm Bắc thuộc gì còn nước ta!

Hay, dở từ ấy mà ra

Luân lý, phong tục ruột rà với nhau.

 

2. Nho Giáo:

Theo gương “trung hiếu” làm đầu

Để” “Thử” là gốc, làm câu sửa mình.

Nho gia, lý tưởng anh minh

Luân thường đạo lý thâm tình sử xanh.

 

Làm người trọng nghĩa, khinh danh

Ai ai cũng thể cây xanh, hiệp hòa.

Tăng, Sâm, Khổng Tử đề ra

Đi qua Khổng Cấp, Mạnh Nha, đạo thành.

 

Nho gia vất vả trường sanh

Thủy Hoàng đốt sách, máu tanh học trò!

Đời Cao Tổ, đạo thịnh to

Nhà Hán bớt khó nên cho mở trường.

 

Đạo nào mà có chủ trương:

Lập trường “Nhân-Nghĩa“: Đạo đường Việt Nam.

 

3. Đạo Giáo:

”Vô tri, điềm tỉnh”, trừ tham

Không dùng “trí lực” mà cam khổ mình.

Đạo giáo triết học cao minh.

Tu tâm, trị nước mô hình “trường sinh”.

 

Lý Đan nước Sở phát sinh

Làm dây “Tầm Gởi” qua mình nhà Chu.

Quên chuyện tình, lo ”chuyên tu”

Cho mình “bất tử” mà đu với đời.

 

Trương Đạo Lăng, quả gặp thời

Tần, Đường, Hán mới tin lời viễn vong.

Đồng hành tiên thuật, hạnh thông

Hoàng Cân Trương Giác, Cát Hồng nối nhau.

 

Tử – Sinh vốn đã từ lâu

”Trường sinh” ai đã được đâu, phép màu?

 

4. Phật Giáo:

Đời người đầy ải khổ đau

“Sinh, lão, bệnh, tử”, nỗi sầu biến thiên.

Luân hồi kiếp bởi nhân duyên

Làm sao thoát được ưu phiền thế gian?

 

Đức Thích Ca đã không màng

Quên thân Thái tử, tìm đàng Phật ngay.

Niết bàn” khi đã rũ tay

Bất sinh, bất diệt thành thầy Phật gia.

 

Bà-La-Môn, gốc Thích Ca

Từ Ấn Độ đã đi qua nước Tàu.

Rồi vì “Tông Chỉ” khác nhau.

Nên Phật tích đổi ra màu Phật kinh.

 

Nhà Đông Hán có Huệ Sinh

Thái Am với Tống Vân tinh Phật đàn.

Vua Đường hạ chiếu Huyền Trang

Đi sang Thiên Trúc, Kinh mang phổ truyền.

 

“Tây Du Ký“, động địa thiên

Ngô Thừa Ân viết giải phiền chúng sinh.

Bao nhiêu  ý nghĩa thâm tình

Bao nhiêu ẩn chữ mang hình tử sinh.

 

Tiền Lê, nhà Lý, nhà Đinh

Thịnh hành đạo Phật; Nho vinh Lý – Trần.

Quốc đạo thống nhất bất phân

Đạo nào cũng đã góp phần đấu tranh!

 

5. Sự tiến hóa của người nước Nam:

Nho, Phật, Lão phát triển nhanh

Dân ta tín ngưỡng theo thành thói quen.

Cần dùng, cách chống ươn hèn

Tranh đua chẳng phải bon chen cạn cùng.

 

Ta – Tàu tục lệ như chung

Văn minh nước Việt, không sùng bái Tây.

Gì của Tàu, cũng cho hay

Tiến hóa chẳng mấy, loay hoay kém người.

 

Quyển III

TỰ CHỦ THỜI ĐẠI

(Thời kỳ thống nhất)

     

Chương I

NHÀ NGÔ   (939-965)

I.

1. Tiền Ngô Vương (939-944):

Ngô Quyền nối tiếp ngôi trời

Xưng Vương, Kỷ Hợi, sáng ngời Cổ Loa.

Sáu năm chỉnh đốn gần xa

Giáp Thìn, chèo chống sơn hà, hết duyên.

 

2. Dương Tam Kha: (945-950):

Tam Kha em vợ cướp quyền

Xưng Bình Vương phản, đời nguyền rủa không?

Non nhà ngập cảnh bão giông

Xương Ngập trốn ở Lịnh Công đợi thời.

 

3. Hậu Ngô Vương (950-965):

Xương Văn, em ruột thay lời

Giam cha nuôi – cậu, vạ trời tạm qua.

Người nhà, chẳng giết, nên tha

Truyền cho giáng chức còn là lệnh Công.

Cùng anh, trị quốc song song.

Hai vua một nước theo dòng Hậu Ngô.

 

Anh em dựng lại cơ đồ

Như tình Trắc – Nhị cùng khô máu đào.

Hiềm rằng đại loạn gươm đao

Công Ngô Quyền đã rơi vào đáy sông!

 

II. THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967):

Thổ hào Trần Lãm, Kiều Công

Thái Bình, Cảnh Thạc với dòng Nguyễn Khoan.

Lý Khuê, Nguyễn Siêu sống còn

Lữ Đường, Khánh, Thuận thủ đòn Tá Công.

Đằng Châu, Bạch Hổ, Phạm Phòng

Tranh ngôi, trở mặt, sanh lòng đánh nhau.

 

Chương II

NHÀ ĐINH   (960-980)

1. Đinh Tiên Hoàng (968-979):

Họ Đinh – thứ sử Giao Châu

Con là Bộ Lĩnh chăn trâu khác thường.

Thông minh, khí chất quân vương

Cờ lau tập trận, người thường nể danh.

 

Thương người trí dũng, hùng anh

Trần Minh Công mới phong thành tướng quân.

Hoa Lư tiếng đã vang lừng

Đem quân bắt giết, thanh trừng loạn quan.

 

Bộ Lĩnh khí chất cao sang

Sứ quân thập nhị quy hàng bốn phương.

Vinh tôn đức Vạn Thắng Vương”

Lên ngôi hoàng đế hùng cường nước Nam.

 

Bên Tàu, họ Triệu tham lam

Hậu Chu – Khuông Dận gian phàm giống nhau.

Mở đường ”Nam tiến” trước sau

Tiên Hoàng tính kế: Hòa nhau Tống Triều.

 

Ngoài yên, triều cống kẻ kiêu

Bên trong lập tức ra điều dạy quan.

Dầu sôi giữa điện phòng gian

Nuôi đàn hổ dữ ngăn can phản thần.

 

Quân binh ngũ hạng mà phân:

“Đạo, Quân, Lữ, Tốt, Ngũ” quân vạn hàng.

Chừng như ổn thỏa giang san

Phế trưởng, lập út, Tiên Hoàng chết oan!

 

Sử rằng: Đỗ Thích tính toan…

Giết Tiên Hoàng cướp ngai vàng hưởng hơi.

Đêm nằm mộng thấy sao rơi

Cho mình số Đế khơi khơi, mới lầm.

 

Đời người dễ được trăm năm

Làm con giòi chết, tiếng tăm để đời!

 

Nam Việt Vương – Liễn,  một thời

Lẫy lừng trận mạc, ngôi rơi mới cuồng.

Giết em cũng giống một tuồng

Bị người giết lại rặc khuôn sử Tàu.

 

Tội đồ Đỗ Thích trước sau

Đình thần bắt được chặt đầu, bệu thây.

Cùng ngày, Đinh Tuệ lên ngay

Nhiếp chính: Thái hậu cùng thầy họ Lê.

 

2. Phế Đế (979-980):

Nước nguy, vua bé, mập mờ

Lê Hoàn, Thái hậu đến giờ tự thông.

Vua – chồng chết cũng coi không

Xem ra chẳng phải là dòng chính chuyên!

 

Ai người dựng tích mà truyền

Khen Dương Thái hậu người hiền, thiện chân?!

Đinh Điền, Nguyễn Bặc trung thần

Can ngăn đổi chúa, nhận phần thảm thê!

 

Vừa phiên Tống đế thừa cơ

Vua còn nhỏ dại, giương cờ xâm lăng.

Tướng quân họ Phạm bàn rằng:

 Ai luận thưởng, phạt? Chi bằng phế vua?

 

Dù trong, quả thật hơn, thua

Nhưng ngoài đánh giặc cần vua có tài.

Thái hậu có một không hai

Lột áo con mặc, chuyển ngai họ Hoàn!

 

Đinh Triều thế phổ cung son

Hai vua, mười bốn năm tròn phải cam!

 

Chương III

NHÀ TIỀN LÊ  前 蔾   (980-1009)

1. Lê Đại Hành (980-1009):

Lê Hoàn ở tỉnh Hà Nam

Xưng Hoàng đế bởi không cam rợ người.

Hay rằng Tống chúa mười mươi

Manh tâm lấn chiếm, ăn tươi nước mình.

Vẽ vời binh vực nhà Đinh

– “Ba đời truyền tập“, bất bình xuất chinh.

 

2. Phá quân nhà Tống:

Lưu Trừng thống lĩnh thuỷ binh

Toàn Hưng, Nhân Bảo: Lục binh đánh tràn.

Đại Hành giữ Bạch Đằng Giang

Trá hàng giết chết Hầu gian, địch tàn.

 

Non nhà thắng lợi vinh quang

Cho rằng chẳng thể sánh ngang Tống trào.

Thôi thì… để Tống trên cao

Người Nam chịu cống miễn sao được lành.

 

3. Đánh Chiêm Thành:

Đại Hành đối Tống đã thành

Đánh Chiêm vì lỗi giam đành sứ ta.

Bắt người, lấy của chẳng qua

Chỉ là bắt chước người ta đấy mà!

 

4. Việc đánh dẹp và sửa sang trong nước:

Sửa sang trong nước, triều ca

Tử An cùng với quan nha họ Từ.

Phạm, Ngô sách lược, binh thư

Đại Hành rảnh rỗi dẹp trừ Mường qua.

 

Năm Ất Tỵ, vua băng hà

Hăm bốn năm Đế, phước nhà sáu lăm.

Công lao xóa trắng lỗi lầm

Người dân nước Việt rầm rầm ngợi ca.

 

Thanh danh lừng lẫy gần xa

Buồn thay! Cốt nhục toàn là bạo quân.

Anh lo đấm đá tưng bừng

Giành ngôi thể chẳng chưa từng đệ huynh!

 

5. Lê Trung Tông (1005):

Đăng cơ, thái tử vạ rình

Ba ngày tại vị, đầu mình… rớt êm!

Long Đĩnh ngày ác, dâm đêm

Giết em Long Việt, đã thèm thú riêng!

 

6. Lê Long Đĩnh (1005-1009):

Lê Ngọa Triều quả vua… điên

Ác bằng Kiệt, Trụ lại ghiền máu tanh.

Hành người khác, tính trời sanh

Tẩm rơm đốt sống đã thành trò chơi.

 

Đẳng cây, người té khơi khơi.

Đầu sư: Róc mía, vẽ vời xảy tay!

Giữa triều trò nhái, vua bày

Đem người bỏ sọt, ban ngày thả sông!

 

Vua nòi “khát máu, tanh dòng”

Ăn chơi trụy lạc, không lòng nghĩa nhân.

Ngọa Triều” cho đáng tấm thân

Ngàn năm bia miệng hại dân, để lời.

 

Tiền Lê truyền dẫn ba đời

Hăm chín năm Đế, hết thời, công… toi!

 

Chương IV

NHÀ LÝ  李  (1010-1225)

I. LÝ THÁI TỔ (1010-1028)

Niên hiệu: Thuận Thiên 順 天

1. Thái tổ khởi nghiệp:

Công Uẩn được chọn lên ngôi

Họ Lý khởi nghiệp quê ngoài Bắc Ninh.

Tương truyền chỉ có mẹ sinh

Nhân khi mộng thấy ”thất trinh” với Thần.

 

Khánh Văn nuôi dưỡng, đỡ đần

Vừa ba tuổi đã quen dần kệ kinh.

Chìu theo thế thái nhân tình

Dời đô ý sẵn cho mình phát quang.

 

2. Dời đô về Thăng Long thành:

Thái Tổ mộng thấy điềm sang:

Rồng vàng uốn khúc bay ngang chánh thành.

Đại La đổi Thăng Long thành

Con Rồng cháu Thánh, xứng danh Lạc Hồng.

 

3. Lấy kinh Tam Tạng:

Đời Lý, đạo Phật đã thông

Đạo Thanh, Phạm Hạc bỏ công tới Tàu.

Mang kinh Tam Tạm truyền nhau

Chùa chiền, chuông đúc có hầu mọi phương.

 

4. Việc chính trị:

Nhận phong Giao Chỉ Quận Vương

Chiêm Thành, Chân Lạp cũng đương thái bình.

Các hoàng tử giỏi cầm binh

Công chúa thu thuế quân bình mỗi năm.

 

Công Uẩn thọ đến năm lăm

Mười chín năm Đế, thâm trầm thiện lương.

 

II. LÝ THÁI TÔNG  (1028-1054)

Niên hiệu: Thiên Thành   

1. Lê Phụng Hiểu định loạn:

Hoàng triều phải cảnh tai ương

Hoàng tử thì lại như phường bọ sâu.

Giữa triều, lấy nghĩa can nhau

Không nghe, Phụng Hiểu chém đầu Võ Vương!

 

Đông Chinh, Dực Thánh cùng đường

Hai vương rớt lại coi dường chịu thua.

Thương tình cốt nhục, nhà vua:

”Chức cũ không được hơn thua, hãy dùng”.

 

2. Sự đánh dẹp:

Nhà vua trước dẹp giặc Nùng

Sau bình Chiêm cũng là cùng giúp dân.

Thái Tông vốn thật từ nhân

Thứ tha Nùng Trí, nới chân kẻ thù.

Thương dân, tiếng để thiên thu

Người nào có tội được bù chuộc thân.

 

3. Giặc Nùng:

Trí Cao chẳng chịu yên phần

Xưng là Hoàng Đế mở dần Đại Nam.

Tám Châu chiếm lấy vì tham

Địch Thanh phá trận, Trí cam mất đầu.

 

4. Đánh Chiêm Thành:

Chiêm Thành quấy nhiễu từ lâu

Thái Tông ngự giá tiến sâu Phật thành.

Tướng Chiêm phản chúa đoạn đành

Chém đầu Sạ Đẩu để thành quốc vong.

 

Thái Tông trông thấy động lòng

Lệnh truyền các tướng chớ hòng giết dân.

Bắt vương phi với cung nhân

Ê Mị giữ tiết gieo thân giữa dòng.

 

5. Việc chính trị:

Chăm lo muôn việc ngoài trong

Hoàng nam, cấm bán làm dòng bộc nô.

Đường quan lộ mở ra vô

Thêu thùa, cung nữ, gia nô có phần.

 

Hăm bảy năm đã trị dân

Vua hiền, con thảo mẫn cần chí tôn.

 

III. LÝ THÁNH TÔNG  (1054-1072)

Niên hiệu: Long Thụy Thái Bình

   

1. Việc chính trị:

Thái Tông tiên đế di ngôn

Cho con thái tử Nhật Tông kế vì.

Thánh Tông lấy hiệu hợp thì

Đổi nước Đại Việt, trị vì sắc son.

 

2. Lất đất Chiêm Thành:

Gương hiền hiếu độ làm con

Còn thêm trí dũng song toàn phá Chiêm.

Ba Châu, mới được thâu thêm

Chế Cũ sợ chết mà đem biếu ngài.

 

Hậu tiền, tả hữu phân hai

Điều binh khiển tượng, đem tài giữ ngai.

Chu Công một bức tượng đài

Thờ Khổng Tử với bảy hai loại người.

 

Ngài qua cái tuổi năm mươi

Ngai vàng đã ngự đúng mười bảy năm.

 

IV. LÝ NHÂN TÔNG (1072-1127)

Niên hiệu: Thái Ninh  

1. 2. Ỷ Lan Thái Phi. Lý Đạo Thành:

Năm Tý được lợi chữ Nhâm

Nhân Tông bảy tuổi, thiên mầm nổi danh.

 

Ỷ Lan, mẹ được buông mành

Làm Thái Phi cạnh Đạo Thành Thái sư.

Cùng nhau Phụ chính thanh trừ

Tôi hiền, tướng giỏi công tư rõ ràng.

 

3. Việc sửa sang trong nước:

Vua cho mở cuộc thi văn

Trường Quốc Tử Giám sánh bằng Hàn Lâm.

Võ, Văn chín phẩm lao tâm

Vua Chiêm, Tống Đế ngấm ngầm đánh ta.

 

4. 5. Việc đánh nhà Tống. Nhà Tống lấy đất

Quảng Nam:

“Thơ Thần” đã được truyền ra

Lý Thường Kiệt viết như là thánh thư:

Sơn hà, Nam quốc đế cư

Tiệt nhiên định tự thiên thư” ngọn ngành.

Như hà nghịch lỗ lai” tranh

Hành khương nhữ đẵng” thanh danh phí phàm.

 

“Nước Nam là của người Nam”

Thơ Thần đã được dùng làm chánh ngôn.

Non sông hợp nhất càn khôn

“Tuyên ngôn độc lập” trường tồn khắp nơi.

 

Thường Kiệt danh sáng rạng ngời

Bình Chiêm, Phá Tống dù ngoài bảy mươi.

Danh ngang Lã Vọng nước người

Cho nhân dân Việt tiếng cười tự do.

 

Dân tình hưởng phút ấm no

Trời Nam nhuộm trắng cánh cò ngã nghiêng.

Nhân Tông cưỡi hạc quy tiên

Con Hoàng, cháu Đế, Hầu Hiền thế ngôi.

 

Chương V

NHÀ LÝ (Tiếp theo – 1010-1025)

V. LÝ THẦN TÔNG (1128-1138):

Niên hiệu: Thiên Thuận   .

Tương truyền thế tử nằm nôi

Là con cầu tự, đến hồi hóa thân.

Từ Đạo Hạnh, đạt thiện chân

Chùa tu một đấng, chẳng cần tranh đua.

 

Cháu vua đã được làm vua

Hiền từ đức độ không thua kém gì!

Giúp vua giữ vững ngôi vì:

Anh Nhị, Bá Ngọc, quan tri Khánh Đàm.

 

Nương vườn, lính đổi phiên làm

Tù nhân đại xá, An Nam thái bình.

Ngài là một đấng hiền minh

Mười năm tại vị, trời sinh phước nhà.

 

VI. LÝ ANH TÔNG (1138-1175)

Niên hiệu: Thiệu Minh  

1. Đỗ Anh Vũ:

Phụ chính vua nhỏ lên ba

Có bà Thái hậu nết nhà chẳng chuyên.

Dám cùng Anh Vũ đưa duyên

Lộng quyền quá độ, căn nguyên mọi đường.

 

Bá quan mưu sự, đáng thương

Tự Minh, Vũ Đái, Quốc, Dương rụng đầu!

Thái hậu dám cướp ngôi đâu

Tô tướng phụ đã đỡ đầu bệ cao.

 

2. Tô Hiến Thành:

Hiến Thành hữu dũng lược thao

Giúp chúa đánh dẹp giặc Lào, nước yên.

Ngưu Hống phải chạy như điên

Thân Hợi bị bắt, Thái Nguyên được bình.

Thái tế vốn trọng thâm tình

Quan chức lớn vẫn giữ mình sáng sao.

 

3. Giặc Thân Lợi:

Thái Nguyên, Thân Lợi loạn trào

Xưng con thiên tử năm nào: Nhân Tông.

Tô Hiến Thành dẹp mới xong

Xuất gia tham vọng, vướng vòng tội vong.

 

4. Việc chính trị:

Giáp Thân, nhà Tống sắc phong

An Nam vương quốc cho xong mọi bề.

An Nam tên nước bấy giờ

Đem con giao Thái phó, nhờ gởi trao

Lý Anh Tông bệnh, thoái trào

Ngôi ba mươi bảy, thọ vào bốn mươi.

 

VII. LÝ CAO TÔNG (1176-1210)

Niên hiệu: Trinh Phù  

1. Tô Hiến Thành làm phụ chánh:

Thái hậu đã muốn đổi người

Lập Long Xưởng tính nuốt tươi ghế vàng.

Đem tiền của lót mọi đàng

Họ Tô từ chối, lòng vàng dễ mua?

 

Trung thành chẳng tính hơn thua

Vâng theo chiếu chỉ ngôi vua luận bàn.

Giàu sang phú quý không màng

Cùng Gia Cát Lượng ngang hàng, quý sao!

 

2. Sự nội loạn:

Tiếc rằng vua ở ngôi cao

Khi Hiến Thành mất, sa vào cuộc chơi.

Làm cho nội loạn tơi bời

Phạm Du, Quách Bốc ngôi trời quyết đua.

 

Hai mươi lăm tuổi, xế mùa

Mất năm Canh Ngọ, về chùa khói hương.

 

VIII. LÝ HUỆ TÔNG (1211-1225)

Niên hiệu: Kiến Gia  

1. Trần Thị:

Thái tử Sam nối tông đường

Yêu Trần thị, phá cương thường lập Phi.

Trần thị giàu có, kiêu lỳ

Cha đêm đánh cá, ngày thì phá dân.

 

Họ Trần có một chút ân

Đỡ đần thái tử sa chân ở đời.

Có nhan sắc nên gặp thời

Lấy Thái tử hưởng phước trời Thứ phi.

 

2. Quyền về họ Trần:

Thái hậu tìm cách giết đi

E rằng vua quá yêu vì, họa mang.

Vua mê nàng, đem giang san

Chín đời Lý gán cho quan Độ liền.

 

Vua thân mắc phải cơn điên

Nên Trần Thủ Độ toàn quyền ghét thương.

Đi tu khi biết nhầm đường

Vì thương gái út nên nhường ghế cha.

 

IX. LÝ CHIÊU HOÀNG  (1225)

Niên hiệu: Thiên Chương Hữu Đạo

            

Không trai, số tại mình ra

Sinh hai công chúa, chị là Thuận Thiên.

Cùng vương Trần Liễu se duyên.

Em là Chiêu Thánh, tục truyền Phật Kim.

 

Huệ Tông quý mến thiên kim

Giang sơn gấm vóc, ngài đem tặng nàng.

Chiêu Thánh công chúa đăng quang

Thủ Độ ép chuyển ngôi sang phía chồng.

 

Hai trăm mười chín năm ròng

Họ Lý đã chấm dứt dòng lập vua!

Danh thơm đâu dễ mà mua

Vì dân sao lại hơn thua lỗ lời?

 

Thi đua giữ nước chín đời

Việt Nam cường thịnh sáng ngời một nơi.

Cuối đời, vua chỉ ham chơi

Huệ Tông nhu nhược mới thời cáo chung!

 

Chương VI

NHÀ TRẦN (1275-1400)

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - LỜI GIỚI THIỆU

    Với Việt Nam lục bát sử, nữ tác giả đa tài Ngọc Thiên Hoa lại đem đến cho độc giả một bất ngờ thú vị. Bất ngờ vì lâu lắm rồi mới lại có người để mắt tới Sử…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN I

    VIỆT NAM L ỤC B ÁT SỬ NƯỚC VIỆT NAM (越 南) 1. Quốc hiệu: Hồng Bàng lập nước Văn Lang Âu Lạc, Thục Phán sửa sang bội phần.   Tượng Quận gọi bởi nhà Tần Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam: Cửu…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN II

    Chương VI NHÀ TRẦN (1275-1400) Thời kỳ thứ nhất (1225-1293) I. TRẦN THÁI TÔNG (1225-1258) Niên hiệu: Kiến Trung 建 中 1. Trần Thủ Độ: ... Thủ Độ bày vẽ mông lung Cướp ngôi nhà Lý gian hùng,…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN III

    Chương XIV MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU             (1418-1427) 1. Lê Lợi  (鯬 利) khởi nghĩa ở Lam Sơn: Lam Sơn ruộng núi muôn bề  ... Lê Lợi giàu có bằng nghề ruộng nông. Giúp người hào kiệt lưu vong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN IV

    Quyển IV TỰ CHỦ THỜI ĐẠI (1528-1802) (Thời kỳ Nam Bắc phân tranh) NHÀ HẬU LÊ  黎 後  Thời phân tranh (1533-1788) ... Chương I LỊCH TRIỀU LƯỢC KỶ Nước Nam một cõi biển Đông Ngô Vương đuổi Hán uy phong…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN V

    Chương IX HỌ TRỊNH MẤT NGHIỆP CHÚA (1510-1786) 1. Chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ: Trịnh Sâm bỏ trưởng, dâm tà Mê say Thị Huệ nên sa thế cùng.  ... Cho mình một đấng anh hùng…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VI

    Chương III: THÁNH TỔ (1820-1840) 1. Sự giặc giã: Tiêm, Lào quấy nhiễu Nam, Tây Cựu thần Lê dấy đó đây Bắc Kỳ. .... Quan trường chỉ giỏi chi li Thần dân bất mãn: Vua chi hẹp…

  • VIỆT NAM SỬ CA (LỤC BÁT SỬ) - PHẦN VII

    Chương XI PHÁP CHIẾM  LẤY BẮC KỲ Lần thứ hai (1882) 1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội: Người Pháp có giấy thông thương   ... Bị giặc Khách chận trên đường Vân Nam. Pháp bèn bắt lỗi…