B. NHẶT “THÓC” TRONG GẠO:

Nhặt thóc trong gạo hay nhổ cỏ ruộng được ví von dễ thương là công việc hằng ngày của người lao động chất xám. Nó chẳng thể đánh đồng với việc “vạch lá tìm sâu” theo nghĩa ”Lá có sâu, chim sâu mới bắt, lá xanh rì, chim nhặt cái chi? Con sâu cuống lá từ bi, việc gì chim nọ bắt đi đoạn đành!”Câu trước công minh. Câu sau, lưu tình. Nhặt thóc thì khác. Không nhặt thì người ăn luôn cơm lẫn thóc. Ăn cơm gặp thóc móc họng là thế. Ruộng không nhổ cỏ, lúa lẫn cỏ dại, người bại mất mùa. Văn học cũng như một sàn gạo đầy thóc như cánh đồng đầy cỏ dại. Văn học không của riêng ai, nhặt thóc, nhổ cỏ thì ai cũng làm.

Có khen rồi mới cho chê. Thương roi, ghét ngọt theo lề lối xưa”. Trường ca “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” của Trần Anh Thái lĩnh dăm ba cây roi cho đủ khen chê không mang tiếng “nhất bên trọng, nhất bên khinh”.

I. Câu cú:

1. Câu dài hay đủ ý thì cần tách:

Song song với nghệ thuật “phá vỡ cấu trúc ngữ pháp” mới hình thành, thường dẫn theo câu dài, khó hiểu. Do đó, ta cần dùng dấu chấm tách câu ngắt gọn hoặc thêm từ nối ý nếu muốn giữ câu dài.

– “Chúng tôi là cổ xưa hoang hoá bóng người ánh sáng tràn trề mặt đất”: Câu có cụm vị ngữ dài khó hiểu. Cần tách câu bằng dấu chấm câu đơn giản:

Chúng tôi là cổ xưa hoang hoá bóng người.

Ánh sáng tràn trề mặt đất.

Nếu muốn giữ nguyên, hãy cho thêm liên từ:“Chúng tôi là cổ xưa hoang hoá bóng người mang (đem) ánh sáng tràn trề mặt đất“.

– “Sáng sáng chim khuyên gõ cửa bình minh mẹ đứng ngây trước gương mặt thiên thần mỉm cười lặng lẽ” thành câu tách:

Sáng sáng, chim khuyên gõ cửa bình minh.

Mẹ đứng ngây trước gương thiên thần mỉm cười lặng lẽ.

Thêm dấu phẩy tách ý để giữ câu dài: “Sáng sáng chim khuyên gõ cửa bình minh, mẹ đứng ngây trước gương mặt thiên thần mỉm cười lặng lẽ.”

– “Con đường kiệt sức, chân bước mắt bầm, bình minh chết trong chùm mây bạc”.

Mỗi ý trong câu đứng riêng vững vàng, cần tách bằng dấu chấm:

Con đường kiệt sức. Chân bước. Mắt bầm. Bình minh chết trong chùm mây bạc”.

– Câu: “Bạc mắt mùa màng, cát trắng lăm dăm mặt, bầu trời khoanh một vòng tròn trắng. Những hạt mầm nhao lên cơn khát” thành: “Bạc mắt mùa màng. Cát trắng lăm dăm. Bầu trời khoanh một vòng tròn trắng. Những hạt mầm nhao lên cơn khát”…

2. Câu tạo hình chưa chuẩn:

– Khúc I: Bình minh hé mở

Biển khuấy động mơ hồ

Sóng vang vọng toà lâu đài hình thù kỳ ảo.

Động từ “vang vọng” không thể là “kiến trúc sư” để xây “tòa lâu đài hình thù kỳ ảo” vì nó là từ chỉ tốc độ âm thanh. Âm thanh chỉ có thể tạo âm thanh chứ không thể tạo hình.

Chỉ cần hoán chuyển hai động từ trên hai câu:

Bình minh hé mở

Biển vang vọng mơ hồ

Sóng khuấy động thành tòa lâu đài hình thù kỳ ảo.

3. Đoạn, câu tối nghĩa:

a. Đoạn:

– Khúc IX: Chẳng biết tác giả muốn gởi gấm ý gì trong đoạn này:

Cánh rừng nhà sàn linh hồn ngọn đồi

Nâng cánh đàn chim rời tổ

Chưa có trật tự nào

Những bàn chân vương bùn đất.

b. Câu:

Khúc I:

– “Tôi mê man ngọn bùi nhùi huyền thoại sấp ngửa thớ cày chờ gieo mùa mới”: Chưa rõ nghĩa gì gọi là “ngọn bùi nhùi“?

– “những giấc mơ đêm đêm hổn hển mệt nhoài”. Tính từ “hổn hển” chỉ có thể đứng chung với một động từ chỉ trạng thái như “thở hổn hển”. Trong câu trên, dùng từ “hổn hển” về mặt cấu trúc ngữ pháp thì chưa đúng còn về nghĩa thì sắc thái biểu cảm giảm tính nghiêm túc của nội dung.

Cũng thế trong khúc VIII: “Ánh sáng nhô lên hổn hển“. Ánh sáng là danh từ trừu tượng chỉ cái mênh mông bao trùm. Động từ “nhô” chỉ có thể dùng với danh từ chỉ vật, sinh vật có hình thù như mặt trời nhô lên, mặt trăng nhô lên, con cá nhô lên… Còn ánh sáng thì chỉ kết hợp với động tính từ chỉ tính chất như “ánh sáng mờ mờ, ánh sáng lân tinh, ánh sáng loé lên, ánh sáng soi đường, ánh sáng tỏa rạng…”

Tính từ “hổn hển” dùng trong hai câu đều không chính xác và mất tính trong sáng của câu thơ.

– Khúc IV: “mẹ vẫn chờ em mong ngóng đêm dài”. Câu được hiểu “mẹ vẫn mong ngóng, chờ em trong đêm dài“. Nếu không, câu bị hiểu thành: em mong ngóng đêm dài và mẹ vẫn chờ em. Đêm dài nhằng, không ai mong ngóng có được cái đêm dằng dặc như thế cả!

4. Câu cần dấu phẩy tách ý:

Khi tôi hát gió trong nhà thắt ngạt

Lúc vui cười nước mắt mẹ nghẹn đêm

Và tôi ngủ mẹ ôm đêm thức

Sáng sáng tôi ra khỏi nhà mẹ run rẩy quay đi.

Câu không dấu phẩy có thể dùng trong văn nói. Văn viết nên dùng dấu phẩy để tách hai ý khác nhau trong một câu và để phân biệt thành phần trạng ngữ với cụm chủ vị. Câu trên thành:

Khi tôi hát, gió trong nhà thắt ngạt

Lúc vui cười, nước mắt mẹ nghẹn đêm.

Và tôi ngủ, mẹ ôm đêm thức

Sáng sáng, tôi ra khỏi nhà, mẹ run rẩy quay đi.

Câu thứ ba có thể dùng dấu chấm để tách thành hai câu: “Và tôi ngủ”. “Mẹ ôm đêm thức” (có thể thay liên từ  bằng “khi (lúc) tôi ngủ. Mẹ ôm đêm thức”. Câu thơ nghe nhẹ nhàng hơn dùng “và“). Tránh bớt liên từ  đứng đầu câu chừng nào hay chừng nấy.

II. Ý thơ và tạo hình chưa hợp lý:

 Khúc IV:

Chiếc khăn tay này

Đàn chim đang bay

Em hãy thả chúng lên

Và đừng e ngại.

Hai hình ảnh: Có một chiếc khăn tay (số ít) và có một đàn chim đang bay (số nhiều). “Em hãy thả chúng lên“? “Chúng” là số nhiều ứng với đàn chim nhưng đàn chim đang bay thì làm sao mà em thả? Còn chiếc khăn tay (“chiếc” không thể tương ứng với “chúng“). Ta chỉ có thể chọn một trong những động từ sau: “tung”, “quăng”, “ném”, “vứt”, “hất”, “thẩy” + với từ chuyển động lên.. Chiếc khăn mà thả thì nó rơi liền, con thuyền thả trên mương (lệ làng khi cúng đất) hoặc thả xuống sông hay xuống biển thì hợp.

Câu chuyển động từ thành: “Chiếc khăn tay này. Đàn chim đang bay. Em hãy tung lên cùng. Và đừng e ngại”. Nghĩa câu thơ sẽ có giá trị về chiếc khăn tay bay lên hoá cánh chim – biểu tượng của hòa bình – một ước mơ lớn nhất của nhân loại.

– Khúc X:

Vách núi dựng ầm ào thác đổ

Một tiếng chim côi cút rừng xa

Tiếng ống cóng gõ qua cơn đói

Thẳm vào cõi sâu!

Tiếng động “ầm áo thác đổ” (âm thanh tiếng động rất lớn, rất gần). Vì vậy, một tiếng chim côi cút rừng xa (có một tiếng chim, ít quá và không thể nghe trong tiếng thác đổ vì tiếng chim kêu rất xa). Hai âm thanh mộtt lớn một nhỏ đối lập nhau, tai người không thể vừa nghe gần ồn ào, vừa nghe xa nho nhỏ, ngoại trừ phép “truyền âm mật nhĩ” trong kiếm hiệp của Kim Dung hoặc có thuật… “Gọi nhau qua vách núi” của Thi Hoàng!!

III. Phân khúc còn vài chỗ nhập nhằng:

Trường ca “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” có XI khúc. Trong đó, những khúc được phân bố khác nhau về nội dung nhưng vẫn còn nhiều đoạn trong mỗi khúc có nội dung giống khúc khác. Cách trộn lẫn này sẽ khiến cho trường ca trùng lập về ý. Cách tốt nhất là chuyển hết những phân đoạn hay khúc có cùng nội dung về một khúc.

 Khúc I: Cảnh ruộng đồng, người lao động, người mẹ can đảm trong phân đoạn 1 (nên tách hai phân đoạn: một cho cánh đồng, hai cho mẹ.). Trong đoạn này sẽ dư ra 2 phân đoạn có cùng ý là 2 và 3 (nói về tuổi thơ của cậu bé với khát vọng con tàu cùng vui chung với bạn gái tuổi thơ). Hai phân đoạn này trùng với Khúc II dành nguyên cảnh cậu nhỏ và cô bạn cùng chơi trò chơi con tàu khát vọng nên cho chúng nhập một.

 Khúc III: Tìm về con đường tổ tiên. Khúc này đứng độc lập.

– Khúc IV là một trong vài khúc cô động nhất của trường ca với sự phân đoạn rõ ràng: Nội dung là cảnh một gia đình có thêm đứa con út chuẩn bị vào chiến trường. Khúc này được phân ra 4 đoạn: Đoạn 1 tả cảnh gia đình có chị, mẹ là những người cô phụ trong cuộc chiến và người con, em trai út ra đi. Đoạn 2 nói về cuộc chia tay âm thầm của cậu bé ra chiến trường với cô bạn gái. Kết thúc Khúc IV ở đây được rồi nhưng Khúc IV lại có thêm ba phân đoạn mà đại ý lại giống nhau: Hành quân gian khổ. Có thể nhập chung 3 phân đoạn này và chuyển nó vào Khúc V diễn tả trận đánh với sự chết chóc tang thương. Trước khi đụng trận thì có phân đoạn những người lính hành quân. Nếu không thì nên điều một Khúc V riêng cho 3 phân đoạn dư từ phân Khúc IV xuống.

– Khúc V: Tang thương của chiến tranh về những cái chết thù và bạn. Khúc này tương đối trọn vẹn nhưng cũng có hai câu về mẹ:“Mẹ ta giờ đã ngủ Nước mắt chảy khô đêm mưa rét?” thừa ra trong phân đoạn 4 nhưng lại trùng với Khúc VI. Vậy nên chuyển 2 câu thừa này vào khúc VI trong phân đoạn 1 nói về mẹ cô đơn trong căn nhà vắng chồng con.

– Khúc VI: Người lính trẻ mơ về mẹ, về cô bạn gái về cuộc chiến để lại vết thương vừa qua.

– Khúc VII: Có 6 phân đoạn trong đó 2 phân đoạn dành cho má Mừng cùng nội dung nên gộp lại một phân đoạn. Đoạn 3 dành cho người bạn du kích Tà Ôi (dành cho bạn thì lại ở Khúc VIII phân đoạn 5, 7 dành cho người chị góa chồng nhưng lại… thòng thêm phân đoạn người chị xuống Khúc VIII (đoạn 2 dành cho người chị chỉ mỗi một câu: “Ánh sáng cuối ngày rười rượi màn sương, chị tôi lẫn vào trời vào đất”).

– Khúc VIII: Nói về người bạn mỗi người một nơi sau chiến tranh ở phân đoạn 1, phân đoạn 2 nói về người chị lại trùng với 2 phân đoạn người chị trong Khúc VII.

Có thể đem phân đoạn 3/khúcVII và phân đoạn 1/khúc VIII gộp chung vào khúc VIII. Phân đoạn 3 và 4 nói về em trong khúc VIII lại trùng với phân đoạn IX nói về nhân vật em này của chàng lính thời hậu chiến. Vì vậy, nên cho 2 phân đoạn ấy nhập về Khúc IX để nội dung trọn vẹn hơn.

– Khúc X: Người lính gặp nhau sau chiến tranh lặp lại Khúc VII, đoạn 6 nói về em nên đẩy lên Khúc IX cho trọn vẹn.

– Khúc XI: Khúc ca thế giới hồi sinh.

Tuy nhiên, so với các trường ca khác còn nhập nhằn hơn ở trùng nội dung, “Khúc Huyền ca” với cách phân đoạn như thế là đạt yêu cầu về bố cục. Giá như, nó được phân bố kỹ hơn, nó sẽ có kết quả hơn cái đang có hiện nay.

IV. Chất thơ giọng và nội dung:

1.Chất giọng- chất thơ:

– Chất giọng: Là nét đặc thù riêng âm thanh để phân biệt sự khác nhau giữa ca sĩ với ca sĩ, và lựa chọn họ hát điệu thức gì hoặc phân biệt giữa nhạc sĩ này với nhạc sĩ nọ qua giai điệu. Ví dụ như chất giọng khàn khàn, phiêu du của Khánh Ly hợp với nhạc du ca, chiến tranh của Trịnh Công Sơn. Chất giọng tươi tắn Thanh Thảo hợp với điệu Hiphop. Chất giọng khàn Phương Thanh hợp với Pansorovi. Trong văn học dùng chất thơ như một phong cách riêng phân biệt tác giả này với tác giả nọ, nhóm thơ này với nhóm thơ nọ…

Với 2 trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời” và “Trên đường”, giọng thơ Trần Anh Thái đều đều, ít thay đổi. Thể thơ tự do chủ đạo trong 3 trường ca gây nên “điệp buồn trường ca”. Trường ca thứ 3 ra đời có giá trị “phủ nhận” hai trường ca cũ về chất giọng. Tuy nhiên, nếu đọc hết cả 3 trường ca, thì ta thấy có một số điểm trùng nhau.

2. Nội dung bị trùng: Hai trường ca trên có thêm những khúc, đoạn khác nhau về cuộc hành trình sang các nước Mỹ, Nhật. Chúng còn thêm gia đình có đầy đủ cha, mẹ, anh, chị, em, có thêm hình ảnh chiến tranh qua lớp học cùng cô giáo, ông canh đồng, người hàng xóm, người qua đường, chuyện hàng xóm, thêm bốn cô gái, có những người làng đón mừng người thắng trận về nhưng điểm giống nhau có thể thấy ở nội dung chính trùng lặp:

Dễ dàng nhận ra các nội dung trong 3 trường ca của Trần Anh Thái:

– Cảnh cánh đồng khô khan, cháy khát.

– Tìm dấu chân tổ tiên qua núi Yên Tử, đạo sĩ, tiên tri…

– Nhân vật người “Em” xuất hiện trong lòng chàng trai như nhau.

– Trộm dưa hồng, ký ức tuổi thơ của chàng lính.

– Cũng là giấc mơ, con thuyền cổ tích.

– Cũng mẹ với tro tàn.

– Cũng tìm mộ bạn

– Ánh sáng, niềm tin…

Những trường ca thời hậu chiến về chiến tranh đều đi về một điểm chung là “tổ tiên” thường “đụng hàng” nếu viết không khéo. Giá như Trần Anh Thái chỉ có mỗi “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng”, có lẽ, nhận định, đánh giá sẽ khác đi. Tuy nhiên, hai bản trường ca đã qua của Trần Anh Thái, có thể coi như là “hai bản nháp” cho trường ca thứ 3 này. Những gì cần để cho tác phẩm “sống” được, Trần Anh Thái đã bổ sung bằng thi pháp nghệ thuật độc đáo của mình vào trong bản trường ca sau và những gì dài dòng, những gì mang tính chất kể lể lê thê được tác giả nhanh chóng cắt bỏ. Thà “ăn ít mà no lâu” còn hơn ăn nhiều, đau bao tử.

Văn học không phải là bãi đổ rác và người viết văn phải là người nhặt rác mỗi ngày đi thay vì xả rác trên đường! Vậy thì dùng từ nhặt thóc nhẹ nhàng hay hơn nhặt rác vậy.

3. Giải quyết vấn về còn vướng víu:

– Những nhân vật như người mẹ, người chị chưa gắn bó nhau với tư cách mẹ-con trong gia đình: Chị đi đường chị, mẹ đi đường mẹ. Giữa hai người chưa có chỗ nào biểu thị thương yêu, đồng cảm với nhau.

– Nhân vật người mẹ và má Mừng được xây dựng giản dị, trân trọng nhưng khiếm khuyết là quá tải nỗi tang thương. Có thể gây… sốc về tâm lý cho thế hệ ra trận nếu có chiến tranh. Đương nhiên, hậu quả này có thể tránh được bằng giá trị tương phản của tác giả khi xây dựng hai mặt. Tức là trong cái khổ, cái tang thương, ánh sáng hy vọng vẫn rực lên dù ở một chân trời xa xôi thì vẫn có như cái vỗ vai xoa dịu nỗi đau âm thầm của nhân vật cũng như của xoa dịu vết thương lịch sử.

– Nhân vật người con gái đi vào con đường sa ngã còn yếu động cơ. Hai vợ chồng (chưa rõ là cô bé lấy người bạn năm xưa, là anh lính xưng tôi hay lấy người khác ở Hà Nội?) không thấy biểu hiện đổ vỡ, cùng nuôi mỗi một đứa con mà không nổi, trái với câu “đồng vợ đồng chồng tát biển đông cũng cạn”. Hãy cho nhân vật này một yếu tố nữa để đẩy cô ta vào con đường cùng (có thể là con bệnh, chồng bệnh vì thương tích chiến tranh hay vay mượn thiếu hụt… ). Người mẹ bỏ con ra đi không về trong tác phẩm là nhẫn tâm với bất cứ lý do nào. Tất nhiên, cách chọn con đường như nhân vật cô bé này còn nhân đạo hơn chị Dậu của Ngô Tất Tố bán luôn con để nuôi chồng bệnh. Mối quan hệ gia đình với người mẹ ngày nao “mong ngóng đêm dài” chưa được tiếp nối sau chiến tranh.

– Để tìm ra chân lý cuộc sống với khát vọng giấc mơ con tàu, bản trường ca “Khúc Huyền ca” của Trần Anh Thái vẫn chưa mở ra cho người đọc thấy mình sẽ phải làm gì tích cực hơn để đối phó với hiện tại thay vì cứ mãi miết vào tìm kiếm con đường tổ tiên. Kiếm được con đường khai mở rồi mình sẽ làm gì nữa đây? Giá trị tích cực mới chỉ dừng lại ở bước đầu định hướng nhưng chưa có kế hoạch triển khai và triển khai như thế nào, bản trường ca đã bỏ ngõ… Nó khắc khoải là vậy!

Có lẽ, nó chờ bước chạy tiếp sức cuối chặng đường đua khi khai sinh một trường ca thứ tư của Trần Anh Thái nói riêng hay của ai đó trong chúng ta nói chung? Vậy thì ta hãy cứ kiên nhẫn mà đợi mà chờ…như ta vẫn chờ một tình yêu đến muộn nhưng có hương thơm của thiên nhiên bốn mùa hoa lá!

Kết luận về thi pháp:

Muốn viết một bản trường có tính chất hoành tráng không phải là chuyện dễ dàng như người ta tưởng. Bởi vì trường ca vừa mang tính chất của thơ (trữ tình), tính dàn trải như loại tùy bút, tản mạn (thích chỗ nào, xoáy chỗ đó) nhưng lại mang chất kịch (có cột và gỡ nút), vừa chứa đựng nhân vật có đầy đủ tính cách như loại tự sự (tính cách phát triển theo nội dung tác phẩm).

Trường ca phải có chương, khúc, đoạn và mỗi phần, không thể lẫn lộn như tạp ký muốn viết gì thì viết. Trường ca cần sự trong sáng của một thể loại khó lấy lòng độc giả vì cách hành văn (suông sẻ hay gãy khúc?), đề tài (sâu sắc và hiện thực hay không?), thủ pháp vận dụng (độc đáo hay tầm thường?) và tư tưởng (nhân văn thật hay cải lương nhân văn?).

Đề tài để trường ca xông pha mưa gió đầy rẫy. Đường nó đi không có ánh sáng nào dẫn đường ngoài ánh sáng của mặt trời nhân loại. Nếu không, nó sẽ theo “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” vào thiên la địa võng.

ĐÁNH GIÁ CHUNG 2 MẶT NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT:

1. Nội dung: Đây là bản trường ca khai mở một giá trị nhân văn tích cực, nhất là về cách nhìn về người lính bên kia chiến tuyến trong tư cách con người. Nó không chỉ dừng lại chỉ mỗi nội dung đó mà nó còn đi thêm một bước để hàn gắn những vết thương lòng từ những mảnh đời rách nát vì chiến tranh và “cái ác sinh ra trong sự yếu hèn”. Mọi thế hệ có thể soi mình vào tấm gương sáng qua từng nhân vật để được thấy mình trong đó, là chị, là mẹ, là em, là người yêu để tìm chút nắng ấm của bình minh và nghe được tiếng chim véo von gọi người về hạnh phúc trong tương lai. Không đòi hỏi quyền lợi, không yêu sách công lao, không đối xử với nhau kiểu “người với người là chó sói“, con người dần dần hoàn thiện hơn trong cộng đồng “người yêu người sống để yêu nhau”. Vượt qua mọi đau thương, tự chữa lành vết thương và vươn tới khát vọng mới là sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam là cái đích đi tới của dân tộc. Không có gì quý hơn được làm người trong tư cách con người!

Ngày đang mở sáng” có đầy đủ tư cách để đống dấu son vào văn học Việt Nam nói chung và thể trường ca nói riêng: lần đầu tiên có một tác phẩm văn học viết trên một tư tưởng thay đổi cách nhìn trực diện về một cuộc chiến đã đi qua 2/3 thế kỷ trên một tinh thần nhân văn không cải lương.

2. Nghệ thuật: Đây cũng là bản trường ca khai mở một hướng đi mới khi xây dựng những bức tranh mang tính cách như những thông điệp hòa bình, khát vọng tự do và mưu cầu hạnh phúc. Trong đó, các nhân vật, các ý tưởng, các giá trị tu từ, tính âm dương, cộng trừ tương phản rõ ràng mỗi phân đoạn, mỗi khúc ca.

Sự thành công của tác giả trên hai mặt nội dung (xây dựng nhân vật có tính giáo dục về nhân sinh quan lành mạnh, không ích kỷ và bon chen) và nghệ thuật (ý ẩn vào từ) chính là biết lựa chọn phương pháp sáng tác mới (tách hẳn cái tôi ra ngoài tác phẩm để lời bình luận, nhận xét dành cho độc giả, sử dụng hợp lý thơ ở ngoài lời). Cách sử dụng thể loại thơ có chọn lọc, không ôm đồm và không chuyển tải quá nội dung trong từng phân đoạn.

Nó thúc đẩy người yêu thích văn học và có trách nhiệm với đất nước ngàn năm văn vật này tìm kiếm chủ đề, tư tưởng khác hơn, là “quốc nạn” như tham nhũng, mại dâm hóa nông thôn tới thành phố tiến ra nước ngoài đánh mất truyền thống gìn giữ bản sắc dân tộc của tổ tiên, chất xám chảy rữa, đồng tiền trở lại tha hóa con người, sự phân cấp rõ ràng giàu và nghèo không minh bạch, nhu cầu tự do thông tin, nhu cầu tinh thần bình đẵng, tinh thần “chí công vô tư” công thưởng, tội phạt…

Có thể nói: Đây là tác phẩm mở đường một thi pháp sáng tác mới trong văn học Việt Nam hiện đại.

Chút suy nghĩ:

Trên tinh thần nhân văn của “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng“, người ta thấy được giá trị con người chỉ có khi con người tự biết khẳng định nhân cách của mình với người chung quanh và quý trọng thời gian. Những cuộc thi thơ, truyện ngắn, hoa hậu… diễn ra nhưng kết quả chất lượng chẳng là cái gì cụ thể có lợi cho đất nước, cho cuộc sống con người ngoài bề mặt có vẻ phồn thịnh, có vẻ đổi thay. Đã đến lúc, bài “Tiến quân ca” nên được viết lại vì không thể nào một dân tộc có truyền thống nhân văn mà “đường vinh quang xây” toàn “xác quân thù”?! Đã đến lúc, kết thúc có hậu nhưng không thiện chung của chuyện cổ tích Tấm Cám cần được viết lại theo một dị bản khác, nhân đạo hơn (bản cũ Tấm đích thân đi giết em mình và dì ghẻ). Đã đến lúc những cuốn sử (chân sử) phải được viết lại là lịch sử dân tộc Việt Nam chứ không phải riêng lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam. Đã đến lúc, nên nhìn lại hậu quả của việc miền Bắc thống trị miền Nam hàng mấy chục năm trời. Thử nghĩ: Nguyễn Văn Tường từ một kẻ có tội danh được thành lập, trên “phạm thượng khi quân” giết ba vua; dưới, “phản nòi” vì đã hợp tác với Pháp giết dân “tả đạo”; ngoài “bán nước” dâng đất cho Pháp trong cương vị ngang thủ tướng một nước nhưng chỉ qua mấy tờ giấy, mấy hội nghị sử học thì trở ngược tội danh, tội thành công, đứng ngang hàng với Nguyễn Trãi – một bậc đại anh hùng, đạo đức bậc nhất quốc gia, còn được đánh đồng lịch sử tạc “bia đá nghìn thu” (vấn đề trên, lịch sử sẽ dùng thanh gươm thần 4000 năm văn hiến mà chặt đứt tư tưởng nhân văn cải lương này) thì sao những người lính quốc gia anh em không thể đối diện với kẻ chiến thắng như một ván bài thông thường trong tư cách con người dù là người đã chết?

Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” đã nói được tiếng lòng của những người đã bỏ mình vinh quang trên chiến trường vì trách nhiệm núi sông, vì danh dự và bổn phận làm trai đáp đền sông núi dù ở bất kỳ thời đại nào, chế độ nào. Tư cách con người là trên hết khi bình phẩm, thẩm định giá trị một con người. “Không có một mặt trời cho một mặt trời”, không có gì bằng cách hiểu theo Nguyễn Trãi “làm lật thuyền mới biết sức dân như nước”. Trong bài “Nghệ thuật lãnh đạo quân sự trong chiến tranh nhân dân” (lanhdao.net) ghi rõ: “Bên cạnh chiến thắng, lịch sử những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam có ghi lại 3 lần thất bại: thất bại của An Dương Vương trước Triệu Đà; thất bại của Hồ Quý Ly trước nhà Minh, và thất bại của triều Nguyễn trước thực dân Pháp. Dù không có chung bối cảnh lịch sử, nhưng cả 3 thất bại trên đều có chung một nguyên do. Nguyên do ấy xuất phát từ tầng lớp lãnh đạo của cuộc kháng chiến: để mất lòng dân” (vietnam.net). Với cuộc chiến đã qua, nửa phần dân của đất nước như miền Nam nói riêng thì sự “mất lòng dân” không tránh khỏi đã từ lâu. Gây lại niềm tin và xoa dịu vết thương lịch sử này ít ra, văn học cũng có một phần công đức. Công đức ấy bắt đầu từ “Khúc Huyền ca” khắc khoải này.

Với “Mật mã Da Vinci” (The Da Vinci code), thế giới công giáo Kitô đã được Dan Brown “giải mã” và được đạo diễn Ron Howard dựng thành phim. “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” đầy chất người của Trần Anh Thái cũng đã giải mã xong hìng bóng mặt trời tư tưởng nào là chính trong cuộc chiến, cũng đang chờ đạo diễn thực sự có tài dàn dựng và có một tấm lòng hướng thiện. Bản thân XI ca khúc này có “kết cấu một cách chồng hiện gần với thủ pháp điện ảnh”như Dương Kiều Minh đã nhìn ra trong “Nhà thơ Trần Anh Thái và bản trường ca mới”. Nó cũng chung một ý như một tấm lòng “Nguyện cầu ban mai” của Mai Văn Phấn trong trường ca ”Người cùng thời“.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta đã có quá nhiều cái xấu, cái ác thì đừng xây dựng nhân vật với ngần ấy ác độc, hư hỏng, xấu xa thảy vào văn học. Thắp đèn sáng để soi rọi chỗ tối. Lấy hạnh phúc để trám vào lỗ hỏng bất hạnh, lấy sự lương thiện để thay bằng sự độc ác. Mang hoa hồng thay thế những gai chông. Đó cũng là con đường phải vươn tới của văn học hiện đại nhân văn.

“Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” của Trần Anh Thái vẫn còn khắc khoải một ngày mai hướng về một tình yêu hy vọng là có thật trên đời “Nếu em không cùng đi hạnh phúc không đường đến”. Người viết xin mượn một thể tự do để kết thúc bản hòa âm còn nhiều cung bậc chưa hoàn hảo về khát vọng của “Ngày đang mở sáng” đang bên bờ khắc khoải hai từ “Hạnh phúc”: Hạnh phúc?

Là lúc ra đời trên đôi tay mẹ cha

Là nghe tiếng con cười cùng tiếng chim ca trong nắng sớm.

Là nụ hôn, là nỗi chờ mong thắc thỏm…

Là nhắm mắt cuối đời còn có một nụ cười mãn nguyện nở trên môi.

Hạnh phúc trần đời vốn phải có đôi

Điều ngược lại, ôi! quả là bất hạnh!

Thì em ơi!

Trên đường đi, đôi tay siêng nhặt nhạnh

Mảnh vụn nụ cười, thế giới đã đánh rơi.

Một chiếc lá khi cần lời chia xẻ

Trong cuộc đời, có lúc nếm cô đơn.

Nhìn màu tóc, biết thời gian dài ngắn

Mượn nụ cười che chắn nỗi chia ly

Thì em ơi! Ngần ngại để làm chi

Điều hạnh phúc vốn bên đời giản dị

Được làm người sau chót tiễn người đi…

Hạnh phúc vốn diệu kỳ qua xương máu

Được làm người cuối xuống với thương đau!

Trần Anh Thái kết thúc bản trường ca như một lời trăn trối:

Tôi đã viết như tôi đã chết

Nước mắt tạc vào gió thổi ngàn sau.

Xin được viết lại lời hai câu thơ kết thúc cuối cùng bản trường ca “Ngày đang mở sáng” như một nghĩa cử động viên cho Trần Anh Thái, cho những người yêu thương văn học và còn lại cho… mình:

Tôi đã viết bằng trái tim rớm máu

Xin gió đừng mang nước mắt tạc nghìn sau!

Qua thương đau là “ngày đang mở sáng“! Hãy cứ tin như một phép nhiệm màu!./.

TƯ LIỆU THAM KHẢO CÓ SỬ DỤNG:

I. Trường ca:

1. Ngày đang mở sáng. (Trần Anh Thái, nxbhnv-2007).

2. Trên đường (Trần Anh Thái, nxbhnv-2004).

3. Đổ bóng xuống mặt trời. (Trần Anh Thái, nxbhnv-2005).

4. Trầm tích (Hoàng Trần Cương, nxbqđnd-1989).

5. Trường ca sư đoàn (Nguyễn Đức Mậu, cinet.gov.vn).

6. Khúc hát người anh hùng (Trần Đăng Khoa, annonymous.online.fr).

7. Trường ca biển (Hữu Thỉnh, anonymous.online.fr).

8. Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh, anonymous.online.fr).

9. Sông Dinh mùa trăng khuyết (Giang Nam, nxbqđnd-1998).

10. Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm, annonymous.online.fr).

11. Những người đi tới biển (Thanh Thảo, binhthuantoday.com; thinhanquangngai.com).

12. Người cùng thời (Mai Văn Phấn, maivanphan.com).

13. The Gardener (Hiến dâng-Rabindranath Tagore -terebess.hu).

14. Bài ca chim Chơrao (Thu Bồn, annonymous.online.fr).

15. Những người trên cửa biển (Văn Cao, annonymous.online.fr).

16. Sóng Côn Đảo (Anh Ngọc, annonymous.online.fr).

17. Trừng phạt (Trần Đăng Khoa, annonymous.online.fr).

18. Những người đi tới biển (Thanh Thảo, annonymous.online.fr).

II. Thơ:

1. Giấc ngủ khuyết vầng trăng (Trần Chấn Uy, thơ, nxbvh-2005).

2. Bóng ai gió tạc (Thi Hoàng, nxbqđnd, 2001).

3. Thơ Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Anh Nông, Nguyễn Duy, Trần Dần, Tố Hữu, Thế Lữ, Xuân Diệu, Thu Bồn, Văn Cao, Lưu Quang Vũ, Phùng Khắc Bắc, Đồng Đức Bốn, Chử Văn Long, Hồ Thanh Quang, Võ Quê, Huy Thông, Ma Trường Nguyên, Thâm Tâm, Nguyễn Mỹ, Nhật Minh, Đoàn Phú Tứ, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Bằng Việt, Nguyễn Duy, Tô Hoàn, Nguyễn Anh Nông, Nguyễn Du, Thanh Nam, Trần Hoài Thư, Trần Mạnh Hảo, Vũ Hoàng Chương, Lê Đạt, Duyên Anh, Lưu Quang Vũ, Thế Lữ, Thi Hoàng, Nguyên Hồng, Trần Đăng Khoa, Hữu Thỉnh, Trần Chấn Uy, Trần Dần, Tô Hoàn, Vũ Hoàng Chương, Giang Nam, Ngô Thế Oanh, Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Trọng Tạo…

4. 100 bài thơ hay nhất thế kỷ (myheartmoscow.wordpress.com)

5. 100 bài thơ chọn lọc thế kỷ 20. (nxbhnhv-2007).

III: Bài viết:

1. Thơ ca như một thứ tôn giáo (Trần Anh Thái, thoitre.com, evan.com.vn).

2. Người thường gặp (Trần Đăng Khoa, vanhoc.datviet.com.vn).

3. Ta ngạt thở chờ bước chân em tới (Thanh Thảo, toquoc.gov.vn).

4. Tôi viết trường ca Hàm Rồng (Từ Nguyên Tĩnh, vnweblogs.com).

5. Phê bình thơ với vấn đề đánh giá những hành động cách tân thơ hiện nay (Phan Huy Dũng, Văn học Việt Nam sau 1975, nxbgd -2006).

6. Mấy nhận xét về thể thơ trong thơ trữ tình Việt Nam 1975-2000 (Phạm Quốc Ca, sđd như trên).

7. Thơ Việt Nam sau 1975 – Diện mạo và khunh hướng phát triển (Nguyễn Đăng Điệp, sđd như trên).

8. Nhà thơ Trần Anh Thái và bản trường ca mới (Dương Triều Minh).

9. Chân dung và đối thoại 8 (Trần Đăng Khoa, annonymous.online.fr).

10. Trường ca “Trên đường”, một cuộc đổi mới thơ (Dương Triều Minh, evan.com.vn).

11. Giá trị đích thực của thơ: Sự trong trẻo (Trần Ninh Hồ, tuoitre.com.vn).

12. Giữ gìn tiếng Việt trong sáng theo gương Hồ Chí Minh (Minh Huệ-Báo văn nghệ, cinet.gov.vn).

13. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (Đan Tâm, nhandan.com.vn).

14. Bài hát “Đưa cơm cho mẹ đi cày” đạo ý thơ? (Vn.Media.com, Hoa Mai-Tiền phong).

15. Thời bao cấp và tác động của nó lên con người (Vương Trí Nhàn saigontimes.com).

16. Đoản ca về trường ca (Chu Văn Sơn, maivanphan.com).

17. Nghệ thuật lãnh đạo quân sự trong chiến tranh nhân dân (lanhdao.net, vietnam.net)

18. MeKong, “Hòa bình vang tiếng súng” (vietnam.ictglobal.net).

19. “Cảm nhận về tính hiện đại qua một số hình ảnh mang tính biểu tượng, tượng trưng, ẩn dụ trong trường ca ‘Ngày đang mở sáng’” (Dương Triều Minh).

IV: Lý luận văn học:

1. Trường ca, Tính cách, Tính dân tộc, Ngôn từ nghệ thuật, Chủ nghĩa hiện thực, Nhân vật trữ tình, Tiếp nhận thẩm mỹ– Lại Nguyên Ân (Từ điển văn học, bộ mới, nxbtg-2004).

2. Tính người, Tính tư tưởng, Chức năng văn học – Nguyễn Xuân Nam (nt).

3. Tính nhân dân, Tính khuynh hướng-Nguyễn Văn Hạnh (nt).

V: Nhạc:

Trịnh Công Sơn, PhạmDuy,TrầnTiến,TrầnThiệnThanh, Nhật Ngân,Trần Chung, Duy Mạnh, Ngô Thụy Miên, Ngọc Sơn, Tín Hương…

VI: Các web site: dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn, annony mous.online, khoahọc.com, angiang.gov.vn, baothanhhoa.com, cinet.gov.vn, dactrung.net, damau.org, damsan.vn, dantri.com, en.vikipedia.org, hoangtrancuong.vnweblogs.com, it.vikingpedia.org, maivanphan.com, nguyenhuuquy. vnweblogs.com, nguyenanhnong. vnweblogs.com, ninhhoa.com, nguyentinh.vnweblogs.com, nhacvangonline, picasso.fr, phongdiep.net, saigonmusic.net, talawas.org, toquoc.gov.vn, thoitre.com, thotanhinhthuc.org, trinhcongson.com, vanhocviet.net, vnthuquan.net, xuquang.com, tienve.org, suutap.com, viettribune.net, chungta.com, vnca.cand.com, evan.com.vn, vietnam.net, video.yahoo.com, myopera.com; embracel.bogsome.com; vi.wkippedia.org; tapthoth.tripod.com; embracel.blogsome.com; blog.360.yahoo.com… vietnam.ictglobal.net…

Xin chân thành cám ơn.

Tháng 11/20/2007
Ngọc Thiên Hoa

(“Nhìn lại bến bờ 1“, Nxb HNV – 2008).