IV. Thi pháp mới:

Đi tìm hình thức mới cho thơ không phải là việc “cần làm ngay” của người yêu thơ nên không nên vội vã. Tìm hình thức mới cũng không có nghĩa là “đả cựu nghinh tân” hay “hữu cựu bài tân“. Tìm hình thức mới mà nội dung cũ thì chẳng khác “bình mới” mà “rượu cũ”. Do đó, tìm hình thức mới chưa đủ, thơ phải chứa một nội dung căn bản mới dựa trên cái cũ. Thơ ca nương tựa cái cũ mà đi lên chứ không phải “có mới nới cũ”.

Ngàn năm nô lệ Tàu, Việt Nam hầu như bị Tàu đồng hóa trên mọi lĩnh vực nói chung và văn học nói riêng. Chữ Nôm thay thế chữ Hán. “Thơ mới” ra đời giữa thế kỷ XX với Huy Cận, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Nguyễn Bính… phá bỏ thi pháp Đường luật gò bó về hình thức, hạn chế về nội dung thống trị ngàn năm trời. Văn học coi như được cởi trói. Thi cử bằng chữ quốc ngữ do Pháp khai hóa kiểu lợi mình mà cũng thuận cho người, dễ dàng chấp nhận hơn nhưng chữ nghĩa vẫn dùng từ vay mượn Hán Việt và điển tích vẫn được sử dụng trong các truyện thơ. Tóm lại, những gì mang tính chất cưỡng ép, gò bó nói chung, không chóng thì chày cũng vỡ bờ khi tức nước!

Qua bao nhiêu đấu tranh trên chính trường văn học, bàn cờ nghệ thuật vị nhân sinh và nghệ thuật vị nghệ thuật của Hoài Thanh và Hai Triều đánh tới sạch sẽ tướng, chốt mà chẳng nhằm nhò chi. Người ta không biết kết hợp hai vị tướng nghệ thuật ấy lại. Cái nào cũng cần cả. Không có con người, tất không có nghệ thuật. Nghệ thuật không tiến triển theo bước tiến hoá con người theo học thuyết tiến hoá của Charles Darwin thì nghệ thuật chết già với bộ lông thời tiền sử!

Tiếp theo phong trào đổi mới thi ca, thơ theo từng nhóm xuất hiện như diều gặp gió và vấp bụi tre khi dứt dây: Nhóm “Thơ trường loạn” của ngũ tướng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tấn và Bích Khê. Nhóm “Sáng tạo” hiện giờ trừ Quách Thoại thì vẫn còn Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ. Nhóm Xuân Thu Nhã Tập với Đoàn Phú Tứ, Doãn Xuân Sanh, Nguyễn Xuân Khoát… Nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm của Trần Dần, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Phùng Quán, Hữu Loan, Văn Cao…

Tất cả các nhóm, đều đòi tự do sáng tác, chuyển đổi thể chế mới, tự do ra đời rồi… tự tan rã, nhóm bị cầm tù vì sự sai lầm của cơ chế thời bấy giờ. Thi pháp mới cũng uống nước sông mà sống thoi thóp đến ngày nay với nhóm “Mở miệng” của Bùi Chát, Lý Đợi, nhóm “Ngựa trời của Nguyệt Phạm, Thanh Xuân, Lynh Bacardi, Khương Hà, Phương Lan hay hàng loạt thơ theo thể thức nghênh ngang, lên đèo phóng đãng, xuống ngàn ngắm mây!! Giải thưởng đó đây được mùa hơn thóc gạo! Nhóm nào cũng được, sáng tạo hay tối tạo, mở miệng hay câm mồm, ngựa trời hay ngựa chứng không sao cả. Thức ăn đó mà, ai thích gì thì ăn nấy. Có người chê món mắm nêm thúi như xác chết sình nhưng người khoái lại nhìn nó mà… thèm cà pháo! Không ăn được thì để người khác ăn. Bỏ đi sợ tội mang về ăn thì sợ ói! Nhìn chung, hàng rao chẳng bằng ăn vào bụng, chờ đợi… tiêu chảy, cấp cứu nhà thương hay không rồi mới dám nói hàng có “hoá chất” hay không có? Văn học từ đó đến nay, chẳng có hàng mới (thi pháp) nào được công nhận cả dù bao nhiêu người tự chấp cánh cho nhau. Nhưng chim cánh cụt làm sao bay vượt qua bốn biển? Buồn không! Thơ nói mới mà không mới. Thơ có đích tới nhưng chưa có thi sĩ nào đủ sức vươn tới. Thành ra, tắt tị thi pháp.

1. Thi pháp: Dùng cho thơ, đơn giản như một thể thức, phương thức, cách thức làm gì thơ có thể để đạt hiệu quả cao nhất. Ví dụ như trong cách làm thơ, ta học thi pháp làm thơ Đường, thơ Lục bát, Song thất lục bát…, cách viết một bài thơ như thế nào cho có cả hồn lẫn xác? Ví dụ bài thơ lục bát dưới người đọc có thể đổi ngang, ngược hay rút bớt từng từ thì sẽ cho ra 4-5 bài thơ thể loại khác nữa:

BỐN MÙA THẾ SỰ

(đúng luật, đúng vận)

Thanh thanh sắc áo da trời

Bời bời hạt nắng hanh rơi tóc Người.

Xanh xanh bể cỏ non tươi

Quanh quanh én liệng, mây cười bóng hoa.

Chang chang nắng – lửa dung hòa

Khàn khàn tiếng khóc nàng Oa võ vàng.

Ào ào gió đẩy thời gian

Cao cao dáng phượng mơ màng tiếng tiêu.

Nao nao khói tỏa từng chiều

Ngà ngà lá nhuộm vàng hiu sắc màu.

Hiu hiu gió động bờ lau

Trong trong chiếc bóng chân cầu vấn vương.

Ròng ròng lệ tuyết can trường

Thầm thầm một khúc sâm thương cuối đời.

Râm râm bóng ngã trùng khơi

Thâm thâm thế sự tơi bời nắng mưa.

Nghĩa là không nói trực tiếp tên bốn mùa mà người đọc biết là bốn mùa đã tới. Không nói từ buồn mà người ta đọc là biết buồn, không nói vui mà người ta thấy vui… hay muốn tả bốn mùa thì không dùng xuân hạ thu đông mà chỉ lấy những tín hiệu bốn mùa để tả. Thi pháp Nguyễn Du trong Truyện Kiều là trường hợp điển hình.

Gần đây, thử nghiệm thi pháp thơ “Tân hình thức” của nhóm Khế Iêm và Trầm Phục Khắc với những giải thưởng nho nhỏ kích lệ mỗi tháng hai lần cho những tác giả được trúng giải theo thể lệ của ban tổ chức giải với mạng nối kết “tanhinhthuc.org”. Ta có thể thấy rõ một đoạn thơ Tân hình thức của Nguyễn Hữu Độ – người đạt “giải thơ Tân hình thức” như sau:

(NHỮNG) NGƯỜI ĐIÊN

Hắn thích chạy vòng vòng 

vừa chạy vừa quay vậy mà hắn không

chóng mặt thậm chí hắn còn

cười khoái chí hắn cứ chạy vòng vòng

ngày này qua ngày khác và
vừa chạy vừa quay lúc tỉnh cũng như
lúc say ban ngày cũng như
ban đêm hắn không ngủ người ta bảo

hắn điên và khăng khăng bảo

hắn điên hắn vẫn chạy vòng vòng 

vừa chạy vừa quay cho giống

sự chuyển động của cái hành tinh 

hắn và loài người đang sống

Hình thức cũ: Vẫn là loại thơ cần có các khổ thơ. Nó cũng như một bài văn xuôi được ngắt câu thình lình, xuống dòng bất tử, chẳng chấp hành luật lệ an toàn giao thông là ra đường thiếu cái mũ bảo hiểm: Chất lượng. Nếu không xuống dòng thì nó là thể văn xuôi xe lửa như sau: “Hắn thích chạy vòng vòng và vừa chạy vừa quay vậy mà hắn không chóng mặt thậm chí hắn còn cười khoái chí hắn cứ chạy vòng vòng ngày này qua ngày khác và…”. Ối giời ơi! Cối xay gió! Chạy thế thì con vụ, con quay có bạn rồi!

Khác hình thức: Chú ý các từ có màu mà người viết làm dấu là thi pháp của Tân hình thức: Bài này làm theo thể 6/8 hẳn hoi. Câu đầu cứ 6 từ thì xuống dòng và ý câu trên thòng xuống câu dưới 8 từ và vần gieo như các dấu màu trên. Giá trị? Nội dung chẳng biết thằng hắn khốn khổ này đang giở cái trò mèo say tỉnh, điên khùng gì đây trong thế giới đang cần chất xám, cần tuổi trẻ tài cao chứ không cần tài đánh đố? Thôi, cứ kệ hắn, hắn chạy chóng mặt thì lăn đùng ra ngủ. Hắn không ăn thì hắn đúng là điên mà hắn ăn thì người ta… điên vì hắn. Khùng điên làm gì có tiền mua đồ ăn? Lại thế chứ?

Chữ nghĩa nhảy múa vòng vòng chóng mặt và câu cú ngữ pháp ném vào không gian say mòng mòng. Đúng như đầu đề “Những người điên” nhưng chỉ mới cho ra có một thằng điên chạy vòng vòng như vậy cũng đủ hết hồn mấy… Bác… sĩ!

Cái hấp dẫn duy nhất của thể “Tân hình thức” này là: Như một trò chơi game, vui mắt trẻ con, ăn đòn người lớn. Cái chẳng lợi cho văn học: Mãi lo câu cấu tứ từ câu trên thòng xuống câu dưới cho đúng luật nên ý tưởng khó mà đạt tới tầng sâu, cảm xúc khô khan, nhịp nhàng chẳng biết dùng triad (hợp âm) gì cho đúng? Cho học sinh học là… trúng gió hết cả lũ vì câu cú văn phạm đi tong! Cái khổ của thi pháp Đường luật vừa cởi ra thì tra cái khổ “Tân hình thức” này vào. Một cổ mà lắm tròng thế! Con kiến mà leo cành đa là đây!

Thở dài mà than bằng 4 câu “Tân hình thức“, nhức cái đầu, đau cái óc, xốc cái hông, “long cổ hội”:

Trời ơi tui mà hiểu được

chết liền có điên bắt chước điên chạy

vòng vòng như vậy tỉnh cũng

chẳng chơi cái kiểu khùng mà gọi hay.

Khúc Huyền ca” làm theo thể tự do, chẳng luật lệ, thi pháp nào quy định và nó chẳng có cái gì cao sang, quý phái để gọi là “thi pháp nghệ thuật khúc chiết“, “cấu trúc phức điệu của âm nhạc giao hưởng”, hay “thi pháp động” mà Nguyễn Trọng Tạo dành trọn cho trường ca “Trầm tích” của Hoàng Trần Cương. Nó chỉ đi từ thể thơ tự do, nhiều phân đoạn với bố cục tương đối mạch lạc, nhịp nhàng cần thiết đầy đủ. Diện mạo bản trường ca có mặt mũi “khôi ngô tuấn tú” hay không cũng nhờ vào cách trang điểm tự nhiên này để chuyển tải nội dung từ hiện thực chiến tranh mà tác giả từng sống qua. Nó sử dụng cũng các biện pháp tu từ, cũng xây dựng hình ảnh, bố trí tình tiết và nhất là, nó không đóng vai trò MC dẫn chương trình kiêm ca sĩ.

Can thiệp vào từng nhân vật hay từng vấn đề trong tác phẩm của mình, hầu hết những tác giả đều tham dự hội đồng thẩm vấn đơn phương độc mã này. Nghĩa là tác giả miêu tả những tốt xấu đâu đấy cả rồi cứ thế mà kết luận thay cho độc giả. Đó là phương pháp cũ của các thể loại văn chương. Trái với việc can thiệp “nội bộ” vào tác phẩm của mình, tác giả “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” chỉ đưa dữ liệu, miêu tả hiện thực, dẫn chứng bằng lời lẽ, ngôn ngữ, hành động… Chúng sẽ mang tên tác giả đó như khẳng định bản quyền của tác phẩm mà ta quen nhìn hàng chữ “Copyright” (bản quyền). Đó cũng là thi pháp mà người đọc tự đánh giá tốt xấu, có giá trị hay không? Quyền tự đánh giá nhân vật, đánh giá tác phẩm, đều thuộc về độc giả. Tác giả miêu tả dường như… rất lạnh lùng nhưng bên trong tàn ẩn một tình cảm bao la. Phương pháp sáng tác trên gọi là thi pháp cá nhân tỉnh mà động (lạnh ngoài mà ấm trong), cũ mà mới. Nó cũ vì đã có người từng sử dụng. Nó mới là người sử dụng không lặp lại cách viết của người trước dù trong cùng một chủ đề. Rõ ràng nhất là những gì thuộc sỡ hữu đại từ như “của tôi” đã được Trần Anh Thái đánh rơi mất.. của, chỉ còn “tôi’.

Đề tài cũ hay mới hiện nay trong văn học tưởng như ngựa đã buộc cương nhưng thật ra, cương kia không buộc được những con ngựa chứng! Nguyễn Đăng Điệp trong giáo trình đại học “Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy” (nxbgd-2006) với bài “Thơ Việt Nam sau 1975-Diện mạo và khuynh hướng phát triển” đã có cách nhìn nhận, đánh giá khi chia ra được 4 xu hướng phát triển của thi ca (chiến tranh, cái tôi, tượng trưng-siêu thực, hiện đại chủ nghĩa) và nhận xét về khuynh hướng thứ 4 này: “trong khi quá mải mê theo hướng hiện đại, một số cây bút rơi vào nhầm tưởng hết sức tai hại. Họ cứ ngỡ đổi mới thơ theo hướng hiện đại là phải dùng những từ ngữ tục tỉu, những cách nói đậm mùi sex hoặc dùng những kênh chữ… chứa thêm Anh ngữ, Pháp ngữ, lên dòng, xuống dòng… chóng mặt“. Ý này ngược với ý ca ngợi “Thơ Việt Nam hiện nay có một bộ phận mang ý hướng cách tân rõ rệt, nhưng thường bị phàn nàn đánh mất ý thức công dân, bỏ rơi những truyền thống qúy báu, sa vào những tìm tòi bí hiểm, rắc rối, cầu kì, nhai lại… đề cập chuyện tình dục lộ liễu, trắng trợn…” và những người phàn nàn đó là vì “không có cơ hội hoặc không muốn tiếp cận những xu hướng phát triển, tìm tòi của thơ hiện đại thế giới” như Phan Huy Dũng trong “Phê bình thơ với vấn đề đánh giá những hành động cách tân thơ hiện nay” (Văn học Việt Nam sau 1975, nxbgd-2006) khẳng định như vậyChưa nói đúng hay sai, chỉ nói tới một giáo trình dạy học trò mà có hai khuynh hướng trái ngược nhau thì học trò biết “thọ giáo” ông sư phụ nào mới không bị coi là “ngồi nhầm ghế”!?

Thi ca không nói đến ai đúng ai sai hay ai mới hơn ai. Nó chỉ biết, thơ có hồn hay thơ vô hồn, cảm được hay vô cảm. Nếu cảm nhận chưa thông thì đừng theo khuynh hướng ”cuốn theo chiều gió”. Khen chê cũng bởi nhà ngươi. Khen người hôm trước, chê cười bữa nay! Là sao? Người ta khen Nguyễn Du thì khen viết hay nhưng khen về thi pháp lục bát thì Nguyễn Du chết chắc! Toàn bộ Truyện Kiều, hơn một nửa sai thi pháp (vì gieo trật luật và cưỡng vận). Trần Đăng Khoa trong “Chân dung và đối thoại” trên web site (annonymous.online) cho rằng “Sau kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, với lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu, những tưởng lục bát đã khép lại, không ai còn dám bén mảng đến chân cái toà lâu đài châu ngọc mà nội thất toàn gâm thêu ấy nữa. Nhưng đâu có phải. Nó còn mở bao nhiêu cánh cửa, hướng ra cõi vô biên. Lục bát còn thử thách bút lực các thi sĩ. Nói một cách thông thái như nhà văn Nguyễn Tuân: Anh là nhà thơ việt Nam ư? Vậy anh hãy chiềng ra cho tôi mấy câu lục bát của anh, tôi sẽ nói ngay anh là hạng thi sĩ thế nào?”. Lời “sư tổ”cao ngạo phát khiếp!
Hãy xem Nguyễn Du với “kiệt tác Truyện Kiều” của mình gieo vận trong đoạn lấy đại này nha (chưa nói đến luật):

Nghe chàng nói đã hết điều

Hai thân thì cũng quyết theo một bài

Hết lời không lẽ chối lời

Cuối đầu nàng những ngắn dài thở than.

Nhà vừa mở tiệc đoàn viên

Hoa soi ngọn đuốc, hồng chen bức là.

Người ta nói “ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép người“. Văn là người. Thơ là một bộ phận của Văn nên nó cũng có tư cách con người. Làm sao mà thoải mái cho những cặp từ sau đây mà đồng âm: điều-theobài-lờilời-dàithan-viênviên-chen? Họa chăng nói chại theo tiếng Quảng? vời-ngời, nang-nhoàng, điều-thiều, bài-lài, lời-dời; viên-chiên… còn gì là thơ! Không biết sư ông Nguyễn Tuân cho Nguyễn Du là loại thi sĩ nào đây? Tiếp đến, Phạm Quốc Ca… ca “Nhà thơ tài hoa bậc nhất ở thể lục bát trong thời đương đại là Nguyễn Duy” (Mấy nhận xét về thể thơ trong thơ trữ tình Việt Nam 1975-2000, Văn học Việt Nam sau 1975, sđd) nghe mà… thất kinh! Nói hay không bằng một thấy! Thử đọc lại bài “Tre Việt Nam” được dùng trong giảng dạy, một bài thơ ý mới và tu từ nhân hóa hay nhưng thi pháp 6/8 thì cưỡng vận sai gần hết bài. Chưa nói tới luật, chỉ nói tới cách gieo vần, Nguyễn Duy nhà ta đã gieo vần như mẹ Cám trộn thóc với đậu và bắt Tấm nhặt vậy: Này nha (Trích nguyên văn trong trang thơ Nguyễn Duy, annonymous.onlin.fr trừ màu mè là của người viết):

Mỡ màu ít chất dồn lâu hoá nhiều 
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh 
Tre kia không ngại khuất mình bóng râm 
Bão bùng thân bọc lấy thân 
Tay vin tay níu tre gần nhau thêm

Thương nhau tre chẳng ở riêng
Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho con

Loài tre đâu chịu mọc cong 
Có manh áo cộc tre nhường cho măng

Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng, thân tròn của tre 
Năm qua đi, tháng qua đi

Nhìn màu sắc tô đậm (cưỡng vận) của người viết bài này, nào ai có thể cho đây là bài thơ đúng luật 6/8?, chết liền! Cho nên, cuộc thi 99 có tên là bài toán trật đáp số 6+8=99 thì không làm thầy bói cũng biết kết quả như thế nào với những bài lục bát thất luật, cưỡng vận kiểu như Nguyễn Du, Nguyễn Duy và “kính thưa toàn thể đồng bào” thế giới thi ca, chúng ta đều không có ai chẳng có một hai bài lục bát tưởng mình “rằng hay có một không hai, chiếu vần, theo luật, hết sài, uổng không?” (6/8 này đúng luật và vận rõ ràng đó). Vậy thì bắt tay làm lại, không sao cả. Thi luật lục bát không hạn chế chất trí trệ và chất cảm thụ văn học, chỉ có điều, chịu khó thực hành. Nghề nào cũng thế. Lao động chân chính nào mà chả khổ?

Thử xin phép cụ Nguyễn Du và bạn đọc thương yêu văn học cho người viết được gieo vần lại theo một đoạn cưỡng vận của Nguyễn Du:

Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Thành đoạn tạm thời (chưa chỉnh về luật mấy – phù bình thanh phải ngược với trầm bình thanh):

Vân xem trang trọng vóc hài

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài thẹn gương.

Hoa cười, ngọc thốt, hơi sương

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Trúng vận, đúng luật đã đành mà ngữ nghĩa phải đúng. Nguyễn Du dùng “nét ngài nở nang” là giết sắc đẹp Thúy Vân mất! Người con gái đẹp phải có lông mày lá liễu, lá răm, mỏng dánh. Lông mày nở nang như thế thì thành… hai con sâu rộm đậu trên khuôn trăng Thúy Vân?! Người ta nói “trang trọng khác thường” hoặc “trang trọng tuyệt vời” chưa thấy ai sử dụng “trang trọng khác vời” cả! “Khác vời” vô nghĩa, nó chỉ có tác dụng ”chữa cháy” cho vần nhưng vần cũng… cháy đen!

Đọc thơ, phân tích, bình thơ, đánh giá người đừng nhìn chúng trong lớp áo có chủ nhân là quyền thế, bằng cấp, giải thưởng, huân chương mà hãy đặt chúng ngang hàng cùng một loại thì kết quả mới mang tính công tư khả quan! Đừng “thấy người sang bắt quàng làm họ”. “Người sang, cái… ấy cũng sang. Kẻ hèn có chữ cũng hàng đứa ngu”! Thi pháp cũ là đấy!

Thi pháp đã đặt ra, thơ cũng viết nên lời, hay thì nói hay mà trật luật thì nói trật. Cũng như luật của “Tân hình thức”, kiếm bài hay thấy khó khăn mà có bài hay cũng đố mà có thể chuyển tải nội dung, tư tưởng lớn lao! Vậy khi chấm, thì chấm cái gì ở những bài thơ kiểu này? Mới nói: Thơ không ngại đề tài cũ mới mà chỉ ngại hay hoặc hay không mà thôi! Thơ không ngại dài ngắn, chỉ ngại nhất là tư tưởng và luật lệ. Chẳng có cái thể nào gọi là “thơ văn xuôi” cả. Chỉ có “thể thơ tự do” dễ viết, dễ làm. Khi nó là thơ văn xuôi thì nó nằm trong tùy bút! Văn xuôi viết theo dạng thơ thì ném nó vào loại tùy bút nốt. Có ai đi nhốt con gà vào chuồng con vịt rồi bảo đây là con vịt bao giờ!

Rầm rộ thi pháp, cách tân trong hội nghị “Lý luận- Phê bình văn học” ở Đồ Sơn tai tiếng trong tháng 10/2006 là một điển hình bế tắt phương pháp sáng tác!

2. “Khúc Huyền ca” thể hiện sự tổng hợp các thể loại thi ca có chọn lọc khôn khéo:

Với những trường ca, thơ đều thấy rõ là các tác giả ra sức vận dụng toàn bộ các loại thể của thơ bao nhiêu hay bấy nhiêu. Thơ từ một từ đến đoạn dài nhằng mà ta đùa gọi thơ xe lửa. Một phương thức dùng trong trường ca là điệp từ, điệp ngữ đầu câu:

– Hoàng Trần Cương: Nói về may rủi được thua

Nói về ước mong khát vọng

Nói về nhân ái thuỷ chung

Nói về buồn vui tắt đỏ

Mùi cỏ còn đắng nghét đến hôm nay

Mùi cỏ dẫn con vào năm tháng thơm lành

Mùi cỏ mặn và khắn như lông bò tẩm nắng

Mùi cỏ khét dây trói tay cha

– Đoàn Phú Tứ:

Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh

– Nguyễn Quang Thiều:

Như chỉ còn sóng rì rào, như chỉ còn lại nước

Như chỉ còn xa xăm, thiêm thiếp những quả đồi

Như chỉ còn gió đi qua rừng bạch đàn thẫm tối

Buồn bã lời thở than của diệp lục suy tàn

– Mai Văn Phấn: Những lồng ngực mang hình quả chuông!
Những ánh mắt trẻ thơ mang hình quả chuông!
Những hộp sọ vang cùng quả chuông!
Những giọt máu vang cùng quả chuông!

– Trần Anh Thái cũng sử dụng điệp từ đầu câu nhấn mạnh như thế và từng mỗi điệp từ mang ý nghĩa riêng biệt phụ trợ cho nội dung nhưng mới ở chỗ chúng không điệp từ dẫn nguyên câu mà câu có điệp từ lại chia ra, nhìn “rất thoáng”:

Những con còng rúc hang

Những vòm cây

Những cơn gió

Ngày…

Như không thấy gì

Như không tồn tại

Như không có bạn

Như không có người

Mây dại lửng lơ

Ngày!…

Ngày!…

Ngày!…

Đằng đẵng… ngày!…

Đặc biệt, Trần Anh Thái đã không “tham lam” dùng thể “văn xuôi” tùy bút vào trường ca. Lạm dụng nó nhiều, trường ca như chàng trai trẻ bỗng chốc hoá ông già! Một phương thức mới cần chú ý, Trần Anh Thái không chen thể lục bát vào trường ca. Lục bát là loại thể dễ đánh lừa người ta. Nó khó làm được hay trong các thể loại. Ta thấy Mai Văn Phấn khi dùng nó trong trường ca “Người cùng thời” thì cũng chung số phận cưỡng vận:

Từ lưng sóng đến chân 

Hạt cơm xoay xở bốn bề bão giông

Ta và ngọn lửa bập bùng

Trái tim thưa gởi những vùng không gian.

Trường ca “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh cũng thế:

Ngã ba, ngã bảy về đâu

Cái ngáng làm cớ cho nhau chuyện trò

Ngọn đèn bọc trong ống 

Cho em mờ tỏ đến giờ trong tôi

Bài ca nghe chẳng rõ lời

Bao nhiêu gió thổi giữa tôi với mình

Xa rừng bẻ một cành xanh
Gieo vần cưỡng vận như thế dù có luật sư vần lưng hay vần thông gì cãi hộ cũng không phá cái án “tay nghề non”.

Phương pháp sáng tác là một quá trình thực hiện những thao tác từ đơn giản đến phức tạp để tìm ra cho tác phẩm mình một hướng đi mà tác phẩm phải có tính thời gian. Thi pháp là cách viết, cách làm. Ví dụ viết trường ca: Không nên ôm đồm mọi thể thơ. Không sử dụng nó nếu như không rành lắm. Không chắc ăn về thể loại thì không nhúng tay vào. Mạnh về thể loại nào thì sài loại đó! Không trình bày khi thì lên đèo, khi xuống dốc, khi viết in, khi viết hoa… những cái đó chỉ tổ loá mắt người đọc. Tránh cái gì của “của tôi” như má tôi, ba tôi, anh tôi, đời tôi… chiếm hết trường ca là “của dòng họ tôi” không! Trần Anh Thái đã cho những thể loại thơ ba từ, bốn từ xen kẽ vào những năm từ, sáu từ đến nhiều từ như các đoạn thơ đã trích trong toàn bộ bài viết. Cho nên, khi đọc một loạt hết hàng chục bản trường ca, người đọc mới thấy được thế mạnh, yếu của trường ca là ở điểm nào.“Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” là sự kết hợp các yếu tố cần thiết để bảo đảm tính vừa phải để nó được tự nhiên mà sống cùng thời gian. Yếu tố kết hợp với cách dùng thể loại thơ là các phép tu từ mang tính thẩm mỹ nhất định.

3. Giá trị thẩm mỹ đặc sắc:

a. Miêu tả ngắn gọn nhưng đầy đủ ẩn ý: Tức “ý tại ngôn ngoại”.

Trong trường ca này, Trần Anh Thái hoàn toàn thả lõng mình. Tác giả chẳng hề kết luận, đánh giá mà chỉ nêu lên sự việc, miêu tả sự vật. Ví dụ để nói về người mẹ trên cánh đồng khô, Trần Anh Thái chỉ tả:

Mẹ ra đi trong đêm

Sương khuya mò bóng

Thượng đế ở đâu nơi hốc mắt thẳm sâu

rười rượi luống cày, chim sếu co ro ngày không gió.

Người đọc tự hiểu người mẹ này như thế nào? Thượng đế này là đang trách hay đang tin? Ruộng cày ra sao qua những từ ngữ có tính biểu cảm.

Trong trường ca “Trầm tích“, Hoàng Trần Cương đã nói dùm hết sắc thái biểu cảm của người đọc vì đã hóa thân vào tuổi thơ để ca ngợi mẹ mình:

Khoai sắn thay cơm

Những đêm trời lạnh

Mẹ lúi húi xâu đèn hạt bưởi

Thổi nùi rơm phù phù cho lửa rạng lên

Soi mặt chữ ả để con ngồi học

Rồi vác vồ đợi trăng lên ra đập đất ngoài đồng

Sương lạnh xuống bạc sờn vai áo

… Sớm mai kéo sụp nón

Sấp mặt ngồi cuối chợ

Nhặt về những đồng xu bạc phếch đất bùn

Nói về thân phận người thợ cày, Trần Anh Thái chỉ viết:

Thượng đế rong chơi

Người thợ cày nhâm nhi giọt máu của mình

Chảy qua những dòng sông cánh đồng biển sâu lam lũ.

mà chẳng một lời bình, một lời kết thì người đọc cũng hiểu người thợ cày lam lũ này đáng thương khi “đổ vào cánh đồng cơn đói mờ run“. Ngược lại, trong “Mặt đường khát vọng“, Nguyễn Khoa Điềm dẫn chứng xong là kết luận liền: “Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng”. Đọc giả coi như, xong!

b. Chỉ sử dụng từ ngữ để biểu đạt tình cảm, hoàn cảnh nhân vật:

Tác giả chỉ dùng từng sắc thái tu từ biểu thị mối quan hệ tình cảm của từng nhân vật mà không can thiệp vào:

– Ví dụ về hoàn cảnh gia đình, tác giả chỉ viết:

Mẹ thức lúc nửa đêm

Cơm tàn tro nguội

Anh tôi biền biệt chiến trường

Bầy chim thản nhiên bay qua.

Người đọc hiểu được nỗi lòng người mẹ như đang ngồi trên đống lửa vì có người con trai đang ở chiến trường.

Để ám chỉ một mái gia đình con thiếu cha, vợ thiếu chồng, “Người cùng thời” của Mai Văn Phấn đã nói hết bằng ngôn từ miêu tả trực tiếp của tác giả:

Những người mẹ
Người vợ vô danh
Mất con
Mất chồng sau cuộc chiến
Trần Anh Thái trái lại, tác giả chỉ dùng ngôn ngữ miêu tả gián tiếp qua “hương khói ban thờ” và “trăng rằm côi cút” tạo hình ảnh:

Hương khói ban thờ đỏ mắt

Trăng rằm côi cút sáng ngoài sân.

Cũng vậy, với hoàn cảnh má Mừng, nhân vật má này chẳng nói gì, tác giả chỉ ghi:

Gương mặt chồng và năm đứa con

Tàn nhang rơi lạnh.

thì người đọc giật mình biết là má có 6 người thân đã hy sinh với 4 từ “tàn nhang rơi lạnh”. Trái với thủ pháp tả “lạnh” này, Mai Văn Phấn trong trường ca “Người cùng thời” lồng mình với thủ pháp “nóng” cùng “khóc” với nhân vật “bà”:

Khóc không thành tiếng cánh diều ước mơ
Hoa văn trên án hương thờ
Nghe trong ruột gỗ người xưa gọi thầm
– Trong “Khúc Huyền ca“, tình cảm “cậu bé và cô bé” không giống bất cứ chuyện tình nào trong văn học. Nó chẳng có từ yêu, không bỏ xuống chữ thương. Tác giả chỉ viết:

Đêm đóng cửa vẽ gương mặt em trong trái tim tôi khi ấy

Cây bút buông rơi trang giấy vo nhàu.

Người đọc biết rằng từ đây, trái tim cậu bé đã có một nữ chủ nhân dễ thương ngự trị. Có nghĩa là “em đã nhốt anh trong trái tim của em”.

Để diễn tả trường tương tư, Trần Anh Thái không “yêu xanh núi, nhớ tím trời” như “Tứ tuyệt tương tư” của Xuân Diệu “hoa tím tương tư đã nở đầy” hay la ó “Lệ Kiều ơi” hỡi như Hàn Mặc Tử với “Trường tương tư” của mình và chẳng giống “Trường tương tư” của Lý Bạch “Nguyệt minh nhân ỷ lâu” (người tựa lầu đêm trăng) hoặc “ruột tằm chính khúc” vò tới vò lui trong “Tương tư” của Tú Mỡ. Cũng vậy, khác với “Tương tư” 6/8 lệch thi pháp và cưỡng vận khổ sở của “Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông” mà Nguyễn Bính hít hà. Trái lại, tương tư của “Khúc Huyền ca” nhẹ nhàng, bí ẩn mà… nặng công hơn:

Vô cớ một tiếng chim

Vô cớ u buồn

… Lang thang khắp các nẻo đường

Trĩu nặng dấu chân em.

Vô cớ” cũng là cái cớ, là một cách biểu hiện tương tư khá cảm xúc. Nó có ca dao phụ trợ phát sinh từ làng thuốc lào Vĩnh Bảo – Hải Phòng:

Nhớ ai như nhớ thuốc lào

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

– Để biểu thị mức độ tình cảm của tác giả khi dựng lại hình ảnh chiến tranh, hầu hết các tác giả các thể loại cùng chủ đề này nói chung và trường ca nói riêng, cái “tôi” của tác giả nằm trọ trong tác phẩm. Mức độ khen chê, thù hận, thương yêu đều dàn trải hết qua nhân vật “tôi” này. “Khúc Huyền ca” không hề biểu hiện một thái độ của cá nhân chủ nghĩa trong tác phẩm. Đó là một tư duy theo phương pháp mới khi phác họa lại hình ảnh chiến tranh. Qua bao nhiêu năm, dĩ nhiên, cái nhìn về chiến tranh phải khác đi. Nhận xét, kết luận về kẻ thù cũng nên hiểu ở mức độ giá trị con người chứ không nên đánh đồng là thú vật với những từ ngữ “mày, tao, nó, thằng, quỷ, cá mập, rắn độc, xà tinh”.

Một ví dụ điển hình: Ngay cả “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” khi in, ban biên tập cũng cắt đi một nửa câu, đoạn nào chửi độc nhất, thù hận nhất về Mỹ, Ngụy của nữ bác sĩ liệt sĩ đáng thương này! (không tin thì độc giả thử đọc và đối chiếu bản chữ viết tay của cô và sách đã in thì rõ). Cắt để phù hợp với thực tế hay cắt để sách bớt nặng ký về chính trị, bang giao hoặc mục đích nào khác thì việc làm đó là coi thường độc giả, không trung thực và tôn trọng tác giả. Chi bằng, mình viết ra theo một quan điểm nhân văn mới như Trần Anh Thái thì việc làm này được coi quanh minh lỗi lạc hơn. Chỉ một đoạn ngắn:

Tôi nghe lạnh giữa hai bờ cuộc chiến

Cái chết nối hàng

Cái chết tiễn đưa nhau.

Quan niệm của người lính cũng như tác giả về cuộc chiến đã rõ ràng. Cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của Việt Nam dừng lại ở mốc nào? Nội chiến bắt đầu từ mốc nào và kết thúc?

Cái chết

Bom vùi lấp mặt

Mặt trời lấp mặt

Xác quân thù xác bạn gục vào nhau.

Kéo hoàng hôn rã rời

Xác này là xác của ai? Ta là ai và địch là ai? Mốc thời gian nào thì còn giặc Pháp, Mỹ? Mốc thời gian nào thì nội chiến? Không còn giặc ngoại xâm thì ta múa kiếm đằng đông, ta dóng trống đằng tây đánh ai đây? Không thấy nói. Tác giả chỉ miêu tả lạnh tanh :

Bóng người dìu nhau bết máu. Màn đêm lặng phắc bãi chiến trường, gió khô mặt đất. Mơ hồ cơn co giật, tiếng gọi thất thanh, tiếng kêu cứu vớt, ròng gương mặt thời gian ám mùi bom đạn.

Những xác chết ngổn ngang hình hài méo mó. Từng nhúm xương chắp vá vô tình đêm tối mò tìm. Căn hầm nồng nặc.

Bầu trời những vì sao tối dần, cái chết im lìm chờ cuốn ni lông đưa về đất. Thời gian rỉ máu, không gian ngột ngạt tanh nồng. Côn trùng rền rĩ.

Họ đã đi tới đích cuộc đời. Không còn tường thành giam hãm.

Giữa trận chiến ai mạnh nấy thắng, ai bắn giỏi ấy hơn thì làm sao có chỗ ưu tiên “máu anh phun theo lửa đạn cầu vòng” như Lê Anh Xuân đã ngoa dụ trong “Dáng đứng Việt Nam để cùng Tố Hữu và các trường ca, thơ ca kháng chiến “hoan hô anh giải phóng quân, kính chào anh con người đẹp nhất”? còn máu kẻ thù tụi bay thì tanh tưởi bùn sình? Ngược lại với hình ảnh này, người lính trong “Khúc Huyền ca” với tư cách một kẻ thắng trận:

Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc

Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau.

Không biết người Chiêm Thành có lịch sử? Chẳng hiểu người Campuchia có lịch sử? Trong lịch sử của nước họ, họ có gọi Việt Nam với những danh từ thú tính hay không? Vì sao có “Hận Đồ Bàn”? Có công chúa Huyền Trân đáng thương trong một sự đổi chác đang còn lưỡng phân không biết là để nối tình đoàn kết hay chỉ lấy cớ xâm lăng? Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau lại là “những ngôi tháp chàm rêu phong cổ kính, bầy dơi nghe động bay vù, con sư tử đá nằm lim dim ngủ, hàng dừa xanh thấp thoáng sương mù” đã hiện diện trong trường ca “Bài ca chim Chrao” của Thu Bồn từ thuở nào!

– Nói về số phận những người mẹ: Như má Mừng. Tác giả không giới thiệu đây là người mẹ có công cách mạng tác giả chỉ tả ngắn gọn:

Chiếc lán cứu thương năm chiến tranh

Giờ mọc vài cụm cỏ dại

Trống hai bàn tay trống ánh nhìn.

Người đọc hiểu ngay công việc má làm “cứu thương” và số phận chung đầy “cỏ dại”Má nhận lấy sự đau đớn vì 6 người trong gia đình hy sinh với một thái độ câm nín mà sống:

Hai mắt ngây nhìn

Rừng xưa lá rụng đăm đăm.

Bày tỏ tình cảm cho nhân vật, tác giả tự hóa thân vào thiên nhiên:

Ngày xa dần

Mây bay lơ lửng

Sông Vệ thẫn thờ xanh.

Con sông là biết “thẫn thờ” huống chi con người!

c. Giá trị lịch sử: Thời bao cấp.

Thời bao cấp kéo dài trước 1975 nhưng tiểu biểu nhất từ 1975-1986.

Nói về cái khó khăn của người chị, tác giả chẳng liệt kê dài dòng mà chỉ nêu một vài từ tiêu biểu:

Chị giật mình

Gói mì tôm chuột tha đi mất

Tem phiếu nửa mùa

Bữa ăn chống đũa.

Thời tem phiếu ai nghĩ tới cũng kinh. Kẻ nhắc lại rùng mình. Từ Nguyên Tĩnh trong vnweblogs.com của mình với “Tôi viết trường ca Hàm Rồng” cay đắng nhìn nhận: “Thời ấy, tem phiếu mà mất là cả một năm vợ con phải ăn lạt”. Vậy thì ai có thể ăn sung mặc sướng trong thời kỳ bao cấp ấy? Kẻ đó không là bề trên thì cũng quan tham nhũng như Trần Dụ Châu (đại tá cục trưởng cục quân nhu). Tử hình các địa chủ, phú nông với tội danh “bóc lột” năm 1956-1958 hay tử hình Trần Dụ Châu với tội danh “tham nhũng” năm 1949 thì thời hậu chiến, còn bao nhiêu “đại gia”, sư tổ Trần Dụ Châu nữa sống sờ sờ. Hóa ra, Trần Dụ Châu chết không có đồng bọn, bạn bè. Nước Việt Nam sẽ không có từ tham nhũng vì “các nhà làm tự điển chưa xác định được thuật ngữ mới, chắc phải hỏi các quan thanh liêm’ như Từ Nguyên Tĩnh viết trong “Tên gọi không còn đúng nữa”:

Rồi một lúc nào đó tên gọi

Tham Nhũng sẽ không còn đúng nữa

Tham nhũng chỉ là quấy nhiễu hạch sách dân

để ăn chút tiền còm

Con gà con vịt ở nông thôn

Không có ai bị tử hình vì tham nhũng như nói trên thì sao nhà nước lại lo lắng về nạn tham nhũng hiện nay nguy hiểm đến mức mà các nhà đấu tranh tự do gọi là “quốc nạn”? Té ra, thời chiến, Trần Dụ Châu chỉ là ăn “Những mảnh vụn chiến tranh” thôi. Còn bây giờ, mảnh vụn ấy cũng không còn cho những người sống bằng nghề ve chai, nhôm nhựa, phế liệu kiếm chác vì ‘không có miệng mo có đâu cho bồ đài’! Hóa ra, đất nước mình giàu lắm vì chẳng ai tham nhũng mà mình không biết đó thôi! Nếu có, tử hình hết theo luật rồi. Vương Trí Nhà trong “Thời bao cấp và tác động của nó lên con người” (saigontimes.com) thở dài: “trong cảnh nghèo rỗi rãi, người ta rất hay soi mói để ý đồng nghiệp và hàng xóm. Nghi ngờ xen lẫn ghen tị. Ghen tị một cách tự nhiên, thậm chí không biết rằng đang làm một hành động độc ác. Cùng cảnh khổ với nhau, không lẽ gì có người hơn kẻ kém. Vậy không ai được phép hơn mình. Không cho ai ngóc đầu lên cả. Cách gì cũng có thể làm, miễn là kéo được nhau xuống”.

Trần Anh Thái nhẹ nhàng hơn về người chị trong một giai đoạn bị coi là giai đoạn chết nửa con người trong thời kỳ nghẹt thở vì chen chúc sống với lũ gia cầm hay heo chó:

Những năm ở rừng

Cơm nắm chia tư

Trong trời trong mắt.

Hoà bình lánh mặt

Nước mắt giấu đêm

Qua đường ngần ngại.

Chỉ một vài chi tiết là có sức tải tái hiện lịch sử một thời kỳ đau thương sau hậu chiến, “Khúc Huyền ca” tự nó đã có dáng dấp của một trường ca thể hiện chủ đề, tư tưởng lớn “trầm tích” mà khó có trường ca nào bắt kịp phương pháp sáng tác này. Khi người ta nhớ lại một thời kỳ khổ đau đi cùng năm tháng, khốn cùng kèm theo tên tuổi thì người ta sẽ thấy nó có giá trị “biện chứng lịch sử” vì bản thân tác giả Trần Anh Thái và hầu hết người sáng tác không là cán bộ bậc tem phiếu cấp 1, 2 hay 3 thì đều là nạn nhân của thời bao cấp. Giá trị những bản trường ca nói riêng và văn học nói chung ra đời trong thời kỳ này đều giảm đi giá trị được có của nó. Nếu tác phẩm muốn sống, người đẻ ra nó phải… tùng xẻo con mình ít nhiều theo kiểu “không ở bầu thì cũng phải tròn, chẳng ở ống thì cũng phải dài’ nhiều khi, cha mẹ phải “ăn thịt” con một nửa mới đẩy được nó ra đời. Những đứa con tật nguyền trong văn học có hôm nay, phần lớn chính là từ thời đen tối trong lịch sử này. Người ta nghĩ ngay đến “Khoảng khắc im lặng của chiến tranh” của đạo diễn Vũ Phạm Từ, “Hà Nội trong mắt ai” của đạo điễn Trần Văn Thủy. Những người có tên, có tuổi và có… “vấn đề” thời ấy cũng được trình diện trong mắt ai như Nguyễn Trọng Tạo, Thanh Thảo, Trần Tiến… Những đứa con ấy lại lai căng đẻ ra những tác phẩm kinh dị nằm nghiêng, nằm ngữa trên gường từ khách sạn cho tới ruộng đồng hiện nay tràn trong văn học mà văn học chưa đủ năng lực sàn lọc. Ai là người sống thanh thản thời ấy? Vẫn là cán bộ cố dân. Họa hoằn dăm kẻ dấn thân chiến trường!

Hiện nay, phòng trưng bày Hà Nội trưng bày hiện vật lịch sử của “Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp” vẫn mở cửa chào đón người tìm về bóng dáng xưa để trân trọng hơn cuộc sống hôm nay mình đã may mắn không phải vật lộn với con chuột từng gói mì tôm!

d. Giá trị tìm về nguồn cội:

Như nuối tiếc cho một cái gì quý báu vừa đánh mất, thi ca thường tìm về con đường nguồn cội của mình. Lưu Quang Vũ bắt đầu “Tôi đi tìm dòng máu của tôi. Hơi thở đầu sôi sục của tôi” trong “Đất nước đàn bầu”. Ta có thể thấy được hình ảnh đất nước và dòng máu tổ tiên trong “Bên ô cửa sổ tần sáu, âm xa (Nguyễn Văn Duy); Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm); Đất nước ta, Người đi tìm hình của nước, Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên); Đất nước vào xuân, Dư đồ tổ quốc (Bảa Định Giang); Đi giữa mùa xuân (Chế Lan Viên), Tự thuật của người lính (Hữu Thỉnh) Thử nói về hạnh phúc (Thanh Thảo)Giờ quốc sử (Đoàn Văn Cừ); Nam Quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt); Ta đi tới, Nước non ngàn dặm, Việt Nam máu và hoa (Tố Hữu); Nhìn từ xa tổ quốc, Tre Việt Nam (Nguyễn Duy); Đêm phương Nam nhớ về tổ quốc (Trần Mạnh Hảo), Tổ quốc (Huy Cận); Tiếng đàn bầu và đêm trăng (Trần Đăng Khoa); Việt Nam quê hương ta (Nguyễn Đình Thi); Tụng Tây hồ phú (Nguyễn Duy Lượng); Đào Nguyên ca, Brahma (Đào Văn Kỷ)…

Tìm về nguồn cội tổ tiên và giải mã giấc mơ của người đạo sĩ là cái đích tới của “Khúc Huyền caTrong trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời“, Trần Anh Thái từng trăn trở về nguồn cội với con đường khai mở từ:

Cánh đồng mọc ra từ máu thịt ông bà

Lửa đậu đêm đêm ban thờ tiên tổ

để nói về một khắc khoải của hành trình tìm về nguồn cội tổ tiên, “Khúc Huyền ca” của Trần Anh Thái không viện dẫn đất nước tôi tôn quý “Đất là nơi chim về, Nước là nơi Rồng ở” như Nguyễn Khoa Điềm trong “Mặt đường khát vọng” hay đất nước là “nơi có Thánh Gióng bay lên, nơi có cô Tấm hiện về” của Hoàng Trần Cương trong “Trầm tích” … mà tác giả chỉ dùng những ví von câu đất nước như:

Chiếc đỉnh đồng mất lửa

Những tàn nhang đã tắt

Mặt trời tắt

Ý nghĩ rối mù

Đêm vang hỗn độn,

Người mò mẫn tìm lửa ở nhà mình

Tàn tro đã nguội

Người ngồi thật lâu

Gầy buồn thế kỷ.

“Trăm thứ lửa” của Xuân Diệu ngày nao đòi đốt lên “cho bừng tia mắt đọ tia sao” tắt lịmNgọn “lửa thiêng” của Huy Cận cũng ngủm cù đeo theo lịch sử. Mặt trời tắt thì thì người hãy tự đốt lửa nhà mình lên. Tro tàn đã nguội lạnh, nhóm lên cũng thật lâu. Người ngồi chờ lửa cháy, chờ mòn thế kỷ! Buồn đến thế! Mặt trời tắt thì làm sao biết được đâu là ranh giới giữa ngày và đêm? Không nhìn thấy ngày và đêm thì làm sao biết người nào chơn hay ác? Vậy thì phải nhờ vào một người nào đó đáng kính trọng chỉ đường. Một nhân vật huyền thoại xuất hiện trong mơ:

Đêm đêm giấc mơ trở về

Người đạo sĩ chống cây gậy trúc

chỉ tay về phía biển Đông

Mặt trời đang mở sáng…

Chỉ cần đọc phớt danh từ “đạo sĩ”, với động từ “chỉ tay“, người đọc sẽ nghĩ rằng Trần Anh Thái bị… tẩu hỏa nhập ma bởi khi khổng khi không cho vời ông đạo sĩ nào đấy từ đạo Lão bước vào trường ca mà làm bùa phép!! Cười! Đâu nghĩ rằng, bản trường ca thứ ba của Trần Anh Thái có cái độc đáo của nó ở chỗ khi nào nó ẩn vào những trang đêm dài động não, nó là “Khúc Huyền ca”, khi nào nó chui ra ngoài ngày dễ thấy, nó là “Ngày đang mở sáng“. 4 câu thơ một dòng suy tưởng, một giấc mơ lịch sử mở đường ngày nao với những đoàn quân vi-king mở nước thời xửa, thời xưa, thời ta chưa ra lò, thời con người chưa giở trò lừa dối.

Người đạo sĩ” ở đây không xuất thân từ đạo Giáo, đạo Lão hay từ phái Võ Đang tận bên Tàu như Khấu Khiêm Chi, Lý Thiếu Quân, Lý Xương Linh, Lục Tu Tĩnh, Văn Tử, Vương Huyền Phụ hay Trương Đạo Lăng, Trương Tam Phong hoặc Võ sĩ đạo tận bên Nhật hay gã “Phong Vân đạo sĩ” thời nhà Mạc chuyên làm điều trái đạo.

Cây gậy trúc” ở đây cũng chẳng phải ám chỉ quyền lực của ông tổng thống Argentina, chẳng phải cây gậy trúc chỉ dành cho “con bướm ngủ” của nhà thơ thiền sư Basho. Nó chẳng phải cây gậy trúc buồn đời của Hồng Thị Vinh trong “Đời ngàn dặm“, hay cũng chẳng phải là cây gậy trúc của Tiểu Khiếu Hoá trong “Hồng nhan đoạt phách” hoặc của Du Thản Chi trong “Lục Mạch thần kiếm“. Nó cũng chẳng là cây gậy trúc của cụ Thượng từng giúp chàng Lê thoát nạn bởi tay “Phong Vân đạo sĩ” trong truyện “Xuất xứ” của Phạm Lưu Vũ. Nó cũng chẳng phải cây gậy trúc giúp bà cụ của Thạch Lam thêm “cái chân” trong “Dưới bóng cây Hoàng LanNó khác xa cây gậy trúc gần đây làm người ta thất kinh với những “thánh thủ thần thâu” chuyên móc đồ nhà người dân được gọi theo kiếm hiệp là ‘Cây gậy thần kỳ’ của đạo chích Hà Nội” (vnmedia.vn).

Vậy ám thị “người đạo sĩ” và “cây gậy trúc” trong “Khúc Huyền ca” có ý nghĩa gì? Đơn giản chỉ là tổ tiên (đạo sĩ) và phép màu quyền lực (lịch sử 4000 năm mở nước). Đó mới chính là nhân vật linh thiêng, quyền uy, phép màu huyền diệu nhất mà không một người nào yêu đất nước mình dám bày tỏ thái độ khinh mạn và bất kính:

Ký ức sáng trên vầng trán người đạo sĩ già

ẩn cư miền cao Yên Tử

Chòm râu phơ phất ưu tư.

Ở đây, thật lý thú bất ngờ khi Trần Anh Thái đưa người đọc về một nơi thánh tích: Núi An Tử hay An Tử Sơn nằm ngay ở quê hương mình. An Tử Sơn là đất tổ của Phật giáo, một đạo lành mạnh, lấy chữ “Đức-Nhân” là đầu mà hầu hết người Việt Nam đang tôn kính. Núi An Tử cũng là nơi “hoàng tích” vì đức Trần Nhân Tông (con vua Trần Khâm-Trần Thánh Tôn và cháu nội của Trần Cảnh tức Trần Thái Tông) cha của vương hậu Chế Mân tức Huyền Trân công chúa, là một vị vua hiền đức và tài năng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, tu hành ở Bạch Am Tự. Tìm về di tích tổ tiên tức là tìm về truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm và sự phát triển nền văn hóa tinh khiết nhất của dân tộc. Một thời đại nhà Trần đáng tự hào khi tất cả hoàng thân quốc thích, từ phụ lão đến nữ lưu tạo nên một lịch sử giữ nước hào hùng mà trong đó có Chương Dương- Hàm Tử Quan khúc (Tòng giá hoàn kinh) mà Thượng tướng Trần Quang Khải sang sảng đọc năm 1285 là một điển hình:

Đoạt sáo Chương Dương độ.

Cầm hồ Hàm Tử Quan.

Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san.

Yên Tử với thiền viện Trúc Lâm thành nơi lễ hội hàng năm rộn rã suốt ba tháng mùa xuân. Yên Tử nơi thanh thản của lòng nhân với “Tham. Sân. Si” trần đời rũ sạch. Thái thượng hoàng Trần Thái Tông “người có cả một vương triều” lại không màng nhung gấm vàng son. Hỡi ơi! Sao có lắm kẻ ngồi lâu chai cả ghế, lỳ cả tảng đá rêu rong! Thế mới ca rằng “Người biết Nghĩa tất không tham. Người biết Đức tức không thích tiếng tăm lừng lẫy. Người biết Khiêm Nhường tất biết chỗ ngồi của mình”. Bốn điều hạnh phúc chính là: “Thân xác khỏe mạnh. Tinh thần tự do. Trái tim trong sạch. Tâm hồn nhân ái”.

Người đạo sĩ già trong “Khúc Huyền ca” vẫn chưa đạt tới đỉnh cao của đạo đời khi chòm râu còn “phơ phất ưu tư”. “Ưu tư” vì “Non sông ngày đổi đêm dời. Máu rơi, thây đổ lệ rơi hàng hàng“! Tổ tiên dựng nước vẫn chưa yên lòng, kẻ cháu giữ nước gây cảnh “cốt nhục tương tàn”, bán thân, dâng đất cho người ngoại tộc, há quả là bất nhẫn! Nhạc sĩ nhân văn Trịnh Công Sơn đã đúc kết tiền đồ của tổ tiên để lại trong “Gia tài của mẹ” chỉ là “một nước Việt buồn“:

Gia tài của mẹ một bọn lai căng

Gia tài của mẹ một lũ bội tình.

Vậy thì chỉ còn cách ước mơ tự do chân chính và khát vọng mở lòng thân ái theo tay chỉ của tổ tiên, hãy nhìn về biển đông…

Biển Đông (marginal sea) – Biển Nam Trung Quốc: Nơi ấy đang tranh chấp những quần đảo không người ở nhưng tài nguyên biển phong phú. Biển Đông gợi lại một Trường Sa đã mất về tay Trung Quốc- một người anh em cộng sản được coi là “môi hở răng lạnh”. Biển Đông vẫn đang nhuộm đầy máu đỏ của binh lính hai miền trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà các nước chung quanh đang xâu xé.

Biển Đông, nơi chôn xác hơn một triệu người vượt biển tìm tự do và biển đông cũng ngày ngày đón con cháu họ trở về quê cha đất tổ. “Cáo chết còn quay đầu về núi” huống chi “con người có tổ, có tông như nhà có nóc như sông có nguồn”. Tổ tiên không từng nhắc nhở chúng ta “có nhìn xa mới thấy rộng” sao? Người ta vẫn không quên trong “Bài ca mùa xuân 61” của Tố Hữu có những câu đáng nhớ đời cho sự nhìn xa thấu rộng này:

Chào 61 đỉnh cao muôn trượng

Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng.

Trông lại nghìn xưa trông tới mai sau
Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu.

“Ngày đang mở sáng” đã mở ra một địa cầu bốn hướng bằng Địa Trung Hải:

Tôi ra bến tàu

Địa Trung Hải một màu đen huyền thoại

Vách núi in chi chít bàn chân.

Địa Trung Hải nối liền Á, Phi, Âu châu nằm theo hướng Tây Bắc. Châu Phi với dòng sông Nil 7 nhánh đổ vào biển Địa Trung Hải tạo nên một nền văn minh sông Nil. Nhà thờ đá Lalibela cổ kính với thánh đường Hồi giáo Abu El Abbas, phố cổ Alexandri và Samạc Sahara bốn mùa gió cát.. gợi một thời kỳ văn minh cổ xưa đẫm máu. Người đi tìm về Ai Cập cổ đại-nơi phát sinh nền văn minh sớm nhất của nhân loại với hội họa, điêu khắc, thuật ướp xác, những kim tự tháp độc đáo và 7 kỳ quan đứng nhất thế giới (Lăng mộ Giza, Muasolus, vườn treo Babylon, tượng thần mặt trời, tượng thần Zeus, hải đăng Alexandria, đền thờ Arlemis-Diana). Châu Âu với Hy Lạp cổ đại là một trong những nền văn minh nhất thời cổ đại với những thần thoại Hy Lạp độc đáo, nền triết học phươntg Tây, toán học, Olympic sớm nhất nhân loại. Mắt mở rộng tầm nhìn. Người mở rộng vòng tay thân ái. Khát vọng nẩy sinh. Mặt trời xuất hiện theo một nghĩa tượng trưng.

e. Hình ảnh “mặt trời”: Con người và trí tuệ.

Mặt trời (nằm trong hành tinh được gọi là hệ mặt trời – thái dương hệ với 8 hành tinh quay chung quanh) thực ra chỉ là một ngôi sao trong 200 tỷ (có web ghi 100 tỷ) ngôi sao tương tự của thiên hà tức dải ngân hà trong không gian vô tận. Giá trị của nó là tạo ra nguồn năng lượng cần thiết để cho trái đất – vệ tinh của mặt trời – duy nhất có sự sống. Do có thể tái tạo sự sống đó, mặt trời được thần tượng hóa như quyền lực và sức sáng tạo tương đương vị thần trong các thi ca cổ đại. Nó là hình ảnh tượng trưng cho một thế giới siêu nhiên. Cho nên, chinh phục được nó là chinh phục được thiên nhiên như “Trường ca Đam San“, nhân vật Đan San đi bắt nữ thần mặt trời về làm vợ. Mặt trời còn mang ý nghĩa tượng trưng cho cuộc sống lúc bình minh. Mặt trời cũng là một nhân vật chính có tên Helios, một trong nhân vật chính của “Thần thoại Hy lạp“. Tượng thần mặt trời dựng ở Rhodes là một trong 7 kỳ quan của Ai Cập cổ đại.

Trong văn học Việt Nam, dùng mặt trời theo biểu tượng hơi nhầm vật lý là “vầng thái dương” trong việc ”làm đuốc dẫn đường” đã được nhân hóa và so sánh như một lãnh tụ mà Tố Hữu từng ca ngợi:

Bác Hồ là vị cha chung

Là sao bắc đẩu là vầng thái dương.

Mặt trời còn được ví như người cha trong loại hình 7 nốt như trong “Tình cha“, Ngọc Sơn ví “Tình cha ấm áp như vầng thái dương. Lặng lẽ tỏa những hào quang chói lọi để sưởi ấm trên từng bước đường con đi”. Những cái gì tốt đẹp, cao quý, có chất trí tuệ, người ta dành cho những người mà họ kính trọng. Ví dụ như “Puskin là mặt trời của thi ca Nga“, “Trịnh Công Sơn là mặt trời trong âm nhạc và hãy để mặt trời ấy được ngủ yên”. Bùng nổ ca nhạc như không gian bùng nổ tia X với những đầu đề có tên mặt trời như “Mặt trời dịu êm, mặt trời trước biển, mặt trời ngủ yên, mặt trời lạnh, mặt trời hồng tỉnh thức, mặt trời bên kia miền lạnh, mặt trời bé con, mặt trời của Siu…”

Mặt trời trong “Khúc Huyền ca” không phải là “mặt trời chân lý chói qua tim” của Tố Hữu mà chỉ là mặt trời ước mơ của tuổi thơ trong khúc I:

Tôi hào phóng tung những con tàu cất giấu trong mơ

Bay mãi mãi về phía mặt trời bí ẩn.

Nó gần gần với “mặt trời bé con” của Trần Tiến với ngụ ý là mặt trời tương lai hạnh phúc của trong khúc II khi có “Em”:

Đôi môi hứng khởi thẹn thùng

Sẽ cùng tôi yên tĩnh dưới mặt trời dịu nắng.

Nhưng như vật đổi sao dời, mặt trời hạnh phúc của tuổi thơ cũng mất theo chiến tranh. Cuộc đời lộn xộn, mặt trời cũng ngủ vùi trong khúc III:

Mặt trời tắt

Ý nghĩ rối mù

Đêm vang hỗn độn

Mặt trời trở thành niềm tin và thất vọng đã bị đánh tráo trong trường ca “Trên đường”:

Niềm tin và thất vọng

Đâu ánh sáng mặt trời.

Không thấy mặt trời nên người ta không thể biết đâu là lằn ranh của ngày và đêm nhưng một giấc ngủ vùi lãng phí thời gian cũng chẳng làm sao phân được đêm và ngày! Không phân biệt đâu là đen trắng, đâu là ác hiền. Con người như đi vào bóng đêm mù lòa, nhòa nhòa ký ức. Thế Lữ trong “Nhớ rừng” đã nhân cách hóa con hổ bị nhốt đang “ngậm một mối căm hờn trong củi sắt” than thân:

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

Con hổ-Thế Lữ- tất tả chạy theo “Cha vác kheo đi dưới mặt trời của Trần Anh Thái trong trường ca “Trên đường” để “chiếm lấy riêng điều bí mật” sau cái chết của mặt trời, còn làng trong “Đổ bóng xuống mặt trời” thì ngược lại, không bí mật gì cả, chình ình ngay ra đó “làng nhỏ nhoi mọc trước mặt trời. Chu Văn Sơn trong “Đoản ca về trường ca” (trường ca thứ hai “Đổ bóng xuống mặt trời“) nhận thấy “Thái đã trút tất tật máu thịu hồn vía vào những suy cảm căng thẳng và lao lung của mình. Suy cảm bao trùm lên tổng thể mạch thơ, suy cảm dồn trút vào từng chi tiết hình ảnh thơ, suy cảm nuôi dưỡng cả một hơi thơ khoẻ đều từ đầu chí cuối để theo cho được cái hơi thở phì nhiêu quyết liệt của Làng”. Người chạy theo thời gian cũng như trái đất quay chung quanh mặt trời. Trước mặt trời, làng phải được khai sinh đón ánh nắng đầu tiên khai mở. Cha đi dưới bóng mặt trời vì cha chạy theo thời gian. Sáng, bóng người cùng mặt trời nhập một. Trưa, người đổ bóng vào mặt trời vì mặt trời ở đỉnh đầu. Chiều, mặt trời xuống núi, bóng người chìm theo mất dạng mặt trời với “những mảnh vỡ mặt trời xô ngang mặt nước”. Nhưng theo quy luật thiên nhiên, ngày mai, nó hồi sinh. Con người cũng như mặt trời, chiều đi sáng lại khi nói về giá trị giàu nghèo, tốt xấu nhưng khi nói về quy luật, con người bé nhỏ bao giờ cũng tắt trước mặt trời. Con người lại theo quy luật con người “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”.Xoay vòng theo quỹ đạo con người cũng như muôn vì tinh tú vẫn quay theo quỹ đạo của chúng trong không gian vô tận. Sự vật, sự việc nào cũng phải theo quy luật tồn tại! Mặt trời cũng như con người. Người thiếu ăn, người chết. Mặt trời hết năng lượng, mặt trời cũng… đi! Nó cũng quay trong hệ thái dương của nó theo thiên hà, và phân phát lửa, tái tạo nguồn sống vô tư cho đến một ngày, dòng vật chất và năng lượng mất đi bức xạ mặt trời, chính là ngày nó thành mặt trời đen, băng giá vĩnh viễn và nó chết. Cái chết của mặt trời kéo theo những vệ tinh xung quanh nó mất nguồn sưởi ấm, chúng cũng… ngủ vùi! Sát thủ của trái đất là ai nếu không trực tiếp là con người? Sinh ra và sẽ chết đi, mặt trời cũng có bình minh và có hoàng hôn như cuộc đời.

Thi Hoàng trong “S.O.S” kêu:

Hãy cứu! hỡi chính quyền, tôn giáo

Để xác chúng tôi được chết trước hồn

Chứ nếu để tâm hồn chúng tôi chết trước

Vậy là lấy dây diều treo cổ những hoàng hôn!

(Tập thơ Bóng ai gió tạt).

Khúc Huyền ca” thấy được sự tương quan sinh thái tự nhiên đó, nó thở dài:

Hoàng hôn mặt trời

Bóng tối lặng thinh.

“Bóng tổ tiên khuất sau bóng mặt trời vì người khuất mặt không bao giờ đối diện được mặt trời. Luật âm dương đã phân. Thế giới ảo là tưởng tượng mà có. “Cõi âm khắc luật” hay “cõi người khắc luật” là thế! Tổ tiển hóa thân vào con người. Con người có thể hồi sinh mặt trời, làm cho “mặt trời nóng dần lên những giấc mơ khô khát” qua hình ảnh “người đánh cá già” trong trường ca “Trên đường“:

Bóng người đánh cá già lồng lộng in vào trời đất

Đôi mắt sáng tiên tri chỉ tay về phía mặt trời đang tan trong làn sương.

Tiến lên một bậc, tổ tiên hóa thân vào người đạo sĩ trong “Khúc Huyền ca” với khúc cuối cùng:

Người đạo sĩ chống cây gậy trúc

chỉ tay về phía biển Đông

Mặt trời đang mở sáng…

Mặt trời hạnh phúc tuổi thơ đã qua nhưng hạnh phúc không có tuổi nên không biết đến sự già cỗi. Nơi nào có mặt trời mọc, nơi đó có sự sống và hạnh phúc vô biên, “Khúc Huyền ca” một lần nữa tha thiết nối tình người với 4 không: Không biên giới. Không tuổi tác. Không giai cấp. Không thời gian:

Mặt trời sắp lên rồi sao em chưa đến. Gió đang vỡ ra trên

vòm lá xanh rờn.

Cuối cùng, nó trở về với thi ngôn bất hủ: “Không có mặt trời cho một mặt trời“. Trái đất không thể có hai mặt trời. Một đời không thể vừa trung thành vừa bất nghĩa. Một nước không thể có hai vua. Một chùa không thể có hai trụ trì. Mặt trời có lợi tái tạo sự sống nhưng cũng là hủy diệt trái đất khi con người tự phá hỏng tầng khí quyển Ozon (tấm chắn tia cực tím – bức xạ hạt, bức xạ điện từ- từ mặt trời ) khi thải chất CFC (Khí chlorofluorocarbon) và chất SACO phá hủy nó cũng chính tự hủy diệt mình, còn hơn chiến tranh! Không có bữa ăn nào dọn sẵn cũng chính là đấy! Chiến tranh và cái chết làm nghẹn mặt trời và nó được nhân hóa với tư cách bè bạn của nạn nhân chứ không còn là biểu thị uy quyền, ước mơ gì nữa cả trong khúc X:

Có bao nhiêu người không về

Rưng rưng nắng ngày rưng rưng mặt trời xa…

Trường ca “Trên đường cũng “đỏ một mặt trời rỉ máu”. “Rỉ máu” dòng máu tổ tiên “khuất sau bóng mặt trời“. Vì sao con người bắt gặp mặt trời là “ngược ánh sáng mặt trời“? Đơn giản như người ta ăn cơm: Mặt trời có bao giờ mọc ở dưới đất đâu mà người ta cuối xuống mới không ngược sáng? Theo nghĩa thật vật lý là thế. Mặt trời mang ý nghĩa tượng trưng nên phải giải mã theo ý tượng trưng: Nhìn lên để tôn trọng, để được an ủi và được cầu xin. Mặt trời theo nghĩa có tư cách đồng hạng người thì giải mã theo kiểu làm người: “Cuối xuống thật gần” như Trịnh Công Sơn đã từng cuối xuống và người đời cuối xuống trước mồ người:

Cúi xuống cho máu ngược dòng
Cho nước sông cạn nguồn
Cho cây khô trên cành trút lá bơ vơ
Cúi xuống cho bóng đổ dài
Cho xót xa mặt trời
Cho da thơm trên người nay cũng phôi pha…
Làm người đừng bao giờ cúi xuống vì danh lợi mà cầu cạnh nhưng làm người hãy “cúi xuống để biết lòng đau, ngước lên để nhận lấy câu nghĩa tình”. Vì sao người “đổ bóng xuống mặt trời“? Vì “cúi xuống cho bóng đổ dài… Cúi xuống cúi xuống thật gần. Cho chiếc hôn ngọt nồng. Cho trăm năm ưu phiền phút chốc hư không”. Mặt trời, nhân vật huyền thoại, bề trên, đấng thiêng liêng, là cha mẹ, là tổ tiên đã hòa với tiếng hát qua những thăng trầm cuộc đời trong tư cách bạn bè, con người như “mặt trời trong lòng đất” của Trần Mạnh Hảo về một ‘dĩ vãng quanh ta rưng rưng sương khói” trong trường ca “Người cùng thời” của Mai Văn Phấn. Dù thần thánh hóa lãnh tụ nhưng Tố Hữu vẫn là người có tư tưởng nhìn xa thấu rộng trong trường ca “Theo chân Bác” về một ước mơ “Đem ngày gần lại, đổi năm xa. Nghĩa lớn tình chung, vẫn ruột rà. Bốn biển anh em hoà hợp lại. Trăm đường một hướng, nở muôn hoa”.

Ước mơ một chân trời tươi sáng, một không gian sạch trong, một cuộc sống chở đầy mộng lành không của riêng ai. Tố Hữu từng treo những khát vọng đó năm 1961:
Gà gáy sáng. Thơ ơi, mang cánh lửa
Hãy bay đi! Con chim kêu trước cửa
Thêm một ngày xuân đến. Bình minh
Cành táo đầu hè quả ngọt rung rinh
Như hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ
Treo trước mắt của loài người ta đó:
Hòa bình
ấm no

Cho

Con người

Sung sướng

Tự do

Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” đang “khai môn” cuộc đời. Nó chờ đợi ngày mới:

Ánh sáng nơi nơi tỏa rạng

Vang ca sự sống ngời sinh./. Một giá trị nhân văn trong “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” đáng ghi nhận. Nó độc đáo.

KẾT: Giá trị nghệ thuật hay thẩm mỹ của trường ca “Ngày đang mở sáng” của Trần Anh Thái đã kết thúc một bản trường ca về cuộc chiến với từng số phận con người trước và sau chiến tranh. Đồng thời, nó mở ra một thi pháp mới cho văn học theo hai chiều hướng: Đổi mới cách viết tức phương pháp đã nói ở các phần trên và đổi mới tư tưởng. Một tác phẩm không tự trang bị cho mình một đôi cánh nhân văn thì nó sẽ mất tính thời gian và t ự đào mồ chôn mình. Thanh Thảo trong “Ta ngạt thở chờ bước chân em tới” (toquoc.gov.vn) nói thực lòng về những câu thờ trong trường ca này “Những câu thơ không còn yếu đuối, không hề yếu đuối. Và tôi hiểu: tất cả chúng tôi đã bước qua một thời kỳ khác, một anh hùng ca, một trường ca kiểu khác. Khác với chính chúng tôi, như 32 năm sau khác với 32 năm trước, dù sông Vệ hay Đình Cương vẫn còn. Nhưng ngay những dòng sông và ngọn núi cũng đã khác. Người làm thơ nào không có những lúc “ngạt thở chờ” những câu thơ tới. Không ai hình dung được gương mặt những câu thơ sẽ tới, và đó chính là bí mật của thơ ca, bí mật của nghệ thuật”. Dương Triều Minh cũng đã “cảm nhận về tính hiện đại qua một số hình ảnh mang tính biểu tượng, tượng trưng, ẩn dụ trong trường ca ‘Ngày đang mở sáng’ trong bài viết cùng tên. Người viết mới đã đành mà cũng cần có người biết nhìn cái mới đó. Thi ca luôn luôn có những người bạn tri âm là thế.

Thơ nói ít hiểu nhiều. Nói mà như không nói. Không nói như đã nói rồi. Người thông minh liếc qua là hiểu ý. Kẻ trung bình đọc kỹ cũng thông. Chỉ có kẻ chẳng cùng lòng mới không thông, không hiểu! Văn như óc. Thơ như tim. Tim có đập đưa máu lên óc thì óc mới tinh tường. Óc tinh tường mới vẽ đường nhịp tim đập không loạn. Tim chết trước. Óc chết sau. Cần nhau thế đó. Trường ca ở giữa óc và tim khi nó vừa sử dụng tinh túy của thi ca vừa hưởng thụ nét sắc bén của tự sự. Đó là tất cả những gì đã đang và sẽ có của bản trường ca “Ngày đang mở sáng”.

Tất nhiên, cũng theo quy luật của cuộc đời, của văn học, chẳng có cái gì tốt đẹp mà hoàn hảo. “Khúc Huyền ca” cũng thế.