II. Thủ pháp “độc đáo” khi tái tạo những bức tranh tương phản:

Tính độc đáo: Là một thuật ngữ dân gian dùng để chỉ chung cho những gì khác biệt mang tính chất tốt đẹp không có cái thứ hai.

Trong hội họa, nét độc đáo thường dành cho những cây cọ với những bức tranh độc đáo xuất thần chẳng ai bắt chước nổi như những bức họa đạt kỷ lục đấu giá thế giới như “Chân dung bác sĩ Gachet, Hoa diên vĩ“… của Vincent Van Gogh; “Garçon à la pipe” (chàng trai ngậm tẩu), “Dora Maar au Chat” (Dona trên ghế ngồi) của Pablo Ruiz Picasso hay bức chân dung người đàn bà có nụ cười bí hiểm độc đáo “Mona LiSa” của Leonardo da Vinci…

Trong âm nhạc là giai điệu độc đáo như trong bản giao hưởng số 35 của nhà soạn nhạc vĩ đại Wolfgang Amadeus Mozart hay bản giao hưởng số 2, số 9 của Ludwig van Beethoven. Âm nhạc Việt Nam có dòng nhạc du ca thời chiến “độc nhất vô nhị” của Trịnh Công Sơn…

Nhạc cụ Việt Nam có đàn bầu, đàn nhị, đàn nguyệt độc đáo. Trong truyền thống văn hóa, áo dài Việt Nam được gọi là độc đáo Việt Nam. Món ăn địa phương là những món độc đáo ba miền. Trong văn học gọi là phong cách độc đáo. Nhưng trong nét đẹp tự nhiên, hoa hậu đã mất vẻ độc đáo khi “sáng mở mắt thấy người thi hoa hậu, tối về nhà, thấy ảnh… hậu, người… hoa!”. Việt Nam ra ngõ gặp anh hùng biến mất nhường chỗ cho hoa hậu đủ thứ hầm là lằng. Thầu “ba vòng” này hốt vàng, công chính ngôn thuận hơn thầu… “bán trôn”! Thương tích hoa hậu ghi vào lịch sử truyền thống nhân văn dân tộc còn đang bỏ ngõ…

Chính cái người ta không có, mình có thì gọi là độc đáo. Nói như giang hồ “không đụng hàng”! Nét độc đáo trong các lĩnh vực khác như chị em Thúy Kiều “mỗi người mỗi vẻ” nhưng trong văn học, nó như chiếc lá chiến trường mùa đông!

Trường ca “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” – chiếc lá chiến trường mùa đông độc đáo còn sống sót sau cơn giông. Vậy thì coi nó có gì mà dám cho “độc đáo”?

Công trình tái tạo khung cảnh chiến tranh tương phản:

Tác phẩm văn học dân gian, truyện thơ… phần lớn những kết thúc đều có hậu theo quan niệm của quần chúng nhân dân “Ác giả ác báo”, “Ở hiền gặp lành”, “Tham thì thâm“… Bất cứ một thể loại nào nếu tác giả tái tạo được quá khứ, hiện tại và tương lai với hai chiều tương phản với kết thúc có hậu thì tác phẩm đó đã tự có giá trị thẩm mỹ mà không cần phải ”ép” tác phẩm mình phải theo chủ nghĩa hiện thực, lãng mạn hay phương pháp siêu thực, siêu hình, siêu nhân…gì cả.

“Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” là một công trình văn học nghệ thuật mà nhân vật tự tái tạo khung cảnh chiến tranh tương phản độc đáo.

1. Tái tạo một bức tranh lao động qua 3 thời gian độc đáo:

Việc thể hiện một cảnh lao động cực nhọc trong các trường ca nói chung thường rất dài và hầu như xuyên suốt tác phẩm. Điển hình như trường ca “Trầm tích” của Hoàng Trần Cương (18 phân đoạn); “Trường ca biển” (6 phân đoạn) và “Đường tới thành phố” (5 phân đoạn) của Hữu Thỉnhtrường ca “Người cùng thời” (10 chương) của Mai Văn Phấn…

Theo cách dàn trải này ví von giống như trường ca rơi vào trường hợp liên quân “dàn quân qua bãi sa mạc Irag” dễ bị phục kích tức thiếu tính cô động và sa vào loãng nội dung.

Với hai trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời” (9 mục) và “Trên đường” (7 mục) Trần Anh Thái vẫn còn dàn trãi cảnh lao động nhưng tới trường ca “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng”, mọi thứ trong 11 phân đoạn không có tên nhưng hầu như, tác giả đã dựng lên những bức tranh cô động được từng khúc (trừ khúc IV và V có thể nhập chung).

– Trong khúc I: Từ cánh đồng đến biển trời, từ con vật đến con người chỉ trong 13 câu ngắn gọn là thành một bức tranh đồng khô, cỏ cháy:

Giọt giọt cánh đồng

Run cơn khát

Bóng người ngày đổ

Xơ xác tàn bay

Biển chật vật bên bờ đá trắng,

tiếng cuốc kêu đói lả cánh đồng, niêu cơm trống mắt,

ánh nhìn ngơ ngác hiền khô quên ngày tháng năm sinh,

Luôn bất chợt giật mình

Cúc áo cài lộn ngược.

Không có hoa mào gà cánh đồng khô nứt nẻ,

bé thơ đứng cắn ngọn cỏ gà chớm nở bình minh

Ngày dần sang,

Hoàng hôn khép vào đêm nhàm chán.

Cánh đồng thiếu nước. Nó khô cháy đến nổi muốn đốt người thành tro than. Loại hoa chịu khô như mào gà cũng mọc không nổi trên cánh đồng nứt nẻ ấy. Biển cũng cạn nước bên bờ đá. Con cuốc kêu đói lả ruột. Người lao động cật lực trên đồng với nồi cơm chẳng có một hột. Cái đói và khát làm họ hầu như quên mất mình.

Bức tranh đồng quê đói nghèo này có mặt khắp các trường ca. Bức tranh có giá là bức tranh vẽ đầy đủ một không gian bốn chiều (ngang, dài, rộng, sâu) mà tác giả không hề nhúng tay vào để làm MC dẫn chương trình còn người đọc không cần mất công đọc hết trường ca mới tái tạo bức tranh đó một lần nữa trong đầu (nào cánh đồng, nào biển, nào người, nào vật, nào hoa ngồi chung một mâm đói khát).

Nửa bức tranh khát đói phát sinh một niềm tin “Cô đơn nở sinh khát vọng” với hình ảnh em bé vô tư cắn ngọn cỏ gà mới nở lúc bình minh hay em bé cắn ngọn cỏ gà, bình minh chớm dậy. Bức tranh có hậu với cảnh ngày đói được hoàng hôn tiễn vào đêm đề chờ ngày dần sáng…

Bức tranh thấp thoáng ánh mặt trời là đây mà không một trường ca nào vẽ hai cảnh tương phản như vậy trong cùng một bức tranh. Nó độc đáo là thế!

2. Tái tạo hình ảnh người mẹ qua 3 thời gian độc đáo: Với 10 câu thơ chỉ 3 đoạn nhỏ với 3 ý khác nhau (không trường ca nào tái hiện mà có số câu ít như vậy về người mẹ), Trần Anh Thái đã vẽ một bức tranh cảm động về người mẹ:

Mẹ ra đi trong đêm

Sương khuya mò bóng

Thượng đế ở đâu nơi hốc mắt thẳm sâu

rười rượi luống cày, chim sếu co ro ngày không gió.

Đỉnh của ngày

Người đổ xuống cánh đồng cơn đói mờ run

Khát bàn tay lạnh.

Ngọn lửa xa xôi đôi mắt con thơ

Người tựa vào đôi mắt ấy dò tìm

Run rẩy vịn qua tháng năm gầy mòn yếu ớt.

Với 4 câu đầu: Hình ảnh người mẹ một mình đếm bóng ra đi trong đêm khuya sương khuya. Trong hốc mắt thẳm sâu vì mất ngủ, vì đói, người mẹ hướng về một đấng thiêng liêng đang ngoảnh mặt lại với đời. Cái nóng cháy thiêu luôn cơn gió của ngày. Con chim sếu co rút chẳng thể cất cánh bay.

Với 3 câu tiếp: Trời trút lửa xuống cánh đồng. Người trút… cơn đói mờ mắt, rũ người vào cánh đồng cháy với một khao khát có bàn tay ai đó mát dịu cầm lấy để cân bằng cái nóng chết người giữa ngày.

Người mẹ đi cày trong đêm? Rất có thể lắm vì nếu không có những người cày ruộng là phụ nữ thì sao có bài hát “Đưa cơm cho mẹ đi cày” của Hàn Ngọc Bích (hiện nghi vấn là lấy ý thơ của Tô Xuân Lựu mà không nêu tên tác giả). Tô Xuân Lựu giải thích (Vn.Media.com Hoa Mai,tiền phong-ghi lại):”Trong đoạn này, Hàn Ngọc Bích có đưa thêm câu hát ‘Trời trưa vừa tròn bóng’ lại thể hiện điều phi lý và xa rời thực tế đối với công việc đồng áng. Người nông dân đi cày từ rất sớm, 3- 4 giờ sáng nên chưa kịp ăn bữa sáng. Đến khoảng 7- 8 giờ sáng là họ nghỉ để ăn cơm buổi thì (tức là bữa ăn sáng của người đi cày). Khi trời vừa tròn bóng (tức là buổi trưa) thì họ đã tháo cày để đi về nhà”.

Trong trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời“, Trần Anh Thái cũng kể rõ:

Đồng không con trai cày ruộng

Mẹ ngày cán cuốc oằn vai

Như vậy, “sương khuya mò bóng” trong “Khúc Huyền Ca” đã có thực tiễn chứng minh là hợp lý: Người mẹ này không đi cày thì cũng ra đồng cuốc với thời điểm trên và với sự đói khổ thì thời gian trên đồng lúc khuya khắc sẽ nhiều hơn thế nữa. Hiện thực cuộc sống có thể thay đổi bao nhiêu tùy tác giả tái tạo, chủ yếu là viết như thế nào? Sử dụng ngôn ngữ tạo hình thích hợp trong từng văn bản hay không?

Ví dụ như trong bức tranh trên, người mẹ có thể đi làm trong đêm một công việc gì đó nhưng chi tiết thì lại cho phép người mẹ chỉ có thể lao động trên đồng ruộng mà thôi! Người đọc có thể tự hỏi: Nóng chết nhưng sao lại có sương khuya? Thực tế cho thấy, ngày nóng nhưng đêm cũng có thể lạnh. Sương khuya trong câu này cũng có thể là ẩn dụ cho sự vất vả của người lao động. Thành ngữ: “Một nắng hai sương” là ý này.

Nửa bức tranh còn lại, Trần Anh Thái vẽ thêm trong 3 câu cuối: Đôi mắt thơ ngây của đứa con thơ như có một sức sống, một ngọn lửa thiêng vừa mới bùng lên trong gian khổ. Nó hun đúc cho người mẹ một ý thức con người và bổn phận làm mẹ cần phải vượt qua gian lao và nhất là cần phải sống vì con.

Thực tế trong cuộc đời, không có tình yêu, thế giới này vô hồn, nếu không có con cái thì cuộc sống mất đi giá trị thiêng liêng và nhân loại tự hủy hoại giống nòi.

Với một bức tranh có hai chiều tương phản: Một người mẹ giữa tháng ngày đói khát, khổ sở cuối xuống và một người mẹ với ngọn lửa con thơ hun đúc một sức sống trong cùng một bức tranh ngước lên. Nó độc đáo là thế!

3. Tái tạo một bức tranh tuổi thơ đầy sức sống:

Tuổi thơ của người lính trong các trường ca chiến tranh đều được tác giả xây dựng trong cùng một hệ thống chung tức là hoàn cảnh như thế nào, tuổi thơ như thế đó.

Ví dụ trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, người lính chiến trong ký ức tuổi thơ mở mắt ra đã nhìn thấy:

Những chiếc tàu há mồm ngoạn vào thành phố.

Trên bến đổ quân của trăm năm giặc Pháp.

Trong mắt nó, đoàn tàu quân Mỹ không còn nguyên vẹn là con người mà là những giống ma quỷ như trong văn học Việt Nam đặc biệt là thơ trữ tình, trường ca, ký hay tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp. Quân Mỹ được tác giả “vật hóa” là thú ăn thịt người, là những “chó dại, trâu điên và đĩa đói” là “những con cá sấu đại dương” “của xương trên cánh buồm cướp biển”. Cả đôi giầy của họ cũng bị xem là“răng chó” trong ký ức tuổi thơ dữ dội với một kết luận “tên Mỹ kia, mày bị căm ghét đời đời” (nhưng thay bằng căm ghét, cái thằng “mày” này đã được nghênh đón tại Việt Nam năm 2000 với kẻ đại diện kẻ bị căm ghét là một… thổng thống Mỹ: William Jefferson Bill Clinton ngày 17/11/2000 và thổng thống tiền nhiệm George W. Bush được đón tiếp tại Việt Nam vào tháng 11/2006)!?

“Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm cũng vẽ một bức tranh lính Pháp:

Chợt lũ qủy mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Năm 1941, Tố Hữu đã vẽ lính Pháp trong “Bà má Hậu Giang”:

Một toán qủy rầm rầm, rộ rộ

Mắt diều hâu, mũi chó, râu dê.

Những bá má này đã thành các bà má Tiền Giang đang đòi công lý, đòi đất, đòi trả nợ máu xương trong tháng 8/2007 còn đại diện cho “lũ qủy” đó là tổng thống Pháp Jaques Chirac được đón tiếp tại Việt Nam ngày 07-06/10/ 2003!?

Có nước nào đi đón tiếp long trọng kẻ thù truyền kiếp của dân tộc mình như vậy không nhỉ? “Một câu hỏi lớn: không lời đáp. Cho tới bây giờ, mặt vẫn chau”. Những ông Phật của Cù Huy Cận cũng… lắc đầu! Vậy mà người ta vẫn nhìn về chiến tranh với “dĩ hận miên miên”! Nghĩ cũng lạ!

Tuổi thơ của người lính trong “Mặt đường khát vọng” sống trong chuỗi ngày “không bình yên” và “lòng đầy khắc khoải”. Nó đã biết… lo lắng cho đất nước và có những câu hỏi vượt chỉ số thông minh kinh người khi nó chất vấn ông thầy “tại sao con học để làm bầy nô lệ” và rất hân hoan khi được “ra trận bằng máu áo trắng” với những nghĩ suy về đất nước, nhân dân, giặc thù mà đến hôm nay, người già cũng không thể dám nghĩ, dám xung phong ra trận như thế cả! Tuổi thơ 18 như thế thì già trước tuổi mất rồi! Bản trường ca trở thành “Trường hận ca” của Bạch Cư Dị:

Thiên trường địa cửu hữu thì tận
Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ

(Trời đất còn có thể tận. Hận này chỉ hận triền miên)! Tiêu mẹ cái tuổi thơ! Bạc phơ mái đầu trẻ!

Tuổi thơ trong trường ca “Trầm tích” cũng thế. Canh cánh một nỗi niềm đất nước:

Ngược xuôi trải thành đất nước

Đất nước

Tượng hình xương cá

Đêm úp

Ngày đơm

Nhảy vật lên bờ. Thân gầy đét.

Bức tranh “xương sườn xương sống nuốt trọng người ta, ăn vô nhả ra người ta còn sống” này, đố danh họa nào vẽ nổi?

Khúc Huyền ca” vẽ được một bức tranh tuổi thơ của người lính: Ngày chẳng vướng bận chiến tranh, đêm ngủ vùi trong vòng tay mẹ.

Một bức tranh khi “Bình minh hé mở“: Khuôn mặt thằng bé với niềm vui trong mùa thu mới, ca hát, nhảy lò cò, mơ về lâu đài cổ tích và trong tay đang cầm những chiếc máy bay (con tàu khát gió), con thuyền (cổ tích) chuẩn bị phóng lên trời, thả xuống biển:

Tinh sương rộ lên giàn đồng ca sáng mới

Tôi bí mật vào nơi cất giấu con thuyền thả về cổ tích

Khát vọng bập bềnh thế giới vô biên

Tôi bỏ quên đám mây buồn bầu trời âu lo trĩu nặng

Quên cơn nắng ran mặt đất khô cằn

Giấc mơ đêm đêm dịu dàng đôi cánh thiên thần về ngôi nhà hoàng tử

Vang động tiếng cười ám ảnh thời gian.

Tôi không nghe tiếng Người âu lo đêm mải chơi quên buổi tối học bài.

Tôi khóc cười trong vòng tay Người nâng niu chăm chút..

Tuổi thơ có những phút giây thần tiên thì hãy vô tư mà hưởng. Đó cũng là tâm lý không thể dùng phép hoán chuyển để nó sớm trở thành tuổi thơ của Lê Văn Tám với ngọn đuốc sống thần kỳ (sản phẩm của Trần Huy Liệu mà Phan Huy Lê công bố là không có thật, theo di ngôn của giáo sư Liệu trong cuộc họp báo tháng 2/2005 tại Hà Nội). Dối lừa hình tượng. Đánh tráo ký ức. Hoán vị tuổi thơ. Không nhân văn.

Thằng bé trong “Khúc Huyền ca” vô tư lự đang cùng cô bạn gái “chui vào ruộng mía” và… trốn trong bức tranh của Trần Anh Thái nguyên một Khúc II:

Bật sáng

Chùm hoa mở cánh

Giấc mơ mỏng mảnh

Biển bình yên lời ca,

Con thuyền nhỏ trôi mờ

Giấu lời ca vào sóng

Hoa Xuyến Chi chập chờn

Gối đầu lên giấc ngủ

Cơn khát bay về những chân trời.

Công tắc năng lượng mặt trời bật lên: Cảnh một biển êm đềm trong bình minh như một “chùm hoa mở cánh” với một con thuyền nhỏ chở “giấc mơ mỏng mảnh” trôi xa trong tiếng hát hòa tiếng sóng xuất hiện. Thằng bé ngủ ngon bên cánh hoa Xuyến Chi với khát vọng về một phía chân trời.

Trong tiếng sóng thầm thì

Hiện giấc mơ ngày xa,

Tôi băng qua cánh đồng vượt biển Đồng Châu tới cồn cát nhỏ

Em đứng đợi từ chiều,

Chiếc hộp giấy đựng bầu trời

Vỏ sò và ốc biển,

Cánh diều con tàu khát gió

Ánh nhìn và dòng máu không ngừng chảy.

… Trong ánh mắt kín đáo mơ màng

Trong gương mặt buồn xa xăm

Đôi môi hứng khởi thẹn thùng

Sẽ cùng tôi yên tĩnh dưới mặt trời dịu nắng.

Người họa sĩ vẽ thêm một nhân vật có cùng giấc mơ chung, đẹp như huyền thoại: Cô bé trên tay là chiếc hộp đựng bầu trời với những trò chơi tuổi thơ: Vỏ sò, ốc biển. Thằng bé trong tay cánh diều làm con tàu, chuẩn bị phóng lên vũ trụ. Một ngày hạnh phúc sẽ đến: Cô bé hấp dẫn, thơ ngây cùng thằng bé đón ánh “mặt trời dịu nắng”.

Nửa bức tranh với tuổi thơ trong vòng tay mẹ và nửa bức kia là tình yêu trong sáng trong khát vọng tương lai. Hai nửa bức tranh này đã nhập lại thành một bức tranh hồn nhiên đầy khát vọng hạnh phúc của tuổi mới lớn. Bức tranh hồn nhiên trong chiến tranh mà không trường ca nào vẽ được. Nó độc đáo là thế!

Nhưng hạnh phúc ngừng trôi theo chiến tranh. Bức tranh khác lại được Trần Anh Thái vẽ theo chiều tương phản khác độc đáo hơn: Bức tranh chiến tranh.

4. Tái tạo một bức tranh lớn trong chiến tranh:

a. Bức tranh gia đình ngày chia tay: Trong 21 câu thơ dài ngắn khác nhau, họa sĩ chiến trường Trần Anh Thái vẽ 4 cảnh khác nhau cùng một chủ đề: Chia tay

Bức thứ nhất:

Tôi trượt ngã

Chị quăng vội chiếc xe giữa đường sợ hãi thét lên

Giọng chị lạc chiều

Tôi phủi bụi đứng lên cười nhem nhuốc.

Cảnh em trượt té, cười nhem nhuốc đối lập gương mặt hốc hác của người chị đầy sợ hãi và đẩm đầy nước mắt chiến tranh. Bầu trời bên kia vào đêm chấm phá vài ngôi sao mập mờ. Bầu trời hoàng hôn tạo thành nét tương phản. Một bức tranh “Chị em như thể tay chân. Ra đường, em ngã, chị nâng lên cùng” đầy nét đẹp của tình tỷ – đệ không trường ca nào chấm phá nên nó độc đáo!

Bức thứ hai:

Mẹ thức lúc nửa đêm

Cơm tàn tro nguội

Anh tôi biền biệt chiến trường

Bầy chim thản nhiên bay qua.

Hình ảnh người mẹ ngồi nửa đêm khuya trong khi đó, nồi cơm nguội còn để trên bếp với đóng tro tàn. Hình ảnh này sẽ đối lập với nửa đêm bên kia, một người lính lớn tuổi hơn thằng bé (anh tôi) đang cầm súng ngồi, đứng đâu đấy trên chiến hào. Bầu trời có một bầy chim bay qua thản nhiên.

Bầy chim là biểu tượng của tự do. Người lính mơ gì, ước gì mà không mơ ước được tự do như con chim bay trên bầu trời? Giữa cảnh ruời ruợi của mẹ đêm khuya và cảnh thằng con tay cầm súng đang ngước nhìn con chim trên bầu trời. “Ta đã thấy gì trong đêm nay” của Trịnh Công Sơn hát lên đồng điệu. Một bức tranh chia lìa giữa mẹ và con nhưng lại là ước mơ trở về. Nó độc đáo!

Bức thứ ba:

Biển rầm rì

Hương khói ban thờ đỏ mắt

Trăng rằm côi cút sáng ngoài sân.

Không cuối không đầu

Giấc mơ mờ sáng

Một bàn thờ đầy khói hương cay mắt đỏ (vì khói hương, vì khóc). Đối lập với hình ảnh này là trên trời trăng rằm tròn sáng trên trời. Vì trăng tròn quá, sáng quá (nên thấy rõ thằng cuội ngồi rũ dưới gốc đa) mà so với bầu trời, nó lộ ra bé nhỏ, lọt thỏm giữa không gian nhưng rực sáng trong lòng người con mất cha (thằng bé vẫn giữ được nét vô tư vì tình cảm mẹ, chị dành cho trọn vẹn nên vầng trăng không cha vẫn tròn sáng đầy tình mẹ, chị). Riêng đối với người vợ mất chồng thì “soi gương nhớ thuở tròn trăng, soi lòng mới thấy bóng hằng cút côi” thì ánh sáng nào mà không trở thành “sáng côi cút“! Một bức tranh tương phản hoàn toàn tĩnh. Một bức tranh cô nhi góa phụ có tang thương nhưng vẫn sáng như vầng trăng chưa khuyết! Nó độc đáo là thế!

Bức tranh thứ tư:

Khi tôi hát gió trong nhà thắt ngạt

Lúc vui cười nước mắt mẹ nghẹn đêm

Và tôi ngủ mẹ ôm đêm thức

Sáng sáng tôi ra khỏi nhà mẹ run rẩy quay đi.

Hình ảnh một cậu bé con cười vui và ngủ ngon đối lập với hình ảnh người mẹ lau nước mắt và ôm đêm… ngủ! Tức là thức trắng. Hình ảnh cậu bé đi vào chiến trường bước ra khỏi nhà đối lập hình ảnh người mẹ quay đi run rẫy. Một bức tranh ngày chia tay giữa hai mẹ con lòng đau thắt mà mắt ráo hoảnh, ngoảnh mặt đi mà khóc trong lòng! Bức tranh chia tay cao cả, “mẹ thà coi như chiếc lá bay” của “Tống biệt hành” với sự hy sinh lớn lao quá chính là đây. Chấp nhận cho đứa con trai còn sót lại, lên đường hiên ngang ra sa trường. Độc đáo!

b. Bức tranh người lính: Chia tay em. Chia tay… lòng.

Bức tranh thứ nhất: Không có buổi chia tay nào buồn nhất bằng buổi chia tay người yêu. Những bức tranh chia tay đẹp đẽ, hấp dẫn mùi hương tiễn biệt trong “Hương thầm”, hay bức tranh “chói ngời sắc đỏ” trong “Cuộc chia ly màu đỏ” đầy háo hức xung trận thì “Khúc Huyền ca” diễn ra cuộc chia tay thật lặng lẽ, đầy mưa gió:

Anh dìu em trên đường mưa đổ

Em hãy vịn lên vai anh mà bước

Sắp tới nhà

Tia chớp nhói lên cùng tận.

Nhưng ở cuối ngôi làng

Ánh sáng hắt ra ấm áp.

Can đảm em ơi

Và đừng phiền muộn

Mẹ vẫn chờ em mong ngóng đêm dài.

Một cảnh mưa đổ. Bầu trời sấm chớp. Em vịn vào vai anh trở về căn nhà có mẹ đang chờ phát ra tia sáng tình mẹ ấm áp. Bức tranh chia tay trong mưa. Không một lãng mạn của kiểu “Chia tay tình đầu” của Nguyễn Ngọc Thiện hay “Chia tay hoàng hôn” của Thuận Yến. Nó đơn giản là cảnh chia tay trong mưa với ánh đèn đêm với sự im lặng và niềm hy vọng đoàn tụ.

– Bức tranh thứ hai: Đến lượt chàng tân binh trở về chính mình:

Xin từ biệt

Chuông nhà thờ đã điểm

Anh phải đi trước khi trời sáng

Để không ai biết anh khuỵu ngã

Cái khoảng trống này

Cỏ sẽ xanh

Và bụi mỗi ngày che phủ!…

Hình ảnh người con trai đầy dũng khí làm mặt vui khi chia tay mẹ, làm mặt can đảm khi chia tay em. Xong bổn phận, chàng trai này lại y hệt chàng lính trong “Tống biệt hành” một mình một bóng thì mình trở về với mình (tiếc rằng không có người yêu) trong đoạn thực nhất của bài thơ đã được Hoài Thanh… ngứa mắt, cắt bỏ:

Hơi thu đầu núi giá lên trăng

Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

Buồn ở lưng trời nghe đã lại,

Tiếng đời ru động tiếng hờn câm.

Đối diện với nỗi lòng của mình cũng là một tính cách cứng cáp cần có. Một hình ảnh người ra đi trong đêm. Một khoảng trống ngày mai sẽ là “màu xanh của cỏ”. Con đường lắm bụi lấp dấu chân xưa. Một bức tranh tương lai không chừng! Chuẩn bị tâm lý cho gia đình, cho người yêu xong thì cũng nên chuẩn bị cho mình. Trọn vẹn đôi bên. Bức tranh hài hòa tình riêng – tình chung, độc đáo.

– Bức tranh thứ ba: Không ai đi chiến đấu lẻ loi. Khi “Đường tới thành phố”, “Trường ca sư đoàn”, “Mặt đường khát vọng”, “Những người tới biển”... đều hừng hực không khí của “Lên đàng” của Lưu Hữu Phước hay “Tiến quân ca” của Văn Cao ào ào như thác đổ “chẳng kè thù nào ngăn nổi bước ta đi” thì những người lính trong “Khúc Huyền ca” lặng lẽ làm tròn bổn phận của mình, đầu đội đại bác, tai nghe súng hát, đói khát chẳng hề than:

Hút trong cánh rừng, bóng họ mờ sâu,

Đại bác rít qua bầu trời lửa, những chùm mây ám khói đạn bom.

Họ đi, cái chết lửng lơ, thác lũ gào sôi cơn sốt giật, bát cơm sượng sống gấp ngày. Ai nhìn ai? Con đường kiệt sức, chân bước mắt bầm, bình minh chết trong chùm mây bạc.

Một cánh rừng âm u. Một bầu trời ám khói lửa đạn bom. Một âm thanh toàn đại bác rú. Một “đoàn quân lặng im, đi về biên giới” của Trần Tiến hiện ra. Những hóa thân từ đoàn “quân xanh màu lá” trong “Tây tiến” của Quang Dũng leo đèo, vượt thác, đói khát nên không còn “dữ oai hùm. Một bức tranh hiện thực của người lính ở rừng. Không lên gân. Không hô khẩu hiệu. Bức tranh núi rừng, cái thật nhiều hơn cái ảo nhưng gian lao không nhụt chí. Đó chính là nét thật của một người lính chân chính!

Chỉ một đoạn IV, Trần Anh Thái cho ta tới 7 bức tranh không giống nhau về đại ý nhưng cùng một chủ đề (chiến tranh), cùng tư tưởng (nhân văn), cùng bút pháp (tương phản và phá vỡ cấu trúc ngữ pháp). 7 bức tranh trong cùng một gia đình chẳng còn con nối dòng này với hiện thực tiễn đưa người ra trận diễn ra trong sự đau đớn, nghẹn ngào và im lặng. Im lặng là vàng trong lúc này vô giá trị. Không ai cần vàng trong lúc vàng chẳng mua được mạng sống lúc này. Im lặng trong chia tay là tiếng khóc không lời. Vết đau trong tim và dòng chảy nghẹn ngào của tâm hồn sẽ sâu sắc và hiện thực hơn. Phản ánh đúng hiện thực, đó là cách viết nghiêm túc và lương tâm của người cầm bút chân chính. 7 bức tranh riêng biệt này tương phản đớn đau và hy vọng tràn trề không một trường ca nào vẽ cùng một lúc. Chúng độc đáo là thế!

5. Tái tạo một bức tranh chiến tranh trong mắt ai: Trong mắt tất cả những người ra trận.

Quang Dũng từng ngậm ngùi trong “Tây tiến“:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Trần Anh Thái vẽ nó trong đớn đau:

– Bức thứ nhất: Hai bên, người chết trong tư thế bình đẵng như nhau:

Bạn tôi chết

Mũi súng dựng bầu trời xanh thẳm

Máu ròng ròng sẫm mặt trời trưa

Đất đồi phơi xác bạn xác thù

Tiếng chim dại lửng lơ sườn núi.

…Cái chết

Bom vùi lấp mặt

Mặt trời lấp mặt

Xác quân thù xác bạn gục vào nhau.

Một hình ảnh: Súng chĩa mũi trên bầu trời (Có hai cách hiểu:Thứ nhất: Bắn ai nếu không bắn lão… trời già? Thứ hai: Không muốn nhắm vào ai cả?). Bầu trời màu xanh hy vọng và tang tóc trùm lên nhau. Bầu trời trưa bị mưa máu che mù. Mặt đất đầy xác bạn, xác thù gục vào nhau. Hình ảnh con chim đứng hót thảng thốt giữa sườn núi khi sẽ có những con Kênh Kênh chuẩn bị lăn xả vào tấm thân người đổ xuống. Một bức tranh chết chóc thê lương, chạnh lòng người ngoài cuộc! Người ta sẽ nghĩ gì rồi có một ngày lập lại những ngày thê lương ấy? Ai sẽ đào hầm cho ai ẩn nấp? Ai sẽ là người chịu nằm xuống “tự nguyện” chết cho quê hương? Những cái chết “thân thiện” như thế này chưa từng thấy đạo diễn nào dàn dựng, văn học nào tái hiện bao giờ, nó độc đáo!

 Bức thứ hai: Những nấm mồ rồi sẽ bị bỏ hoang là hiện thực hôm nay:

Mộ bạn đắp vội ngày

Hàng cây câm lặng

Trời Nghĩa Hành mây trôi rưng rưng.

Xác người cuốn trong vòng tang xám

Xếp hàng

Khói bay ngơ ngác.

… Mồ đắp vội ngàn ngàn mưa nắng

Xoá đi tên đất tên người.

Nhập nhoạng người

Nhập nhoạng trắng

Những thân hình bó trắng

Xác chết chồng xác chết đợi ngày…

Hình ảnh những xác chết được lấp vội vàng. Những ngôi mồ đắp cũng vội vàng. Không hòm. Không thân nhân. Xác chồng lên nhau đợi ngày… may mắn có ai nhặt nấm xương tàn!

Một bức tranh chuẩn xác bất di, bất dịch của cánh rừng chôn xác. Nó vô danh…

Trong mắt Nguyễn Hữu Quý, cái chết đắng cay xuất hiện:

Chết không còn tuổi đã đành

Cái tên mẹ đặt cũng thành khói mây

Biết hồn xanh cỏ, xanh cây

Vô danh vẫn cứ đắng cay lòng mình!

Tổ quốc ghi công cũng không ghi hết tên người! Hai chiến tuyến, hai sắc áo quân trường; một dân tộc, một kiếp người, một lần hy sinh không còn gì, còn lại gì ngoài nấm mồ hoang! “Khúc Huyền ca” tái dựng bức tranh hiện thực đau thương này cũng như Nguyễn Du vẽ bức tranh “Sở kiến hành” dâng lên… nhà vua rõ!

Mỗi chúng ta sống trong thời hòa bình, có ai muốn bom đạn một lần nữa đào huyện chôn người? Chiến bào thay áo, bom mìn thay cơm! Bức tranh đơn giản này mà tàng chứa bao nhiêu khát vọng hòa bình trong ấy. Chiến tranh lạnh lùng. Chính sách sai sót. Thấy thiếu sót thì bổ sung, thấy sai lầm thì chỉ rõ. “Người thánh thiện biết lắng nghe, đức nhân hiểu được tiếng ve ngậm ngùi”! Bán rẻ danh dự đất nước để mưu cầu lợi danh là hành động phản bội giống nòi. Làm người ai làm thế! Bức tranh mồ vô chủ của Trần Anh Thái chẳng phải là bức tranh bán rẻ cuộc chiến tương tàn mà trái lại, nó có một giá trị đánh thức những người đang muốn chiến tranh thế giới thứ 3 hãy dừng lại. Nó độc đáo!

III. Tái tạo tính cách nhân vật trong chiến tranh:

Tái tạo một bức tranh chiến tranh thê lương, tàn khốc nhưng con người trong cuộc không phải là những con người buông xuôi, hèn nhát. Thể hiện được tính cách dũng cảm này, Trần Anh Thái phải có một trái tim của trí tuệ. Không trong sáng trong cách nhìn, chẳng hòa lòng trong cách nghĩ, thiếu trăn trở với thời cuộc và trơ với nỗi đau thì khó tái tạo được những mẫu người mà văn học hình như đã “đông đá” với chừng ấy quan điểm về người anh hùng, cứng ngắt với từng chiến công, ngoa dụ từng chiến tích và phóng đại lòng thù hận.

Trở lại từng khúc một, ta thấy:

1. Người mẹ: Có 4 người mẹ: Mẹ của anh lính trong khúc I, IV và nhân vật má Mừng trong khúc VII, và người mẹ trẻ là cô bé ngày xưa:

a. Người mẹ của chàng lính trẻ:

Một người mẹ hết sức đảm đang, nhân hậu: Nuôi con no ấm bằng sự “nâng niu chăm chút” trong thời kỳ đói nghèo mà vẫn giữ cho con được một tâm hồn trong trắng không sớm nhuộm máu thù hận trước tuổi để nó có những ước mơ êm đẹp cùng bạn bè “cất giấu thế giới của mình”.

Một người mẹ dũng cảm, chịu thiệt thòi khi hy sinh hạnh phúc lứa đôi: Đã có chồng vào chiến trận và hy sinh qua “hương khói ban thờ đỏ mắt, trăng rằm côi cút sáng ngoài sân” và người con trai lớn còn chưa biết sống chết ra sao nơi “chiến trường biền biệt“.

Một người mẹ vô cùng can đảm, biết nghĩ cho đại cuộc khi không tìm cách giữ con ở lại (ta loại bỏ cách hiểu Bộ quốc phòng lúc ấy ra chỉ thị cho toàn bộ thanh niên 18 tuổi phải nhập ngũ. Ai trốn được trong luật nước này?). Người mẹ chấp nhận cho người trai cuối cùng, còn nhỏ tuổi đi vào chiến trường và chỉ một cử chỉ “run rẩy quay đi” khi đứa con lên đường. Nhân cách cứng cáp ấy đáng trân trọng biết chừng nào!

b. Má Mừng:

Một bà má anh hùng có sức chịu đựng mất mát tâm lý quá lớn với 6 liệt sĩ “Gương mặt chồng và năm đứa con. Tàn nhang rơi lạnh” giờ cô đơn nhưng không hề oán trách.

Một người má phi thường tìm kiếm niềm tin thay thế một sự thật đau xé lòng bằng cách “mở đài thật to. Nhớ một tiếng cười một giọng nói”.

Một bà má có công cách mạng âm thầm:

Chiếc lán cứu thương năm chiến tranh

Giờ mọc vài cụm cỏ dại

Trống hai bàn tay trống ánh nhìn.

Thì ra từ năm chiến tranh, mà Mừng cũng từng làm người cứu thương nhưng khi chiến tranh qua, mất mát đến thì không có ai “cứu khổ” cho mình!

Một bà má anh hùng vẫn sống với tháng ngày lao động “Má bới ngày. Hạt rơi héo đất” mà không tiếng thở than, chẳng lời oán hận. Một nhân cách cao cả đáng kính phục biết bao nhiêu!

c. Người mẹ trẻ: Trần Anh Thái tái tạo nhân vật cô bé này có ba chiều thời gian:

– Thời tuổi thơ, nhân vật này là một cô bé thơ ngây luôn cất giữ chiếc hộp đựng mặt trời trong khúc I:

Bạn gái hồn nhiên túm áo kéo vào vườn khuya hái trộm dưa hồng. Tôi ăn no nê tiếng cười trong sáng, huýt sáo lời ca chỉ thuộc nửa chừng.

Gương mặt em ngời ngợi niềm mê thích.

Chúng tôi cất dấu thế giới của mình thẳm sâu ký ức

Chúng tôi đi qua nỗi đau, nỗi buồn tan biến.

Chúng tôi là cổ xưa hoang hoá bóng người ánh sáng tràn trề mặt đất.

Em có những tháng ngày hạnh phúc với tuổi thơ trong nguyên khúc II:

Cầm tay em băng qua những ngọn đồi vực sâu gai bụi

Cánh rừng mù rối

Ngôi đền thiêng cao vút trên xa kia

Những chùm mây vây bọc.

– Thời tuổi lớn: Em cũng có khoảng thời gian hiếm hoi để chia tay như những cuộc chia tay khác trong chiến tranh trong khúc IV:

Lời từ biệt cuối cùng

Trăng đã lặn

Em thả tóc mơ hồ

Hương bay xao động

Mùa thu ngời mắt em.

Tình yêu của em đã hòa lẫn vào đất trời thành một tình yêu cao cả thiêng liêng:

Gió vung phí ngọn dừa cha em trồng năm trước

Nơi chúng ta lén nhẹ bước chân

Vượt qua khỏi hàng dừa là biển cả

Sóng âm thầm gục lên bờ cát.

Chúng ta khắc bóng mình in trên mặt biển này.

Bài ca chúng ta biển ghi vào trong sóng.

– Thời làm mẹ: Em trở thành người mẹ trong khúc VIII và cuộc đời em đã không còn có những tháng ngày êm ả mà là chùi vào những tháng ngày bao cấp sau chiến tranh, em là người mẹ chật vật với cuộc sống Hà Nội thời khốn khó nhưng vẫn giữ được cho mình cuộc sống hiền lương:

Không thạo bán buôn

Không biết kiếm tiền

Lương tháng vợ chồng tối nào cũng kiểm

Đồ đạc trống trơn

Em bụng chửa xanh xao chín tháng mười ngày.

Hà Nội đông người con cá mớ rau

Cơ quan trốn giờ về lo xếp hàng

Âu mỡ để dành vô tình làm đổ

Cả tháng nhịn ăn năm sau còn tiếc.

Trong hoàn cảnh thiếu trước hụt sau, em trở thành người mẹ như bao người mẹ khác và lấy tiếng cười con trẻ làm niềm tin:

Mùa hạ nhôn nhao

Nhôn nhao gương mặt.

Đêm bừng sáng nụ cười con trẻ

Căn phòng giấu một ban mai hé sáng ngày ngày.

Cuộc sống chỉ với tiếng cười con trẻ thôi, không đủ khi đồng tiền bắt đầu chi phối mọi thứ và thao túng lương tâm con người trong mọi thời đại; người mẹ trẻ như em đã thay đổi hướng đi. Nhân vật này đã tiến thêm một bước trong khúc IX:

– Thời ve lột xác: Người mẹ trẻ này từ trong số phận nghiệt ngã:

Em cúi mặt bước đi

Dấu chân mòn cũ

Vô định con đường rêu.

Đôi khi trật đường sợi dây xiết giật

Em vấp ngã lả người

Nước mắt ròng gương mặt xinh.

Rừng mỗi ngày cạn kiệt

Cơn đói âm u trên mái nhà tranh.

Em trở thành một người biết suy tính cho tương lai:

Không thể quay về con đường dẫn vào ngôi nhà cũ

Những cột kèo đã nong

Nóc nhà dột nát

Những cơn điên và những tiếng vỡ

Vết sẹo cũ tái đau rỉ máu mặt hiền.

Suy tính xong là quyết không buông xuôi số phận:

Bàn tay không

Đêm khuỵu ngã

Em chống tay trên đất vụt đứng lên.

Người mẹ này mơ tới một cuộc sống khác tốt đẹp hơn:

Bầu trời lạ

Em tắm trong ánh nắng muôn màu

Giấc mơ dốc kiệt

Chông chênh con đường

Em ủ ban mai vào đêm vắng.

Có ánh sáng hắt xa tít tắp

Đàn chim di cư tự do mở những phương trời.

Người mẹ này đã nhập vào cuộc sống thác loạn thời hậu chiến với:

Nhịp điệu Rock mạnh

Ánh đèn quay cuồng không phanh không số

Thành phố cao lên trống lạnh lớn dần

Những bàn chân lấm bùn bước vội trên tấm thảm đỏ

Sáng tối mập mờ.

Lại đêm nữa em không về

Căn nhà bỏ trống.

Khác với nhân vật trong tự truyện của Nguyễn Hồng Công có bố ruột là liệt sĩ, bố dượng là thương binh, bản thân cô là người bệnh thận ở giai đoạn cuối nhưng tha thiết với một “Khát vọng sống để yêu” rõ ràng. Khác cả nhân vật Huyền trong phim “Bẫy tình” (từ tiểu thuyết “Làm đĩ” của Vũ Trọng Phụng) trược đà trên thí nghiệm muốn kiếm tiền dễ thì chỉ còn cách làm đĩ. Nhân vật “Em” của “Khúc Huyền ca” đã chìm vào thế giới ban đêm, không dấu vết rõ ràng (“Em” đi làm đĩ hay chỉ đi hát, nhảy tại phòng trà hay chỉ làm gái bán bar không nhất thiết phải bán dâm) nhưng để lại trong lòng người lính thời hậu chiến một niềm tin có một ngày mai mở sáng là em sẽ quay về.

Ý thức đấu tranh với bản thân dù là tiến tới con đường không sáng sủa nhưng nhân vật này thay thế những nhân vật bà mẹ anh hùng, có công cách mạng cam chịu thiệt thòi, bằng lòng với cuộc sống cô đơn trong thời chiến. Người mẹ trẻ này đã vùng lên bằng sức lao động chính mình, thách thức cả một xã hội đang quay tròn với cái nghề đến nay trở thành một trong “quốc nạn”!. Giá trị của nhân vật “Em” này được Trần Anh Thái đánh giá rất cao dù em đi làm cái nghề không thiện chung, không tương xứng với nhân cách thiên thần của em từ trong thời chiến tranh nhưng đó là con đường duy nhất trong lúc bấy giờ để em nuôi con. Lương hai vợ chồng tối nào cũng kiểm, vật giá đắt đỏ, cuộc sống mắc mỏ đẩy em vào chốn phong trần. Cái nghề không quan trọng, cung cách làm người thế nào mới là quan trọng. Làm người cũng lắm loại người. Mượn nghề thiện để làm điều ác, mượn tiếng tốt để giấu chuyện gian, mượn tro tàn để phủ mờ lịch sử, mượn thế sự để che chắn lầm than, mượn nén nhang để nấu thân lười biếng, mượn chuyện lời lỗ để trám chỗ thế thời! Quỷ quyệt thế! Nghề nào em phải chọn? Vậy là lâm vào “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan!

Động cơ đẩy nhân vật vừa tự sự, vừa trữ tình này lên đến đỉnh điểm. Bỏ trống hoắc một lỗ hổng tương lai! Không có trường ca nào khắc họa nhân vật ba chiều thời gian như vậy. Nó độc đáo là thế!

2. Tính cách nhân vật người chị:

Nhân vật người chị trong trường ca “Đường tới thành phố” được Hữu Thỉnh khắc họa tính chịu khó nuôi chồng dài dằng dặc trong “năm năm trời”, chị “nuôi anh dưới lòng đất” và tác giả cho chị những tính cách:

Chị góa bụa trong hồ sơ tự khai

Chị cười cợt với thằng chỉ điểm

Chị cố làm cho thật lẳng lơ

Thắt vạt áo trước bao lời dị nghị

và chị bị bên chồng bỏ quên…
Khúc Huyền ca” không lắm tính cách mà tảc giả ban cho, người chị trong trường ca này đơn giản nhưng thật khác người:

Khi thấy em ngã, “Chị quăng vội chiếc xe giữa đường sợ hãi thét lên. Giọng chị lạc chiều”. Bấy nhiêu đó, ta có thể hiểu người chị này thương em hơn bản thân, hơn của cải với động từ “quăng” chiếc xe. Thử nghĩ, thời chiến, thời bao cấp, một chiếc xe đạp là cả một gia tài thì mới hiểu được chi tiết rất nhỏ này trong tác phẩm nhưng nó có giá trị lớn lao để tô điểm tính cách tốt đẹp của nhân vật.

Người chị trong “Khúc Huyền ca” chẳng may mắn như người phụ nữ trong “Trường ca biển” của Hữu Thỉnh “Những đứa con sinh ra trong chiến tranh. Sống tản mát dưới những hầm trú ẩn. Chị để con mỗi đứa ở riêng hầm. Bom có trúng cũng không thành tay trắng. Những đứa con nhớ anh qua rừng giờ nhớ anh qua biển”. Người phụ nữ cất giấu những đứa con như của cải để ‘không thành tay trắng’ một cách có tính toán khôn ngoan. Người phụ nữ này còn cơ hội hạnh phúc. Ngược lại, người chị trong “Khúc Huyền ca” có hay không có chồng, tác giả không hề nhắc tới. Ta chỉ thấy đoạn 3 câu trong khúc IV:

Vì sao nước mắt chị tôi rơi

Chiến tranh hốc hác mặt người

Những vì sao mập mờ sáng tối.

Chị có chồng hay không, chiến tranh cũng là nguyên nhân cho người ta khóc, người ta đói vật chất, khát tình thương. Tính cách thương em, tương đồng cảnh khổ chiến tranh trong người chị được Trần Anh Thái đẩy lên một bậc trong khúc VII trở thành người phụ nữ có chồng ra trận:

Đêm mơ

Người lính Bắc năm xưa chập chờn xanh rớt

Chị bóc hộp đường phèn

Cổ khô nấc nghẹn

Anh vẫy tay bước đi

Rất xa …

Rất xa…

Xa mãi…

Đêm đêm

Giấc ngủ ru về ký ức

Nghĩa trang bên bờ sông Vệ

trắng chùm hoa dại nở quên.

Đoạn này đã làm sáng tỏ được cái câu đau lòng của người em “vì sao nước mắt chị tôi rơi” ở khúc I. Té ra, chị có chồng và anh đã “vẫy tay bước đi “rất xa… xa mãi…”. Tác giả không nói ngay lúc đầu. Đó cũng là một thủ pháp mới.

Chiến tranh đã biến chị thành góa phụ. Tính cách lặng lẽ, âm thầm chịu đựng nuôi con trong hoàn cảnh “hòa bình giấu mặt” của nhân vật người chị này đã được tác giả xây dựng rõ nét trong thời “tem phiếu nửa mùa“:

Chị giật mình

Gói mì tôm chuột tha đi mất

Tem phiếu nửa mùa

Bữa ăn chống đũa.

Con thơ đói sữa

Nắn túi quay đi

Khác với tính cách của người mẹ và má Mừng âm thầm chịu đựng trong cô đơn, người chị tiến lên một bước bằng sự nhận thức có giá trị phê phán:

Những năm ở rừng

Cơm nắm chia tư

Trong trời trong mắt.

Hoà bình lánh mặt

Nước mắt giấu đêm

Qua đường ngần ngại.

Một phản kháng yếu ớt bằng lời tự thán chỉ có tính chất so sánh bản chất thay đổi nhân sinh quan mau chóng của con người cầm súng qua hai giai đọan chiến tranh ở rừng và hòa bình ở thành phố.

So với các nhân vật phụ nữ trong các tác phẩm trường ca, tính cách nhân vật người chị đã có giá trị lịch sử cho đến bây giờ. Lời tự than này, chẳng nhân vật nào trong các trường ca thấy được mà lên tiếng. Vì sao? Thơ, truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết hiện đại trong chủ nghĩa hiện sinh tại Việt Nam “to mồm, lớn miệng” đã thay mặt đáp lại lời sông núi đó!

Nhưng nét tính cách đẹp nhất của chị sau tiếng thở dài, sau dòng nước mắt là sự sống còn của con thơ buộc chị đứng lên trong tháng ngày “mặt người gập đất”:

Ngày tháng loanh quanh ô đất mảnh vườn.

Đêm toan tính không đâu ngày trĩu nặng. Nước mắt chảy ròng trên má con thơ.

Chị mỗi ngày bước mỏi, bàn chân heo hắt cánh đồng.

Mặt người gập đất.

Sang khúc VIII, người chị này với những nét tính cách trên đã hòa mình vào cuộc sống bình thường nhưng Trần Anh Thái đã biến sự sống bình thường ấy thành sự sống thiêng liêng của con người khi hòa nhập vào vũ trụ:

Ánh sáng cuối ngày rười rượi màn sương

chị tôi lẫn vào trời vào đất.

Chỉ có khi người hóa thân “vào trời vào đất” thì mới thấy được cuộc sống vô vàn quý giá, mới thấy rõ chân lý “sự sống sinh sau cái chết già”. Chị đã quẳng quá khứ tang tóc để sống vì con thơ như chị từng quăng chiếc xe khi em trượt ngã. Tính cách nhân vật thống nhất hòa hợp chỉ có trong “Khúc Huyền ca“. Hai nhân vật người chị trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm cũng mới chỉ dừng lại ở hóa thân là “chiếc lá bay” đi theo người em đến cùng trời cuối đất chứ chưa nhập vào đất trời. Hình ảnh nhân vật người chị trong “Khúc Huyền ca” của Trần Anh Thái đã qua hóa thân mà thành hình tượng bất tử hiếm hoi trong văn học có tính Người. Nó độc đáo là thế!

3. Tính cánh nhân vật người lính trẻ: Có ba giai đoạn

a. Giai đoạn thơ ấu: (Như đã phân tích ở phần B. Nội dung)

Nhân vật này, ta thấy là một cậu bé thơ ngây, hiền lương, vô tư với trò chơi làm những chiếc thuyền, những con diều giấy gởi vào đấy những giấc mơ tuổi thơ trong khúc I:

Tôi hào phóng tung những con tàu cất giấu trong mơ

Bay mãi mãi về phía mặt trời bí ẩn.

Sự tò mò và trí tưởng tượng phong phú đã đánh thức tính cách mạnh mẽ của thằng bé trỗi dậy đi tìm hiểu rõ nguồn gốc tổ tiên ông bà với những câu hỏi không người đáp:

Ngôi mộ xưa

Con đường ký ức

Con đường nào tổ tiên tôi đi?

Những góp nhặt trên chặng đường lang thang khắp cánh đồng, thằng bé đã nhận thấy:

Tôi lang thang khắp cánh đồng tìm dấu chân tổ tiên

Mảnh đất im lìm tầng tầng máu đổ

Mảnh đất linh hồn ông cha

Đêm chợt vọng bốn chiều người lầm lũi úp mặt vào bờ ruộng.

Một ngàn năm ao tù

Một trăm năm ông cha dao, cuốc tìm đường

Gió hú tu tu miệng bình gốm cũ.

“Gia tài của mẹ” trong “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu. Một trăm năm đô hộ giặc TâyHai mươi năm nội chiến từng ngày. Gia tài của mẹ để lại cho con. Gia tài của mẹ là nước Việt buồn… Gia tài của mẹ, ruộng đồng khô khan. Gia tài của mẹ nhà cháy từng hàng” của Trịnh Công Sơn chính là đây! Những người ra đi tìm lửa nhóm lên cũng chỉ còn tàn nguội. Bởi vậy mới có hình tượng:

Người mò mẫn tìm lửa ở nhà mình

Tàn tro đã nguội

Người ngồi thật lâu

Gây buồn thế kỷ.

Nhưng Trần Anh Thái đã khắc họa tính cách nhân vật này theo chiều thống nhất: Một đứa bé có ước mơ thanh cao sẽ có ý nghĩ trong sáng về đất nước của mình:

Trong vô biên sáng mới, tôi hát ngợi ca sáng tạo

Mặt đất nâng tôi qua nồng ấm bình minh vang tiếng gọi Người.

Nó sẽ mang tinh thần bất diệt này vào chiến tranh để tìm lại bình minh và tìm ra chân lý vang gọi tiếng Người viết hoa trân trọng.

b. Giai đoạn lớn hơn: Tới ngày nhập ngũ. Anh là con người mang chân dung nhà quê lương thiện đầy tình “Đồng chí” của Chính Hữu trong tư cách làm con và tự hào về tình thương của mẹ một cách trẻ thơ :

Tôi ra đi buổi sáng thiên thần da thịt vấy bùn trộn săn ngày tháng và trở về nơi ngong ngóng đợi chờ đêm đêm Người thao thức. Trong giấc ngủ, trên đôi môi và nụ cười không dứt sáng hồn nhiên kiêu hãnh tràn trề. Dòng máu Người rần rật chảy trong tôi qua những mùa màng

Anh cảm nhận được tâm trạng đớn đau của mẹ mới biết mẹ mình “thức lúc nửa đêm” mới hay mẹ chưa ăn cái gì “cơm tàn tro nguội” và biết mẹ đang trong nỗi buồn đáu đáu con tim “anh tôi biền biệt chiến trường“.

Tự mình chia sẻ cùng mẹ nỗi đau này trong đêm chia tay khúc IV:

Khi tôi hát gió trong nhà thắt ngạt

Lúc vui cười nước mắt mẹ nghẹn đêm

Tưởng như anh là người vô tư nhưng thật ra, người con hát cười cho mẹ yên lòng nhưng trong ruột anh cũng đau thắt khi biết mẹ khóc nghẹn đêm vì cha, vì anh, nay vì mình. Không thương mẹ, sao lại hiểu mẹ nhiều đến vậy? Tình nghĩa người con mất cha dồn hết qua cho người mẹ nên ngay cả trên chiến trường, anh lính trẻ vẫn mơ về mẹ, tưởng tượng mẹ trong một hoàn cảnh quá ư quạnh hiu trong khúc VI:

Mẹ ngồi chống cằm

Mưa suốt cả ngày.

Một ngày

Tàn tro nguội lạnh

Chiếc kiềng bếp chỏng chơ

Niêu cơm bỏ dở.

Chú mèo ốm nằm không động đậy

Nắng lạc ngoài thềm

Mẹ vẫn ngồi

Cỏ rêu len dày cửa bếp.

Một ngày

Đầu gối run run

Hai tay chống đất

Ban thờ nguội ngắt

Biền biệt khói hương.

Rồi một ngày

Tóc mẹ ngả màu

Gió lay những vì sao nhỏ dần

Thềm gạch cũ đăm đắm mỏi ngày.

Không có tình thương con vật sao có con mèo ốm trong mơ, chẳng nhớ cuộc sống dân gian sao nhớ chiếc kiềng chỏng chê, nguội lạnh?. Không quen với kiếp nghèo sao biết được thềm gạch cũ đăm đắm chờ mong người về? Chẳng phải là người có giấc mơ hiền lương thì sao có những vì sao, từng cơn gió, cỏ rêu bò vào ký ức và không phải là người con có hiếu sao lại đau cùng mẹ trước tình cảnh mẹ buồn đến chết bên bàn thờ không còn ai thắp cây nhang! Không thông cảm cho mẹ sao nghĩ tới tóc mẹ sẽ đổi màu. Thì ra, người mẹ này chưa già lắm lúc tiễn con vào chiến tranh. Mới thấy chiến tranh đúng là kẻ thù của xuân xanh.

Người lính trẻ ra đi mang theo tình thương của chị:

Tôi trượt ngã

Chị quăng vội chiếc xe giữa đường sợ hãi thét lên

Giọng chị lạc chiều

Tôi phủi bụi đứng lên cười nhem nhuốc.

Thằng nhỏ… biết điều. Nó thấy chị quá sợ hãi lạc giọng vì sợ em đau nên cười trấn an. Đó là một trong những tính cách hiền lương, biết mình, nghĩ cho người của nhân vật.

Người lính nhỏ ra đi mang theo thời thơ ấu và tình yêu vừa nhóm lên cháy bỏng những vì sao lung linh:

Can đảm em ơi

Và đừng phiền muộn

Mẹ vẫn chờ em mong ngóng đêm dài.

Lời động viên chân tình và người lính trẻ đã giữ lời vỗ về ấy cho tới hết bản trường ca cũng như thống nhất tính cách cho nhân vật chính.

Chiến tranh cướp đi tuổi thanh xuân của những người phụ nữ trong chiến tranh thì trường ca nào cũng thấp thoáng nhưng đúc kết cô động sự phát triển tính cách nhân vật như một thể loại tự sự thì chỉ có “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng“!

c. Giai đoạn chiến tranh:

Một người lính đã chuẩn bị tâm lý lên đường là những tiếng nấc nghẹn ngào, là hành trình khắc nghiệt sẽ tới và là sự hy sinh không báo trước:

Cái khoảng trống này

Cỏ sẽ xanh

Và bụi mỗi ngày che phủ!…

Tiếng ai nấc trong đêm. Mồ hôi tứa thấm vào sương ớn lạnh, những cành khô lạo sạo vỡ hỗn mang.

Hành trình gian khổ đã tới với đời lính như trong “Trường ca biển“, Hữu Thỉnh để cho nhân vật tự tâm sự “Tôi đã lớn để trở thành người lính. Thọc đôi tay vào chiếc túi của rừng. Chiến công đôi khi là tìm ra một thứ gì ăn được. Để có giấc ngủ yên mười lăm hai mươi phút. Chúng tôi đào hầm hì hục suốt đêm” nhưng hình như, người lính nói chung đã cùng hát trên gian khó này như có lúc đã cùng đồng đội nghe tiếng đại bác và “Chim trói cột gõ vang ngày chật hẹp, mặt đất căng ra cái chết đến gần. Đêm không gió oi nồng chúng tôi ngồi giã từ sự sống” trong “Khúc Huyền ca“:

Đi trong cơn khát

Đi trong mưa lầm

Vòm cây mất ngủ.

Cũng như những ngưòi lính sư đoàn 312 của Ngưyễn Đức Mậu trong “Trường ca sư đoàn”:

Không có mũ: đội trời

Không có giày: chân đất

Ba lô chưa kịp phát

Gói võng làm ba lô

Tính cách bộc phát lên cao khi chạm súng nơi chiến trường:

Dựng dậy vùng trời

Người đổ sấp

Mặt bạn tôi bê bết máu chiến hào.

… Người thứ hai

Ai thét lạc qua bầu trời ngút lửa

Người thứ ba

Không kịp một tiếng kêu

… Máu trộn đỏ cây rừng Quảng Ngãi

Những hàm răng nghiến chặt vào ngày

Đạn bay hỗn loạn.

Người giết người. Ta lại bắn vào ta là đây! Người lính đã cảm nhận ra sự thật của những cái chết chồng lên nhau buốt lòng:

Tôi nghe lạnh giữa hai bờ cuộc chiến

Cái chết nối hàng

Cái chết tiễn đưa nhau.

… Xác người cuốn trong vòng tang xám

Xếp hàng

Khói bay ngơ ngác.

Chẳng reo mừng trước chiến công. Không vỗ tay khi bắn trúng ngực thù. Chỉ im lặng một cảm nhận máu và người, cảm nhận sự sống và cái chết nháy mắt qua là “mặt đất xoá nhòa“!

Tính cách nhân vật chính đã lên đỉnh điểm giữa hai luồng sống và chết: “Chiến tranh không có con đường thứ ba”. Một ý thức xuất hiện:

Trận đánh kéo dài

Chúng tôi phải sống.

Nhân vật này đã sống đúng nghĩa theo tính cách này.

d. Giai đoạn sau chiến tranh:

Chiến tranh đi qua

Tôi nghe xa xôi

Tiếng hát êm

Bay mơ hồ trên sóng

Mơ hồ mắt em

Mơ hồ thả tóc.

Nghĩ về người con gái thời thơ ấu. Người lính đã trưởng thành. Tính cách nhân vật phát triển theo tuổi trưởng thành phải là một tình yêu với một tình yêu chứ không phải một trái tim “anh dành cho Đảng phần nhiều, phần cho thơ và phần để em yêu” 1/3 nhỏ như Tố Hữu. Cũng như Đặng Thùy Trâm theo tâm lý, rõ ràng vào chiến trường B là vì M là động lực thúc đẩy lớn nhất chứ không phải lý tưởng cộng sản chi phối hoàn toàn như người ngoài cuộc gán ghép. Không có tình yêu, ai dám hiên ngang xung phong đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ chuyện gì khi “tổ quốc” cần và ai chịu hiên ngang hứng viên đạn giữa ngực trên chiến trường? Không vì nhau, không muốn ở bên nhau chia lửa thì Bùi Minh Quốc không khóc người bạn đời đã hy sinh năm 1969 trong “Bài thơ hạnh phúc”: Thôi em nằm lại với đất lành Duy Xuyên. Trên mồ em có mùa xuân ở mãi“!

Người lính trong “Khúc Huyền ca” may mắn không khóc người hy sinh nhưng lại đau với người còn mà như mất. Niềm đau đó mới đau hơn! Tính cách dành cho cô bạn gái ngày trước chiến tranh và sau khi tàn cuộc vẫn không thay đổi. Anh đã theo dõi từng bước chân sa hầm của cô và hy vọng một ngày nào đó người mẹ trẻ này quay về con đường mà ngày xưa “em ủ ban mai vào đêm vắng chờ một ngày:

Nước dòng sông tự chảy tràn trề

Tưới tắm cánh đồng màu mỡ phù sa.

Tính cách người lính từ hiện thực đã chuyển sang lãng mạn khi nghĩ về tương lai hạnh phúc khi có em cùng đi: Tha thứ lỗi lầm là điều thánh thiện nhất cho người lầm bước có cơ hội quay đầu nhạn: “Tôn em lên cùng tận cõi người“, mở rộng vòng tay, mở rộng tâm hồn “ta ngạt thở chờ bước chân em tới”:

Và em ơi mùa thu đẹp quá, mắt em trong sáng vòm trời. Ta thổn thức chờ em nơi cửa biển.

Đừng lần lữa trái tim ta muốn vỡ, mặt cát bồn chồn hoa sứ ngọt ngào thơm.

Một tính cách nam tử hán. Một trái tim của tình thương và tha thứ. Đừng nhầm lẫn với sự tha thứ kiểu làm ơn và ban phát. Những kẻ ban phát này chẳng hiểu gì về giá trị con người!

Cao hơn chút nữa, người lính này sau chiến tranh đã không quên những người lao động – những người lính chìm trong sản xuất không ra trận nhưng thắng hay bại một phần lớn nhờ họ, không quên bạn bè “Các bạn tôi ở đâu. Làng quê phố phường phương trời xa lạ? như người bạn Tà Ôi du kích năm xưa, không quên từng gốc cây, ngọn cỏ với những dấu chân của họ đã “Những dấu chân tản mát trên đường. Lối xưa lơ đãng”:

Mặt mày hốc hác

Nheo nhóc vợ con

Hai mắt mở tròn

Đất trời thườn thượt

Bán buôn lóng ngóng

Cơm bữa ăn đong

Ao vườn ruộng sản

Đóng khung giữa trời.

Đêm đã xuống ánh đèn hắt từ ngôi nhà vắng

Người tựa cửa nhìn sao toan tính mùa màng.

Họ trở về với nghiệp nông dân của họ như những người nghĩa sĩ Cần Giuộc năm nào hầu mong có những tháng ngày không chết chóc.

Tính cách người lính sau chiến tranh được hình thành tương đối thống nhất và bừng sáng trong khúc X (xin đọc phần B – Nội dung) khi vượt lên trên những lời rủa xả quân thù, hằn học bom đạn giặc để tìm những ngôi mộ mà lúc xưa đã từng bị lấp “Những gương mặt xa dần, tiếng đạn bom chìm khuất. Bia mộ viết vu vơ không tên đất tên người” như quan niệm người xưa “sống phải thấy cho được mặt. Chết phải thấy cho được xác” và “người sống có nhà, người chết có mồ”. Thời chiến, người ta đào hầm. Thời bình, người ta… đào mả! Thời mở nước, cha ông ta đào sông. Thời giữ nước, con cháu ta bán đất – mảnh đất thiêng liêng mà người con trong “Trầm tích” của Hoàng Trần Cương đã van cha: “Cha ơi xin cha đừng bán đất rồi biết kiếm đâu ra giếng nước ngọt thế này”. Sự độ lượng là con đường trải thảm đỏ cho người ta tìm về chính lộ. Phong độ của kẻ chiến thắng không phải là reo hò trên xác chết quân thù hay trả thù lên những ngôi mồ của kẻ địch.

Tính cách người lính thời hậu chiến cao hơn khi cuối đầu trước nấm mộ kẻ thù:

Tôi thắp một nén hương

Tàn nhang quẩn một vòng tròn trống

Tính cách nhân bản này, phong độ anh hùng đây làm cho ta nhớ chuyện ngày xưa: Tào Tháo nhà Ngụy thời Tam Quốc bên Tàu đã thương tiếc không nguôi Quan Công (mắc mưu Tôn Quyền không hàng Tháo nên bị chém). Một Trần Quốc Tuấn – Hưng Đạo Đại Vương (có sách ghi là vua Trần Thái Tông) thời Trần từng cởi áo bào đắp lên thủ cấp giặc Nguyên Toa Đô với câu “Làm tướng thì hãy trung nghĩa như người này” và ra lệnh theo tước vương mà cải táng. Bởi vậy mà Nguyễn Trãi mở đầu Bình Ngô Đại Cáo viết “Nhân nghĩa chi cử điếu tại an dân”.

Chữ Nhân và chữ Đức đứng trước hay sau cũng như nhau vì có nhân mới đức cũng như chữ nhân nằm trong chữ đức từ lâu. Hai chữ này đã… được “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm xóa xổ: “Ta đi. Trong âm vang yêu nước. Ta đi với rựa và tên. Rựa ta mài vào gỗ thành nương. Tên ta gài xuống đất thành bẫy. Thằng Mỹ vào thì xác mà để đấy!. Thằng nguỵ vào thì xác nó đừng chôn!. Cho cháu con ta ,ai sau nữa, được nhìn!”!!?

Khi khắc họa được tính cách nhân vật lên tới đỉnh nhân bản phù hợp với truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, Trần Anh Thái đã mở đầu cho thể loại trường ca của mình một cái nhìn nhân bản về cuộc chiến, về người lính nói chung, về cuộc đời đáng trân trọng. Tính nhân bản chân chính cao cả là tính thời gian cho một tác phẩm với bất cứ đề tài nào nhất là đề tài chiến tranh.

Tính cách nhân vật người lính thời hậu chiến đã không dừng lại ở chương X. Hòa bình về không có nghĩa không đổ máu, không thương đau. Hòa bình về, con người xâu xé nhau về quyền lợi về những cái mà họ gọi là “tự do, dân chủ” như hái nụ tầm xuân! Vậy thì hạnh phúc không đường đến trên cái xấu, cái ác nẩy sinh “Máu vẫn rơi mặt đất tanh nồng dục vọng”.

Anh đi tìm hạnh phúc:

Con đường bắt đầu từ đâu?

Câu hỏi vang qua bao thế kỷ.

Hạnh phúc thật con người?

Mơ hồ đêm tối.

Anh loanh hoanh tìm về những ngôi nhà thờ cổ, những dấu chân tổ tiên, thánh đường, bật ngữa với sự “lừa dối”, bật nghiêng với “ích kỷtrợn mắt với “Gã hề lăng xăng sàn diễn u mê”, than thở:

Trên con đường kiếm tìm mải miết

Chông gai thăm thẳm

Bất tận dấu chân

Bất tận nẻo đường.

Cuối cùng đã tìm thấy một niềm tin khi có “em” một tình yêu như vừa được hóa kiếp:

Mơ hồ tiếng gọi, mơ hồ ban mai, ánh sáng lan tràn dậy mùi hương sớm.

Tất cả đang có mặt ở đây.

Tất cả sự sống này vang bài ca khát vọng.

… Những sinh linh bé bỏng yếu mềm dựng lên gương mặt trần gian.

Chúng ta bước lên kiêu hãnh.

Đừng rụt rè và đừng e ngại.

Lửa đang sáng lên ở phía chân trời.

Ngọn lửa này không biết còn cháy được bao lâu khi nguồn nhiên liệu đốt nó bằng tấm lòng sẽ cạn kiệt ngọn lửa này sẽ có một ngày tàn theo bóng mặt trời của mình? Một thi pháp mới cứu cánh vừa hiện hình. “Khúc Huyền ca” biến thành “Ngày đang mở sáng” trong vô tận thời gian!