GIÁ TRỊ THẨM MỸ

Giá trị nghệ thuật hay giá trị thẩm mỹ của một tác phẩm được đánh giá qua những hình ảnh, ngôn từ, thủ pháp và các phương pháp tu từ có cơ sở lý luận văn học nhân văn làm nền. Giá trị này được tính cùng với giá trị nội dung mà tác phẩm có được.Vương miện chỉ có thể trao một hoa hậu khi người ấy đáp ứng: Cái đẹp tâm hồn tri thức và cái đẹp của cha mẹ tạo cho chứ không phải là cái đẹp tâm hồn ảo khi vay muợn tri thức còn cái đẹp đường nét thì thẩm mỹ hóa nhân tạo và sự bầu chọn cảm tính.

Một tác phẩm văn học cũng như hoa hậu, nếu vượt qua được cửa ải lý luận văn học với những chức năng riêng thì bản thân nó tự trở thành tác phẩm văn học. Một tác phẩm văn học bao giờ cũng phải bảo đảm hai chức năng cơ bản: Nội dung hàm chứa giá trị nhân bản của nhân loại và giá trị thẩm mỹ khi mang lại tính Người cho con người. Muốn mang lại tính Người cho con người, tác phẩm văn học cần phải chuyên chở một tiếp nhận thẩm mỹ (cái hay qua giáo dục và cái đẹp qua ngôn ngữ, hình ảnh, hình tượng, thi pháp nghệ thuật…)

Lại Nguyên Ân ghi rõ:“Tiếp nhận thẩm mỹ không phải là sự tái hiện giản đơn tác phẩm nghệ thuật trong ý thức, mà là một quá trình phức tạp: quá trình cùng tham dự và cùng sáng tạo tiếp nhận” (Tiếp nhận thẩm mỹ, trang 1715, Từ điển văn học-Bộ mới-2004).

Thực ra, nó đơn giản chỉ là cách sáng tạo của tác giả dựa trên sư tiếp thu từ nền gạch văn học cũ tức là từ trong một đề tài cũ nhưng cách viết mới. Cách viết mới này chính là nghệ thuật sáng tạo và phương pháp tư duy hình tượng độc đáo. Thi pháp mới hay còn gọi với cái tên văn vẻ “cách tân” đúng nghĩa sẽ mang lại cho tác phẩm văn học tính thời gian. Tính thời gian quyết định sự sống còn của một tác phẩm văn học.

A. CÁI MỚI CỦA “KHÚC HUYỀN CA”:

I. Phá vỡ cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt:

Tiếng Việt có cấu trúc truyền thống chính: Chủ ngữ và vị ngữ (C-V) và thành phần phụ bổ nghĩa cho danh, động, tính từ thì đứng bên cạnh chúng tạo thành những cụm danh, động, tính từ có nội dung hoàn chỉnh. Các thành phần trạng ngữ đứng ba vị trí trong câu: Đầu, giữa và cuối. Các thành phần liên từ đứng khoảng giữa các từ mà chúng có nhiệm vụ nối tiếp.

Phá vỡ cấu trúc tiếng Việt có nghĩa là trật tự cú pháp của tiếng Việt sẽ thay đổi và sẽ mất đi một số từ nhưng nội dung câu vẫn tương đối bảo đảm. Cấu trúc này giúp câu thơ gãy gọn, súc tích. Nó đổi mới cho nhịp thơ dù có vần hay thơ tự do.

Trường ca “Khúc Huyền ca- Ngày đang mở sáng” đã có cách thay đổi cấu trúc này:

1. Về đoạn:

 Khúc 1:

Giọt giọt cánh đồng

Run cơn khát

Bóng người ngày đổ

Xơ xác tàn bay

Biển chật vật bên bờ đá trắng,

tiếng cuốc kêu đói lả cánh đồng, niêu cơm trống mắt,

ánh nhìn ngơ ngác hiền khô quên ngày tháng năm sinh,

Luôn bất chợt giật mình

Cúc áo cài lộn ngược.

Không có hoa mào gà cánh đồng khô nứt nẻ,

bé thơ đứng cắn ngọn cỏ gà chớm nở bình minh

Đoạn thơ trên miêu tả một cánh đồng đang hút nước (thiếu nước) đến nổi hút cả giọt mồ hôi cuối cùng của người lao động. Đồng cạn kiệt vì thiếu nước. Người cùng chim cuốc đói lả ruột đến nổi không còn biết mình là người hay không?

Đoạn đầy đủ ngữ pháp sẽ là:

Giọt giọt (mồ hôi đổ/rơi/rớt/chảy xuốngcánh đồng (đangrun cơn khát.

Ngày đổ (trên) bóng người xơ xác tàn bay.

Biển chật vật bên bờ đá trắng.

Tiếng cuốc kêu đói lả (khắpcánh đồng.

Niêu cơm trống mắt (với) ánh (mắt) nhìn ngơ ngác, hiền khô, (người) quên cả ngày tháng năm sinh (và -luônluôn bất chợt giật mình.

Không có hoa mào gà (trêncánh đồng khô nứt nẻ . (Hoặc Trên cánh đồng nức nẻ, không có hoa mào gà).

Với một đoạn thơ có cấu trúc câu đầy đủ ngữ pháp, lợi điểm của nó là thể hiện hết ý tác giả và người đọc khỏi mắc công động não.

Khi đoạn thơ được tước bớt một số cấu trúc như cụm chủ vị (mồ hôi đổ xuống) hay mất trạng ngữ (đang, khắp), mất động từ chỉ vị trí (trên), liên từ (với), mất chủ ngữ (người)… đoạn văn có giá trị ngược lại. Nó ngắn gọn hơn. Ý thơ vì thế cô động hơn. Người đọc động não chút ít.

Trường hợp lược bớt một số từ như trên, ít khi được dùng trong thể loại tự sự, kịch…Riêng thi ca, càng tinh giản từ bao nhiêu càng có tính hàm súc cao. Tinh giản cũng không có nghĩa là sử dụng câu cụt, què.

Có thể thấy trong ca dao cho phép sự phá bỏ cấu trúc này:

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

Câu ca dao trên phá bỏ chủ ngữ “ai cày?”. Câu thứ 1 đầy đủ:

 Chủ ngữ Người + vị ngữ cày bổ ngữ đồng + trạng ngữ chỉ thời gian đang buổi ban trưa. Câu thứ 2 đầy đủ:

– Định ngữ Mồ hôi + chủ ngữ Người + động từ đổ/rơi/tuôn/chảy thánh thót như mưa + động từ vị trí trên + ruộng cày.

Câu thơ đầy đủ thành phần ngữ pháp như thế thì nó chuyển sang câu văn: “Người cày đồng đang buổi ban trưa. Mồ hôi người rơi thánh thót như mưa trên ruộng cày”. Thật ra, đi vào văn xuôi, tính từ chỉ tính chất “thánh thót” không phù hợp khi tả người lao động cực khổ trên đồng. “Mồ hôi người đổ như mưa trên ruộng cày“, đầy đủ ý lắm rồi nhưng trong ca dao hay thơ ca vẫn dùng được để làm rõ ý gì đó. Ta thấy rõ là câu ca dao trên đã dùng tính từ “thánh thót” để ngợi ca sự lao động.

Nhưng không phải phá vỡ cấu trúc ngữ pháp là làm câu thơ hay. Nó chỉ hay với cách miêu tả của tác giả đúng và có sự rung cảm thật lòng. Ví dụ với câu thơ này của Tố Hữu cũng phá vỡ ngữ pháp đầu câu và có vần vè nghiêm chỉnh:

Giọt mồ hôi rơi

Trên má anh vàng nghệ.

Anh vệ quốc quân ơi

Sao mà yêu anh thế!

“Giọt mồ hôi của anh vệ quốc quân” là chủ ngữ rơi trên má anh vàng nghệ” là vị ngữ. Câu thơ trên phá vỡ chủ ngữ. Nhưng hóa ra… buồn cười. Giọt nước, giọt mưa mới rơi trên mặt. Giọt mồ hôi trên mặt sao lại có thể rơi trên mặt. Họa chăng, “giọt mồ hôi của người khác” rơi trên mặt anh chàng vệ quốc quân kia với điều kiện người đó phải… cuối xuống mặt anh! Hai chiếc xe cùng vận tốc, ai ngu ngốc nói xe này chạy nhanh hơn xe kia?

Có thể nói: Viết sao cũng được, miễn là người viết biết cách dùng từ ngữ, câu cú phải hợp từng loại thể và từng văn cảnh một. Viết không trúng ngữ pháp và dùng từ không hợp ngữ nghĩa sẽ tạo ra hình thức “xum xê” nhưng ruột gan trống rỗng! Ống thu đủ!

Trở lại cấu trúc trong “Khúc Huyền ca“, câu dưới:

– Đoạn 4/khúc 4: Sử dụng từ “giọt giọt“:

Chim trói cột gõ vang ngày chật hẹp, mặt đất căng ra cái chết đến gần. Đêm không gió oi nồng chúng tôi ngồi giã từ sự sống. Cốc cà phê giọt giọt cuối cùng.

Tiếng ai nấc trong đêm. Mồ hôi tứa thấm vào sương ớn lạnh, những cành khô lạo sạo vỡ hỗn mang.

Hết cốc cà phê này là đêm cạn. Rừng bí ẩn sương giăng.

Giờ đã đến côn trùng ran bốn phía, bầy quạ đêm hốt hoảng réo vòng quanh.

Chớp mắt qua là mặt đất xoá nhoà.

“Cốc cà phê giọt giọt cuối cùng“: Thể hiện một diễn biến chậm chạp, nặng nề theo tâm lý. Nhìn cà phê chảy từng giọt xuống cốc (ly, tách, tô…), người ta sẽ cảm nhận được từng giọt, từng giọt cà phê như tiếng mưa lòng từng giọt mưa, mưa từng giọt trong đêm… Giọt mồ hôi dành cho người lao động, giọt cà phê dành cho người sắp đi ra chiến trường. “Hết cốc cà phê này là đêm cạn“. “Ngày mai hai đứa xa cách hai nơi” của Thanh Sơn sắp tới nơi!

Câu đầy đủ “Giọt cà phê cuối cùng rơi xuống cốc” hoặc “Cốc cà phê đang nhiễu giọt cuối cùng”. Câu đầy đủ ý nhưng dài dòng vì tả kỹ quá y như người uống chỉ chăm chú vào giọt cà phê. Trong bài “Cà phê ‘ngọt’ ”(vietnam.net), Nhị Tường rủ rỉ “mỗi khi gặp chuyện gì bất như ý trong cuộc đời, tôi lại muốn uống một ly cà phê. Cà phê tuy đắng nhưng nó làm cho cuộc đời thêm ngọt ngào, vì một lẽ, không ai muốn uống cà phê một mình”.

Trần Anh Thái cũng không uống một mình nhưng không phải gặp chuyện “bất như ý”. Anh phá vỡ luật uống cà phê của Nhị Tường và phá vỡ câu trúc ngữ pháp để phục vụ một nội dung: Người lính chiến trẻ tuổi chuẩn bị tâm lý ra trận. Câu phá vỡ động từ chính của Trần Anh Thái có giá trị biểu cảm ngắn gọn như giọt cà phê rơi xuống đáy cốc và dừng lại đó! Thời gian tâm lý sẽ trở nên dài hơn, nặng nề hơn với câu đầy đủ ngữ pháp. Điều đó, nó sẽ làm giảm đi ý chí lên đường theo bổn phận làm trai. Vậy thì phải có một tâm lý dứt khoát bằng giọt cà phê cuối cùng rơi chạm cốc, là anh và đồng bọn phải đi ngay!

Cách phá vỡ cấu trúc ngữ pháp này, ta thấy thêm ngay trong đoạn thơ tự do trên. Câu đầy đủ khi thêm dấu chấm câu dùng tách hai câu đủ chủ vị ra khỏi nhau như các bác sĩ mổ tách cặp song sinh dính liền các bộ phận:

Chim trói cột gõ vang (trong/giữa) ngày chật hẹp. Mặt đất căng ra (đón) cái chết đến gần. Đêm không gió với ( thời tiết) oi nồng, chúng tôi ngồi giã từ sự sống. Cốc cà phê( nhỏ/rớt/ chảy) giọt giọt cuối cùng.

Tiếng ai nấc trong đêm. Mồ hôi tứa thấm vào sương ớn lạnh. Những cành khô lạo sạo vỡ (trên ngàn).

Hết cốc cà phê này là đêm cạn. Rừng bí ẩn sương giăng.

Giờ đã đến côn trùng ran bốn phía. Bầy quạ đêm hốt hoảng réo vòng quanh.

Chớp mắt qua là mặt đất xoá nhoà.

Ta thấy với loại thơ tự do, không phải là gieo vần sao cũng được. Ví dụ “Cốc cà phê giọt giọt cuối cùng” sẽ đi vần bằng với câu chốt trong câu Chớp mắt qua là mặt đất xóa nhòa” mà khó theo vần trắc.

Tuy vậy, khiếm khuyết của đoạn này với câu “Những cành khô lạo xạo vỡ hỗn mang” . Không thể dùng “vỡ hỗn mang” cho “những cành cây khô“. Có thể dùng cho “rừng hỗn mang”. “Hỗn mang”: Tính từ chỉ tính chất thời sơ khai. Đoạn thơ trên là đoạn đang tả thực. Dùng “hỗn mang” để hợp vần “mang” với “cạn”trong “đêm cạn” làm mất tính trong sáng của từ. Ta cần tìm một từ khác có vần “an” như từ “ngàn” ở trên.

Hai đoạn thơ đầu tiên phần trên, ai đọc cũng nhận ra hai cảnh: Một cảnh là con người lao động khổ sở trên cánh đồng khô cháy và một cảnh người lính với ly cà phê giữa rừng chờ đợi ngày xung trận.

Có thể thấy thêm một số câu, đoạn đầy ẩn dụ, nhân hóa trong “Khúc Huyền ca” đã phá vỡ cấu trúc ngữ pháp sau:

Khúc II:

Đêm đóng cửa vẽ gương mặt em trong trái tim tôi khi ấy

Cây bút buông rơi trang giấy vo nhàu.

Lẽ ra: “Tôi buông rơi cây bút, vo nhàu trang giấy” nhưng hành động nhân vật chủ thể đã chuyển nhượng cho vật thể với cái ý: Với khuôn mặt em hấp dẫn như thế thì cả cây bút và trang giấy cũng… mê em mà tự động nhào lăn ra. Trần Anh Thái không đá động gì đến khuôn mặt em ra sao nhưng vật thể đã ngầm ý nói dùm: Mặt em đẹp, hiền dịu thì “bóng đêm” (lại mượn) mới vẽ trong tim. Ai đi vẽ bản mặt một ác ma hay bản mặt của “bạch phát ma nữ” vào tim. Đêm không vẽ em cho đêm mà đêm vẽ em cho tôi. Đêm biết điều biết chừng nào! Cái nào của ai thì người ấy hưởng, người ấy được, không ai đoạt được. Truyện cổ tích “Chum vàng bắt được” nói cái ý này: “Của giàu đem đến dửng dưng. Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”.

Chuyển tiếp đoạn dưới:

Sáng sáng

Trong yên lặng tinh sương

Ánh mắt em thẳm sâu đăm đắm

Nâng tôi lên vòm cao.

Tôi tựa vào nỗi buồn em khắc khoải

Thấy ánh sáng rực lên ở phía cuối khu rừng.

Chú ý câu này rất đúng ngữ pháp với kết cấu định ngữ ánh mắt + chủ ngữ em + cụm tính từ chỉ tính chất làm vị ngữ “thẳm sâu đăm đắm”: “Ánh mắt em thẩm sâu đăm đắm” . Sang câu: “Tôi tựa vào nỗi buồn em khắc khoải” thì cấu trúc bị phá vỡ: Chủ ngữ tôi + động từ tựa vào cần bổ ngữ bắt buộc là danh từ em hoặc cụm danh từ nỗi buồn của em. Có thể nói: “Tôi tựa vào em” hay “Tôi tựa vào nỗi buồn của em”. Không thể nói: “Tôi tựa vào em khắc khoải”Câu này sẽ thành câu cụt vì tính từ “khắc khoải” phải cần trợ tính từ. Vậy tính từ “khắc khoải” bỏ đi đâu? Chỉ có thể là: “Tôi tựa vào em khắc khoải nỗi buồn” hay “Tôi tựa vào em nỗi buồn khắc khoải” thì thành “nỗi buồn của tôi” mất rồi!.

Câu như vậy đúng ngữ pháp nhưng lệch nội dung vì tác giả muốn nói từ “nỗi buồn của em khắc khoải” (không phải nỗi buồn của tôi) đã làm cho tôi xốn xang và tôi cần phải làm điều gì đó cho em thôi khắc khoải một nỗi buồn. “Ánh sáng rực lên” là niềm tin, niềm hy vọng lóe lên trong tận cùng (cuối khu rừng).

Cấu trúc ngữ pháp đúng chưa thể chuyển tải cái ý cao cả này thì trường ca “Khúc Huyền ca” đã làm được bằng cách phá vỡ cấu trúc đó.

Khúc IX:

Em cúi mặt bước đi

Dấu chân mòn cũ

Vô định con đường rêu.

Đôi khi trật đường sợi dây xiết giật

Em vấp ngã lả người

Nước mắt ròng gương mặt xinh.

Câu đầy đủ: “Em cuối mặt bước đi trên con đường cũ, dấu mòn, vô định, rong rêu”: Chủ ngữ em + động từ cuối cần bổ ngữ là một danh từ mặt = Em cuối mặt chưa rõ nghĩa nên câu trên cần tiếp một động, tính từ. Câu này dùng động từ bước đi nên ta + một lô động tính từ bổ nghĩa cho nó (đi đâu? như thế nào?) trên con đường cũ, dấu mòn, vô định, rong rêu. Cấu trúc thứ hai đúng ngữ pháp: Cụm trạng ngữ chỉ địa điểm, thời gian, tính chất: Trên con đường cũ, dấu mòn, vô định, rong rêu (có thể đảo trạng ngữ này ra vế sau) + cụm chủ vị làm chủ ngữ Em cuối mặt + vị ngữ là động từ bước đi. Thật là dài dòng.

Trần Anh Thái mang câu đầy đủ ngữ pháp này, cắt tỉa và trải nó ra thành 3 câu như trên (thực ra, nếu viết một hơi không chấm phẩy như Trần Anh Thái hay dùng cũng không ảnh hưởng gì đến trường ca về mặt ngữ nghĩa: Em cúi mặt bước đi dấu chân mòn cũ vô định con đường rêu nhưng mất giá trị thi vị của thơ.Thành thử có 3 cụm chủ vị tạo thành vẫn không theo cấu trúc ngữ pháp: Em cúi mặt bước đi (Thiếu bổ ngữ cho động từ bước đi vì câu hỏi này còn bỏ ngõ: Em đi đâu? Em về đâu?)

Dấu chân mòn cũ (Thiếu chủ ngữ: Dấu chân ai, dấu chân con gì mòn cũ?)

Vô định con đường rêu (Đảo ngược vị ngữ: Con đường rêu như thế nào? Con đường rêu vô định – thủ pháp ngoại ngữ!! Con má ngoan thành ngoan má con).

Vậy mà đi vào trường ca, chúng có giá trị chuyển tải một bước chân cô đơn của em đi trên con đường mòn vô định, không tương lai gì ráo trọi! Con đường này mang lại cho em “nước mắt ròng gương mặt xinh“.

Ta lại gặp cấu trúc nguyên thủy sắp bị phá: Chủ ngữ nước mắt + động từ chảy cần bổ ngữ ròng + cụm trạng ngữ chỉ vị trí trên gương mặt xinh. Câu đúng ngữ pháp: “Nước mắt chảy ròng trên gương mặt xinh” hoặc “Trên gương mặt xinh, nước mắt chảy ròng”.

Trần Anh Thái… vặt cổ động từ “chảy” mà không quăng cái tính từ “ròng là vì ròng… có gì ghê gớm hơn chảy đâu? Nó chỉ đứng vào câu cho hợp vần thôi: “Em vấp ngã lả người. Nước mắt ròng gương mặt xinh” thay vì “Em vấp ngã lả người. Nước mắt chảy khuôn mặt xinh“?? Từ “chảy” vần trắc không kết đôi với vần bằng “ròng”. Thơ tự do thì tự do nhưng cũng phải có vần là vậy. Nếu không ăn “rơ” với nhau, thằng trống đánh xuôi, gã kèn thổi ngược, chỏi nhau chan chát. Người đọc có mà… tức điên!

Câu có kết cấu phá vỡ cấu trúc ngữ pháp như thế rất nhiều trong khúc trường ca này. Ví dụ: Em áo mỏng. Nắng ngập ngừng mái tóc / Chiến tranh hốc hác mặt người / Có bao nhiêu người không về. Rưng rưng nắng ngày rưng rưng mặt trời xa / Vách núi dựng ầm ào thác đổ / Mồ bạn không dấu vết. Chơ vơ vòm trắng mây bay / Chân nhang ai vừa qua. Khói bay côi cút / Tắc kè nghiến vào đêm / Mắt em trong sáng vòm trời … tạo thành một hệ thống từ ngữ gãy gọn, như súng lục bắn phát một trúng… tùm lum, tùm la!! Người đọc tha hồ động não!

Phá vỡ cấu trúc ngữ pháp khác đảo vị trí chủ ngữ, vị ngữ. Ta cũng nên cần phân biệt với lối đảo câu bình thường hay gặp khi người viết muốn nhấn mạnh hành động, tính chất sự vật, sự việc như trong “Khúc Huyền ca” đảo vị ngữ ra trước. Tức là đảo chủ – vị (C-V) luôn đứng đầu câu ra đằng sau vị-chủ (V-C): Hiu hắt vùng trời / Vùng trời hiu hắt; Khô khan mắt nhìn / Mắt nhìn khô khan; Lạo xạo bước chân / Bước chân lạo xạo; Hoàng hôn mặt trời / Mặt trời hoàng hôn; với sự phá vỡ cấu trúc như “Chơ vơ vòm trắng mây bay” (đúng: Chủ ngữ Vòm mây trắng + vị ngữ bay hoặc chơ vơ + bổ ngữ cho động từ bay là tính từ chơ vơhoặc bổ nghĩa cho tính từ chơ vơ là một động từ bay thành “Vòm mây trắng bay/ chơ vơ” hay Vòm mây trắng chơ vơ/ bay”.

Hai phép này có gì khác biệt?

Đảo chủ vị hay đảo vị ngữ, ta chẳng cần hoán chuyển từ, ngữ mà chỉ mang hết thành phần chủ ra sau vị mà thôi.

Phá vỡ cấu trúc ngữ pháp là bỏ bớt một hay hai từ, ngữ (là động từ, tính từ…) trong thành phần của một cụm chủ hay vị và chỉ chọn một mà thôi, không lấy hết để đảo ra trước hoặc sau tùy ý miễn nội dung không thay đổi. Cách này khó thành công với những ngòi bút chuyên viết theo cảm tính, tràng giang đại hải…

Trần Anh Thái bước đầu đã thành công trong cách phá vỡ cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt. Công dụng của cách phá vỡ cấu trúc ngữ pháp là tạo nhanh những đoạn, câu, ngữ, từ hay chứa đầy ẩn ý sâu sắc vì dùng nhiều phép tu từ tự nhiên.

Ví dụ:

– Đoạn hay:

Khúc I:

Ngọn lửa xa xôi đôi mắt con thơ

Người tựa vào đôi mắt ấy dò tìm

Run rẩy vịn qua tháng năm gầy mòn yếu ớt.

Vẫn dùng thủ pháp phá bỏ cấu trúc câu:

Câu đúng: Thêm từ, thêm dấu phẩy tách đơn vị tính từ đi chung:

Ngọn lửa xa xôi (là/từ ) đôi mắt con thơ

Người tựa vào đôi mắt ấy dò tìm

Run rẩy vịn qua tháng năm gầy mòn, yếu ớt.

Nếu không có động từ “là”, hay từ nối “từ“, câu sẽ được hiểu 2 cách: Một ngọn lửa. Một đôi mắt con thơ. Câu này không thể dùng dấu chấm tách câu hoặc dấu phẩy tách ý vì chúng liên quan mật thiết với nhau. Không thể dùng từ tính từ chỉ vị trí “trong” để lấp vào “Ngọn lửa xa xôi trong mắt con thơ”. Câu này đầy đủ 2 thành phần chủ vị. Nó được hiểu nhầm là ngọn lửa trong đôi mắt con thơ chứ không phải con thơ là động lực chính tạo cho người mẹ một ngọn lửa để mà sống vì nó. Dùng chúng thì câu trở nên nặng nề khi chuyển tải thêm một dấu huyền! Câu đang đi lên êm ái bỗng vấp phải cái ổ gà…

Cái hay của đoạn thơ trên là vì cấu trúc này đã biến một cụm chủ vị “Ngọn lửa xa xôi từ/trong/là đôi mắt con thơ” thành một tổ hợp liên danh từ “Ngọn lửa xa xôi đôi mắt con thơ” cộng thêm sắc áo tu từ ẩn dụ đôi mắt là ngọn lửa. Đó là so sánh chìm khác với so sánh nổi.

Ví dụ: “Những đôi mắt mang hình viên đạn” chẳng hạn, hoặc “em như một nụ hồng“…Viên đạn, nụ hồng… những thứ mà người ta có thể cầm, nắm chơi được thì gọi là so sánh nổi. Ngọn lửa, thấy được nhưng chẳng ai dám cầm chơi. Ngọn lửa có trăm thứ lửa, có ngàn thứ mưa.

Như vậy, phá vỡ cấu trúc ngữ pháp cũng vẫn có được sức sống của phép: Ẩn dụ tu từ.

Phá vỡ cấu trúc ngữ pháp cũng mang sắc áo tu từ thứ hai: Nhân hóa.

Nhân hóa là gắn thuộc tính người sang vật. Vật hóa, ngược lại. Tu từ này dễ nhận diện. Cho nên, người sử dụng phải chọn lọc.

Ta thấy: “Tháng năm gầy mòn yếu ớt” mang sắc thái diễn tả một thời gian không sức sống. Tháng năm này đã đến với người mẹ như bệnh dịch cúm gà. Vậy thì thấy cái chết đến nơi, thấy quan tài đến chốn.

Tu từ thứ ba: Tương đồng. Nghĩa là đem cái cân, đo, đong, đếm được để gắn với cái không cầm, nắm được hoặc cái trừu tượng mơ hồ để cho chúng cùng vào cuộc với mình:

– Người tựa vào đôi mắt ấy

– Run rẩy vịn qua tháng năm

Người tựa vào ngọn lửa (đôi mắt con thơ chính là ngọn lửa): Thành ra nghĩa khác tốt hơn: Ngọn lửa dẫn đường. Ngọn lửa tình yêu. Không phải ngọn lửa thiêu cháy người trên cánh đồng khô hạn.

Run rẩy vịn qua tháng năm: Người run rẩy vịn//tháng năm: Thành nghĩa khác: Người mẹ yếu đuối. Tháng năm cũng hết xí quách. Hai tương phản về hình với bóng như nhập vào chung một sự tương đồng: Nương tựa vào nhau mà sống. Một ý nghĩa nhân bản toát ra: Trong sự đói nghèo, chết chóc vì thiên tai; trong hoàn cảnh tang thương vì chiến tranh, đứa con là nguồn sống, là điểm tựa cho người tiếp tục đấu tranh chống thiên nhiên, chống số phận. Đồng thời, sự giao cảm của thiên nhiên và con người đồng điệu, chung một kiếp đói nghèo. Thứ chẳng phải là con người mà vẫn nâng đỡ con người vậy thì cùng là con người “vì sao không thương mến nhau còn gây khổ đau làm gãy nhịp cầu”? như Trầm Tử Thiêng đã đau xót trong “Chuyện một chiếc cầu đã gãy”!

Sử dụng những sắc áo tu từ nêu được mối liên hệ tương quan nhân bản như thế, câu thơ không hay, không động lòng người thì… tâm đá mất rồi!

Khúc Huyền ca” chuyển tải thêm một đoạn hay trong khúc V.

Khúc V:

Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước

Kéo hoàng hôn rã rời

Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc

Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau.

Bỏ qua những vần đầu “K”, đoạn thơ vẽ lên một bức tranh có hai cảnh trái ngược.

Sắc áo tu từ thứ nhất: Đối lập:

– Kẻ thắng trận / Kẻ thất trận

– Thương tích, ôm mặt khóc / lê bước, kéo hoàng hôn rã rời.

Hay:

– Kẻ thắng trận / thương tích, ôm mặt khóc

– Kẻ thất trận / lê bước, kéo hoàng hôn rã rời.

Bức tranh này ngụ ý cái gì đây? (Kẻ thắng trận đầy thương tích, hai tay ôm mặt khóc. Kẻ thất trận, tay bị trói ngược, lê từng bước nặng nề vì thời gian chỉ còn giá trị trên từng bước chân chiến bại).

Tu từ thứ hai: Phóng đại: Nói cho hơn sự thật. “Kéo hoàng hôn“. Hoàng hôn đâu thể nào như kẹo kéo mà kéo ngắn, kéo dài? Hoàng hôn cũng chẳng là gân cốt mà kéo co hay giản. Hoàng hôn chẳng phải trò chơi kéo co mà kéo qua, kéo lại. Vậy thì sao kẻ thất trận dám kéo hoàng hôn cho nó rã rời ra?

Lại thêm phép tu từ thứ ba: Tượng trưng: Những gì đẹp đẽ thì thuộc về bình minh và ngược lại là của hoàng hôn. “Bóng chiều không thắm, không vàng vọt. Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”. Mình đối diện với mình. Mắt trong vắt đã đầy nỗi buồn. Ẩn dụ tượng trưng này của Thâm Tâm đã hóa giải, vậy mà người ta cứ nghĩ đến nay chưa hóa giải nên nó cứ là ẩn số văn học?!

Trần Anh Thái cũng dùng “ẩn số” cho kẻ thắng trận: “Ôm mặt khóc”? Chiến thắng xong rồi thì “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng” của Phạm Tuyên mà hát tưng bừng lên. Khóc cho mà nhục, rên mà hèn với Tố Hữu à? Mừng khóc. Vui khóc? Vậy thì anh lính thắng trận này vui hay buồn mà khóc? Khóc mừng mình hú hồn còn sống sót hay khóc cho cuộc chiến tương tàn?

Một bức tranh hai loại người. Một cuộc chiến, hai thương đau! Vậy thì đừng để xảy ra chiến tranh. Lời kêu gọi hòa bình là đây. Bức tranh lên án chiến tranh là đấy! Nó tràn đầy tính người. Nó không reo cười trên sự thất bại của anh em cùng dòng máu Lạc Hồng, hay cùng giống người chung một trái đất. “Ai chiến thắng không hề chiến bại. Ai nên khôn không khốn một lần!”. Một huân chương gắn trên ngực mừng chiến công cũng đi vào quên lãng nhưng cái dấu ấn “thương tích” “tạc” vào gió thổi ngàn sau hay tạc vào thế kỷ ngàn sau là vĩnh viễn như người tử tù bị thích chữ trên mặt. Có ai muốn được xăm, được thích chữ vào tim kiểu này? Lại một bức tranh phản kháng chiến tranh như điệu Tango buồn ”vũ nữ thân gầy” (La Cumparsita) của chàng trai 17 tuổi Gerado Matos Rordiguez. Một bức tranh nhân bản tiếp theo trong những bức tranh cơ bản có chữ “Nhân”.

Khúc VII

Đêm đêm

Giấc ngủ ru về ký ức

Nghĩa trang bên bờ sông Vệ

trắng chùm hoa dại nở quên.

Một “thủ pháp ngoại ngữ” được dùng: Câu đúng: Đưa cấu trúc cụm chủ vị về đúng vị trí: C-V nhưng nghe lục cục, lạc cạc:

Nghĩa trang bên bờ sông Vệ

(Có) chùm hoa dại trắng nở (rồi) quên

Hoa nở giữa nghĩa trang. Hoa lòng rơi trên cuộc chiến tàn. Hình ảnh hoa trắng? Trắng tang. Trắng tinh khiết. Trắng thơ ngây. Trắng tay. Trắng tội! Vậy thì ta hãy chọn nghĩa nào cho giá trị câu thơ được nâng cấp? Chọn tất cả miễn là thích hợp từng hoàn cảnh.

Những người bước vào cuộc chiến là học sinh như chưa từng có giây phút lìa xa mái ấm gia đình, chưa một lần hôn lên má người yêu, hãy mỉm cười với những đoá hoa trắng thơ ngây. Những người lính vào trận với một lý tưởng làm trai, coi sự sống chết như “tiếng chim hót lửng lơ sườn núi” lãnh phát đạn từ phía trước hiên ngang thì vô tư nhận hoa trắng tinh khiết. Những người đi vào quân trường với đầy ấp ước mơ, bao nhiêu hoài bão hãy ngậm ngùi mà nhận hoa trắng tay. Những người trên chiến trận “khi mặt trận bốn bề đạn bắn, không ai đứng nơi khoảng giữa đội hình” thì lặng lẽ nhận hoa trắng tội. Người còn sống cuối đầu tưởng niệm những linh hồn đi trước lúc bình minh thì hãy nuốt nước mắt nhận hoa trắng tang.

Tư tưởng nhân văn nhận lấy những chùm hoa trắng chiến hào rồi “tạc” vào núi sông những câu thơ ”rưng rưng nắng ngày rưng rưng mặt trời xa” hay khắc vào núi đá!

– Sắc áo nhân hóa lại tái hiện: Giấc ngủ ru (ta, anh, em) về ký ức. Một giấc ngủ ký ức chiến tranh với “vô vàn nấm mộ không tên“, vô vàn “Bóng người dìu nhau bết máu. Màn đêm lặng phắc bãi chiến trường, gió khô mặt đất. Mơ hồ cơn co giật, tiếng gọi thất thanh, tiếng kêu cứu vớt, ròng gương mặt thời gian ám mùi bom đạn.

Những xác chết ngổn ngang hình hài méo mó. Từng nhúm xương chắp vá vô tình đêm tối mò tìm”. Một giấc ngủ chập chờn, ám ảnh chiến tranh. Một giấc ngủ nhân chứng sau hậu chiến: Dị ứng chiến trường dẫn đến con người bệnh hoạn tinh thần như hậu quả chất độc màu da cam.

Người ta sẽ quên họ như quên một chùm hoa dại chiến hào! Lại một lần nữa, “Khúc Huyền ca” gợi cho người ngàn sau, hưởng phước thanh bình hãy nhớ người đã nằm xuống như Giang Nam ngày nào đã khóc người yêu “nay yêu quê hương vì trong từng nấm đất có một phần xương thịt của em tôi”.

Tóm lại, thủ pháp phá vỡ cấu trúc ngữ pháp trong “Khúc Huyền ca” đòi hỏi khả năng cảm thụ thế giới và khả năng cầm bút vững vàng. Thủ pháp này, vui vui thì có thể gọi là “thủ pháp ngoại ngữ” (tính từ đi trước danh từ như hot water – nóng nước thành nước nóng, long nails – dài móng tay thành móng tay dài…) hay cách hiểu ngược từ mà trẻ em người Việt khi dịch Anh sang Việt (đọc ngược từ như vịt lộn thành lộn vịt, thịt heo thành heo thịt…).

Thủ pháp này rất hợp cho thơ, trường ca và nó kén độc giả nhưng nếu thẩm thấu một tác phẩm mới về nghệ thuật mà hiện nay, bá quan văn võ chuyên dùng là từ “cách tân” thì lý thú vô cùng. Cái mới chẳng phải cứ là câu chữ thả đầy xuống giấy, bừa bãi xuống dòng, vô cớ cắt khúc, ngang ngược xẻ dọc, đánh đố độc giả mà ngay cả chính tác giả cũng chẳng hiểu mình từ ngữ mình viết ra có giá trị, ý nghĩa gì? Cái mới nằm ngay trong người viết. Không giải phóng được tư tưởng: Viết về cái gì? Viết cho ai đọc? Viết trên tinh thần nào? Thì đừng hòng gọi là cái mới cho thi ca. Nếu tác phẩm có được sự “kông kênh” hôm nay thì ngày mai, thời gian sẽ tự đào thải nó.

2. Câu thơ như một châm ngôn mới:

Châm ngôn là những câu có tính cách khái quát chung một ý nghĩa lớn, một tư tưởng quảng thông có tính thời gian, tính nhân loại và có giá trị như ngọn đèn hải đăng trên biển. Một bài thơ hay chưa chắc đã có câu châm ngôn nhưng câu châm ngôn chắc chắn phải nằm trong một đoạn thơ hay trong một bài thơ, trường ca trên điểm trung bình.

Cần phân biệt câu, đoạn thơ hay với câu châm ngôn.

Ví dụ: Một đoạn thơ cảm động, sâu lắng trong “Núi đôi” của Vũ Cao:

Ai viết tên em thành liệt sĩ

Bên những hàng bia trắng giữa đồng

Nhớ nhau anh gọi: em đồng chí

Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Đây là đoạn hay trong bài thơ hay (hay của vài bài thơ hay trong cuốn sách chẳng hay gọi là “100 bài thơ hay nhất thế kỷ”?!) nhưng nó không có câu châm ngôn nào.

– Cần phân biệt ranh giới giữa thơ hay, châm ngôn và thơ châm chích:

Đang trưa ăn mày vào chùa

Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Lá bùa chẳng biết làm gì

Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.

Bài thơ 4 câu “Ăn mày” của Đồng Đức Bốn trong 100 bài thơ hay nhất!? Loại trào phúng này nằm la liệt trên đường văn học. Nó hay với giọng trào lộng nhưng cái gì cũng vậy, tiến sĩ, giáo sư hay học sinh ngồi “nhầm chỗ” thì cũng vào một… hố của sự tuyển chọn cẩu thả, cần…tiền chứ không cần tài, là đấy. Nghệ sĩ hài kịch, đạo diễn biểu ra hát cải lương đại đi mày, hát được chớ, xong, ăn cà chua, trứng thối, tối ngủ khách sạn ngàn sao! Chuyện thường của “cái nước mình nó như thế đấy” của Hoàng Ngọc Hiến.

– Cần phân biệt thơ và ca dao: “Bông và mây” của Ngô Văn Phú trong 100 bài thơ hay nhất?! Nhưng nó là ca dao từ xưa đã học đâu có thấy nói đến tác giả này và có những từ chưa thống nhất (những cô má đỏ, có cô má đỏ, mấy cô áo đỏ…). Gọi nó là ca dao hay thơ?:

Trên trời mây trắng như bông

Ở dưới cánh đồng, bông trắng như mây

Những cô má đỏ hây hây

Đội bông như thể đội mây về làng.

 Cần phân biệt thơ với thơ dịch. Hai loại này khác nhau xa lắc. Ví dụ bài “Nguyên tiêu” của Hồ Chí Minh (100 bài thơ hay nhất?!).

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
.

1948

Dịch nghĩa:
Đêm rằm tháng riêng

Đêm nay, rằm tháng riêng, trăng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xanh.
Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, ánh trăng đầy thuyền.

1948

Dịch thơ:
Rằm tháng riêng

Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

XUÂN THỦY dịch

Ta thấy bất ổn: Thứ nhất: Bài thơ chữ Hán nên khó có thể khẳng định nó hay hoặc dở. Muốn thẩm định nó, cần có người giỏi chữ Hán hòa âm. Nhạc sĩ hòa âm này cũng… chẳng giỏi, giết luôn bài thơ. Vì sao? Lời dịch trên, như một thể loại văn xuôi, chẳng có gì gọi hay chứ đừng nói hay nhất. Loại văn tả cảnh này, văn học Việt Nam phải nói là “rừng”! Vậy thì… bám vào bản dịch. Sông xuân, nước xuân, trời xuân, “xuân thiên” dịch thành “trời màu xanh” cũng tạm. Nhưng, đêm “trăng thu lồ lộ sáng banh, ai mà thấy được trời xanh, tớ… cùi!

Thời điểm cuối năm 1947 tới đầu xuân1948 là thời kỳ chiến dịch Việt Bắc thu-đông chuẩn bị kháng chiến toàn quốc nên chẳng còn con sông nào êm ả như thế để tác giả bàn bạc việc quân trên sông.

Thơ là người. Người cảm cảnh mới sinh tình, từ tình mới ra thơ. Chẳng biết tác giả “Nguyên tiêu” cảm cảnh sông nào ở miền Bắc thời loạn chiến mà có khói có sóng? Có đồng chí cán bộ nào ở trên thuyền thời đấy với tác giả mà hiện nay còn sống thì may ra… Một điều quan trọng nữa là: Hồ Chí Minh luôn dạy giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt để bảo tồn văn hóa Việt Nam như Minh Huệ trong bài “Giữ gìn tiếng Việt trong sáng theo gương Hồ Chí Minh” (Báo văn nghệ, cinet.gov.vn) Bác đã nhiều lần thẳng thắn nêu lên những cái tật trong viết và nói, làm cho nghèo đi, làm vẩn đục cái kho tàng và môi trường tiếng Việt. Chẳng hạn, cái tật “vay mượn lu bù” chữ Hán để “lòe thiên hạ” (cũng như hiện nay, đang rộ lên các mốt khoe khoang tiếng Anh)”.

Đan Tâm trong “Giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt” (nhandan.com) cũng lấy gương Hồ Chí Minh: “Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng, luôn chú trọng việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục nhân dân ta phải làm cho tiếng nói, chữ viết ngày càng thêm đẹp, thêm phong phú, hiện đại. Ðể giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt theo tấm gương Bác Hồ, đề nghị Nhà nước có quy định chặt chẽ, các cơ quan báo chí và cơ quan nhà nước phải nêu gương và Viện Ngôn ngữ học phải có trách nhiệm đề xuất, xây dựng quy định chuẩn về việc dùng từ tiếng Anh trong các văn bản, nhất là văn bản chính thức của Nhà nước. Các trường học phải chú trọng, đẩy mạnh giáo dục học sinh giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”.

Tại sao Hồ Chí Minh lại có nhã hứng làm thơ chữ Hán ngay thời điểm chiến tranh chống Pháp và ngay trên đất nước nói toàn tiếng Việt? Lạ nhỉ? Bài (dịch theo) tiếng Việt trong trẻo, thể thất ngôn đầy đủ luật khác:

RẰM THÁNG GIÊNG

Trăng vừa tròn bóng giữa tháng giêng

Ba xuân sông, nước, quyện trời nghiêng.

Giữa dòng khói sóng bàn quân sự

Nửa đêm về lại trăng đầy thuyền.

Như vậy, không thể nào mang thơ chữ Hán bản dịch mà đánh giá, xếp loại như thơ tiếng Việt.

Câu châm ngôn mới phát sinh: “Đừng nên miệng nói hay mà làm dở. Đã làm người phải thở, phải ăn”! Tiếng Việt trong hai câu này trong sáng hoàn toàn.

Ví dụ thêm trong hai câu “Một đời người ngắn ngủi thoắt, chóng qua, chỉ có thời gian là không già, không trẻ” thì câu “Chỉ có thời gian là không già, không trẻ” là một câu châm ngôn. Trong bài “Dậy mà đi” của Tố Hữu với đoạn màu đậm là châm ngôn:

Dậy mà đi! Dậy mà đi!
Đừng tiếc nữa, can chi mà tiếc mãi ?
Ai chiến thắng mà không hề chiến bại
Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần ?
hay đoạn: Dậy mà đi, hy vọng sẽ thành công
Rút kinh nghiệm ở bao lần thất bại:
Một lần ngã là một lần bớt dại
Để thêm khôn một chút nữa trong người.

Trường ca “Ngày đang mở sáng” có những câu châm ngôn “tiếng Việt trong veo” nằm trong các đoạn thơ hay như sau:

– Khúc III, đoạn 7: “Cô đơn nở sinh khát vọng”:

Hoa Xuyến Chi trắng muốt cánh đồng, dòng sông bình yên ru qua ngôi làng nhẹ khói sương.

Hương sớm thơm tóc em lấm láp mùa màng.

Rất xa đàn chim di cư lao xao mô đất đầu làng chọn ngày sinh nở, đất dậy mùi cỏ non vọng vang sự sống.

Cô đơn nở sinh khát vọng.

Trong vô biên sáng mới, tôi hát ngợi ca sáng tạo.

Mặt đất nâng tôi qua nồng ấm bình minh vang tiếng gọi Người.

– Khúc V: đoạn thứ 4: “Chiến tranh không có con đường thứ ba”:

Đêm úp mặt

Những vì sao vụt tắt

Trận đánh kéo dài

Chúng tôi phải sống.

Chiến tranh không có con đường thứ ba.

Mẹ ta giờ đã ngủ

Nước mắt chảy khô đêm mưa rét?

Câu châm ngôn này lặp lại ở Khúc X:

Chiếc giếng cạn ngày xưa

Giờ là nấm mồ chín người lính nguỵ

Những cái chết vô danh không tên không địa chỉ.

Mẹ các anh ở đâu?

Em gái các anh đâu?

Cơn gió trống hàng cây run rẩy.

Tắc kè nghiến vào đêm

Tiếng kêu côi cút!

Tôi thắp một nén hương

Tàn nhang quẩn một vòng tròn trống

Chiến tranh không có con đường thứ ba!

Một vì sao vụt tắt xa mờ.

– Khúc XI, là khúc cuối có nhiều câu châm ngôn nhất với đoạn 3: Sự sống sinh ra sau cái chết già. Không có bữa tiệc nào dọn sẵn:

Người cuối cùng níu vào trời mây

Níu vào sóng biếc

Kiệt sức cắm lưỡi kiếm đầu tiên lên mặt đất

Sự sống sinh ra sau cái chết già.

Không có đại lộ trần gian

Không có bữa tiệc nào dọn sẵn

Ánh sáng nâng niu qua nỗi khổ đau.

– Khúc XI, đoạn 5 Không ai độc chiếm hào quang”:

Máu vẫn rơi mặt đất tanh nồng dục vọng.

Không ai độc chiếm hào quang.

Những sinh linh bé bỏng yếu mềm dựng lên gương mặt trần gian.

Chúng ta bước lên kiêu hãnh.

Đừng rụt rè và đừng e ngại.

Lửa đang sáng lên ở phía chân trời.

 Khúc XIđoạn cuối “Nếu em không cùng đi, hạnh phúc không đường đến” và “Không có mặt trời cho một mặt trời“:

Ta sẽ đợi cho dù đêm nay đêm mai và ngàn ngàn đêm tới, sẽ cùng em xuống con tàu khát gió trùng khơi.

Nếu em không cùng đi hạnh phúc không đường đến và trò chơi tạo hoá cười vang ngạo nghễ mỉa mai.

Đừng e ngại em ơi

Con đường nhọc nhằn gai bụi.

Tất cả quanh ta

Cánh đồng núi đồi biển cả

Nâng bước chân qua u tối đau buồn.

Không có mặt trời cho một mặt trời

Ánh sáng nơi nơi toả rạng

Vang ca sự sống ngời sinh./.

Những câu này có thể dùng làm đề thi, luận văn cho các cấp bậc đại học trở lên. Xem ra, các đề văn này cũng thú vị và “mới” hơn mấy ngàn đề thi đi, copy lại đầy trên các cửa hàng sách!

3. Ngữ đầy tính ẩn dụ:

Ta thấy “Khúc Huyền ca” đầy những câu nhiều ẩn ý, giàu hình tượng, lắm tượng trưng có thể tự gợi lại cả một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử:

– Tảng đá già nua cũ kỹ:

Làm sao có thể bay lên

Hái nụ hoa e ngại

Những tảng đá già nua cũ kỹ chắn đường

Đây không phải là tảng đá thật. Có thể là một hệ tư tưởng cũ kỹ nào đó chặn đường. Trần Anh Thái đã để lại… vết lông ngỗng Mỵ Châu khi xây dựng hình tuợng này. Tảng đá chắn đường thì chắn bàn chân, đâu chắn đôi cánh? Nếu thật sự có cánh thì Ngũ Hành Sơn có làm gì được Lão Tôn?

Vậy thì, tốt hết, cho nổ trái mìn. Thằng đá banh thây thì mình tha hồ đào sông lấp núi, thực hiện giấc mơ Nữ Oa đội đá vá trời!

Trần Anh Thái đá vào “tảng đá già nua cũ kỹ“, Nguyễn Đức Mậu “để bàn chân vấp vào giới tuyến” – cũng là hoán dụ (bàn chân-chỉ con người), có ý nghĩa tượng trưng khi dùng cụm động từ có bỗ ngữ “vấp vào giới tuyến“: “Giới tuyến” là lằn ranh có thể thấy bằng mắt thường nhưng không thể dùng “đá, vấp, đụng, đạp, đánh, đập, va, chạm”. Khi đã dùng thì nó mang một nghĩa khác có tính cách ẩn dụ: “Giới tuyến” với trường hợp Nguyễn Đức Mậu dùng trong “trường ca sư đoàn” là nỗi đau chia cắt đất nước.

Những tảng đá cũ kỹ này mà nằm chình ình trên con đường mòn vô định rong rêu nữa thì chỉ dành cho Tôn Ngộ Không! Lịch sử Việt Nam và lịch sử văn học Việt Nam cùng “ngược thời gian trở về quá khứ phút giây chạnh lòng” để thấy ẩn dụ sâu sắc của “tảng đá già nua cũ kỹ” này!

– “Tảng đá già nua cũ kỹ” chỉ ôm lấy Liên Xô – Trung Quốc với thời kỳ “Cải cách ruộng đất kinh sợ. Nó chẳng khác nạn diệt chủng trên thế giới khi một thành phần giai cấp phú nông, địa chủ bị xóa sổ và hàng loạt gia đình những người có công cách mạng hay liên quan kháng chiến cũng tiêu tán đường năm (1953-1956). Cả người mẹ nuôi của các ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, mẹ của một trung đoàn trưởng lĩnh án tử hình hay bắt giam luôn tướng Vương Thừa Vũ… Năm sau, 1957, nhà nước Việt Nam dân chủ mới sửa sai dẫn đến sự ra đi của Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương… và cho đến bây giờ đám mây đen thời kỳ bão tố vẫn trùm lên lịch sử.”Không sai mắc mớ sửa sai. Siêng năng ai lại… bói bài kiếm ăn”!.

– “Tảng đá già cũ kỹ” trong vụ “Nhân văn – Giai phẩm” năm 1956 – 1958 dẫn đến nguyên soái thi đàn Tố Hữu “con chốt” trên ván bài “Tào Tháo tráo đấu đong gạo”, đưa lưng cho anh em nghệ sĩ… chặt, xìa mặt cho văn sĩ… chửi! Những giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước tặng Cao Xuân Huy, Văn Cao, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Trần Dần hòng “xoa dịu vết thương”… nhưng không lẽ “Nhân văn – Giai phẩm” chỉ có bấy nhiêu người đó… vô tội? Có công thì thưởng, có tội thì phạt. “Vô công bất thọ lộc“, những người đó có công lao gì? Nếu họ có công mà bị xử oan, nay được minh oan thì kẻ xử oan thời đó, giờ sao không bị giáng tội? H

– “Tảng đá già nua cũ kỹ” sau 1975: Toàn bộ nền văn hóa miền Nam bị xóa tên trong biển lửa nhưng bây giờ những cái tên là nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ… thời ấy lại được nối dài theo lịch sử “Hận Đồ Bàn“. “Sự sống sinh sau cái chết già“. Té ra là thế! Thơ “tre trúc” ra lò:

Thế sự chuyện của má, ba

Sinh sự là chuyện của nhà viết… drăng (văn).

Chừng nào voi hết cỏ ằn (ăn)

Nhà… drăng (văn) mới chịu lấy khằn bịt môm (khãn bịt mồm).

Chừng nào hết hố, hết bom

Nhà quan (quàng) mới hết bán hòm kiếm ăn!

Hãy cùng bay với giấc mơ của tuổi thơ anh lính nhí Trần Anh Thái ”sinh sự” trong trường ca của mình:

– Cánh diều con tàu khát gió:

Chiếc hộp giấy đựng bầu trời

Vỏ sò và ốc biển,

Cánh diều con tàu khát gió

Ánh nhìn và dòng máu không ngừng chảy.

“Cánh diều”: Nghĩa thật chỉ là một trò chơi bằng giấy ở đồng quê, nâng cấp lên thành những cuộc thi“thả diều nghệ thuật” như Festival Diều tại Cervia hay Hà Tây, Hội An năm 2006. Một tập tục lành mạnh, bổ ích cho tăng tính tưởng tượng cho con người trong việc sáng chế ra từng cánh diều độc đáo với những màu sắc rực rỡi, tân tiến hình thức, chất lượng nội dung, bay lượn trên không gian mang đến cho con người cảm giác hòa bình, an lạc.

Nghĩa bóng của nó ai cũng biết:“cánh diều” (như con tàu) là hình ảnh tượng trưng cho ước mơ hòa bình và khao khát tự do. Người khát nước. Đời khát vọng. Cánh diều như con tàu kia cũng như người nhưng nó uống nước thì nó… chìm, nó rách. Thuyền đi dưới nước. Diều bay lên trời. Ngược đời, lập dị, không thích hợp với khả năng vốn có, mọi thứ thành… Hàn Mặc Tử! Không có gió thì diều kia… xụi lơ như em bé thiếu sữa mẹ. Nó khát gió là phải. Từ dùng chính xác, đầy ẩn ý là thế!

4. Từ ẩn dụ:

– Nhện giăng

Bóng tối loà nhoà

Tiếng đêm xé gió

Nhện giăng ngang đường.

Ẩn ý một cái gì đó hoang tàn, bụi bặm không giống con nhện giăng tơ cầu duyên trong ca dao: “Buồn trông con nhện giăng tơ. Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?”. Nó cũng chẳng giống con nhện tám mắt chuyên giăng bẫy ruồi cười con tằm kéo kén “Nhện kia giăng bẫy bắt ruồiThấy tằm kéo kén vừa cười vừa chê” trong truyện ngụ ngôn của La Fontaine. Nó cũng khác những con nhện ma trong Tây Du Ký chuyên hút máu người.

“Khúc Huyền ca” xuất hiện một tính từ, vừa danh từ:

– Thương tích – Vết thương” bao hàm chỉ một nghĩa ẩn dụ độc đáo về chiến tranh mà các trường ca khác chưa nắm bắt ý nghĩa nhân bản này. Nó bắt đầu từ thương tích của trường ca thứ hai: Trường ca “Trên đường”:

Tôi mơ cánh đồng

Dấu tuyết khô còn lạnh

Trận chiến xưa thương tích chưa lành

Đây đúng là vết thương chiến tranh mà trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời” cũng thấy rõ: “Chiến tranh đi qua dọc con đường đầy hoa tươi và vòng tang trắng. Nắng tháng năm nhòa gương mặt thời gian” cả khi“Đôi lúc ông ngồi thở dài đếm huân chương gói trong ba lô còn hoen vết máu”.

Bom chết đào huyệt. Bom sống ẩn mình. Đạn trúng người, người đi. Đạn trúng cây, cây ngã. Người chết hồn chưa tan. Người sống thẩn thờ theo thời gian tính bằng bom đạn. Một thương tích thời gian không thể nguôi ngoay. Nó chẳng phải là “cái vết thương xoàng mà đi viện” của Phạm Tiến Duật. Nó cũng chẳng phải là vết thương huân chương.

Sang “Khúc Huyền ca“, ta thấy có 3 thương tích và 2 vết thương:

Bàn chân rớm máu

Con đường

Tôi lặng lẽ lau khô thương tích.

Thương tích này ẩn dụ như vết thương thời cuộc. Những va vấp đời thường phát sinh ngay cả trong chiến tranh và nhất là sau chiến tranh mà Nguyễn Anh Nông xót thương bố mình – thương binh tay trắng “Nào ai người nằm lại chiến trường xưa? Ai đào ngũ giờ yên lành mây trắng?”.

Đất nước mở ra đến đâu máu chảy đến đấy. Con người tự hủy hoại nhau, tự phá hỏng giá trị đạo đức truyền thống nhân văn bằng tất cả những loại hình. Tâm trạng hoài cổ, tiếc nuối thời vàng son của giá trị đạo đức xuất hiện.
Người canh đền đã xưa

Thương tích hằn thế kỷ

Chiếc đỉnh thờ u uất khói hương.

Thương tích này là vết thương hoài cổ về điều nói trên. Nó không nằm trong vết chém của Nguyễn Đức Mậu ”đất đai mang vết chém trên người” trong “Trường ca sư đoàn về mặt chia cắt. Nó khác vết chém ngang lưng của Duyên Anh trong “Chiến tích” về sự “thắng làm vua” nh ưng “thua kh ông đ ư ợc làm giặc” và không tiên thuật như “những vết sẹo biết tự mình phát sáng” của Mai Văn Phấn trong trường ca “Người cùng thời”. Những vết thương này, chúng giống nhau ở chổ chẳng thấy được để… “xát muối ớt” chơi nhưng khác ở chỗ: Con ngựa thì vẫn có thể bị chém thật nhưng đất nước trong các trường ca của Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm… thì làm sao mà chém? Muốn chém phải đưa nó về cùng loại. Phép nhân hóa làm được. Cái đau của con người khi đất nước bị chia cắt bằng cái đau của đất nước khi bị phân ranh. Hai mà một. Chém kiểu nào cũng đau cho người trong cuộc. Với một phép nhân hóa: Đất nước cũng chính là con người. Nguyễn Đức Mậu để cho “đất vá lành vết thương mặt đất” trong “Trường ca sư đoàn” cũng có ý này như “Khúc Huyền ca“:

Vết thương bết máu

Mảnh đất xác xơ

Cơn gió tựa vào vòm cây bật khóc.

Vết thương bao hàm hai chiều bóng và thật “Đất đỏ dọc chiến hào bết máu”. Nó không như “vết sẹo tuổi thơ” của Thu Bồn vì “mảnh ngói lia thia” làm “anh đứt tay vì mắt em sắc lẹm”. Nó khác với vết thương mà Nguyễn Anh Nông “âm ỉ” với vết thương hai nghĩa của người bố “Vết thương trong người nhức nhối hoá như không. Bị thương, bố giữ âm ỉ riêng mình (Người ta bị thương – người ta chia xẻ)”.

“Khúc Huyền Ca” nhiều thương tích hơn cả nay mới chịu xẻ chia:
Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước

Kéo hoàng hôn rã rời

Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc

Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau.

Thương tích này là vết thương lịch sử và cũng là “thương tích” của người lính biết nghĩ cho người lính nói riêng không phân biệt là bạn hay thù và cũng là vết thương của người biết nghĩ cho người nói chung. Đây chính là vết thương nhân văn mà văn học Việt Nam đã đánh mất trong chiến tranh và ngay trong thời hòa bình.

Một cơ chế bao cấp hoặc thể chế chính trị nào cũng vậy, áp dụng cho bất cứ nước nào, sản phẩm của nó là sinh ra bên cạnh những người tốt sẽ phải có những hạng người tha hóa đạo đức để cân bằng sự quân bình xã hội. Tuy nhiên, một nghề giống nhau nhưng động cơ khác nhau sẽ dẫn đến một thang điểm nhân cách khác nhau. Vì sao Nguyễn Du trân trọng, nâng niu nhân vật Thúy Kiều? Vì sao nhà văn Gabriel García Marquez (nobel 1982) tác giả của “Trăm năm cô đơn” lại nâng niu nhân vật 14 tuổi đi làm gái điếm cho một nhà báo 50 tuổi trong tự truyện “Memoria de mis putas tristes– Memories of My Melancholy Whores” (Hồi ức về cô gái điềm của tôi)? Chính vì tình người và tính người.

Nhân vật cô bé ngày thơ của người lính cũng được Trần Anh Thái… tặng cho một vết thương:

Trả giá

Bỏ qua những cánh hoa yếu đuối dọc đường

Qua cánh rừng vực thẳm

Cơn khát cháy khô

Mơ một ngôi nhà lạ

Em rịn thuốc xoá vết thương ngày xưa.

Vết thương này là vết thương lòng.“Vết thương” tự mình chữa lấy ở chỗ nó có động từ “xóa” đi kèm. Chính là chìa khóa mở cho người bị thương một lối thoát. Nhân vật này tự mình làm… bác sĩ gia đình. Trần Anh Thái nâng niu nhân cách của cô không phải bằng từ ngữ trau chuốc như Nguyễn Du dùng để ví giọt nước mắt Thúy Kiều như châu, như ngọc, như băng như tuyết mà Trần Anh Thái chỉ “điểm” một từ “xóa” đã nâng nạn nhân lên một vị trí cao hơn về tính cách: Không tủn mủm, kể lể, kêu khóc hay phàn nàn số phận mà nạn nhân tự đứng lên làm lại cuộc đời.

Ta có thể so sánh với “Trường ca sư đoàn” của Nguyễn Đức Mậu: Trường ca này có 6 vết chém, vết thương, bị thương, thương tích, vết máu:

– Vết chém: “Đất đai mang vết chém ngang người”.

– Sông Thạch Hãn: “Nhiều thương tích chiến tranh như thế?”

– Người bị thương có nghe sông hát

– Có vết thương mưng mủ

– Đất vá lành vết thương mặt đất

– Vai áo anh còn vết máu bạn bè.

Hữu Thỉnh chỉ có một vết chém trong “Cổ nhân vẫn còn đây. Máu chưa lành vết chém” cho “Trường ca biển” và “hai vết thương vì rừng, ba vết thương vì pháo” cho trường ca “Đường tới thành phố”. Vết thương này là vết thương bị thương như Trần Anh Thái tả vết thương ông già trong trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời”: “Đôi lúc ông ngồi thở dài đếm huân chương gói trong ba lô còn hoen vết máu”. Chúng cũng chỉ là vết thương của đạn bom thật sự chứ chưa nâng cao ý nghĩa sâu sắc là thương tích.

Trường ca “Trầm tích” của Hoàng Trần Cương cũng chỉ có vết chém của đá “Cạnh sắc đá còn hằn nguyên vết chém” và dấu tích: “Dấu tích tháng năm buồn. Nghèo khó cắn xé nhau” và “dấu tích thời binh đao” vì tay bị thương “không còn co lên trước ngực” còn trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm… chẳng tìm ra vết chém hay vết thương nào cả!. Xem ra, “cổ xưa xe ngựa hồn thu thảo” của Bà Huyện Thanh Quan có thể dùng chuyên chở những người bị thương về hai phần thể xác và tâm hồn về bệnh viện tâm sinh lý chiến tranh là êm ái nhất.

Với từ “thương tích”, Trần Anh Thái đã sử dụng phép ẩn dụ mang một ý nghĩa có tính chất lịch sử và nhân văn. Vết thương nào thật giả cũng để lại chỉ là vết sẹo. Một người với thân thể đầy vết sẹo (có thể nhiều nguyên nhân tai nạn giao thông, chém lộn, đạn bom…) so với một người mình đầy thương tích (có giá trị chứng nhân lịch sử như bị tra khảo, bị đánh đập, bị hành hạ…) thì người thứ hai cần điều trị về hai phần thân thể và tâm hồn. Những thương tích thấy được bằng mắt thường thì có thể chữa được nhưng thương tích không nhìn thấy được mới là vết thương chìm, đau đớn lặng lẽ và khốc hại khôn lường như người bị chất độc hóa sinh hay chất độc sinh hóa.

Thương tích chiến tranh không dừng lại ở quan điểm dân tộc mà nó bức ra ngoài hàng rào chiến cuộc để góp mặt chung với thương tích lịch sử của tất cả mọi trận chiến bất kể là chúng phi nghĩa hay chính nghĩa.

Mở lòng và tôn trọng nhân cách con người chính là chiến thuật hữu hiệu nhất, lương thiện nhất để dọn đường trải thảm đỏ cho hàng tướng hay kẻ chiến bại hoặc nhân sĩ về với mình. Tào Tháo là một kẻ gian hùng trong chiến tranh nhưng là một kẻ thực sự có tài dụng binh, thâu người mà người có nghĩa khí, trung dũng như Quan Công cũng phải chịu ơn và từng chấp nhận làm “hàng tướng có điều kiện” dưới tay Tào Tháo.

Như vậy, vết thương hay thương tích trong “Khúc Huyền ca” có một giá trị đặc biệt: Đó là cách dùng từ độc đáo tóm hết ý chính của cuộc chiến tranh với một hậu quả khôn lường cho thế hệ ngàn năm, ngàn năm sau nữa. Nó chính là nỗi đau của lịch sử về anh em tương tàn, cốt nhục phân tranh; nỗi đau của dân tộc về những giá trị truyền thống bị đánh cắp bằng bom đạn và bị tiêu hủy vì lòng hận thù ngút trời!

Các trường ca khác chưa có dịp “để mắt” tới nhưng “Khúc Huyền ca” đã đi trước một bước. Một thử nghiệm cần có trong chính sách đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù bằng văn học để “văn học là nhân học” một lần nữa thấy lại bóng mình trong gương thần. Nó độc đáo là thế!