D. Sức sống mãnh liệt của con người:

I. Vươn lên từ nỗi thống khổ:

1. Người mẹ: Trong trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời“, Trần Anh Thái tái tạo hình ảnh người mẹ của một thời 45: Thời gần 2 triệu người chết đói:

Mẹ như chiếc phao không bến

Trái na già vỡ vỏ giữa cơn giông

Vầng trăng gẫy trên đầu ngọn sóng

Vệt sáng đắng cay mặt cát đổ dài

Bước chân cao thấp với trời

Người chết nghẹn đường năm đói

Đông Hoàng, Đông Trung, Đông Xuyên, Thánh Giám

Máu vẫn đỏ đất đến hôm nay.

Trong khúc III, “Khúc Huyền ca” một lần nữa đưa người về với “mảnh đất im lìm tầng tầng máu đổ“:

Đêm chợt vọng bốn chiều người lam lũ úp mặt vào bờ ruộng

Cũng giống như lúc “Hết chiều”:

Đêm úp xuống lưng – người úp vào bóng tối

Tiếng thở dài trút mặt đất đai.

Trong đó có người mẹ. Xuất hiện từ khúc I, người mẹ “ra đi trong sương khuya mò bóng” với “cơn đói mờ run, khát bàn tay lạnh” nhưng người mẹ ấy vẫn bám lấy một niềm tin để sống chính là “ngọn lửa xa xôi trong mắt con thơ“:

Run rẩy vịn qua tháng năm gầy mòn yếu ớt

Trách nhiệm buộc người mẹ này phải sống. Trong chiến tranh, mẹ Suốt, mẹ Tơm của Tố Hữu, mẹ đào hầm của Dương Hương Ly, người mẹ huyền thoại của Trịnh Công Sơn hay mẹ trong truyện ký của Nguyễn Thi tự bản thân phải trở thành “Người mẹ cầm súng” vì lòng căm thù đánh giặc. Người mẹ trong “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh lặn lội trên đồng ruộng nuôi con đi lính giải phóng:

Mẹ đang đi gánh rạ giữa đồng
Rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió.
Riêng người mẹ trong “Bình minh của mẹ” của Trần Chấn Uy vất vả trên đồng ruộng vì không còn ai để nhận lấy trách nhiệm này:

Gánh nỗi nhớ thương người con trai chết trận

Hai mươi năm chưa tìm được nấm xương

… Gánh từng cơn ho người chồng già đau ốm

Sống hắt hiu như một đốm lửa tàn.

Gánh “trăm nỗi lo toan, một đời cơ cực”, người mẹ ấy đáng cho ta kính phục vô vàn! Người mẹ trong “Mẹ và quả” của Nguyễn Khoa Điềm cũng cần cù lao động với trái bí, trái bầu “Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn nhỏ xuống lòng thầm lặng của mẹ tôi”:

Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng.

Người mẹ của Trần Đăng Khoa trong “Hạt gạo làng ta” vẫn phải xuống đồng trong những tháng ngày thiên nhiên khắc nghiệt:

Những trưa tháng sáu.
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ.
Cua ngoi lên bờ,
Mẹ em xuống cấy.

Chính vì thế, trường ca “Trầm tích” không ngoa dụ khi ca ngợi người mẹ của mình:
Mẹ là trầm tích của làng quê hoa trái

Cất giữ mọi giấc mơ rồi có mặt trên đời

Mẹ là trầm tích của bạt ngàn thương mến

Xanh mát màu trời đượm ấm hương quê

Người mẹ trong “Khúc Huyền ca” của Trần Anh Thái cầm cuốc, cầm cày không vì chồng đau nhưng cũng vì chồng, con chết trận, vì con còn thơ dại. Hoàn cảnh nào cũng đáng thương tâm. Thơ ca biến những thương tâm ấy thành “ngọn lửa” dù là “lửa đom đóm” của Thi Hoàng, Nguyễn Đức Mậu, dù một “đốm lửa tàn” của Trần Chấn Uy, dù chỉ là lửa “đom đóm tóm nhom” của Hoàng Trần Cương, dù chỉ là “nhóm lửa“, dù chỉ là “ngọn lửa xa xôi” trong “Khúc Huyền ca” thì Trần Anh Thái vẫn thắp sáng lên một ngọn nến trong tăm tối bão bùng. Đóm lửa không đủ sức căm thù. Ngọn lửa chỉ đủ lóe tia hy vọng cho đời. Đó cũng chính là giá trị nhân bản của thơ ca khi thắp ánh nến giữa bầu trời đen. Nó là sức sống mãnh liệt của dân tộc. Những ngọn lửa hừng hực trong các trường ca của Thanh Thảo “mặt trời lặn sâu trong nước để bùng lên đám lửa dữ dằn” cũng bén ngọn từ đốm lửa xa xôi này.

Sau chiến tranh, trong khúc X, cô bé ngày xưa của “thằng cu” đã lấy chồng trong nỗi khổ chung của chiến tranh, của cơ chế chính trị mới nẩy sinh trên sự đói nghèo:

Không thạo bán buôn

Không biết lấy tiền

Lương tháng vợ chồng tối nào cũng kiểm

… Hà Nội đông người con cá mớ rau

Cơ quan trốn giờ về lo xếp hàng

Âu mỡ để dành vô tình làm đổ

Cả tháng nhịn ăn năm sau còn tiếc

Cuộc sống ở Hà Nội sau chiến tranh là như vậy! Thời thử nghiệm một thể chế mới! Thể chế bao cấp. Thể chế mà tuổi thơ trước khi cầm súng cần phải “hiểu vì sao ta bớt giấy in thơ. Để in phiếu đường, phiếu thịt” ?! mà Hữu Thỉnh hồi ức trong trường ca “Đường tới thành phố”. Mắm không đủ ăn thì ăn cái gì cho đủ chất dinh dưỡng nuôi con khi “Em” ”bụng chữa xanh xao chín tháng mười ngày”? Nhưng nghèo khổ chỉ là bước dự lệnh của người thổi còi cho vận động viên: “Vào chỗ, sẵn sàng…” còn động lệnh: ”Chạy!” mới là sự vươn lên từ cái đói nghèo. Má Mừng trong khúc II cũng thế, mượn tạm cái gì đó là “mở đài thật to” để “nhớ một tiếng người, một giọng nói” để mà bám víu, hồi sinh:

Má bới ngày

Hạt rơi héo đất.

Con người cần lao động để kiếm sống. Má Mừng chẳng thể nhờ đến ai hay không còn ai để nhờ? Tất cả vì sự tồn sinh. Muốn sinh tồn phải đấu tranh. Đấu tranh với đồng khô cỏ cháy. Đấu tranh với nửa phần sau của đời mình đứng lên khi nửa phần trước đã còng xuống cũng là một hình thức sinh tồn lương thiện.

Cô gái ngày xưa của thằng cu đã làm mẹ. “Khúc Huyền ca” lại có thêm một người mẹ trẻ vượt lên trên nỗi khổ “Màu da xanh rớt gầy nhoẵng tháng ngày. Như dấu hỏi khắc vào trời vào đất” để bước vào “động lệnh”… chạy vì con:

Đêm bừng sáng nụ cười con trẻ

Căn phòng giấu một ban mai hé sáng ngày ngày

Nhưng khác với người mẹ lao động trên đồng, người mẹ trẻ này đã vì con mà lao vào con đường không lối thoát của những âm thanh từ quán bar với “nhịp điệu Roch mạnh. Ánh đèn quay cuồng không phanh không số”:

Em ngồi đêm thao thức

Bóng tối dày mãi lên

Dây xích tím bầm hai tay em

Cột giấc mơ vượt thoát

Vô vọng với “Bàn tay không. Đêm ngã qụy”. “Nụ cười con thơ” đã vực em dậy “Em chống tay trên đất vụt đứng lên” để hóa thân vào kiếp sống khác “Em buông tóc gội đầu sạch sẽ“. “Thành phố lạ” sau thời chiến mở ra cho một lớp người phụ nữ với một cái nghề khác, không thiện chung! Còn đâu người phụ nữ trẻ trong “Thăm lúa” của Trần Hữu Thung:

Mùa sau kề mùa trước
Em vác cuốc thăm đồng
Lúa say hạt nặng bông
Thấy vui vẻ trong lòng

Nhịp sống thời đại thay đổi.Thời chống Pháp lùi xa. Thời chống Mỹ đi qua. Con người ta thay đổi nhân sinh quan kéo theo thế giới quan của thi nhân đổi thay. Hiện thực của những cô gái thị thành bắt đầu quay cuồng theo cơn lốc khỏa thân hóa đô thị, mại dâm hóa nông thôn. “Khúc Huyền ca” lao theo nó, kéo nó về. Vô vọng cách này thì bày cách khác.

Ta có thể so sánh một cái nghề bán bar với hai mục đích khác nhau: Bán trôn nuôi con, bán trôn nuôi miệng hay bán trôn cho thỏa cơn nghiện mà luận bàn giá trị đạo đức! Không nhìn thấu được mục đích của hành động, con người sẽ mất hết tính người! Giải quyết và gỡ nút cho hành động nhân vật là trách nhiệm của tác giả.

Với người mẹ, má Mừng hay người chị, Trần Anh Thái đã giải quyết cho họ trở lại kiếp sống con người đấu tranh sinh tồn tại trên mảnh ruộng, mảnh vườn, dòng sông quê hương. Đó là cách tốt nhất so với đấu tranh giành giật đòi công lao hạng mã của gia đình thương binh, liệt sĩ, hay gia đình có công cách mạng! Chính cách lựa chọn cao thượng này, tác phẩm với chức năng văn học sẽ có tác động giáo dục nhận thức cho thế hệ sau.

Theo Nguyễn Xuân Nam: “Văn học viết cho người đọc… Khi xem xét chức năng của văn học cần có cái nhìn tổng hợp và có quan điểm lịch sử cụ thể” (Chức năng văn học, trang 309, Từ điển văn học- bộ mới, nxbtg-2004).

Quan điểm lịch sử cũng chính là tính khuynh hướng của tác giả. Ta hãy xem đối tượng là người mẹ trẻ sẽ được Trần Anh Thái, nói đúng hơn, nhân vật tác phẩm – người lính sống sót sau chiến tranh giải quyết như thế nào trong bản trường ca XI khúc, tác giả dành nguyên khúc thứ IX gồm 7 khổ cho người “Em” lạc bến xa bờ này?

2. Khát vọng hình thành từ nỗi thống khổ:

Thằng cu sau chiến tranh, nó đã trưởng thành. Nó: Một người lính vừa thắng trận trong cuộc chiến phân tranh Bắc – Nam. Nó: Một người đàn ông (Anh) không có cách nào khác hơn là chỉ có bổn phận nâng đỡ người ngã quỵ (Em) vì “trật đường” :

Em cuối mặt bước đi

Dấu chân mòn cũ

Vô định con đường rêu.

Đôi khi trật đường sợi dây xiết chặc

Em vấp ngã lả người

Nước mắt ròng gương mặt xinh

… Em trốn chạy ngược chiều

Không có ai dìu em đêm khuya khoắt

… Lại một đêm nữa em không về

Nam tử hán, đại trượng phu ở đời với câu“kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” đã ăn trong máu nhưng người lính trẻ trong “Khúc Huyền ca” chẳng giống chàng lính quê Nguyễn Bính “Hành phương Nam” với “giầy cỏ gươm cùn” . Thằng cu – “Anh” lại cuống cuồng chạy tìm “Em” trong đêm vì lòng thương người, vì tấm“chân tình“, vì thời gian không làm mờ kỷ niệm:

Tôi chạy qua những hàng cây

…Tôi chạy qua cánh đồng tới những dòng sông

Cổ họng rát khô cơn khát

… Tôi chạy qua ban mai

Tia nắng nung xối xả mặt đường

…Tôi băng qua khu nhà

…Vô cảm tiếng cười vô cảm ánh nhìn nhau

Sức mạnh nào vực anh chạy theo người lầm lối ngoài “chùm sao hôm run rẫy nâng bước chân”? Đó chính là “bầu trời ký ức“. Nó có sức mạnh của tuổi thơ cùng kỷ niệm ngày nao khi kỷ niệm là tất cả khi lòng ta muốn ghi. Kỷ niệm không là gì khi lòng ta muốn xóa:

Hoa bưởi trắng dịu dàng

Tiếng ếch ran lạc nhịp

Anh chạy đi, gọi mãi khát họng:

Tôi tìm em

Quán bar nhà hàng ngột ngạt

Tìm không ra “Em”: “Không thể nào tìm thấy em” giữa “những bước chân dẫm vào nhau vội vã”. Có thể anh không thấy em. Có thể anh không thể nào “nhận” ra em khi em từ cô gái có “ánh mắt kín đáo mơ màng“, “có đôi môi hứng khởi thẹn thùng” đã làm “đêm đóng cửa vẽ gương mặt em trong trái tim tôi khi ấy” thành một trong những “pho tượng câm lộng lẫy màu sơn”? Thất vọng theo hai nguyên nhân chưa hóa giải thì nỗi lo lắng lại như tảng đá đập giữa ngực:

Ai dắt em qua đêm nay?

Câu hỏi từ đáy lòng bật ra: “Đi về đâu hỡi em khi trong lòng không chút nắng. Giấc mơ đời xa vắng. Bước chân không chờ ai đón”? trong “Đời gọi em biết bao lần” của Trịnh Công Sơn và nỗi lo của người trong cuộc “Đêm nay ai đưa em về” với Nguyễn Ánh 9. Họ không hẹn nhưng cùng nhau gặp trong trường tư tưởng cảm thông. Trần Mạnh Hảo đã “Hoán vị” rất sâu sắc:

Tim mình trong ngực người ta

Tim người ta đập rung da thịt mình.

Tức là sự đồng cảm. Bất cứ loại tình cảm nào, nếu thiếu sự đồng cảm thì tình chẳng có tri âm, nghĩa chẳng còn tri kỷ. Trong thời hiện đại, những cô gái lầm đường vẫn cứ sinh sôi nẩy nở trong cái nghề “bán trôn nuôi miệng, ăn diện hằng ngày” ngày càng thịnh hành ở Việt Nam – một đất nước đang vươn lên cố bắt kịp nhịp sống lành mạnh, cung cách văn minh, cử chỉ lịch lãm của thế giới. Kêu gọi người về từ “động Bàn Tơ” là một nghĩa cử biểu hiện sự đồng cảm. “Về thôi hỡi em” của Duy Mạnh là một điển hình:

Tôi vẫn thấy em đứng đó mặc cho sương gió đọa đày
…. Màn đêm đã buốt giá, em lạnh lẻo bước trên con phố khuya
Đi về đâu, nỗi cô đơn, hằn trên đôi mi thâm quần
…. Thời gian vẫn còn đó, em hay quay về đi
Rời xa những ngày tháng đam mê trong tội tình
Niềm vui nơi ngày mới với ước mơ tươi đẹp chờ em đó hãy quay về đi em hỡi!
Hỡi ơi! Khi nào còn những con bạc “triệu đô” của ông bà lớn, của các cô cậu ấm thì dù tổ tiên dòng họ bốn mươi mốt đời anh có réo kêu “về đi thôi hỡi em” như bầy quạ khàn giọng giữa trời bao la thì em làm sao mà từ bỏ con đường… tươi thịt thắm da đẻ ra đô la anh hỡi! Dù sao, “tiếng gọi ngàn” vẫn cần có cho nhau trong địa ngục trần gian này. Giá trị nhân bản chính là đấy!

Cô gái ví mình “thuyền em rách nát” trong “Tiếng hát sông Hương” của Tố Hữu năm 1938 ngày nao với:

Ngày mai em sẽ sạch trong tới ngoài

Thơm như bông nhụy hoa lài

Sạch như nước suối ban mai giữa rừng

… Ngày mai trong nắng trắng ngần

Cô thôi kiếp sống đày thân giang hồ.

đã lùi vào dĩ vãng! Vì có dùng vợt cá vớt em ra thì em cũng giãy đành đạch tự nguyện chui vào chốn giang hồ “địa ngục vô môn, gái nhảy… tầm” này! Trước đó, Vũ Hoàng Chương – con ma men trong “Say đi em” (trong 100 bài thơ hay nhất thể kỷ) cũng ngã ớn theo từng gót chân giang hồ:

Bước chân còn nhịp.

Nghê thường lẳng lơ.
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm, não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
…. Lui đôi vai, tiến đôi chân,
Riết đôi tay, ngả đôi thân,
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,
Chẳng còn chút ý thức về bản thân. Không ý thức được bản thân mình, con người khác nào con vật! Nhưng ước mơ dù có tan như bọt sóng, thất vọng cuộn héo tháng ngày cũng không làm ta ngã qụy. Đây mới là giá trị sức sống mãnh liệt của con người. Trong “Cha tôi“, Lê Đạt vực mình đứng dậy nếu “Những mơ ước thời xưa như con chim gẫy cánh. Rũ đầu chết ngạt trong bùn. Năm tháng mài mòn bao nhiêu khát vọng” thì nên nhớ:

Đau thương kiên quyết làm người.

Không nên lùi bước cuộc đời phải thắng.

Khúc Huyền ca” tràn ngập nắng, gió, hoa và ánh mặt trời hoán vị với đau thương, thay thế những cánh đồng cỏ cháy, đổi chỗ cho nghĩa trang lòng. Chiến tranh đi qua để lại vết thương. Cuộc đời tang thương khắc vào lòng vết sẹo. “Những vết sẹo biết tự mình phát sáng” kỳ diệu như trong “Người cùng thời” của Mai Văn Phấn. Thương tích của thằng cu ngày cũ hay của “Em” đã hòa lại thành “nước mắt tạc vào thế kỷ nghìn sau“. Thằng cu đã tự vực mình đứng lên trong ý chí “cuộc đời phải thắng” bằng khúc II.

3. Tự vá vết thương: Vết thương thật thời chiến và vết thương tu từ thời hậu chiến hình như trường ca nào thời chiến hay thời bình cũng đều bị chém lằn ngang, lằn dọc.

Vết thương trong trường ca “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh là vết thương thật của người thủ trường: “Hai vết thương vì rừng, ba vết thương vì pháo“. Còn trong “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, vết thương của Kiên đã trở thành vết thương chiến tranh đồng nghĩa với ”mảnh bom còn trong đầu” ông Tạng cụt tay như trong trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời” của Trần Anh Thái:

Ông Tạng còn mảnh bom trong đầu đang trưa

cày ruộng

Bỗng quay cuồng sấp ngửa tối đen

Đôi lúc ông ngồi thở dài đếm huân chương gói trong

ba lô còn hoen vết máu.

Với “Trầm tích“, Hoàng Trần Cương với những vết thương nhân hóa, ẩn dụ từ “gió chém, mưa đâm“:

Cạnh đá sắc còn hằn nguyên vết chém

Dấu tích tháng năm buồn

Nghèo khó cắn xé nhau

Con đi qua những địa tầng mưng máu

Gặp những hình nhân rỗng tim

Gặp những trung thần chết đứng

Gặp những vương triều xô nghiêng chính sử

Bây giờ hoai rữa hư không

Vết thương lịch sử rồi còn gì? Vết thương “mưng mủ” này từ đâu mà có? Từ chiến tranh, từ cuộc đời đầy dối lừa, từ số phận những trung thần nghĩa sĩ chết oan, từ những kiếp sống mong manh thì “Khúc Huyền ca”:

Làm sao có thể bay lên

Hái nụ hoa e ngại

Những tảng đá già nua cũ kỹ chắn đường

Bàn chân rướm máu

Con đường

Tôi lặng lẽ lau khô thương tích

Thương tích từ “những tảng đá già nua cũ kỹ”. Cụm danh tính từ hàm ẩn sâu sa một sự phê phán. Những tư tưởng lạc lậu? Những khối óc hủ hậu? Cây đa giếng nước đầu đình. Lệ làng cũ kỹ mới sinh sự bần. “Tảng đá chắn đường” trong “Khúc Huyền ca” lại không hẹn mà gặp với “tảng đá tóc kê” của Thi Hoàng trong “Trình bày” (Bóng ai gió tạc) bức xúc khi phải làm con vẹt trong lồng:

Bớt hôi hám đi những khoảng nín câm

Ta đã chào người lạ

Dưới chân tóc kê rất nhiều tảng đá

Miệng ao đầm gọi dạ bảo vâng.

Mượn hình ảnh ẩn dụ trong những trường hợp này dễ dính cái mũ sắt để “an toàn giao thông” trên đường văn học như Trần Dần có một “tảng đá” trong “Nhất định thắng” nhưng dành cho quân thù chứ nào dành cho… phe ta:

Anh gạch xóa trang thơ hằn nét mực
Bỗng mắt anh nhìn thấy! Lạ lùng thay!
Tảng đá chặn đường này!
Muôn triệu con người
Muôn triệu bàn tay
Bật cả máu ẩy đá lăn xuống vực!
mà vẫn bị đồng chí mình chụp mũ… bỏ tù. Tố Hữu trong “Tiếng chổi tre” từng mượn cây chổi của chị quét rác để quét “những lá vàng rơi nghẽn lối tương lai”! Rồi cái chổi của ông mượn lại “quét” ông bay ra khỏi thế giới “trộn lẫn những trò chơi ích kỷ đóng băng” để làm bạn với… chiếc lá nghẽn đường! Một bài học nhớ đời. Sinh nghề tử nghiệp! Không có những bài học trường đời, con người không thể khôn ra!

Khôn lanh, sắc sảo thêm chút… quỷ quyệt như Trần Mạnh Hảo mượn cái ngông của Hồ Xuân Hương, mượn cung hình của Tư Mã Thiên, mượn ngòi bút Đỗ Phủ và chén rượu Lý Bạch… để nói lên khí phách của mình nhưng khi “Ly thân” với cái “ta” để hóa thân “tôi” vào “Nguyễn Trãi trước giờ chu di” thì mắc… vạ mình vì hình ảnh ẩn dụ “con đường” và “bàn tay” độc đáo:

Con đường nào cũng dẫn đến pháp trường

Bàn tay chỉ đường nào cũng bàn tay đao phủ?

… Sao phép nước dùng dao chém đại thần
Để chém trẻ sơ sinh ?
Mai sau lấy gì chém sông núi ?

Đúng hơn “mai này lấy gì chém nịnh thần rửa oan cho sông núi?”. Câu thơ sâu sắc như thế, trào lộng đến thế nhưng hễ “trung ngôn nghịch nhĩ” ắt lọt lưới cá lòng tong trong “100 bài thơ hay nhất thế kỷ“??! Buồn thay! Con người Việt Nam đói nghèo vì chiến tranh, vì những “tảng đá” rêu phong cũ kỹ nhưng sao lại có thể nghèo nàn văn hóa đến nổi chỉ có 100 bài thơ hay mà lại chẳng hay, đọc xong mới thấy đi cày thú hơn! Hú ba bàn chín trụi cho dòng họ Trần: Trần Dần, Trần Mạnh Hảo, Trần Chấn Uy, Trần Anh Thái… vì nếu lọt vào thì vạ miệng không lo mà lo bom chữ nghĩa văng đầy mình mang thêm họ Trần Văn Trụi!

Con người không ai chẳng có một lần lầm lỗi. Lầm lỗi không phải tội tử hình. Trần Anh Thái mong vượt qua “tảng đá già nua cũ kỹ” để được đích thân hái một nụ hoa tặng em mà khó quá! Trong “Ngẫu cảm“, Thi Hoàng thử nhắc khẽ:

Bông hoa đẹp mê hồn

Nở kề bên ngọn thác

Với ra hái tuột chân, người phải lòng hoa đã chết

Có pháp trường nào xử bắn một bông hoa?

Trần Anh Thái chẳng cần vặn vẹo như Trần Mạnh Hảo, cũng không lý lẽ như Thi Hoàng, mà chỉ nhẹ nhàng với hình ảnh “tảng đá già nua cũ kỹ“. Già nua thì nhẳn bóng, rêu mọc tùm lum, êm cho cái… bàn tọa cuộc đời của những ai thích ngồi lâu! Ca ngợi công lao của tảng đá này đấy thôi! Nhưng đá ơi! Nhường qua chút cho ta hái một “nụ hoa e ngại” tặng cho em. Dĩ nhiên, lễ phép như thế, nhã nhặn như vậy, thằng đá này mà không dịch qua chỗ khác, tao làm… con mày!

Những viên đá chắn đường lịch sử? Những dây gông xiềng trói lấy ước mơ? Vậy thì cùng nhau “vượt thoát” khi đôi chân da thịt con người đá vào cho “bàn chân rướm máu“! Ngu! Biết đá cứng đá vào ăn đá mà vẫn đá, biết đá là tươm máu mà vẫn… chơi, mà không đá thì chẳng có cá để ăn cơm! Thành ra, phi thường ở chỗ dám nghĩ và dám làm, dám đo và dám đá! Tầm thường ở chỗ chỉ “giám – dám đốc” nói dóc mà chẳng dàm làm! Lãnh vết thương là cái chắc!

Vết thương từ khúc II sang khúc III thật sự đã bật máu:

Thương tích hằn thế kỷ

… Vết thương bết máu

Mảnh đất xác xơ chiếc áo vá nhì nhằng

Cơn gió tựa vào vòm cây bật khóc

Người bị tước đi dòng máu tinh khôi

Giam hãm vào trò chơi viên mãn dối lừa

Vết thương từ sự lừa dối? Người cùng gió cũng kết quả như nhau, tựa vào nhau hay tựa vào vòm cây cũng chỉ làm được một điều: “Bật khóc”! Một thời Tố Hữu kêu gọi “Liên hiệp lại” đã phê phán những tính từ chỉ thuộc tính con người:

Khóc là nhục, rên hèn, van yếu đuối

Và dại khờ là những lũ người câm.

Trên đường đi như những bóng âm thầm

Nhận cay đắng mà gởi vào im lặng.

Nhưng Xuân Diệu đã “dại khờ” thận trọng, kinh nghiệm trên con đường “êm ái quá ai đi mà nhớ ngó. Đến khi hay gai nhọn đã vào xương”.

Đường êm ái là cái bẫy tương lai. Kết quả: “không lui được nữa” là hậu quả của những kẻ có tính tự mãn. Là thất vọng đó thôi! Là chịu mất mát khi bị dối lừa đó thôi! Ai đã dối lừa ai? Thơ không là bài toán nên làm sao có đáp số cho người? Như thế là thơ vẫn muôn đời đánh đố người! “Khúc Huyền ca” lẫn vào vòng bí ẩn trốn mùa gió bấc đang thổi lạnh vào bầu trời “Hà Nội – Một thời xa” của Lê Văn Ba! Đời cần có nước mắt. Mừng vui, hối hận, hoan hỉ, tang thương không thể thiếu vắng. “Khóc cho vơi đi những nhục hình. Nói cho vơi đi những tội tình”! Dòng nhạc Ngô Thụy Miên sẽ cùng cơn gió của thằng cu xúm vào mà… khóc cho… vui!. Thơ và nhạc luôn cùng tuyến giữa mộng và thực xoa dịu vết thương không tự tạo cho đến muôn đời!

Thương tích người bị dồi lừa sang khúc IV thành vết thương lịch sử vĩnh viễn:

Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc

Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau

Thương tích này sang khúc IX lộ rõ ra là vết thương của “Em”. Té ra, ta hay em cũng đều “ăn mẻ” hết:

Vết sẹo cũ tái đau rỉ máu mặt hiền

… Em xịn thuốc vá vết thương ngày xưa

Có thể vết thương nghèo khổ vì chiến tranh? Có thể là vết thương vì cuộc đời bất hạnh? Chòng chành quá, “Em”! Khó hiểu quá!

Giống như “Vết thù trên lưng ngựa hoang” trong “Chiến tích” của Duyên Anh làm cho kẻ chiến thắng ê chề:

Ngựa về vết chém ngang lưng

Ủ ê chiến tích, rưng rưng chiến bào.

Vết chém ngang lưng hay vết chém từ “một nhát dao phạt ngang hai nửa cuộc đời” của Lực trong “Cỏ lau” của Nguyễn Minh Châu đều mang một sắc thái tu từ ẩn dụ như nhau. Còn trong “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, vết thương của Kiên đã trở thành vết thương chiến tranh đúng nghĩa.

Thất vọng xã hội và chán chê danh trường! Những kẻ bất đắc chí, chẳng gặp thời đều có cách nhìn ủ ê như thế cả! Không làm gì hơn! Tư tưởng trèo cây thông giữa trời rét của Nguyễn Công Trứ hay ngạo nghễ như Tú Xương cũng chính là “bất phùng thời” này!

Vết thương của thằng cu hay đúng hơn của Trần Anh Thái từng theo dấu chân người :

Dấu tuyết khô còn lạnh

Trận chiến xưa thương tích chưa lành.

(Trên đường)

Người thương tích. Cánh chim qua nhân hóa cũng như người:

Tôi bay qua giấc mơ

Cánh chim ướt qua mưa mù thương tích.

(Trên đường)

hay con chim bay qua cánh đồng cũng ăn đạn: “Con chim bay thương tích giữa cánh đồng”, và đến cây cối cũng cùng số phận :

Cây dừa dập bầm

Vết đau ngày tháng

Thi Hoàng với “Mở cửa” khi “Những lời đã trượt ngã tìm cách đứng dậy trong miệng mình” cũng bị vết thương muối xát:

Muối nơi vết thương thổi kèn mặn xót

Ánh sáng nhuận tươi tứa ướt miệng mình.

Ngô Thế Oanh trong “Học theo các nhà thơ cổ” không tự vá nữa, lôi mẹ vết thương ra, cầm chơi:

Vết thương nào tự âm thầm

Đã không giấu nữa xin cầm trên tay

như Xuân Diệu một thời ngông, “đánh em đau”, không ngắm ngửi mùi hương mà nhào tới… bẻ đầu hoa xuống… ngửi chơi!.

“Khúc Huyền ca” với những vết thương đời tự vá, tự lành cũng giống như vết thương “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm với các vết thương lòng “Nhân văn – Giai phẩm” cũng tự lành khi tự vá! Ôi chao! Thơ ca là những bản nhạc sầu nếu không có nó thì hồn người nào biết gởi về đâu! Thì ra, sự dối lừa của chiến tranh là nguyên nhân thứ nhất. Chiến tranh là cách để người ta giải quyết vấn đề sinh tồn, để trời kịp trút cơn mưa sau những tháng ngày nắng hạn. Vậy mà, sau chiến tranh, những người lính của Trần Đăng Khoa vẫn mãi “đợi mưa trên đảo sinh tồn”! Những con người vẫn còng lưng úp mặt dưới ruộng. Những giấc mơ không có chỗ để bay cao! Chiến tranh lừa dối người. Hòa bình không thành thật. Cuộc sống chẳng nhân tâm.

Những nụ cười phấn khởi trên môi của người lính trên “đường tới thành phố” biến mất. Tiếng “con tu hú gọi mùa” của Tố Hữu đi tong. Nó nhường chỗ cho tiếng cuốc kêu thời bình như chúng đã từng kêu trong chiến tranh. “Tiếng cuốc kêu đói lả cánh đồng” của Trần Anh Thái trong “Khúc Huyền ca” là khóc đói, còn tiếng cuốc kêu của Hữu Thỉnh trong “Nghe tiếng cuốc kêu” là khóc bị dối lừa:

Anh cứ tưởng sau chiến tranh thì toàn là hạnh phúc
Chúng ta đã từng vỏ võ đợi nhau
Nhưng không phải em ơi, cuốc kêu không phải thế
… Tôi cứ tưởng không còn ai xấu nữa.
… Chúng ta bị cái chết gạt về một phía
Bị hư danh gạt về một phía
Phải vượt mấy trùng khơi mới bắt gặp nụ cười.

Vừa bắt gặp nụ cười
Thì lại nghe tiếng cuốc.

Thanh Thảo lật ngược sự lừa dối trong “Thử nói về hạnh phúc”:

Chúng tôi không muốn chết vì hư danh

không thể chết vì tiền bạc

Chúng tôi xa lạ với những tin tưởng điên cuồng

những liều thân vô ích.

Thi Hoàng cũng chẳng thua chi khi dặn mình cân nhắc “nửa câu trước cuối xuống, nửa câu sau ngẩng lên” nhưng nào có mắng chửi ai đâu, chỉ là con cái hờn mát sắc nét: “Văn hóa là con dâu. Chính trị là con rễ“. Trong dân gian, người ta… thật như đùa: “Dâu hiền là dâu heo nái. Rễ thảo là rễ ó ma lai”! Làm biếng và rút ruột. Thế là đi tuốt luốt những chén cơm trắng những con cá tươi. Ước mơ nằm trên “cái thớt” của Trần Mạnh Hảo! Kẻ cầm con dao nạp hắn chạy từ Bắc vào Nam, suýt bỏ mạng nếu không có cái thớt thay thế cái khiên của người lính thời cổ đại chống đỡ! Thi Hoàng tiếp tục phê phán trong “Lại theo đuổi tự nhiên – Mở cửa” (Cộng sinh với những khoảng trống):

Chính quyền tà quyền chính quyền tà quyền

như con lắc độc tài rồi dân chủ

Kẻ chỉ lo kể công, sắm giầy dép cho mình

Người thật lòng mở cửa tính đường đi.

Vậy mà, “chính quyền tà quyền” nào đó coi tiếng đàn Bá Nha này như “đàn gảy tai trâu“. Thành ra, Thi Hoàng nhận giải thưởng ào ào, không có vết thương nào từ thằng tà quyền chém để lấy muối ớt xát chơi! Thế mới ngộ! Ấy mới nói giày dép, áo quần còn có số huống hồ con người không có số sao đẻ bố những thằng tham? Sao có kẻ ngồi chính giữa lộng vàng cho kẻ bần hàn lạy trước, lạy sau? Sao “có kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra” mà ca dao cay đắng thế!

Khúc cuối cùng của bản trường ca, Trần Anh Thái một lần nữa cô động ý tưởng dùm cho Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Hữu Thỉnh, Thi Hoàng:

Không có vùng ánh sáng nào đặc quyền

Chúng ta bị dối lừa trong lời tụng ca rối rắm, giấc mơ vấy đục

Gã hề lăng xăng sàn diễn u mê.

Nhà triết học, chính trị nổi tiếng thời Minh – Trung Quốc, Vương Dương Minh (Wang Shouven) từng dạy học trò trong “Vương Văn Thành công toàn thư”:

Làm thầy thuốc lầm thì giết một người.

Làm thầy địa lý lầm thì giết một họ.

Làm chính trị lầm thì giết một nước.

Làm văn hóa lầm thì giết một đời.

Nguyễn Anh Nông khóc trên vết thương xương máu của bố:

Đồng đội bố, nào ai người đưa tiễn?
Nào ai người nằm lại chiến trường xưa?
Ai đào ngũ giờ yên lành mây trắng?
Ai an nhiên?
Ai thanh bạch?
Ai dối lừa?
Ai? Ai? Ai
? Điệp ngữ hỏi này cong lại thì “Khúc Huyền ca” trả lời bằng một kết cấu nghệ thuật với ba dấu chấm than duỗi thẳng: Ngày! Ngày! Ngày! Bản hợp xướng “trật rơ” lại ăn ý ví nhau rồi còn gì! Tư tưởng lớn thường gặp nhau là vậy! Vết thương hai nghĩa từ đấy mà ra! Hiển nhiên, chẳng riêng một Trần Anh Thái can đảm “dùng cán bút làm đòn xoay chế độ” mà Chế Lan Viên một thời hực lửa cách mạng kêu gọi văn sĩ, nhưng ngóc đầu dậy hết cả câu thơ thì “Khúc Huyền ca” đi tiên phong. Còn dùng dao khắc trên đá như “Lời mẹ dạy” thì nhường cho của Phùng Quán!

Chiến trường không lãnh vết sẹo thì hòa bình lĩnh vết thương lòng. “Hòa bình giấu mặt” là vết thương lòng của người chị có chồng chết vì chiến tranh trong “Khúc Huyền ca“. Thằng cu đi lính về cũng mang vết thương lòng thời cuộc. Hạnh phúc đi hoang. Thế giới thần tiên tiêu tán đường! Vậy thì, “Khúc Huyền ca” cần có một kết cục vượt thoát cho từng nhân vật cũng như từng số phận của nhân vật trữ tình của mình.

Nhân vật trữ tình là “Thuật ngữ chỉ hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, một trong những phương thức bộc lộ tư tưởng của tác giả. Nhân vật trữ tình là kẻ song sinh ‘đồng dạng’ với nhà thơ – tác giả; được hình thành từ văn bản của kết cấu trữ tình (một chùm thơ, một tập thơ, một trường ca trữ tình), như một dáng người có đường nét rõ rệt, hoặc một vai sống động; như gương mặt có tính xác định số phận cá nhân, có đường nét tâm lý của thế giới nội tâm, và đôi khi có cả đường nét tạo hình. (Nhân vật trữ tình, Lại Nguyên Ân, trang 1254, sđd).

Song sinh với Trần Anh Thái là… thằng cu, là người lính sống sót, là nhân vật “tôi” hình thành từ khúc I. Tự mình vượt thoát, tự mình vá vết thương, tự mình đứng lên làm lại cuộc đời cho mình, cho người, cho đời là một cách giải quyết tốt nhất khi không có con đường lựa chọn nào khác hơn. Đấy là nét tiến bộ trong tư tưởng nhân văn trong một bản trường ca ca ngợi sự sống: “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng”!

Từ thuở còn thơ, thằng cu đã có những ước mơ đẹp đẽ đầy huyền thoại về những con thuyền, những con tàu và ước mơ ấy bao giờ cũng đi với… mầm sống của nó: Đó là cô bé ngày xưa “Em”.

3. Giấc mơ con tàu vũ trụ, thuyền cổ tích:

Khi con người cùng đường bí nẽo, họ vẫn mượn cổ tích có bà tiên với chiếc đũa thần úm ba la thay công lý, trừ bạo cường để giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Khi với mà chẳng được cái gì tới tay thì người ta lại quay về với ước mơ, có thể với “Harry Potter” – cậu bé phù thủy của nữ văn sĩ JK. Kowling làm những chuyện chỉ có trong… sách! Thằng cu trong “Khúc Huyền ca” thả hồn về thế giới tuổi thơ cất ước mơ trong con tàu bằng… giấy từ khúc I:

Tôi hào phóng tung những con tàu cất giấu trong mơ

Bay mãi mãi về phía mặt trời bí ẩn.

Ước mơ trẻ thơ dẫn tới trò chơi học trò trong khúc II:

Tôi lục lọi cặp sách của mình tìm tờ giấy trắng

Con tàu trinh nguyên phóng lên khoáng đãng cánh đồng

“Con tàu” chỉ là giấc mơ hay đúng hơn là trò chơi nghịch ngợm phá giấy vở của tuổi học trò. Con tàu mang ước mơ về chân trời nào đấy chỉ có trong mơ. Con thuyền chở ước vọng cho người về hiện thực. Nếu con tàu là mộng thì con thuyền là hiện thực. Giữa hai cái thực và mộng, tha hồ cho người giày cỏ gươm cùn, xanh áo lính tha hồ mơ mộng, tha hồ phóng đãng và tha hồ lĩnh… sẹo!

Hoàng Nhuận Cầm ray rứt, hối hận với “con tàu” của mình trong “Viên xúc xắc mùa thu“:

Toa thứ ba ôm cặp ai nức nở

Suốt đời anh mang tội với con tàu.

Đây, con thuyền mơ của thằng nhỏ phá giấy vở năm nào khi phóng con tàu mộng bay lên mây xanh:

Tôi bí mật vào nơi cất giấu con thuyền thả về cổ tích,

khát vọng bập bềnh thế giới vô biên.

Sang khúc II thì con thuyền kia đuối hơi:

Con thuyền nhỏ trôi mờ

Giấu lời ca vào sóng

….Tôi mệt mỏi bỏ rơi con thuyền trên cỏ

Đến khúc III thì con thuyền không còn người lái như số phận bị thả trôi:

Ngoài kia trôi dạt con thuyền

Con thuyền mộng của nó trở thành con thuyện hiện thực của người lao động. Ý thức về số phận con người lớn dần theo tháng năm:

Mưa đã đến

Người kéo chài giương buồm chèo thuyền về bến

Con thuyền nhập vào thuyền ẩn dụ của thằng cu – người lính trận – và bạn nó trong khúc V:

Tôi và bạn con thuyền trôi dạt

Bạn với tới cõi người

Tôi nổi chìm dâu bể

Con thuyền – ẩn dụ về số phận con người trong và sau chiến tranh:

Biển đã cạn

Con thuyền khô treo lưới

Con thuyền của Nguyễn Ngọc Phú trong “Đám mây màu vảy cá” cũng… về hưu non:

Chiếc thuyền nan úp mặt vào ngơ ngác
như vỏ cau khô nhớ tiếc một thời trầu.
Không còn đất dụng võ, người mãi võ quăng kiếm. Chẳng còn thỏ để săn, con chó buồn chủ bỏ. Hết chim cho ná bắn, chiếc cung nhện giăng sầu. “Điểu tận, cung tàn“! Chất cay đắng rất hay, nét ẩn dụ rất mới, Hữu Thỉnh trong “Nghe tiếng cuốc kêu” than: “Qua mùa hoa thì bướm cũng bay đi” nhưng trong đời Hữu Thỉnh, hình như mùa hoa ngày nào trong “âm vang chiến hào” vẫn nở tươi tốt hơn bao giờ hết! Nhưng người bình văn là người tiếp sức cho tác giả ở chặng đường cuối cùng. Người viết là người hòa âm ca khúc trước khi cho ca sĩ hát. Vậy thì hãy chạy cho nhanh, hãy hòa cho nhuyễn để sản phẩm văn học đến với người đọc có chiều hướng tốt đẹp nhất, trong sáng nhất.

Cách hiểu thứ hai mở khóa: Nghèo khổ vẫn đeo theo từng số phận con người dù trước hay sau chiến tranh vẫn thế, không gì sáng sủa hơn. Đời điêu tàn nên uớc mơ vượt thoát. Quân tử hoài bão chí lớn mơ kiếm cung, phàm nhân mong sao cái bụng no ấm, mong lúa gạo.

Con thuyền trong văn học đã thành hoán dụ cho số phận con người. Thuyền cũng như em, như ta, như chúng ta, như tổ tiên ta trôi qua biển bờ nghiệt ngã:

Giông bão đổ

Con thuyền phơi bốn mặt

(Trở về)

Sau tiếng đập rộn ràng ánh ngày soi tỏ

Con thuyền trôi xa lạ bến bờ

(Tokyo)

Thằng cu – Anh – Người lính – nhân vật Tôi, vượt thoát, khoắc khoải bên bến tàu trong khúc cuối cùng:

Tôi ra bến tàu

Địa Trung Hải một màu đen huyền thoại

Vách núi in chin chít bàn chân

Tôi mơ con thuyền

… Những con thuyền ra đi

Những con thuyền không bao giờ trở lại

Con thuyền trong “Nhớ nhà thơ Xuân Diệu” của Trần Chấn Uy khác giá trị ẩn dụ, càng lận đận hơn:

Anh – con thuyền tình vượt cạn

Đi hết cuộc đời mình mà không có bến để buông neo

Ước mơ vượt thoát, tự do, hòa bình, cơm no, áo ấm là ước mơ chung của nhân loại. Một tình yêu nung thế kỷ giá băng hình thành. Thằng “Tôi” đánh thức giấc ngủ “Em” đã quên trong khúc X:

Thức dậy em ơi

Hãy bước lên thuyền giong buồm ra biển cả

Sức sống mãnh liệt vượt lên trên nỗi bất hạnh của cuộc đời. Hạnh phúc không nằm chờ người đến dắt tay đi. Hạnh phúc nằm trong xích xiềng. Tháo bỏ nó, hạnh phúc là niềm kiêu hãnh vượt thoát. Bản trường ca giấc mơ an lành ba chấm lửng ngân dài…

Ta sẽ đợi cho dù đêm nay đêm mai và ngàn ngàn đêm tới, sẽ cùng em xuống con thuyền khát gió trùng khơi.

Cuối cùng cho một tình yêu. Tình yêu là sức sống mãnh liệt mang ta qua những cay đắng cuộc đời. Triết lý tình yêu từ lâu đã có: Không tiền người chẳng thành tiên, không tình, người mới điên điên khùng khùng. Ngẫm nghĩ… hay! Không thành tiên thì thành người cũng sống như… con người. Không thành người mà thành điên điên thì dở sống, dở chết! Những nhà thơ Trường loạn – Trường loạn điên của “Bàn thành tứ hữu”: Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên, đúng hơn là “Trường loạn ngũ tướng” khi có thêm Bích Khê, họ đã từng sống như thế. Thiên, Địa, Vân, Vũ, Thảo, Phong, Tuyết, Nguyệt hay Hỉ, Nộ, Ái, Ố và Tham, Sân, Si muôn đời là chất liệu của thi ca dù theo nhóm nào, trường phái nào cũng thế!

4. Hoa Xuyến Chi và “Em” với khát vọng cháy tim:

Nếu trong “Khúc Huyền ca” có biển Đồng Châu đầy sấm chớp báo hiệu ngày chẳng lành, còn con sông Vệ trở thành khu nghĩa trang u buồn thì hoa Xuyến Chi xuất hiện ươm lại cho người niềm tin mong manh. Người gái mang giấc mơ mong manh của anh đi tìm cuộc sống thứ hai sau chiến tranh chính là cô bé cùng thằng cu ngày xưa mò vào vườn hái trộm dưa. Kỷ niệm đẹp đẽ, ngây thơ như một khúc phim tìm về giấc ngủ bình yên trong khúc II:

Hoa Xuyến Chi chập chờn

Gối đầu lên giấc ngủ

Cơn khát bay về những chân trời

Lãng mạn và hồn nhiên quá! Lòng ta cũng nghe… xuyến xao một tình yêu thơ ấu hôm nào…

Bình yên như “giấc ngủ nàng tiên dũng sĩ” của Dương Hương Ly giữa “vườn thưa xanh nắng thưa, gió hiu hiu hát mát thân dừa” một thời chiến tranh, giấc ngủ hiền hòa trong “vườn hoang Trinh nữ khép đôi cánh sầu” mà Huy Cận đã ru trong “Ngậm ngùi“. Ở đây, hoa Xuyến Chi báo hiệu một sự đổi đời với “cánh đồng hoa mào gà đỏ rực“, hòa bình trong khúc III đã như hiện hữu mà hiện hữu trong… mơ:

Hoa Xuyến Chi trắng muốt cánh đồng, dòng sông bình yên ru qua ngôi làng nhẹ khói sương. Hương sớm thơm tóc em lấm láp mùa màng.

Đâu đây loáng thoáng hương của nàng thơ vương rơm trong “Làm bếp” của Xuân Diệu và nghe thoang thoảng mùi “Hương cau-Bếp lửa” của Bằng Việt trong những “ngày lặng gió

Hạnh phúc đang từ từ thẩm thấu nguyên cả trong khúc I. Khúc tình ca tuổi thơ:

Tôi băng qua cánh đồng

vượt biển Đồng Châu tới cồn cát nhỏ

Em đứng đợi từ chiều

Chiếc hộp giấy đựng bầu trời

Vỏ sò và ốc biển

Cánh diều và con tàu khát gió

… Đôi môi hứng khởi thẹn thùng

Sẽ cùng tôi yên tĩnh dưới mặt trời dịu nắng.

Một thế giới thần tiên thơ ngây lấp lánh dưới mặt trời mở cửa. Tuổi thơ lãng đãng trong địa đàng vỏ ốc sò! Trời! Giá mà thời gian quay ngược! Chỉ tiếc rằng bầu trời yên tĩnh đã trôi xa…

“Em” xuất hiện trong khúc II là bản tình thơ thì trong khúc III là bài ca dang dở:

Lời từ biệt cuối cùng

Trăng đã lặn

Em xỏa tóc mơ hồ

Hương bay xao động

Mùa thu ngời mắt em

Chiếc khăn tay vẫy lên thay lời chia tay nghẹn ngào. Lời chia tay của cô gái “giấu một cành hoa trong chiếc khăn tay” trong “Hương thầm” của Phan Thị Thanh Nhàn. Lời giã biệt của Thâm Tâm trong “Tống biệt hành” khi em gái “gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay“? Chiếc khăn tay và ẩn ý sâu sắc của tình cảm thường biểu hiện như thế cả trong những cuộc chia tay “màu xanh” hay “cuộc chia ly màu đỏ” cũng vậy. Trong “Khúc Huyền ca”, Trần Anh Thái có ý tượng trưng khác: Hòa bình trên chiếc khăn tay:

Chiếc khăn tay này

Đàn chim đang bay

Em hãy thả chúng lên

Và đừng e ngại

Nhưng hoa Xuyến Chi không xuất hiện trắng muốt cho người giấc mơ an bình nữa mà là biển Đồng Châu thay tiếng chim báo bão:

Về đi em

Mưa sắp đổ phía Đông Hoàng

Biển Đồng Châu sấm chớp

Ngày không may sẽ đến. Đêm chẳng lành sẽ lại. Chiến tranh!

Một khát vọng trào dâng khi có “Em”. Tình yêu chắp cánh cho ta qua từng ngày. Thắm thía một tình yêu hy sinh vì chiến tranh, trường ca “Mặt trời tronh lòng đất” của Trần Mạnh Hảo đắn đo và thật nhiều suy nghĩ:

Ngôi sao kia còn tìm đôi để mọc

Một vầng trăng góa bụa ở ven trời.

Vậy mà chúng cũng mang đến cho người một sức sống mãnh liệt cùng ta qua từng ngày như sắc cỏ mùa thu. Thanh Thảo trong “Những dấu chân qua trảng cỏ” thể hiện một sức sống vô hình:

Chiếc bòng con đựng những gì
Mà đi cuối đất mà đi cùng trời
Mang bao khát vọng con người
Dấu chân nho nhỏ không lời không tên.

“Dấu chân nho nhỏ” ấy đi từng bước vào lịch sử huyền thoại có em, có anh “Anh dìu em trên con đường mưa đổ. Em hãy vịn vai anh mà bước”. Lời thì thầm cũng “nho nhỏ” chỉ cho riêng anh:

Cái khoảng trống này

Cỏ sẽ lên xanh

Và bụi mỗi ngày che phủ!…

Bụi thời gian đó thôi! Hy sinh đó thôi! Nhưng có những hy sinh âm thầm mới có đất nước ngàn năm và những người đã hóa thân vào cỏ có sức sống mãnh liệt của cỏ như trong trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời

Gió vẫn hát bài ca thuở trước

Cỏ dịu dàng sâu thẳm nhẹ êm .

II. Sức sống mãnh liệt:

1.Từ “Em”: Trong trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời“, Trần Anh Thái đã dựng lên một cảnh làng đầy hoa cỏ dịu dàng và sáo diều vi vu trong gió:

Gió vẫn hát bài ca thuở trước

Cỏ dịu dàng sâu thẳm nhẹ êm

Người che nỗi suy tư vào đêm đêm huyền thoại.

Làng là nơi bình yên cho ánh sáng tìm về

cho mặt trời nương tựa

Nơi các con tôi bây giờ thả tiếng sáo trong vút tự do

Nơi bao trái tim an toàn cất giữ mọi điều bí mật

Và những loài hoa nở lặng lẽ về đêm.

Sức sống mãnh liệt đó đã sinh sôi trong “Ngày đang mở sáng” khi bình minh hé mở:

Khúc I với “Nắng thu trong suốt giòn tan” vì “nụ cười con trẻ” đến khúc IV: “mùa thu ngời mắt em” gặp mùa thu khúc cuối cùng. Kết cục có hậu như những chuyện cổ tích:

Và em ơi mùa thu đẹp quá, mắt em trong sáng vòm trời. Ta thổn thức chờ em nơi cửa biển.

Biển Đồng Châu báo động một tai ương nhưng tình yêu chẳng thể nào báo trước như Hoàng Nhuận Cầm tự nhủ trong “Viên xúc xích mùa thu“:

Tình yêu đến trong đời không báo động

Trái tim anh chưa lỗi hẹn bao giờ

Viên xúc xắc mùa thu ru trong cỏ

Mắt anh nhìn sáu mặt bão mưa giăng

Anh đi qua những thành phố bọc vàng

Những thị trấn mẹ ôm con trên cỏ

Qua ánh nắng bẩy màu, qua ngọn đèn hạt đỗ

Qua bao cuộc đời tan vỡ lại hồi sinh.

“Khúc Huyền ca” đang hồi sinh từ trong tan vỡ. Trong khúc I, thằng cu đã biết đem ước mơ cất vào chiếc hộp tình yêu thơ bé:

Em đứng đợi từ chiều

Chiếc hộp giấy đựng bầu trời

Vỏ sò và ốc biển.

Giấc mơ ngày xa xưa, em đã đến, sao bây giờ, em bỏ đi đâu? Người bạn cũ bùi ngùi trong hai câu thì thầm rất trí tuệ, rất buốt:

Nếu em không cùng đi hạnh phúc không đường đến

Cái ác sinh trong sợ hãi yếu hèn.

Khi được eVăn (evan.com.vn) hỏi: “Người ta thường nói: kẻ mạnh mới là người dám làm điều ác. Vậy anh nghĩ gì khi viết: ‘Sự sợ hãi, yếu đuối là nơi cái ác tìm về’?, Trần Anh Thái trả lời: “Đúng là kẻ mạnh thường mới có đủ khả năng làm điều ác. Nhất là khi cái mạnh đồng lõa với cái ác…Con người sợ hãi và yếu ớt, nghĩa là con người ta đã mất đi chỗ dựa ở cái thiện, lúc đó con người rất dễ đánh mất mình để làm điều ác. Chính vì thế chúng ta luôn phải đấu tranh chiến thắng sự sợ hãi và yếu đuối của chính mình để sống một cách tự tin hơn”.

Có phải thế mà nhân vật chính trong “Khúc Huyền ca” đã tìm cho mình một điểm tựa:

Tôi tựa vào nỗi buồn em khoắc khoải

Thấy ánh sáng rực lên ở phía cuối rừng.

Cái thằng cu “Tôi” ngày xưa cùng “Em” hái trộm dưa hồng nay đã biến thành thằng người “Ta”. Nó kiêu hãnh vượt qua đêm gầy chiến tranh, sống sót sau trận chiến, canh cánh một vết thương lòng, dang tay chờ đợi hạnh phúc dù hạnh phúc vẫn còn ở mãi phía mặt trời. Phải chăng anh ta muốn làm một Đam San thần thoại khi đi bắt nữ thần mặt trời? Điểm tựa cho anh là “Em” – cô gái bé nhỏ ngày xưa trong khúc II:

Trong ánh mắt kín đáo mơ màng

Trong gương mặt buồn xa xăm

Đôi môi hứng khởi thẹn thùng

Sẽ cùng tôi hứng khởi dưới mặt trời dịu nắng

Đôi môi hứng khởi kia đã thành “môi lửa” dữ dội trong trường ca “Trầm tích” của Hoàng Trần Cương trong những ngày “Thời chiến lên rừng. Thời bình xuống biển”:

Em ngang qua chiều

Nắng thơm mùi rượu

Mắt sông

Môi lửa

Gió lên đồng

Nó tăng lực vạn vật hấp dẫn tình yêu cho “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” bừng sáng trong khúc III:

Cô đơn nở sinh nơi khát vọng

Trong vô biên sáng mới, tôi hát ngợi ca sáng tạo

Mặt đất nâng tôi qua nồng ấm bình minh

vang tiếng gọi Người

Sự sống đồng thanh tấu lên lời ca bừng thức

Tôi mở rộng vòng tay đón mùa màng tự do

Nó vang vọng như một khúc Thánh ca. Một cuộc sống thánh thiện. Một cuộc sống đẹp tươi như “Hoa diên vĩ” của danh họa Hà Lan Vincent Van Gogh. Một cuộc sống lung linh như “Fallingwater – Thác đổ” của kiến trúc sư người Mỹ Frank Lloyd Wright với khúc VI:

Nắng thả khẽ ánh sáng vàng sương mờ

Ngước sáng giọt sương lung linh

Vẳng xa tiếng sóng

… Em khẽ hát một bài ca

Lướt qua những thảm vàng cánh đồng

Những nét chấm phá đã hình thành bức tranh mẹ con tuyệt đẹp trong khúc XIII:

Đêm bừng sáng nụ cười con trẻ

Căn phòng giấu một ban mai hé sáng ngày ngày

Âm thanh của những “Tiếng đạn rơi. Dội vào câm lặng. Dội tầng đất sâu. Dội cõi vô cùng” lắng dần, chỉ còn âm thanh của tiếng hát sang khúc IX:

Gió ngàn năm trong suốt hát trên cây

Khúc hát gọi người về với ngày xưa đã ngưng. Khúc hát đưa người qua bến khác lại đến trong khúc X:

Và gió lặng biển là nơi đầu tiên mặt trời ghé đậu

Mặt nước sẽ ấm lên hào phóng trinh nguyên và sóng biếc nâng cao

Tôn em lên cùng tận cõi người

Khúc hát này nối tiếp khúc hát của trường ca “Trên đường“:

Tôi lắng nghe lời thì thầm của hạt mầm đang đợi sáng

Nguồn sống tự do hiện xa phía chân trời.

và trong chuỗi biến động và trạng thái chuyển động trong “Ngày đang mở sáng” cùng vạn vật hấp thu sinh khí thổi vào lồng ngực người đang hấp hối tâm linh. “Em kiệt sức dưới chân tường thời gian tróc lở, gió mát xoa gương mặt sáng dần”. Tôn nghiêm Em cũng là tôn nghiêm cõi vô cùng! Thần thoại về trái tim con người theo định luật vạn vật hấp dẫn của Isaac Newton và Acsimet bắt đầu với những khắc khoải…

2. Khúc Huyền ca khắc khoải:

a. Khắc khoải về con đường ký ức tổ tiên:

Nguyên Hồng trong “Bài thơ tình ở Hàng Châu” đã tìm về tổ tiên bằng chiếc gậy thần tiên và cánh tay đạo sĩ nhiệm màu:

Gậy thần tiên và cánh tay đạo sĩ
Ðưa ta đi sông núi tuyệt vời
Tim đập mạnh hồn ngây không sao hiểu
Mê Kông sông dài hơn hai ngàn cây số mông mênh
Nguồn tự Trung Hoa có Vạn lý trường thành
Có Hy Mã lạp sơn, Ðộng Ðình hồ, Tây du, Thủy Hử
Trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm khắc họa hình ảnh đất nước muôn trùng nhưng thấm vào máu những câu:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Giấc mơ đang hạ cánh xuống đường lịch sử trong khúc III: Những hình ảnh, sự vật không còn là mơ nữa trong “Khúc Huyền ca”:

– Ngôi mộ xưa

– Con đường tổ tiên đi.

– Khu đền thiêng đóng cửa

– Chiếc đỉnh thờ u uất khói nhang.

– Chiếc bình gốm xưa

– Đất đai tổ tiên khai mở chết vùi sau lũy tre làng già cỗi.

– Con đường không tên

– Ngôi đình thiêng cao vút

Những biểu tượng tổ tiên của ngày xưa hiện dần hết trong trường ca như bản “Danh sách chuyển nhà” của Phan Thị Vàng Anh. Trong “Làng tôi” của Trần Chấn Uy là “Điện thờ Phật lâu ngày không nhang khói. Vẫn lâng lâng phảng phất trầm hương” với những câu chuyện ma “trước ngôi chùa cổ” bằng “Ký ức đồng quê” buồn héo ruột:

Mái đình cổ lao xao bầy chim sẻ

Gió đồng quê thổi lật lá sen chùa.

“Khúc Huyền ca” khắc khoải một giấc mơ dài:

Người ngồi thật lâu

Gây buồn thế kỷ.

Nguyễn Trọng Tạo trong “Đồng giao cho người lớn” nhận diện sự đối lặp tâm linh:

Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
Có con người sống mà như qua đời
Khắc khoải một chân trời không có tiếng súng, thằng cu hứng khởi với dòng máu tổ tiên không muốn thấy mình sống như đã chết:

Tôi mang theo dòng máu tổ tiên lội qua sình lầy tù đọng, ấu thơ vang lồng ngực phập phồng.

b. Khắc khoải một mặt trời:

Khắc khoải ngày bình minh thay thế hoàng hôn. Xuyên suốt 11 ca khúc là những khúc ca đầy tự tin trong “ký ức ngàn năm khép mãi một vòng tròn”:

– Tinh sương rộ lên giàn đồng ca sáng mới

– Vòm cây muôn điệu vang ca dâng hiến

– Thấy ánh sáng rực lên

– Trong vô biên sáng mới, tôi hát ngợi ca sáng tạo

– Sự sống đồng thanh tấu lên lời ca bừng thức

Ngay trong đạn bom vẫn có sự sống:

Hoa trứng gà nở vàng

… Nắng thả khẽ ánh vàng sương mờ

Ngước sáng giọt sương lung linh

… Phưng phức hoa mào gà

Ban mai bừng thức.

Trong hỗn loạn, chết chóc và thương đau, ”Khúc Huyền ca” vẫn mang một sức sống của gió: “Gió ngàn năm trong suốt hát trên cây” bên cạnh “những chùm hoa dại trắng tinh nở trên vết máu chiến hào”.

Hãy nhìn quê hương tươi sáng theo chiều kim đồng hồ và hãy biết rằng: Sáng thức dậy ta thấy mình còn đó, mới tin rằng hạnh phúc có đâu đây.

“Khúc Huyền ca” hé cửa là một cánh đồng đói khát nhưng nó vẫn không đóng lại bằng sự khát đói, vì hôm nay, vườn rau đã xanh lá không còn “vườn rau là bãi chiến trường” (như cách đây ba mươi năm mà Thu Trang trong “Nói sao cho vợi” (100 bài thơ hay nhất?!) đã từ đất Pháp hình dung) mà nó mở ra, mở cửa đón chờ mặt trời để lột xác thành “Ngày đang mở sáng“:

Ánh sáng nơi nơi tỏa rạng

Vang ca sự sống hồi sinh.

Mặt trời chân lý chói qua tim” thời Tố Hữu đã mờ. Mặt trời trong “Khúc Huyền ca” chỉ có thể có trong thế giới mà những người sách cổ thi Hoài Nam Tử của Hoài Nam Vương Lưu Anh dạy:

Đức ít mà được ân sủng nhiều

Tài kém mà ở địa vị cao

Thân không lập được công to mà hưởng bỗng lộc nhiều.

không còn nữa và con người sống hiền lương theo nghĩa “Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh” (Mình không tranh giành với ai thì chẳng ai tranh với mình). Ước mơ vẫn chỉ là mơ ước! Vẫn là giấc mơ khắc khoải giữa đôi bờ nhẹ nhàng vượt qua ký ức!

Kết nội dung:

“Khúc Huyền ca” với những cung bậc thăng trầm đã vang lên tiếng hát bình minh. Nó là bạn đồng hành với những dòng trữ tình, trường ca anh em, bè bạn khi tái tạo hình ảnh chiến tranh ở một góc trời nhỏ bé của hiện thực và nó một mình một ngựa chậm rãi lùi xa thế giới “Oan oan tương báo. Dĩ hận miên miên” của cuộc đời vốn đã có quá nhiều đau thương, chết chóc, bệnh tật, thiên tai để tiến về phía bầu trời có chiếc khăn vẫy chào và đàn chim đang tung cánh bay cao, bay xa trong thế giới “không có ai độc chiếm hào quang”.

Nó bỏ qua “Khúc tiêu điều” mê mộng một Tây Thi của Huy Thông về mặt hiện thực. Nó vượt qua “Khúc mùa thu” về “Người-đàn-bà-giấu-đêm-vào-trong-tóc” của Hồ Thanh Quang về ý ẩn dụ. Nó rung cùng “Khúc Nam Xuân” khi ”chợt dịu dàng trong dìu dặt lời ca” của Võ Quê về sự đồng cảm. Nó trầm mình trong ngọt ngào với “Khúc dân ca em hát” về tính lãng mạn của Ma Trường Nguyên:

Âm thanh lắng vào trong trời đất

Như hạt mùa màng xanh trải bao la.

Cuối cùng, “Khúc Huyền ca” sáng chói đỉnh nhân văn khi cùng người trở về với chính con người lương thiện. Nó hòa mình với “Khúc hát đồng quê” của Chử Văn Long:

Anh hát em nghe khúc hát đồng quê
Cho lắng lại vui buồn muôn thuở
Cho mẹ thương con cho chồng thương vợ
Người không thương nhau có rất ít ở trên đời

Anh hát em nghe về những con người
Sống với đất chết lẫn vào cùng đất
Chỉ để lại nụ cười chân thật
Như hoa đồng cỏ nội nở rồi quên

Những câu hát nhắc anh những câu hát nhắc em
Ăn hạt gạo không quên người cày cuốc
Bao vất vả gian lao có gì được hưởng
Ai quên ai khuya sớm nhọc nhằn…
Có ai quên một thời mình cùng là “Đồng chí” mà Chính Hữu từng treo trăng trên đầu súng thời chiến tranh “áo anh rách vai, quần tôi có vài miếng vá”, một thuở “cục đất ta gối nằm chung, cục xương chia nửa, cục bùn xẻ đôi”? Thơ ca bẩm sinh như con người là hiền lành, trong trẻo là thế! Hơn thế nữa, âm hưởng giá trị nhân bản từ “Khúc Huyền ca” khi toát lên được cái thần của cuộc đời kế tiếp từ âm hưởng trong “Đổ bóng xuống mặt trời”:

Nắng mới về trộn đầy trên những giàn hoa sớm

Khúc ca muôn đời trong đất sinh sôi

“Khúc Huyền ca” tiếp nhận, hòa tan và trở thành:

Ánh sáng nơi nơi tỏa rạng

Vang ca sự sống hồi sinh.

Khi nó đắm mình vào thế giới tự do, lãng mạn thì “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” man mác giai điệu bản trường ca “The Gardener” (Hiến dâng) của Rabindranath Tagore (The Nobel prize Literature 1913):

Open your doors and look abroad.
From your blossoming garden gather fragrant memories of the vanished flowers of an hundred years before.
In the joy of your heart may you feel the living joy that sang one spring morning, sending its glad voice across an hundred years.

Mở cửa nhìn ra, hỡi bạn

Tìm về những kỷ niệm ngát hương hoa trong vườn xưa trăm năm trước phai tàn.

Niềm vui từ trái tim sẽ làm cuộc sống hân hoan hát về một sáng mùa xuân, gởi theo trăm tiếng nói yêu đời chứa chan.

(The Gardener– Khúc 85, Hiến dâng- người viết tạm dịch từ bản dịch tiếng Anh trên terebess.hu)

Rất tiếc, mở sách văn chương nước ngoài, ngôn ngữ ta bất đồng, dịch thuật ta yếu kém, thì làm sao ta cảm hết những cái tuyệt vời của nguyên bản từng tác gia!

Với Trần Anh Thái và “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” vẫn còn có những ánh nắng vàng khi miêu tả cuộc sống nhiều xanh xao, héo gầy quá và có những khi mình lặp lại mình, thơ lặp lại thơ và ý trùng ý… Trần Anh Thái có lợi thế khi đứng từ cột mốc thời bình để tái tạo quá khứ chiến tranh và đủ thời gian loại dần những giá trị không có tính thời gian. Nhưng thực tế hiện nay, việc tái tạo hình ảnh, con người thời chiến sẽ làm người ta chìm vào bóng đen quá khứ và ngán… cơm nguội nhưng lại sợ… cơm thiu! Thôi thì, đổi món cháo, hãy táo tạo một hiện thực hôm nay: Là tham nhũng, là những gì mà đất nước báo động từ nguồn sông, giếng nước, thức ăn đến mồ mả tổ tiên, học đường, nhân phẩm…Những cản trở “trên đường”, trường ca tiếp theo sẽ cuốn chúng vào dòng xoáy của lịch sử. Lịch sử sẽ quay lại mỗi thời kỳ một lần như cuộc quay xổ số. Biết đâu đấy, mình… trúng giải đặc biệt…

Tuy nhiên, trên phương diện thể hiện chức năng hiện thực với một trái tim đồng cảm, “Khúc Huyền ca – Ngày đang mở sáng” như cái tên gọi hy vọng sẽ là “hiến dâng“, là gởi theo ngàn tiếng nói chứa chan, trăn trở cho đời! Giá trị nhân bản sẽ mang tiếng thơ vang xa. Trần Đăng Khoa trong “Người thường gặp – Trần Anh Thái – bạn tôi” (evan.com.vn) công nhận: “Trần Anh Thái không phải chỉ biết gõ vào trái tim ta, anh còn nồng nhiệt trao cho ta cả trái tim nhiều trắc ẩn của anh. Đó là trái tim của một thi sĩ”. Còn cảm nhận của Thanh Thảo trong “Ta ngạt thở chờ bước chân em tới” (toquoc.gov.vn) “Đó là nhà thơ không chịu dừng bước không chịu định hình quá sớm để tận hưởng những gì mình đã có… Nhưng anh đang sống đây, lấm láp như chính những câu thơ anh viết”.

“Open your eyes anh look abroad by… your heart – Hãy mở đôi mắt nhìn mọi thứ bằng chính… trái tim mình!”. Một nội dung nhân bản vẫn phải đi cùng với giá trị nghệ thuật tương xứng sinh ra nó. Có thể nói, “Khúc Huyền ca” đã làm được đa chức năng – một loại hình văn học – trường ca. Nó phản ánh hiện thực có chọn lọc và sáng tạo khi xây dựng một thế giới bình minh cho con người trong tương lai với tinh thần nhân ái.

Theo Nguyễn Xuân Nam: “Văn học phản ánh cuộc sống một cách có chọn lọc, có sáng tạo. Viết văn là một hành động nhận thức của nhà văn về cuộc sống và con người” (Chức năng của văn học, trang 308, sđd).

Chuyển tải được ngần ấy chức năng, “Khúc Huyền ca” phải cần tới một bản lĩnh thực sự đầy nghệ thuật của người sinh ra nó! Một chức năng văn học khác không thể thiếu: Chức năng thẩm mỹ!