C. Nâng niu từng số phận con người:

(Nét nhân bản chính của “Khúc huyền ca – Ngày đang mở sáng”):

Đó là số phận những con người phụ nữ làm vợ, làm mẹ trước và sau chiến tranh. Đó là số phận của những người ra trận trong tư cách con người cầm súng. Đó là những số phận con người thời hòa bình. Đó cũng là số phận hồn ma bóng quế đi vào đời lãng quên…

Trong “Khúc Huyền ca” có bốn nhân vật nữ mà nhà thơ cất công dàn dựng từ hiện thực cuộc sống: Mẹ, Chị, má Mừng và “Em” – cô bé mà tuổi thơ, cậu bé ước mơ bay lên tìm con tàu bí mật, đã yêu mến và người lính, người vô danh… Những người này, họ đã sống trong hiện thực “hoàng hôn” và “bình minh” trong các trường ca nói chung và của Trần Anh Thái như thế nào trong và sau chiến tranh?

I. Trước và trong chiến tranh:

Ôi quê hương đã lầm than, sao còn, còn chiến tranh!”. Chiến tranh trong nhạc Trịnh Công Sơn như một điệp khúc đánh động lòng người còn khóc người đã mất và làm kẻ sống sót bàng hoàng đau thương. Nhạc đi cùng thời gian. Thơ đi cùng năm tháng. “Khúc Huyền ca” trăn trở với những tháng năm “điêu tàn” với Chế Lan Viên. Khúc IV, V và X, nhà thơ tập trung vào những sự kiện chiến tranh.

Theo người bạn… “thần đồng” Trần Đăng Khoa, tác giả “Khúc Huyền ca” -Trần Anh Thái là “một người lính từng bị thương nơi trận mạc”. Chân dung… thanh tú của Trần Anh Thái cũng… bị thằng bạn ác tâm vẽ xấu như… ma trong bài “Người thường gặp, Trần Anh Thái-bạn tôi, (datviet.com.vn): “Trần Anh Thái buồn nẫu, gương mặt xương xương vốn hoạt bát, linh động, bỗng thoắt sâm sẩm héo hắt như vòm cây vừa tắt nắng…Phải! Anh là một người đa mang. Anh biết rung động trước nỗi khổ của những con người bất hạnh. Bằng sự rung động này, anh đã tiếp cận được với thơ ca. Mới hay, cái cô nàng kiều diễm, nhưng khủng khỉnh trái nết có tên là thi ca này, cũng có một trái tim trắc ẩn. Bởi thế, thơ ca dường như chỉ đồng hành với những nỗi đau khổ của thế gian thôi”. Cùng đồng hành với Trần Đăng Khoa còn có Thanh Thảo – người gầy còm như… tăm xỉa răng chứng thực: “Trần Anh Thái đã từng là người lính đánh vây lấn ở núi Đình Cương- một trận đánh kéo dài và khốc liệt. Thái cũng đã từng uống nước dòng sông Vệ, như đã uống nước sông quê miệt biển Thái Bình” (Ta ngạt thở chờ bước chân em tới, toquoc.gov.vn). Hãy xem, “Khúc Huyền ca” tái hiện những năm tháng chiến tranh “không có con đường thứ ba” như thế nào?

1. Chiến tranh đè nặng cảm xúc tan nát gia đình: Đề tài chiến tranh là một đề tài không bao giờ cạn kiệt nhưng cảm nhận về cuộc chiến nếu chỉ biết căm thù và tái tạo con người bằng nghệ thuật cường điệu hóa cảm xúc, thần thánh hóa thủ trưởng, ngoa dụ hóa tình cảm thì hình như dòng thi hứng này đã không đất sinh tồn vì đã mất tính thời gian. Giá trị có được của “Khúc Huyền ca” chính ở chổ khác về cảm nhận này.

a. Mẹ, cha, chị, anh và em: Họ đã hóa thân vào đất nước.

Cảm nhận về đất nước khi có chiến tranh, Nguyễn Đức Mậu trong “Trường ca sư đoàn” canh cánh một nỗi đau:

Đất nước tôi chia làm hai nửa

Trận bom rung vọng suốt hai đầu

Trong cuộc chiến này

Triệu chiếc võng rừng sâu

Làm triệu cây cầu

Nối liền vết cắt

Da thịt người vá lành da thịt đất

Trong nỗi đau của đất có con người.

Một cảm nhận nhập cuộc với con đường hành quân Bắc tiến đẹp như “hoa đỏ nguồn sông“. Một cảm nhận của một người cầm súng viết lên những vần “thơ người ra trận“. Lời cảm nhận về chiến tranh đi trong “cây xanh đất lửa“. Nó có giá trị tại một thời điểm nhất định như “mưa trong rừng nhớ” và tồn tại với dấu tích chiến tranh khi người lính giải ngũ về nhớ lại “con đường rừng không quên” của mình.

Trong “Thử nói về hạnh phúc”, Hữu Thỉnh ghi lại cảm nhận từ “âm vang chiến hào” của người lính khi nghe đạn bom: “mỗi lúc bom rung đất rơi đầy mặt, đất rơi đầy giấc mơ, những giấc mơ chập chờn”. Còn đây, Thanh Thảo trong “Dấu chân người lính” tự hào:
Cả thế hệ xoay trần đánh giặc
Mặc quần đùi khiêng pháo lội qua sông…
Cuộc sống ở đây vẫn cuộc sống bình thường
Cái lạ nhất là không thấy gì lạ cả.

Khúc Huyền ca” không kể lể dài dòng. Nó trực tiếp rung theo cảm nhận về chiến tranh một cách “lạnh” mà “đau”:

– Chiến tranh hốc hác mặt người.

– Mẹ thức lúc nửa đêm

Tro tàn cơm nguội.

– Anh tôi hút chiến trường biền biệt.

Bầy chim thản nhiên bay qua.

Rồi đến lượt nhân vật chính:

Tôi bỏ trôi số phận

Những vì sao sáng tối mập mờ.

Số phận bỏ trôi, coi số phận như những ngôi sao chẳng biết tốt xấu về đâu cũng giống như người lính trong trường ca “Trầm tích” của Hoàng Trần Cương sau hậu chiến, nhận “hạnh phúc hôm nay” nhưng ngậm ngùi:

Con nhập vào với lửa

Giật mình súng đã tràn tay

Bàng hoàng biết tuổi thơ mình không về nữa

Những người cầm súng thời chiến tranh đều còn ở tuổi “nhảy lò cò bên lạch ruộng, chật vật trốn tìm nhọ nhem bùn đất đuổi theo đàn đom đóm” như cậu bé trong “Khúc Huyền ca”, vẫn thơ ngây với giấc mơ mờ sáng “không cuối không đầu“:

Khi tôi hát trong nhà thắt ngạt

Lúc vui cười nước mắt mẹ nghẹn đêm.

Và tôi ngủ mẹ ôm đêm thức

Sáng sáng tôi ra khỏi nhà mẹ run rẩy quay đi.

Ta có thể nghe tiếng khóc thầm của “Những bóng người trong sân ga” mà Nguyễn Bính ghi nhận được và có thể nghe tiếng sóng lòng của Thâm Tâm trong “Tống biệt hành” đang vỗ trên những hóa thân hy sinh của người tiễn đưa lòng và người tiễn đưa mình:

Đưa người ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

… Người đi? Ừ nhỉ? Người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say!

Chiến tranh không chừa một ai. Kẻ trụ cột trong gia đình là người cha đã như không còn trên cõi đời hay đã vào chiến tranh nên chẳng thấy người cha tiễn con. Người chị trong “Khúc Huyền ca” cũng rơi nước mắt đưa tiễn em lên đường như trong “Tống biệt hành” . Chỉ có người mẹ nuốt vào lòng nỗi đau chia cắt thì giống nhau. Cảm nhận chiến tranh không thể thiếu vắng những cảnh tiễn người ra chiến trận. Cảnh tiễn đưa trong “Khúc Huyền ca” diễn ra nhanh chóng trong sự “run rẩy” của mẹ nhưng lại rất dài với người “Em” (xét vào trường hợp khác). Người “Em” trong “Tống biệt hành” còn nằm trong vòng bí ẩn là người yêu hay em gái nhưng trong “Khúc Huyền ca“, người Em này được phân vai hẳn hoi là người mà kẻ ra đi yêu thương như “hai người chia tay” trong “Hương thầm” của Phan Thị Thanh Nhàn hay trong “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ “như không hề có cuộc chia ly”. Lời động viên không từ miệng người ở lại mà là từ trái tim biết nói của người ra đi:

Lời từ biệt cuối cùng

Trăng đã lặn

… Về đi em

Hãy dũng cảm bước đi

Can đảm em ơi

Và đừng phiền muộn

Mẹ vẫn chờ em mong ngóng đêm dài.

Trách nhiệm núi sông có phải đã rõ ràng trên vai người nam nhi? Lời từ biệt đã xuyên suốt trong hai đoạn III và IV trong phiên khúc IV.

b. Với người lao động:

Những bài thơ đi trong chiến tranh hay đi qua chiến cuộc đều hướng về một cuộc sống lao động cần cù sau chiến tranh như trong “Núi đôi” của Vũ Cao:

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
Nứa gianh nửa mái lều che tạm
Sương nắng khuây dần chuyện xót đau.

Anh nghe có tiếng người qua chợ:
Ta gắng: mùa sau lúa sẽ nhiều
Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu!

Trong chiến tranh, người lao động canh đền, người thợ cày:

nhâm nhi giọt máu của mình

Chảy qua những dòng sông cánh đồng

Đau xót và rợn thay cho cụm động từ “nhâm nhi giọt máu”. Người ta phải tự hút máu mình để sống?! Không có từ nào diễn tả khá hơn, trào phúng chua chát hơn để nói lên sự chết chóc, nghèo khổ, điêu tàn vì chiến tranh như thế cả!

Chiến tranh trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” của Đặng Thùy Trâm, “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc, trong thơ ca kháng chiến đã phân rõ đường ranh người chết là bạn ta thì ta đau, kẻ chết là địch thì ta coi như cho đáng đời. Vượt lên trên những cảm nhận đầy thù hận tính thì trong “Khúc Huyền ca“, Trần Anh Thái đã mang những cảm nhận đó lên thành lý tính với tư tưởng nhân bản quốc tế “Là bạn hay thù chết cũng như nhau”. Đây chính điểm sáng chói của “Khúc Huyền ca” – “Ngày đang mở sáng” nói riêng và cho tư tưởng các tác giả có tính khuynh hướng – nhân văn nói chung. Văn học đứng trên lập trường nhân bản này sẽ mãi mãi còn đất để tiếp tục sinh sôi, nẩy nở. Cần chú ý tính khuynh hướng cũng là con dao hai lưỡi.

Theo Nguyễn Văn Hạnh. “Nhưng tính khuynh hướng sẽ trở thành nhược điểm nếu như nó không phải là thôi thúc bên trong, là niềm say mê chân thành của người nghệ sĩ, mà là sự vay mượn, gán ghép từ bên ngoài, nếu như nó được lợi dụng để bù vào chỗ thiếu hiểu biết về tài năng, nhằm lôi kéo sự chú ý của người đọc nếu như khuynh hướng đó là giả dối và sai lầm” (Tính khuynh hướng, Nguyễn Văn Hạnh, trang 1740, Từ điển văn học-Bộ mới, nxbtg-2004).

Những người làm công việc “hòa âm” cho văn học nói chung và “Khúc Huyền ca” nói riêng, nếu không xuất phát từ “lòng say mê chân thành” của người thưởng thức thì sẽ đi vào con đường “sai lầm” đáng tiếc!

“Khúc Huyền ca” đưa ta về với những ngày chiến tranh bằng tính khuynh hướng của Trần Anh Thái ra sao?

2. Chiến tranh trong mắt ai?

a. Trong mắt người lính trẻ: Chiến tranh là mất mát, chia cắt, thương đau. Chiến tranh là đổ máu. “Trường ca biển” thở dài:

Quê hương đi đến đâu máu đi theo đến đấy
Máu chẳng bao giờ cũ

Khi người ra đi là cậu bé mới hôm nào còn vô tư chui cùng cô bạn chui vào ruộng ăn no nê, cười thỏa thích, bỏ trôi số phận thì hôm nay đến lượt chiến tranh… đẩy nó chạy về phía trước. Thế giới thần tiên kéo nó lùi lại phía sau có giấc mơ và con tàu cổ tích. Giấc mơ lùi xa, bỏ trống trong vòng tay mẹ. Cánh đồng lúa chờ mùa xác xơ trong đôi mắt “Em”. Giấc mơ tan biến. Bầu trời chiến tranh hiện ra:

– Đại bác rít qua bầu trời lửa, những chùm mây ám khói đạn bom.

– Ba lô sập mắt.

– Họ đi, cái chết lửng lơ, thác lũ gào sôi cơn sốt giật, bát cơm sượng sống gấp ngày.

– Con đường kiệt sức, chân bước mắt bầm, bình minh chết trong chùm mây bạc.

Chiến tranh tạo ra chiến trường. Chiến trường là nơi phơi xác bạn và ta!

Hãy cùng Trịnh Công Sơn “Hát trên những xác người” để chia xẻ cảm nhận của… thằng cu – Trần Anh Thái:

“Xác nào là em tôi trong mưa lạnh này, trong xác người già đó, con ta còn thơ ngây”. Con đường nó đi được tắm bằng đạn và máu:

– Đạn bay hỗn loạn.

– Máu ròng ròng sẫm mặt trời trưa.

– Mặt bạn tôi bê bếch chiến hào.

– Máu trộn đỏ rừng cây Quãng Ngãi

Trời Nghĩa Hành mây trôi dưng dưng.

Tác giả không ghi năm tháng cuộc chiến. Có phải là cuộc chiến Vạn Tường ở Quảng Ngãi mà bộ đội quân chủ lực quân khu V đã đẩy lùi cuộc chiến Mỹ ngày 18/8/1965?. “Nghĩa Hành“, một huyện trung du Quảng Ngãi cùng Trịnh Công Sơn “còn hai con mắt khóc người một con, còn hai con mắt một con khóc người“! Xác người nằm phơi trên rừng còn là dấu tích hai cuộc tàn xác dân của lính Đại Hàn năm 1966 và lính Mỹ năm 1969?

Thằng bé trở thành “Anh”. Cô bé đã biết “thả tóc mơ hồ, hương bay xao động“. Họ có chung “một bầu trời” khi chia tay nhau. Chúng nó đã lớn lên và trưởng thành trong chiến tranh. Anh lính trẻ này đau xót cho ai nếu không đau cho người đã chết? Ta hãy đọc những câu sau để thấy rằng anh lính trẻ sớm cảm nhận thương đau chung cho hai phía:

– Đất đồi phơi xác bạn thù.

Tiếng chim dại lửng lờ sườn núi.

– Xác người cuốn trong vòng tang xám

– Xác quân thù xác bạn gục vào nhau.

– Xác chết chồng xác chết đợi ngày…

Cảm thương thay! Ba chấm lửng kéo thời gian chết chóc thê lương chưa biết đến bao giờ! Ta và đối phương dường như còn chỉ một. Trần Anh Thái khéo kéo dựng lên hình ảnh những cái chết chồng lên nhau, gục lên nhau… thân thiết trong tư thế bình đẵng, vô tư như chưa hề biết đến những thây ma ấy đã từng nhắm vào nhau, bóp cò…

Không nhạc sĩ, văn nghệ sĩ nào có thể có bài ca nào hay mà xót như Trịnh Công Sơn với những ca khúc phản chiến lừng danh, tiêu biểu như “Bài ca dành cho những xác người”:

Xác người nằm trôi sông, phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố, trên những đường quanh co.
Xác người nằm bơ vơ, dưới mái hiên chùa
Trong giáo đường thành phố, trên thềm nhà hoang vu

… Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh này
Bên xác người già yếu, có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi, dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy, bên những vồng ngô khoai.

Cũng chưa có nhạc sĩ nào “Hát trên những xác người” đau đớn như Trịnh. Tính khuynh hướng trong nhạc Trịnh giống như tính khuynh hướng của Trần Anh Thái trong trường ca. Ngọn đồi Eo Gió hay những ngọn đồi khác đều chất chồng xác với xác “quân thù xác bạn gục vào nhau”:

Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người.
Tôi đã thấy, tôi đã thấy trên con đường, người ta bồng bế nhau chạy trốn…bên khu vườn, một người mẹ ôm xác đứa con.
Chiều đi ra Bãi Dâu hát trên những xác người.

Tôi đã thấy, tôi đã thấy trên con đường, người cha già ôm con lạnh giá… những hố hầm, đã chôn vùi thân xác anh em.
Họ vô tư mà chết! Họ gục vào nhau mà chết! Họ! Những kẻ hy sinh cho cuộc chiến tương tàn hay cuộc chiến chống xâm lược? Cho ai lợi ích, cho ai được lời? “Khúc Huyền ca” không khai thác khía cạnh dễ mắc “họa vô đơn chí” đó mà nó chỉ chuyên sâu vấn đề rõ nhất: Cuộc chiến nào thì cái chết cũng như nhau. Kẻ ra đi bỏ lại tuổi xanh và những ước mơ kỳ diệu cho nắng, cho mưa, cho cánh đồng lúa ngày mai màu mỡ. Người sống sót, người ở lại kinh hoàng nuối tiếc chiều qua…

Khúc IV trong “Khúc Huyền ca” của Trần Anh Thái với những xác chết chất chồng sang trang. Nó nhường chỗ cho khúc X tìm về ký ức…

b. Trong ký ức:

– Bóng người dìu nhau bê bết máu. Màn đêm lặng phắc bãi chiến trường, gió khô mặt đất. Mơ hồ co giật, tiếng gọi thất thanh, tiếng kêu cứu vớt, ròng gương mặt thời gian ám mùi bom đạn.

Những xác chết ngỗn ngang hình hài méo mó. Từng nhúm xương chấp vá vô tình đêm tối mò tìm. Căn hầm nồng nặc.

Bầu trời những vì sao tối dần, cái chết im lìm chờ cuốn ni lông đưa về đất. Thời gian rỉ máu, không gian ngột ngạt tanh nồng. Côn trùng rền rĩ.

Một ký ức lạnh giá những vì sao cô đơn. Ta nghe như “Đại Cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi còn văng vẳng nào là:

Ninh Kiều máu chảy thây trôi

Tụy Động xác chất dơ hoài ngàn năm.

… Đỏ ngầu suối máu Lãnh Câu

Đan Xá thây chất ngập sầu núi cao!

Đầm đìa cỏ nội máu đào

Cứu binh hai mặt lạy chào, chịu thua!

(Người viết chuyển thể từ văn biền ngẫu sang văn vần)

Xác người xây thành. Thây người nên công. “Xác chết chồng xác chết” đã làm nên một “đường vinh quang xây xác quân thù” ghê sợ mà “Tiến quân ca” của Văn Cao đã thành quốc ca Việt Nam!? Máu người đã đổ xuống cho hòa bình nhưng hòa bình cũng chưa thực sự trở về vì sau chiến tranh, những cuộc thanh trừng nội bộ sẽ làm cho máu người đổ xuống cho đến muôn đời! Đó là vòng Parapol toán học của lịch sử. Đó là vòng chu kỳ một chế độ. Đó là một chân lý! Một cảm nhận không trạng sư!

2. Cảm nhận trong chiến tranh:

a. Sự cảm nhận của người trong cuộc về chiến tranh đã chín mùi:

Trong “Nói nhỏ với sông Hồng“, Trần Mạnh Hảo se xót một hồi ức chiến tranh:

Những năm chiến tranh
Mỗi lần máu đồng đội tôi rơi ướt đất
Thắt ruột gan tôi lại nhớ sông Hồng
Ðêm rừng phương Nam chợt quay về phía Bắc
Thấy bên trời vệt lửa cháy thành sông.

Người lính trong “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm nguyền rủa “khi không muốn cầm súng giết người. Ta lại giết chính ta”:

Ta đã đau thương, phủ nhục, mù lòa

Nhận bị trị lằn roi vừa giáng xuống

Ta căm giận ngàn đời chúng mày, giặc Mỹ

Ta đau buồn đất nước hiểu ta không?

“Khúc Huyền ca” của Trần Anh Thái lặng lẽ:

-Những cái chết nối hàng.

– Cái chết tiễn đưa nhau.

Trận đánh kéo dài, chúng tôi phải sống

Từ lặng lẽ này, Trần Anh Thái đã nâng cảm nhận lên cao vót:

– Chiến tranh không có con đường thứ ba.

Một câu hỏi cho người, cho đời. Chiến tranh có mấy con đường? Chịu! Khi Đoàn Phú Tứ viết “Màu thời gian” thì người ta kêu lên: ”Thời gian làm gì có màu”?. Cũng như nào ai biết tình yêu có màu gì? Nhưng người ta vẫn biết những màu đen, màu trắng tượng trưng cho tang tóc chiến tranh, bất hạnh; màu hồng, màu xanh tượng trưng cho tình yêu, hòa bình, hạnh phúc. Màu hay không màu là do người tự chọn thì chiến tranh có mấy con đường tùy người đánh số bao nhiêu biết bao nhiêu. Tuổi đời ai cho bao nhiêu nhận bấy nhiêu. Hạnh phúc đưa đến thế nào, nhặt thế ấy. Câu hỏi “Hạnh phúc là gì?”của Dương Hương Ly – Bùi Minh Quốc chẳng thể nào định nghĩa được mãi cho đến bây giờ ngay khi Thanh Thảo “Thử định nghĩa hạnh phúc” và trong đầu bao thi nhân, hạnh phúc vẫn còn “treo ngược ở cành cây”!

Với Trần Anh Thái, chiến tranh có hai con đường: Sống và Chết! Hết! Cảm nhận bằng thông điệp ngữ rất hay này, Trần Anh Thái đã cho nó lập lại ở khúc X “Chiến tranh không có con đường thứ ba”.

Thực ra, chiến tranh Việt Nam nói riêng còn có thêm con đường mà người đời sau và lịch sử tha hồ luận bàn khen chê, kính phục hay phỉ báng. Đó là con đường “Đầu hàng” của tướng một sao Castries và tập đoàn chỉ huy lòng chảo Điện Biên Phủ năm 1945; của Tổng thống hàng tướng Dương Văn Minh; hoặc con đường “Bỏ chạy” như các tập đoàn tướng tá miền Nam năm 1975; con đường “Đào ngũ” của lính hai bên, con đường “Tự sát” như tướng Phú, tướng Nam, tướng Hưng, tướng Hai, tướng Vĩ… của quân đội miền Việt Nam cộng hòa và con đường cuối cùng là “Tàn phế” với những “anh thương binh vẫn đến trường làng” trong “Vết chân tròn trên cát” của Trần Tiến, với người con gái có đôi chân “đã gởi lại chiến trường” trong “Hai lần làm mẹ” của Trầm Hương. Những người này đã chọn con đường tàn phế cho ai? Cho cái gì? Ngay cả chính họ tới bây giờ cũng hiểu rõ!

Nguyễn Anh Nông trong viết dâng tặng bố chua chát:

Vết thương trong người nhức nhối hoá như không.
Bị thương, bố giữ âm ỉ riêng mình
(Người ta bị thương- người ta chia xẻ)
Nỗi đau của bố tràn sang cháu con
… Giá mà bố sống dậy
Dù chỉ một lần
Nhìn thấy…
Đồng tiền xương máu
Rồi bố đi, cũng đành
Đằng này…
Thôi, trách chi!
Con biết bố chẳng hề trách ai
(Mà trách để làm gì?)
Nhưng “Khúc Huyền ca” chẳng đi khơi dậy một tổn thương dẫn tới đụng độ “chính sách”, nó chỉ hướng về những nỗi đau cần được cảm thông.

Chỉ thế! Bản trường ca “Ngày đang mở sáng” như giấc mơ hiền hòa bao giờ cũng cần có một bà tiên xuất hiện trong cổ tích.

Người lính nào ra trận cũng có giấc mơ, cũng có “những niềm riêng một đời giấu kínnhư rong như rêu lênh đênh bể khơi, có những niềm riêng một đời câm nín” mà nữ nhạc sĩ Tín Hương ngậm ngùi ghi thành nốt nhạc “Có những niềm riêng”.

b. “Nỗi niềm riêng” của người lính trẻ:

“Giấc mơ mờ sáng” vượt thoát. Hình ảnh người mẹ trong đêm “tôi ngủ mẹ ôm đêm thức” trở về với từng dấu hỏi:

Mẹ ta bây giờ đã ngủ

Nước mắt chảy khô đêm mưa rét?

Mẹ ngồi chống cằm

Chiến tranh sang bằng giai cấp, địa vị, thành kiến. Người lính trẻ nhìn kẻ thắng trận và thất trận hai phía như nhau:

Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước

Kéo hoàng hôn rã rời

Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc

Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau.

“Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau” hay “Nước mắt tạc vào gió thổi ngàn sau” như nhau. Câu thơ đầy hình tượng với một bức tranh được thiên nhiên khắc (tạc) vào đời sau – đời huyền thoại – và chỉ có trong huyền thoại, bức tranh đầy thương tích và nước mắt chiến tranh này mới có giá trị thẩm mỹ vĩnh cữu!

Có thể nói: Những đoạn viết về chiến tranh là những đoạn xúc động nhất của “Khúc Huyền ca” vì nó không mang những lời lẽ văn hoa phù phiếm; nó chẳng cần những lời nịnh nọt văn hoa và nhất là chẳng ngại bị quy chụp dưới bất kỳ hình thức nào. Hơn hết, những câu thơ tự do miêu tả, quan sát, nhận định, thẩm luận về cái chết đều nằm trong cảm xúc nhân bản cần phải có, mà có rất chân thật của thi ca. Kẻ nào “trộm long, tráo phụng” đánh tráo cảm xúc nhân bản của thi ca, kẻ đó là sát nhân văn học. Kẻ sát nhân loại thức nào thì bao giờ cũng trả giá cho hành động phi tính người của mình. Trong văn học không thể có “Thánh thủ thần thâu”!

Những hình ảnh và lời thơ chân thiện mỹ đó đã hướng về bạn bè: Đi tìm mộ người chết.

II. Sau chiến tranh:

Con sông, giếng nước, cây đa đầu đình chính là quê hương. Với Trần Anh Thái, dòng sông là nơi ta “thì thầm”, là nơi cho ta “ gặp những cuộc đời” và là chiếc thuyền cổ tích “chở ta về tuổi thơ im lặng”.

Nếu trong “Nhớ con sông quê hương“, Tế Hanh không nói cụ thể là con sông nào thì trong “Khúc Huyền ca“, hình ảnh con sông Vệ được Trần Anh Thái nhắc đi, nhắc lại để chỉ làm một chuyện: Nói về người chị, người mẹ và bạn bè của anh lính trẻ. Cảm nhận với anh trong tư cách như một người đồng đội, cùng hội (nhà thơ) cùng thuyền (viết về lính), Thanh Thảo viết: “Tôi hiểu: đây là cuộc chiến tranh sau chiến tranh, là mất mát sau mất mát, những nỗi đau sau những nỗi đau. Chúng ta đã cách chiến tranh 32 năm, nhưng Đình Cương hay sông Vệ vẫn còn đó, những ai cùng chia sẻ với ta những tháng ngày” (“Ta ngạt thở chờ bước chân em đi tới”- toquoc.gov.vn).

1. Sông Vệ: Nhân chứng chiến tranh:

a. Kỷ niệm buồn của người mẹ mất mát:

Đôi khi buồn quá

Đôi khi chống gậy tìm đường ra bờ sông Vệ.

Hai mắt ngây nhìn

Rừng xưa lá rụng đăm đăm

Hình ảnh buốt lòng. Câu thơ se xót. Người mẹ chẳng còn gì để bám víu hơn là “chống gậy” ra bờ sông tìm kỷ niệm năm nào! Bởi vì, chiến trường đã cướp của mẹ những người thân yêu duy nhất:

Gương mặt chồng và năm đứa con

Tàn nhang rơi lạnh

Trong “Thức dậy một mặt trời” (Trên đường), Trần Anh Thái cũng ghi lại sự ra đi vĩnh viễn của người con:

Bạn không về nữa

Chút tàn nhang héo hắt sáng mơ hồ

Trong đôi mắt mờ đục của mẹ

Đốm sáng nhỏ nhoi

Khắc khoải không màu

Ngôn ngữ thi ca “ý tại ngôn ngoại” là chỗ này với hai từ “mờ đục” thì ai đọc cũng biết nguyên nhân từ đâu. Người anh trai của người em trong thơ Trần Chấn Uy cũng một đi không trở lại là nguyên nhân cho mẹ “chống gậy tìm đường ra bờ sông Vệ” trong “Anh tôi“:

Thế là anh không về nữa

Lửa chiến tranh đã thiêu cháy anh rồi

… Anh ơi tóc mẹ bây giờ

Như ngàn lau lạnh trắng bờ sông xưa.

Những người mẹ liệt sĩ “người tóc bạc khóc người tóc xanh”, “tre già ngồi khóc măng non” này giờ đã hưởng “bổng lộc triều đình” ra sao? Còn không những người mẹ “cuốc đất trồng khoai” nuôi con đi kháng chiến trong “Bà mẹ Gio Linh” của Phạm Duy? Còn không người mẹ đào hầm giấu cán bộ trong “Đất quê ta mênh mông” của Dương Hương Ly? Còn không những người mẹ đã đứng “dưới mưa bom không ngại” để “tiễn con ra núi đồi” theo cách mạng trong “Huyền thoại mẹ” của Trịnh Công Sơn hay chỉ còn người mẹ còm cõi chờ con hun hút chiến trường trong “Gốc khế” của Lê Đạt?

Còn cha? Cảm nhận về cha trong “Khúc Huyền ca” theo cuộc chiến đi xa chẳng còn dấu vết. Còn chăng chỉ là cảm xúc khi Trần Anh Thái đứng “Trước mồ cha” để nói về cái vô vị của cuộc đời:

Đời người năm tháng mỏi mòn
Bao vinh nhục cũng chỉ còn hư không.
… Còn không bóng núi trăng ngàn
Trên mồ gió với nhang tàn ngẩn ngơ
Cõi đời cát bụi mưa mờ
Qua bao chìm nổi nào ngờ bể dâu
Còn chị? Qua tháng ngày “bể dâu” thì chìm vào “nhang tàn” ngơ ngẩn! Một trong những “Hòn vọng phu” cổ tích ngày xưa!

b. Người chị mất chồng:

Sau chiến tranh, người ta tưởng rằng cuộc sống sẽ khác đi, nhưng không, sau chiến tranh: “Hòa bình lánh mặt”. Cuộc sống ngồn ngộn những thiếu thốn không gì bù đắp nổi ngay cả một gói mì tôm của chị cũng giành giật nhau với con vật đói khát:

Gói mì tôm chuột tha đi mất

Tem phiếu nửa mùa

Bữa ăn chống đũa

Con thơ đói sữa

Ròng ròng nước mắt

Cuộc sống thời tem phiếu là thế. Cuộc sống thời kỳ cải cách là như thế! Không tươi tắn như người ta mong; không sáng trong như người ta tưởng; chẳng no ấm như người ta chờ. Màu hồng đi mất ở phương trời nao? Chân không còn toàn lỗ hổng. Ai chưa nếm qua chưa phải là người! Người chồng, người cha đã ra đi, chỉ còn con sông Vệ gợi cho chị nhớ một ký ức tiễn đưa một người đi không trở lại:

Người lính Bắc năm xưa chập chờn xanh rớt

… Anh vẫy tay bước đi

Rất xa…

Rất xa…

Xa mãi…

Lại những dấu chấm tu từ thênh thang… dẫn người về:

Nghĩa trang bên bờ sông Vệ

trắng chùm hoa dại nở quên

Sông Vệ của người chị cạn kiệt:

Sông Vệ kiệt dòng nhằng nhẵng bờ tre ngã bóng

… Chị mỗi ngày bước mỏi, bàn chân heo hắt cánh đồng

Mặt người gập đất.

Cuối cùng, chẳng ai thấy lưng còng của chị nữa, mục rõng vì thiếu dinh dưỡng, hư hao vì thiếu tình thân, co cụm vì đời đâu thẳng thốn nên thời gian lãng quên “chị tôi lẫn vào trời vào đất”. Chị không như “Người đàn bà hoá mưa” đi tìm tình yêu, tình thương của Trần Thị Thắng. Chị tôi cũng ngồi nhìn “Mùa hoa cải bên sông” của Nguyễn Quang Thiều. Chị tôi như “Những người đàn bà gánh nước sông” của Nguyễn Quang Thiều. “Chị tôi” của Trần Anh Thái như dòng sông Vệ cạn kiệt. Chị tôi của Trần Chấn Uy “như con vạc đồng quê lặng lẽ“:

Lấy chồng giữa những ngày khói lửa

Rồi anh đi B biền biệt

Chị vẫn hằng đêm đốt lửa ngóng chờ

… Ba mươi năm một mình lận đận

Chị già theo con nước đầy vơi

Thời gian ném tuổi trẻ của chị vào chiến tranh theo từng bước chân chồng. Người em ngày xưa trở về thăm chị, rụng rời:

Đâu biết được chị đã già đến thế

Tóc như hoa lau, lạnh lẽo đến nao lòng.

Chị tôi của Trần Anh Thái khác “Chị tôi” của Trần Tiến với “Mộ chị tôi bé xinh đứng bên cầu thương nhớ mêng mông. Chị ơi sao vẫn chưa lấy chồng” hay “Chị tôi” của Đoàn Thị Tảo, Trọng Đài khóc “Chị ơi rụng bông hoa gạo“. Buồn có chồng hay buồn không chồng, nỗi buồn nào hơn nỗi buồn nào? Một “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh? Một cảm thông cần có. Một cách nhìn cần nhân văn: Cuộc sống khốn khó này từ đâu mà có? Trần Anh Thái chỉ phác họa vài nét trong dăm ba câu thơ thì đã hình thành nét tính cách. Chị tôi của Hữu Thỉnh trong trường ca “Đường tới thành phố” phải cần tới 65 câu mới nói được cái ý này:

Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền
Chị vẫn nhớ anh và mong anh như thế
Và chị buồn như bông điệp xé đôi
Bằng tuổi trẻ không bao giờ trở lại.

Cảm nhận hình ảnh buồn như “bông điệp” ít se sót như hình ảnh tóc bạc trắng như “hoa lau” của Trần Chấn Uy hay nao lòng theo hình ảnh chị già theo “con nước đầy vơi” của Trần Anh Thái!
Chị tôi của Hữu Thỉnh trong đã bị bên chồng bỏ quên:

Chị thiếu anh nên chị bị thừa ra
Trong giỗ tết họ hàng nội ngoại
Bao nhiêu tiếng cười vẫn côi cui một mình
Cái hắc hủi của bên chồng khi “chị bị thừa ra” giữa họ hàng đã làm tác phẩm mất đi giá trị tố cáo chiến tranh cướp đi thời son trẻ của người phụ nữ (nét già của chị là do chị bị nhà chồng hất hủi chi phối một nửa chứ không phải 100% vì có chồng ra trận) và cũng mặc nhiên, nó đẩy lùi giá trị tích cực của thơ ca trong việc khắc họa tính dân tộc. Sống không đùm bọc lẫn nhau, khi khó khăn hắt hủi nhau, đó không phải là nét đẹp mà văn học mang tính dân tộc cần phải có!

Trong trường ca “Mặt trời trong lòng đất“, Trần Mạnh Hảo tái tạo những con người Củ Chi thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong lòng đất. Nét tính cách đẹp đó mới là của dân tộc Việt Nam.

Nhận xét về tính cách này của văn học, Lại Nguyên Ân viết: “Tính dân tộc được bộc lộ khá rõ ở nội dung đời sống dân tộc được văn hóa miêu tả và thể hiện… những nét độc đáo về cách nhìn, cách cảm của dân tộc, tóm lại là tâm lý và tính cách dân tộc” (Tính dân tộc, trang 1739, sđd).

Trong chiến tranh, nét tính cách nhân bản như đùm bọc, bảo vệ, thông cảm, động viên… cho những người hoặc người thân họ ra trận là nét cơ bản của lịch trình phát triển tâm lý dân tộc. Đi trái những nguyên tắc cơ bản này, giá trị văn học cho mỗi tác phẩm sẽ bị triệt tiêu!

Đâu đấy theo từng cơn gió, âm vang những lời ca “trên khăn tang cô phụ, còn lóng lánh dấu ái ân” trong “Anh không chết đâu em. Anh chỉ về với mẹ đêm qua” của Trần Thiện Thanh: Một lời vỗ về cần thiết cho người tào khang ở lại dù họ là người bên chiến tuyến nào, cũng thế.

Nguyễn Du từng chen vào đời Kiều để bênh vực cho Kiều khi nàng mắc lừa Mã Giám Sinh và bị Tú Bà đánh một trận:

Thịt da ai cũng là người

Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau.

Giá trị nhân văn của các tác phẩm thơ nhạc này đáng đóng dấu son. Giai điệu cho ta ngậm ngùi… Lời thơ cho ta rưng rưng…

Người may mắn giữa hai lằn đạn ôm lấy hạnh phúc nào còn có thể có trong cuộc đời?

c. Sông Vệ trong lòng người lính trẻ sống sót:

Nếu biển của người lính trẻ là biển Đồng Châu thuộc huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình thì sông của anh sao lại là con sông Vệ? Sông Vệ: “Dài 90Km, bắt nguồn từ vùng núi phía Tây của huyện Ba Tơ Sông chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc đổ ra biển Đông tại cửa Cổ Lũy và cửa Đức Lợi” thuộc Tỉnh Quảng Ngãi? Phải chăng là một bi kịch của những đứa con “sinh Bắc, tử Nam“?. Người lính may mắn sống sót trở về khi “chiến tranh đi qua”. Anh cũng giống như mẹ tìm con, chị tìm chồng, anh tìm về con sông Vệ – nơi đồng đội anh ngã xuống. Sông Vệ hóa thân người vuốt mắt kẻ ra đi trong trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời”:

Chúng tôi đưa Bàng, Nhu, Thư xuống khe suối cụt

Sông Vệ thầm thì vuốt mắt các bạn tôi

Đâu đây những vì sao trên bầu trời cháy đỏ

Đâu đây tiếng côn trùng day diết vòm trời

Bàng ơi, Nhu ơi, Thư ơi viên sỏi dưới chân mòn

gió thổi

Sương trắng bay ướt đẫm mé đồi

Trong “Khúc Huyền ca” cái chết không còn đếm được, không còn kịp nhớ tên. Nó thê thảm hơn nữa :

Xác chết chồng xác chết đợi ngày

Sông Vệ hai hàng cát trắng chảy vòng tang.

Người còn sống lại sống trong kinh hoàng như hai lần hụt chết:

Tôi khụy xuống bên bờ sông Vệ

Những hạt cát rã rời.

Muôn vàn ánh tím lốm đốm mắt

Hơi thở dốc kiệt

Đấy cũng chính là con sông Vệ của “má Mừng về quê cũ. Nhà không đất không“. Sông Vệ đã “nhòa nhòa sương” với “mây bay lơ lửng. Sông Vệ thẩn thờ xanh”. Có màu xanh nào lại xanh trong “thẫn thờ”? Phải chăng sông xanh vì hòa bình không còn đục ngầu máu xác nhưng dòng sông man mác tình người không thể vô tình và vì thế mà nó xanh một lần nữa trong đau thương, mất mát? Xanh đau đáu con tim của Nguyễn Du:

Buồn trông ngọn cỏ dầu dầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Màu xanh này của Thúy Kiều tại lầu Ngưng Bích khóc thân, ai dám bảo là xanh mơ ước?

hay màu xanh buồn thấu ruột của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm trong “Chinh phụ ngâm” cũng chẳng hơn:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu,

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Màu xanh trong thơ Trần Chấn Uy cũng tang tóc, thê lương với “người lính trở về“: “hồn nhiên nhận phần thua thiệt, ngực gầy chẳng một huy chương” đã: “Sống sót sau ngày chiến thắng“:

Anh ngồi nhìn về phía núi

Nơi ấy bao nhiêu đồng đội

Máu xương xanh núi, xanh đồi.

Con sông trong thơ Trần Chấn Uy cũng là con sông không tên với kỷ niệm có tên buốt lòng “trước ngôi chùa cổ“:

Bạn bè một thuở xóm chùa

Đứa chết trận, đứa bơ vơ xứ người.

Dòng sông buồn bã trôi xuôi

Đàn trâu xưa đã về trời ăn mây

Với người lính trong thơ Trần Anh Thái, con sông Vệ trong anh xanh đau thương như một người đưa tiễn người:

Sông Vệ buồn bã chảy bên đồi Đình Cương, vết thương rỉ máu luênh loang

tiếng gọi rừng xưa run rẩy tím màu hoa.

Câu thơ rung lên như một ca khúc trở về từ chiến trường của anh lính nhỏ, may mắn thoát chết trong tầm mưa bom. Bất chợt, đâu đấy có một “Màu tím hoa Sim” của Hữu Loan rưng rưng trong “tím chiều hoang biền biệt”! Sông Vệ không giống như con “sông Mã gầm lên khúc độc hành” đầy bốc khí của Quang Dũng thời “Tây tiến” nhưng sông Mã cũng trở về nỗi man mác trong lòng người lính thị thành:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Sông Vệ không giống “Bên kia sông Đuống” ngày đêm “cuồn cuộn trôi” của Hoàng Cầm. Sông Vệ chẳng ngọt ngào như “Dòng sông mía” – Châu Giang của Đào Thắng. Sông Vệ cũng chẳng như con sông của Tế Hanh “nước gương trong soi tóc những hàng tre” trong “Nhớ con sông quê hương” thời hòa bình. Sông Vệ không hào hùng như con sông Hồng trong “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên. Nó cũng không có chỗ nhớ em như “Sông Thao” của Nguyễn Duy “thêm một lần tôi đến để rồi đi“. Nó cũng đầy hồn người như con sông Lam của Hoàng Trần Cương “âm thầm nương bóng mẹ vào đêm“. Nó man mác như “Bài thơ sông Lô” của Trần Chấn Uy “Lời xưa ai còn hát. Rưng rưng chiều Lô Giang”. Sông Vệ cũng như con sông Thạch Hãn của Nguyễn Đức Mậu “nhiều thương tích chiến tranh đến thế“, nhân chứng chiến tranh trong “Trường ca sư đoàn”:

Xin bạn cùng tôi đi dọc sông Thạch Hãn

Con sông nóng như luồng xích đạo

Qua nghìn lần pháo kích với bom rơi

Có con sông nào trên đất Việt Nam tôi

Nhiều thương tich chiến tranh đến thế

Thời hậu chiến, sông Dinh của Giang Nam trong trường ca “Sông Dinh mùa trăng khuyết” gặp lại dòng hoài niệm xót thương của con sông Vệ năm nào:

Ôi dòng sông bên bồi bên lở

Có những người đi đi mãi không về.

Sông Dinh ơi lá rừng trôi ra biển

Lá có về với nguồn cội ngày xưa?

Sau hòa bình, sông Vệ lâng lâng như con sông Tiền “Vẫn còn thức một giấc mơ” và chút ít kỷ niệm trong “Kí ức sông” của Trương Trọng Nghĩa:

Có những điều nhỏ nhặt tưởng dễ quên
Đôi khi kí ức rêu xanh cũng là nỗi nhớ.

“Sông Đông êm đềm” của Mikhai Aleksandrovich Sholokhow đã biến thành “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác! Sau chiến tranh, người lính trận thả nỗi nhớ trong ký ức về con sông Vệ thì con sông Vệ trở thành nghĩa trang lạnh lùng. Ví von đau đến buốt lòng!

2. Đi tìm nơi an nghỉ cuối cùng:

a. Người lính trẻ đã trở về tìm bạn:

Con người sống có thủy có chung. Bạn bè đã đồng cam, đồng khổ thì có một chỗ ẩn trong nhau qua hết bốn mùa.

Những người lính gặp lại

Vang lên tiếng gọi ký ức

… Biển Đồ Sơn muôn nẻo tìm về

Thế nhưng:

Có bao nhiêu người không về

Người chết ở chiến trường

Người lính với dấu hỏi nhói đau trong ngực: ”Mộ bạn tôi ở đâu?”. Hình như với anh, chiến tranh đã qua lâu lắm rồi:

Tôi vạch lối vào đồi Eo Gió

Hoang phế chiến bào.

Căn hầm xưa um tùm cây dại

Bao nhiêu năm rồi không ai về đây

Âm u con đường mất dấu.

Lại một địa điểm… chết! Đây chẳng phải là Eo Gió của Đà Lạt. Cũng không phải Eo Gió của thôn Hưng Lương, xã Nhơn Lý – Quy Nhơn. Eo Gió – nơi xảy ra trận chiến giữa hai bên năm 1973. Eo Gió: “Lá chắn phòng thủ thị xã Kontum từ hướng bắc nằm ở căn cứ Non Nước và đồi Eo Gio nằm dọc theo Quốc Lộ 14, chỉ cách thị xã 6 km về phía bắc và gần hơn nửa là căn cứ Lam Sơn và ở hướng tây nằm ở cứ điểm Polei Krong và làng Trung Nghĩa, gần nơi hai con sông Dak Bla và Krong Poko gặp nhau”. (MeKong, “Hòa bình vang tiếng súng” – vietnam.ictglobal.net). Đồi Eo Gió của người lính năm xưa là đây? Từ KonTum cho đến Đình Cương phẳng lỳ lối nhỏ là nơi:

Bạn tôi chết ở đây

Đình Cương đổ chiều cây lá phủ

Mé đồi tảng đá lì rêu

Mồ bạn không dấu vết

Chơ vơ một chòm mây trắng bay.

Đình Cương đã là nhân chứng khi trở thành nghĩa địa hoang của cái gọi là “Chiến trường gần đến chiến trường xa” trong thơ Huy Cận năm 1973? Những người ngã xuống thành những cô hồn vô danh trong “Chiến sĩ vô danh” của Phạm Duy trong “chiến trường xa” nào đó năm 1946:

Ra biên khu trong một chiều sương âm u
Âm thầm chen khói mù
Bao oan khiên đang về đây hú với gió
Là hồn người Nam nhớ thù.
… Sầu hận đời lấp tan.
Gươm anh linh đã bao lần vấy máu
Còn xác xây thành, thời gian luống vô tình.
Rừng trầm phai sắc
Thấp thoáng tàn canh
Hỡi người chiến sĩ vô danh…
Những ngôi mộ vô danh tự chúng đã ghi nhận số phận hẩm hiu khác với những nấm mộ có tên, ngôi mồ có chủ như Hùng trong “Nấm mộ và cây tràm” của Nguyễn Đức Mậu:

Thôi mình đi, Hùng nhé: hãy yên nằm

Thơm rất xa theo gió thoảng hương trầm

Cây trầm đẹp như cuộc đời chiến sĩ

Sống tươi tốt bao niềm tin bình dị

Thân hy sinh thơm đất, thơm trời.

Hay một người tên Thuận trong “Thuận” của Thanh Thảo: “không vô danh, thắp thêm một nén hương trên mộ liệt sĩ”.

Số phận ngược lại của những ma có tên và ma không tên là những người chiến sĩ vô danh. “Oan khiên” năm ấy đang là ma cũ đón ma mới liên tục mấy chục năm ròng trong “tàn canh” hồn hú vơi gió réo với mưa giữa “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ. Người ta bật hỏi: Chiến tranh hay không chiến tranh? Tồn tại hay không tồn tại? “Khúc Huyền ca” cùng thi ca, âm nhạc thời chiến tranh đã thể hiện tốt vai trò của mình khi dẫn chứng bằng hiện thực để nâng cao khát vọng hòa bình:

Bạn tôi chết không ngày không tên đất

Vô vàn bia mộ không tên

… Không tìm được bạn tôi

Những cái chết lãng quên

Bạn như chưa từng có…

“Những cái chết lãng quên” như những người sống cũng bỏ đi mà Nguyễn Quang Thiều trong“Hồi tưởng tháng tư” suy tư:“Chúng ta đợi quá lâu một cái chết sống lại. Những nhạc công yếu già lần lượt bỏ đi. Im lặng như chưa từng có gì sinh ra trên đất đai này”. Cũng là cái chết, cũng là nấm mộ, cũng là cảm xúc nhưng cảm xúc của “Khúc Huyền ca” lắng sâu, chẳng nhiều hứa hẹn như “Đường tới thành phố“:

Tôi xin làm cỏ ru anh
Trồng cây ơn nghĩa xung quanh hồn người
Tôi ru nhẹ bớt mưa rơi
Sương tan sơm sớm nắng trời rộ mau.
Cô động, với hình ảnh “Chơ vơ một chòm mây trắng bay“, “Khúc Huyền ca” đã nói đầy đủ ý nghĩa, bổn phận của người “ăn quả nhớ kẻ trồng cây“, không cần làm một nghĩa cử điển tích “cắn cỏ ngậm vành“!. Thơ ca với đặc điểm riêng “ý tại ngôn ngoại“: Cô động chừng nào súc tích chừng ấy khi nói đến một cuộc đời.

Mẹ, chị bóng gập mặt đất, xóa nhòa năm tháng làm người, “bạn như chưa từng có” cũng như em bé Tà Ôi chưa từng hiện hữu trong đời. Ba thế hệ này đang từ từ đi vào quên lãng! Cuộc đời không có khai sinh cho họ. Chiến tranh đã xóa hết lý lịch trích ngang của họ. Họ không có thật! Chỉ có con số O hiện hữu là có thật trên đời!

Thanh Thảo trong bài “Ta ngạt thở chờ bước chân em tới” (toquoc.org.vn) viết về con sông Vệ của Trần Anh Thái: “Tôi hiểu: đây là cuộc chiến tranh sau chiến tranh, là mất mát sau mất mát, những nỗi đau sau những nỗi đau. Chúng ta đã cách chiến tranh 32 năm, nhưng Đình Cương hay sông Vệ vẫn còn đó, những ai cùng chia sẻ với ta những tháng ngày”.

Không ai muốn chiến tranh. Chiến tranh là phương thức duy nhất để giải quyết vấn đề khi bế tắc nhưng nó cũng là phương thức thấp hèn nhất, dã man nhất của con người khi tự hủy diệt nhau. Những nhà văn, nhà thơ nhân bản trên thế giới đều hướng về một ước mơ khi nói về chiến tranh. “Giã từ vũ khí” (A Farewell to Arms) của nhà văn Mỹ lừng danh Ernest Miller Hemingway (Nobel văn học 1954) không hẹn mà gặp “Một mai giã từ vũ khí“, một ca khúc rung động trái tim người lính dù bất cứ tuyến nào về hai mặt đền ơn sông núi và mong ước cuộc đời lao động hiền lương của nhạc sĩ Trần Nhật Ngân (Trịnh Lâm Ngân):

Trả súng đạn này, ôi sạch nợ sông núi rồi
Anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao
Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu
Với cây đa khóm trúc hàng cau
Với con đê có chiếc cầu tre
Ðã bao năm vắng chân anh
Nên trở thành hoang phế rong rêu
… Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm
Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn
Bạn anh đó đang say ngủ yên
Xin cám ơn ! Xin cám ơn ! Người nằm xuống.
Lời “cám ơn” chân thật như thế đủ nghĩa cử cuộc đời, không cần hứa hẹn “làm cỏ, làm cây“, làm chim, làm hoa, làm bướm lượn quanh người chết! Thi, ca nhạc với ngôn từ không chọn lọc, thiếu ẩn dụ mà thừa ngoa dụ trong việc thể hiện cảm xúc vẫn là những lưỡi kiếm sắc lạnh chẻ đôi sợi tóc của “vô tình kiếm khách” văn chương!

Lại Nguyên Ân trong “Ngôn từ nghệ thuật” (trang 1091, sđd) đã nêu: “Tiêu biểu cho ngôn từ nghệ thuật là sử dụng liên tục chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ, do chỗ nó có nhiệm vụ thể hiện ý đồ của tác giả…việc sử dụng tỷ dụ, ẩn dụ v.v…đều trở nên có tính tự trị tương đối, có giá trị thẩm mỹ riêng.”

Chiến tranh đã qua, đang có hay sẽ tới thì vẫn bấy nhiêu cảm nhận, bấy nhiêu ân tình tiềm tàng, ẩn hiện hay lộ thiên tùy vào khả năng rung động khi cầm bút của chính tác giả. Người làm công việc đệm đàn hay viết hợp âm cho thơ chỉ có thể dựa vào những máu thịt có sẵn của thi ca mà thêm chút tiêu hành ớt tỏi. Rất có thể làm cho người đọc rưng rưng… . Rất có thể mang lại nụ cười một chút gì cảm thông, một chút niềm tin từ trái tim mình thắp sáng hy vọng cho nhau. Đó cũng chính là nét nhân bản.

b. Nét nhân bản hiếm hoi:

Cuộc đời lắm phen dối trá. Cái ác được thể nẩy sinh. Trong “Đường tới thành phố“, Hữu Thỉnh một phen bừng tỉnh:

Mẹ ơi , khi con đau đớn nhận ra cái ác là vô cùng
Cũng là lúc con nhận ra sự hữu hạn của lòng tốt
Mảnh ván con bơi là lòng tốt cuối cùng
Trên thế gian đầy bất trắc

Những “bất trắc” đời thường như con virut ăn vào từng mái ấm gia đình của Lê Đạt trong“Cha tôi“:

Cuộc sống hàng ngày nhỏ nhen tàn bạo.
Rác rưởi gia đình miếng cơm manh áo
Tàn phá con người.
Những mơ ước thời xưa như con chim gẫy cánh
Rũ đầu chết ngạt trong bùn
Năm tháng mài mòn bao nhiêu khát vọng.

Còn Hoàng Nhuận Cầm một tay phủi áo quân trường, vừa ngao ngán thế cuộc:

Như cánh chim trong mắt của chân trời

Ta đã chán lời vu vơ, giả dối

Nguyên nhân cái “giả dối” và cái ác? Đấu tranh với cái ác cũng chính là một trong những nét nhân bản vì cái ác triệt tiêu thì con người mới có chuỗi ngày yên lành. Nét nhân bản hiếm hoi thật nhưng không phải không có trong những người lính niềm Nam trong “Ta lính miền Nam” của Trần Hoài Thư:

Ta trở về giáp mặt chiến tranh.
Đồi cháy lửa mặt trời nhuộm lửa.
Thau rượu đế mừng ta thằng lính sữa.
… Đứa gốc người Kinh, đứa Nùng, đứa Thượng…
Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẫng.
Trong túi ta một gói chuồn chuồn.
Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm.
Để thấy miền Nam lính hiền ghê gớm.
hay vẫn có trong người lính Bắc khi đối diện với tàn cuộc của cái ác chiến tranh:

Bó hoa sim tôi hái

Héo rũ bên mồ

Chân nhang vừa qua

Khói bay côi cút.

Rõ ràng, hồn ma bóng quế đã không cô đơn dù người lính chiến thắng dùng từ “côi cút”. Họ vẫn được người bộ hành qua lại thắp nhang. Không tìm được mộ người thân thì mộ người chưa quen cũng coi như là quen biết. “Không đánh thì không quen”, không sống thì sao biết lòng mình đã chết? Khóc người cũng là lúc khóc mình!

Chiếc giếng cạn ngày xưa

Giờ là nấm mồ chín người lính ngụy.

Mồ chôn tập thể là một bằng chứng cái ác của hai bên đối địch và lòng nhân ái của con người mà lịch sử thường vô tình đi sau nỗi đau với nhiều lý lẽ khác nhau có thể là mù mờ để biện minh cho hành động đã rồi trong quá khứ. Trên thế giới, những vụ giết người tàn bạo lập thành tội danh diệt chủng từ thời đế chế Turkey (Thỗ Nhĩ Kỳ), thời kỳ Nazi Germany (Đức quốc xã của Hitle), thời kỳ Cambodia under the Khmer Rouge (Campuchia dưới thời Khờmeđỏ), Irag thời Saddam Hussein, Sudan diệt Darfur và Pakistan…

Tại Việt Nam, vụ thảm sát làng Mỹ Lai – Quảng Ngãi năm 1968, thảm sát Mậu Thân năm 1968, mùa hè đỏ lửa năm 1972, thảm sát Tân Lập 1975… với thêm những mồ chôn tập thể tại Quảng Trị hay Bình Dương hoặc khắp mọi nơi trên dọc đường đất nước nhất là đường Trường Sơn mà nhạc sĩ Trần Chung trong “Bài ca Trường Sơn” đã than thở: “Trường sơn ơi trên đường ta qua không một dấu chân người. Có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác”. “Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô” của Lưu Trọng Lư trong “Tiếng thu” chắc cũng cùng con nai vàng của Trần Chung làm bạn với những nấm mồ vô chủ không tên. Nhắc để làm gì? Câu hỏi này dành cho người trong cuộc!

Những nấm mồ vô danh ấy có thể là chôn vội vàng, có thể là lấp cho xong. Có thể là ta. Có thể là địch. Có thể là ghét. Có thể là thương. Chung quy lại, thương ghét, hận thù đều kết thúc bằng “Nhất đái công thành, vạn cốt khô”! Thái độ chính trị hai bên có khác nhưng nước mắt và nỗi đau người thân, người ở lại đều không thể khác. Người chết không đòi hỏi công lý nhưng kẻ giết người đều phải chịu trách nhiệm trước công lý dù là kẻ “ngoại xâm” hay là người “anh em”. Không phân biệt. Trần Đăng Khoa bỏ súng, cầm cân nẩy mực kiên quyết “trừng phạt” một chiều trong “Trường ca Trừng phạt”:

Phải trừng phạt. Chúng tôi đòi trừng phạt
Những kẻ đã gây ra tội ác!”
Phải! Phải trừng phạt! Hừng hực lửa từ trong tiểu thuyết “Crime and Punishment” (Tội ác và trừng phạt) của Fyodor Dostoevsky? Nhưng ai là người trong sạch thì hãy ném đá vào người đàn bà có tội này? Người đàn bà ngoại tình đã không bị ném đá vì lời xử phạt thông minh, đầy tính Người của Chúa Giêsu! Nhưng hỡi ơi! Khi không còn Chúa nữa thì người đàn bà kia bị ném đá cho tới chết! Xây dựng nhân vật hung ác trong văn học là nguy hiểm vô cùng vì cái ác, cái xấu là những cái dễ bắt chước nhất. Ta có thể hiểu vì sao bây giờ có những bé con đã trở thành “sát nhân”, “hiếp dâm” vị thành niên? Chúng ở ngay trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư… Chúng là sát nhân trên học đường ở Mỹ! Chúng là nạn nhân thời đại văn minh… tiền sử!

Người lính ngụy trong “Khúc Huyền ca” cũng là những nạn nhân chiến tranh. Họ là những con tốt trong một ván cờ chỉ có nước thắng hoặc thua mà không thể huề! Ai từng “học đánh cờ” đều thí tốt chết sạch! Lính ngụy hay lính Ngụy? Danh từ này ở đâu ra? “Bách khoa toàn thư” (vi.wkippedia.org) định nghĩa: “Lính Quốc gia, hay lính Việt Nam Cộng hòa hoặc lính Cộng hòa, là các chiến sỹ thuộc Quân lực Việt Nam cộng hòa, họ còn được gọi là lính ngụy bởi phe đối địch bởi phe Việt cộng”. Họ cũng chết như nhau chứ đâu có phải lính nào được viết hoa thì đạn tới họ thì đạn… dội ra:

Những cái chết vô danh không tên không địa chỉ

… Một vì sao vụt tắt xa mờ

Người lính “bộ đội cụ Hồ” trong “Khúc Huyền ca” duy nhất đã không coi họ là kẻ thù, không dùng từ ngữ rẻ khinh người chết như văn học trước và sau hậu chiến đã dùng. Người lính Bắc gọi người lính Nam đã chết trận là “Anh” – một sự tôn kính tối thiểu đối với kẻ khuất mặt và nhất là những kẻ biết hay phải hy sinh trên bàn cờ thí chốt. Những người lính không phải ai cũng đều tự nguyện. Quân nhân tới tuổi nghĩa vụ, họ xung phong, tình nguyện vào quân đội để thử nghiệm đầu mình tứ chi hay lục phủ ngũ tạng trong sơ cấp ba đến chín tháng quân trường hay thực thự ba năm quân ngũ, hoặc họ bị đẩy ra trận, bị ép ra trận để “Nhất định thắng” cũng chẳng phải là không có cho mỗi quân đội mỗi quốc gia. Đó là một hiện thực không thể tránh né. Văn học phản ánh hiện thực dù là hiện thực tươi như cá biển mới bắt hay đen thui như đêm ba mươi. Chủ yếu là cách giải quyết vấn đề hiện thực mình nêu ra trong tác phẩm của mình có lợi hay có hại cho lợi ích dân tộc và văn học không thể dung chứa sự phản bội niềm tin con người!

Chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi – bên cạnh tính chân thực của các chi tiết – tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình… Chủ nghĩa hiện thực gắn với tinh thần dân chủ“. (Lại Nguyên Ân, Chủ nghĩa hiện thực, trang 281, sđd).

Hoàn cảnh điển hình ở đây là người lính tìm mộ bạn sau chiến tranh. Những cử chỉ, những cảm nghĩ của họ là biểu hiện tính cách sơ khai của dạng thi, thơ trường ca. Trường ca cũng là tác phẩm tự sự. “Tinh thần dân chủ” của tác phẩm sẽ được nhân vật của tác giả tạo thành.

Mẹ các anh ở đâu

Em gái các anh đâu

Câu hỏi của “kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc” rớt vào hư không. Thanh Nam trả lời hộ cho “kẻ thất trận“:

Ta như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bờ
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa…

Lời thơ kẻ thất trận đã“kéo hoàng hôn rã rời“! Họ không còn tư cách đại diện cho đoàn quân Vi-king (chiến thắng) mở cõi. Vậy mà “Mặt đường khát vọng” căm thù cực độ: Thằng Mỹ vào thì xác mà để đấy! Thằng nguỵ vào thì xác nó đừng chôn!”. Mãi cho đến nửa thế kỷ, những người lính đã chết này mới lấy lại tư cách của con người dù đã chết. Cuối cùng, một nghĩa cử cao cả của người lính thắng trận để lại bên đời:

Tôi thắp một nén hương

Tàn nhang quẩn một vòng tròn trống

Hòa bình rồi, nếu ai có “nghĩa cử” cao đẹp ấy thì khi nào có dịp hãy tới nghĩa trang Biên Hòa xã Bình An, Huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương để “thắp một nén nhang” cho người lính anh em da vàng máu đỏ hòng xóa tan “lòng thù hận ngút trời” vì “sông núi bao nhiêu năm tách rời” mà ca khúc “Giải phóng miền Nam” của Lưu Hữu Phước vang lên trong mỗi tiết chào cờ thời chưa thay quốc ca chung. Người quân tử lấy độ lượng cảm hóa người. Kẻ tiểu nhân lấy “lượng” mà độ… người! Lòng nhân hậu cuối xuống cảm thông. Dạ người ác nhìn lên ngoe ngẩy. “Chiến tranh không có con đường thứ ba” chỉ có thể là Ta và chỉ có thể là Địch. Nhưng một chân lý sinh ra từ trong cái chết: Những người đã được chết trên trận địa là anh hùng! Không phân biệt kẻ thắng hoặc thua!

HenRy Grantland Rice (1880-1954), nhà hoạt động sáng tạo nghệ thuật Mỹ đã nói: “It’s not whether you win or lose, but how you play the” nghĩa là vấn đề không phải là thắng hay bại mà là ở phong độ.

Thử nghĩ, Saddam Hussein bị công lý Irag treo cổ là đúng tội nhưng người ta nhìn thấy trực diện một cái chết thê thảm nháy mắt như thế không khỏi không bùi ngùi. Tình người là thế! Kẻ ác khi sống ăn gan mổ bụng người nhưng khi chết, người lại đứng với con mắt rưng rưng… Kiếp người thoáng qua như mưa sa, như tuyết đổ! Không nguyền rủa người chết thêm sau khi họ chết, đó là phong độ quân tử! Người lính trong “Khúc Huyền ca” của Trần Anh Thái qua hình ảnh anh lính thắng trận đã có “phong độ” khi thắp nén hương, khi nhận định về cái chết:

Cái chết sinh sôi mù tối kiêu căng tham vọng mê cuồng

Máu vẫn rơi mặt đất tanh nồng dục vọng

Vinh danh người nằm xuống, là ai, bạn hay thù đều thể hiện“phong độ” nhân bản như nhau. Trịnh Công Sơn vinh danh họ trong “Cho một người vừa nằm xuống” nhưng thực ra, cho tất cả những ai cầm súng cho một lý tưởng, một mục tiêu (taget) nhất định:

Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây, đã vui chơi trong cuộc đời này đã bay cao trong vòm trời đầy.
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai, không có ai, từng ngày,

không có ai đời đời ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!
Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn.
Đất ôm anh đưa vào cội nguồn
…Anh nằm xuống, như một lần vào viễn du
Đứa con xưa đã tìm về nhà
Đất hoang vu khép lại hẹn hò
Người thành phố, trong một ngày, đã nhắc tên
Những sớm mai, lửa đạn, những máu xương chập chùng
Xin cho một người vừa nằm xuống thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang.

Không lời thật nào hơn thế nữa ngay cả dùng trong chiến tranh Irag lúc này! Những cái chết đưa con người về với cảm nhận khác nhau trên đối kháng nhưng giống nhau ở một kiếp người. Tư tưởng nhân bản đó đã đưa con người lại gần với nhau hơn. “Khúc Huyền ca” một lần nữa lại đi theo khuynh hướng này của tác giả.

Cảm nhận của anh lính thắng trận ngậm ngùi trước những đớn đau đã lên đỉnh cao:

Phía trước cánh đồng

Mơ màng đỉnh khói

Vĩnh cửu những giấc mơ không kết thúc mở đầu

Sự đối lập những tinh khôi, thơ ngây, đẹp đẽ, không giai cấp mọc lên trên những máu xương người hy sinh:

Những chùm hoa dại trắng tinh trên vết máu chiến hào

Những hy sinh vô danh đó trôi theo thời gian chiến tranh và “thời gian làm mờ kỷ niệm”. Không ai sống mãi với những kỷ niệm đau buồn. Cuộc đời cần có điểm tựa, con người cần có hy vọng. “Thà thắp lên một ngọn nến còn hơn nguyền rủa bóng tối” để “cho một người vừa nằm xuống thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang”: Lời kết rộng mở về thế giới không giai cấp, không hận thù. Thế giới này, nó chỉ có khi ta trở về cát bụi mà thôi!.

Nhà thơ Trần Ninh Hồ với “Giá trị đích thực của thơ: Sự trong trẻo” trả lời phỏng vấn của tuoitre.com.vn nhận định: “Trần Anh Thái làm phong phú tinh thần của người lính. Thơ anh không chỉ có khung cảnh của chiến trường, thao trường, mà còn có hình ảnh của cả một vùng quê cảm động và đáng nhớ của riêng anh. Thơ của Trần Anh Thái có thể trở thành hành trang của người lính”.

Xét theo giá trị nhân bản, bản trường ca “Ngày đang mở sáng” hay “Khúc Huyền ca” của Trần Anh Thái hòa âm với những bản trường ca khác cùng khuynh hướng, cùng giá trị thẩm mỹ nhất định mãi là gia tài của văn học – dòng văn học không biên giới về sức sống mãnh liệt của con người với tính tư tưởng đậm nét thời đại.

Nguyễn Xuân Nam viết: “Các tác phẩm ưu tú trong văn học thế giới đều mang đậm tính tư tưởng: nỗi đau và niềm vui của con người trên đường đi tìm chân lý, đi tìm lý do tồn tại của mình, khát vọng muôn đời về tự do hạnh phúc, cuộc đấu tranh cho cái đẹp và những ước mơ con người” (Tính tư tưởng, trang 1743, sđd).

“Khúc Huyền ca” có hay không có những “khát vọng muôn đời về tự do hạnh phúc” hay “ước mơ con người?. Có hay không có, chẳng thể nào tùy tiện ai cho mà bản thân tác phẩm tự nó có tiếng nói riêng của nó bằng ngôn ngữ thi ca, như một bản tình ca có riêng 7 nốt nhạc của nó. Tiếng nói tư tưởng vượt thời đại chính là nêu bật sức sống mãnh liệt của con người.

D. Sức sống mãnh liệt của con người: