4. Những dòng riêng cho ĐTT:

Riêng Th, cô gái tiểu tư sản trí thức vô cùng may mắn được “chết đúng lúc” giữa độ tuổi mãi thanh xuân trong khi những hy sinh còn lạc loài hồn phách không nơi nương tựa trên khắp nẻo đường đất nước.

Những huân chương? Xin người đời cứ cất lấy làm kỷ niệm vì cuộc đời Th chỉ mong ước duy nhất là hòa bình và ước mơ hạnh phúc. Hạnh phúc về một mái ấm gia đình riêng tư đã vì cuộc chiến tranh mà vùi trong bom đạn thì hãy coi như bầu trời thương yêu này, thế giới này là ”mái ấm gia đình”, Th đã về yên nghĩ nghìn thu nơi mẹ đã ru Th những lời đầu tiên và vẫn còn ru cho đến suốt đời. Huế – Hà Nội một thời đã xa, nay đã về trong yêu thương.

Ta chìa bàn tay xa lạ từ bên kia đại dương cho Th nắm lấy như mong ước cuối cùng của Th trước phút đi xa: “Hãy đến với mình, nắm chặt bàn tay trong lúc cô đơn, truyền cho mình tình thương và sức mạnh để vượt qua những chặng đường gian khổ trước mắt”.

Người đời nhìn Th qua cuốn nhật ký bị cắt xén được xuất bản với con số kỷ lục thế kỷ mà ”khâm phục”. Ta nhìn vể chiều sâu cuốn nhật ký để thấy nỗi lòng và khát vọng của Th mà chia xẻ cùng Th “những nỗi niềm riêng một đời giấu kín”, có ”như rong, như rêu” thì Th cũng không đem mà “hoán vị” bằng tiền bạc phải không?

Khát khao được sống và được yêu làm trái tim nhân hậu của Th có lửa. Hãy biến ngọn lửa căm thù ấy thành ngọn hải đăng giữa lòng biển cả. Hãy chìa tay để nắm lấy những bàn tay cô đơn lạnh lẽo mà chuyển cho họ “hơi ấm tình thương”. Thành phố buồn không biết bạn hay thù, thành phố buồn là một cõi thiên thu mà ai cũng sẽ một lần viếng thăm và ở lại mãi mãi. Hãy nắm lấy bàn tay của những người bỏ mình trong lửa đạn, thiên tai cả những hồn ma, bóng quế không cửa không nhà. Họ chính là những người xứng đáng để được Th nắm tay vì bàn tay họ sinh ra không phải để nắm bạc tiền – thứ mà có nó, lương tâm con người trở thành tù nhân và lý trí đã bị dạt vào lãnh cung lạnh lẽo. “Đừng nguyền rủa bóng tối mà hãy thắp lên ánh sáng“. Đấy mới là cái đích của cuộc đời.

C. “NHẬT KÝ Đ.T.T’: HIỆN THỰC VÀ NGHI VẤN:

I. Hiện thực: Một thời kỳ chống thực dân Pháp kéo dài một trăm năm đã đi qua cuộc đời người con gái mang tên Đặng Thùy Trâm (Đ.T.T). Chế độ “chặt đầu, lột da” đó đã làm cho người dân Việt Nam đều muốn “ăn gan, cắn cổ”. Những phong trào chống pháp cũng chìm trong bể máu. Kẻ bán mạng làm tay sai cho Pháp cũng nhiều và người chống lại không ít. Đầu rơi, máu đổ, nhà tan cửa nát, cuộc sống lầm than. Nạn đói hai triệu người chết năm 1945 đã ra đời những tổ chức cách mạng mà “Việt Minh” khi bí mật, khi công khai, giỏi tuyên truyền đã thu hút lực lượng mọi thành phần Việt Nam tham gia cách mạng để đánh giặc giữ nước. Từ ”cách mạng” thời đó chỉ chung cho những tổ chức chống giặc chứ không chỉ dùng riêng cho chế độ như bây giờ.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp 1954, tinh thần cách mạng đỏ vẫn còn sôi sục. Mỹ thế chân Pháp tại Việt Nam không đúng lúc và là một sai lầm không biện minh. Hận thù của nhân dân miền Bắc gấp đôi khi Mỹ oanh tạc miền Bắc bằng B52 tối tân năm 1965 với ”chiến tranh đặc biệt” thời tổng thống Johnson. Nội bộ VNCH mười lần thi nhau đảo chánh khiến cho quân lực phân tâm đã dọn đường cho sự thất bại của ”chiến tranh cục bộ” ( 65-68) và bay trốc gốc “Việt Nam hóa chiến tranh” ( 69-73) của Nicxon.

Một thời chống Mỹ đã để lại xương tàn, hồn ma cô lẽ cho những con người kẹt giữa hai lằn đạn và chôn vùi biết bao giờ cô gái trong lứa tuổi thanh xuân. Sau ”Mãi mãi tuổi hai mươi”, nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc năm 2004 là cuốn “Nhật ký Đ.T.T” đang còn nhiều dấu hỏi đã dậy lên hiện tượng Đ.T.T với số phận kỳ lạ của cuốn nhật ký sau ba mươi lăm năm được lưu giữ tại trường Đại học ở Texas – Mỹ.

Một bệnh viện tại Đức Phổ – Quảng Ngãi mang tên bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Một ngôi mộ tại nghĩa trang Từ Liêm – Hà Nội có tên liệt sĩ Đặng Thùy Trâm “mãi mãi tuổi xuân”. Một cuốn nhật ký mang tên “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” của nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam năm 2005. Người chết được “danh”, người sống được “lợi”. Sự thật trần trụi về những mảnh đời chấp vá nên sách cũng vá, bất chấp dư luận này ra sao?

II. Một sự thật :

1. Sơ lược tiểu sử và những bài viết mở đầu: (Tổng hợp):

Đặng Thùy Trâm (Đ.T.T) sinh ngày 26-11-1942 tại Huế, lớn lên trong một gia đình trí thức ở Hà Nội. Bố là bác sĩ ngoại khoa Dương Ngọc Khuê. Mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm. Em gái Đặng Phương Trâm, Đặng Hiền Trâm, Đặng Kim Trâm và em trai Đặng Ngọc Quang mất tại Liên xô năm hai mươi ba tuổi. Bản thân Đ.T.T là một bác sĩ khoa mắt. Đ.T.T đã xung phong vào chiến trường Quảng Ngãi tháng 11 năm 1966 và hy sinh ngày 22-6-1970 tại Ba Tơ, Đức Phổ – Quảng Ngãi ở tuổi hai mươi bảy. Ghi nhận: Tuổi Đảng hai năm, tuổi nghề ba năm. Tuyên thưởng: Huân chương chống Mỹ hạng nhì.

Sau đó không ai biết gì, viết gì, nói gì nữa cả mãi cho tới 1995 tức 25 năm sau có được ba người viết và đến 2004 có một người viết.

– Người thứ 1: Nguyên Ngọc với “Có một con đường mòn trên biển Đông” (nhà XB Hà Nội) ghi lại lời kể của Đại tá Nguyễn Đức Thắng – anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: “Bệnh xá Đức Phổ – Quảng Ngãi… có một cô bác sĩ người Hà Nội chỉ huy bệnh xá ấy, bám trụ đến gan lì… cho đến ngày chị hy sinh”.

– Người thứ 2: Vinh Thu với “Đi tìm Sulico” báo Tiền Phong số 14, 15,16 ngày 4-4-1995 ghi chép tản mạn về cuộc đời Th cho đến lúc hy sinh.

– Người thứ 3: Trầm Hương “Ai biết liệt sĩ Đặng thùy Trâm” báo PNTĐ số 51 ngày 22-29.12.2004. Tác giả là người miền Nam cảm kích bất tận về liệt sĩ, bác sĩ Trâm nên cố lưu lại Hà Nội tìm kiếm tông tích nhưng vô vọng nên viết bài kêu gọi mọi độc giả “ai biết xin nói dùm”.

– Người thứ 4: Trương Thị Kim Dung với bài “Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm mãi mãi tuổi thanh xuân”, báo PNTĐ năm 2004 , viết theo lời kể của Ngô Xuân Huy – người bạn Th năm xưa và là người “xung phong” đi bộ đội với quyết tâm trả thù cho Trâm.

Về cái chết của Đ.T.T, những bài viết ấy đều thống nhất ở chỗ: Gặp địch, chiến đấu và hy sinh nhưng chi tiết hy sinh khác nhau:

– Theo Vinh Thu: 4h15′ chỉ một người sống sót trong tốp cán bộ bốn người.

– Theo báo cáo tình báo quân sự tiểu đoàn 4, sư đoàn bộ binh số 21 Mỹ ở Đức Phổ trang 290 (Nhật ký Đ.T.T): Phát hiện bốn người tại vị trí BS 0305 bắn chết một người phụ nữ, những người còn lại chạy thoát theo đường mòn. Lấy một nhật ký.

– Theo nhật ký Th ghi lại thì chỉ còn Th và hai chị nữa bị lạc trong rừng. Nghĩa là chỉ tổ ba người phụ nữ mà thôi.

2. Lần theo dấu vết nhật ký:

* Qua lời kể: Tổng hợp từ các bài viết trên các web và báo chí trong, ngoài nước.

– Hai cuốn sổ ghi nhật ký của Đặng Thùy Trâm đều do anh Nguyễn Trung Hiếu (phiên dịch tiếng Anh – nguời Sài Gòn thuộc đơn vị tình báo quân sự số 635 của Mỹ) đưa cho Fred.

– Frederic Whitehurst (Fred) sĩ quan quân sự tình báo Mỹ tại Đức Phổ – Quảng Ngãi 1969-1971 (theo ”Nhật ký Đ.T.T” trang 20) nguời đã giữ hai cuốn nhật ký của ĐTT cùng với em là Robert Whitehurst.

– Truớc khi về nước 1973, Fred đã đưa nó cho một nguời bạn cùng đơn vị ở Đức Phổ, vợ người Hà Nội và nhờ dịch ra tiếng Anh. Mấy chục năm sau, bạn Fred là anh Ted Englemann đã cùng cô vợ đó định cư ở California gọi Fred trao trả hai cuốn nhật ký vài năm gần đây. Fred đã dùng máy “quét” chụp lại rồi giao cho Robert dịch (không rõ bản dịch tiếng Việt hay tiếng Anh, Robert có học tiếng Việt không? Có ai trợ giúp dịch? Không biết bản dịch đó giờ ở đâu?).

– Trong một cuộc thuyết trình ở Đại Học Texas, Fred đã tặng chúng cho “phòng lưu giữ các tài liệu về chiến tranh Việt Nam” .

– Nguời đã nhìn thấy hai cuốn sổ đó là Bảo Ninh, tác giả cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” tại Đại Học Texas, Mỹ.

– Sau đó Fred đã gởi CD copy nhật ký về cho gia đình Đặng Thùy Trâm vào đúng dịp 30.4.2005. (Theo “Di sản ĐTT” của Frederic Whitehurst).

III. “Nhật ký Đ.T.T” với con sốt từ hai phía : Hâm mộ và nghi vấn.

Nhật ký Đ.T.T” theo sau cuốn “nhật ký” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc “Mãi mãi tuổi hai mươi” gây một bùng nổ về nhật ký. Đây là cuốn nhật ký bán chạy nhất trong bốn mươi năm văn nghệ theo Vương Trí Nhàn – nguời bạn – nguời biên tập cùng Đặng Kim Trâm, em gái Thùy Trâm.

Nổi tiếng và tai tiếng đã thành “mốt” cho bất cứ một nhân vật, tác phẩm nào.

1. Xét về nội dung cơ bản:

”Nhật ký Đ.T.T” là một cuốn sách có giá trị tư liệu về một cuộc chiến tranh chống Mỹ tại một huyện Đức Phổ – Quảng Ngãi. Nhân vật là một nữ bác sĩ Hà Nội xung phong vào Nam theo tiếng gọi “Tình yêu và Tổ quốc” . Trong nhật ký, Th đã bày tỏ nỗi lòng của mình về lý tuởng cách mạng, về Đảng, Bác về chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng như những mặt tốt và xấu của con nguời, đồng chí, đồng nghiệp, thương binh ở huyện Đức Phổ và ngay trong trạm xá của Th. Nội dung chính cuốn nhật ký là uớc mơ hòa bình và khát vọng tình yêu nhân đạo (tuy chưa đạt đến tầm vóc “dân tộc” và tư tưởng “nhân bản” quốc tế).

Nhìn chung, nội dung những trang nhật ký của liệt sĩ thì quanh đi quẩn lại chỉ có bấy nhiêu. Sự bay bỗng của cuốn sách này chính là “số phận kỳ lạ” của nó. Nếu nhật ký của Nguyễn Văn Thạc sau ba mươi ba năm được trao trả lại từ người yêu cũ là Như Anh định cư ở Đức thì cuốn nhật ký của Đ.T.T có liên quan tới những người được coi là ”kẻ thù dân tộc Việt Nam” và người anh em bên kia vĩ tuyến 17 trong tư cách chỉ là những kẻ thua trận. Nhưng kẻ bị coi là “loài qủy dữ khát máu người” lại chính là những người có trái tim nhân đạo đã gìn giữ cuốn nhật ký suốt ba mươi lăm năm qua. Ly kỳ và huyền hoặc đã kích thích sự tò mò của người dân. Thương tâm và cảm động làm sụt sùi nguời đọc. Sự kiện chưa thống nhất đã gây những dư luận với nhiều nghi vấn về sự trung thực của một cuốn nhật ký mà tầm cỡ của nó đã vượt đại dương. Cho nên, một thao tác cẩn thận khi biên tập, một thái độ nghiêm túc khi ấn bản là điều cần làm.

Báo Thanh Niên đăng “Nhật ký Đ.T.T” đầu tiên. Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam in sách “Nhật ký Đ.T.T” đầu tiên. Tính đến nay mới nửa năm mà bài viết ca ngợi đã coi như vuợt kỷ lục bỏ xa ”Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh và năm tập thơ Tố Hữu thời mới “ra mắt” độc giả. Một số người biết về Đ.T.T một thời im hơi lặng tiếng nay có dịp lên tiếng “nhận bạn bè”!?

a. Sơ lượt những bài khen tuyệt đối:

– Tuờng thuật của Nguyễn Hùng với “Cơn sốt nhật ký có lửa” (BBC vietnamese.com).

– Ngọc Tấn với “Đặng Thùy Trâm qua lời kể của nguời chị kết nghĩa” (vietnam.net).

– Tùng Lâm với “Cảm nhận từ lời phát biểu của Ngô lê hoàng Phương đọc hai cuốn nhật ký của ĐTT và N.V.Thạc” (vietnam.net).

– Vương Trí Nhàn với ”Lời giới thiệu Nhật ký Đặng Thùy Trâm” (talawas.org).

– Lê Thành Giai “Chuyện về ĐTT viết từ Mỹ” Đặng Ngọc Khoa giới thiệu (thanhnien.com).

– Uyên Ly với một loạt bài viết kể lại hành trình sang Mỹ tìm Nguyễn Trung Hiếu với tư cách là nữ phóng viên báo Tuổi trẻ (thanhnien.com).

– Cấp lãnh đạo nhà nước Việt Nam (cũ và mới Võ Nguyên Giáp, Phan Văn Khải) đã viết thư, phát biểu ca ngợi, nâng cấp cuốn sách “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” mang tầm vóc quốc tế. (thanhnien.com).

– Fred “Di sản Đặng Thùy Trâm” (talawas.org).

– Hoài Việt với ”Và em, Tuổi hai mươi: Tản mạn về cuốn ‘Nhật ký tuổi hai mươi”’. (Cuốn này là nhật ký của Nguyễn Văn Thạc không hiểu sao tác giả dùng để hầu như nói về Đặng Thùy Trâm?) (giaodiem.com).

– Nguyễn Đắc Xuân với ”Ngôi nhà thờ họ Đặng của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm ở Huế” (giaodiem.com).

Những nguời Mỹ luôn có thiện chí hòa bình và tấm lòng huớng thiện. Họ muốn làm một điều gì đó để xoa dịu một thời chiến tranh.Với họ, những kẻ hy sinh như Th là anh hùng. Họ kính nể Th cũng như kính nể những người khoát áo nhà binh của họ và cả thế giới. Họ khen không lầm lẫn.

Nguời Việt Nam không phải ai ai cũng “thấy nguời sang bắt quàng làm họ“. Một số đã nhìn ra có cái gì “lộm cộm” từ cuốn nhật ký được coi là ”có số phận kỳ lạ” vuợt hai lần đại dương này. ”Khen, chê đúng mực nói năng phải lời” nên họ cẩn thận với từng trang nhật ký khi được đọc. Bởi lẽ, nhật ký cần sự thật một trăm phần trăm. Nhật ký của một cô gái, của một liệt sĩ và bác sĩ có số phận bất hạnh, tuyệt đối cần phải được tôn trọng. Trên lập truờng “chân thật” để xét “tính chân thật” của một cuốn sách (thường lỗi sơ sót về tác giả, in ấn). Nhưng ở đây, tác giả tạm coi như tương đối với nội dung, ghi ra từng sự kiện, sự việc kể cả “trung thực” trong sai sót chính tả, câu văn. “Tính chân thật” của tác phẩm dạng nhật ký như “Nhật ký Đ.T.T” đã bị vi phạm, đã được một số người có lòng tự trọng, có sự nâng niu những dòng chữ được coi như một lời trối trăn của Th, phát hiện ra.

“Giấy không bọc đuợc lửa“, cây kim trong áo có ngày lòi ra nhưng nó lòi ra quá sớm. Sự trung thực bị xé vỡ từ phía những nguời biên tập: Đó là Vương Trí Nhàn; đó là Đặng Kim Trâm; đó là Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam nơi cấp giấy phép. Một sự tùy tiện không thể cho qua. Một thái độ chưa coi trọng độc giả cần chấn chỉnh. Kẻ khóc mình ba mươi lăm năm truớc, nay khóc sách mình ba mươi lăm năm sau coi như được “chết hai lần thịt da nát tan”.

b. Dư luận:

Bắt đầu, trời đang quang đãng bỗng mây đen xuất hiện:

– Bùi Minh Quốc với “Thư ngỏ gởi các bạn trẻ Việt Nam và hai bạn Mỹ Fred, Robert”.

– Lê Nguyễn: “Mấy cảm nghĩ nhân đọc: ‘Thư ngỏ …”.

– Trần Trung Đạo: “Từ Thép đã tôi thế đấy đến Nhật ký Đặng Thùy Trâm, những uớc mơ bị phản bội”.

Chúng ta khoan xét nội dung. Chúng ta hãy coi trời kéo mây và bắt đầu mưa..

– Trận mưa bắt đầu bằng Phạm Hoàng Quân với “Biên soạn nhật ký?”. Tác giả phát hiện những khác biệt về di bút của Đ.T.T bản chụp của Fred so với bản in và phát hiện dòng nhật ký ở trang bìa không có in trong cuốn sách (dùng kính lúp soi).

– Mưa kèm gió bởi Nguyễn Ngọc Giao với “Nhật ký Đặng Thùy Trâm: So sánh nguyên tác và ấn bản”. Tác giả tiến lên một buớc: So sánh nguyên bản và bản đã phát hành để phát hiện “Nhật ký Đ.T.T” có bị xáo trộn, bị cắt bỏ, bị dán ráp cả chữ và hình.

Kết luận: Đòi hỏi “ấn bản tuyệt đối trung thành với nguyên tác”. Hai con mưa và mưa kèm gió này đến giờ này thật chỉ mới làm “mát mẻ” hội đồng in sách “Nhật ký Đ.T.T“. Kiểu “kiến đen” này cắn chả “nhằm nhò” gì nên biên tập… “phớt tỉnh ăng lê” vì theo Vương Trí Nhàn (đài BBC phỏng vấn – Theo Nguyễn Ngọc Giao) thì Đặng Kim Trâm đã khẳng định “dám chịu trách nhiệm và không sợ thách thức dư luận”. Có nghĩa là ”thích thì mua đọc chơi không thích thì thôi, tra hỏi lôi thôi gì!”. Đúng là một “anh hùng” trên chiến trận biên tập nhật ký nguời chết không sợ mưa gió bão táp hay dư luận búa rìu!

2. Sự thật Đ.T.T có mấy cuốn nhật ký?:

Ai cũng công nhận Th có thói quen viết nhật ký từ thời đi học. Hãy chịu khó đọc và bình tĩnh suy nghĩ từng câu chữ của Th sẽ đưa ta đi tìm Đ.T.T có mấy cuốn nhật ký? Th viết ngày 15/1/70 trang 216 (tức là cuốn một Đ.T.T đang ghi chép):

– “Trở lại Đồng Răm. Mình đã tạm biệt nơi đây ngày 28/4/69 khi mà tạm xá bị địch tập kích vào… Giặc đã cướp của mình hai quyển nhật ký. Đó là hai quyển cộng thêm quyển đang chép những dòng báo cáo mất này là ba quyển.

– Trang 290, báo cáo tình báo quân sự Mỹ ghi “Nguời bị bắn chết là một nữ giới… có một nhật ký ghi từ ngày 31/12/69 tới ngày 20/6/70”. Tức là bao gồm hai quyển mất? Chỉ số ghi lại cho ta thấy cuốn nhật ký này Mỹ lấy được sau khi Đ.T.T chết có 5 tháng 20 ngày. Đây là cuốn thứ tư (cũng chính là gần một nửa của ”Nhật ký Đ.T.T”).

– Từ lúc mất hai quyển nhật ký ngày 28/4/9 đến ngày 31/12/69 khoảng giữa thời gian này, dĩ nhiên Th đã lấy quyển sổ khác viết tiếp trang 29/4/69 (vì mất rồi còn đâu mà tiếp tục viết?).

Đây là cuốn thứ ba đã nói trên đầu phần c.

Nếu Fred không vi phạm sự “trung thực” thì Th là nguời ghi sai hoặc là nguời viết lại “hồi ký”. Ta đọc kỹ những câu sau của Đ.T.T “Tuy đã mất những trang sổ vô giá đó, nhưng còn một quyển quý hơn cả, đó là bộ óc của mình, nó sẽ ghi lại toàn bộ những điều nó đã tiếp thu đuợc trong cuộc sống”. Có thể cuộc thử nghiệm DNA như một số nguời nói chơi e rằng thành sự thật.

– Khẳng định: Th có tất cả ít nhất bốn cuốn nhật ký. Giả thuyết: Th đã viết nhật ký dạng hồi ký. Phủ định: Nguời Mỹ không thật trong truờng hợp này. (xem phần cuối ”Hồi ký” hay ”Nhật ký ?”)

Bây giờ xin điểm qua những “con mưa”, mưa gió và thành “bão”, điều không ai mong – đến với “Nhật ký Đ.T.T”.

3. Mức độ trung thực nhật ký và phục hồi nguyên bản:

a. Mức độ chính xác, trung thực của cuốn ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm” :

Bản chép tay cuốn một của Đ.T.T như sau:

– Trang mở đầu: Bên phải chữ ký tên chính thức đầy đủ: Đặng Thùy Trâm với dấu gạch đít đậm. Bên trái song song là dòng chữ: ”Những ngày rực lửa vui, buồn đọng giữa tim ta”‘ với chữ ký tắt.

Chữ ký tắt và dòng chữ này (trang 2/123 trên mạng) đã được ban biên tập ”hô biến” mất tiêu để nhường chỗ cho câu nói của Hoàng Văn Thụ và ”thổi” bay sang trang bìa cho cuốn 1970.

– Trang 3/123 (trang trên mạng) nghĩa là trang bản tay chưa đánh ngày, bên phải là câu nói của N.A.Ostrotsky.

– Trang 4/123 có câu: ”Đời phải trải qua giông tố nhưng chớ cuối đầu trước giông tố”. Ban biên tập chắc muốn ”tiết kiệm” ngân sách cho nhà nước nên góp hai thành một trang.

– Trang 5/123 mở đầu ngày 8.4.1968 (Tức bắt đầu trang 1 của nhật ký chép tay với số thứ tự được Đ.T.T đánh vào giữa trang).

– Toàn bộ bản chụp chính được lót trên một trang nhật ký khác lòi ra bên tay phải đến trang 6 và 7 của nhật ký thì mất. Sau đó xuất hiện vài trang kế tiếp.

– Trang 6 bản tay rất rõ ràng, mắt lé cũng đọc ra hàng số: 15.4.68 nhưng không hiểu sao sách in trang 37 tới chữ số đó chỉ ghi: ”….68 (10)” chú thích “con số mờ không đọc được” làm y như biên tập thật thà từng câu, từng số. Câu bị ”ăn thịt” trong trang này là: ”Mẹ San đã đồng ý cho người con duy nhất của bà đi bộ đội ”. Chắc tại ghét bà mẹ gì ác thế, có đứa con một mà cũng tống ra trận nên biên tập cắt!?

– Trang 8 bản chép tay xuất hiện trang được dùng ”lót” lại cũng là trang có ghi ngày 15.4.68 nằm bên trái liên tục đến những trang sau.

– Trang 14 ngày 1.5.68 tức trang 44 của sách in có chữ tắt ”KN” mà biên tập chú thích ”Không đọc rõ”. Lẽ ra, phải ghi là ”không hiểu ý nghĩa chữ viết tắt này” đúng hơn. Đọc nguyên câu ai không hiểu đó là viết tắt chữ ”Kỷ Niệm”. Câu hát bị bắt ”câm cái mồm” trong đoạn này của sách in là: ”Xuống đường xuống đường đập tan bao xích xiềng”.

– Trang tiếp theo có vẽ hình một cành cây có mấy con chim đậu trên đó màu đen vì in đen. Chắc tại vì đó là loại chim ”hắc điểu” nên ban biên tập ”cho mày đi chỗ khác chơi”!

– Ngày 13.5.68 của bản chép tay thành ngày 12.5.68 trang 46 sách in. Chắc con số 13 sui xẻo nên biên tập “cải ngày”!

– Ngày 28.6.68 nguyên bản: ”Không! M.ơi, hãy đi đi, đừng gieo đau buồn lên con tim rớm máu Th. nữa nếu qủa thực giữa chúng ta không thể nào có một hạnh phúc vĩnh viễn dù cả hai chúng ta còn sống sau cuộc chiến tranh này”. Biên tập ngứa mắt, cắt quách liên từ ”nếu qủa thực” biến cái câu ”có điều kiện” trên thành câu ”không điều kiện, điều đình” gì cả, phát một dứt khoát cho xong: ”Giữa chúng ta không thể có hạnh phúc vĩnh viễn …”. Các nhà ngôn ngữ học cũng ”thất kinh” khi có cao thủ sửa câu đang tốt tươi thì quẳng mẹ cái ý chính của tác giả để lấy ý mình cho chắc ăn!!!

– Trang 41 chép tay: ”Cho nên được tham gia vào cuộc CMMN là một vinh dự lớn đối với mình”. Câu này bị cắt trong sách in trang 65 chắc biên tập không muốn mất lòng độc giả MN đây.

– Trang 79 chép tay: ”Những hoạt động xã hội ngày mở rộng đối với mình. Đại hội phụ nữ Tỉnh có mời dự nhưng mình không có điều kiện tham gia. Trong cách bố trí sắp xếp kể ra cũng có nhiều điều chưa hợp lý. Một lần nữa mình hiểu thêm về lòng ghen tỵ của người đời. Vẫn còn có những người không vui khi thấy được đ/c mình tiến lên. Những giây phút lịch sử trong tình chị em, trong đời CM. Hãy nhớ trọn đời nghe em!”. Câu này bị cắt vì ai biểu …”dám nói xấu người đời”!

– 11.11.68 ”Tại sao mình cảm thấy mình buồn da diết khi mọi người lên đường. Không thể nói được rõ vì sao cả. Thực tình mình rất tiếc là không dự những cuộc hội nghị mà nếu có chắc mình sẽ được nghe và thấy nhiều điều đáng quý. Có lợi cho sự tiến bộ của mình. Còn vì sao nữa ư? Muốn phân tích tình cảm cho thực rõ ràng mà cuối cùng cũng chỉ kết luận được rằng: có một nỗi buồn da diết khi chia tay. Có một nỗi nhớ mênh mông khi xa cách và 1 sự lo lắng khắc khoải trong lòng.

Cùng những ngày này năm ngoái khi rời Phổ Hiệp ra đi mình ngạc nhiên hỏi lại mình rằng: Tại sao chỉ là tình cảm chị em mà con tim mình lại rung động một cách sâu sa đến vậy. Bây giờ mình lại một lần nữa lập lại câu hỏi đó. Câu trả lời thì chỉ có một điều là vì tình cảm căng mọng tràn trái tim mình cho nên dù chỉ là một tình cảm CM cũng đủ làm mình xao xuyến rung động.

Thùy ơi! cô gái giàu lòng yêu thương kia ơi! Đôi mắt cô đừng long lanh nước mắt, dù là nước mắt tập trung của rất nhiều nỗi buồn đọng về trong đó. Cô hãy cười như nụ cười luôn nở trên môi, đừng để ai đó tìm được sau nụ cười ấy 1 tiếng thở dài. 25 tuổi rồi, hãy vững vàng chín chắn với tuổi đó”.

Một mong mỏi học hỏi tiến bộ. Một câu hỏi thương yêu mà phải kiềm chế, cố giấu đi nỗi lòng buồn phiền và khao khát. Trời ơi! Những câu nội tâm đáng đồng tiền bát gạo như vậy ”mắc mớ chi ông cha nó” mà cắt ”bụp” trụm lụm?

– 16.11.68… ”Vì tình cảm bao la của người CM” chắc ”nói xạo” nên bị cắt đuôi.

– 26.11.68 và 26.11.69 bản chép tay có vẽ một cành lá 13 chiếc (lại con số 13 nên bị cắt là phải) đặt ngay trên ngày tháng như Đ.T.T tự mừng sinh nhật.

– 6.12.68 chép tay viết: ”Cả công tác Đ” sang sách in được sửa ”Công tác điều trị” (Thật ra, điều trị cái gì đâu? Đó là “Công tác Đảng”, “Công tác Đoàn” đó thôi.) Suy diễn của biên tập không hợp với nguyên văn trong nhật ký chép tay của Đ.T.T.

– 7.12.68 chép tay: ”Gặp Thường, rất lâu rồi mới được ngồi bên em nói chuyện cùng em như những ngày công tác dưới đồng bằng. 1năm qua trong xa cách, chị vui sướng thấy rằng mỗi chị em mình đều bước đi những bước trưởng thành. Và tình chị em cũng đã lớn lên dày dạn với thời gian. Vững vàng trước sóng gió. Hãy vun xới cho tình cảm ấy lớn lên và lớn mãi nghe em”.

Câu người ta viết chân thành như thế cũng cắt bỏ chắc biên tập ”không ưa” thằng em này của Đ.T.T cứ bị địch “bắt đi, bắt lại ” hoài chẳng đánh đấm được bao nhiêu!

– 1.1.69 Trang này, Th viết tiếp như thường chớ không tách riêng như sách in. Bản chép tay ghi đủ sáu câu thơ chúc tết của Hồ Chủ Tịch nhưng sách in ”to gan” cắt quách hai câu cuối dưới đây:

Tiến lên chiến sĩ đồng bào

Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn.

Bác Hồ “vô vàn kính yêu” của Th chỉ có sáu câu thơ mà cũng cắt bỏ. Sự ”bất kính” này không có ai ngợi khen. Trái lại, tôi cho là con người phải biết lẽ đời. Thơ của một “lãnh tụ vĩ đại” của miền Bắc hồi đó và cả hiện nay mà biên tập không biết quý thì còn quý cái gì của người chỉ mới là ”liệt sĩ”? Tào Tháo là một đại gian thần nhưng lại không ưa những kẻ quá ư nịnh nọt, hay kiếm cách ”lấy lòng” thời cuộc để hòng thu lợi nhuận bằng hành động phản phúc!

– Những từ XHCN bị cắt: 18.1.69: ”… của một người con gái trí thức lớn lên từ XHCN” thành ”của một người con gái trí thức” trong sách in. Ngày 14.2.69 bản tay viết: ”Nhớ lại những ngày sống trên đất XHCN” thành: ”trên đất miền Bắc” trong sách như muốn tránh né từ XHCN này? Nhưng nhật ký của người chết chớ có phải của ban biên tập đâu?

– 11.2.69 Bản chép tay: ”Riêng mình tâm tư nặng chĩu, bề bộn lạ lùng”, thành “riêng mình tâm tư bề bộn lạ lùng”. Sách in cắt từ ”nặng chĩu” trong câu có hai tính từ thì tính từ đắc giá nhất bị bỏ đi.

– Ngày 3.3.69 bị chuyển thành ngày 8.3.69 trong khi dòng kế tiếp là ngày 6.3.69 y như Đ.T.T viết ngày 8 trước ngày 6, thật như đùa. Có cái ngày mà cũng không nhìn ra thì nhìn ra sao nỗi nội tâm người khác mà sửa câu, sửa cú?

– 27.4.69 nguyên văn bị cắt ”30 triệu người VN và 3 ngàn triệu nhân dân thế giới” trang 145 sách in. Sự thật dân số được tính từ mốc năm 1969 chứ đâu phải bây giờ đâu mà sai số?

– 23.5.69 bản ghi tay: “Đêm mờ sao ở nhà chị Hạnh ‘không bao giờ tự cầm dao cứa đứt mạch máu trong cơ thể mình’. Không, thực tế thì có như vậy nhưng em thì không có”. Câu tự kiểm có lương tâm như vậy cũng bị quăng đi!

– 25.6.69 bản viết tay: “Trong cuộc chiến tranh này biết mấy gian lao chúc Th đứng vững trên cương vị của một người cộng sản” bị cắt trong sách in. Lời của người cộng sản Hoàng Văn Thụ thì để chễm chệ đầu trang sách còn lời của Đ.T.T cũng là người cộng sản thì biên tập cố tình ”lấy bớt”. Dù có rút bớt hay thêm từ cho phù hợp thời đại thì Đ.T.T vẫn là người của một chế độ cộng sản. Làm sao dùng phép màu xảo thuật của một ban biên tập nhỏ nhoi để thay đổi khí chất, tư tưởng con người? Thời đại nào con người đó. Đấy mới là chân lý!

– Những câu cắt tiếp ngày 16.7.69 “Ôi! những người dân VN anh hùng, có lẽ trên trái đất này không ai chịu nhiều khổ đau như mỗi người dân MN anh dũng này”; và ngày 6.8.69: “Ôi! Cuộc CM ở mảnh đất này mời kỳ lạ làm sao, đau thương tang tóc không đâu bằng và lạc quan sôi nổi cũng không đâu bằng”.

Phải! Th vô tình đã nói đúng. Miền Nam khổ đau không phải vì nghèo khổ, không phải vì Mỹ xuất hiện mà khổ đau vì miền Bắc sau 1973 đã tấn công vào người anh em, Th đã sống tới đó mà thấy đâu! Muốn ”lấy lòng” thời cuộc thì biên tập phải để nguyên cái câu này mới ”ăn chắc”.

b. Nguyên bản những đoạn quan trọng :

– Ngày 7.7.69. Th có giữ lá thư của Thuận kèm theo nhật ký mà sách in chưa công bố. Nay người viết xin được đăng nguyên văn lá thư này để khẳng địng tình “Chị-Em” của họ là có thật và hết sức thắm thiết kỳ lạ nhưng trong sáng:

”..7.7.69

Chị kính thương quá đổi của Em .

Trước giờ tạm biệt chị trên chiến trường công tác đầy mưa bom lửa đạn của địch không biết có được gặp lại chị nữa không ?

Chị ơi ! Em không tài nào bảo vệ được chị và cũng không tài nào giữ chị lại được đành phải để chị đi mà trong lòng như ai xát muối. Thương yêu chị tha thiết, mối tình xuất phát từ đáy lòng tình thương yêu chân thành vô hạn cao quý nhất đời của em. Em không bao giờ quên được những tiếng nói, những lá thư, những vật kỷ niệm và cử chỉ hành động của con người chị vô cùng kỳ diệu. Tình thương sắc son Em đã khắc sâu vào trái tim đến khi hơi thở cuối cùng mà em còn lý trí thì Em cũng còn nhớ tình thương đó và sẽ gọi tiếng chị Trâm rồi mới vĩnh biệt chị.

Chị rất kính thương ơi !

Không giấy mực nào mà tả cho hết được qua quá trình tình thương trìu mến của Em đối với chị được. Em sẽ hứa với chị rằng tình thương này không có một con người nào mà cắt đứt được và nó sẽ mãi mãi giữ trọn tình thương yêu tha thiết đến khi em đã hoàn thành nhiệm vụ. Chị ơi ! buồn quá đi ngày tạm biệt chị mà hình như ngày vĩnh biệt người cha đó vậy chị ơi. Buồn chừng nào thì thương yêu chị tha thiết chừng ấy. Em cầu nguyện những linh hồn đã hoàn thành vì nhiệm vụ giải phóng dân tộc sẽ phù hộ chị thương quá đổi của em.

Thương chị quá đi chị ơi .Chị đi rồi chị sẽ trở về với em nghe chị?. Tạm biệt chị. Em của chị. ( Ký tên) Đức Thuận.

12 giờ trưa 7.7.69

Chị rất kính thương ơi!

Tối nay chắc Em không có thì giờ để đưa chị xuống đường đi công tác cánh Bắc nhưng cũng phải tranh thủ để đưa chị đi một đoạn đường cho thỏa mãn tình thương. Nhưng cũng không thể nào thỏa mãn được đâu chị ơi. Thỏa mãn sao được mà khi tạm biệt Em chị không ngày gặp lại.

Chị đừng hy sinh nghe chị?

Chị sẽ về với ba má và các em sau khi hoà bình lập lại nghe chị?. Thương chị quá đi, thương chị mà lý trí em bị đảo lộn. Thôi chị đi Em về . Nhớ trở về nghe chị. Tạm biệt chị. Em Thuận.”

Thuận đã nói không có người nào cắt được tình thương giữa chị và em thì lá thư này coi như đi cùng số phận một nhật ký, một con người có hai con người không thể tách họ ra. Biên tập đã cắt thì người viết bài này xin trả lại những gì nguyên vẹn tình cảm của hai người thay một lời cảm kích.

– 5.11.69 bản tay: ”Ôi giặc Mỹ cuồng bạo tội ác của bay đã chất đầy như núi. Còn sống ngày nào tao thề sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để trả được mối thù vạn kiếp đó”. Đây là câu duy nhất viết thù Mỹ bị cắt. Có cắt đi chút này thì cũng không giảm lửa căm thù của Đ.T.T Người Mỹ họ coi Th là ”anh hùng” vì Th đã chiến đấu và chết như một kẻ bảo vệ quê hương chứ không bảo vệ Đảng thì dù Th có chửi cả dòng họ bốn mươi ba đời tổng thống Mỹ, họ cũng coi như ”câu chửi đáng mặt anh hùng”. Bởi vậy mà Trần Bình Trọng được kính nễ ngay trong tay kẻ thù. Kiểu Khanh mắng An Lộc Sơn phản phúc gây chiến tranh chết chóc mà được lưu danh sử xanh. Kẻ ”tri bỉ tri kỷ” xưa nay là thế.

– 26.7.69 trang 181 bản tay qua 172 sách in cắt: ”Con đường em đi những bước còn chập chững nhưng chông gai gian khổ đầy trước mắt. Chúc em đi những bước vững vàng”. Đ.T.T đã nói thầm với Nhiều đứa em trai của Thuận làm ”bực tai” ban biên tập, cắt quách!

– Trang 3.1.70 bị cắt nguyên với những câu tình cảm chảy nước mắt, chân thành, trong trắng như vậy mà ban biên tập ”cảm” không nổi chỉ cho là tình cảm vớ vẩn nên “xuống một đường đao” tàn bạo! Người viết xin trả về nguyên vẹn:

”Cũng con đường này ngày xưa chia tay em đưa mình lên mãi gần núi, bây giờ cũng vẫn là em, vẫn tình thương thiết tha nóng bỏng và nặng chuỗi lo âu nhưng em cũng chỉ có thể nói với chị bằng vài câu nói khô khan rồi chia tay chị. Trời tối đen như mực và mưa như trút nước, chị đi giữa đêm mưa không nhớ đường nên lạc mãi. Không trách em nhưng sao thấy tủi thân lạ lùng. Chị biết rằng trong cuộc họp ý nghĩ em đang lần thử từng bước. Chân chị run rẫy bước giữa con đường lầy lội, chị biết rằng em không thể tập trung mỗi khi nghe tiếng pháo nổ dọc theo đường chị đi nhưng… Buồn biết mấy hở em? Sao ta lại không thể cùng đi như những ngày xưa? Em ơi, dù trong hoàn cảnh nào cũng vậy hãy rèn rũa cho tình thương sáng ngời như ngọc quý. Đừng để một vết nhỏ nào trong đó nghe em. Chị em mình hãy dũng cảm trước mọi gian nan hãy bình tĩnh sáng suốt trong mọi tình huống quyết bảo vệ đến cùng tình thương thiêng liêng cho đến trọn đời.”

– 6.1.70 “Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản tinh thần trong suốt như pha lê, chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng…”. Ca ngợi quá. Câu này làm sao mà “bán sách chạy”? Cắt bụp!

– 8.1.70. “Chỉnh huấn Đảng” Không hiểu sao biên tập lại đưa vào trang bị cắt ngày (3.1.70) sau đó mới tiếp “chỉnh huấn Đảng” 10.1.70 chỗ (…) Nguyên văn: “nhưng thực ra trong cuộc cách mạng này người ta lớn lên như Phù Đổng Thiên Vương và mình cũng đã lớn trong sự sức mạnh đó’‘. Sức mạnh Phù Đổng Thiên Vương mà cũng bị… chung đao thì trời hỡi biên tập như chưa học, chưa hiểu biết về Thần thoại Thánh Gióng?

– 13.1.70 bản tay ”quên đi những gì đã nuôi sống nó trong 12 năm nay” sách in sửa thành “trong10 năm nay”. Có lẽ giảm đi thời gian yêu đương chờ đợi của Đ.T.T tròn 10 năm cho dễ nhớ!? Đọc không rõ thì lấy ”kính lúp” mà soi như Hoàng Phùng Quân mới là người cẩn thận chứ? Lỡ hai con số cuối này nằm trong tờ vé số trúng độc đắc không biết biên tập có nhìn sai mà cạo trúng thành trật hay không?

– 19.1.70 Bản tay: “Cảm ơn anh người đồng chí thân thương, anh đã đến với em bằng tình thương chân thành ruột thịt, anh đã là chỗ dựa trong cuộc sống của em, cuộc đời thật phức tạp, không biết ở sao cho vừa lòng tất cả được, cũng như anh đã là lẽ dĩ nhiên em không bao giờ bi quan khi gặp những trở ngại trên bước đường đi lên của mình. Như bao lần em đã nói với anh cuộc sống là một bức tranh đủ màu sắc, lên cái màu chủ đạo là màu đỏ chiến thắng và màu xanh ước mơ vẫn có thêm màu đen tang tóc xám lạnh lùng nham hiểm. Dù sao em vẫn yêu cuộc sống, cuộc sống của những người cách mạng tha thiết tình thương và cháy bỏng niềm tin vào sức mạnh của mình. Anh Năm thân thương, anh tin em chứ? Tin đứa em gái của anh nghe anh”.

Đoạn này có hình tượng với ý nghĩa ba sắc màu (màu đỏ, màu xanh, màu đen) như một sự thật của cuộc đời vẫn bị “cắt đẹp”! Biên tập chắn chắn có ”tâm sự” hay bị ”dị ứng” trước những sắc màu nên cắt trụm lụm?

– 1.2.70 Bản tay: “Hãy rèn rũa phẩm chất của mình đừng để phải ân hận khi nhìn lại bước đường đã đi qua…” (Thùy T. ký tên) cũng bị vặt trụi trong sách in.

– 5.2.70 Bản tay: ”Những ngày sống bên anh, sung sướng cảm thấy tình anh em ngày thêm gắn bó trưởng thành. Em tin anh như tin chính bản thân em, niềm tin ấy giúp em đi lên, đạp bằng mọi chông gai trở lực vươn lên làm chủ cuộc sống của mình. Sung sướng biết bao khi trong bao gian khổ, luôn có anh dìu dắt, anh lo cho em từng li từng tí, anh dạy bảo em với tình một người anh trai với đứa em gái anh xây dựng cho em với trách nhiệm 1 bí thư huyện uỷ với một đồng chí mới làm công tác Đảng, anh săn sóc em với tình đồng đội cùng chung trong cuộc chiến đấu sinh tử này. Hãy giữ tròn mãi mãi ‘Trong ngần thiết tha’ nghe anh Năm! ”. Năm sáu gì cũng… đi chỗ khác chơi mày!

– 25.2.70 Trang 227 sách in thiếu một câu: ”Hãy cố gắng học tập và rèn luyện để làm 1 người cán bộ đáng tin cậy của Đảng” .

– 26.2.70 Trang 228 thiếu tiếp: “Tuy nhiên lúc em ra về mình cũng chỉ dặn em cảnh giác cố gắng tập trung cho cánh tay mau bình phục rồi nhìn em bằng đôi mắt mến thân. Thôi đi nghe em, chúc em mạnh khỏe mau trở về với đội ngũ chiến đấu”. Tội nghiệp cho Chín, cậu bé được chị Th ghi vào nhật ký mấy dòng cũng bị biên tập cho ra vì cứ thấy từ ”em” là… ngứa mắt!

– 27.2.70 Trang 228-229 cắt nguyên đoạn: ”Tất nhiên trong bước đường đi không ai không va vấp những khuyết điểm. Mình không hề sợ khuyết điểm, cái gì sai thì cố gắng thuyết phục, cái gì đúng cố gắng phát huy không theo đuôi quần chúng, không độc đoán quan điểm, không vì sợ mất lòng mà bỏ nguyên tắc. Trước khi làm việc gì phải cân nhắc kỹ lưỡng mình đang đứng trong vai trò của một diễn viên trên sân khấu, bao nhiêu đôi mắt của khán giả đang nhìn : mình làm được, điều đó là dĩ nhiên vì mình là diễn viên, họ chỉ khen khi nào mình thật xuất sắc (mà điều đó thì mình chưa thể làm được) nếu mình làm còn thiếu sót họ sẽ chê, chê nhiều: vậy mà cũng đòi làm diễn viên, dở quá! v.v và v.v….”.

Câu này chép lại coi như “gậy ông đập lưng ông” mà Th tặng lại “Ban biên tập” và những kẻ chịu trách nhiệm xuất bản cuốn “Nhật ký Đ.T.T” này không để độc giả trong mắt và không thương xót gì đến bộ xương khô của người đã chết!

”… Không! Các đồng chí ơi, tôi làm việc cũng chỉ vì sự nghiệp của CM – Đảng giao phó cho tôi những trách nhiệm quan trọng cũng chỉ vì Đảng muốn tận dụng hết khả năng sức lực của tôi để phục vụ cho Đảng nhiều nhất. Tôi vinh dự được Đảng tin cậy nhưng không vì vậy mà tôi kiêu căng. Tôi hiểu lắm chứ tuy rằng được học tập trang bị nhiền lý luận trong nhiều năm trên ghế nhà trường nhưng có nhà trường nào lớn bằng trường đại học thực tế đâu? Tôi mới vào đây 3 năm dĩ nhiên không thể bằng những đồng chí đã trải qua 10 năm, 20 năm trên chiến trường gian khổ? Cho nên hãy đến với tôi bằng tinh thần của những người cùng chung giọt máu đổ xuống cho đất nước tự do, bằng tình thương của những kẻ xa nhà lấy gia đình CM làm chỗ dựa duy nhất trong cuộc sống. Hãy chỉ bảo giúp đỡ tôi trở thành một đồng chí phục vụ đắc lực cho Đảng. Phần tôi, tôi tự biết phải làm gì, tự biết khả năng của mình và tự nhủ mình phải khiêm tốn học hỏi thật nhiều ở mọi người xung quanh”.

Một đoạn ”tiếng lòng” của một người CS thấy được cách sử dụng nhân tài của Đảng, thấy được ”lý thuyết” chỉ là ”bài học vỡ lòng” mà thực tế cuộc đời mới đích thực là ”bản điểm”. Một tiếng kêu gọi thân ái và lời khiêm tốn chân thành. Đoạn này bị ”phế” bỏ thì giống như biên tập đang tự phế bỏ võ công của mình!

– 9.3.70 rõ rành rành không biết sao biên tập lại sửa thành 8.3.70 và dẹp cái câu cuối: “người đồng chí của tôi ơi có hiểu vậy không?”.

– 24.3.70 Ngày này bị cắt nguyên: ”Đọc những lá thư của anh càng hiểu càng thương anh vô cùng anh Năm ạ. Quả thực anh đã lo đã thương em vốn một tình thương sắt son ruột thịt anh em ta thường nói với nhau rằng:: Dù trong hoàn cảnh nào cũng giữ trọn tình anh em thủy chung như nhất. Đâu có phải em không tin anh, em thường nói với chính em rằng tin anh như tin bản thân mình nhưng ngay cả với bản thân mình em cũng nhiều lúc không hiểu rằng xử trí như vậy đã đúng chưa vì vậy anh đừng trách khi em giận anh. Thực ra cũng vì có một tình sâu đậm nên mới cảm thấy giận anh, nếu không, 1 lá thư như vậy, những câu nói như vậy hết sức bình thường với những người khác nhưng … với em lại khác, em đòi hỏi ở anh một sự quan tâm, đòi hỏi ở anh mấy biểu hiện của 1 tình thương đằm thắm trong sạch của một người anh trai đến với đứa em cưng của anh. Đòi hỏi ấy có cao không nhỉ? Anh đã dành tất cả tình thương duy nhất, độc nhất cho em gái anh thì như vậy đâu phải là cao. Vậy đó anh à, hãy hiểu em nhiều hơn nữa nghe anh, hiểu cáí đứa em gái có trái tim đầy nhiệt tình, đầy ưu ái và niềm tin ở cuộc đời dìu em đi từng bước, Em còn dại lắm! Em tin người ta dễ dàng mà cuộc đời chưa phải đáng để tin như vậy… mong anh cứ là người dìu dắt em đi từng bước một trên con đường chông gai nguy hiểm nhưng rất đổi vinh quang mà anh em mình đã chọn”.

– 28.3.70 câu ”địch uy hiếp” của ngày 28/3 nhưng sách in chuyển qua ngày 29.3.70 một cách vô lý.

– 1.4.70 câu này in trang bìa cuốn sách mà Hoàng Phùng Quân phát hiện qua kính lúp:“Kỷ niệm 10 năm ngày vào đoàn, 10 năm qua từ 1 thiếu niên bây giờ Th đã là 1 cán bộ dày dạn trong khói lửa. Th không tự hào mà chỉ thấy rằng mình đã làm đúng như lời thề dưới cờ Đoàn ngày hôm ấy. Những đêm dài suy nghĩ, Th ơi , hãy nghiêm khắc với bản thân hơn nữa đừng để một câu hỏi làm đau nhói lòng Th? mà hãy hỏi: Tại sao Th lại để mọi người không hiểu mình?. Đành rằng có những người họ không thể nói được. Vậy thì hãy làm như những người đó. Đừng khóc Th ơi, nước mắt hãy giành cho ngày gặp mặt những người thân yêu. Đêm khuya, nằm bên những người đồng đội, họ đã ngủ hơi thở đều đều, ngoài kia từng tràng pháo nổ dậy trời. Ơi những người đồng chí của tôi ta đang cùng chung hơi thở giữa chiến trường lửa khóc, hãy yêu thương đùm bọc lẫn nhau, sống chết kề 1 bên ghen tuông kèn cựa để làm gì”.

Một đoạn đậm đà tình nghĩa bị cắt thật đáng tiếc!

– 5.4.70 Bản tay: “Có phải vì cô đơn mà cảm thấy nhớ thương đến vô cùng hay không hở người anh thân thiết của em? Chiều nay các anh lên đường về cơ quan phục vụ, bỗng nhiên nỗi nhớ tăng lên bội phần. Cuộc sống sao mà phức tạp mà sao mình làm lại 1 con bé sống với trái tim giàu tình cảm như thế này? Tại sao ư? Vì từ nhỏ đến giờ nó đã như vậy, nghe những ý kiến của chị Hạnh cảm thấy buồn lạ lùng. Con người vẫn có những kẻ sống với tầm mắt nhỏ hẹp, họ không thể có được những tình cảm trong sáng chân thành như một số người khác. Với họ chỉ có vật chất, chỉ có xác thịt! Ôi ghê tởm làm sao. Anh trai của em ơi, có đúng như lời anh đã nói ‘Tình anh em ta sẽ tồn tại mãi mãi dù thời gian không gian biến động thế nào?’ nghĩa là ta sẽ đàng hoàng trong sạch mà sống, dẹp qua mọi rác rưỡi gai góc cản trở đường đi của ta. Em cũng đã làm như anh, sẽ thực hiện đúng như lời em đã hứa cùng anh…. Bao nhiêu cũng không đủ túi tham, bao nhiêu cũng không thỏa mãn cái cuồng vọng của ”bọn quỷ khát máu”.

Trang luận đề này có rất nhiểu chuyện đời xấu xí để bàn và có những tình cảm là động lực sống cần trân trọng đã bị biên tập cố tình quên lãng, cắt cho xong!

– 7.5.70 Bản tay còn một câu cuối bị cắt: ”Chiến thắng lịch sử ấy đã bẻ gãy đầu tên thực dân Pháp xâm lược”. Ý của người viết nhật ký như vậy thì cứ để nguyên như vậy. Có sao đâu mà phải cắt? Chắc biên tập cho là phải viết… ”bẻ gãy cổ” mới hình tượng hơn? Còn cái câu: “Và đã có ai dũng cảm ngoan cường chiến đấu bền bĩ dẻo dai như chúng ta chăng?” có gì quá đâu cũng bị cắt?

– 13.5.70 Bản tay: ”Em ơi hãy bồi đắp cho chị tình chị em mãi mãi thắm thiết như ngày nào ta sống cùng bên nhau trên quê hương Phổ Hiệp. Thực ra trong những ngày qua chúng tôi có đôi nét mờ đi trong chiến tranh tuyệt đẹp của mối tình cảm ấy vì không biết gìn giữ, lỗi đó ở em hay ở mình”.

Tội cho Đ.T.T, lâu lắm rồi mới gặp lại đứa em kết nghĩa là Nghĩa sau những giận hờn. Mới nói với nó thêm câu chót thì bị ”mắc nghẹn” bởi ban biên tập. Thành thử có một bác Nghĩa hồi đó còn sống thì hãy vào web điện tử mà đọc bản viết tay đầy đủ hơn bác nhé!

– 19.5.70 Th viết cho mẹ: ”Phải chăng trái tim con mang trang lửa đạn mà vẫn còn mềm yếu. Con người CM như vậy đã được chưa? Còn nhớ lời của Lê Nin ‘người con là người có trái tim giàu tình cảm nhất’ và con đã làm như vậy” bị cắt luôn.

Người viết bài này, bực quá, nói thêm: “nhưng mẹ ơi, họ cũng chẳng để cho con nói hết tiếng lòng của con với mẹ. Nếu họ ghét Lenin hay sợ người ta ghét Lenin mà không mua sách thì con cũng không biết nói gì hơn đành ngậm hờn mà chết vì con đã có một thời là người của một chế độ do các ông ấy đẻ ra. Họ cũng lớn lên dưới chế độ đó mà?”.

Hà hà hà… Biên tập có quyền cắt thì độc giả sao không có quyền thêm?

– 24.5.70 Bản tay bị cắt “nhưng tại sao vậy hở anh? Tại sao nỗi lo đó cho mình trước lúc ra đi ‘là điều lo anh để lên hàng đầu’ mà anh lại cũng làm thinh không nói? Tại sao lúc chưa gặp anh mong chờ da diết mà lúc em đến anh lại cũng làm thinh?. Ôi người anh thân thiết, anh rất gần mà lại cũng rất xa. Em hiểu anh hết rồi mà cũng không hiểu hết (mà chính anh cũng thắc mắc với anh nữa kia mà!). Sao vậy hở anh”.

Ta thấy chàng Tân này sui xẻo nhất vì đoạn cắt nhiều nhất là đoạn Đ.T.T viết cho ”người anh trai” này.

– 4.6 và 6.6 Đ.T.T ghi lộn 4.7 và 6.6 mà biên tập có “công” đã sửa đúng.

– 4.6.70 Sách in thiếu một đoạn sau: ”CMMN! nhiều cái anh hùng nhiều chuyện lịch sử mà cũng còn nhiều phức tạp, nhiều rác rưỡi trong xã hội. Cũng dễ hiểu thôi vì tất cả cho sự nghiệp đánh Mỹ cứu nước nên ta chưa thể tập trung sức lực để xây dựng những con nguời xhcn, những con nguời toàn diện biết sống vì mọi người, biết ăn ở và nếp sống có văn hóa”. Có nghĩa là: có anh hùng, có những cái làm nên lịch sử thì cũng có nhiều phức tạp, rác rưỡi. “Nhật ký Đ.T.T” đã “làm nên anh hùng ĐTT”, làm nên ”lịch sử bán sách” suy ra… ôi cha mẹ ơi còn suy ra gì nữa mà không cắt kẻo có người đem từ ”phức tạp, rác rưỡi” đặt sau từ ”anh hùng” và ”lịch sử”.

– Sau hai trang để trống đã được đánh số là địa chỉ của ba mẹ Đ.T.T mà biên tập không in.

4. Nhận định chung:

Nhìn nhận lại: Biên tập đã có những phần cắt như sau: (Giống như Phạm Hoàng Quân và Nguyễn Ngọc Giao tìm ra, người viết xin bổ sung và làm rõ hơn chút nữa).

a. Phần cắt xén, lầm lẫn ngày:

– Cắt những dòng tình cảm Đ.T.T viết cho Tân tức là anh Năm, Bí thư huyện uỷ với những đoạn tương đối dài: 1.9.69/ 1.11.69/ 19.1.70/ 15.2.70/ 24.3.70/ 5.4.70/ 22.5.70…

– Cắt những đoạn độc thoại của Đ.T.T về sự nhận thức làm con người XHCN, được tham gia vào CMMN là một vinh dự và những đoạn ”tiếng lòng” dành cho những ”em” như Thường, Chín, Nghĩa, Thuận: 20.7.68/ 10.11.68/ 16.7.68/ 27.2.69/ 1.2.70/ 1.4.70/ 7.5.70/ 13.5.70/ 4.6.70…

– Cắt nguyên ngày: 1.4.70/ 5.4.70 và một số ngày lộn không đúng như nhật ký đã ghi như 9.3.70 thành 8.3.70; 28.3.70 thành 29.3.70; 13.5.68 thành 12.5.68… không hiểu có ngụ ý gì?

Những đoạn, câu đã được phục hồi ở trên.

b. Phần xén và thêm bớt làm hư hỏng nội dung của nhật ký: Xin ghi lại dưới dạng phân tích giá trị thẩm mỹ:

– Câu ngày 28.6.68: ”Không! M. ơi, hãy đi đi, đừng gieo đau buồn lên con tim rớm máu của Th. nữa nếu quả thật giữa chúng ta không thể nào có một hạnh phúc vĩnh viễn dù cả hai chúng ta còn sống sau cuộc chiến tranh này”. Biên tập cắt ”nếu qủa thật”. Người đọc dễ dàng thấy mức độ hai câu khác nhau khi có hoặc không có liên từ chỉ điều kiện ”nếu quả thật” như đã chỉ ra ở phần trên. Tác động của thời thế (có thể hoặc khả thi thôi chứ chưa là sự thật) đã được thay bằng chủ động “tiên đoán” chắc như đinh đóng cột của Đ.T.T là sai nguyên ý của Đ.T.T

– Câu ngày 11.2.69:”Riêng mình tâm tư nặng chĩu, bề bộn lạ lùng” thành ”Riêng mình tâm tư bề bộn lạ lùng”. Câu này không hay ho gì hơn mà trái lại, câu rối rắm vì “tâm tư” phần hồn không thể nào “bề bộn” như vật chất?

– Câu tiếp ngày 20.7.69: ”Nghĩa là có cái gì thoáng nét tư tưởng hữu khuynh xuất hiện trong Th. đó” sửa đổi thành ”tư tưởng bi quan xuất hiện trong Th. đó”. Từ này để dành cho các bậc nghiên cứu triết học có sân chơi khi ban biên tập đánh đồng hai câu làm một.

– Ngày 3.2.70 Th viết: “Đó phải chăng là cái nghèo của một cái tết chiến tranh trong cảnh gia đình túng thiếu’ thành “Đó phải chăng là cái nghèo của một cái tết chiến tranh trong cảnh gia đình thầy thuốc”. Từ ”Túng thiếu” nói chung cả một lớp người đã biến thành nhỏ hẹp trong phạm vi ”thầy thuốc”? Mẹ cha ơi! Sửa cái chi mà hay dữ? “Túng thiếu” thành “thầy thuốc”? Đ.T.T may mà không viết tắt hai từ TT, nếu không, ban biên tập mượn cớ thanh minh vì “suy đoán”, “phỏng đoán” nên… lầm lẫn!

– Câu nguyên văn ngày 6.5.68: khẳng định ”đời phải qua giông tố nhưng chớ có cuối đầu trước giông tố mà thực ra giông tố đến với mình vẫn là những cơn giông…” thành câu “đời phải trải qua giông tố nhưng chớ có cuối đầu trước giông tố mà. Thực ra giông tố đến với mình…”. Câu của Đ.T.T bị biên tập ngắt thành hai câu.

– Trang 32 bản chép tay “Mình bỗng nhớ đến câu thơ của Tố Hữu” bị biên tập ngắt mất chủ ngữ ”Mình” thành con tôm đứt đầu: ”Bỗng nhớ đến câu thơ của Tố Hữu” (trang 58 sách in). Trong trường hợp này đâu cần dùng ”câu đặc biệt” vô tội vạ như thế được?

– Cụm từ động lệnh ”Suy xét kỹ đi” biến thành ”Xét kỹ đi” (trang 71 sách in ngày 14.8.68). Từ ”Suy xét” chỉ tính chất trăn qua trở lại tự hỏi, tự bảo mình làm sao? Tự dưng nhảy vào cái ào ”Xét kỹ đi” như ra lệnh, như một cái ”hất hàm”. Một cắt xén vô bổ, chỉ gây thương tật cho câu cú, ý nghĩa người viết. Đọc mà… mệt mỏi!

– Trang 72 câu đầy tình nghĩa của Th dành cho cái chết của Khiêm bị cắt tàn nhẫn “Khiêm ơi có cách nào nghe được lời Th nói một lần nữa hay không?”. Đây là câu đáng ghi nhận nhất của một người sống đau khổ dành cho người chết trong tư cách bạn bè. Chúng ta có đồng ý sự cắt xén này là hợp tình, hợp lý hay không?

– Ngày 28.3.70 Th diễn tả: “một mảnh pháo to chẻ nát một thân cây lát hầm nay giữa nhà mổ thành ngày 29.3.70 sách in trang 235 biến ”nhà mổ” thành phòng mổ”. “Phòng mổ cái gì chứ? Đ.T.T đã dùng từ chính xác vì bệnh xá di động giữa trận càn, giữa một cuộc chiến làm gì có cái ”phòng mổ” nghe tối tân, ngon ơ như vậy? Từ sửa đó làm giảm mất giá trị công việc hết sức gian khổ nhưng rất đáng thán phục của người bác sĩ này.

– Bốn câu bị cắt vị ngữ : Ngày 22.7.69 trang 170 cuối cùng: “đó chỉ là tình chị em, tình cách mạng chân thành ruột thịt ” bị… hà ăn mất cụm vị ngữ ”chân thành ruột thịt” nên chỉ còn ”tình cách mạng…”. Câu: ”Vững bước mà đi nghe người con gái xã hội chủ nghĩa trên đất miền Nam”. Tiếng lòng tự nhủ, tự hào của Th cũng bị chặt khúc đuôi chỉ còn “vững bước mà đi nghe”. Ai đi? (ngày 30.3.70) và câu: “Quyết đánh cho đến cùng để đánh dập đầu con rắn độc hiếu chiến’‘ đầy lòng căm thù tột đỉnh thì biến thành: “Quyết đánh đến cùng”. Đánh ai? Đánh cái gì? (ngày 5.5.70) hoặc: “Hãy cố gắng học tập và rèn luyện để làm một người cán bộ đáng tin cậy của Đảng” thành “Hãy cố gắng học tập và rèn luyện”. Để làm gì? Những vị ngữ đó, chúng có giá trị khẳng định mục tiêu, lý tưởng mà cả một đời Đ.T.T ôm ấp. Ra trận mà không biết mình chết vì ai? Vì cái gì? thì giống như một người điên bị đẩy ra làm bia đỡ đạn có nghĩa gì đâu!

Chưa vững cấu trúc cơ bản của ngữ pháp tiếng Việt, không hiểu giá trị chân thật của văn học mà đòi làm biên tập, trường hợp này, đâu chỉ mỗi Đặng Kim Trâm?

c. Phần cắt về lập trường tư tưởng với thái độ chỉ trích đụng chạm đến Đảng:

– ”Phép vua thua lệ làng” khi Đ.T.T viết: “Rất nhiều người trong tỉnh, trong huyện đều đôn đốc thúc giục việc giải quyết quyền lợi chính trị cho mình” nhưng ta thấy Đ.T.T thất vọng vì bọn đó có để cấp trên trong mắt đâu. Đó là nguyên do thúc đẩy ngòi viết của Th xoáy vào trọng tâm: “Tại sao khi ta là kẻ đúng, mà không đấu tranh được với số nhỏ, để số ấy gây những khó khăn trở ngại cho tập thể”’ (ngày 29.5.68 trang 22 bản tay và trang 50-51 sách in thiếu) đến nổi tập thể đúng mà ”Không thắng được vài đội ngũ ở bệnh xá” (ngày 15.6.68). Ở bệnh xá hay ở bất cứ nơi đâu trên đất Việt Nam này, một nhóm người số ít thống trị cả số đông gấp triệu mà số đông ấy không làm gì được cả. Đây là vấn đề ”thời sự” hiện nay mà các nhà ”ly thân” tốn nhiều nuớc miếng, tiêu hao bút mực, ở tù mọt gông cũng chỉ bấy nhiêu. Thế mà đi trước các vị những ba mươi bảy năm, nhân vật Đ.T.T đã nói hết trơn, hết trọi!

Sở dĩ, Đảng không ”trị” Đ.T.T vì Th chỉ chỉ trích, lên án bằng nhật ký chớ không ”cáo trạng” cho Đảng biết. Không biết thì làm sao ”trị”. Bây giờ ”trị” cũng không được vì cái người chỉ trích Đảng sâu này mọt kia, hèn mọn này, nhỏ nhen nọ là người dám chết cho đất nước mà Đảng chính là ”đất nước” rồi còn gì? Thêm nữa, cuốn nhật ký này trên được cắt cho vừa lòng, dưới thêm thắt cho nhẹ tội thì vui vẻ cả làng lan cả nước bước sang đại dương tha hồ ”hốt bạc”. Không phải xuất bản ào ào như cuồng phong bão táp đó sao? Thế nhưng, liệt sĩ Đ.T.T đâu có dặn cắt chỗ này, xén chỗ nọ để xoa dịu đấu tranh, đấu tố hiện nay? Đ.T.T đã viết “Đấu tranh giữa hai luồng tư tưởng lạc hậu và tiến bộ là những người đang phấn đấu vì sự nghiệp chung”.

Một câu phán đoán thật sâu sắc đáng chạm vàng, chạm ngọc mà bị cắt oan uổng làm sao! Câu này là câu làm cho đôi bên “xích lại gần nhau”: Xích mích trong nội bộ Đảng giữa ”bảo thủ” hay ”đổi mới ” hoặc ”dung hòa ” và xích mích giữa Đảng với các “khai quốc công thần”, tất cả không phải vì đất nước cả hay sao? Cái đáng lo lắng nhất là “cảnh giác chiến tranh”. Chiến tranh súng đạn không đáng hãi hùng bằng chiến tranh với những con siêu vi trùng. Siêu vi trùng thiệt hay siêu vi trùng tham nhũng đều giống nhau. Chuyện ”phun thuốc diệt trùng” hay “chích ngừa phòng bệnh” đâu phải chỉ là chuyện của mười người trong bộ chính trị. Giá như Đ.T.T còn sống, chỉ có mỗi một nhân vật này tay cầm súng, tay cầm ống tiêm thuộc một trong mười ba vị kia chắc gì đời tươi sáng hơn hiện tại? Biểu quyết thì lúc nào đa số cũng thắng thiểu số mà nhiều khi công lý đâu nằm trong nhóm đa số nên thiểu số có đúng, giỏi, tài cũng đành chịu thôi!

– Một cái câu Đ.T.T viết có ý nghĩa nữa là: ”Đừng đòi hỏi ở cuộc đời quá nhiều nữa”. Những bản cáo trạng nếu viết được như Đ.T.T vừa tình vừa lý với một tấm lòng tha thiết vì đất nước không một chút hằn học, trịch thượng hay kẻ cả như máu chảy đến đâu thấm đỏ đến đấy thì người nhận cáo trạng mà không hề xúc động thì thật là kiếp lũ mọt, lũ sâu thật rồi.

Đấy là những gì của Đ.T.T, người viết không có “gan” không sợ “ma liệt sĩ” mà thêm thắt hay cắt bớt.

5. Vài suy nghĩ :

* “Nhật ký Đ.T.T” xuất bản như cái cây xanh bị xén trụi mớ lá cành so với cây gốc bởi người xuất bản không nắm được tính chân thật cần phải bảo đảm một trăm phần trăm của tác phẩm nhất là tác phẩm nhật ký. Họ tự tiện sửa đổi mới bị nhiều bài viết phản hồi. Thực ra, những bài viết này chẳng có ý gì khác là mong muốn cuốn sách in ra phải đạt cho được ít nhất là sự tôn trọng tác giả, độc giả chứ không phải chạy theo lợi nhuận mà quên mất giá trị thực sự đáng có của một tác phẩm. Những người nghiên cứu văn học chân chính mắt đâu bị bồ lệch ăn mà không thấy những râu ria. Có những điều, họ không phải lên tiếng lúc nào cũng được cả.

* Biên tập chưa nắm vững kiến thức cơ bản của từ ”xã hội chủ nghĩa”, ”chủ nghĩa cộng sản” mà chỉ muốn cắt xén bớt những từ ngữ đó cho hợp với tình hình hiện nay. Biên tập biết rõ người ta không ưa cái từ đó nên buộc phải ”lấy lòng thời cuộc”. Nếu vô tư như Đ.T.T thì tại sao phải xóa sạch những từ ngữ đó? Nhưng xin nhắc rằng: Tác giả là người của một thời xhcn còn là một cái tên đẹp đẽ, hấp dẫn với mục tiêu “Xoá bỏ giai cấp bóc lột, xoá bỏ người bóc lột người”. Xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là xây dựng một nước không có giai cấp. Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là xây dựng con người có tất cả những đức tính như Đ.T.T đã có kể cả tính chất đấu tranh phê và tự phê. Cao cấp như thế! Tuyệt vời như thế thì làm sao đi ghét xhcn hay cnxh? Không phải cụm từ đó xấu, cụm từ tạo ra nhiều cáo trạng mà là vì người thực hiện chưa hoàn chỉnh. Con người là tế bào xã hội. Xây dựng con người ”không mới” thì tế bào bị ung thư hóa đi. Lỗi ấy không phải tại những cụm từ. Cụm từ không thay đổi bản chất nhưng kẻ thi hành đã quên mất mục tiêu!

Cắt những cái đuôi như thế vô tình biên tập mang Đ.T.T cùng cuốn nhật ký trở về năm tháng hiện tại chứ không phải là Đ.T.T người viết nhật ký cách đây mấy chục năm về trước. Một hiện thực nhật ký phi lịch sử. Có ai bây giờ ăn mặc như những hiệp khách thời xưa đi chợ mua bó rau muống? Không thể có những kiếm khách giang hồ trong kiếm hiệp mà cầm cây súng khạc ra lửa? Ngôn ngữ thời nào nên để nó nằm nguyên thời đó. Tại sao người ta chuộng đồ cổ? Chính là giá trị lịch sử của nó đã khắc vào những hoa văn. Những từ ngữ CM, XHCN, CNCS, CNXH, CMMN nằm trong thời kỳ lịch sử mà lý tưởng, mục tiêu của chúng là ước vọng của một tầng lớp người thời ấy. Đ.T.T ở trong lớp người ôm ấp lý tưởng hy sinh cho đất nước để hy vọng xây dựng hoà bình. Đ.T.T chết vì lý tưởng đó. Công nhận anh hùng cho Đ.T.T hay không, không quan trọng. Cái quan trọng là người đời sau đừng vì lấy lòng thời cuộc mà thủ tiêu lý tưởng cao đẹp đó của một con nguời chân chính trong một thời kỳ.

* Biên tập thiếu một tấm lòng hiểu biết ba từ ”Chân, Thiện, Mỹ”:

Khát vọng về tình yêu của Đ.T.T chưa được biên tập đồng cảm. Những câu viết rất đáng được công bố về tình cảm riêng tư nằm trong tình cảm chung là ”tiếng lòng ” của người đã chết vì đất nước. Cắt đi những ”tiếng lòng” này không những là ”xúc phạm” người chết mà còn là giảm đi tính cách ”con người ”của một người anh hùng. Anh hùng cũng là con người chứ nào gỗ đá mà không biết rung động, yêu thương, thù ghét? Những kẻ cắt bỏ những đoạn coi như khúc ruột của Đ.T.T chính là những kẻ chưa hiểu gì về một tình yêu giữa thời chiến tranh mà sự sống và cái chết coi như cận kề. Vương Trí Nhàn là bạn. Đặng Kim Trâm là em ruột. Chao! Tình bạn sáng ngời, tình chị em ruột thịt thắm thiết! Ta với người chết chỉ là người dưng nước lã nhưng ta đau theo cái đau của người chết. Ta lên tiếng dùm cho người chết coi như ta ”ách giữa đàng quàng vô cổ”. Tất cả chỉ vì mong muốn Đ.T.T phải được trả nguyên giá trị con người Đ.T.T cách đây ba mươi bảy năm: Một con người sống có lý tưởng, có tình yêu cao cả và có tầm nhìn lịch sử đi trước thời đại.

* Biên tập như người ở ngã ba đường: Sự giảm bớt mức chỉ trích Đảng nhưng không xóa mất hết là vì hiểu rằng bây giờ có nhiều người chống Đảng. Người chống Đảng thấy Đ.T.T chửi Đảng thì hả hê. Đảng im lặng là vì những từ chỉ trích đó không còn xa lạ trong nội bộ cũng như vượt ra ngoài sự đấu tranh nội bộ với nhau. Người này sẽ nghĩ người bị chỉ trích không phải mình là xong chuyện bởi Đảng tới ba bốn triệu người. Người Đảng chửi Đảng thì có khác nào chửi mình?

Cắt từ xhcn, cmmn… vì biết người miền Nam không nguôi cơn hận 30.4.75. Để những câu căm thù Mỹ tận cùng bằng số coi như VNCH không có nhúng tay vào mà mua lòng họ. VNCH mất miền Nam trù phú đã căm Mỹ, căm tổng thống Mỹ sợ mất phiếu bầu mà xô quân đội VNCH vào biển cả, bắt chước Trịnh Hâm ”giữa đàng bỏ bạn”. Họ đọc Đ.T.T chửi Mỹ cũng như chửi dùm họ. Nhưng biên tập đã lầm to: Những người chân chính sẽ hiểu rằng đằng sau cái áo Mỹ là quân đội VNCH. Kẻ nào tát vào mặt Mỹ thì cũng như mặt VNCH đã ăn cái tát thứ hai. Mỹ thiệt ra là ”ân nhân” của biết bao nhiêu người. Tấm lòng ”phiến mẫu” này không chỉ vì Mỹ bỏ VNCH hay dội bom miền Bắc mà quay lại phủi ơn. Cái nào ra cái đó. Thù nước phải trả nhưng ơn nghĩa phải đáp đền. Con người chân chính không là kẻ sống vô ơn với bất cứ những ai đã từng cho ta giọt sữa trong lúc ta là đứa bé khát sữa mẹ như Đ.T.T đã ví von. Cũng chẳng ai nhỏ mọn ở tấm lòng. Thương xót cho Đ.T.T hay cảm phục Đ.T.T cũng là lẽ thường tình vì hình ảnh anh hùng của Đ.T.T, quân đội VNCH sao không có những con người như thế trên chiến trận? Cảm phục một anh hùng là chính chúng ta cảm phục một con người lấy cái chết đền nợ núi sông. Kẻ anh hùng không có giai cấp, không có biên giới lịch sử che chắn. Đừng tưởng chừng làm như thế là để dung hòa được mọi miền, thổi phồng anh hùng ca Đ.T.T, mở ra huyền thoại Đ.T.T để người đọc như bị tung hỏa mù mà lấy lòng người nước ngoài, người Việt ngoài nước. Thực ra, không cần mất công như thế, người ta cảm phục Đ.T.T và người ta mua sách là tò mò, là để đọc, để nghe tiếng nói chân thật của một người con gái được đào tạo chính quy dưới mái trường xhcn. Người con gái đó là một người trí thức có trình độ khác với trí thức bằng cấp mà vô văn hóa. Tìm hiểu tính chất anh hùng của Đ.T.T là tìm hiểu tiếng nói đó mà thôi. Con người này dám nghĩ, dám viết, dám hành động, dám chết nhưng có một nhược điểm là chưa dám nói. Cuốn nhật ký bản chép tay đã cho ta thấy như thế.

Chính cái việc bơm H2 cho quả bóng ”Nhật ký Đ.T.T” bay lên trời sẽ là những nhát dao xẻ thêm vào nỗi thương tâm của những gia đình, những ai có người thân là liệt sĩ, là thương phế binh. Những cái chết, những thương tật của họ cũng như Đ.T.T mà nhiều khi cống hiến của họ còn lâu dài hơn Đ.T.T nhưng họ không viết… nhật ký nên số phận những con ma liệt sĩ không “kỳ lạ” như Đ.T.T. Những tấm thân tàn phế sẽ buồn hiu, buồn hắt khi nhìn sang bên kia sông nhật ký rầm rầm, rộ rộ ca tụng tới bến, nổi sóng lềnh bềnh mà… chảy nước mắt. ”Có mới nới cũ” chính là cái bệnh nan y trong cơ chế chính trị và trong đối nhân xử thế khiến trên bất mãn, dưới oán hờn. Đối xử với một con người như thế nào thì mình sẽ nhận lại như thế từ người khác ném trả lại mình. Người xưa có nói: ”Gieo giống nào gặt trái ấy” đó thôi.

* Biên tập cắt những lời độc thoại, tự kiểm thảo của Đ.T.T không tiếc thương:

Tiếng nói đấu tranh phê và tự phê trí tuệ chỉ bật ra khi người ta nhìn ra ở lý tưởng mình theo có những ngã ba đường. Không thể bắn người mà không nghĩ đến người bị bắn. Không thể thấy nắng mà không thấy những cơn mưa bất ngờ. Không thể thấy tiền mà mờ cả mắt lương tri. Cắt đi những lời độc thoại đó coi như là một sự chuẩn đoán bệnh sai lầm nên thay vì đau ruột thừa lại đi cắt mất lá gan!

* Sự cắt xén thêm thắt từ ngữ câu chữ đã làm ảnh hưởng tới những bài nghiên cứu, phân tích hay bình về cuốn nhật ký nhiều sai sót và chưa được trung thực này bởi vì theo nguyên tắc nghiên cứu, phê bình văn học, người viết phải bám vào tác phẩm mà viết. Nếu như cuốn nhật ký này không có bản tay mà trường đại học công nghệ Texas, Mỹ lưu giữ thì độc giả biết đường nào mà lần cái chiêu ”mập mờ đánh lận con đen” này của Ban biên tập chưa qua trường “mẫu giáo mầm non” mà những bài viết phản ứng quyết liệt đã đầy trên các web site!

III. NGHI VẤN HỒI KÝ HAY NHẬT KÝ:

1. Hồi ký hay nhật ký dạng hồi ký?

Trở lại vấn đề Đặng Thùy Trâm (Th: viết tắt tên Thùy mà Đ.T.T và bạn bè dùng cho Đ.T.T) viết hồi ký hay nhật ký?

Th vào Quảng Ngãi tháng 1.1966. Ngày 17.2.66, Đ.T.T có viết thư cho Niệm (Dương Đức Niệm, Phó Giáo sư chủ nhiệm khoa Nga kiêm Bí thư Đảng uỷ Trường ĐHSPNN, Hà Nội) theo lời kể của anh mà Vinh Thu ghi chép trong ”Đi tìm Sulico”. Khoảng thời gian này, Th chưa viết nhật ký vì không có tài liệu nào chứng minh. Một thắc mắc được đặt ra: Tại sao người yêu thích viết nhật ký như Th mà lại phải chờ đến ngày 8.4.68 mới viết tức là sau ngày viết thư cho anh Niệm gần hai năm?

Cuốn “Nhật ký Đ.T.T” của nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam phát hành bao gồm hai cuốn nhập lại: Cuốn một viết từ ngày 8.4.68 đến 4.12.69. Cuốn hai từ ngày 31.12.69 đến 20.6.70 (chính là cuốn mà Mỹ đã lấy được của Th khi Th hy sinh) chính xác ngày tháng năm so với bản chép tay không có gì bàn cãi. Vấn đề ở chỗ ở cuốn thứ nhất có nhiều dữ kiện chưa hợp lý khi căn cứ vào nội dung nhật ký đã ghi.

– Trong thời gian này, Th cho biết mình đã mất hai cuốn ngày 28.6.69 trong một trận giặc càn vào Đồng Răm. (Khi Th đang viết những dòng cho ngày 15.1.70 thì nhớ lại ngày 28.6.69 đó). Một thời gian hai mươi tháng, Th viết tới hai cuốn. Như vậy, số trang không đơn giản chỉ bấy nhiêu? Dĩ nhiên, ta thấy viết ít hay nhiều tùy thuộc vào khả năng người viết trong hoàn cảnh nào được cho phép. Nguyễn Văn Thạc chỉ tám tháng viết 240 trang chép tay trong khi Th gần hai năm còn ít hơn con số trang của Thạc. Điều đáng bàn ở đây là Thạc không mất nhật ký mà Th lại mất. Chính vì vậy, số trang nhật ký hai năm cộng thêm phần cắt bỏ cũng chỉ bằng tám tháng của Thạc.

Người viết bài này chắc chắn rằng nếu không có một bằng chứng thêm nào về hai cuốn mất trước ngày 29.6.69 thì Đ.T.T đã viết ”hồi ký” dưới dạng ”nhật ký” bằng ”cái đầu” nhớ lại của mình như Th đã nói lấp lửng ở ngày 15.1.70. Vì viết lại bằng cái đầu nên có những dữ kiện rất đáng được ghi, Th lại như quên mà không ghi vào. Ví dụ như: Tháng ngày kết nghĩa với Nghĩa, Thường, nhất là nhân vật chị Khiêm. Nhân vật này có thật trong cuộc đời, còn sống và đã được Ngọc Tấn ghi lại lời kể của chị trong bài: “Đặng Thùy Trâm qua lời kể của chị kết nghĩa” (vietnam.net). Chị kể lại là chị kết nghĩa với Th cùng Thường, Nghĩa, Thuận. Nhưng lạ thay, trong nhật ký, Th hình như chưa hề nhắc đến chi tiết về người chị kết nghĩa này ngoài từ ”chị hai” hai lần trong cả cuốn sách và những lá thư Th viết cho chị ta với những câu quan trọng như nhờ chị mang nhật ký về cho gia đình cũng không được Th nhắc đến như sau:

“Một lần vào đầu năm 1968, Thùy Trâm cùng chúng tôi xuống đồng bằng cõng gạo. Biết đoạn đường qua Đồng Lớn địch thường phục kích, trước khi đi Thùy Trâm lấy cuốn nhật ký bỏ vào ăng-gô dặn tôi: ‘Nếu em mệnh hệ gì thì chị nhớ gởi về cho gia đình em’ ”.

Kỳ quái ở đây là nếu chị Khiêm nói đúng thì Đ.T.T viết nhật ký trước năm 68 vì chị Khiêm nói là “đầu năm 1968”. Cuốn đó giờ ở đâu? Chị Khiêm cất nó ở nơi nào? Vì bản chép tay và sách in ghi rõ ràng Đ.T.T viết nhật ký bắt đầu từ 8.4.68 thì lấy đâu ra có cuốn mà ”đầu năm 68” mà Th đã như ”trăn trối” với chị Khiêm? Nếu Đ.T.T đúng thì chị Khiêm nhớ lầm. Giữa hai cái đúng sai này, ta không thể chọn một mà cần dung hòa: Th viết nhật ký trước năm 68, tức là ít nhất năm 67. Còn cuốn từ đầu năm 68 đến ngày 8.4.68 ở đâu? Hay là 4 tháng này, Th không viết nhật ký? Có phải cuốn chị Khiêm nói và cuốn 4 tháng đầu năm 68 chính là hai cuốn mất tại Đồng Răm ngày 28.6.68?

Theo chị Khiêm, Th viết thư cho chị ngày 20.10.69 nhưng dòng nhật ký của Th thì ngày đó, Th chỉ ghi cảm xúc trước cái chết của anh Tám Vinh mà thôi. Tương tự, thư ngày 22.4.70 mà chị Khiêm nói, Th chỉ dành vỏn vẹn tám dòng cho ”em” chớ không nói năng gì Th đã viết thư cho chị cả. Thư ngày 20.5.70 cũng cùng chung số phận vì ngày này, Th không ghi nhật ký.

Như vậy xét về tính chất nhật ký của Th, những sự kiện như mình đã làm gì trong ngày hầu như Th đã thiếu sót. Nhật ký là phải ghi công việc của mình làm hằng ngày, những gì xảy ra trong ngày chứ không phải chỉ có ”tiếng lòng”. (Nhật ký của Thạc cũng vậy, chất trữ tình ngoài đề nhiều hơn có thể thành ”tùy bút” vì những trang nhật ký qúa ít ỏi). Xem ra, lời kể của người sống và sự ghi chép của người viết đã không ăn nhập gì với nhau cho lắm.

– Nhật ký của Thạc có những trang viết về tình bè bạn, thầy trò thắm thiết về trường ĐHBK. Ở nhật ký Th, tình thầy trò hầu như vắng bóng mà bạn bè cũng không có những cái tên Niệm, Nhàn, Điềm, Huy… những người đã được Th viết thư thường xuyên như lời họ kể. Có gì kỳ lạ?

Có lẽ vì ”hồi ký” nên Th đã chẳng thể nào nhớ hết? Cũng không thể nghĩ xa hơn sự trung thực của Th. Như chúng ta đã thấy, Th không ghi mở đầu cho cuốn một là ”Nhật ký 1968” hay ”Nhật ký 1969” như Th đã ghi rõ trong cuốn hai (mất tại Ba Tơ và Th hy sinh ở đây) là ”Nhật ký 1970 Xuân Canh Tuất ”. Biên tập và nhà xuất bản không chú ý nên đã lầm tưởng toàn bộ là nhật ký.

– Có thể nói: Th đã ”hồi ký” toàn bộ hai cuốn nhật ký đã mất từ ngày 8.4.68 đến ngày 28.6.69 (Lại xảy ra sự việc nữa là đã ”hồi ký” sao Th không ”hồi ký” luôn những trang trước năm 68 hay đầu năm 68 như chị Khiêm kể?). Sau đó, Th trở lại viết nhật ký như thường từ ngày 29.6.68 trở đi đến 4.12.69 thì dứt cuốn một như bây giờ. Ta có thể suy luận một chút: Nhật ký mất ngày 28 mà qua ngày 29, Th cũng không có lấy một chữ nào về sự mất mát hai cuốn nhật ký thì coi bộ cô Đ.T.T này chẳng tha thiết gì đến kiếp tầm ”rút ruột nhả tơ” của mình mà Th cho là ”rất qúy báu”? Phải mất gần bảy tháng sau, Th mới cho người đọc biết mình mất hai cuốn nhật ký? Đó là một điều khó tin cho một con người yêu thích viết nhật ký? Vả lại, nếu Fred lấy được cuốn vừa hồi ký, vừa nhật ký này thì lấy ở chỗ khác chớ nhất định không phải ”tại Đồng Răm”. Như vậy, trường hợp nào mất và mất lúc nào?

– Mất hai cuốn đầu, nếu Th không ”hồi ký” lại thì lấy đâu ra cho chàng sĩ quan tình báo Fred thu được cuốn hiện giờ đầy đủ nhất mà nhà xuất bản hội nhà văn Việt Nam in sách bán? Giả sử Fred lấy được thì chỉ lấy một trong hai cuốn đã mất vì cuốn thứ hai Fred có được là lúc Th bị bắn chết tại vùng núi Ba Tơ. Nhưng Th viết ”giặc đã cướp đi của mình hai cuốn nhật ký’‘ tại Đồng Răm thì Fred phải lấy hai cuốn tại đây chứ sao có một cuốn? Nếu một cuốn thì chắc chắn ngày tháng năm sẽ không bao giờ có đầy đủ liên tục như bây giờ ta đọc được. Th làm sao có lại hai cuốn đã mất mà viết tiếp những trang cho đến ngày 4.12.69? Như vậy, tại Đồng Răm hai cuốn, tại Ba Tơ một cuốn, vị chi là 3 cuốn?

– Còn một vấn đề nữa cần bàn ở đây: Nếu thật sự hai cuốn đã mất ngày 28.6.69 thì Th đã lấy cuốn khác mà viết tiếp trang 29.6.69 đến ngày 4.12.69. Một thời gian năm tháng, 5 ngày Th viết chỉ hơn hai mươi trang nhật ký?! (Bản chép tay cuốn 1 chỉ có 20 trang). Với cuốn sách vỏn vẹn hơn hai mươi trang thì lý do nào Th phải đổi cuốn khác mà viết bắt đầu từ 31.12.69 đến ngày cuối cùng 20.6.70? Như vậy, sơ sơ, Th đã có đúng ba cuốn nhật ký từ ngày 28.6.69 đến 4.12.69. Nhưng nội dung ba cuốn này thì chạy về nhập cục lại trong bản chép tay của Th ngon ơ. Thật không tưởng tượng nổi có một bàn tay vô hình nào đó như trêu cợt lịch sử! Nếu Fred lấy thêm một cuốn nữa thì chỉ có lấy một trong ba cuốn đó mà thôi. Sao cuốn chép tay này của Th lại đầy đủ như chưa hề bị mất cuốn nào? Th có trung thực hay không?

Nhìn tận mắt, đọc cuốn sách in và so bản chép tay của Đ.T.T (Bản chép tay in ra từ mạng của trường đại học Texas, Mỹ), người đọc cứ thấy thời gian nhật ký trôi đi tuồn tuột như không vướng mắc cọng gai chùm kết nào cũng như không hề có chuyện Th mất hai cuốn nhật ký trước cuốn thứ hai gần cả năm trời! Người đọc cứ tưởng Th chỉ có hai cuốn nhật ký bị mất và người Mỹ đã lấy được, đã cất giữ và trả lại sau ba mươi lăm năm mà không suy nghĩ gì hết.

– Như vậy, nếu không có gì đủ chứng minh cuốn một là nhật ký hoàn toàn thì nó chỉ là hồi ký phần đầu trong cuốn một (68-69) viết dưới dạng nhật ký. Vấn đề xác định loại thể một tác phẩm xin nhường lại cho những nhà nghiên cứu văn học xem xét và cho kết quả. Hồi ký không thể như Nhật ký. Sự trung thực và mức độ chính xác hai thể loại này khác nhau. Khẳng định và cho xuất bản một tác phẩm đang còn là nghi vấn là Hồi ký này là Nhật ký và bị cắt xén quá nhiều với sửa câu, từ gán ép, trật nghĩa là chuyện không nên đối với người chân chính.

2. Ảnh hưởng tính trung thực của tác phẩm ”Nhật ký Đ.T.T” và tác giả :

a. Điều chỉnh lại không muộn:

Những người nước ngoài đang nhìn về ”Nhật ký Đ.T.T” bằng con mắt với hai chiều vì Việt Nam là nước có nhiều phụ nữ ra trận đã trở thành anh hùng. Những đài SBC, BBC, những mạng web hay báo chí nước ngoài như: Houston Chronicle, Guardian, Charlotte Observer, English Forum, The Independent, Xieng-Ixan.. (theo Hoài Việt) đều có những lời hết sức tốt đẹp về cuốn sách dù có những bài viết chống lại sự tuyên truyền hiện tượng Đ.T.T thái quá.

Cho nên, nếu người ta đã xem cuốn sách này như ”cầu nối” tình dân tộc với dân tộc thì sẽ hụt hẩng khi biết người viết cuốn nhật ký này chưa rõ ràng nếu không nói là chưa xác thật với dữ kiện mất mát và thiếu một chứng minh về một cuốn sách ”Hồi ký” hay “Nhật ký”? Điều kiện nào đã khiến những cuốn mất nhiều hơn cuốn được lấy mà nội dung không thiếu phần nào? Một cuốn sách chưa minh bạch thể loại. Thời điểm mất và có lại chưa thống nhất vì người viết đã ghi lại những dữ kiện thiếu tính xác thực. Lỗi này không phải ở những người Mỹ hay người dịch hoặc biên tập và xuất bản mà ở chính tác giả. Nhưng cuốn sách lại được in ấn trong sự tùy tiện cắt xén, thêm thắt từ ngữ mất tính trung thực gây nhiều làn sóng bất mãn là lỗi về phía biên tập, nhà xuất bản và nơi cấp giấy phép. Điều này dẫn tới những cuốn nhật ký đã phát hành trước và sau đó bị đặt trong nghi vấn như nhật ký Đ.T.T.

Thương yêu, kính trọng anh hùng, liệt sĩ, thương binh, ta cứ thương, cứ kính. Tự hào dân tộc thì vẫn tự hào nhưng lịch sử cần sự trung thực còn con người cần sự ”tín dụng”. Khi một người bị ”bad credit” về kinh tế thì có thể lấy lại chữ đó nhưng trong tư cách làm người, nếu mất hai chữ ”tín dụng” coi như tàn một đời!

Với những gì Đ.T.T viết khi nào chưa xác định những nghi vấn trên thì đừng vội ”khua chiêng gõ trống”. Đ.T.T từng viết: “Khán giả chỉ vỗ tay khi diễn viên hay”. Ai đang làm diễn viên? Ai là khán giả? Đ.T.T quên rằng khán giả cũng vỗ tay cho diễn viên chưa hay như một sự khích lệ và lịch sự tối thiểu. Sự thật lúc nào cũng đi sau những nghi vấn khi được hóa giải. Nếu không, tất cả chỉ còn là sân khấu với diễn viên mà không khán giả. Mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp, chỉ cần biên tập và nhà xuất bản ghi vài câu vào bìa ”Nhật ký và Hồi ký Đặng Thùy Trâm” cùng nguyên bản những gì Th đã viết là đủ. Người đọc sẽ cảm thông và những nghi vấn trên nếu tìm ra được thì tốt, bằng không thì ”hãy để ngày ấy lụi tàn”. Ai đi bới tro than tìm mảnh áo tàn lần nữa cho thêm đau xót.

b. Một sự thực hồi ký hay nhật ký vẫn còn giá trị:

Dù sao đi nữa, ta không phủ nhận nội dung cuốn sách in và chép tay của Đ.T.T. Nó vừa là bài ca ca ngợi vừa là bản cáo trạng:

– Với cán bộ Đảng: Là mẹ hiền, đồng thời là mẹ ghẻ (Ta đừng quên gia đình Đảng chỉ có… mười ba người mẹ mà phải chăn tới ba triệu ”con ruột” và hơn tám mươi triệu ”con ghẻ” thì còn thần thánh nào hơn mà không lăn ra… phục sát đất luôn. Một gia đình đủ hai vợ chồng chăn bốn đứa con còn muốn… tắt thở, huống hồ… ). Là thiểu số thống trị đa số. Là trên còn phải tuỳ thuộc vào dưới (phép vua thua lệ làng). Là đội quân tiên phong lẫn lũ sâu, lũ mọt. Là những cán bộ tốt bụng đi chung với những kẻ ghen tị, nhỏ nhen, tham nhũng từng đồ vật…

– Với đồng chí, đồng nghiệp: Thương yêu, giúp đỡ nhau và có người không muốn người khác hơn mình thường tìm cách khoét về ”chuyên môn”.

– Với cuộc đời, quê hương: Sống chết cho xứng là người chân chính và cũng có nhiều người khi đất nước cần thì tìm cách thoái lui.

– Với tình yêu: Dám yêu hết mình, dám thương một đời, dám giận một kiếp bên cạnh những kẻ có mắt cú vọ xoi mói và những người coi nhẹ tình yêu.

– Thông điệp cuối cùng: Hãy yêu thương nhau lúc sống để không vô nghĩa khi thể hiện tình thương lúc chết.

D. KẾT:

Hồi ký hay Nhật ký quan trọng ở chỗ tính chân thực cần làm sáng tỏ còn nội dung xuyên suốt vẫn là vấn đề ”làm sao sống và chết như một người chân chính” mà chúng ta trăn trở hôm nay. Tất nhiên, nếu một cuốn sách nhật ký không có vấn đề thiếu tính chính xác thì nội dung sẽ được nâng cấp cao hơn và đi vào lòng người nhẹ nhàng hơn một cuốn nhật ký ”có vấn đề” từ khâu tác giả viết rồi mất đến kẻ lấy được, người kể, người biên tập và khâu xuất bản.

Thế giới con người với mọi đức tính đều có trong ”Nhật ký Đ.T.T”. Ta là ai trong những mẫu người ấy? Soi bóng mình vào gương hôm nay để luận bàn lịch sử tương lai sao mà buồn như chưa bao giờ biết buồn! Ngay cả nhật ký mà cũng nhiều cái để bàn thì cuộc đời phức tạp đến mức nào! May sao! Tiếng cười vô tư của con ta đã nhắc ta trở về thực tại: Hiện thực là những tờ giấy trắng cho con ta đến trường với dòng chữ mở đầu ”xin gởi tặng quê hương”. Yêu thương dạy con ta mang về điểm mười. Hận thù dạy con ta trở về với con dao, khẩu súng trên tay. Đó sẽ là một đáp số cho những gì ta đầu tư hôm nay cho con em ta tương lai. Thế mới nói:

Hào quang nào lóe lên rồi cũng tắt

Sự thật trụi trần – dao khắc vết vào tim!

Nhà thơ Phùng Quán trong ”Lời mẹ dạy” có viết:

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét.

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

…. Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.

Sự thực của ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm” về cộng, trừ, nhân, chia… đã làm xong. Coi như nthh ta đã mang lại cho độc giả chút hương vị cà phê đắng sau những giờ giải lao và tiếp tục quay trở lại công việc của mình quan trọng hơn nhâm nhi ly cà phê đen này.

Theo như Phùng Quán, coi bộ nthh ta cũng sắp tới ngày ”bẻ bút cầm dao”! Bỏ bút, bỏ đao, ta còn sống ào ào chứ bỏ cái… cọ nghề chắc ta dùng xương thay áo!

Anh hùng Đ.T.T làm cho ta đây nổi sóng bất bình ”rút đao tương trợ”, ai dè đâu đao ta lại vì chữ ”nghĩa khí” mà tìm đến một sự thật trần truị thì coi như ta cũng tự chém ta một nhát vào lương tâm vậy. Mong rằng hương hồn Th chớ có giận ta. Hãy coi đây như một khúc nhạc lòng mà ta đưa tiễn những đau thương của Th đi về một cõi mênh mông…

Nhật ký! Bản thân nó là một sự thật dù chín mươi phần trăm thì cũng đừng “hô biến” nó lên cấp, xuống cấp đã được có của nó. Đời ngắn ngủi sao ta không một lần sống với lương tâm. Đó cũng là tiếng lòng của Đ.T.T cách ba mươi bảy năm về trước như một bài thơ gởi lại cho đời.

“Đặng Thùy Trâm – Bài thơ gởi lại” có nắng ấm trên quê hương, có lý tưởng của con người sống trong một thời đại, một chế độ. Nó có lửa căm hờn, có những tình yêu thương một đời khó giải, có bốn mùa đi qua nỗi nhớ thiết tha và những giọt nước mắt trộn máu đã hóa thành những đám mây ngũ sắc trong gió thanh bình. Hãy để nguyên cây ngũ sắc cho cuộc đời thêm chút sắc màu hồng tô điểm vào ba màu mà Đ.T.T đã thấy Đỏ, Xanh và Đen. Người đời hãy chọn lấy sắc màu nào mình thích, mình yêu. Có hơn không? Cuộc đời đi qua chúng ta mỗi ngày như từng trang nhật ký mà chúng ta vô tình không hay biết đó thôi!

Hãy chăm chút cho “nhật ký” của người còn sống. Những gì tốt đẹp trong cuộc đời hãy dành cho nhau đừng chờ khi chết rồi mới biết yêu thương những hồn ma hư ảnh đã tan thành mây gió mong manh…

Tháng 10/28/05

Ngọc Thiên Hoa

TƯ LIỆU THAM KHẢO CÓ SỬ DỤNG:

I. Sách:

1. Nhật ký Đặng thùy Trâm (Đặng Thùy Trâm, Nxb HNV – 2005).

2. Mãi mãi tuổi hai mươi (Nguyễn Văn Thạc, Nxb TN – 2004).

3. Việt Nam 1945-1995tập I (Lê Xuân Khoa, Tiên Rồng – 2004)

4. Đại cương Lịch sử VN, tập III ( Nxb GD – 2004).

5. Văn bút Châu Âu, tập II, (Viên giác – 1994).

6. Hà Nội một thời xa (Lê Văn Ba, Nxb TN – 2002).

7. Phận bạc ( Làng văn, 1997).

8. Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ( Phan Cự Đệ, Nxb GD – 2001).

9. Tự điển tác giả, tác phẩm dùng trong nhà trường (Nxb ĐHSP – 2004).

10. Đặc san ”Lướt sóng” – 2002.

II. Bài viết:

– Có một con đường mòn trên biển Đông (Nguyên Ngọc, Nxb Hà Nội).

– Đi tìm Sulico (Vinh Thu, Báo Tiền Phong số 14, 15,16 ngày 4/4/1995).

– Ai biết liệt sĩ Đặng Thùy Trâm? (Trầm Hương, Báo PNTĐ số 51 ngày 22-29/12/2004).

– Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm mãi mãi tuổi thanh xuân (Trương Thị Kim Dung, Báo PNTĐ năm 2004).

– ”Ngôi nhà thờ họ Đặng của liệt sĩ Đặng thùy Trâm ở Huế’‘ (Nguyễn Đắc Xuân, Talawas.org).

– Cơn sốt nhật ký có lửa ( Nguyễn Hùng, BBC Vietnamese.com).

– Đặng Thùy Trâm qua lời kể của nguời chị kết nghĩa (Ngọc Tấn, vietnam.net).

 Cảm nhận từ lời phát biểu của Ngô Lê Hoàng Phương đọc hai cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc (Tùng Lâm, vietnam.net).

– Lời giới thiệu Nhật ký Đặng Thùy Trâm (Vương Trí Nhàn, talawas.org).

– Chuyện về Đặng Thùy Trâm viết từ Mỹ (Lê Thành Giai, Đặng Ngọc Khoa, thanhnien.com).

 Hành trình sang Mỹ tìm Nguyễn Trung Hiếu với tư cách là nữ phóng viên báo Tuổi trẻ (Uyên Ly, thanhnien.com).

– Cấp lãnh đạo nhà nước Việt Nam (cựu Võ Nguyên Giáp, Phan Văn Khải) đã viết thư, phát biểu ca ngợi, nâng cấp cuốn sách ĐTT mang tầm vóc quốc tế (thanhnien.com).

– Di sản Đặng Thùy Trâm (Fred, talawas.org).

– Và em, Tuổi hai mươi: Tản mạn về cuốn ‘Nhật ký tuổi hai mươi” (Hoài Việt, giaodiem.com).

– Thư ngỏ gởi các bạn trẻ Việt Nam và hai bạn Mỹ Fred, Robert (Bùi Minh Quốc, talawsa.org).

– Mấy cảm nghĩ nhân đọc “Thư ngỏ …” (Lê Nguyễn, talawas.org).

– Từ Thép đã tôi thế đấy đến Nhật ký Đặng Thùy Trâm, những uớc mơ bị phản bội (Trần Trung Đạo, vnn-news.com).

– Biên soạn nhật ký?” (Phạm Hoàng Quân, talswas.org).

– Nhật ký Đặng Thùy Trâm: So sánh nguyên tác và ấn bản (Nguyễn Ngọc Giao, talawas.org).

– Đặng Thùy Trâm qua lời kể của chị kết nghĩa’ (Ngọc Tấn, vietnam.net).

Xin chân thành cám ơn.