III. ”Nhật ký Đ.T.T”: Chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ngọn lửa căm thù:

1. Những năm tháng không thể nào quên:

Nhật ký thiên về ghi chép sự kiện nên vì thế có một số sự kiện lịch sử quan trọng được Th đưa vào.

Nếu “Mẫn và tôi” của Phan Tứ được đánh giá “như một cuốn sử thi từ Quảng Ngãi đến Bình Định” theo Phan Cự Đệ (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ) thì “Nhật ký Đ.T.T” chỉ ghi lại một vài sự kiện lịch sử nhưng tầm vóc có liên quan thế giới.

Th đã ghi lại cụ thể: “ngày 12.5.1968 Hội nghị Paris” trong nỗi vui như “những ngày tháng năm 1954 đấy chăng” để mong hòa bình vì “nuớc mắt chúng ta chảy nhiều rồi, xương máu cũng đổ nhiều rồi”. Những thống kê của những nhà viết sử ( Lê Xuân Khoa, Lê Mậu Hãn ) có cùng con số tương tự tử vong của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968: 5000 quân giải phóng tư trận so với 384 lính cộng hòa chết và 1.830 bị thương trong khi lính Mỹ bị bắn 216 và 1354 bị thương. Mồ chôn tập thể các phần tử chung là 2.810 người không kể hàng nghìn người khác bị mất tích.

Dẫu Hà Nội không thắng lợi trong cuộc tổng tấn công 1968 đó nhưng có quá nhiều thương vong đã dẫn đến sự lung lay nền chính trị Mỹ. Tổng thống Johnson không dám ra tranh cử nhiệm kỳ II. Nixon dễ dàng bước kên “ngai vàng” kế vị và chịu cùng Hà Nội đàm phán hòa bình không phải ngày 12.5.68 như Th viết mà từ ngày 10.5.68 đến chính thức có “bốn bên” là ngày 25.1.69 (Mỹ: Henry Cabot Lodge; VNCH: Phạm Đăng Lưu; Hà Nội: Xuân Thủy; MTGPMN: Nguyễn Thị Bình thay cho Trần Bửu Kiếm). Hiệp định Paris chính thức ký ngày 27.1.1973 mà Th không còn được nghe. Th còn ghi lại mốc 10.10.68 là ngày kỷ niệm mười bốn năm giải phóng thủ đô Hà Nội tức là 10.10.1954.

Mốc 1954 gợi lại cho ta một Điện Biên Phủ với bài “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của Tố Hữu kịp thời có mặt trên tầng cây số nóng hổi của lịch sử. Công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên chiến trận cũng như “thừa tướng” Tố Hữu trên mặt trận văn hóa tư tưởng có thể xem ngang hàng “nhất phẩm” và rồi cũng sẽ như Đặng Dung ôm cái “anh hùng di hận kỷ niệm niên niên” vào lòng để làm qùa sang bên kia thế giới cùng vui với hồn ma bóng quế. Xưa nay công thần nào mà chẳng có lúc thất thế sa chân! Công lao hạng mã ngày xưa chỉ là nỗi buồn đầu bạc cuối đời. Ngao ngán đấy!

Cuộc cách mạng ở miền Bắc hiển nhiên được công nhận “chính nghĩa” vì chống Pháp và sau đó là chống Mỹ (thời điểm 1973). Những mốc thời gian Th ghi tương đối khá chính xác dù vắn tắt nhưng nếu không phải là người yêu đất nước, sợ cảnh máu đổ, xương tàn thì không ai lụm cụm ngồi viết những cái mốc lịch sử như vậy trong nhật ký riêng cá nhân. Nhật ký Thạc là những trang viết về đời thường. Nhật ký Th là những trang viết về lịch sử. Đời thường cho ta cách sống. Lịch sử cho ta lương tri. Th đã ghi:

– 30.11.1968 miền Bắc hòa bình

– 11.6.1969 chính phủ lâm thời

– 1.11.1969 Hồ Chủ Tịch đọc chúc Tết

– 3.9.1969 lúc 9’47’’ Bác Hồ mất (nét chữ chụp đoạn này là bút tích duy nhất giống nét chữ bản chép tay).

Th đã khóc Bác vào ngày 3.9.69 nhưng hỡi ơi lịch sử Đảng CSVN không thật với ngay cả dân miền Bắc – cái nôi của cách mạng – bởi vì ngày Bác Hồ của Th mất là ngày 2.9 trùng ngày Quốc khánh của VNDCCH (phân biệt với VNCH). Vậy thì niềm vui và niềm đau trộn lại, Th hãy “vừa khóc, vừa cười” mỗi năm cũng không muộn màng gì. Trái tim mà Th từng mong “hòa được khắp trong tầng lớp nhân dân” nay đuợc Thủ tướng đương đại Phan Văn Khải “nâng cấp” lên “hòa đồng cả mọi dân tộc trên thế giới”. Đó là vì cái gì nếu không là sự dám hy sinh để bảo vệ một chế độ mà chế độ đó đang nắm vận mệnh đất nước. Còn những người hy sinh khác, tàn phế khác trong những năm tháng đã từng bị lãng quên này, họ có được người ta coi trọng như Th, nâng cấp hy sinh lên một mức ”thế giới” như Th? Thế nhưng, “những năm tháng không thể nào quên” của Th được ghi dấu bằng “lửa căm hờn” mà chính trung sĩ phiên dịch tiếng Anh, Nguyễn Trung Hiếu đã với Fred: “Fred, đừng đốt cuốn sổ này. Bản thân trong đó đã có lửa rồi” (theo ”Câu chuyện về những tấm lòng”, Đặng Kim Trâm trong ”Nhật ký Đ.T.T”). Lửa của Th., một thứ lửa căm hờn của Tnú. Một thứ lửa chiến tranh. Ngọn lửa này đã làm đôi mắt thần chủ nghĩa của Th rực cháy và Th đã ghi vào trang đầu: ”Những ngày rực lửa. Vui, buồn đọng giữa tim ta”.

2. Lửa căm thù cháy thiêu lòng nhân ái:

Nhân chi sơ tánh bản thiện”. Con người sinh ra vốn lương thiện nhưng đều có sự phản kháng để tự vệ khi bị tấn công. Điều đó, ta thấy bất thình lình, ta bị những con rắn, rít, bò cạp, chó mèo… táp, chích, đớp cho chạy nọc khi vô tình dậm phải chúng. Một phản xạ vô điều kiện trong sinh học. Với con người, động vật cấp cao hơn đã biết phản xạ có điều kiện mà lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc phản ánh rất đầy đủ qua những cuộc chiến tranh thế giới, chiến tranh tự vệ (nội chiến, tương tàn). Có chiến tranh tất có chết chóc. Có đổ máu tất có căm thù.

a. “Nhật ký Đ.T.T.”: Tràn đầy lửa căm thù:

Có những giấc mơ đâu chỉ toàn là ác mộng. Bản thân con người sinh ra không cười mà lại khóc mếu đó sao? Tiếng khóc sinh lý đó đem lại cho người niềm vui còn tiếng khóc tâm lý mới đưa con người vào hận thù không khi nào chấm dứt. Thái độ căm thù chỉ bộc phát khi con người bị mất mát, bị tấn công, bị cướp giật quyền sống, bị đối xử tàn ác… là căm thù mang tâm lý cá nhân. Căm thù mang tính dân tộc là khi một nước này bị một nước kia xua quân xâm lấn.

“Nhật ký Đ.T.T” mang cả hai căm thù cá nhân và căm thù dân tộc. Nhân vật Th cũng đã chiến đấu vì lòng căm thù ấy. Nhưng nói cho cùng, Th không bị ai tước đoạt cái gì, chẳng bị đối xử tàn ác mà trái lại, Th “được cưng chìu”. Th căm thù khi đồng đội ngã xuống. Nét căm thù cá nhân đã nằm trong “căm thù” chung của miền Bắc. Nét căm thù này xuất phát từ lòng nhân đạo -cội nguồn của giữ gìn đất nước.

Trong “Nhật ký Đ.T.T”, mỗi một đồng đội hy sinh đều nâng mức căm thù trong Th. Ví dụ, chỉ một “đồng chí bộ đội” ngã xuống trong túi là tờ thư “Đợi anh về” của người yêu, Th đã giận dữ kết án: “Tội ác kẻ giết người là đế quốc Mỹ”. Thấy cảnh bệnh xá nghi ngút cháy, Th đã hạ quyết tâm: “Đánh cho không còn một tên đế quốc Mỹ nào”. Trên chiến trường, Th không là cô bé Sulico mơ màng nghe những bản vọng cổ, nghe tiếng mưa rơi, nhìn tia nắng ấm, ôm ấp thương yêu mà là một người chiến sĩ. Bom tiếp bom. Đạn tiếp đạn. Thù tiếp thù. Th mượn ngày San về lại Bắc để truyền hận thù: “Hết giặc Mỹ mới thực sự có cuộc sống mà thôi”.

Ý thức dân tộc từ cánh tay “Sát Thát” (giết Mổng Cổ) của quân binh nhà Trần đã được Th triệt để sử dụng vào công cuộc chống Mỹ. Hình ảnh ”đống xương vô định còn cao bằng đầu” của thời xưa để nói cái ý “Nhất đái công thành vạn cốt khô” cũng là “Xương dày nuối chí hờn căm” biến trái tim con người thành đá căm hờn. Th trút hết căm thù vào Mỹ và nhìn Mỹ như một kẻ khát máu khi thấy mẹ con chị Hương (đồng nghiệp) bị thương nặng: “Đáng ghê tởm vô cùng bọn Mỹ khát máu”. Cuối cùng Th kết luận: “Xương máu đã chất cao như ngọn núi căm thù sừng sững trước mắt chúng ta. Bao lâu đuổi hết lũ quân uống máu người không tanh ấy?”.

Một trăm năm bị Tàu đô hộ, dân tộc Việt Nam sống dở, chết dở vì sự thống trị tàn bạo của những tên thái thú Tô Định, Nhâm Diên. Tội ác kẻ thù qua các triều đại đô hộ đã được Nguyễn Trãi kể rõ trong “Bình Ngô đại cáo”: “Cuồng Minh tử khích, nhân dĩ độc ngã dân; ác đảng hôn gian, cách dĩ mại ngã quốc. Phiến thương sinh ư ngược diệm, hãm xích tử ư họa khanh. Khí thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng… Bại nghĩa thương nhân, càn khôn có hồ dục tức, trong khoa hậu liễm, sơn trách mỹ hữu kiết di…”

Cuồng Minh mượn cớ nhiễu nhương.

Gian tà bán nuớc, một phường cầu vinh.

Lửa hung tàn nuớng dân tình

Hầm giam con đỏ bỏ mình tai ương.

Dối trời, lừa đất khôn lường

Hai mươi năm kế kiếm đường hại dân.

Càn khôn nát nghĩa bại nhân …

Núi non thuế má vét gần lộ xương

Đào mỏ núi, lam chướng thừa

Xuống biển mò ngọc chưa vừa túi tham…”

(Người viết chuyển thể)

Tội ác như thế, ai không căm hận? Một ngàn năm qua đi. Một trăm năm lại tới. Lính “commăngđô” khét tiếng chặt đầu, lột da, dìm hết những cuộc khởi nghĩa chống Pháp vào thế kỷ XIX vào biển máu mà Nguyễn Đình Chiểu trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” (Tế lính Trương Định) nêu rõ: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan. Ngày xem ống khói chạy đen xì muốn ra cắn cổ”. Căm thù cỡ đó đủ biết giặc Pháp ác đến bực nào. Bài Văn tế thống thiết như thế, đậm đà tình yêu nuớc, thương nòi như thế, được xếp trong một phép đối đầy biện pháp tu từ như thế mà nhìn không ra “cái hay, cái đẹp” anh hùng của những người nằm xuống, quả thật tâm hồn con người đã đến lúc rêu phong!

Một trăm năm cũng qua. “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” lại đến! Mỹ theo chân Pháp không đúng thời cơ vô tình hốt trọn sự căm hờn hơn bốn ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Mỹ hiện diện trong “Bà má Hậu Giang” của Tố Hữu không phải là con người nữa:

Một thằng Mỹ mắt xanh, mũi lõ

Mắt diều hâu mũi chó, râu dê

Súng trường nhọn hoắt lưỡi lê

Khét nồng khí chết, tanh dề máu oan…

So với bọn giặc cuồng Minh của Nguyễn Trãi: “Thằng há miệng, đứa nhe răng máu mỡ bấy no nê chưa chán” cùng một nòi loài động vật hai chân ăn thịt người. Kinh khiếp thay cho trí tưởng tượng văn học. Tội nghiệp, ngay cả chàng binh nhì thông tin có tiếng ”văn võ song toàn” Nguyễn Văn Thạc mà ra trận cũng không hình dung nổi Mỹ là gì? Thạc tự hòi ”nó là cái gì mơ hồ thế?… hẳn đó là cũng khuôn mặt người bị bóp méo xộc xệch. Hẳn đó là bộ mặt nhăn nhúm trước ánh sáng mặt trời” (”Mãi mãi tuổi hai mươi” ngày 15.11.71). Không biết Mỹ sao lại căm thù Mỹ đến độ một mất một còn trong Thạc: “cánh tay này sẽ bóp nghẹt cổ quân thù”. Căm thù kinh khủng cho cánh tay… “Sát Mỹ”!

Th và Thạc có nhìn Mỹ dưới góc độ con thú cũng không sao. Xét cho kỹ về mặt nhân đạo: Người Tàu, người Pháp, người Mỹ đâu phải ai sinh ra cũng muốn đi làm ma cà rồng hút máu người. Ngay cả những lứa tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự của lớp trẻ miền Bắc dù được trang bị kỹ tư tưởng đánh Mỹ mà vẫn bỏ trận, đào ngũ, ”đánh nhau, cãi nhau, đánh cắp của nhau. Ba phần tư số xoang quân dụng bị mất rồi quân trang, quân dụng mất lung tung! Tệ quá ” mà Nguyễn Văn Thạc đã ghi lại trên trang giấy bằng ”những câu văn vội vàng, bụi bặm”. Xâm lược chỉ là lý tưởng của một bộ phận đang nắm guồng máy chính trị của một dân tộc. Nhân dân nằm trên guồng máy đó. Lịch sử dân tộc nào chẳng có một lần bị coi là xâm lược. Việt Nam ta đâu phải không có. Chế Lan Viên không phải đã từng để tang cho dân tộc Hời trong ”Điêu tàn” hay sao? Đâu bỗng nhiên mà có một ”Hận Đồ Bàn” trên Tây Sơn đất đỏ, trên Phan Thiết cát khô? “Mạnh được, yếu thua” là lẽ tất nhiên của “được” và “mất”. Dân tộc nào cũng biết xót xa khi mất mát và đau đớn khi chia lìa, hận thù khi chết chóc. Đâu chỉ mình dân tộc Việt Nam biết đau? Đâu phải chỉ mình Th biết xót?

Quân mình chết, mình đau. Lính người chết, mình vui. Có cái gì mâu thuẫn lương tâm quá! Trong “Nhật ký Đ.T.T”, hình ảnh nhân vật Th reo vui trước thành tích của những em bé mà Th ca ngợi: “Các em đã anh hùng từ trứng nước.” Th ghi: “Em Hùng 14 tuổi giết 6 lính Mỹ… Em An phổ Nhơn lấy 5 súng, 2 cối cá nhân, 1 đài RC”. Lời tự hào sao như bản án tử hình dân tộc đã đến. Mới nức mắt đã yêu căm thù, yêu giết giặc hơn yêu lời ru của mẹ. Những hình ảnh đó tràn đầy trên chiến trường Trung Đông hiện nay đã thật sự gây kinh hoàng, bất nhẫn trong những trái tim yêu hòa bình với tấm chân tình nhân đạo mà người ta chẳng hề nghĩ đến tuổi thơ? Tội ác đã mò đến tuổi thơ như con sâu ăn hết đọt mầm xanh đất nước. Th có nhìn ra không? Th vui mừng khi “kiểm điểm binh mã” với sự “hao binh tổn tướng”: Về phía mình: “1du kích hy sinh, 2 bị thương” để lấy: “14 tăng, 1HU-1A, 15 xe nhà binh, diệt 150 Mỹ”. Thiện xạ vô cùng nhưng xem lại: 1 anh hùng của giải phóng quân (1 hy sinh) đối lập 150 anh hùng của Mỹ (150 bị diệt). Vô tình, đồng đội Th đã tạo ra cho dân tộc Mỹ nhiều anh hùng như vậy! Không phải những ai chết trên chiến trường đều là anh hùng hay sao?

Th vẫn lao vào lửa căm hờn đó cho tới chết. Th đã đưa ngôn từ hết sức nặng nề khi nghe tin Nixon mở cuộc chiến vào Đông Dương và miền Bắc cũng đã điều thêm quân vào “chiến trường đi chẳng tiếc máu xương” qua đường mòn Hồ chí Minh. Ngày 5.5.70 trang 241, Th viết: “Thằng chó đểu Nixơn đã liều lĩnh điên cuồng mở rộng thêm cuộc chiến. Chúng ta sẽ phải đương đầu với một khó khăn ghê tởm hơn nữa đây. Nhưng tao đã thề cùng các đồng chí của tao rồi, dù có chết cũng quyết đánh đến cùng… Ôi! Căm thù đến bầm gan tím ruột”. Hình ảnh cô gái ôm đàn guitar hát những bài tình ca biến thành bài ca thù hận. “Mỹ” đẹp đẽ đã thành “quân khát máu”, “quân chó đểu”, “quỷ cướp nước” mà Th căm ghét đến tận xương tủy. “Ăn gan, cắn cổ” tới nơi rồi còn gì! Cuốn Nhật ký… khạc ra “lửa” là vậy!

Nhưng quanh đi quẩn lại, Th chưa mở lòng ra nghĩ tới người nào không có cha, có mẹ, có vợ, có chồng, có anh em, bạn bè, người yêu và có cái lớn lao hơn là tổ quốc? “Ăn cơm chúa phải múa tối ngày”, “Ăn lộc Vua sao không cày trả nợ”? Tuổi thanh niên ở Mỹ hay tuổi thanh niên ở bất cứ nước nào, không đi lính khi tổ quốc cần thì đi đâu? Trường huấn luyện nào mà không có mục tiêu (“target”) buộc học viên phải nhắm cho đúng và bắn cho trúng? Kẻ thả bom phải thả cho chính xác. Bắn không trúng. Bom ném trật. Có mạng mà trở về trình diện với thủ trưởng là phước bảy đời!

Trên chiến trường không có tình cảm riêng. Nếu mảnh pháo có mắt, chúng đã không chém đứt hai bắp đùi của Thạc vào ngày 30.7.72 và họng súng kia sẽ quay hướng khi nhắm vào trán của Th ngày 22.6.70? Nếu súng đạn có mắt, còn ai trở thành anh hùng trên chiến trận? Hóa ra những thợ khắc Huân chương chiến công, Bắc đẩu bội tinh… đói chết trơ xương vì chẳng có ai “đặt hàng” (“order”) gì cả?!

Chết vì nghĩa khí, vì Chúa, vì Vua, vì đất nước mình sống, đều là cái chết đáng lưu sử xanh. Quan Công bị Tháo bắt, thà chịu chém chứ không đầu Tào. Trần Bình Trọng thà làm quỷ nước Nam. Toa Đô thua trận ở Tây Kết mà bị cắt thủ cấp, Trần Hưng Đạo cảm kích cởi ngự bào đắp cho như tôn kính kẻ anh hùng. Sầm Nghi Đống cùng đường phải thắt cổ ở gò Đống Đa thà chịu chết. Nhân dân lập tức lập miếu thờ. Võ Tánh, Ngô Tùng Châu người tự thiêu, người uống thuốc độc vì thọ ơn Nguyễn Ánh mà không đầu hàng Tây Sơn. Người liêm sĩ, kẻ anh hùng xưa nay đều tỏ khí tiết vậy cả.

Không ai yêu thích chiến tranh. Th cũng biết: “Chiến tranh không bao giờ mang lại hạnh phúc cho hai lớp người đối đầu giữa hai trận tuyến nhưng chiến tranh giúp con người giải quyết vấn đề độc lập tự do hay nô lệ một cách triệt để”. Những người trên chiến trận đâu phải hoàn toàn là những người tự nguyện? Trong “Phận bạc”, Vũ Tiến Dũng đã để nhân vật mình phát biểu: “Xông lên thì chết vì đạn địch mà không xông thì chết vì đạn ta. Sau mỗi đợt xung phong lại thấy thiếu mất vài người… Chiến tranh là cái mà người dân lành không muốn.”.

Th cũng không hề biết chính những người dân lành ở Mỹ, họ ghét chiến tranh và hầu hết khi có cuộc chiến với nước nào, họ vẫn biểu tình (đây là quyền tự do ở một nước tự do). Tờ “Người Việt” số 6720 ngày 1/5/2004 có đăng: “Rất nhiều cuộc biểu tình quy tụ hàng trăm ngàn người, cả sinh viên đại học và dân chúng trên cả nước Mỹ liên tục những năm 1968-1970, vừa làm suy yếu tinh thần quân đội, vừa tạo ảnh hưởng trực tiếp đến chính tình Mỹ vốn tùy thuộc hoàn toàn vào lá phiếu trực tiếp của dân”.

Nếu không có những cuộc biểu tình đó như “góp một bàn tay” bẻ giò chính phủ Mỹ thì Quốc hội Mỹ không cắt viện trợ cho VNCH và rút lui để ra đi trong “danh dự” thì cuộc Nam tiến của miền Bắc đâu thể nào thắng VNCH dễ dàng như vậy? Mất tinh thần. Mất tự tin. Mất viện trợ. Mất những kẻ như Đ.T.T, như NVT… ở chiến trường. Mất trắng! Th cũng đâu có biết, số phận liệt sĩ cũng lắm gian truân. Trên con đường từ Bắc vào Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, đâu phải cái nào cũng được về “nơi an nghỉ cuối cùng” như Th. Kẻ hy sinh trong thất bại càng thê thảm hơn:

Bóng ngày qua, bóng ngày qua

Giờ đây người lính đã ra đi rồi

Bóng chiều rơi, bóng chiều rơi

Nghĩa trang lạnh lẽo, nơi nơi hoang tàn

.…

Đồi xanh mộ chí ai ơi

Không người thăm viếng, không người trông nom

Nhà quàn lạnh lẽo sớm hôm

Chim non chíp chíp gọi đàn về đây…

(Thăm nghĩa trang Quân đội Biên Hòa –Tô Sơn, báo “Người Việt” số 7128 ngày 13/6/2005)

Ngọn lửa căm hờn của Th ngày nào tận ba mươi lăm năm trước rực trong đôi mắt mộng mơ khi đọc những câu này có chút nào dịu xuống? Th đã không phải tâm sự với em mình “chị sẽ đem lại ánh sáng cho những đôi mắt tật nguyền” sao? Biết hận thù đúng mức và dừng lại đúng lúc thì cuộc đời không còn “những đôi mắt tật nguyền” với “con tim mù lòa” lòng nhân ái, là đá tảng với thương đau.

Còn thằng Mỹ thì không ai hạnh phúc nổi” mà Th nhắc trong nhật ký không phải của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi ”Chín phút ra pháp trường” sao? Giờ không còn “thằng Mỹ” nên Th yên lòng nhắm mắt vì “ai ai cũng hạnh phúc cả rồi”. Người đứng đầu chính phủ đương đại đã vỗ về linh hồn Th và Thạc trên báo Tuổi trẻ ngày 4.8.05: ”hãy yên nghĩ… hành trình của các em đang được tiếp nối ngày càng xứng đáng, lý tưởng của các em nhất định sẽ được thực hiện thành công”. Cứ nghĩ như vậy đi như ba mươi lăm năm về trước, Th đã nghĩ miền Nam nghèo khổ, thương đau cần… giải phóng !!?

b. Thực tế về cái nhìn miền Bắc đối với miền Nam:

Không biết căn cứ vì đâu hoặc vì đòn “chiến tranh tâm lý” mà miền Nam trong tầm mắt miền Bắc anh em là “nghèo khổ, bom đạn” chính là mục tiêu “giải phóng miền Nam” sau 1973, Mỹ cuốn cờ kéo về nước. Nam tiến sau 1973 thành cuộc chiến huynh đệ tương tàn không khác gì thời Bắc-Nam, Trịnh-Nguyễn hoặc Vua Lê (Bắc), Nguyễn Huệ (Trung) và Nguyễn Nhạc (Nam) phân tranh suốt bốn mươi lăm năm ròng rã…

Cuộc Bắc tiến hay Nam tiến (nếu có) sau 1973 thì cũng làm một cái việc “thống nhất đất nước” như Nguyễn Ánh đã làm. Hiệp định Paris không quy định cấm Bắc tiến nên Bắc cứ tiến. Miền Nam lúc đó có ai xâm lược đâu mà vào giải phóng? Nước mắt Th nhỏ xuống cho đồng đội vì bom đạn Mỹ mà hy sinh, có còn giọt nào để cho người ngã xuống không vì bom đạn Mỹ mà cũng hy sinh vì súng đạn của Nga sô, Trung Cộng? Miền Nam trước đây có vựa lúa khổng lồ Đồng Tháp Mười quanh năm dư thừa nuôi sống mười bốn triệu dân miền Nam lúc đó. Bây giờ, nguồn xuất khẩu nhì, ba gạo của Việt Nam trên thế giới không phải là vựa lúa miền Nam sao? Hòn ngọc Viễn Đông – Sài Gòn thời đó cũng lộng lẫy bậc nhất nhì Đông Nam Á, không nghèo nàn như sau 1975 khi “xóa bỏ chế độ người bóc lột người” từ Bắc trùm lên miền Nam.

Tiếc thay, Th cũng chỉ là người được học về miền Nam trên sách vở. Nếu bây giờ, có ai còn nói miền Nam thời đó như Th nghĩ: Nghèo khổ, đói rách, bom đạn, không tự do, ta nghĩ chắc lịch sử đã đến giờ khóa sổ. Dù sao, Th cũng được gọi là “anh hùng” ngang hàng với những “anh hùng” trên thế giới. Công nhận “anh hùng” cho Th mà “phủ nhận” tính cách anh hùng của những người lính bám trụ miền Nam sau ngày 27.1.73 và những người lính chết vì Trường Sa là một sai sót, không công bằng của lịch sử. Có ba Th: Một Th ngã xuống vì đạn Mỹ năm 1970, một Th ngã xuống vì pháo Mỹ năm 1972 và một Th ngã xuống vì pháo Trung Cộng ở Hoàng Sa năm 1974. Thế nhưng, hai Th là anh hùng còn một Th là con ma lang thang… ( Thượng tá Ngụy Văn Thà hạm trưởng HQ10 cùng Lê Văn Tây, Đinh Hoàng Mai, Lê Anh Dũng chết theo tàu HQ10 đã bị Trung Quốc bắn chìm ngày 27.1.74 tại đảo Hoàng Sa). Có ai đó đã viết những lời thơ tang thương mà Hoàng Xuân Bái trong đặc san ”Lướt sóng”- 2002′ đã ghi lại:

… Tôi biết mùa xuân chưa đến bao giờ

Ngực đảo còn đau ngàn bàn chân lạ.

Hoàng Sa, xa vời ơi Hoàng Sa

Tên người ngân buồn như bản thánh ca.

Bài thơ không tác giả nhưng có một tấm lòng đáng để ngợi ca về những con người sinh ra, chiến đấu với số phận nghiệt ngã mà không ai mong muốn.

Đời không thiếu kẻ anh hùng. Nhưng có ai đi cầu cạnh một chữ anh hùng cho có vị đâu. Vấn đề ở đây tức là ”đánh giá, công nhận giá trị hy sinh” của những người bỏ mình vì đất nước. Điều này cần những người viết sử có trái tim là tiếng nói của công lý thì may ra. Tìm một người viết sử Tư Mã Thiên hay Trần Trọng Kim như “mò kim đáy biển”. Nhưng cứ tin rằng: ”Sương mù dày cỡ nào cũng đến lúc rời xa đỉnh núi. Sự thật đánh lừa, lịch sử cũng phanh phui”. Những người chủ trương “phục quốc” với mục đích cá nhân dẫu so tài lý thuyết cũng chẳng thể nào chịu nổi một ”chiêu” của các nhà “đại ảo thuật gia” dầy dạn kinh nghiệm trên chiến trường chính trị! Có đương đầu bằng súng đạn, bom mìn tân tiến cũng không có một “anh hùng mũ đỏ tên Đương”, ”anh hùng Hải quân áo trắng tên Tuấn” và một tướng Phú, tướng Nam, thứ hai! Chủ trương “tự mình” cứu mình của Phan Chu Trinh hay “nhờ người cứu mình” của Phan Bội Châu hoặc tiếng bom Sa Diện Phạm Hồng Thái cũng không còn “hậu duệ”! Thời đại đã khác xưa rồi. Lịch sử đang đi bằng hai chân lại phải đi thêm hai chân nữa thì loài người trở lại thời nguyên thủy vì mọi thứ đã bị: phá hết, giết hết, đốt hết. Ta đã thấy một hiện thực lịch sử đi qua đôi mắt:

Miền Bắc không giỏi gan lỳ sao họ có thể kiên trì trong ”Chín năm làm một Điện Biên. Nên nhành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” đánh bại Thiếu tướng De Castries làm nên Điện Biên Phủ buộc Pháp ký hiệp định Giơneovơ ngày 21.7.1954 chia đôi đất nước? Miền Bắc không lanh mưu, lắm chước so có thể buộc chân Mỹ vào hội nghị Paris ngày 21.1.1973 dẫn đến sự truất phế tổng thống được coi “có máu mặt” của VNCH là Thiệu đưa đến sự cáo chung của chế độ VNCH ngày 30.4.75 – ngày mà Nguyễn Văn Thạc đã tiên tri hẹn cùng Như Anh nối câu ân tình nhưng chỉ mình Như Anh trở lại!, cũng là ngày mà Th mơ ước thanh bình để về gặp ba má cũng chỉ còn mỗi má ba!. Kẻ thắng trận cũng tan tác mà người thua cuộc càng nát tan hơn!

Ai chiến thắng mà không hề chiến bại

Ai nên khôn không khốn một lần.

Câu thơ của Tố Hữu mà Th đã ghi vào nhật ký nó có tính chất biện luận cho sự thắng bại, tồn vong… là lẽ tất nhiên của một thời đại, một chế độ, một quốc gia. Thêm một bước nữa, Đảng CSVN không khéo léo sao có thể đẩy lùi được sự xâm lược ồ ạt của Trung Quốc trong những năm 1979 vào sáu tỉnh biên giới phía Bắc ngày 17.2 – 4.3.1979. Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm. Ba mươi năm hòa bình cũng chưa phải là con số “thọ”. Người anh em “môi hở răng lạnh” kia nóng, lạnh, sổ mũi bất thường. Những người bạn láng giềng cũng đâu có nguôi “hận Đồ Bàn, bạo tàn Pônpốt?”. Và nếu họ bất thình lình quay ngược mũi súng hướng về tổ quốc Việt Nam trên công xuống, dưới kích lên, kẻ “đứng mũi chịu sào” vẫn là Đảng CSVN và quân đội, nhân dân của họ chứ nào phải những kẻ ở bên kia bờ đại dương? Lúc này, đất nước lâm nguy, có ai xứng đáng làm Trần Hưng Đạo ”vì nước quên thù nhà” hay không? Những kẻ ”cõng rắn cắn gà nhà” đã bị lịch sử nguyền rủa đời đời, nhân dân khinh ghét kiếp kiếp. Nếu hôm nay, người ta chưa nhìn thấy thì ngày mai, lịch sử sẽ nhìn ra kẻ đó là ai?

Mỹ chỉ có hai đảng: Dân chủ và Cộng hòa trên tổng hai trăm rưỡi triệu dân. Di dân Việt Nam chỉ hơn một triệu ở Mỹ trên tổng số hai triệu tám ở hải ngoại mà có biết bao là đảng phái? Nội công việc bầu chọn một “thủ lĩnh” thôi, sự tranh chấp sẽ thành: “Máu anh em nhuộm đỏ Thái bình dương, tanh hôi ngàn năm không sao sạch. Xương cốt nhục phủ trắng Đại tây dương, dơ bẩn vạn kiếp chẳng phai mờ”. Một bài học của những cuộc khởi nghĩa không liên kết thời thực dân Pháp dù cho ba mươi năm đấu tranh của Hoàng Hoa Thám được coi là cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại nhất cũng chỉ còn: “Máu nhuộm đỏ lá rừng Yên Thế. Xương trắng đồng nức nở chiến khu.”. Trịnh Công Sơn chết rồi, người kế vị chưa có, lấy ai viết lên những ca khúc phản chiến ngậm ngùi!?

Không ai muốn đẩy con em mình vào vòng lửa đạn vô vọng như vậy cả. Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Hoàng Thượng Lân… và những người ngã xuống phía bên kia, ai cũng mong có người viết tiếp trang nhật ký hòa bình chứ nào muốn viết tiếp trang máu đổ ”mẹ già khóc trẻ” vì chiến tranh là giải pháp cuối cùng chỉ có thể xảy ra khi người ta buộc phải dùng vũ lực để chọn: Tự do hay nô lệ. Chúng ta không phải là dân nô lệ. Chúng ta chỉ đang thiết tha mong muốn chữ ”tự do” cũng như Th, như Thạc mong ước. Sự đòi hỏi này ai sẽ là kẻ chịu trách nhiệm phát ban? Nhân vật Th đã ghi lại lời mẹ Thiện (đứa con trai duy nhất theo cách mạng, xin phép ba lần về thăm mẹ mà không được) ”tự do” mắng vào cấp trên của Thiện: “Anh không xứng là đồng hương vì anh không có chút tình quê hương. Anh không xứng là thủ trưởng vì anh không có tình đồng đội”. Câu chửi thật… hay. Đúng là câu mắng mỏ ra trò của lịch sử. Nếu có “đập” Đ.T.T hay “đập” Ban biên tập không cắt câu này thì hãy “đập” người viết bài này trước vậy!

Một sự kiện cần nói thêm trước vong linh Đ.T.T : Miền Nam không nghèo như trong mắt người miền Bắc nhưng miền Nam sợ một từ mà Th chưa bao giờ được nếm mùi là mọi giai cấp, mọi thành phần, giới tính, tuổi tác đều sợ từ “Việt cộng” hơn sợ “ngáo ộp”. Thanh niên sợ bắt lính một nhưng sợ bắt đi lên núi mười. Đó là sự thật. ”Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi… dẹp lép”. Đã ba mươi năm rồi mà cảm giác sợ hãi tâm lý vẫn còn nặng nề trong tâm hồn những người sống qua hai thế hệ. Chiến tranh qua rồi thì “trung ngôn nghịch nhĩ”, “công thần chết oan”. Lịch sử nào, triều đại nào mà không tránh khỏi “điểu tận cung tàn”!. “Giữ chùa ăn oản chùa”, đó là lời sấm ký của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là sấm ký của lịch sử. Lịch sử không bao giờ đi thụt lùi nên chúng ta đừng bao giờ đẩy lùi lịch sử bằng đôi tay thô bạo và súng đạn.

Trên con đường lịch sử đã đi, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của thời chống Pháp, chống Mỹ ở miền Bắc nói chung và của Th nói riêng đều mang tính tất yếu của lịch sử.

3. “Nhật ký Đ.T.T.” mở lại một thời “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” trong lịch sử văn học:

a. Về những con người đặc biệt là phụ nữ:

Sự hy sinh của Th là một trong vô số người phụ nữ ngã xuống. Th là một bác sĩ Hà Nội cầm súng ngã xuống. Dương Thị Xuân Quý là một nhà văn Hà Nội cầm súng ngã xuống. Người con gái thanh niên xung phong không tên hồn nhiên, trong sáng, ngã xuống và đi vào thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong “Khoảng trời hố bom”:

Có phải thịt da em mềm mại trắng trong

Đã hóa thành những làn mây trắng.

Và ban ngày khoảng trời ngập nắng …

Hỡi mặt trời hay chính trái tim trong ngực soi cho tôi…

Đọc thơ là thưởng thức “hồn thơ”. Ta không cần biết tác giả là người được thương hay ghét, thuộc tầng lớp nào, chế độ nào? Con ong hút mật có bao giờ phân biệt hoa đẹp xấu ra sao? Một thời chiến tranh đã đi qua trong Nguyễn Thị Hồng Ngát, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thu Trang, và đọng lại một bài thơ đã giã từ sách giáo khoa. Đó là bài “Giấc ngủ nàng tiên dũng sĩ” của Dương Hương Ly mà người viết bài thuộc lòng từ cấp hai. Nàng tiên ấy như nàng tiên Thùy Trâm sau tiếng bom rơi:

Em ngủ vườn trưa xanh nắng thưa

Gió hiu hiu hát mát thân dừa.

Tấm dù em đắp vương vương nắng

Như bướm vờn theo nhịp võng đưa.

Pháo giặc dưới tàu vẫn bắn lên

Trời âm vẩn đục tiếng bom rền.

Máy bay giặc rú như bầy thú

Em chợt tỉnh rồi lại ngủ yên.

Ôi tuyệt vời thay giấc ngủ hiền

Của người em gái đẹp như tiên.

Dễ thương như nước hàn giang ấy

Mà tựa triều dâng giữa trận tiền.

Ai biết chiều qua trong lửa đạn

Em là cô gái rất hiên ngang.

Dẫn tổ ba người băng lửa thép

Đánh bật vòng vây mấy tiểu đoàn.

Giờ nằm trong võng ngủ ngon

Gió thơm mái tóc nắng chen mặt hồng.

Hỡi con chim nhỏ trên đồng

Hót lên cho đẹp giấc nồng em tôi.

Đêm nay vào lúc trăng tà

Nàng tiên dũng sĩ lại ra trận rồi.

Gió trưa ru nhè nhẹ

Trên miệng em mỉm cười.

Em đang mơ gì thế?

Mùa xuân về trên môi.

Bài thơ nhẹ nhàng, thanh thót êm ái như giấc ngủ của nàng tiên dũng sĩ sau khói bom. Sự hồn nhiền đó đã bị chiến tranh lấy đi không còn dấu vết. Đọc bài trên và đọc lại bài “Hai lần làm mẹ” của Trầm Hương, người đọc hình như… cắn vào môi mình rướm máu:

Con trở về sau cuộc chiến

Không chàng trai nào đưa tiễn.

Không còn nửa lời thề non hẹn biển

Mẹ là người duy nhất đón đưa con.

Ừ thì con về với mẹ

Ngôi nhà ta ba năm rồi đơn lẻ…

Mẹ hái hoa bưởi về gội tóc cho con đây.

Ôi mái tóc xanh dài dưới bàn tay nhăn của mẹ

Vòm ngực con vẫn còn căng tràn sức trẻ

Mẹ run lên khi chạm vào đôi chân ngà ngọc của con

Gởi lại chiến trường!

Sự im lặng còn đau đớn hơn ngàn tiếng nấc

Con ơi, làm sao mẹ quen được nỗi mất mác này.

Nỗi đau nhân loại là đấy. Tàn phế còn đau khổ hơn ăn phát đạn vào đầu. Còn bao nhiêu cô gái, bao nhiêu người mẹ với cơn đau như muối xát lòng trên đất quê hương , trên thế giới? Những con người thức tỉnh trước mặt trời khi gặp cách mạng rồi đau thương, gian khổ và mơ ước diễn ra từng phút, từng giây trong cuộc chiến như thế nào?

b. Hiện thực tình cảm trong chiến tranh:

Giá trị hư cấu của thơ ca bóng bẫy, buốt lòng hơn tiểu thuyết. Thơ ca trau chuốt từ ngữ, hình tượng, ngữ nghĩa. Tự sự chuyên xây dựng hình tượng nhân vật có gút thắt và gỡ. Thơ ca sâu lắng. Tự sự dàn trãi. Người đọc cũng phải mở lòng mới thông cảm về những hạn chế do thời đại, lịch sử chi phối văn học. Ngay cả ”anh hùng” cũng phải được chờ thánh chỉ tấn phong. Đời thật có Đảng. Thơ văn lấy Đảng làm đầu. Chế Lan Viên phải giã từ bóng ma Chiêm để chạy về với Đảng (người mà Th gọi mẹ hiền, mẹ ghẻ):

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

Ẩn dụ… như thật. “Đói lòng ăn một quả sim” cũng no. Đói gặp sữa là tuyệt vời. Nhưng “chiếc nôi ngừng” cho em đang ngủ đưa đẩy làm gì cho nó hết hồn khóc thét lên? Thơ ca thời chiến “nịnh nọt” dễ thương và quá cao cấp!

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng có Đảng nên mọi tình cảm khác ra ngoài tình cảm cách mạng đều gát lại. Th cũng đặt Đảng và lý tưởng lên hàng đầu trong quá trình công tác. Thạc nhớ người yêu nhưng cũng chỉ hẹn đất nước thanh bình. Xuân Diệu cả một đời không biết có bao nhiêu mảnh tình rách vác vai mà cũng gào kêu thống thiết:

Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào?

Luật pháp có kẽ hở. Đường ống xăng dầu, nước, ga vẫn có chỗ rò rỉ. Đảng cũng có lỗ hổng ở trong nguyên tắc. Th đã nhìn ra: ”Đảng không nói rằng trái tim cộng sản chỉ biết có lý trí, biết công việc mà vẫn phải có yêu thương, hy vọng, khao khát”. Thế là có mảng tình yêu rơi xuống cỏ hôm nào! Tố Hữu là đại diện của “mặt trời chân lý chói qua tim” trong ”Từ ấy” lẫn quẩn hoài, cuối cùng cũng… lén thả được cái câu: “Anh hôn em, hai người đồng chí”. Hôn như … đồng chí thì ngon lành gì! Th trong “Nhật ký Đ.T.T” có tình đồng đội gắn bó. Thôi Hữu trong “Lên Cấm Sơn” với tình đồng đội tan nát:

Cuộc đời gió bụi pha xương máu

Đói rét bao lần xé thịt da

Tặng những anh tôi từng rỉ máu

Đem thân xơ xác giữ sơn hà.

Những năm tháng yêu thương, đói khổ, trầy trụa như vậy mà thơ ra câu nào chết hồn người câu đấy, còn bây giờ, thơ thời buổi xe con, nhà lầu, điện thoại di động… đã có hướng đi về đâu cho đời thôi rỉ máu, cho người hết u sầu?

Thôi Hữu cùng Chính Hữu với Hồng Nguyên, Quang Dũng… như “một lũ người tứ xứ, gặp nhau hồi chưa biết chữ”. Đánh đấm xong xuôi, buồn tình cái chi mà làm người anh hùng thời hòa bình hưởng phước không làm, bày đặt đi làm… liệt sĩ! Bài thơ về tình đồng chí được coi mẫu mực nhất, hay nhất vẫn là bài “Tình đồng chí” của Chính Hữu:

Áo anh rách vai

Quần tôi có hai miếng vá.

Miệng cười buốt giá chân không giầy

Thương nhau tay nắm bàn tay.

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Tình đồng chí ấy thiệt như của những… “Hồng Thất cái bang”. Áo nhà binh không chịu khoát vào ”cho xanh màu lá, cho dữ oai hùm” như Quang Dũng mà cả đôi dép Bác Hồ cũng… quẳng ở nơi đâu? Mang một chữ ”nghèo”, chữ ”ngông” khí phách vậy mà tâm hồn thật thà quá. Có ai nhẫn tâm đi bắn ánh trăng ước vọng hòa bình. Một hòa bình bằng súng đạn cũng đâu là vĩnh cữu vì đằng sau đó là sự căm thù từ phía bên kia kẻ trúng một phát đạn vào đầu!

Hình ảnh người lính với sự nhận thức căm thù trong đánh giặc là chủ yếu nhưng bên cạnh đó, ta thấy thấp thoáng những con người đi vào cuộc chiến như một sự đẩy đưa của lịch sử. Bản chất hiền lương thấm cả vào lằn đạn mà họ không cách nào buông súng như trong ”Chiến tranh và tôi” của Nguyễn Bắc Sơn:

Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu

Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo.

Mang trong đầu ý nghĩ trong veo

Xem chiến cuộc như tai trời ách nước.

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước

Vì căn phần ngươi xuôi khiến đó thôi.

Ta nghĩ Th nên đọc những lời chua chát, chân thật này để yên lòng nhắm mắt. Th chỉ là người con gái ”bạc phước” mà ”ta bắn trúng” như muôn ngàn cô gái phận bạc mà thôi. Giữa họ và Th nào có hận thù gì? Họ lúc nào cũng là những người mong muốn có cuộc sống thanh bình, tai nghe chim ca trong nắng, mắt ngắm sóng bình minh như Thạc, như Th mà Trần Trung Đạo với ”Giấc mơ nhỏ của tôi” chỉ mơ làm ”con thoi nhỏ”:

Để tôi nối hai bờ sông Bến Hải

Nối lòng người vời vợi cách xa nhau.

Một tấm lòng nhân bản biết bao nhiêu! Những người viết lên những lời thơ bằng máu không bao giờ có thể là kẻ bỏ quê hương. Người lính miền Nam xuất hiện chưa rõ ràng trên sách vở nhưng họ mở đầu cũng chỉ là những học sinh, cũng vì nhiệm vụ mà khoát áo chiến binh, ra chiến trường không quên mang theo lòng nhân ái mà Trần Hoài Thu đã ghi lại trong ”Ta, lính miền Nam”:

Trong túi ta một gói thuốc chuồn

Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm.

Để thấy miền Nam lính hiền ghê gớm.

Cung cách đối xử cao cả (”mời”) giữa người với người dù kẻ đó là tù binh (”bắt”) trên thơ ca thôi cũng đủ cho ta thấy sự khác biệt giữa hai người lính hai miền rõ như ban ngày. Một bên hiền lành, thân thiện. Một bên thù bốc lửa và đầy sát khí ngút trời trong ”Bắn đi” của Tố Hữu:

Đại bác ta sau rèm tre ngoảnh cổ

Trông xuống khoanh đồi nọ

Ngon như một dĩa thịt bò tươi

Ở kia chúng nó đang cười

Cười đi nhé các con ơi rồi chết.

Sự xuất hiện của ”chằn tinh” ăn thịt người ngon như ”thịt bò tươi” trong năm câu thơ trên khiến người viết bài này như bị điểm huyệt nhân tâm, bình thơ hết nổi! Ta có đi tìm mỏi mắt cũng chưa thấy một lời văn trong thể tự sự, lời thơ trong thi ca thời kháng chiến có những câu đầy lòng Thạch Sanh như bài viết về lính miền Nam. Họ giống nhau ở bản chất hiền lương nhưng ra chiến trường thì tư tưởng nào, người lính nấy. Buồn thay cảnh đất nước chia hai, tính cách con người cũng phân đôi theo đất nước!

Th hiểu đất nước là Đảng, là Bác Hồ, là lý tưởng cách mạng là những tình cảm đồng đội và riêng tư. “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm là của:

Những người đã khuất

Những ai bây giờ và con cháu mai sau

… Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn tay trong nỗi nhớ thầm.

Người viết “Mặt đường khát vọng”, viết “Đất nước” của anh, của em với nỗi nhớ thầm sâu sắc qua chiếc khăn tay như thế bây giờ ở trong tổ ấm “Bộ chính trị” có nhớ lại những năm tháng sau 1954, 1975, ngọn lửa “Tần Thủy Hoàng” đã thiêu trụi hết những gì là “tinh hoa” đất nước? Người viết xin được viết tiếp dòng cuối của bài ”Đất nước” mà NKĐ hình như đã quên:

Đất là những bản tình ca nằm thở dài trong củi sắt

Nước là mùa xuân trong ánh mắt quá mỏi mòn.

Đất nước một đời khắc khoải Mẹ trông con

Đất nước mòn chân chiến tranh qua, đau thắt!

Đất nước phân minh: Chuyện tình nào quên đi, chuyện đời cần nhắc nhở…

Một chữ “thương người” nằm thoi thóp giữa trang thơ.

Trong chiến tranh, thơ như “xuất thần”, người ta viết như một tiên tri về tương lai:

Sống trong cát chết vùi trong cát

Những trái tim như ngọc sáng ngời.

Tố Hữu viết về “Mẹ Tơm”, người mẹ cơ khổ đã “dành cơm” cho cách mạng ngày nào như một sự hy sinh bất biến. Những hạt ngọc ấy bây giờ ra sao? Ngọc thật người ta so giá. Ngọc đá người ta nâng niu. Ngọc người tia sáng cũng buồn thiu! Bản thân Tố Hữu sống chết cũng sẽ vùi trong cát nhưng trái tim kia có hóa thành đám mây trắng, thành hạt ngọc long lanh, sáng ngời hay không còn tùy vào bao nhiêu năm “tu luyện công đức” của mình. Lịch sử sẽ là người sàn lọc lại công sức những gì người đã sống cống hiến cho đất nước nở hoa hay héo úa!

Những câu ”tiên tri” của một thời đại anh hùng nhan nhản trong thơ Chế Lan Viên ca ngợi thành tựu cách mạng. Điều mà nhân vật liệt sĩ Đặng Thùy Trâm suốt đời ước mong và ôm ấp:

Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt

Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc.

Những kẻ quê mùa đã thành trí thức

Tăm tối cần lao nay hóa anh hùng

Quả thật, cây đắng sinh trái ngọt. Kẻ thắng trận đã xúm vào hái trái ngọt, lặt cả trái xanh và quật cả gốc cành như Tôn Ngộ Không quật trốc lốc cây nhân sâm ngàn năm của Chơn nhơn đạo trưởng, mà quên mất câu:

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Không tao đổ máu cho mày hái đây?

Vậy là “trở mặt nhau” bởi phân chia đâu thể đồng đều như thời “áo rách vai, quần hai miếng vá, đắp chung chăn, nắm chặt tay” như thời đánh giặc?

Người cay đắng đã đâu nhận ”phần hạnh phúc” vậy là “đấu tố” lẫn nhau. Bản Trường ca thành “bản cáo trạng” dài ngút ngắt tung bay. Cay đắng đó thôi! Thêm những kẻ “quê mùa” nhảy lên trí thức với sự học thì ít mà công… xít cho thật nhiều để kiếm mảnh bằng củng cố chức vị. “Tăm tối cần lao hóa anh hùng” như cả một rừng người anh hùng. Vậy mà những “anh hùng trong tăm tối” cần lao ấy mãi mãi “cần” mà “lao”cho hết kiếp! Té ra, anh hùng chưa có mề đay chỉ có giá trị trên miệng. Hy sinh như nữ bác sĩ quân y, chiến sĩ giải phóng quân Đặng Thùy Trâm mà chỉ “huân chương chiến công hạng nhì” thì không biết “trạng nguyên” liệt sĩ phải là cỡ loại nào ngã xuống? Chết mất cái mạng mà cũng chờ phân hạng mới có thể đi đầu thai thì làm sao “xóa bỏ giai cấp” như Th mong?

Tầng lớp xuất thân của nhân vật Th là ”tiểu tư sản”, của Thạc là ”tiểu chủ” còn quá nhiều may mắn so với con đường vào cách mạng của chị Tư Hậu (Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái), chị bị ô nhục, chồng hy sinh, con bị giặc bắt nhưng Th và Thà không may mắn bằng số phận của Mẫn (Mẫn và tôi – Phan Tứ ). Mẫn mười bảy tuổi là Đảng viên, hai mươi tuổi làm Bí thư chi bộ. Trong khi hơn cái tuổi đó, Th khao khát Đảng đến lả người. Thạc thì ”mỗi lần khai lý lịch mình lại buồn”. Th với một chức “trưởng trạm y tế” cũng bị soi mói, ghen tị đến gần đứt hơi, Th mới được “mẹ hiền” cho vào bú miếng sữa cọc còi! Dẫu xuất thân và gia nhập Đảng, cách mạng khác nhau nhưng họ đều giống nhau căm thù dữ tợn và yêu thương mãnh liệt vì Đảng đâu nói “cấm” tình yêu. Tình yêu trong tác phẩm văn học giống như cơn mưa mùa hạ lại trở về ruộng đồng, cỏ non sau tháng ngày khô hạn vì chiến tranh, vì tội ác. Nhân vật có thật và hư cấu như trộn lẫn vào nhau, bổ sung cho nhau để sống và chiến đấu theo lý tưởng cách mạng trong tác phẩm viết về đề tài chiến tranh hay đến… bốc khói!

Ta thấy nào KanLịch trong ”KanLịch” của Hồ Phương; Kinh, Lữ trong “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu hay những nhân vật trong “Những người mở đường” của Vũ Hữu Ái hoặc trong “Con đường mòn ấy” của Đào Vũ về những tháng ngày vượt Trường Sơn:

Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa rõ mình.

Hình ảnh con người chiến sĩ giải phóng quân vượt Trường Sơn – đường mòn Hồ Chí Minh- để “tiến về Sài Gòn, ta quét sạch giặc thù” có giá trị “cháu chắt” của thế giới kỳ quan “Vạn lý trường thành” của Trung Quốc. Đó là một “công trình lịch sử”. Đó là “nhân chứng chiến tranh”. Đó là những giọt nước mắt động trên vành môi của những hồn ma bóng quế mà Quang Dũng nhìn ra trong “Tây tiến”:

Rải rác biên cương mồ viễn sứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Đây là những câu một thời vang bóng biến thành cùm số tám cho tác giả . Vượt Trường Sơn vào Nam, ta lại gặp những người phụ nữ mang tám chữ vàng thắt quanh mình che đạn: “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Chỉ một từ “anh hùng” thôi cũng “trầy da tróc vẩy” nhưng người ta chiến đấu với tình yêu đất nước là chủ yếu chứ nào phải vì những chữ vàng đó và nhiều khi khẩu hiệu làm cho mục đích chân chính kia giảm đi giá trị đáng có của một tấm lòng hy sinh. Đó là những hy sinh của chị Sứ (Hòn Đất – Anh Đức) tiếp nối những trang anh hùng ca một thời Hà Nội mà Th đã xiết bao nhớ thương. Đó là những con người sống chết bảo vệ thủ đô ngàn năm văn vật (Sống mãi với thủ đô – Nguyễn Huy Tưởng). Đó là một đoàn người đấu tranh mất liên lạc trong ”Trước giờ nổ súng” của Lê Khâm cũng như trong ”Nhật ký Đ.T.T ” cũng chỉ còn lại tổ ba người phụ nữ: Th, chị Lành và chị Xăng để cuối cùng thành… người anh hùng Đặng Thùy Trâm, không biết hai chị kia giờ thành cái gì rồi?

Đó là những trận chiến trên không bảy mươi hai ngày đêm chiến đấu chống B52 của Mỹ ở miền Bắc với ”Vùng trời ” của Hữu Mai; chủ nghĩa anh hùng cách mạng tiến về Chu Lai, vượt Trường Sơn về Trung Bộ được các tác giả ghi lại trong tác phẩm hết sức “thần thánh hóa” về những con người ra trận hy sinh. ”Trên bất cứ đất nước nào trên thế giới, điều đó được gọi là anh hùng” (Fred). Cũng chưa có đất nước nào như nước Việt nam mà người phụ nữ Việt Nam lại “tưng bừng” ra trận nhiều như vậy? Quan niệm của Fred là một quan niệm về người anh hùng hết rộng mở và đầy tính nhân bản có mở mắt cho ai?

Đọc lịch sử Trug Quốc với “Tam quốc chí diễn nghĩa” hay ”Thủy hử” của La Quán Trung, quan niệm cởi mở về người anh hùng “da ngựa bọc thây” đã có từ hàng nghìn năm trước. Đối với lịch sử Việt Nam qua tay Trần Trọng Kim đã coi những người ở các triều đại khác chế độ dám chết cho xã tắc là những bậc anh hùng như: Võ Tính, Ngô Tòng Châu, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân. Sau 1975, quan niệm anh hùng chưa được lịch sử công nhận cho phía bên VNCH. Một tầm nhìn chưa có tính chất quốc tế và cởi mở như Fred nên dưới cặp mắt của miền Bắc, anh hùng chỉ có trong lịch sử ĐCSVN. Những kẻ bên kia trận, sống chết gì cũng là “tội nhân thiên cổ”!

Tính cách căm thù, yêu thương nhìn một chiều của Th cũng đã nói lên được cả một quan niệm phiến diện thiếu nhân bản về gốc độ dân tộc, đã đào thêm “hố bom” về phía nạn nhân cuộc chiến. Nó còn là một nhát dao rạch thêm vào vết thương thù hận những người anh em cùng ăn hạt gạo quê hương, cùng uống dòng nước cội nguồn mà lại có những niềm riêng một đời dấu kín!

”Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ” của Tô Hoài mà Th đưa vào nhật ký hay Paven, Actơ… của Nicolai cũng chìm vào biển lòng quên lãng. Người ta không hứng thú để hướng về lý tưởng cách mạng (đổi mới) bị tiếm dụng làm ”quà” riêng chỉ một chế độ, một thời đại nữa. Người ta xông xáo vào hiện thực, tìm ra những hỏng hóc mà họ không có quyền lực dù dư khả năng may vá. ”Bến không chồng” của Dương Hương lênh đênh còn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh tồn tại ước mơ hạnh phúc ngậm ngùi nhớ lại cũng bị chiến tranh ủi đến láng bóng! Những bà Bầm, bà Bủ của Tố Hữu hay “Bà mẹ đào hầm” của Bùi Minh Quốc ”từ lúc tóc còn xanh, nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc”, đã bị sập hầm do chính mình đào ra để tìm “con đường sáng nhất” từ nơi “hầm tối” để chứng minh cho một sức mạnh Việt Nam vĩ đại!?

Hoàng Cầm với “Bên kia sông Đuống” châm ngọn lửa nhưng lửa ”leo lét” quá:

Đêm buông xuống dòng sông Đuống

Con là ai? Con ở đâu về.

…Lửa đèn leo lét soi tình mẹ

Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng

Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể

Những chuyện muôn đời không nói năng.

Lịch sử sẽ nói dùm họ chuyện mà họ không bao giờ được nói. Những “anh hùng cách mạng” ra đi với ”Giấc mơ Nguyễn Huệ”, khi trở về như một nấm mồ ma trong ”Nhà tôi” của Yên Thao:

Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ

Làng tôi đấy bên trại thù quạnh quẽ

Trông im lìm như một nấm mồ ma

Có còn không? Em hỡi, mẹ tôi già?

Những người thân yêu khóc buổi chia xa …

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng bừng lên trong “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân với hình tượng độc đáo: “máu anh phun theo với lửa đạn cầu vòng”. Nếu “Vết chân tròn trên cát” của Trần Tiến đã ”để lại một bài ca trên cát trắng bao la” thì “Dáng đứng Việt Nam” đã tạc vào thế kỷ. Cái chết như báo trước và đã thành bất tử trong nước mắt của sự đổ vỡ một khát khao hạnh phúc – chủ đề chính của con ngưòi trên từng cây số.

Trong ”Mãi mãi tuổi hai mươi”, Thạc đã thích bài hát “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” của Hoàng Hiệp (thơ Phạm Tiến Duật) và hay chìm vào câu hỏi của Dương Hương Ly về ”Hạnh phúc là gì?” mà ”nghĩ hoài nghĩ mãi chưa ra” bằng sự rạo rực tình yêu của mình và Như Anh thì trong ”Nhật ký Đ.T.T”, Th đã nâng niu những câu thơ trích trong “Núi đôi” của Vũ Cao để nhớ về người yêu mình là M. như một tình yêu tang tóc:

Ai viết tên em thành liệt sĩ

Bên những hàng bia trắng giữa đồng.

Nhớ nhau anh gọi em: đồng chí

Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Bài thơ ấy cũng như đã dành cho Th, cho những người con gái trong nhật ký là Hường là Liên và bao người con gái khác:

Em sống trung thành chết thủy chung

… Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khóc.

Núi vẫn đôi mà anh mất em

… Em mãi là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

Núi đôi” đã hòa vào “Quê hương” của Giang Nam mà khi sống, Khiêm cũng rất thích, thành tiếng nức nở, nghẹn ngào:

Giặc giết em rồi quăng mất xác

Vì em là du kích em ơi !

Đau xé lòng anh, chết nửa con người

… Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những lần trốn học bị đòn rơi

Nay yêu quê hương vì trong từng nấm đất

Có một phần xương thịt của em tôi!

Tiếng khóc của thi ca. Tiếng khóc của quê hương tình yêu và tuổi trẻ. Ai chắc rồi tiếng khóc này không có ngày lặp lại trên quê hương? Th có một bài thơ không tên năm 70. Thạc có một bài thơ về chiến tranh là ”Đêm trắng” năm 72:

Đêm trắng trong là đêm của em

Đèn thành phố và sao trời chật chội.

Đêm của anh xếp kín đầy bom đạn

Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa.

… Đêm của anh trong tầm bom rơi

Không thể ngủ nên đêm thành đêm trắng .

Đêm bão thép chất chứa nhiều sâu lắng

Bà mẹ sinh con trai trong mờ tối căn hầm.

Những ban đêm thành cột mốc tháng năm

Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng.

Đêm thao thức đón chờ ánh sáng

Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời.

Một chất thơ trí tuệ giữa hai đêm anh và đêm em. Một hiện thực và ước mơ khao khát. Xanh vàng gì cũng trắng bốc với thức thao. Chao, câu thơ liệt sĩ ”ấp ủ những mặt trời”. Một mặt trời thôi đủ rồi. Nhiều mặt trời quá, thiêu cháy ước mơ và ”quay chín” mộng tưởng. Người đi cho thỏa chí tang bồng, để mảnh tang lòng cho người còn ở lại. Phạm Tiến Duật đã viết:

Dân tộc ấy có gì kỳ lạ

Một nước bao nhiêu là đá vọng phu.

Nhưng nhà thơ kia có biết nước mình còn lại được mấy hòn đá vọng phu? Tượng Phật mấy ngàn năm ở Aphúhãn còn bị kéo sập huống hồ chi ba cái đá vọng phu! Nhật ký người chết bán được sao đá không được bán? Bảo Ninh ở đâu mà không cầm bút lên viết tiếp ”Nỗi buồn sau chiến tranh”? Nhà văn này chỉ còn biết nói: ”Có thể chúng ta sẽ có cuốn tiểu thuyết vĩ đại của ngày hôm nay hoặc có thể không. Còn nhà văn lớn của chúng ta có thể đang là đứa trẻ đánh giày ngoài đường ấy’‘. Có thể là chị bán hột vịt lộn, là em giũa móng tay?

Có những bài thơ dù viết cho một thời đại nhưng mất mát chung đã phát ra tiếng nghẹn ngào của dân tộc nên vượt thời gian, vượt thời đại để đi vào lòng người. Thơ ca một thời chống chiến tranh với chủ nghĩa anh hùng cách mạng là như vậy khi xét về phương diện những con người nhất là phụ nữ dám hy sinh ở tư thế đối đầu. Tất cả những con người như thế, không phân biệt thành phần, chế độ, thời đại, đất nước đều là những anh hùng. Nếu đem chính nghĩa và phi nghĩa luận anh hùng thì đâu có ai chịu nhận mình là “phi nghĩa”. Những con người phải chiến đấu cho một cuộc chiến phi nghĩa muốn khỏi ô danh chỉ còn một con đường: Tự sát! Có ai dám làm cái ”sĩ khả sát, bất khả nhục” này không? “Việc mình không thể làm được thì đừng ép người ta làm” và kẻ quay đầu chưa hẳn là kẻ phản bội còn người bên hông chưa chắc lòng đã trung thành!

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng sau chiến tranh đã trở thành những đóa hoa tàn. Mùa xuân vẫn về mỗi năm và người trong cuộc chiến, còn lại, cuối đầu nhặt cánh hoa tàn, phơi khô cất làm kỷ niệm có một thời như thế trong đời.