5. “Nhật ký Đ.T.T”: Tiếng nói của một trái tim khao khát yêu thương: (Giá trị chính của tác phẩm):

Những tác phẩm mang tầm vóc lớn của thế giới về đề tài chiến tranh như “Chiến tranh và hòa bình” (War and Peace), “Ana Carenine” (Anna Karenine) của đại văn hào Levtonstoi (Léon Tolstoy) Nga đều xoay quanh trục tình yêu của nhân vật “trước giờ nổ súng” và “sau tiếng bom rơi”.

Nhân vật Th trong “Nhật ký Đ.T.T” đầu đầy đặc tư tưởng Đảng, tim chứa trọn hình ảnh Bác Hồ, đôi mắt rực lửa căm hờn chồng chất là “nữ chiến sĩ giải phóng quân” của “chủ nghĩa anh hùng cách mạng miền Bắc” “trước giờ nổ súng”. Nhân vật Th với nội tâm dằn vặt giữa sự sống và cái chết, giữa đời thường ghen tị và ngưỡng mộ, giữa sự chung thủy và tình chị-em kỳ lạ (khác phái) là của một người con gái Hà Nội khao khát yêu thương, “sau tiếng bom rơi”.

Đọc “Nhật ký Đ.T.T”, người đọc phải đọc đi, đọc lại và phải thật để lòng vào những năm tháng chiến tranh mới có thể cùng Th vui vì “một cái nắm tay”, thương vì “những lời chăm sóc” và hoàn toàn cảm nhận hạnh phúc khi được ôm vào lòng một tình thương mà tình yêu dường như chưa bao giờ đạt đến mức độ cao cả ấy. Tình cảm của Th tưởng chừng như vô tư qua từng trang sách nhưng lại ở trong thử thách phức tạp tưởng chừng lẫn lộn như giữa tình yêu và tình chị-em, đồng chí.

a. Với những người vượt lên tình đồng chí:

Đó là Mùi: Người đã tặng Th bức tranh nhưng tình cảm này Th đã quả quyết: “Không thể đi xa hơn”. Đó là PH: Người nghệ sĩ tặng Th bài thơ mà Th chắc chắn lòng mình đối với PH “chỉ là tình anh em” mặc dù Th vẫn mang theo câu nói của PH “không ai thương Th bằng PH” trân trọng ghi lại trong nhật ký. Đó là anh Năm – anh Tấn: Bí thư Huyện ủy mà Th đã có những câu thương nhớ, lo lắng, quý trọng “Anh Năm của em ơi, em muốn giữ trọn niềm vui, niềm tin tưởng dù trong bất cứ một hoàn cảnh nào… vì có anh đang cùng em vượt qua mọi gian khổ, có anh dìu em qua những chỗ gay go… ”. Trong Th, người đó cũng chỉ là “một người anh”.

Với Th, họ là những tia nắng ấm áp, là những hạt mưa xuân cho Th là lá cỏ tươi lại sau những ngày khô héo vì hận thù, vì va vấp đời thường. Song, những tia nắng ấm, những hạt mưa xuân kia làm sao có khi vào trời đông mây mờ chắn gió, nắng hạn sẽ cày mảnh đất bờ môi thêm nức nẻ chân chim. Con người lại bước vào cằn cỗi hay ngập lụt.

Cái mà Th cần chính là tiếng nói khát vọng yêu thương qua một thứ tình cảm mà chính Th công nhận “kỳ lạ”. Đó là tình “Chị- Em” mà nhật ký ”Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc không có. Ta tìm thấy chỉ hầu như trong cuốn nhật lý này. Nó chẳng phải là thứ tình “đào viên kết nghĩa giữa Lưu Bị – Quan Công – Trương Phi trong “Tam Quốc Chí diễn nghĩa”. Nó cũng chẳng phải thứ tình “chích máu ăn thề” của “Một trăm lẻ tám anh hùng Lương sơn Bạc” trong “Thủy Hử”.

Tình “Chị-Em” này chỉ có tại Đức Phổ trong cuộc chiến tranh được tẩm bằng những giọt nước mắt chắt chiu giữa họ và người con gái tên Th mà thôi!

Trước hết là tình “Chị-Em” của Th với San (một người có hai tên San và Sang) mà Th đã viết “Chị mà nhỏ tuổi hơn em”. (San hơn Th ba tuổi có vợ và con lên năm). Với tình chị-em này, Th đã viết: “Có những người lớn tuổi hơn Th vẫn gọi Th là chị Hai“. Ta nghĩ chỉ một cách gọi thân mật như được “nũng nịu”. Dưới con mắt của bác sĩ Th, bệnh nhân chỉ là những “em bé” cần chăm sóc và những người bình thường nào mà không muốn được trở thành “bệnh nhân” của một nữ bác sĩ hiền lành, dễ thương như bác sĩ tiểu thơ Thùy Trâm? Người yêu của Th là M. đã từng ao ước như thế như Th đã kể trong nhật ký. Cách gọi thân mật như trên không bao giờ xếp vào loại tình yêu nam nữ. Cũng như với Nghĩa và Thường, Th đã dùng cho hai người em kết nghĩa đó những từ ngữ và suy nghĩ vượt trên tình cảm đồng đội nhưng Th vẫn đem “lý trí cách mạng” và “tình người” để lý giải cho những khát khao được bày tỏ tình cảm yêu thương với họ.

Phần giải quyết những tình cảm trên hình như Th chẳng cần nhiều lý giải vì người ta cũng hiểu ”không có gì”.

b. Nhưng có cái “lớn hơn tình yêu”:

Cuốn “Nhật ký Đ.T.T” dày 322 trang không tính bìa nhưng “thật nhật ký” là 223 trang. Trong đó, gần 50 trang viết về một con người không phải là người yêu.

Nhật ký Đ.T.T” có tiếng vang là trong nhật ký có Đảng, có lý tưởng Bác Hồ và niềm tin cách mạng nhưng “tiếng động nào còn lại” trong lòng mọi người chính là khát vọng thương yêu được ẩn dưới bóng thiên anh hùng ca ngàn năm sáng chói! Khát vọng đó đã được Th nâng niu, thêu dệt với tiếng lòng không thể nào lý giải đó là sắc thái một tình yêu hay chỉ là gió lay cành trúc trong một những phút thiếu thốn tình cảm con người.

Nỗi nhớ của Th dành cho người mình yêu là M. cũng không sao lớn bằng từng ngày, từng giờ có Thuận. 50 trang viết dành cho Thuận so với vài trang, vài dòng dành cho M. là một chứng minh còn lời lẽ thì có đọc mới biết. Hình như viết lên những dòng về đứa em trai kết nghĩa này, Th đã vùi đầu, đã úp mặt trên trang giấy mà vui sướng với hạnh phúc có người thấu hiểu nỗi lòng mình khô khan trước đó. Với Th, hạnh phúc là giọt mưa giữa sa mạc cỗi cằn gió cát mà Thuận là giọt mưa. Th đã hai tay hứng lấy giọt mưa ấy mà khóc thật sự trước một thứ tình cảm “chị-em” đã được “Bà tiên và chiếc đũa thần” để sót lại giữa đời thường cho những ai đủ phước phần sẽ tự nhiên mà hưởng. Th đã được nó, đã sống với những tháng ngày hạnh phúc của một cái cây héo cần chút phân xanh nuôi dưỡng. Thế mới nói rằng cổ tích chỉ để người ta ước mơ nhưng cổ tích có khi trở thành sự thật mà không phải ai ai cũng may mắn hưởng phần.

Th quen biết Thuận lúc cha Thuận chết, mẹ mất, còn bốn đứa em. Th có cảm tình với Thuận “không phải vì có bộ mặt Ác-tơ mà vì chăm ăn, chăm làm” và biết “xử lý có tình”. Đó chỉ là một cách lý giải cho có khi lòng không thể giải thích nổi. Tình cảm khó mà so sánh nhưng nội tâm Th đã tự lựa chọn để chuyển hướng sống, để giải tỏa nỗi lòng. Trong lúc ta đơn độc tâm hồn, bước chân ta lầm lũi cô đơn trên từng con đường mòn đầy sỏi đá, hình ảnh nào hiện lên trong tâm hồn ta khiến đầu óc ta quay cuồng vì nó, đôi chân ta vững lên vì nó, cõi lòng ta như được ấm lên vì nó, thì hình ảnh đó mới thật sự chính là ta cần biết bao! Một cái phao cứu ta giữa biển trời ngập ngụa “sóng sau dồn sóng trước” mới quý làm sao! Đó là một cái phao phần hồn thiêng liêng trong lúc con thuyền tình yêu chỉ biết xuất hiện khi biển yên, sóng lặng, nó như thừa thải. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Đói thật hay đói lòng đều đúng cả.

Trong Th, hiện tượng đó xảy ra một lần khi được vào Đảng trong tâm trạng một đứa trẻ thèm sữa mẹ khát khóc đến lả người. Hiện tượng này đã lập lại trong tình yêu giữa Th và M. Th đã không còn nhận thấy tình yêu của M. có mãnh lực thu hút Th nữa vì Th “chờ đợi đã quá mõi mòn”. Chính tính cách rập ròi, thống nhất ở cách nhìn nhận sự việc có kết quả từ cuộc đời với những năm tháng khói lửa đã làm cho người đọc tin chắc vào tình cảm của Th. Đó là một thứ tình cảm vượt lên trên tình đồng đội, lớn lao hơn cả tình yêu nhưng không bao giờ có cảm nhận là một tình yêu đôi lứa. Tình yêu tri kỷ đó sẽ tồn tại vĩnh viễn mà tình yêu thiếu tri âm sẽ không sao đẩy lùi. Vì sao nhân vật Th có sự chuyển hướng tình cảm kỳ lạ như vậy?

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã sản sinh ra những anh hùng. Những chàng thanh niên đó bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi non sông mà “trong tình cảm anh trở thành con người thắm nhuần cách mạng đầy căm thù… 1954, tập kết ra Bắc không chút nuối tiếc vợ con” (Nỗi lòng của người về -Vũ Nam). M. của Th chẳng có vợ con để mà nuối tiếc, M. không ra Bắc mà vào Nam. M. “không nuối tiếc” tình yêu giữa một anh giải phóng quân và cô bác sĩ y khoa. Th hụt hẩng cả phần Hồn. Tuổi của Th là tuổi của những “mùa hoa lê-ki-ma nở”, tuổi của cánh sen trong trắng giữa bùn lầy. Đó là lứa tuổi khao khát yêu thương và thèm lời chìu chuộng. Nó không phải là tình yêu của một tầng lớp tiểu tư sản trí thức mà chỉ là tình yêu của một người con gái ước mơ có cuộc sống gia đình bình thường như bao người con gái khác. Với Th, M. đã không có gì đảm bảo chắc chắn dù chỉ là một lời hứa hẹn. Do đó, tình yêu Th, có mà như không. (Độc giả cũng không thể nào hiểu nổi vì sao cuộc tình hai người trở nên xấu đi). Nhưng Th đã nhận ra: “Mình thiếu thốn nhưng cũng rất đầy đủ” vì đã có được tình cảm đồng đội, đồng chí và tình chị-em kỳ lạ của Thuận đã kịp thời vá đầy khoảng trống.

Hình thức bề ngoài chỉ ghi nhận vào nhau giữa hai người đối diện một cảm mến hay dững dưng. Cách “đối nhân xử thế” của con người và sự dám “hy sinh” cao thượng không cần sự báo trả mới là mảnh đất màu mỡ để một tình yêu kỳ lạ nảy nở, sinh sôi. Mảnh đất ấy đã có trong “Nhật ký Đ.T.T”. Những lời viết về Thuận, Th như nhẹ cõi lòng hẳn ra: “Lòng mình bỗng thấy ấm áp như có thêm ngọn lửa nhỏ”. Th đã có lý giải nó như một tình cảm cách mạng “nhớ nhau… chị gọi em ‘đồng chí’ ” vậy thôi. Th viết: “Bởi vì cách mạng đã rèn đúc nên những con người cao đẹp và gắn họ lại thành một khối bền vững và gắn bó hơn bất cứ một vật gì trên đời”. Một cách lý giải đuối lý vì Th đã không dành ”tình cảm cách mạng” đó cho San, Nghĩa, Thường, Khiêm, Tấn, Mùi, PH… mà dành trọn hết cho Thuận? Đây chính là điểm ”gút” của nhân vật và người ta chờ nhân vật này ”gỡ” cái gút ấy như thế nào?

Nhân vật Th đã có những trang tự dằn vặt mình khi phát hiện tình cảm M. đã đi xa và đã có một thứ tình cảm kỳ lạ khác đang ngự trị giữa tim mình. Khi con người có sự dằn vặt tất sẽ xuất hiện hai phân thân: Một quan tòa và một trạng sư. Nhưng ở nhân vật này, hình bóng quan tòa mù mờ nên hào quang trạng sư phát sáng. Th tự bào chữa cho mình: “Trách Th làm sao được hở người bạn cũ mà em từng nói hai chữ thương yêu”. Bao quanh tình cảm mới lạ đó, Th cũng “khoác” cho nó một chiếc áo cách mạng: “Tại sao những người cách mạng lại có thể thương nhau đến mức ấy nhĩ?”. Đến mức nào thì nó cũng có hàng rào của một tình yêu thực sự cản ngăn. Có đến mức nào thì cũng chỉ một nụ hôn lên má, lên trán… không hơn được nữa. Ta đồng ý với Th đó là: “một tình thương trong trắng, chân thành vô hạn”. Nếu lý giải một hồi e rằng trạng sư này đuối lý mất. Mới biết với tình cảm riêng tư, trái tim khó lòng kiểm soát nổi nó.

Tội nghiệp, đã cho nó là “trong trắng” là “vô tư” sao Th còn phải ”đắn đo dằn vặt, kiểm thảo”? Trong công tác, Th đã tự ”cho điểm” mình nhưng trong tình cảm, nhân vật này không dùng điểm đuốc để hạ mình. Th kiểm điểm bản thân: “Tự kiểm mình và em xem có điểm nào cần xem lại không” nghĩa là xem nó có phải là “tình yêu” hay không? Rốt cuộc, Th như thở hắt, khẳng định: “Chỉ là những tình cảm cách mạng, tình cảm trong trắng chân thành của những trái tim khao khát yêu thương, không có lý do nào khác nữa. Vậy mà vẫn cảm thấy kỳ lạ…”

Sự “kỳ lạ” này khó cắt nghĩa và có khi là điều kỳ lạ của một thứ tình cảm cao đẹp: Tình cảm ân nhân mà chính Th đã nói với lòng rất biết ơn tình cảm của em dành cho chị. Giọt nước mắt lầm lẫn có thể rớt vì tình yêu không hết lòng “sáng đến, chiều đi” nhưng niềm vui và nụ cười sẽ không bao giờ tắt khi lòng ta có thứ tình cảm ân nhân kỳ lạ này. Có phải vì con người có: “Hạnh phúc giống nhau nhưng bất hạnh khác nhau” như Puskin từng viết mới tạo ra tình cảm này? Chưa hẳn đúng. Trong chiến tranh rõ ràng “bất hạnh” giống nhau ở chỗ “mất người thân, tan vỡ gia đình”. Chỉ có chút “hạnh phúc” này mới khác người. Ra khỏi chiến tranh, tình cảm này sẽ biến dạng thành tình cảm khác mang tính cách tự nguyện. Con kỳ nhông, tắc kè đều đổi màu da để thích nghi môi trường mà sống được. Tình cảm cũng không thể tách ra khỏi môi trường tâm sinh lý mà trường tồn. Nước không cần cá nhưng thiếu cá, nước như kẻ câm không còn gợn sóng vì thiếu bạn bè.

Xem ra thứ tình yêu “Chị-Em” của Hoàng Cầm với những “Lá diêu bông”, “Đêm tam cúc” cũng chưa mặn mòi bằng thứ tình cảm mà Th và Thuận đã có được trong cuộc chiến tranh tại mảnh đất gan lì bom đạn Đức Phổ. Tình cảm ấy đã được nắng ấm (tình đồng chí) đã được cơn mưa (tình đất nước) được chăm sóc, bón phân (tình Chị-Em) nên sống vững với bốn mùa. Do đó, những trang viết tiếp theo, Th dù có dành cho miền Bắc, cho ba mẹ, cho em, có bom qua đầu, đạn qua tóc, có ngập ngụa dưới hầm, có ăn hạt cơm sống dở chín dở, Th vẫn dành những trang viết cho người em kết nghĩa này một cách tha thiết. Những dòng Th viết về Bác, về Đảng, về cách mạng thì giống như những bài học đã học thuộc ở trường học. Những dòng viết về những con người chung quanh, viết về công việc của Th giống như một người đứng ở một chiều chiến tranh nên tầm mắt bị cuộc chiến đẫm máu làm cho hạn hẹp và trái tim nhân hậu của Th đã vì căm hờn mà mất lý tính khi nhìn về những người bên kia…

Thế mà, những dòng viết riêng cho mình, cho Thuận là những trang viết chân thật nhất nên hay nhất, đầy nước mắt nhất. Có phải tình cảm của Th một chiều không? Th đã nhận được từ Thuận một tình cảm tương tự khi được Th “ôm em trong tay mình, hôn lên đôi mắt em” thì Thuận đã bộc lộ: “Hãy tin em, trước đây, bây giờ và cả về sau không một người nào có thể chiếm ở em tình thương hơn đối với chị trừ cha mẹ em đã chết.”. Như vậy sau ”cha mẹ em là chị ”. Thiêng liêng quá rồi còn gì. Những tình cảm ”cõi trên” này sao mà trở thành tình yêu đời thường như Th khao khát được? Vậy là tôn thờ suốt đời mà chẳng ”sơ múi” gì. Không gọi tình ”ân nhân ”thì ta cũng chẳng biết phải gọi sao cho tương xứng mức độ tình cảm đã có của hai nhân vật. Một tình cảm ân nhân cần thiết cho Th, vì thế, sự chăm sóc của Th dành cho Thuận cũng như sự lo lắng cho đồng nghiệp, đồng chí, cán bộ, thương binh đồng vượt trên mức đồng đều đến nổi thiếu nó, Th đã hai lần cảm nhận “cô đơn và tủi thân lạ” vì không có Thuận bên cạnh.

Từ chối Mùi, từ chối PH, không làm lành với M. nhưng Th dang rộng cánh tay đón tình cảm của Thuận vì đó là thứ tình cảm không phải tình yêu như M. Mức rạn nứt giữa Nghĩa – em và Th – chị làm cho Th “khó mà tha thứ” nhưng Th không cảm thấy đau nhói bằng “lầm lỗi” của Thuận. (Chẳng biết giữa Nghĩa, Thuận, M. và Th xảy ra chuyện gì mà Th không nói rõ. Đây cũng là nhược điểm của ”Nhật ký ĐTT”). Tình cảm Th dành cho Thuận vượt lên mức bình thường khi Th cảm thấy lòng thật trống vắng: “Em yêu ơi, nhớ em kỳ lạ, ao ước vô cùng được gặp lại em, được nhìn vào đôi mắt thân yêu, được ôm em trong lòng, được hôn em như một đứa em bé bỏng ruột thịt trong nhà”. Ta tin chắc rằng với mức độ nhớ thương thắm thiết ngần ấy, anh em ruột thịt sẽ không bao giờ có được.

Th đã luôn luôn dặn Th và mọi người cũng như dặn lòng: “Hãy cảnh giác”. Nhưng cảnh giác cả người trong nhà mới là sự cảnh giác căng thẳng, nhói đau, bầm gan, tím ruột. Tình cảm của họ đi qua những cặp mắt cú vọ sẽ hóa thành một thứ tình cảm khó tin là “trong trắng và lành mạnh”. Bởi vậy, cho dù Th đã ao ước rất nhiều như thế khi gặp lại Nghĩa, Thuận, tình cảm của Th phải ”chựng lại” vì “ngại họ hiểu lầm” với “những lời nói ra nói vào đáng ghê tởm”. Họ là ai? Th cũng không dám ghi vào nhật ký. “Chủ nghĩa xét lại” nếu nhắm vào Th, trước hết, họ sẽ đánh vào mảng tình cảm này của Th và Th sẽ không chống đỡ nổi với những lời “đáng ghê tởm” đó. Chiến tranh bên lề sống chết mà vẫn có những người “lạnh máu tanh dòng” không biết đến tấm chân tình thì làm gì họ có thể mở lòng ra thông cảm cho kẻ khác!

Họ là ai? Là những đồng đội, đồng nghiệp mà Th một thương mến, hai sống chết có nhau. Họ không phải là Đảng là “mẹ” của Th sao? Cây cay đắng đã không ra quả ngọt mà chỉ sinh ra những trái độc và Th là người nếm phải. Những tảng đá cản đường tiến quân thời chiến trở thành lá vàng nghẽn lối tương lai thời bình như một tất yếu lịch sử. Th “cảnh giác” trong nỗi ngán ngao và vững vàng trong nỗi buồn cô đơn trước những đôi mắt cú vọ bằng chứng là càng về sau, những trang viết về Thuận lại tha thiết, sâu lắng hơn như một Tử Kỳ sống không thiếu bóng Bá Nha. Th đã sợ Bá Nha đó biến đi: “Em mãi mãi vẫn còn bên chị nghe em, em đừng đi đâu cả nghe em”. Tình cảm Th tràn ra lên cho cả đứa em Thuận. Được tin Nhiều hy sinh, Th đau như chính mình bị băm xé vì: “Hình ảnh em là hình ảnh của đứa em trai mà chị đêm này nhớ thương tha thiết”. Tình cảm ân nhân đã chắp cánh cho người con gái trong lửa đạn trở về với cây đàn ghita. Cô đã không hát “Bài ca hy vọng, Chiều Matxcơva, Cây Bạch dương, Trở về Soriento, Sullico…” với đáp số buồn thảm mà cô hát bài “Đợi anh về” của Simorov mà Th đã thay từ: “Em ơi ! Đợi chị về, đợi chị hoài em nhé…”. Người con gái này đã tròn ước nguyện chỉ khi về thế giới bên kia .

Tại sao, Th không dùng bài hát đó cho M.? Ngày hòa bình lẽ ra ngày Th sẽ gặp M. nhưng tình cảm của M. đã làm trái tim Th rẽ sang lối khác để chiến đấu mà sống. Lối rẽ đó, Thuận xứng đáng hơn M. nhiều lắm. Th cũng đã phải làm một phép so sánh cuối cùng: “M. cũng không thương mình bằng em đâu”. Câu hờn dỗi nghe sao mà buốt lòng! Không biết những người trong cuộc một thời xa vắng ấy giờ đang ở nơi đâu sao không xuất đầu lộ diện như một chứng nhân về một tình yêu thương vô bờ của một người con gái qua bên kia cõi đời trong lặng lẽ? Người sống sợ ma nhưng người chết cả con ma sao cũng sợ? Con người M. khi đọc được những dòng này nếu không “cao thượng”, không “hiểu biết” tất sẽ sùng lên, ghen tuông tầm thường. Còn chúng ta, nếu chúng ta không để lòng cùng Th về với những năm tháng chiến tranh thiếu thốn vật chất, khủng hoảng tinh thần với mức độ ‘tâm sinh lý’ mà hiểu họ thì chúng ta cũng sẽ nhìn họ bằng cặp mắt ”cú vọ” và những lời thốt ra “đáng ghê tởm” như Th đã viết.

Khát vọng tình yêu là khát vọng chung của con người. Những tác phẩm văn học nói chung viết về đề tài tình yêu nhân loại, nếu không xây dựng được những hình tượng nhân vật có nét tính cách nhân bản là mảng tình yêu này thì coi như những tác phẩm đó tự cắt một nửa giá trị nội dung, chia đôi giá trị nghệ thuật. Trong hòa bình, tốc độ tình yêu giảm đi nhưng trong chiến tranh, khát vọng tình yêu bộc phá mạnh mẽ và mãnh liệt có thể đẩy người ta ra giữa trận tuyến mà hứng trọn đường tên mũi đạn như không. Cái chết lúc này sẽ ”nhẹ như lông hồng” chứ không “nặng như Thái Sơn”. Tình yêu đó không chỉ là tình yêu quê hương, đất nước, đồng chí, đồng bào mà còn là một tình yêu chân chính hiếm hoi trong cuộc đời.

Tình cảm ân nhân của Th coi như làm đảo lộn mức tình cảm đời thường. Nó đáng cho ta hâm mộ và ghi nhận trân trọng. Ngoài tình yêu chung chung, người ta còn có rất nhiều loại tình ân nhân như thế ấy mà ta không biết xếp nó vào chỗ nào để một đời cất giữ. Khi Th ngã xuống, Bá Nha và Tử Trực kia ở đâu? ”Mãi mãi tuổi xuân” dành cho Th cũng mãi là dấu hỏi giữa trời lộng gió Hà Nội một thời xa… Nhưng Th chắc biết rồi, Th không bao giờ cô đơn nữa. Người ”Em” mà Th hết lòng yêu thương ấy cũng đã theo Th về một cõi của tình yêu ân nhân và khát vọng chân thành vào cái năm Th ngã xuống 1970. Không còn ai có thể chia cắt họ, kể cả chiến tranh, quyền lực và danh vọng, tiền tài. Tình yêu của họ cũng chỉ là tình yêu thiêng liêng không nhuộm sắc màu trần tục.

Còn M.? người giải phóng quân và đồng đội “cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn” mà Th đã hết mực chung thủy hiện là cánh chim phương nào? Thực chất con người này trong tình cảm của Th?

c. Một tình yêu vô vọng:

Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài “Có một con đường mòn trên biển Đông” (Nxb Hà Nội- 1995) có viết: “Người chỉ huy cái bệnh xá ấy là một cô gái, một bác sĩ trẻ người Hà Nội. Chị tên là Trâm… Nghe nói chị có người yêu vào chiến trường trước mấy năm… cho đến khi tốt nghiệp trường Y, chị xung phong vào Nam ngay đúng chiến trường Quảng Ngãi. Không biết vì sao, vào chiến trường rồi, hai anh chị không khăng khít với nhau nữa. Chị có nỗi đau riêng, giấu kín…”. Tôi chợt nhớ một bài hát ”Có những niềm riêng” của nữ nhạc sĩ Lê Tín Hương: ”Có những niềm riêng một đời giấu kín, như rong như rêu… Có những tình yêu một đời câm nín…” và dù nỗi niềm ấy như là đá cuội thì nó vẫn lăn theo những gót hài, theo bước chân người ấy. Người ấy một thời Th đã yêu thương đã từng tiễn đưa và từng chung thuỷ.

Th vào Nam theo tiếng gọi của tổ quốc và tình yêu như Th tâm sự. Lẽ ra, Th phải là người vui sướng khi được chiến đấu bên cạnh người yêu. Vậy mà nhân vật Th đã cảm thấy mất mát: “Bên trong nỗi nhớ hình như có một nỗi buồn sâu kín, thầm lặng nhưng rất nặng nề. Dù sao vết thương lòng vẫn đang rỉ máu, dù mình có muốn lấy công việc, lấy mọi nỗi nhớ khác đè lên trên, nó vẫn trỗi dậy, xót xa vô cùng”. Một cảm giác tan vỡ từ từ đi đến: ”Mình đã gặp lại M. Ai cũng tưởng rằng hạnh phúc đó không có gì sánh được. Nhưng cuộc đời lắm nổi éo le. Khi xa nhau, mình đã thiết tha thầm gọi tên M. trong từng giây, từng phút nhưng khi gặp nhau mình đã cho lòng tự ái ngự trị lên trên tình yêu. M. không phải là người của mình’‘. Té ra, một sự tự ái vì M. ”dành hết tình yêu cao nhất cho Đảng, cho nhân dân nhưng nếu để cho mình quá ít yêu thương thì…không thể đáp ứng với trái tim sôi nổi yêu thương của mình”. Ta lại gặp một thứ tình Xuân Diệu của Th mãnh liệt mà M. chỉ là ”lá khoai”. Công thức ”cung – cầu” trong tình yêu đời thường lại bị phá vỡ theo tình yêu đã ”cách mạng hóa” thành lưỡi dao chém vào hồn người. Vết thương lòng vĩnh viễn không tài nào lành lặn trong những người có lòng tự trọng đến cố chấp.

Th không lý giải rõ ràng hơn vì sao M. đã gây vết thương lòng cho Th. Mây mù cứ bao phủ chung quanh mối tình của họ và nỗi buồn của Th cũng chính là nỗi buồn đời chiến tranh. Một linh cảm mù mờ. Một lý giải bế tắc. Một niềm tin về tình yêu tuổi trẻ đã vô vọng: “Giữa chúng ta không thể nào có hạnh phúc vĩnh viễn”. Tình yêu như tan vỡ. Kỷ niệm cũ thời Hà Nội xa xưa ấy “cùng nắm tay”, “vai kề vai vui đón xuân sang” cũng đã chìm theo “vết thương lòng đang rỉ máu”. Một ẩn dụ của cuộc đời mà ai cũng ít nhiều có một lần bị chém đứt.

Ý niệm tan vỡ ấy hình thành trước khi có tình “Chị-Em” kỳ lạ của Thuận cho đến khi những rạn nứt không thể hàn gắn thì hình bóng một tình yêu lý tưởng cũng mờ dần, kỷ niệm cũng đã khô queo, héo hắt bởi ”ba năm qua, hai đứa chỉ gặp nhau hai lần”. Thời gian chiến tranh cũng góp phần làm tác nhân gây rạn nứt trong tình cảm họ. Nhân vật Th không nhận về mình đã tự xé đôi tình yêu mà nghiêng về phía M. là tác nhân chính gây ra tan vỡ:

– “M. cứ gieo đau buồn lên trái tim của một người con gái sôi nổi yêu thương và tràn trề hy vọng ở cuộc đời… Có ai yêu nhau mà như M. đối với Th đâu”. Lời trách móc của Th cũng chỉ đúng một nửa. Bởi, M. và Th cùng chiến tuyến nhưng không cùng đơn vị. Sự ưu ái của tình yêu với hương vị cận kề chỉ là nỗi nhớ theo thời gian. M. có muốn bày tỏ tình yêu cũng chỉ gởi vào những trang thư như ”gởi hương theo gió” hiếm hoi và không phải lúc nào cũng có mặt trên từng cây số lúc Th cô đơn. Khi cô đơn, tình yêu cần cái phao nhưng cái phao ấy không phải lúc nào cũng thả xuống kịp đáp ứng yêu cầu. Không hiểu nhau thì giận nhau dài dài. Thế thôi.

Tình yêu của Th và M. vời vợi xa cách không giống như chàng giải phóng quân và cô Bí thư chi bộ Mẫn trong “Mẫn và tôi” của Phan Tứ. Ở họ “yêu say đắm mãnh liệt và rất tỉnh táo”. Ở Th, M. yêu có yêu nhưng thiếu tỉnh táo để tìm ra nguyên nhân tại lòng người hay tại hoàn cảnh chiến tranh? Th và M. đã gặp mặt, đã yêu và tan vỡ đối lập với nhân vật Lâm – Nguyệt. Hai nhân vật này chưa bao giờ gặp mặt, vẫn yêu tha thiết như trong “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu, sáng mãi. Nhưng dù sao tiểu thuyết vẫn là tiểu thuyết. Còn M. của nhân vật Th là người thật bằng xương bằng thịt, là người của nhật ký không thể muốn tô vẽ thế nào cũng được.Vì thế mà Th đau. Sống trong nỗi đau như vậy có thêm một tình cảm chân tình khác lượn quanh thì phải biết bám lấy mà sống. Mâu thuẩn tâm lý tình cảm của nhân vật Th trong nhật ký lại đi đến một kết thúc ”không có hậu” thê thảm. Nhân vật chính đã phải chết. Nhân vật Th và M. không nằm trong mốt thù ”hai dòng họ” như ”Romeo-Juliet” của Sechpia. Nhân vật bi kịch phải chết. Nhân vật của tiểu thuyết, truyện ngắn chết (chị Sứ) vì tác giả muốn, còn nhân vật nhật ký chết (Thùy Trâm, Thạc, Lân …) vì chiến tranh mà tác giả không bao giờ muốn.

Đọc lại những dòng M. viết cho Th, người đọc như mù mờ không hiểu nổi với những dòng chữ ngọt ngào như vậy sao Th lại cảm thấy vô vọng:

– “Sự sống của tình yêu không cần sự có mặt của nhau, dù ở Nam hay Bắc, dù là gần nhau hay cách ngàn dặm đường nắng mưa cát bỏng… Ở đâu anh cũng vẫn là anh của tám năm qua và nhiều năm nữa để mà yêu em tha thiết, hãy sống với nhau như một người thân yêu nhất trên đời. Quyết định là hoàn toàn do em..”. Khủng hoảng vì “tám năm qua và nhiều năm nữa” một thời gian chờ đợi như dài vô tận. M. đã quên mất tuổi xuân của một người con gái sẽ vì tình yêu vì cuộc chiến tranh này mà vùi chôn trong khói lửa. Trái tim Tố Hữu “dành để em yêu” và M. “để mà em yêu tha thiết” giống hệt một trái tim chỉ còn một chút xí đỉnh để dành cho tình yêu ”nhận vào” chứ không ”phát ra”. Thiệt quá kiêu ngạo và ích kỷ biết chừng nào!

Th đã không còn sự lựa chọn nào khác vì quyền “quyết định” là do Th: Chờ hay không chờ, yêu hay không yêu nghĩa là muốn sao cũng được. Gáo nước lạnh rồi đó mà! Bởi vậy, sự thiết tha “chờ anh về, đợi anh hoài, em nhé” đã chuyển sang “chờ chị, đợi chị hoài, em nhé” chẳng còn lý do gì để không bật ra. Thế nhưng, nhân vật Th đã tin chắc “có một tình yêu chân chính” giữa hai người: “Ở đây mình sẽ dành trọn cuộc sống cho chiến đấu và công tác, không thể nào có tình yêu nào được và M. ở đó chắc cũng không thể nào có một tình yêu chân chính khi nghĩ đến ai khác ngoài mình”. Vỗ lòng như thế, an ủi như thế mà nguồn hy vọng và tình yêu của M. trong Th đã theo tháng ngày chờ mong vô vọng nên lụi tàn. Điều đó thể hiện rất rõ khi nhận thư M., Th “không đọc vội vì mười năm rồi, tình yêu khô cằn, mất hết rung cảm”. Trong nhật ký, nhân vật Th đã không thể đếm chính xác tình yêu mình đã có bao nhiêu năm. Khi thì mười hai, mười năm, khi thì tám năm… Cái gì đã làm cho Th lẫn lộn thời gian? Ta nghĩ không có cái phao ân nhân của Thuận, nhân vật Th khó mà ghi tiếp những dòng nhật ký có hương, có hoa, có mưa, có nắng, có tiếng suối chảy róc rách giữa rừng và những lời thì thầm trong gió thiết tha như một lời chung thủy.

Giá trị hai từ “thủy chung” hay “chung thủy” nếu không có một tình yêu thật sự mãnh liệt giữ lấy, nó sẽ tiệt tiêu vì thời gian hay vì hoàn cảnh và vì tình yêu chưa đi đến giai đoạn có gốc có rễ. Th xác định ”không thể có một tình yêu nào khác” nghĩa là Th không thể có M2 nào đó và Th2 nào đó cũng chẳng thể có trong M.. Cho nên, cuối cùng Th vẫn cảm giác buồn bã giữa núi rừng khi vẫn có một tình cảm ân nhân kỳ lạ của Thuận bên cạnh: “Ở đây, Th không có cái hạnh phúc đi cạnh người yêu trên con đường vắng khi ánh chiều tím dần trong buổi hoàng hôn”. Th đã thật cảm thấy cô đơn giữa tổ phụ nữ ba người băng lửa thép không phải ngoa dụ như Dương Hương Ly “đánh bật vòng vây mấy tiểu đoàn” mà bị lạc trong rừng cùng với những thương binh đói meo, đói mốc “Chín ngày đã trôi đi mọi người vẫn không trở lại…”.

Cái mà Th cần trong lúc “rưng rưng nước mắt”, “tủi thân đến lạ lùng” này chỉ là “một bàn tay là người quen cũng được chuyền cho mình tình thương sức mạnh để vượt qua những chặng đường gian khổ trước mắt”. Đến phút này, Th cũng không có được một bàn tay ai chìa ra cho Th “không lẽ mọi người đành bỏ mình trong hoàn cảnh này sao?”. Tình yêu của M. và tình ân nhân của Thuận cũng cùng số phận như nhau: Lặng lẽ biến mất khi hiện thực xuất hiện: Cô đơn, lạc lõng và hầu như cái chết đã rình rập trước mắt Th cùng đồng đội. ”Mình vào miền Nam theo tiếng gọi của tổ quốc và tình yêu”. Tổ quốc lúc cuối đời của Th vẫn còn là nửa mảnh thoi thóp và tình yêu của cô cũng chỉ là “nửa hồn thương đau”. Cái tình nào cũng không trọn vẹn.

Nhân vật Th đại diện cho một tầng lớp trẻ (tiểu tư sản thành thị trí thức nòi), dám quên đi tương lai sự nghiệp sáng lạn đang chờ phía trước mà chấp nhận vào chiến trường miền Nam hy sinh cho cuộc chiến chống Mỹ (trước 1973) với ước vọng hòa bình và khát vọng tình yêu đã không có được trong một thời kỳ chiến tranh. Nhân vật này mang đầy đủ yếu tố để ta kết luận trong tình yêu: Là một người con gái dám yêu, biết khao khát và chung thủy.

Nhân vật Th trong “Nhật ký Đ.T.T” còn là sức sống của cây xanh trong tháng ngày bom đạn.

6. “Nhật ký Đ.T.T“: Lá vẫn xanh giữa bốn mùa gian khổ:

Nhật ký thường chú trọng ghi sự vật, sự việc từng ngày, ít khi chú trọng vào khung cảnh nhất là trong những tháng ngày bom đạn, ai có hồn vía nào để lòng nhà thi sĩ, thi nhân. “Nhật ký Đ.T.T” lại có được hơi thơ của chất nghệ sĩ. Giữa ngỗn ngang bom mìn, nhan nhãn xác chết, mịt mù khói súng, ta bắt gặp những câu thơ, những đoạn văn miêu tả khá độc đáo bởi vì người viết là một người con gái có tình yêu, có chất giọng, có tâm hồn nghệ sĩ, là một bác sĩ cầm súng, cầm bút, cầm đàn. Giữa những câu làm người đọc tê tái là những câu Th so sánh, nhân hóa thật tức cười tuy ít ỏi nhưng vẫn có: ”Hàng loạt điện đài và đồng hồ được đem vào bếp lửa hơ vì cái nào cái nấy đều đã uống nước no say” và ”tình hình đường đi căng hơn dây đàn”. Nét yêu đời ấy ở trong Thạc thể hiện nhiều hơn, có lẽ tình yêu vẫn đằm thắm, thiết tha của Như Anh đã mang hương hoa đến cho người chiến sĩ thông tin trên chiến trường Quảng Trị một ”tháng ba của hoa nhãn ban trưa của hoa sấu và hoa bằng lăng nữa”.

Cuộc chiến tranh ở Đức Phổ đã không còn xa lạ và khủng khiếp đến nổi cỏ cây cũng chết giấc trên những khu rừng. Trái lại, từng mùa, từng mùa vẫn trở về xanh um trên từng trang nhật ký đầy nước mắt, đầy yêu thương, hờn trách và căm thù. Niềm vui trở lại sau những ngày căng thẳng. Ta đọc được những dòng Th đã ru mình về với bài “Lòng mẹ” của Y Vân, đã nghe những âm nhạc quốc tế trên đài radio, đã đọc những cuốn sách “gối đầu tay” của Victo Hugo, của Nicolai. Ôxtơrốpxki và y như ở mảnh đất Đức Phổ này chưa từng xảy ra chiến tranh: “Tháng bảy lại về với những cơn gió nam xào xạc thổi rung cây, từng buổi sớm mai dịu mát và từng đêm trăng êm ở giữa rừng… Chỉ còn lại tiếng gió rít trên ngọn cây, tiếng ve sầu kêu rền rĩ khắp khu rừng… Rừng im lặng mênh mông trong ánh trăng mờ”.

Trong “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh hay ai đó, ta gặp hình ảnh ánh trăng như một người chiến sĩ đẩy cửa đòi thơ qua một hiện thực hư cấu “động”. Trăng của thi ca lành lặn bao giờ cũng lung linh huyền ảo trong trạng thái “tĩnh” với ”Nguyệt cầm” của Xuân Diệu. Hồn văn sĩ của Th đã nhập hai trạng thái “động” và “tĩnh” vào “Nhật ký Đ.T.T” : Trăng của trời cao lung linh thì vẫn lung linh. Trăng trong lòng Th khát khao vẫn cứ khao khát. Hai mảnh trăng Khương Hữu Dụng khép lại trong Th thành rừng trăng sáng quắc: “Vì những hạt sương tê tuốt, trăng sáng như gương, cái lạnh cũng như những lưỡi dao lùa khẽ vào da thịt. Lớp dù mỏng không đủ ấm làm mình run lên khe khẽ, cái lạnh làm mình thao thức và hình như còn có một tình thương sôi nỗi cũng ngập tràn trong lòng mình. Mình nghe hơi thở của đồng chí thân yêu ấm bên tai và nghe trái tim họ đập mạnh mẽ trong lồng ngực”. Sự đồng điệu này quá đỗi nhân bản để hiểu mình và hiểu người y như một “Hoán vị” của Trần Mạnh Hảo:

Tim mình trong ngực người ta

Tim người ta đập rung da thịt mình.

Nghe mà chua chát vì tim người, tim mình cũng đã lãnh đủ nhát dao chiến tranh oan nghiệt. Cũng không ngẫu nhiên, những người con gái sau tiếng bom rơi là hồn nhiên soi mình vào gương vuốt ve mái tóc lòa xòa trên trán, vóc từng bụm nước suối rửa cho trôi từng vết bụi chiến trường, là có những giờ vô tư bên đồng đội hay để hồn về với mảnh trăng riêng, là ngủ vùi một giấc với vô tư. Họ là những người con gái trong “giấc ngủ của nàng tiên dũng sĩ”, là Kan Lịch, là Mẫn, là Nguyệt, là Diệu… và người con gái bằng xương, bằng thịt: Đặng Thùy Trâm.

Ngưỡng mộ thay, sau lúc bom đạn cày nát trạm xá mà người con gái này còn thấy: “Những mảnh vườn hoang với những bông hoa bách nhật màu tím gợi cho người ta cảm giác bồi hồi nhớ tiếc… Những dòng suối mát lạnh với những gốc cây nở hoa thơm ngát. Nắng đầu thu tươi vàng óng ả tràn ngập cả khu rừng.”

Tập nhật ký của Th đầy súng đạn, đầy căm hờn nhưng cũng đầy hoa tươi, cỏ sắc trong nắng óng ả và gió lộng ngút ngàn. Mùa xuân cũng len lén về tràn ngập sức sống. Giữa gian khổ nhưng hồn nghệ sĩ vẫn không để hoàng hôn chết yểu nên rừng vẫn xanh tươi và trời hoàng hôn cũng chẳng thể nào héo úa: “Hoàng hôn trên đồng lúa bao giờ cũng giữ vẻ nên thơ dù giữa hoàn cảnh nào cũng vậy”. Không có một sức sống bẩm sinh, không mang tâm hồn nghệ sĩ, chẳng từng có những suy nghĩ trong trắng và hành động lương tri thì người ta không thể nhìn ra giữa cái xấu vẫn có nhiều cái tốt, giữa cái tàn khốc của chiến tranh lại có những bông hoa bách nhật mà Th nhìn thấy ở khu rừng chưa bao giờ chết.

Lùi lại một thời gian, chị Sứ cũng từng tha thiết trong “Hòn đất” của Anh Đức: “Chị yêu biết mấy cái chốn này. Nơi chị oa oa cất tiếng khóc đầu tiên, nơi quả ngọt trái sai đã thấm hồng da dẻ chị…”. Đất nước và tình yêu chúng ta cần những tâm hồn lạc quan như họ biết bao nhiêu! Giữa sự sống và cái chết trong đường tơ kẻ tóc, ước mơ của Th cũng đầy nước mắt chảy theo từng dòng suối, rung theo những lá rừng, sáng theo những ánh trăng, mở lòng ra lần cuối nhìn nhận được một khát khao hiện thực: “Bỗng nhiên một ao ước vô lý mà cháy bỏng thiết tha trỗi dậy trong mình… Có lẽ, chị sẽ úp mặt trong cánh tay rắn rỏi của em, nước mắt chị sẽ thấm ướt trên đôi tay em mà chị lặng yên không giải thích vì sao cả”. Một khát khao tội nghiệp biết chừng nào!

“Động” và “tĩnh” của Th đã là bi kịch giữa khát vọng yêu thương của một tâm hồn hồn nhiên, chân thật có trái tim nhỏ bé bị đối lập giữa lý tưởng cách mạng lớn quá nên chịu không nổi, tim vỡ. Có bao giờ, hồn Th tìm về mùa xuân trên cánh đồng Đức Phổ để lặng nhìn giọt máu Th đã tưới thấm lên mảnh đất ngày nào mọc thành hạt lúa vàng óng ả như nắng mùa thu giữa khu rừng một thời khói lửa hay không?

Nhật ký Đ.T.T” không chỉ có những tháng ngày chết chóc, không chỉ có tình đồng đội, Đảng, Bác Hồ mà còn đã có những tháng ngày mãi mãi tuổi xuân. Ở trong đó, ta còn đọc những lời chân thật như một phương ngôn.

7. “Nhật ký Đ.T.T”: Phương cách sống làm người lương thiện:

Ta quen thuộc với những câu cách ngôn: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”, hay “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” hoặc “Sự học như con thuyền ngược nước, không tiến, ắt lùi” như vỗ về, động viên người ta đừng e sông, ngại núi.

Thời đại của Th, người ta lấy những câu bất hủ của các lãnh tụ Marx, Engels, Lenin, Hồ Chí Minh hay của những người cộng sản gộc: Hoàng Văn Thụ, Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ… để thanh niên hoặc thế hệ sau noi theo và học tập. Những hình ảnh đó, ta không cần tìm đâu cho xa xôi tận bên Tàu bên Tây. Cuộc sống đời thường đã tự nó cho người ta những phương cách sống làm người chân chính. Làm người chân chính mà phải chọn cảnh ”vào tù” như nhân vật người đàn ông trong ”Chị Cả Bống” của Phạm Lưu Vũ là cách chọn cùng đường, bế tắc. Làm người lương thiện như Chí Phèo xách dao tới nhà Bá Kiến là cách làm người lương thiện bằng sự cưỡng bách. Đe dọa người bằng mọi khả năng, lương thiện coi như… vứt!

Hãy xem, hãy nhìn cô gái như Th sống làm người lương thiện như thế nào? Th viết: ”Có thể mình sẽ gặp địch và cũng có thể mình sẽ ngã xuống, trong tay xách thuốc còn nắm chặt”. Đó là sự hy sinh lương thiện của một lương y. Sự lương thiện không có già cỗi. Có lẽ vậy, trên ngôi một Th, người ta đã không khắc ”Mãi mãi tuổi xuân” là gì? Th đã kết tội chiến tranh dù chính nghĩa hay phi nghĩa cũng là ”kẻ cướp”: ”Tuổi xuân của mình đã đi qua trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trong tình yêu và tuỗi trẻ”. Đó cũng là lời kết tội có lương tri của một tấm lòng hướng thiện. Những lời ấy thật bình thường nhưng được đúc kết từ cuộc sống lửa đạn có từ căm thù cao độ của một cô gái đã từng chỉ biết ”nũng nịu trong chiếc nôi tình cảm”. Nhận thức vể tuổi xuân, Th đã có những câu rất thật: ”Ai lại không thiết tha với mùa xuân, ai lại không muốn sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi. Nhưng tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lại những ước mơ hạnh phúc lẽ ra họ phải có…”. Th đã không chỉ nói cho mình, mà còn nghĩ đến những người đã hy sinh tuổi xuân và tình yêu khác. Những Hạnh – Lâm, Hường – Quang, Liên – Công, Khanh – Từ… trong “Nhật ký Đ.T. T”, những Dương Thị Xuân Quý – Bùi Minh Quốc hay Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ… đời thường văn nghiệp đã chẳng phải là những đôi chim nhạn gãy cánh hay sao? Đó cũng là một nhận thức có lương tri của con người lương thiện.

Ngay cả khi lâm trận và sau khi giặc rút là hình ảnh mưa “lênh láng nước, đứa nào đứa nấy ướt sũng, luôn tay hứng mưa dột và đổ nước ra ngoài. Mấy thương binh ngồi co ro ướt lướt thướt, chị Lãnh và anh Đạt đang mơ ước: ‘Hòa bình lập lại ắt hẳn phải chiếu cố nhiều đến những người đã qua cảnh này”, Th đã thẳng thắn: “Em thì chả cần chiếu cố đâu. Ước mong của em chỉ là hòa bình trở lại để em được về với má em. Có thế thôi”. Đó cũng là một mơ ước của con người lương thiện không cần đòi hỏi công lao cho tương xứng tầm vóc hy sinh của mình. Một ước mơ lương tri đáng kính nễ.

Những trang viết về gia đình, cho Mẹ Th, Th cũng hết sức tỏ lòng cứng cỏi: “Mẹ hãy khóc ít thôi mà hãy tự hào vì các con đã sống xứng đáng. Đời ai cũng chết một lần”. Ta nghe như một luận bàn về lẽ “anh hùng, sinh tử”. Đời ai cũng chết một lần. Chữ ”anh hùng” ngày xưa như “chí lớn, tài năng, mưu cao, bản lĩnh” hay phải là “da ngựa bọc thây”. Anh hùng của Th bình thường với “sống xứng đáng, chết vinh quang” khác xa với sự luận bàn anh hùng của Tào Tháo “giải thây trăm họ nên công một người” với “thà giết lầm hơn bỏ sót” của đường lối chính trị. Ôi chao! Hai chữ “Anh hùng” hiểu theo cách xưa và nay hay hiểu như thế nào cũng chỉ là nhuộm máu mà nên cả!

“Nhật ký Đ.T.T” đã được tung ra, mỗi bài viết về Đặng Thùy Trâm làm cho người anh hùng này như thêm một lần sống đi chết lại. Một bài thơ không tên viết vào buổi chiều hoàng hôn đã như một điềm báo gở và những dòng nhật ký như những lời trăn trối chân thành: “Cuộc đời Th là một cuốn sổ những dòng chữ ghi trên đó đẹp như một bài ca nhỏ. Xin Th hãy viết những dòng xứng đáng”. Thạc cũng viết tha thiết: ”Nếu tôi không về, ai sẽ thay tôi viết tiếp những dòng này. Tôi mong muốn những dòng tiếp theo sẽ là dòng vui tươi và đông đúc”. Có phải từ ”đông đúc” của Thạc muốn ước mơ cái gì không ngoài sự mong đừng tổn hao quân số?

Cuốn sổ của Th đã khép lại ba mươi lăm năm trước, bây giờ được mở tung ra theo xu hướng “quật mồ nhật ký” mua bán trên thị trường với quan niệm: Sống, chết cũng làm ra “lợi ích” cho đất nước, cũng là một lần nữa “hy sinh”? Không ai biết rằng điều Th trăn trối, thiêng liêng gấp vạn lần ca tụng cuốn sách “bán vượt kỷ lục thế kỷ” là: “hãy ráng đùm bọc thương yêu nhau khi còn sống chớ khi đã chết rồi có khóc thương cũng chỉ là nước mắt nhỏ trên nấm mồ vô tri vô giác mà thôi!’ Những lời nói đó đáng bọc vàng hơn tám chữ vàng “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” nhiều lắm. Một lời trăn trối lương tri này có đánh động trong lòng những ai vui sướng trong thanh bình còn sung sức “đấu tố” nhau trên mảnh đất mà Th đã đổ máu để bảo vệ này không? Nó sẽ như kim chích vào từng thớ thịt, như mũi tên đâm vào tim con người chân chính và sẽ vô tác dụng “trơ như đá tảng” với những kẻ muốn “nhất đái công thành vạn cốt khô“. Người ta có ai nhớ lời cuối cùng của Th: ”Sau này nếu được sống trong hoa thơm nắng đẹp của chủ nghĩa xã hội hãy nhớ và nhớ mãi cảnh này, hãy nhớ sự hy sinh của những người đã đổ máu vì sự nghiệp chung.Vì ai mà ta vất vả hôm nay hở các đồng chí?”. Hoa thơm nắng đẹp đã về nhưng tấm lòng ”nhớ người đổ máu’‘ thì tùy theo xếp loại công đức trên ”Bảng phong thần” mà định đoạt từng ”đồng chí” hy sinh hay tàn phế !

Tội nghiệp thay cho ước vọng nhỏ nhoi quá đổi bình thuờng của người con gái thích đem yêu thương để cảm hóa con người: “Mình sẽ về chắt chiu vun xới cho tổ ấm gia đình, mình sẽ quý từng phút, từng giây hòa bình ấy bởi vì có sống ở đây mới hiểu hết giá trị cuộc sống”. Nguyễn Du đã nhắc ”Đoạn đường ai có qua cầu mới hay” chính là đấy! Một ước mơ lương tri. Một lời thầm thì đi vào cõi vĩnh hằng sống dậy lại tiếp tục thầm thì như lo sợ một cuộc chiến tranh ngoại tộc thì một mà khiếp đảm một cuộc nội chiến anh em tương tàn lần nữa bùng lên, nổi lửa thiêu đốt hòa bình, gấp mười! Nói như Tùng Lâm “chúng ta kính cẩn nghiêng mình ngưỡng mộ…”. Ngưỡng mộ ở Đặng Thùy Trâm cái gì đây? Chủ yếu là chúng ta hãy sống yêu thương nhau và sống xứng đáng như một thời Th từng sống, từng mong mỏi. Thế thôi.

Đọc “Nhật ký Đ.T.T” mà không hiểu Th khao khát cái gì, đã nhìn thấy gì ở hai mặt chiến tranh, đã nhắn nhủ ta điều gì thì hóa ra, Th đã “chết thêm lần nữa” trong vô vọng vì con người ngày càng văn minh tân tiến, cách suy nghĩ về con người anh hùng của họ cũng chỉ là Robot cũng… “đáng nghiêng mình kính phục”!!! “Hãy đến với mình, nắm chặt bàn tay mình trong lúc cô đơn”, “Hãy ráng đùm bọc yêu thương nhau khi còn sống”. Những lời vàng ngọc này không chân thật hơn những câu khẩu hiệu bình minh trên lý thuyết mà kết quả là những bóng chiều tà sao? Nhưng lời vàng ngọc cỡ nào cũng có cát bụi ở trong.

Th cũng đã từng viết: “Danh dự là viên ngọc vô giá đừng để ai chà đạp lên đó cả, dù người đó có là ai, dù người đó có quyền lực đến mức nào đi chăng nữa”. Danh dự này của Th đã bị hạn hẹp nơi Đức Phổ. Toàn bộ nhật ký, nhân vật Th đã không chỉ rõ là mình đã “bảo vệ” nó bằng cách nào. Những cuộc họp kiểm thảo, chỉnh huấn Đảng, họp huyện Đoàn, Th đã không nêu lên được tiếng nói của mình. Có một cách “bảo vệ” hết mình là “im lặng”: Th đã bước qua dư luận dòm ngó vào tình cảm kỳ lạ chị-em của Nghĩa, của Thuận, vẫn tiếp tục những quan hệ tình cảm tốt đẹp đó dù có những e dè, kìm hãm sự vồn vã, thân mật. Th không thèm gặp mặt anh Năm Bí thư Huyện và không chấp hành lệnh “đi nghỉ” của anh nhưng đó không phải là đấu tranh. Đó chỉ là sự bướng bĩnh dễ thương của một người con gái “có lòng tự trọng” biết được sự nuông chìu của người khác. Đó không phải là “va chạm”. Những “va chạm” mà Th cho là “đáng ghê tởm”, “rùng mình“… Th đã không ghi vào nhật ký. Nhật ký cần sự thật nhưng sự thật trắng trợn như những trận đấu tố, Th có lý do để không cần thiết ghi lại. Đây cũng là hạn chế trong vấn đề đấu tranh của nhân vật. Tuy nhiên, ta nên hiểu: Cái xấu chỉ đáng nêu nhưng không đáng phanh phui. Con người theo cái tốt để tiến lên chứ không phải bám víu vào cái xấu để đi thụt lùi. Cung Tích Biền có nói: “Lịch sử từ lâu nhường buớc cho một đám sinh vật bốn chân thủng thỉnh đi qua”. Một ví von đầy hình tượng rất hay mà cũng đáng… đánh đòn!

Trong “Nhật ký Đ.T.T ” không có những con vật bốn chân, cũng chẳng có con vật hai chân mà chỉ có con người – một động vật cao cấp thoát thai từ vượn người nên còn ít nhiều… lông lá. Đó là một cách nhìn nhân đạo, tràn đầy xây dựng thương yêu. Toàn bộ cuốn nhật ký, ta không tìm ra một sự giận dữ của Th với đồng đội. Chỉ có trường hợp Th giận Phục – một cán bộ – “ăn nói bậy bạ” (!) và “không ưa Thành” (?) trong lúc sống. Th cũng giận Nghĩa “bội phản” (?) và giận Thuận “lầm lỗi” (?), buồn lòng nghe chị Hạnh nói (?). Rồi ta thấy, Th không nhắc đến cái xấu của Phục nữa. Th đào huyệt chôn Thành trong đau xót. Th chấp nhận sự làm lành của Nghĩa và càng yêu thương Thuận hơn sau cơn “lầm lỗi”, không nói gì về chị Hạnh nửa lời. Với Th, quan niệm: “Tha được thì tha” chứ Th không để bụng. Cho nên, những nhân vật trong “Nhật ký Đ.T.T” không có nhân vật phản diện đến mức phải “hạ độc thủ” bằng những ngón đòn cá nhân. Có chăng chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”. Trong “Nhật Ký Đ.T.T”, ta thấy người tốt nhiều hơn kẻ xấu mà thay vì đào thải, “cải giống” kẻ xấu chớ quên “nhân giống” người tốt. “Trồng người” tốt thì mới có người để chăm sóc rừng cây xanh mà Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Vì lợi ích mười năm trồng rừng”. Cây trồng không ai chăm sóc. Chết đứng giữa trời, trơ gan cùng tuế nguyệt!

Bản thân Th chưa thấy được “quyền lực” ghê gớm của thế lực thắng trận sau chiến tranh. Trong thế chiến thứ nhất (1914 -1918), Đức thua trận, chịu chi phí chiến tranh. Trong thế chiến thứ hai (1939 -1945), Hitle không còn điều kiện để đầu hàng quân đồng minh. Nhật đầu hàng vô điều kiện. Châu Âu bị chia hai cho Mỹ và Liên Xô. Ở Việt Nam, khi lực lượng VNDC mở chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng năm 1954, Pháp buộc công nhận VNDCCH và chia đôi đất nuớc. Năm 1975, Dương Văn Minh chẳng còn lý do để giữ gìn “danh dự” chết đứng hơn là đầu hàng. Kẻ “đuợc” thì làm “vua” nhưng kẻ “thua” thì không được làm “giặc”. Sức mạnh đó còn hơn những cơn sóng thần năm 2004 và mạnh hơn cơn bão Katrina cơ hồ xóa các tiểu bang của Mỹ và bạo hơn những lần động đất ở Pakistan năm 2005.

Giả sử Th sống đến ngày 30.4.75, Th tròn ba mươi tuổi, với năm tuổi Đảng, và chín tuổi nghề. Có là bao? Nguời ta sẽ mở lý lịch Th ra: Tiểu tư sản có tình cảm phức tạp, cần trau dồi chuyên môn. Vậy là đi đứt. Th có giỏi lắm cũng chỉ là một trưởng trạm y tá xã như Tạ Thị Ninh (em gái Thuận). Có đấu tranh cho lắm, tù tội cho hung cũng như Trần Văn Thường – phó chủ tịch mặt trận tổ quốc tỉnh Quảng Ngãi – một chức danh chỉ có hư vì! Th sẽ sống “lương thiện” ra sao? Quyền lực mà Th muốn chống cho đến cùng như Th từng phát thệ nó sẽ thổi bay cô giải phóng quân, bác sĩ quân y may mắn sống sót sau chiến trận vào mái ấm “thanh lọc Đảng”. Thà chết vinh trên chiến trường mới danh thơm muôn thuở. Cho nên, nói thẳng, viết hay chỉ chờ ngày được “đi mây về gió”.

Nói về từ “danh dự” của Th, ta cũng so một ý Trần Văn Chi trong bài “Đổi mới và bảo thủ trong ĐCSVN” (chắc ông đã đọc “Nhật ký Đ.T.T”) có viết: “Đại đa số miền Nam ra đi vì lý do họ bị tước đọat nhiều thứ mà quan trọng nhất là danh dự con người” không biết có phải từ “danh dự” mà nhân vật liệt sĩ anh hùng Đặng Thùy Trâm trong “Nhật ký Đ.T.T” đã quyết bảo vệ đến cùng dù gươm kề cổ, súng kề tai không? Chúng ta cứ bình tâm suy nghĩ bởi vì dù thua trận, nhưng hễ là con người phải có danh dự của riêng con người. Những con người thời chiến đã sống với danh dự đó như thế nào?

Nhật ký Đ.T.T” mở ra cho người đời sau từng trang lịch sử và con người anh hùng “sáng chói”trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ.