ĐẶNG THÙY TRÂM – BÀI THƠ GỞI LẠI

Giữa một cuộc chiến tranh có tên “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa” thời điểm 1966 -1973, có những ngôi mộ không năm tháng và những bài thơ không tên lẫn giữa “vùng trời hố bom” mãi cho đến bây giờ…

A. BÀI THƠ KHÔNG TÊN:

I. BÀI THƠ:

7.1.70

Tôi đứng đây giữa núi rừng lộng gió

Mưa đan dày trùm cả rừng cây

Nghe gió mùa đông bắc thổi về đây

Lòng bỗng thấy nhớ thương tha thiết

Ơi những người thân yêu ở nơi xa có biết

Tôi nghĩ gì trong gió lạnh chiều nay

Chiều nay….

Ai đi giữa hàng cây

Trên những con đường thênh thang của trái tim tổ quốc

Ai đi giữa công viên Thống Nhất

Nhìn bóng dừa nghĩ đến miền Nam

Và những bóng hình tha thiết yêu thương

Bỗng đang về đây giữa lòng Hà Nội

Như những đêm nào Hồ Gươm dạ hội

Vai kề vai vui đón xuân sang

Chiều nay…

Giữa đỉnh Trường Sơn

Người giải phóng quân trên đường ra trận tuyến

Có nghĩ gì chăng hỡi người thương mến

Khi nhìn về dãy núi phương Nam

Sóng biển Sa Huỳnh vẫn mặn nhớ thương

Vẫn dạt dào đêm ngày vẫy gọi

Vẫn chờ anh với chiến công chói lọi

Và hẹn ngày đất nước yên vui

Ta lại cùng nhau tay nắm trong tay

Đi đón mùa xuân giữa niềm hạnh phúc

Chiều nay…

Trong căn nhà giữa xóm thôn quen thuộc

Ai nghĩ gì mà đôi mắt long lanh

Mưa nắng dãi dầu trên mái tóc còn xanh

Vẫn không phai trong lòng tình thương cao đẹp

Có những đêm dài trên đường công tác

Lòng bồi hồi khi trở lại đường xưa

Cũng con đường này ta đã tiễn đưa

Trong những buổi chia tay nặng tình ruột thịt

Ai biết chăng dù ta có chết

Cho ngày mai cho đất nước tự do

Thì trong ta vẫn trọn niềm mơ

Và trọn vẹn cả tình thương chung thủy

Chiều nay…

Trong nghìn suy nghĩa

Ai khẽ thở dài thoáng nét âu lo

Ta thấy rồi trong những đêm thâu

Một đôi mắt đen vẫn còn chưa nghĩ

Ai lo cho đồng bào, anh em, đồng chí

Ai đau lòng khi bom đạn còn rơi

Ơi những người thân thiết của tôi ơi

Giữa chiều nay tôi bay về sum họp

Tôi hôn những người thân và lệ tràn trong mắt

Giọt lệ chảy dài thấm mặn yêu thương

Đường đi bao nỗi gian nan

Bàn chân lội suối băng ngàn ta đi

Chông gai nào có sá gì

Mắt nhìn vẫn một hướng về ngày mai

Và ai có biết chăng ai

Tình thương đã chắp cánh dài cho ta.

Bài thơ với 56 câu. Mở đầu có cấu trúc 8/7, cuối cùng kết lại 6/8. Không đề. Không thật hay nhưng tiếng lòng khao khát ước mơ hạnh phúc thì ngập tràn cay đắng trải dài trong một bố cục tương đối chặt chẽ. Bài thơ đó nằm trong cuốn sách “có số phận kỳ lạ”: ”Nhật Ký Đặng Thùy Trâm”. ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm”(Thùy: Th) còn nhiều nghi vấn nhưng cốt lõi là “tiếng lòng” của một cô gái hy sinh trong chiến tranh có tên để lại một bài thơ không tên.

Thay vì thắp một cây nhang, đặt một vòng hoa, tôi chỉ xin được làm người chia sẻ nỗi khát khao yêu thương, những hoài bão ấp ủ mà cuốn nhật ký của Th đã nói lên một ”tiếng lòng” với những niềm riêng không thể nào lý giải như một bài thơ chưa khai sinh nổi một cái tên.

”Bài thơ không tên” (dạng phân tích): Có thể chia ba khổ:

1. Đoạn một: 6 câu đầu: Hoàn cảnh thực tại của người viết :

Tôi đứng đây giữa núi rừng lộng gió

Mưa đan dày trùm cả rừng cây.

Nghe gió mùa đông bắc thổi về đây

Lòng bỗng thấy nhớ thương da diết.

Ơi những người thân yêu ở nơi xa có biết

Tôi nghĩ gì trong gió lạnh chiều nay

Một bối cảnh: Núi rừng, mưa gió trùm kín khổ đầu. Rừng đây, núi đó mênh mông làm con người vốn bé nhỏ trước thiên nhiên càng như nhỏ bé hơn trong cơn mưa dày, mưa xối xả, mưa hối hả không kịp vuốt mặt. Mưa đã “đan dày” còn thêm “gió mùa đông bắc” tai ác kéo về, đưa sự giá lạnh gởi vào hồn người bé nhỏ kia cô đơn thêm trong gió rét.Vậy mà, con người nhỏ bé ấy đã như vượt qua nỗi buồn rét mướt, dám đương đầu với thực tại: Đối với con người can trường đó, núi rừng vẫn “lộng gió”! “Tôi đứng đây” ngang nhiên hứng chịu sự khắc nghiệt, không thụ động để lẫn núp những cơn giông bão của cuộc đời. Câu đầu tiên đã chuyển tải đầy đủ nội dung trên. Thế nhưng con người ấy dù cảm giác có “gió lộng” bao quanh phía ngoài thì từ trong sâu lắng nhất, nỗi buồn như có cánh, từ từ đi ra, bay lên. Nói cách khác: Chui ra, gậm nhấm… Đó là nỗi niềm tâm sự gì của người ở núi rừng cần người đọc chia xẻ?

Chính là “nỗi nhớ thương da diết”. Nếu chẳng phải là một kẻ xa quê, làm thân ly khách thì sẽ không bao giờ có nỗi niềm thương nhớ sâu sắc ấy trỗi dậy, vượt qua rét mướt để như được về với một thời chưa có nỗi giá lạnh giữa rừng núi bạt ngàn .

Hai câu sau giúp ta giải tỏa thắc mắc: Có một người đã đi xa, lên tận núi rừng sâu thẳm để đêm nghe gió hú, ngày súng bom… ru. Người ấy đang đội mưa, đội gió, chịu rét để cho nỗi nhớ thương bay về với “nhưng người thân yêu ở nơi xa.” Người hiện diện ở rừng núi bạt ngàn đó đang nghĩ gì trong “giá lạnh chiều nay” ở khổ giữa?

2. Đoạn hai: 33 câu giữa được chia tạm ra ba khổ nhỏ:

Những nỗi nhớ mênh mông đó được tác giả phân ra rõ ràng có chủ đích qua những trạng từ “chiều nay” ngắt đoạn đột ngột như “giật áo” ta quay lại cùng người viết với suy ngẫm….

a. Tác giả nghĩ về MB: Viết dùm tâm trạng người nơi ấy trong 9 câu tiếp: ( xem bài thơ từ đầu ).

Chiều nay…

Ai đi giữa hàng cây

Trên những con đường thênh thang của trái tim tổ quốc.

Câu thơ chững lại hai từ và năm từ rồi thả ra như không ghìm “vó ngựa” nhớ thương được nữa. Chúng như một lời thầm thì… Một hình ảnh ẩn dụ xuất hiện “trái tim tổ quốc” cho ta liên tưởng về Hà Nội lộng gió từng chiều với một con người bí ẩn lẫn vào đại danh từ chung “Ai” đang một mình đi giữa hàng cây và cùng đang nghĩ về miền Nam qua hình ảnh ẩn dụ nữa: “bóng dừa”. Lạ quá! Buổi chiều còn bóng dừa là buổi chiều hoàng hôn mất rồi! Liên tưởng ban đầu “thần giao cách cảm” đã ảm đạm hoàng hôn như một điềm báo gở?!

“Bóng dừa” giữa công viên Thống Nhất – Hà Nội gợi lên một “Dáng đứng Bến Tre”- quê hương xứ dừa ngọt ngào trĩu quả. Một sức sống mạnh mẽ lại vươn lên trong hoàng hôn giống như hình ảnh của một kẻ đầu sông nhớ người cuối bãi giữa đôi bờ khát vọng! Một tình cảm quê hương che chắn tình cảm riêng tư kín đáo vô cùng! Một tình yêu mang chất cách mạng mất rồi. Một tình yêu Tố Hữu rành rành chưa ráo mực:

Quả tim anh chia ba phần tươi đỏ

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ và phần để em yêu.

Để “em yêu” chớ không phải “anh yêu”. Dè sẻn đến mức tội nghiệp!

Liên tưởng người (Ai) nghĩ đến ta (Miền Nam). Cái riêng ẩn dưới cái chung. Tự mình viết kịch bản và kiêm diễn viên với hai phân vai trái ngược hoàn cảnh, trái ngược thuộc tính và trái luôn khí chất.

b. Lời tự đáp: 4 câu tiếp:

Và những bóng hình tha thiết yêu thương

Bỗng đang về đây giữa lòng Hà Nội

Như những đêm nào Hồ Gươm dạ hội

Vai kề vai vui đón xuân sang

Đoạn thơ như chỉ là tiếng lòng nghĩ sao nói vậy. Từ không trau chuốt. Mạch tải chạy luôn chẳng ngừng như để cùng kịp đón mùa xuân. Đó chính là lòng “tha thiết yêu thương” của kẻ cô đơn giữa núi rừng lạnh lẽo “cảm nhận” tình cảm từ “trái tim tổ quốc” ở trên. Tha thiết đó và tha thiết đây: Hai người ở hai nơi đã nghĩ về nhau, nhập về với kỷ niệm đẹp như một thuở chưa từng có chiến tranh, chưa cảm nhận chiến tranh là nguyên nhân của sự xa cách:

Như đêm nào…

Vai kề vai…

Câu thơ như rung lên vì cánh gió đã mang hơi xuân về ấm áp làm cho nỗi niềm thầm kín kia đã như quên hết những gì gọi là “cái chung” và để mặc cho chút tình cảm riêng trở về đánh động bằng kỷ niệm một đêm nào êm đềm biết bao: “Vai kề vai vui đón xuân sang”.

Người ở núi rừng đã hé mở cho người đọc “tiếng lòng” của mình tiềm ẩn trong cái lớn lao đất nước chợt bừng lóe lên. Thà một lần được gào trong gió, thét trong mưa. Gió mưa dĩ nhiên “im như thóc” không kể lễ nỗi lòng ghìm nén của người giữa núi rừng gió lộng cho ai nghe. Có như vậy, lòng người ở núi xa mới thấy dễ chịu hơn vì tình cảm không thể dối lừa nếu đã không yêu thương sao có thể viết bừa lên trang giấy?

Một thứ “tình đồng chí” tha thiết của Chính Hữu đem vào hoàn cảnh này hóa ra gượng ép để phủ nhận một tình cảm thiêng liêng còn dữ dội hơn tình đồng chí. Vượt lên tất cả. Đó là Tình Yêu . Người đó là ai? Ở đâu? Trạng từ ”Chiều nay ” thứ hai đưa ta tìm người cùng tác giả.

* Người đó là ”người ra trận”:

– Là một chiến sĩ giải phóng quân :

Chiều nay…

Giữa đỉnh Trường Sơn

Người giải phóng quân trên đường ra trận tuyến.

Có nghĩ gì chăng hỡi người thương mến

Khi nhìn về dãy núi phương Nam.

Bốn câu trên đã gọi đích danh, cung cấp cho ta một địa điểm: Trường Sơn; một con nguời: Giải phóng quân; một nhiệm vụ: Ra trận. Hình ảnh người ”giải phóng quân một lần ra đi. Nào có sá chi đâu ngày trở về” là mục tiêu, lý tưởng của lớp thanh niên thời loạn. Đó cũng là hình ảnh đại diện cho một tầng lớp trẻ miền Bắc dám ra đi theo tiếng gọi non sông mà trong ”Bài ca xuân 68”, Tố Hữu đã hết lòng ca ngợi :

Hoan hô anh giải phóng quân

Kính chào anh con nguời đẹp nhất.

Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất

Sống hiên ngang bất khuất trên đời…

Thương yêu một mẫu người được coi ”đẹp nhất” thời bấy giờ quả là niềm tự hào cho những cô gái. Từng câu chữ lại tuôn ra cho ”người thương mến” từ khi anh mãi mê thả hồn về miền Nam giữa công viên Thống Nhất – Hà Nội cho đến khi anh vượt Trường Sơn. ”Trên đỉnh Trường Sơn ta hát ngàn lời ca” đó, anh sẽ nhớ về hình ảnh ”dãy núi phương Nam” với ”bóng dừa xõa tóc. Em dang tay gỡ rối tuổi học trò”? Giữa mênh mông rừng núi trập trùng, biết tìm em nơi đâu? May thay, tác giả đã mở lối: Nỗi nhớ mênh mông đó đã được gom tụ lại bằng một nỗi nhớ dễ bề định hướng. Đó là ”nỗi nhớ Sa Huỳnh”:

Sóng biển Sa Huỳnh vẫn mặn nhớ thương

Vẫn dạt dào đêm ngày vẫy gọi

Ta thấy từ Bắc vào Nam có lắm sông nhiều biển và có biết bao con sóng: Sóng bạc đầu Quy Nhơn thương nhớ về triền sóng gọi Nha Trang. Sóng tràn cát trắng Cam Ranh chạy về ghành Phan Rang, Phan Thiết. Sao người viết bài thơ chọn sóng ở Sa Huỳnh? Thì ra, ”người thương mến” đó đã bám trụ Sa Huỳnh – Quảng Ngãi, nơi xứ sở của muối biển trắng tinh như câu ca dao ngày nao:

Cơn sóng xô dạt bờ Quảng Ngãi

Muối Sa Huỳnh mặn cái nhớ thương.

Một người ”chín nhớ mười thương” không ở xứ dừa mà ở ngay giữa miền đất nước. Thật kỳ lạ, tình cảm đậm đà, chung thủy đầy chất lân tinh của muối ấy đang nhảy múa trong một bầu trời chung như chưa từng bị chia cắt nên tràn trề hy vọng tương lai:

Vẫn chờ anh với chiến công chói lọi

Và hẹn ngày đất nước yên vui.

Nhưng hỡi ơi! Con sóng tình yêu của Xuân Quỳnh da diết biết bao:

Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu xuôi về phương Nam.

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh-một phương.

đã dạt vào bờ một quy ước mà bàn tay chỉ có thể chạm vào giấc mơ và có khi chui vào mơ cũng không bắt nổi: Chờ anh lập chiến công, chờ đất nước yên vui rồi mình mới được hưởng chút ”dư hương” còn sót lại! Điềm báo trước đã không hy vọng mất rồi vì sự thuỷ chung chỉ riêng em thì làm sao giữ nổi con thuyền tình anh chỉ thích lênh đênh kia, cập bến!

Vì vậy, ước mơ “vai kề vai” như hôm nào, khát khao “tay trong tay” như dạo nọ đã thành bọt biển mù khơi! Sao mà nghiệt ngã thế? Cũng một mùa xuân mà mùa xuân trước đã đi vào kỷ niệm, mùa xuân sau lại chưa chín tới! Cũng một con người mà mỗi khát khao đời thường vẫn còn như ở hai bờ đại dương. Người đó là ai sao dường như cố nén tiếng thở dài trong niềm vui tự tạo. Khát khao “anh hôn em, hai người đồng chí” thôi cũng ở tận phương nào!

Một trạng từ chỉ thời gian“chiều nay” thứ ba xuất hiện cho biết người sẽ chịu nhiều thiệt thòi ấy là ai?

– Là một người con gái:

Chiều nay…

Trong căn nhà giữa xóm thôn quen thuộc

Ai nghĩ gì mà đôi mắt long lanh

Mưa nắng dãi dầu trên mái tóc còn xanh

Vẫn không phai trong lòng tình thương cao đẹp nhất.

Nếu đại từ “Ai” (đại từ phiếm chỉ) đoạn đầu là hình ảnh người con trai trong bộ đồ chiến sĩ giải phóng quân thì đại từ “Ai” trên đây không thể khác hơn ký âm riêng của một người con gái đang ở Sa Huỳnh bình thường như bao người con gái khác. Cô gái kia được miêu tả đang ở một địa điểm ‘’thôn xóm quen thuộc’’ chứ không phải là cô gái thành thị và tự nói với mình cũng là một cách nhắn gởi ý nhị đến cho một người. Sợi tơ nhện hồ hỡi giăng qua cõi lòng lúc đầu đã chùn lại với thời gian.

Ai nghĩ gì mà đôi mắt long lanh.

Mắt “long lanh” hầu như dùng đặc biệt cho tuổi thơ, cho người con gái tràn đầy sức sống, tràn đầy tình yêu. Một tình yêu đã xa quá, đã vượt khỏi tầm tay mà vẫn cố giữ, cố nhớ thương. Bởi vì, tình yêu ấy thật diệu kỳ thổi vào lòng cô gái thôn dã kia một sức mạnh tinh thần chống chọi lại với nỗi vất vã cuộc đời. Thành ngữ “mưa nắng dãi dầu” như “một nắng hai sương” mang “chín nhớ mười thương” đã không làm quặn đôi vai nhỏ bé mà ác nghiệt hơn lại đi qua “mái tóc còn xanh”! Vô tình hay cố ý mà lời thơ với từng câu chữ như cứa vào tim người: Tuổi xuân đó sẽ vì một thứ tình yêu (bao gồm đất nước và riêng tư) mà vùi chôn vĩnh viễn với thời gian (nắng mưa). Một hiện thực đau xót vô vàn: Tình yêu không có trẻ, già nhưng con người làm sao không tới thời bạc tóc? Hình như, người con gái này đã linh cảm “một lần đi biết bao giờ gặp lại, một lần xa biết bao nữa quay về” nên cố nhớ về một kỷ niệm cuối:

Cũng con đường này ta đã tiễn đưa.

Trong buổi chia tay nặng tình ruột thịt

Thì ra đó là kỷ niệm một lần chia tay, một lần đưa tiễn. Tiễn đưa ai và chia tay ai? Cô gái đã tiễn đưa một người vào miền Nam làm Giải phóng quân! Hiện tại không có gì, quá trống trải thì đành phải mượn quá khứ để tự an ủi mình. Quá khứ càng đẹp đẽ bao nhiêu thì hiện tại sẽ xa xót bấy nhiêu. Với cô gái này, yêu nhiều trong quá khứ sẽ đau khổ với hiện tại. Đơn giản thôi, cái người mình yêu đã không thể cùng mình đi bước cuối cùng. Cô đơn từ đó. Đọc lại hai câu thơ song song: “Cũng con đường này ta đã tiễn đưa Trong những buổi chia tay nặng tình ruột thịt”, ta cứ tưởng người con gái này chỉ một lần tiễn đưa và đưa một người. Nhưng không, hai câu, hai ý tách biệt hẳn hòi:

Câu đầu: “ta đã tiễn đưa” nghĩa là cô gái “tiễn đưa” một người. Từ “tiễn đưa” dùng chính xác tương ứng với mức độ tình cảm đã có của hai người trước đó. “Tiễn đưa” cũng là “tiễn” cả người đi lẫn “đưa” lòng mình theo người. Một buổi tiễn đưa ngập tiếng sóng trong lòng, đầy hoàng hôn trong mắt của Thâm Tâm cách ba mươi ba năm về trước đó.

Câu hai: Người con gái “chia tay” với người trong gia đình. “Chia tay” là từ lấp lửng hai ý: về và không về. Hai câu thơ, tác giả dùng hai từ tiễn biệt khác nhau “tiễn đưa” và “chia tay” để dành cho hai đối tượng một người yêu, một gia đình. Cấu trúc đặc biệt này đã phá vỡ cấu trúc thường của thơ với hai câu: Câu trên mở. Câu dưới kết. Câu trên mở ”ta đã tiễn đưa” nhưng không kết được vì đối tượng tiễn không được nói đến.

Câu dưới nhập lại cả hai cùng mở: “Những buổi chia tay” đã kết lại được đối tượng chia tay “nặng tình ruột thịt”.

Dẫu có chút kỳ quặc như thế nhưng tác giả chưa đủ sức sử dụng ngòi bút huyền hoặc, cực kỳ tinh thông như Thâm Tâm để đẩy nhân vật đến chỗ không ai hiểu thấu như trong “Tống biệt hành”. Thành thử, người đọc dễ dàng nhận ra ai là người đưa, ai là người đi: Người yêu ra đi và đến lượt mình đi. Anh đi trước. Em cũng tiếp bước theo sau. Mức độ tình cảm lẫn vào nhiệm vụ qua câu thơ đã đưa họ lên bực ngang hàng. Không ai dám coi thường đối phương. Yêu một người có tầm cỡ thì người yêu kia cũng phải có cỡ nào! Nhưng liệu sự chạy đua này có giúp cuộc tình kia trong chiến tranh đạt đến một giá trị được hưởng hay không: Có hạnh phúc khi cả hai “vẫn không phai tình thương” vẫn ”giữ lòng chung thuỷ ” hay không?

Bốn câu thơ sau của đoạn thứ hai đã bộc bạch một tâm trạng trước sau như một:

Ai có biết chăng dù ta có chết

Cho mai này đất nước tự do

Thì trong ta vẫn trọn niềm mơ

Và trọn vẹn tình thương chung thủy

Đại từ “Ai” trở lại như nói cho mọi người mà thật ra nói riêng cho “người ấy” như một lời ” trăn trối” cuối cùng, hiên ngang đầy khí phách. Không được đào tạo dưới một “mái trường xã hội chủ nghĩa”, người con gái này không thể có một ý chí sắt đá khiến ta liên tưởng đến những “bài học thuộc lòng” mà không học sinh nào dám quên. Một bài làm văn muốn “sống” phải tìm hết cách đem hình ảnh Đảng và lãnh tụ vào. Cuối bài phải gân cổ hô khẩu hiệu: “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” hay “Xung phong bất cứ nơi đâu khi tổ quốc cần”. Trò viết hoài cũng ngán mà thầy đọc hoài cũng ớn đến mang tai. Biết làm sao hơn!.

Cho nên, nhìn chữ “chết” cho “đất nước tự do” trong bài thơ không tên này, ta chỉ có thể nghĩ “chết” cho đất nước không có ngoại bang xâm lược còn “tự do” thật sự như cô gái kia mong mỏi, chao! Vẫn “bóng chim tăm cá”!. Cho dù là vậy, từ “chết” kia không ẩn núp dưới những từ đồng nghĩa khác âm sao siêu hơn như: ra đi, về cõi vĩnh hằng, sang bên kia thế giới, hy sinh, bỏ mình, khuất núi… mà vẫn dội vào lòng ta tiếng sóng Sa Huỳnh xót xa là vì lẽ nào? Vì con người xác định ”dù ta có chết” ấy khi sống đã có lý tưởng hẳn hòi là “vì đất nước tự do” là vì “tình thương chung thủy”. Con người sống không là người tầm thường thì nên chọn cái chết không ra ngoài từ “cao cả”.

Những câu thơ cứ chạy đi, chạy mãi không dấu chấm, dấu hỏi, ngắt, dừng, đổ lại lúc nào cũng chẳng biết như một lời tuyên thệ của một người con gái nơi “thôn cùng xóm vắng” ở biển Sa Huỳnh. Nàng là ai? Làm gì ở đó trong cuộc chiến?

3. Đoạn ba: Sức mạnh và niềm tin tuyệt đối trong đoạn có trạng từ thời gian “chiều nay” cuối cùng:

a. Sức mạnh nào?

Chiều nay…

Trong nghìn suy nghĩ

Ai khẽ thở dài thoáng nét lo âu

Ta thấy rồi trong những canh thâu

Một đôi mắt đen vẫn còn chưa nghỉ

Ai lo cho đồng bào anh em đồng chí

Ai đau lòng khi bom đạn còn rơi

Ai” ở đây lại trở thành thằng đại từ rắc rối. Ai trên đã rõ. Ai giữa đã tường. Vậy thì “Ai” cuối đoạn thơ thì là ai? Tại sao giữa một đoạn toàn “Ai” đầu câu bỗng xen vào “Ta” và “Một”. Giả sử năm câu trên mở đầu bằng loạt đại từ “Ai”, ta dễ dàng nhận ra: Tác giả chỉ chung tất cả. Những câu hỏi thiếu dấu để hỏi làm cho ta có cảm tưởng: Người làm thơ chưa rành rọt về thơ mà cũng dám làm, đã là một can đảm. Người làm thơ đặt câu hỏi mà không cần câu trả lời thì chính là “Ta” hỏi để “Ta’‘ trả lời.

Trong nghìn suy nghĩ’ của tác giả, ta lại gặp những câu “động não” khá lý thú. Nếu “Ta” là “Ai” ở câu một, hai và bốn là người con gái thì ”Ai” trong “Ai lo cho đồng bào anh em đồng chí” chẳng thể nào là của cô ta? Nhiệm vụ, trách nhiệm này to tát quá làm sao cô gái nhỏ bé không quyền cao, chức trọng kia gánh vác cho nổi hai từ “đồng bào”? Cho nên đại từ “Ai” ở đây như một câu hỏi tu từ bỏ ngõ.

Ta thấy rồi trong những đêm thâu

Một đôi mắt đen vẫn còn chưa nghỉ

“Đôi mắt đen” này của ai? Tạm thời, ta hiểu theo văn bản là của một người (vì chỉ có một đôi mắt). “Đôi mắt long lanh” ngày nao qua chiến tranh và nỗi chờ mong đã thành đôi mắt đen thâm quầng mất ngủ “còn chưa nghỉ“. Đôi mắt ấy chính là của người bám biển Sa Huỳnh. Thế nhưng bài thơ không tên giữa cuộc chiến có tên đặt trong cuốn sách mới đặt tên ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm” khiến người viết không thể bỏ qua chi tiết nhỏ xíu dễ thương này trong bài thơ. Nếu bài này chưa biết tác giả thì chỉ cần căn cứ vào văn bản vài từ là biết ngay là bài thơ ai làm, làm cho ai, viết ở đâu?

Bài thơ ghi rõ: Sa Huỳnh tức là ở Quảng Ngãi. Có một người con gái tên Thùy Trâm (Th) đã xung phong vào chiến trường Đức Phổ – Quảng Ngãi. Người yêu Th là M. giải phóng quân. Người Th thương quặn lòng lại là Thuận – người em kết nghĩa đồng nghiệp – đồng chí. Trước bài thơ này là những trang viết của Th dành cho M. Dứt khoát bài thơ này, Th viết cho mình và cho riêng M. Nhưng đến đoạn cuối bài thơ, tình cảm của M. đã không đủ sức cho Th viết tiếp câu cuối cùng. Nỗi nhớ về người khác lại hiện ra hướng ngòi viết tác giả chạy theo tiếng lòng chân thật.

Toàn bộ cuốn nhật ký, Th chỉ dùng ”đôi mắt đen” một lần cho M.trong câu: ”M. đứng nhìn theo Th đi không ngoảnh lại biết rằng một đôi mắt đen đang dõi theo Th” (ngày 5.5.68 trang 45 sách in và trang 14 viết tay). Một lần cho Khánh – thương binh bị lân tinh đốt: ”Đôi mắt đen vui cười hôm nay chỉ còn là hai hốc nhỏ mi mắt đã chín vàng” ( ngày 29.7.69 trang 184 bản tay, 175 sách in). Một lần dùng cho Khiêm, người bạn thân thiết: ”Khiêm chết rồi, đôi mắt đen dịu hiền giờ đây mở trừng căm giận” (ngày 16.8.69 trang 72). Còn lại, Th chỉ dùng riêng cho Thuận: “Tạm biệt em, nhất định sẽ còn gặp lại em, sẽ hôn lên đôi mắt đen thân yêu của em” (7.2.70 trang 222). Chính đôi mắt ấy đã làm sáng bầu trời: “Đêm tối, mà bầu trời vẫn rực sáng! Vì ánh chớp, vì ánh lửa… hay vì một đôi mắt đen rực sáng tình thương” (17.6.68 trang 159). Trong giờ chia tay, Th cũng đã viết: “Giây phút chia tay mình nhìn thấy trong đôi mắt đen ngời ấy một nỗi nhớ thương kỳ lạ” (3.12.69 trang 200) và “Đôi mắt đen ngời sáng nhìn mình lo âu tha thiết” (5.3.70 trang 232). Đây cũng là ánh mắt của Thuận mà Th được nhìn lần cuối cùng!

Phân tích những bài thơ khó hiểu nhiều khi phải cần những cứu tinh (cuộc đời tác giả, tác phẩm) để giúp ta tránh hiểu xa rời cách hiểu căn bản của bài thơ. Vậy thì đây nên hiểu là ánh mắt của ai?

Câu hỏi này cũng chỉ để hỏi cũng như Th đã từng tự hỏi. Tự hỏi lòng để như được tiếp sức. Những từ quen thuộc như “đồng bào”, “đồng chí” đã đi vào máu thịt của những người sống trong một thời lửa đạn. Thời ấy, tình cảm con người trên chiến trận dành cho đồng đội còn nhiều nét “thật” hơn thời hòa bình vì cuộc sống của họ đã gắn chặt nhau trên từng cây số. Trong chiến đấu, họ không có giàu, nghèo mà chỉ có “chết” hoặc “sống”. Những hy sinh thời ly loạn không tính ”lời, lỗ ” như bây giờ. Một từ “hy sinh” vì đất nước ngày nay đã không còn ai can đảm ôm vào lòng như “một lý tưởng” của một thời kỳ chiến tranh có tên bất diệt với một khát vọng đời thường:

b. Niềm tin tuyệt đối và khát vọng yêu thương:

Ơi những người thân thiết của tôi ơi

Giữa chiều nay tôi bay về sum họp

Tôi hôn những người thân và lệ tràn trong mắt

Giọt lệ chảy dài thấm mặn yêu thương.

Trạng từ “chiều nay” ở đầu mỗi đoạn với ba chấm lửng biến mất. “Chiều nay” với những hồi ức đã biến vào câu thơ cho ước mơ hôm nay nhưng đã vĩnh viễn không bao giờ thực hiện khi người con gái này còn sống. Từ “bay” trong ”bay về sum họp” đã trở thành nghĩa “đi mây về gió”. Chỉ cách đó, nguời ta mới có thể thực hiện mơ ước và khát vọng của mình khi đã “về bên kia thế giới”!

Khi người làm thơ trở về tình cảm thật của lòng thì những từ xưng hô “Ai đó”, “Ai đây, hoặc “Ta” đầy khí phách cũng rơi rụng tuốt luốt. Cái “tôi” trở về với người thân, với gia đình, với người yêu có gì mà khách sáo mà giữ vẻ? Tôi hôn. Tôi khóc. Tôi yêu. Từ lâu nay, những tình cảm thiêng liêng này như là những “triện son” đóng vào cuộc đời của những người chân chính với những khát vọng yêu thương. Nhưng khát vọng yêu thương của người con gái trong thơ lại nằm trong niềm tin tuyệt đối. Nhịp thơ tự do dàn trải nỗi niềm tâm sự bỗng như được sức mạnh tự tạo mà chuyển đổi đột ngột, cứng cáp hẳn lên:

Đường đi bao nỗi gian nan

Bàn chân lội suối băng ngàn ta đi

Chông gai nào có sá gì

Mắt nhìn vẫn một huớng về ngày mai.

Thể 6/8 thường “được lòng” người đọc ở cách gieo vần êm dịu. Ở đây, vần êm dịu được cô gái sử dụng (dẫu chưa nhuần nhuyễn) để chuyển tải nội dung của một người đầy quyết tâm từ nút “đi” và nút “đến”. Tình cảm đã trào ra hết ở trên. Tiếng lòng đã thố lộ được nên cơ thể cũng như trạng thái tâm lý từ dạng căng như sợi dây đàn đã được thư giãn, quân bình. Cái “tôi” của người trong cô đơn tột cùng vừa bộc phát biến mất sau một trận bão lòng để nhường chỗ cho một lý tưởng bất di, bất dịch xuyên suốt bài thơ. Đó là lý tưởng: “Chẳng kẻ thù nào ngăn được bước ta đi”, “mắt nhìn vẫn một hướng về ngày mai”. Th đã đến lúc như Nguyễn Đình Thi trong ”Đất nước” quyết lòng:

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

Mắt nhìn một hướng” của người con gái nối tiếp “chí lớn chưa về bàn tay không” của Thâm Tâm cộng thêm nét cương quyết, dứt lòng “đầu không ngoảnh lại” của Nguyễn Đình Thi đã thêm vào văn học chống Pháp, chống Mỹ một nội dung về tinh thần cách mạng ở thế tiến công: Người không quay đầu nhưng lịch sử sẽ quay mắt nhìn bốn hướng để thẩm luận về những hy sinh vì không có sự hy sinh nào mà vô nghĩa .

Hoán dụ quen thuộc “bàn chân” đi với cụm từ như ngạn ngữ “lội suối băng ngàn” đã chắp cánh ước mơ về một ngày mai tự do, hạnh phúc của người con gái trong thơ thành tiếng nói khát vọng chung của một dân tộc có quá nhiều chiến tranh chính nghĩa và tương tàn anh em. Không ai tin, chẳng ai ngờ những lời lẽ mang đức tin, tự hào về “quân xanh màu lá”, “đôi dép bác Hồ” cứng cáp, kiên cường như thế, rất “Đảng” như thế lại phát ra từ một cô gái tuổi đời vừa mới hai bảy?

Bài thơ với những câu thơ đơn giản giống một khúc hát trên đường hành quân của một loài hoa rừng bách nhật, như hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời. Tiếc thay, “mặt trời chân lý” ở quá cao và quá nóng. Cuối cùng sự nóng bỏng của chiến tranh làm trái tim con người khô queo tình thương nên trái tim ấy lại tìm về một “năng lượng” khác:

Và ai có biết chăng ai

Tình thương đã chắp cánh dài cho ta.

Từ “Ai” đã dành trọn cho một người. Con người ấy không phải là người mà Th – người con gái chung thuỷ đã yêu.Tình yêu riêng tư lại phải tìm về nơi ẩn náu ”tình thương” chung chung của đất nước. Ở trong mái che ấy, tình yêu mới sống nổi trong một thời kỳ chiến tranh mà tất cả phải dành cho Đảng, cho cách mạng.

Nói đi, dằn lại, vẫn có một “tình thương” kỳ lạ phát ra sức mạnh đủ quật ngã gió mưa, rét mướt, gian nan. Không có chút “tình thương” bé nhỏ đó mà tác giả cố tình lánh né, cho nó “núp bóng từ bi” thì bài thơ này trở thành bài văn ca ngợi chung chung, lên gân, nắn cốt nằm chết trong cô đơn vì ảo tưởng về ngày mai: Đất nước tự do. Dẫu ngày mai đất nước tự do mà không còn bóng dáng tình yêu thì tự do còn gì ý nghĩa!

II. Tổng kết:

Bài thơ 56 câu, không tên giữa cuộc chiến tranh có tên đã đi vào đời. Xuyên suốt bài thơ là những trăn trở về con người với tình thương, với ước mơ, với một ý chí sắt đá, sống chết hết mình vì lý tưởng đã chọn. Bài thơ không thật hay về nghệ thuật nhưng nội dung của nó là vấn đề mà hôm nay chúng ta cần trăn trở: Có một sự hy sinh như thế giữa cuộc đời chiến tranh như thế để người sau ăn trái thì ăn, đừng bẻ cả cành, quật tan tành gốc rễ tình thương mà người nằm xuống một đời ôm ấp! Tưởng tượng lại có những người đã dám sống như thế, ta có cảm giác kẻ sinh sau hình như đã đánh mất đi một ý niệm về tình yêu và dân tộc. Đất nước trọn niềm vui hay niềm đau còn đang đong đầy vẫn còn là câu hỏi xoáy vào tâm can của những người “giữ nước”. Bài thơ kết cấu tự do, bố cục chặc chẽ, mang tình cảm, lời nói thiết tha thả trôi, thả nổi để rồi đột ngột kết lại ở thể 6/8 mang theo một lý tưởng vừa có đất nước vừa có tình yêu đi trong hoàng hôn (năm trạng từ ”chiều nay”) như một điềm báo trước: Lý tưởng ràng buộc, còn tình yêu tự do đã không thể mang người ta vào khát vọng hạnh phúc. ”Bài thơ không tên” mộc mạc không phải của một nhà thơ nhưng chất giọng chân thành, yêu thương như chắp cánh làm người đọc quên đi những ngôn từ trùng lập, vần điệu, chuyển ngữ chưa nhịp nhàng và người viết sử dụng phép tu từ chưa thành thạo.

Thêm vào đó, sống trong thời đại chiến tranh, tình yêu không thể tự do bộc lộ mà không dựa trên lý tưởng cách mạng, đất nước nên bài thơ bị trộn lẫn tình thương và tình yêu. Tác giả muốn nói về tình yêu lại phải cứ núp bóng dưới hình ảnh “chiến công, đất nước, đồng bào, đồng chí“. Điều đó làm giảm đi giá trị tự nhiên của thơ. Đây cũng là nhược điểm toàn bộ thơ ca chiến tranh viết về đề tài tình yêu trong tình đất nước. Trần Đình Sử nhận xét về tình yêu của văn học thời kháng chiến: “Trong cuộc đấu tranh cứu nước gian khổ, ác liệt, tình yêu khó mà có vị trí hàng đầu trong đời sống tình cảm”. Câu nhận xét trên chỉ đúng một nửa. Nó “khó” vì chiến tranh không biết ai mất, ai còn nhưng tình yêu muôn đời là mãnh lực vô song. Ngó yếu mềm mà cuồn cuộn như nước. Ngó mát mẻ mà như bão như giông. Cái nào cũng có hai mặt phải trái. Trên chiến trường không vì tình yêu này, cái gì đủ sức mạnh để người ta chịu hứng trọn viên đạn từ giữa hai chiến tuyến?

Xét về chất thơ, “Bài thơ không tên” có hạn chế nhưng về mặt chiến tranh tâm lý thì đây là bài thơ đạt mức độ hoàn chỉnh. Nó góp một cơn gió vào cơn bão là bộ phận thơ ca chống Mỹ mà Tố Hữu đứng đầu, thổi lên những luồng bão tư tưởng hun đúc một sức mạnh tinh thần cho những người ra trận lao mình vào cuộc chiến tranh có tên kia đi dẫn đến sự kiện Mỹ rút quân kéo theo sự sụp đổ tất yếu của chế độ Cộng hòa. Người giải phóng quân truớc khi chết có thể tung hô: “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm”, “Bác Hồ muôn năm” nhưng người lính cộng hòa khó có thể tụng: “Đảng Cộng hòa muôn năm” hay “Nguyễn Văn Thiệu muôn năm”. Khẩu hiệu và ngón đòn tâm lý chiến tranh vẫn là kế sách đầu tiên cho một cuộc chiến tranh dưới bất kỳ hình thức nào từ thô sơ đến mức tinh vi nhất.

Đằng sau giá trị tác phẩm “Bài thơ không tên” là một nhân vật có tên trong một cuốn sách có tên và giữa cuộc chiến tranh có tên: ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, bác sĩ, liệt sĩ hy sinh ngày 22/6/1970 trong cuộc chiến tranh chống “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa” của Mỹ.