– Một hiện thực vùng đất mũi Cà Mau trở thành tàn tạ qua đôi mắt hiện thực của tác giả:

– Mỉa mai, người ở đây lại không có nước để dùng (như chúng tôi đi trên đất dằng dặc mà không có cục đất chọi chim). Người họ đầy ghẻ chóc, những đứa trẻ gãi đến bật máu. Họ đi mua nước ngọt bằng xuồng chèo, nín thở để nước khỏi sánh ra ngoài vì đường xa, nước mắc. Buổi chiều đi làm mướn về, họ tụt xuống ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nước vo cơm dùng để rửa rau, rửa rau xong dành rửa cá. Con nít ba tuổi đã biết quý nước, mắc lắm cũng ráng chạy ra vườn đái vô chậu ớt, chậu hành (báo hại cây rụi lá)…Tôi giục cha rời khỏi cái xóm tàn tạ đó. Những cánh đồng chúng tôi qua, lúa chết khô khi mới trổ bông. Người ta không thể trồng đậu, trồng dưa vì thiếu nước. Bầy con nít giỡn nhoi trên những con kinh khô trơ lòng.” (đoạn 2).

Một xóm ”tàn tạ” không đủ sức giữ họ chứ không phải ”hai gầu nước ít ỏi” mà họ không nỡ xẻ nửa. Tác giả cho nhân vật nhập nhằng lòng thương người và hoảng sợ trước cái nghèo. Chứng tỏ: Đời sống người chăn vịt không phải là lớp người nghèo khổ, bần cùng của xã hội. Mình không nghèo, không tàn tạ thì làm sao có thể cảm nhận người ta tàn tạ hơn mình? Hai người đi trên hai chiếc xe như nhau thì không ai biết được ai giàu hơn ai! Hai chiếc xe cùng vận tốc chạy song song thì coi như… chẳng có nhúc nhích gì!

– Nhận thức của con người sông nước về ”dịch cúm gia cầm H5N1” và những điều phi lý trong đó:

– ”Chúng tôi cũng không thể ngược sông Bìm Bịp băng qua vùng Kiên Hà, ở đó họ kiểm dịch thú y rất gắt gao. Và dịch cúm gia cầm nghe đâu vẫn còn bùng phát khắp đồng bằng. Để bầy vịt khỏi bị chôn sống (điều đó đồng nghĩa với việc đứt vốn cho mùa sau), bọn tôi quyết định vẫn cầm chúng ở đây… Gió chướng trở ngọn, trên những cánh đồng ủ ê tin buồn. Chúng tôi nghe được một cụm từ lạ, dịch cúm gia cầm. Những người nuôi vịt chạy đồng cười khào, “Chậc, mấy con vịt chết gió, mấy ông nhà nước nói cho quá…”. Hôm chính quyền thông báo tiêu huỷ tất cả các bầy đàn, họ xửng vửng kêu lên, “Trời trời, bộ hết chuyện giỡn sao, mấy cha?”

Mọi người cười ha ha, bữa nay vui quá chừng” (đoạn 6).

Những người chăn vịt qua tác giả là những người ngu ngốc, chẳng chút kiến thức về khoa học nên không nhận biết về mối nguy hại kinh khủng sắp xảy ra nếu coi thường và hình như nếu ”sự kiệt quệ, đói nghèo đang vây bủa” thì chính những người buộc phải thi hành lệnh khẩn cấp chôn sống vịt kia là nguyên nhân tội ác? Sự ngấm ngầm chỉ trích này là sai lầm trong khuynh hướng tư tưởng của tác giả.

Xây dựng tình tiết thể hiện một vấn đề có tính cách nan giải trong tác phẩm, người viết phải hết sức thận trọng vì cách lý giải vấn đề hay giải quyết nan giải đều thể hiện lập trường, tư tưởng tiến bộ hay lạc hậu với kiến thức vững vàng hay hụt hẩng của tác giả.

Trong đoạn văn trên có một chi tiết phi hiện thực nữa đặt ra: Vịt đã bị chôn sống hết rồi còn đâu mà bán nữa:

”Cha quyết định bán bầy vịt đi. Ba người, mỗi lần xách vài ba con, chúng tôi chia nhau đi dài xóm để bán lẻ. Nhưng cách ấy chẳng cho kết quả nhiều, nắm con vịt ốm nhằng trong tay, xương ức gò ra bén ngót cũng đã đoán được. Thêm nữa, mùa giáp hạt kéo dài, nhiều nhà chạy gạo còn gay, thịt vịt trở nên xa xỉ. Tivi thì vẫn đang ra rả về dịch cúm, những người biết chút đỉnh, rụt đầu, “Ăn vịt đặng lây bệnh chết à?”. Chúng tôi mang lũ vịt trở về, con đường dẫn lên đồng rập rờn hoa mua tím. Cũng theo lối này, vài hôm sau, ông trưởng ấp dẫn theo một cán bộ xã xồng xộc đến chỗ chúng tôi… Thật đơn giản, khi nói “các người phải huỷ bầy vịt”. Cha tôi cáu kỉnh gật đầu”.(đoạn 7)

Tác giả tạo ra cái vỏ bọc ”ngây ngô” của những người sống trên đảo hoang, sa mạc chớ không trên sông nước. Sự tố cáo ”phép vua thua lệ làng” như một sự quen miệng đổ thừa của nhân vật mà không có ”bảo chứng”. Tiêu hủy vịt vì tình thế buộc phải như vậy chứ không phải từ trước tới nay, những người chăn vịt bị cưỡng chế bằng luật lệ đó. Những sự kiện bộc phát thì ta không nên nhập nó vào cột chung với những gì gọi là luật lệ thâm căn hủ lậu.

Ở Châu Phi có những tập tục mà người ta hay riễu ”mọi cà răng, căng tai”, tục đánh vào mình người con gái khi dậy thì. Những sắc tộc ở Việt Nam miền núi cũng có những tập tục con gái mới mười tuổi phải đi kiếm củi để ”lấy chồng”. Con gái vùng Trung Đông khi mới sinh ra phải chịu cắt đi một bộ phận ”cảm xúc tình dục” để chống sự ”ngoại tình” thật dã man. Những điều này nếu ai mở Tivi ”ra rả” lên là thấy ngay. Mà cũng không biết trên ”cánh đồng hoang liêu”, người chăn vịt đã phải bị cột cổ vào ”hàng vạn luật lệ” nào đến nổi người ở đây ”vừa sợ, vừa biết ơn”?

Sự mai mỉa của tác giả mớn cho nhân vật thật ”vô duyên” vì nó không tô thêm nét son cho tác giả mà trái lại, nó chỉ chứng tác giả không phải là cây bút biết nhìn đời bằng cặp mắt người làm văn học mà chỉ là người cầm sào để di chuyển chiếc thuyền ngược về hoang dã, lấy đá tảng làm chỗ dựa tinh thần, lấy rong rêu làm thức ăn nuôi thể xác! Làm sao được?

Nếu từ ”hoang dại” chỉ những gì mang tính chất thô sơ ban đầu của tự nhiên thì ”hoang dã” chỉ tất cả những gì thuộc về xa xưa có tính chất rừng rú. Ví dụ người ta nói: Vũ điệu hoang dã, thực, động vật hoang dã hay ”Sông MêKông thời hoang dã” (Bài viết của Ngô thế Vinh trên mạng mekong.org).

Trong CĐBT, NNT dùng từ này cho cuộc sống chăn vịt trên đồng như một lời than thở, oán hờn là không thực tế. Trên đồng nước, nhân vật Nương đang sống không phải đã có mình gia đình cô. Tác giả không phải đã xây dựng đội ngũ những người chăn vịt cùng sống trên đồng đó sao? Còn những đứa trẻ chơi trốn tìm, những người bán vải, những người dân ven đê. Vả lại, chăn vịt phải cần khoảng đất trống cho vịt có chỗ ăn, chỗ… ỉa chứ! Chọn nghề nuôi vịt là phải như vậy, kêu ca cái nổi gì. Nuôi vịt ngay trong thôn xóm đông người thì vịt nó lấy lúa lép đâu mọc trên đó mà… cạp? Những chi tiết nghề nghiệp này mà tác giả cũng nghĩ không thông, hèn nào mọi cái khác đều phải cần bác sĩ… thông ruột! Đáng tiếc!

– Hiện thực của hình ảnh mẹ:

”Đứa mười tuổi quay lưng lại, đứa chín tuổi úp mặt vô áo chị nó, nhưng cả hai vẫn như thấy rõ ràng, trên chiếc giường tre quen thuộc, má oằn uốn người dưới tấm lưng chơm chởm những nốt ruồi. Họ cấu víu. Vật vã. Rên xiết.” (đoạn 3).

Một hình ảnh không mấy tốt đẹp về nhân cách không đáng có trong truyện.

b. ”Cánh đồng bất tận” đầy… cỏ dại:

Văn viết sai ngữ pháp… bất tận. Lỗi câu… bất tận. Sử dụng liên từ chưa đúng ngữ pháp… bất tận.

Chưa sử dụng thành thạo lời dẫn truyện, lời nhân vật hay lời tự truyện nên dấu ngoặc kép sử dụng lung tung hay sử dụng dấu gạch ngang vô tội vạ như trong CĐBT: Về điểm này, NNT đã non kém hơn PTK.

– Dấu nối sử dụng vô tội vạ, không cần thiết: Tạo cảm giác lê thê của câu và không theo đúng cú pháp:

– ”đất – của -mình”, ”cha -của- ngày -xưa”, ”cha hơi khác con – người, ”Uả! Tụi mình hỏng nói tiếng – người?”, ”Thằng Điền đã nhìn – thấy – cái – gì – đó”, ”miễn là tạm quên nỗi buồn của cõi – người”, ”Hy vọng sẽ không bị đau như yêu thương một – con – người nào đó’‘.

Trong đoạn 7: ”Tôi và Điền buộc phải kể câu – chuyện – của – chúng – tôi để chị không ray rứt gì với thân phận làm đĩ”, ”trong sự hoan lạc (của những con vịt ấy) đầy ấp những thứ gọi là tình – yêu”, ”Điền yêu chị… ôi những bạn – bè -dường như chị – đang – chết”… .

Những câu gạch ngang, gạch nằm ấy còn ngỗn ngang trong tác phẩm ”nổi tiếng” này, không bê vào hết ở đây được.

Có lẽ phải viết như vầy:

”Ui! Thiên – tài!. Thầy – cô nào – dạy – cưng mà cưng – sử – dụng – dấu – gạch – ngang… thiên – tai – như – thế?. Đọc kiểu – đó, chắc… nứt – cục… văng – cái – cổ – họng – tui – ra ngoài”!

Dấu nối hay còn gọi là dấu gạch ngang (-) có tác dụng liên kết các danh từ cùng chức năng, viết tắt hay nhấn mạnh danh từ đó trong việc mỉa mai, châm biếm hoặc làm sáng tỏ từ ngữ đứng trước nó.

Ví dụ:

– Viết tắt: Hiệp định thương mại giữa Việt – Mỹ đã có những chuyển biến tốt. (Việt Nam và Hoa Kỳ).

– Nhấn mạnh, châm biếm: ”Những con vi trùng sốt rét “du – kích – chiến” còn sót lại đang đòi đảo chánh – Anh bật cười với ý nghĩ đó. Anh ôm cái túi vào lòng, chạy ngược trở về trường.” (”Mưa”, Nguyễn Thành Nhân. vannghesongcuulong.org).
– Làm sáng tỏ: ”Cái lạnh – như một con sâu róm – chậm chạp bò trên từng đốt xương sống làm anh run lẩy bẩy” (”Mưa”, Nguyễn Thành Nhân. vannghesongcuulong.org)

NNT đã lạm dụng quá nhiều gạch ngang tạo sự ngỗn ngang trong truyện ngắn cho những từ ngữ không cần thiết vì chúng không có chức năng như đã dẫn trên.

– Phóng đại hư cấu nhiều chi tiết vượt quá thực tế đến độ tàn nhẫn, phi lý và buồn cười:

+ Đổ keo dán sắt vào cửa mình đàn bà.

+ Cho người tự tử uống thuốc sâu quá lố.

+ Chi tiết đánh ghen như đánh con vật.

+ Cảnh chị em Điền xúm nhau nhai lá đắp cầm máu.

– Cường điệu và xây dựng tính cách nhân vật bệnh hoạn một cách thiếu trí thức:

+ Người cha trả thù vợ bằng cách chơi đĩ và vứt đàn bà. Ông ta coi đó như niềm vui trong cuộc sống ”gà trống nuôi con”!

+ Người cha qua đánh giá của đứa con không khác gì một con thú: Con thú điên trong tình dục và con thú dữ trong tình cảm gia đình. Người cha mất hết ý thức con người.

+ Cho đàn bà là hạng rẻ mạt, đánh mất lương tâm làm mẹ và bôi nhọ tình mẫu tử qua cách ngoại tình nhanh chóng của người mẹ.

– Hư cấu những chi tiết không hợp tình, hợp tâm sinh lý nhân vật:

+ Bị đổ keo dán sắt vào cửa mình mà vẫn không sao?! Vẫn sinh hoạt tình dục bình thường?!

+ Không ăn uống mà hồi phục nhanh chóng?!

+ Bị hiếp dâm tập thể mà chỉ phảng kháng một lần rồi thôi?!

+ Người mẹ sa ngã vào chủ thầu đám thợ đấu (nghĩa là bà ta đã thích ông ta nhưng khi người con gái bị hiếp dâm tập thể thì cô ta nhận thấy rằng cảm giác của cô ta giống như bà mẹ khi đó giống như cô ta. Điều đó có nghĩa là bà mẹ cũng bị… hiếp dâm chứ không phải tự nguyện? Nếu không tự nguyện thì bà lại đi làm ‘đĩ ngầm’? Bà làm đĩ sao lại không lấy tiền? NNT qủa thật có quá nhiều chi tiết mâu thuẩn tâm sinh lý trong CĐBT): ”Rồi ký ức ùa về kinh hãi, vẻ mặt má tôi cái hôm bị người đàn ông bán vải đo lên người hình như không phải là khoái lạc thăng hoa, nó giống như tôi bây giờ, đau nhói. Tôi tiếc mình không hiểu điều đó sớm hơn.” (đoạn 8).

– Từ ngữ gợi hình ảnh dung tục hầu như không được chọn lọc khi đề cập đến những đoạn liên quan tình dục không cần thiết tái diễn trong CĐBT:

– ”má oằn uốn người dưới tấm lưng chơm chởm những nốt ruồi. Họ cấu víu. Vật vã. Rên xiết.”. (đoạn 3).

– ”Không biết nó đã đánh thức được bản năng, đã tìm thấy nhục cảm, đã biết thèm muốn chưa. Không biết tối nay thằng Điền có được mệt nhoài úp lên chị, hay vạ vật ở đâu đó, bên vách buồng (hay một tấm ghi-đô bằng vải), đau vật đau vã nghe hoan lạc chảy thành những dòng rên xiết, kêu thét. Không biết nước mắt của nó đã khô chưa hay vẫn rỉ từng giọt như máu tươi.” (đoạn 7)

Những đoạn văn vô hồn và trơ trẽn đến sống nhăn, sống nhít như vầy thốt ra từ nhận thức của lứa tuổi ”mười bảy bẻ gãy sừng trâu” về sự nhận thức tuổi dậy thì là phải tìm thấy ”nhục cảm”, ”thèm muốn”… xác thịt ở bất cứ chỗ dơ dáy nào, trên thân thể bất cứ hạng người gì, tuổi tác ra sao… khiến người còn chút sĩ diện… nhắm mắt!

– Cố tình… rải những tư tưởng tình dục bằng những từ ngữ gợi tả trâng tráo:

– ”Không cần gương, tôi thấy hình bóng má trong mắt người đối diện. Trước ánh nhìn của cha, tôi cảm giác mình soi xuống dòng nước đêm. Với những người đàn ông khác, tôi bị rực lên như đứng trước mặt trời. Bằng mắt, họ sờ soạng khắp người tôi. Ánh mắt giống bàn tay của ông xẩm mù mà tôi từng gặp, đụng chỗ nào cũng dừng lại, vuốt vuốt bóp bóp (chắc là cho dễ hình dung), rồi lần dò tới một chỗ khác, rờ nắn mê miết. Và tôi đón nhận một cách hằn học, cục cằn.”

– ‘Khoảng thời gian trước khi con trống trèo lên con mái rất thật, mềm mại, êm đềm… Tuyệt không có gì là thô tục. Tôi sửng sốt. Thằng Điền sửng sốt. Trời ơi, khác với những gì chúng tôi biết (qua cha tôi, má tôi), trong sự hoan lạc (của những con vịt) đầy ắp thứ gọi là tình – yêu”.

Sao mà giống “Đám cưới chuột” của Đỗ Hoằng Diệu với những bầy chuột (của đàn ông) chạy vào trong… quá thể!?

– Nhân vật Điền thì trở nên bệnh hoạn tình dục khi thấy cha cứ ngày đêm làm ba cái chuyện ấy như ”vịt đạp mái” rồi cũng bị mê hoặc mà chạy theo người đàn bà làm đĩ kia (đấy chính là sự sao chép) nhưng tác giả lại ”nhồi’ vào người chị những nghĩ suy vượt qua cái tuổi hiểu biết và vẫn ngòi bút cố tình vạch ra những đường cong dục tình không đáng có trong văn chương lành mạnh.

– Những ý tưởng từ ngữ tàn bạo, mất tính người, cho người ta nhớ lại một mối thù dân tộc đã ba mươi năm chưa ráo máu hận:

– ”hồi năm bảy hai tui bắn thằng lính cộng hòa ở chỗ này, óc nó nát như chao, con mắt văng ra xa cả thước. Ông bạn chẳng ớn, nói tôi cũng cắt cổ thằng Mỹ ở đây chớ đâu” (đoạn 5).

– ”Tôi gặp nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng. Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi. Và hình ảnh đó thật đến nỗi, tôi bất giác lùi lại vì một đứa đang nhìn trân trối vào mình, ngạo nghễ “Tao không thích học, chừng nào lớn, tao đi chăn vịt. Má tao (hoặc ba tao) dặn, phải đánh chết tụi chăn vịt kia”.”

Lũ trẻ con được mớn không cần đi học chỉ đi chăn vịt? Đi vào nghề chăn vịt là để ”đánh chết tụi chăn vịt kia”?! Cha mẹ ơi! Những tư tưởng chết người dã man như vầy mà NNT cũng nghĩ ra nữa? Nó là mầm mống cho sự tàn sát đồng nghiệp nói riêng và đồng loại nói chung đó trời à! Rồi một ngày nào đó, lũ trẻ sẽ khoái kháo nhau: ”Tau không cần đi học. Tau đi… lính. Ba má tau bảo phải… bắn chết mấy thằng lính kia”! Diệt chủng đến nơi! Thời kỳ Hitle thế chiến thứ nhất, thứ nhì 1914 -1945, thời kỳ Pôn Pốt 1975 – 1979, thời kỳ Sadam Hunsen gần đây cũng tương tự tái diễn kế tiếp?

Lời bình của người viết:

CĐBT là một bát canh chua của NNT. Bát canh này có đầy đủ vật liệu: Cá trầu, giá , é, ngỗ, hành, khế, me, cà chua. Đó là nội dung. Bát canh chua từ tay NNT dọn ra mời khách còn nghi ngút khói nhìn thấy… cồn cào. Khách nếm qua… có người chảy nước mắt vì… ớt, có người le lưỡi vì… chua, có người ngại ngùng vì… tanh, có người gật đầu vì hương… bột ngọt. NNT đã quên không pha nước cho loãng với bột ngọt để làm tan vị độc gây ung thư của nó và lại nêm trước là điều cấm kỵ ”chống chỉ định” của cách dùng bột ngọt an toàn. Đó là hình thức.

Đó cũng là lý do tại sao có hai quan niệm trái ngược nhau dữ dội không khác gì thời ”Bóng đè” bị đè bằng bóng: Một chê và một khen. Khi tác phẩm CĐBT được chuyển thể thành kịch bản phim, không biết đạo diễn sẽ phải khai thác điểm nào cho ”ăn khách” vì tất cả những gì về Cà Mau, đã có Đoàn Giỏi với ”Đất rừng phương Nam”, Sơn Nam với ”Mùa len trâu” (Buffalo Boy – Nguyễn Võ Nghiêm Minh thực hiện), ”Hương rừng Cà Mau”, ”Xóm bàu Láng” nói hết, viết hết và cái hay từ… chất liệu, vật liệu nấu xào ”nguyên chất” chứ không pha bột ngột có từ ngữ ”sex” như cô.

CĐBT chỉ toàn là độc thoại nội tâm.Vậy thì đạo diễn phải cần một tay biên kịch có tài chuyển lời độc thoại thành lời đối thoại của nhân vật mới đóng phim được. Nếu không, toàn bộ diễn viên các vai trong phim CĐBT sẽ… câm như hến như nhân vật chính Mùi và chàng nghệ sĩ Piano chẳng nói chút tiếng Việt nào trong ”Mùa đu đủ xanh” nổi tiếng và tai tiếng của Trần Anh Hùng.

Những cảnh đánh ghen dã man trong CĐBT ở thời đại này nếu đạo diễn bê vô hết mà lọt vô mắt người nước ngoài thì Việt Nam thêm nặng nghiệt vi phạm luật ”Nhân quyền” quốc tế nặng nề! Mất hết tính người là mất hết tính nghệ thuật.

Nguyễn Nam với ”Tính nghệ thuật, tính người” trong ”Từ điển văn học – Bộ mới” trang 1742 viết: ”Không có những suy tính, dằn vặt, trăn trở giữa thiện/ác, tốt/xấu, lành/dữ, đúng/sai… không biết suy nghĩ gì khi hành động, con người đã mất hết tính người”.

Nhận xét này dành cho cảnh đánh ghen tàn bạo trong CĐBT thật không oan!

Cảnh ăn nằm của trò gường chiếu chắc chắn sẽ được khai thác triệt để như người ta nạo vét dầu dưới biển. Tiếc rằng đạo diễn sẽ kiếm không ra cảnh cả xóm (chẳng biết đó là vùng nào trong 8 huyện của tỉnh Cà Mau? Là U Minh, Thái Bình, Đầm Nơi, Trần văn Thời hay Cái Nước, Năm Căn, Ngọc Hiến và Phú Tân?) thiếu nước đến nổi ghẻ chốc đầy mình? Con kinh nào trơ dòng để quay cho đúng y như tác phẩm dựng lên đây? Còn đàn vịt? Chao! Hơi nghiệt đó. Vịt phải kiếm cho ốm thiệt là ốm giống y như NNT tả chai ngắt mới đúng. Cảnh hiếp dâm? Ối trời! Người ta chờ đợi ở người anh hùng trên chiến trận… vịt này là tài tử Ngô Thảo với giá bản quyền mười triệu (chẳng nhằm nhò gì so với một bài thơ có mấy chục câu ”Đồi tím hoa sim” của Hữu Loan… 150 triệu!) sẽ làm nên lịch sử cho khán giả nếm canh chua toàn bột ngọt hay nếm canh chua với lá giang quê hương?

”Ngọn đèn không tắt” của NNT đã đốt cháy ”Cánh đồng bất tận” và cùng tắt sau khi hết… dầu!

NNT là một cây bút đang độ tuổi sung sức. Nếu cô muốn bước đi những bước vững vàng trên đường văn học thì vẫn phải còn học hỏi nhiều hơn ở cách chọn nội dung và cách giải quyết vấn đề với một ”nội lực” nghệ thuật thâm hậu. Nếu không, NNT phát lên với ”Ngọn đèn không tắt” và dừng lại với ”Cánh đồng bất tận”. Khoảng cách từ cô đến các đàn chị, cô như Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo… với nội dung lành mạnh, có tính giáo dục thì còn xa lắm! Muốn nhảy vọt, NNT phải đi bằng đường tắt bằng cái phao bom đầy H2 ”Sex” được ẩn núp trong nội dung tưởng chừng như nhân đạo!

Văn NNT gần đây đăng trên web site vannghesongcuulong.org như ”Mối tình xưa” coi như cô… đuối sức. Những người bình văn đã làm hư hỏng người viết văn, làm thơ khi chê chí chết, khi khen hết mình và các giải thưởng văn chương, thi phú nhiều khi trao cũng không chọn đúng bài, thưởng cũng chưa trúng người viết. Ở đời có cái chi mô răng rứa mà hoàn hảo! Viết cho có tính thẩm mỹ, tính giáo dục là tiêu chuẩn hoàn hảo để đánh giá một nhà văn, cây bút có thực lực, có ”nội lực” đang đi trên đôi chân cày xuống mặt ruộng mới thấy giá trị cuộc đời mình cần tái tạo, dựng xây hư cấu trong tác phẩm là cần thiết chứ không cho có là…

Với một nghệ thuật non tay và nội dung bệnh hoạn trong CĐBT, NNT đã làm cho người đi tìm giá trị thực sự chân chính của những tài năng văn học đang ẩn mình trong đám cỏ cháy, thất vọng. Bát canh chua này, thôi, hãy để người nấu và người thích cay, thích hương vị bột ngột dùng đi!

Trên đường mòn văn học, NNT vẫn… không là cái bóng cô đơn vì đã có PTK song bước.

II. ”Dòng sông tật nguyền” cần… đôi nạng gỗ:

1. DSTN có những nét hiện thực hơn CĐBT:

a. Có những câu miêu tả vũng trâu theo đúng loại văn miêu tả:

– ”Chỗ đất buộc trâu lúc nào cũng nham nhở, nhầy nhụa, lở loét, khai và khăn khẳn mùi phân. Những ngày nắng ráo còn đỡ chứ phải ngày mưa không một ai dám đặt chân vào, đất ở đấy sủi bọt lục bục như lỗ trạch lòng mương nước. Từ những vũng trâu đằm, mùi khắm, khai, thối, bốc lên theo gió loang xa cả một vùng sông nước. Rồi nước từ những vũng trâu đằm ấy chảy xuống sông, hòa vào nước mặc người đôi bờ hì hụi gánh về đổ bể lấy nước ăn. Những ngày như thế, cha thường bắt tôi chèo thuyền ngược lên hướng thượng nguồn mới cho nổi lửa nấu cơm.” (đoạn 1).

Cảnh thiếu nước trong DSTN được tác giả miêu tả hiện thực hơn CĐBT nên người đọc có cảm giác bình thường là một cảnh thiếu nước tự nhiên. Sự tự nhiên trong cách hành văn, hư cấu không có nghĩa là tác giả viết theo chủ nghĩa tự nhiên.

Chủ nghĩa tự nhiên là hiện thực của người viết dựa trên cảm tính không cần hiện thực. Còn chủ nghĩa hiện thực văn học là hiện thực của người viết dựa trên lý tính và đứng trên các quan niệm về tính văn học có hiện thực làm nền.

– Có những câu miêu tả cảnh gia đình êm ấm có giá trị tuy vẫn còn nhiều lỗi câu chấm phẩy và cách hành văn lượm thuộm:

– ”Cuộc sống nhà tôi cứ thế, đều đặn diễn ra. Sáng mẹ lấy vợt xúc cá dưới khoang thuyền mang đi chợ bán đong gạo, mua rau dưa, dầu đèn và các thứ linh tinh khác. Chiều cha làm mồi rồi chờ chập choạng mang ra bỏ mó, đợi khi trăng lên hay gió nổi hây hẩy, mẹ chèo thuyền cha đứng đầu mũi nhẹ nhàng lướt đến chỗ chiều cha bỏ mồi.” (đoạn 2).

Người mẹ trong DSTN được tác giả khắc họa có… góc cạnh hơn người mẹ trong CĐBT nhưng PTK cũng không mở rộng chiều hướng khai thác tâm lý nhân vật nên đã đẩy nhân vật người mẹ có nét tính cách ban đầu tốt đẹp lại thành người mẹ ”không ra gì” như người mẹ trong CĐBT.

– ”cuộc sống của cha con tôi cũng có khi vẫn chung niềm vui ăm ắp tiếng cá quẫy hằng đêm trong lòng khoang thuyền rộn rạng. Mẹ tôi sáng sáng vẫn te tái cơm cơm nước nước lo cho cha và tôi cùng lời nhắc nhở trước khi cắp chiếc rổ lên bờ đi chợ. Rằng hai cha con ở nhà chờ bà chợ về cơm nước, đừng sợ muộn mà tự nấu nướng lấy rồi cả nhà lại phải ăn cơm sống. Và tôi, từ lúc mẹ bước lên bờ sẽ leo lên mui ngồi ngóng bà chợ về mua cho bơ bò hạt dưa người ta nhuộm phẩm nhấm nhắt cho đỏ môi. Còn cha, bà sẽ mua cho lạng thuốc lào. Nhận gói thuốc từ tay bà, ông vân vê, vuốt vuốt từng sợi, viên viên hạt bi đặt nhẹ nhàng vào chiếc nõ đã được lấy mũi dao nhọn khoét, gọt, gạt những bớn khói thuốc bám đen xung quanh, tay gẩy gẩy chiếc đóm ruột tre ngâm phơi khô, hơ hơ trên miệng điếu rồi hút một hơi thật sâu, tiếng nõ nổ tanh tách. Đoạn, ông ngửa cổ, chụm môi nhẹ nhàng nhả từng sợi khói phơ phất bay mỏng mảnh như dây chỉ trắng lên trời. Cha quay ra khen: Hôm nay bà nó mua thuốc lào của ai mà hút có hậu thế. Nói có khi chưa xong câu, ông đã nằm quay ra sàn thuyền lơ mơ nghĩ những gỉ những gì không biết và bật cười. Mẹ nghe thế nguýt cha một cái rõ dài, tủm tỉm cười theo”. (đoạn 2).

PTK đã đưa những chi tiết tốt phụ họa cho một gia đình sống bằng nghề sông nước là một hiện thực đáng khích lệ và có thể triển khai thêm nữa diễn biến tâm trạng nhân vật lên ”nút thắt” để hợp thức hóa hành động sa ngã của người mẹ nhưng tác giả lại quay ngược, mượn chi tiết tốt để… nổi lửa đốt hạnh phúc gia đình quá nhanh. Sự ấm cúng cần có trong một kiểu gia đình sông nước: ”Cha quay ra khen” còn mẹ thì ”nguýt cha một cái rõ dài, tủm tỉm cười theo” chỉ vì mẹ qua tác giả dàn dựng chưa chắc tay mà tan nát! Trong quá trình xây dựng tình tiết như trên, tác giả lại mắc những lỗi về cấu trúc ngữ pháp mà người viết văn cần nên kịp thời sửa chữa.

– Đây là đoạn văn miêu tả có giá trị cho một kinh nghiệm nghề chài trên sông. Câu cú có mạch lạc hơn:

– ”Người làm nghề chài lưới trên sông không phải ai cũng có nghề như nhau mà thực ra mỗi người, mỗi vạn chài có một nghề riêng. Có người cả đời sông nước chỉ sống độc một nghề thả câu, có người buông lưới, có người quăng chài, có người đi te hay đóng đăng, đóng túi. Cũng như cha tôi, cả đời chỉ có một nghề đánh chài mò. Trong các nghề sông nước, nghề chài mò là nghề vất vả nhất. Người làm nghề chài mò phải có sức khỏe, khả năng lặn sâu, lâu, chịu được sức ép của nước, ai không có sức khỏe làm nghề này rất nguy hiểm đến tính mạng. Đã có một vài người tưởng nghề chài mò dễ kiếm ăn lao vào, hôm trước hôm sau phải bỏ vì không chịu được. Độ sâu để đánh chài mò thường phải từ hai mét trở lên. Mỗi khi quăng chài, người đánh phải lặn xuống, dùng chân dận cho bốn xung quanh mép chân giềng chài ngập sâu vào bùn mà phải làm nhanh nếu không cá sẽ theo mép chân giềng chui ra ngoài. Người chịu được không sao, người nào yếu, khi làm xong việc đó, lúc nổi lên mặt nước ộc máu mồm máu mũi, nếu ai chảy máu tai coi như cầm chắc cái chết. Trước đó, người đánh phải lặn xuống sông lấy tay hoặc chân gạt lớp bùn non, đào một cái hố sâu (gọi là mó) khoảng hai mươi đến ba mươi phân, rộng bằng cái thúng lồi bỏ mồi vào. Mồi để đánh thường làm bằng cám rang, trộn với thóc, phân người tươi, phân trâu bò và các loại xác giun, cào cào châu chấu. Sau khi đã trộn các loại đó với nhau, người la lại đem trộn với bùn rắn hoặc đất thật cho thịt nhuyễn rồi chia ra thành nhiều phần, mồi phần to bằng cái ấm chuyên pha trà bỏ xuống một mó” (đoạn 2).

Người đọc như được thấy cảnh nghề nghiệp của người lao động vùng sông nước qua sự tái tạo bằng ngôn ngữ viết của tác giả. Hiện thực nghề nghiệp trong CĐBT đã không được tác giả tái hiện rõ nét như thế vì tác giả cứ lo chạy tìm những từ ngữ phục vụ cho mục đích ”tô đen”dòng đời.

Viết một đề tài mà người cầm bút không làm nổi bật hiện thực tốt xấu của cuộc sống với hai trường liên tưởng: Một của cuộc sống vốn dĩ đã có; một hư cấu nghệ thuật của tác giả mà chỉ có hiện thực hư cấu của tác giả thì coi như người viết không có cái nhìn thẩm mỹ và tác phẩm thiếu tính khách quan.

b. Câu nói của thị Hến sau đây đã đẩy bản điểm từ 0 của DSTN lên con số 5/10:

– ”Em biết rồi anh cũng ném trả em lại bờ như những người đàn bà khác. Để anh làm điều đó anh vừa mang tiếng mà em cũng chẳng sung sướng gì. Thôi thì, một ngày nên ngãi, em xin đi để giữ tròn điều tiếng cho anh. Trước khi xa anh và con, em chỉ xin nói với anh một điều, hận thù chỉ làm cho con người tăm tối. Rồi còn con nữa, nó sẽ sống ra sao khi cuộc đời chỉ một màu đen của lòng căm giận.” (đoạn 5).

Lời khuyên của thị Hến này nghe ra vẫn còn có lý hơn lời tự khuyên của nhân vật Nương trong CĐBT (Nhân vật Nương ước ao dạy con lớn lên biết tha thứ lỗi lầm của người lớn bao gồm cả hiếp dâm!). Lời khuyên của thị Hến đưa ra trước khi nhân vật chính bị cưỡng dâm tập thể nên ta không thể nhập chung lời khuyên này với lời tự khuyên trong CĐBT. Lời khuyên của nhân vật này được coi như phát ngôn cho lời khuyên trí thức mặc dù tác giả đã hư cấu nhân vật này xuất hiện trong bối cảnh chưa hợp tình và nặng nề cưỡng ép.

Thật sự, nếu xét giá trị nhân đạo cần có trong một tác phẩm, DSTN được điểm này chứ không phải CĐBT vì lời khuyên có tính nhân đạo trong DSTN cụ thể hơn so với lời tự khuyên trong CĐBT chung chung, nhập nhằng giữa cái ác và hiền, giữa tốt và xấu, phải trái không minh bạch.

Trong DSTN, người cha cũng chỉ vì thâm thù vợ sa ngã, bỏ đi mà hận đàn bà một cách bệnh hoạn nhưng sự bệnh hoạn của người cha trong CĐBT mới ghê sợ hơn và không thực tế. Lỗi lầm của người cha trong DSTN có thể tha thứ vì nhân vật phát ra lời khuyên biết gắn sự khuyên lơn vào trách nhiệm lớn lao hơn, đó là nuôi dạy, lo lắng cho tương lai con trẻ. Thù hận không đáng sẽ làm người ta mê muội và sự trả thù truyền kiếp biết bao giờ cho dứt!

Nhưng cũng kỳ cục thay! Cả hai tác giả đều gặp nhau trên con đường cùng phát chung một tiếng nói nhân đạo đáng nghi ngờ cho tác phẩm của mình. Tiếc thay! Tính nhân đạo của văn học không phải chỉ là sự dàn dựng của tác giả buộc nhân vật phát ra mà phải là tự trong tác phẩm phát ra bằng hành động, tính cách nhân vật.

Trong ”Vang bóng một thời”, Nguyễn Tuân đã để cho nhân vật Bát Lê (Truyện ”Bữa cơm máu”) học cách chém đầu người không rớt xuống đất vừa hát:

Sống không thù nhau

Chết không oán nhau.

Lời hát của anh ta tưởng chừng như lời trẻ con tập hát nhưng bên trong, nó chứa đựng một tư tưởng ”xoá lằn ranh hận thù”. Tức là phát ngôn cho một tư tưởng nhân đạo. Nhân vật Bát Lê sống bằng nghề ”đao phủ” thì phải có ”máu lạnh” khi xuống đao gây thảm họa cho người lĩnh án tử hình (bao gồm thảm họa ấy cũng do chính mình gây nên, tự mình chuốc lấy). Kẻ lấy mạng người là đao phủ thì không phải là kẻ giết người. Không oán thù với nhau là do vậy.

Nhân vật chỉ hát hai câu thì người đọc đã hiểu hết ý nào có cần lời dẫn như ở DSTN hay CĐBT, tác giả đã xen vào nhân vật quá nhiều.

Trong ”Phận bạc”, Võ Tiến Dũng sâu sắc hơn khi để cho nhân vật chồng phát ngôn: ”Trước khi em làm một việc gì, xin em hãy nghĩ đến con chúng ta”. Bà Thành, vợ ông Thành đã mang suýt ngất vì phát hiện ra chồng con gái mình là con của người cán bộ đã giết chồng bà năm xưa trong thời đấu tố. Bà đã lưỡng lự, co thắt, căng thẳng giữa thù riêng gia đình và hạnh phúc chung của hai dòng họ. ”Juiliet” cuối cùng được gả cho ”Rômêô” trong ”Phận bạc” khi người mẹ vượt qua được lằn ranh thù hận bằng lời khuyên nhân đạo của người chồng quá cố. Bà bằng lòng cho con gái hạnh phúc bên chồng như để xoá đi cuộc chiến hai dòng họ. Cuối cùng, bà chịu hiến thân mình một lần cho tên phó chủ tịch xã để đổi lấy chữ ký lý lịch cho con trai đi Tây. Kết thúc truyện dù bà tự thiêu nhưng mặt trời vẫn sáng trong đời hai người con. Đây là kết thúc có bi nhưng có minh. Giá trị nhân đạo là ở chỗ ấy.

DSTN chỉ dừng ở bản điểm có câu nói mang tính dân tộc cao và mang giá trị về giáo dục cho thế hệ trẻ: Lòng vị tha của con người làm người ta sống tốt hơn nhưng tác phẩm chỉ dừng lại ở đấy như CDBT: Loại người nào đáng cho ta vị tha?

PTK đã bỏ dở việc xây dựng, tô đắp thêm cho những tình tiết sáng giá về người lao động ở trên nên DSTN chưa có được Tính nhân dân cơ bản.

”Tính nhân dân bao gồm chủ yếu những người sống bằng sức lao động chính mình… là ngọn nguồn mọi giá trị vật chất và tinh thần của cuộc sống” mà Nguyễn Văn Hạnh -”Tính nhân dân” – ”Từ điển văn học – Bộ mới” trang 1743 đã kết luận.

Nhân vật trong DSTN có sống bằng sức lao động chính mình nhưng lại là sự phung phí lao động và chính điều đó đã giết chết ngọn nguồn giá trị vật chất và tinh thần của cuộc sống. Người đọc nhìn vào DSTN cũng mất hết… xương sống! DSTN ngoại trừ những đốm sáng ra, dòng sông mắc chứng… phong thấp nên tê liệt đôi chân và cần… đôi nạng gỗ.

2. DSTN thiếu đôi nạng gỗ:

– Những hình ảnh hoang dại:

– ”Một toán đánh dậm quây tròn, tru tréo như bầy sói săn vớ được mồi. Chúng dằn tôi xuống triền đê. Tiếng cúc áo đứt, tiếng xé vải áo, tiếng lột quần… ”.

Giống như CĐBT, DSTN cũng hư cấu một kết thúc vô hậu không đáng có. Tình tiết đưa vào vội vã. Chi tiết xây dựng hoang dã. Tất cả chỉ vì tác giả chạy theo con đường tắt muốn nổ một tiếng pháo lên trời gây sự chú ý cho người đọc. Tiếc thay! Pháo đã… lép! Tác giả đã để cho nhân vật lạm dụng nhiều từ tục chẳng hợp cá tính không mang giá trị thẩm mỹ.

+ Hư cấu nhân vật có nhiều sơ hở trong tình tiết và áp đặt trong chi tiết:

– Nhân vật người mẹ nhảy sông coi như đã chết từ lâu mà được người cha cứu sống.

– Nhân vật thị Hến xuất hiện trám vào chỗ trống không có giá trị thay thế người mẹ: ”Trước khi chết, người đàn bà ấy đã viết thư nói toàn bộ sự việc cho người em đang làm giáo viên trên miền ngược và nhờ cậy cô trông nom con gái và người đàn ông đã cứu sống mình. Thương chị, người em đã bỏ dạy về để đi tìm. Một lần ra bến sông, cô vô tình nhìn thấy người con gái con ông thuyền chài đang tắm có cái bớt đỏ bên vai trái như lời người chị dặn lại. Và cô đã trở thành người đàn bà ông nhặt được ở bến Trầm này. Người ấy chính là cô Hến và người chị không ai khác là người đàn bà mà cha đã nhặt được ở mó bỏ mồi cá ngày nào, người đã sinh ra tôi.

Kể xong cô Hến đưa tôi đến trước tấm gương tủ, kéo vai áo trái tôi xuống. Chiếc bớt đỏ tròn như đít bát nằm ngay đầu xương bả vai trái, chiếc bớt đã có bao năm rồi mà tôi không hề biết. Cô đưa tôi đến trước bàn thờ kéo tấm vải che. Trên bàn thờ có ba tấm ảnh, hai người đàn bà và một người đàn ông. Trong hai người đàn bà ấy có một người là mẹ tôi” (đoạn 5). Người đọc… bật cười không kịp.

Sự việc nào cũng có thể xảy ra nhưng trong tác phẩm, mọi tình huống phải được tác giả đặt để, dàn dựng hợp lý, hợp tình. PTK chưa khéo tay khi hư cấu một nhân vật trí thức thành… vợ nhặt bên sông.

Nội dung được hình thức làm nổi nhưng trong DSTN, nghệ thuật xây dựng nhân vật chưa được cứng tay và ngôn từ vận dụng chuyển tải nội dung cho người đọc cũng còn hổng hóc với những từ chưa rõ nghĩa, câu cú nhiều chỗ cần viết lại.

+ Từ chưa rõ nghĩa:

– ”Cắt đường tôi tìm về bến Trầm“? Có phải là ”Tôi đi về bến Trầm theo đường tắt”? hay ”Tiện thể tôi tìm về bến Trầm?

– Hết thảy đều cun cút tin và yêu””Cun cút” chỉ một loài thuộc họ chim. Chúng có ba loại: Lông hung (Turnix tanki blanfordii), lông nâu (Turnix suscitator), nhỏ (Turnix sylvatica dusscumierr)Loại chim này không bay cao được nên thường lủi trong bờ bụi như loài gà. Chúng được đem vào văn chương như trong truyện: ”Con cun cút và người đi săn”. PTK dùng cun cút để chỉ thái độ phục tùng của những người đàn bà hư hỏng bỏ chồng, bỏ con đi theo người cha là không đúng. Dùng ”cúc cung” hay ”cung cúc” mới ra nghĩa phục tùng, tận tụy.

– Những câu, đoạn văn chưa đi đúng ngữ pháp đã chỉ rõ trong phần B.

Tuy nhiên, đứng về mặt ngữ pháp, văn từ, PTK vượt qua CĐBT.

Lời bình của người viết:

DSTN của PTK cũng là bát canh chua như CĐBT với đầy đủ chất liệu, vật liệu để tác giả trổ tài nấu nướng. Bát canh chua cá mú của PTK không có cái vị cay của ớt để làm người thưởng thức… khóc, không có nhiều chất chua như CĐBT để người ta nhăn mặt nhưng có chút vị ngọt của thịt cá sém… ương.

Dù sao, cái ương của hai con cá nấu canh chua đã làm giảm đi hương vị thơm tho, hấp dẫn của bát canh chua. Bát canh chua DSTN chỉ có chút bột ngọt không đủ làm người ta… gật gù nhưng không làm người ta… ung thư.

Nhưng ở đời, hương vị và cái lưỡi làm người ta thích ăn những món ăn lạ, cay xè mặc kệ ung hay không ung. Hai bát canh chua có vị ương ương của cá trầu, cá mú CĐBT, DSTN đang ở trên bàn mà người ta tự hỏi không biết ai là… đầu bếp chính? Khi ăn, người ta cũng thận trọng mời chủ nhân thưởng thức trước nhưng mời ai trước đây? Không rõ là ai thì đành mời theo tuổi tác ”kính lão đắc thọ”!

3. Nhận xét:

a. Về nội dung:

Truyện DSTN của PTK với những tình tiết giống CĐBT của NNT hay trái lại, là chưa đáp ứng được những gì mà văn học đòi hỏi một tác phẩm có giá trị phải có về những thuộc tính văn học: Tính nhân dân, Tính quần chúng, Tính nhân đạo, Tính giáo dục, Tính khuynh hướng nhưng cuối tác phẩm, người đọc vẫn thấy có một chấm sáng le lói của tình gia đình được nâng cấp.

DSTN dù chưa được coi là một tác phẩm văn học có giá trị về Tính hiện thực đúng đắn nhưng cũng đã cho chúng ta thấy một vài nét hiện thực trên quê hương qua những dòng sông cung cấp phù sa, cá tôm đang khô cạn, nhiễm độc vì rác rưỡi vì chất thải với cuộc sống người dân chài quanh năm bám sông, bám thuyền.

Cách nhìn của tác giả đối với hiện thực có cái gì đó như hậm hực, như bực tức. Chính vì nhìn đời bằng cặp mắt xám như vậy nên tác giả đã chưa thực sự mang lại cho người đọc một sự đồng cảm khi tái hiện một cuộc sống đời thường khốn khổ bằng cách nhận chìm xuống dòng sông đang ngập ngụa rác rưỡi một kiếp đàn bà thấp nhân cách và không buông tha cho cả một đứa con gái thơ ngây. Do đó, giá trị nhân đạo trong tác phẩm đã chìm xuồng theo cùng nội dung chứa nhiều tình tiết phi lý. Mặc dù vậy nhưng PTK đã không như tác giả CĐBT tái sinh chi tiết những con người mang thân phận đĩ điếm được cưu mang bởi một tình thương hại lẫn lộn vàng thau nên DSTN vượt lên CĐBT ở điểm này.

b. Về nghệ thuật:

Cái tên của CĐBT không cho người đọc một thông điệp gì khá hơn, có giáo dục hơn ngoài sự bất tận tức vô tận của cái nghèo vì trò gường chiếu! DSTN lại có thể làm người ta thấy một nhân cách hoá tư tưởng có thể tạm chấp nhận: Là số phận của con người không may mắn hơn một dòng sông đã cạn cùng, khô héo và dơ dáy.

Cách hành văn của PTK tạm coi có những đoạn trôi chảy và ngôn từ dùng chắc tay hơn NNT dù PTK để cho NNT vượt qua mặt ở chỗ: Cô biết xen vào những từ ngữ mang tính cảm xúc được liên kết bằng nghệ thuật… mâu thuẩn trong tư tưởng.

Dù nhân vật hai truyện ngắn này coi như giống nhau từng số phận… ”trên từng cây số” nhưng nhân vật trong DSTN không đến nổi ”bệnh hoạn” tâm sinh lý như nhân vật trong CĐBT. Việc thiết lập hệ thống nhân vật giống nhau từng tình tiết, từng nhân vật khiến cho độc giả bị ”xốc” và giá trị sáng tạo của tác giả bằng hình tượng nhân vật bị triệt tiêu. Chính tính cách nhân vật phụ của người cha với cá tính chửi rủa tục tĩu, mắng mỏ cộc cằn chưa được dùng đúng chỗ đã át hết cá tính của nhân vật phản diện chính khiến cho DSTN chưa đạt tới mức độ vừa phải của một sản phẩm tinh thần có giá trị nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật mang Tính thẩm mỹ.

Chính vì DSTN không có những chi tiết phục vụ cho tình tiết nhục cảm thân xác được coi trọng như trong CĐBT nên DSTN không có sức ”hấp dẫn” người đọc. Nhưng ngược lại, vì DSTN cắt bớt những chi tiết dung tục, bệnh hoạn tình dục, lộn xộn tình tiết nên nó có giá trị hiện thực hơn CĐBT.

Hai truyện còn tồn tại quá nhiều lỗi câu ngữ pháp. NNT thì lạm dụng văn nói dùng vào văn viết, PTK lạm dụng lời nói tục để chuyển tải nội dung văn học. Cả hai không chú trọng cấu trúc tác phẩm theo tính thời gian, không gian mà chỉ chú trọng vào nội dung được hư cấu như một bản phim sao chép, phi hiện thực. Do đó, hai tác phẩm sẽ cùng ”sống chết có đôi” vì hai con thuyền cùng vận tốc thì vận tốc chung của chúng là con drero! Giá trị nghệ thuật của hai tác phẩm CĐBT, DSTN còn phải học hỏi nhiều ở Tú Mỡ mà ”Dòng nước ngược” của ông như Nguyễn Văn Long trong “Tự điển văn học – Bộ mới”, trang 534 có nhận xét: ”Cách dựng chân dung nhân vật sinh động chỉ bằng vài nét… mang tính dân tộc và đại chúng” .

DSTN hay CĐBT không thể xếp vào những tác phẩm hay, có giá trị văn học khi bản thân nó còn là nghi vấn của sự ”đạo văn” và khi không xây được tuyến nhân vật có tính cách theo sự đòi hỏi của văn học về hai giá trị: Nội dung và Nghệ thuật thì hai tác phẩm coi như hai đứa trẻ sinh đôi dính liền lồng ngực chờ bác sĩ hội chẩn cho mổ tách ra. Chúng thiếu tháng. Chúng cọt còi, thoi thóp và phải sống bằng lồng kính. Chiếc lồng kính ấy chính là sự bao dung của con người. Dao mổ bác sĩ có chính xác hay không còn chờ vào ”phước chủ, may thầy”. Vận mệnh đấy!

D. KẾT LUẬN SƠ BỘ VÀ CÁCH GIẢI QUYẾT:

CĐBT của NNT dài hơn DSTN của PTK hai đoạn. Lỗi câu, chi tiết phi lý, dung tục, thiếu khoa học trong CĐBT nhiều hơn DSTN. Nếu đây là hai bài văn của hai học sinh thì NNT với CĐBT sẽ nhận điểm khống chế vì đã để cỏ dại mọc đầy trên tác phẩm hơn PTKvới DSTN.

I. Hai truyện ngắn này quả thật giống như hai anh em song sinh:

Giống từ nội dung cốt truyện, từng tình tiết cũng như nghệ thuật (cách xây dựng nhân vật, câu sai). Chỉ có chi tiết là khác. Nếu chi tiết mà giống nhau nữa thì coi như ”sao y bản chánh” nhưng chưa biết bản của NNT hay PTK là chính? Cả hai đang ở trong tình trạng bị coi là ”đạo văn” nếu một trong hai tác giả không có ”khai sinh gốc” đứa con tinh thần của mình.

1. Cả hai đều vi phạm quyền tác giả theo luật nhà nước và công ước quốc tế thì cứ chiếu theo đó mà thi hành.

Những quyền tác giả được qui định theo những nghị định, thông tư của nhà nước Việt Nam như sau:

– Nghị định 76/CP ngày 29/11/ 1966 về quyền tác giả.

– Thông tư 27/2001/TT- BVHTT ngày 10/5/2001 về thực thi các điểm của Nghị định 76/CP.

– Nghị định 63/2003/NĐ0-CP ngày 11/6/2003 về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Văn hóa thông tin.

-Thông tư liên tịch 58/TTLT/BVHTT-BTC ngày 17/10/2003.

– Công văn 2209/TM-QLTT ngày 7/6/2002 về nhiệm vụ của quản lý thị trường trong việc chống hàng giả xâm phạm sở hữu trí tuệ.

– Luật sỡ hữu trí tuệ số: 50/2005/QH11 được nhà nước VN ban hành ngày 21 tháng 12 năm 2005 (cov.org.vn)

2. Hai tác phẩm chỉ được tồn tại khi có chứng minh bằng khai sinh “vàng thật không sợ lửa” (dù sự tồn tại đó đã được ”cấm” với CĐBT). Không thể xử theo tác phẩm nào đăng trước thì coi như… vô tội vạ vì hiện nay, vô số tác phẩm ra đời cả chục năm vẫn còn nằm trong… nhà bảo tàng do nhà xuất bản không nhận in, tác giả không tiền hay còn những nguyên nhân đụng đến nồi cơm… điện! Những tác phẩm in ngang, in dọc chưa chắc đã có giá trị mà còn tốn giấy mực để thu hồi, phê bình… ngốn thời gian vô ích. Những tác phẩm chưa được cấp giấy phép in cũng chưa chắc đã… không có giá trị văn học.

– Cho hai tác giả tự làm luật sư của mình với những ”nhân chứng” (Tác giả ngồi viết lúc nào? Ở đâu? Nhân chứng cho CĐBT và DSTN cũng có rồi nhưng chưa đủ tính xác thực), ”vật chứng” (là những bản thảo viết tay, những trang sửa chữa? Vì một truyện dài như thế, không có ai có thể ngồi vào máy mà đánh không sửa chữa) có thể giúp vụ việc trong sáng. Trong khâu này, chỉ có ”vật chứng” mới có thể giúp người viết hữu hiệu minh bạch trong khi trưng bày giấy khai sinh (thời gian… đẻ) của con mình.

3. Cho hai tác giả viết hai truyện ngắn: Một đề chung và một đề tự chọn để kiểm tra cách viết, câu kéo, từ ngữ và nhất là cách xây dựng nhân vật cũng như nội dung tác phẩm. Nếu cả hai ”tư tưởng lớn gặp nhau” lần nữa thì họ dĩ nhiên… vô tư, quá tài, còn người đọc như chúng ta thì… vô duyên! Nhưng ”phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”! Ta hãy chờ xem có phép màu nào đưa đến như ”Máu của lá” trở về với Võ Thị Hảo chớ không phải của anh chàng mát dây Phạm Minh Phong (lại họ Phạm!) ngớ ngẩn sao gần y bản chính chỉ thay đổi tên nhân vật để thi vào trường viết văn!

4. Không thể choĐây chỉ là chuyện giữa hai chúng tôi” như PTK đã nói và cũng ”chẳng có gì” như NNT phớt tỉnh ănglơ, hoặc đây không phải là chuyện ”cứ để lương tâm họ biết” như những người… vô tư luận bàn. Một tác phẩm được đưa ra chợ trời thì không thuộc quyền tác giả xử lý cá nhân mà nó phải chịu theo quy luật của quỹ đạo văn học nghệ thuật và tác quyền.

Chuyện kể rằng: Có hai người đàn bà giành đứa con. Quan toà xử: Đem xẻ đứa nhỏ ra làm hai. Một trong hai người đàn bà bật khóc. Người không biết nhỏ giọt nước mắt kia mới chính là người mẹ… giả!.

Tâm lý một tác giả bị ”cướp công sức”, họ luôn luôn phản ứng mạnh như Võ Thị Hão trong văn học như Quang Vinh trong âm nhạc. Truyện kể rằng hai đứa bé cùng cầm một đồng tiền. Bọn cướp giựt mất. Một đứa khóc. Một đứa không. Hỏi? Đứa khóc trả lời: Đấy là tiền nó đổi củi cả ngày để mua gạo cho mẹ bệnh ở nhà. Đứa kia thì nói: Tiền này bố cho mua kẹo ăn nên mất thì xin bố đồng khác, khóc chi!

Cả hai tác giả chẳng ai ứ ự gì. Coi bộ cả hai muốn mang giày ống để đi qua cái… vũng trâu? Người ta đang chờ Giám đốc Trung tâm quyền tác giả Việt Nam và những kẻ có trách nhiệm về pháp lý cũng như văn học có ý kiến gì không? Thông số văn học nhiều khi cũng bị nhiễu sóng mà mất độ nhạy cảm, chính xác cũng như dự báo khí tượng, thời tiết, thủy văn.

II. LUẬN:

Cái mà người ta cần là một tác phẩm có tính sáng tạo và có giá trị văn học. Con trẻ lai căng vẫn được người ta yêu thương nhưng văn học lai căng không khác nào ”lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” khiến người ta cười nhạo báng.

Ở Việt Nam, ”tham nhũng” mới là chuyện thời sự quốc gia. Đó mới là ”căn bệnh thế kỷ”. Chuyện hai tác phẩm giống nhau từng tình tiết, trùng đoạn văn, khác chút ít chi tiết gần y bản này cũng không làm người ta từ cơm xuống cháo nhưng tham nhũng mới làm người ta từ cháo xuống cạp… vỏ cây! Thế nhưng thẩm thấu một vấn đề bề nổi thì ta dễ thấy: Tham nhũng chỉ như một loại… ”ghẻ ruồi” ngoài da chẳng nhằm nhò đến tim gan phèo phổi. Văn học với những ”ung thư” giáo dục mới là nọc rắn hổ mang (loại Colubridae) làm tê liệt thần kinh cảm giác, vô hiệu hoá chất xám của con người. Nếu chữa trị không kịp, người bị ”nhiễm độc” chết… không kịp trối!

Nhà văn có thời, chỉ một tác phẩm mà lên như ”Cuốn theo chiều gió” (”Gone with the wind” của nhà văn nữ người Mỹ – Margaret Mitchell) thì nhà văn chưa hết thời cũng chưa chắc vì một ”đứa con hàng xóm” là CĐBT hay DSTN mà xuống. Con hàng xóm cũng là con mình đẻ hay có công nuôi dưỡng. Quê hương mình có gì gì đi nữa cũng vẫn là quê hương đẻ ra mình, nuôi nấng, cưng chìu cả thói hư tật xấu của mình thì mình cũng đừng nên khinh bỏ, phỉ báng hay miệt thị cái nghèo nàn, lạc hậu còn tồn tại trên quê hương qua cặp mắt… cận thị.

Muốn biết công lực các tác giả có đứa con hàng xóm thâm hậu cỡ nào thì cứ việc để cho họ… tung chưởng tiếp theo. Chúng ta – những độc giả có còn đủ thời gian để phung phí vào những ”sản phẩm” ung thư của những kẻ ngồi không, quẩn mỡ mà nghĩ đến những chuyện ”kinh thiên động địa” trong khi trên đất nước ta, những cái cần làm ngay, làm gấp cứ ù lỳ ra và trong khi trên thế giới, những người chết vì chiến tranh cứ thay phiên nhau cầm giấy… xin hộ khẩu nhập… địa hay không?

Người viết thì cứ viết. Người đọc thì cứ đọc. Khen cứ khen. Chê cứ chê. Tác giả vẫn… tác… giả. Khi nào cần thì… tát tai… Trên thế gian, có cái gì qua mắt thiên hạ một đời! ”Lấy vải thưa che mắt thánh” coi bộ khó bền khi có người chơi… ngông, lên trời mượn kính chiếu yêu của Dương Tiễn để rọi tìm… yêu quái trong bóng đêm để tìm thấy: Một cánh đồng: Hai vũng trâu. Một dòng sông: Hai chiếc ghe bầu. Hai vũng trâu cũng trên một cánh đồng và hai chiếc ghe bầu cũng ở trên một dòng sông! Danh họa Pháp Paul Gauguin có nói:“Nếu như tôi chỉ làm những gì đã được làm ra từ trước, tôi sẽ thành một tên đạo họa và sẽ tự coi mình vô giá trị; vì thế tôi quyết định làm một cái gì đó khác đi và người ta gọi tôi là đồ vô luân. Tôi thà làm một đồ vô luân còn hơn làm một tên đạo họa.” Đạo họa hay đạo nhạc, đạo văn… cũng thế!

Tình yêu đã cho, không thể lấy lại nhưng văn học luôn luôn có sự ngoại lệ khi nó có thể lấy lại hay cho bất cứ giá trị nào nó thấy thích hợp theo thời gian. Kinh tế có luật đầu tư. Văn học có luật đào thải. Cuộc đời có luật Nhân – Quả còn tình người thì… chẳng có luật chi!

Tháng 7/20/06

Ngọc Thiên Hoa

TƯ LIỆU THAM KHẢO CÓ SỬ DỤNG:

A. Tác phẩm văn học, điện ảnh:

1. ”Cánh đồng bất tận” – Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Trẻ – 2006.

2. ”Dòng sông tật nguyền”– Phạm Thanh Khương (evan.com).

3. ”Rừng biển Cà Mau” – Lê Cương (vietnam.vnagency.com.vn).

4. ”Những con chim ẩn mình chờ chết” (vietnamthuquan.com).

5. ”Vợ nhặt” (Kim Lân -nt))

6. ”Blue Lagoon-Eo biển xanh” (confidantvcd.com).

7. ”Kiếp hài nhi” – Phạm Hưu Vũ (thotre.com).

8. ”Làm đĩ” – Vũ trọng Phụng (vanhocvietnam.com).

9. ”Phận bạc” – Vũ Tiến Dũng, Nxb Làng Văn -1997.

10. ”Tiếng gọi ngàn” – Đoàn Giỏi, Nxb Hồng Lĩnh (không ghi rõ năm).

11. ”Tam quốc chí” – Ngô Thừa Ân (dactrung.net; vietwcs.com; vi.vikipedia.com).

12. ”Vang bóng một thời – Bữa rượu máu” – NguyễnTuân (voanew.com; vietnamthuquan.com).

B. Những bài liên quan đến đời ”Du mục”:

1. ”Du mục trong vùng nội Mông”, ”Về miền gió cát- Ninh Thuận”, ”Rời Chà Vum sống đời du mục” (confidentvc.d.com).

2. ”Du mục” -Trịnh Công Sơn (comp.nus.cdu).

C. Về sông nước, thuỷ điện và nghề cá: dactrung.net; vnn.vn; tuoitrẻ.com.vn; vietnamnet.vn; vnn-new; vast.ac.vn; vst.vita.gov.vn.

D. Các phẩm lý luận văn học:

1. Nguyễn Xuân Nam ”Tính nghệ thuật và tính người”‘, ”Chức năng văn học”, ”Tính đối thoại”, ”Tính người”.

2. Lê Ngọc Trà “Giọng văn”,

3. Lại Nguyên Ân: ”Tính cách, tính dân tộc”, ”Hình tượng nghệ thuật”, ”Tính cách” .

4. Nguyễn Văn Hạnh: ”Tính khuynh hướng”, ”Tính nghệ thuật”, ”Tính tư tưởng”, ”Tính nhân dân”.

(”Tự điển văn học- Bộ mới”– Nxb Thế giới – 2004).

5. Nhiều tác giả (Phương Lưu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình): (“Lý luận văn học”. Nxb Giáo dục – 2006).

5. Những câu trích có liên quan (thegioisach-ektanet.com.vn).

Đ. Những bài về Y khoa và vật lý, sinh học:

1. ”Sức khỏe và đời sống” (BS Hồng Đức -Ykhoa.net).

2. ”Bạo hành” (BS Nguyễn đức Ý -machmong.org).

4. ”Chợ luận văn”, (Tienphongonline- thoibaoviet.com).

5. ”Tuổi dậy thì” (ykhoa.net, cimsi.org.vn).

6. ”Định luật vạn vật hấp dẫn-Newton” (hcmutedu.vn, songhuong.com, hcmut.edu.vn).

7. ”Nhiễm sắc thể” (health.vnn.vn).

8. ”Thế giới tinh trùng” – Đặng Phong Kiệt (nieukhoa.com).

9. ”Cun cút” (zen.comp.com, vncreatures.net).

10. AIDS (cimsi.org, consufance-hcm.org).

11. Thuốc trừ sâu (exim-pro.com).

E. Những văn bản pháp lý:

1. ”Quyền tác giả và pháp lý” (cov.org.vn).

2. ”Công ước Berne” (vi.vikipence.com).

3. ”Bộ luật tố tụng hình sự” (Nxb Lao động – Xã hội- 2005).

G. Đạo tranh, đạo nhạc, đạo văn:

Các web site: vietnam.vn, tienphongonline.com, vi.wikipedia.org, studys.net, jpvnexpress.net, talawas.org, vnnet.com.vn, ribf.riken.go…

Xin trân trọng cám ơn.