B. NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU:

I. Tác giả và phản ứng của họ khi có dư luận về hai tác phẩm… copy mô tip của nhau:

1. Nguyễn Ngọc Tư (nữ)người miền trong:

”Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976; quê quán huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà Mau. Điện thoại: 0918466091. Email: ngngoctucm@hcm.vnn.vn
* Giải thưởng:
– Giải 1 cuộc thi “Văn học tuổi 20 lần thứ II” của Nhà xuất bản Trẻ, Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, báo Tuổi Trẻ tổ chức năm 2000 với tập truyện “Ngọn đèn không tắt”.
– Giải thưởng Văn học của Hội nhà văn Việt Nam năm 2001 với tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt”. Tập sách này đã được chọn in lại trong “Tủ sách Vàng” của NXB Kim Đồng năm 2003. 
(www.thotre.com)

– Ý của Nguyễn Ngọc Tư cũng như Phạm Thanh Khương: ”Đây là chuyện giữa tôi và tác giả Phạm Thanh Khương. Đến lúc nào đó, tôi và tác giả Phạm Thanh Khương sẽ phải đối thoại với nhau. ” (www.vnexpress.net)

2. Phạm Thanh Khương (nam) người miền ngoài:

”Sinh ngày 15/4/1959

Tốt nghiệp: Học viện Biên phòng, Học viện Chính trị – Quân sự

Hiện là Phó tổng biên tập báo Biên Phòng.

Các tác phẩm đã xuất bản:

Nước mắt thời con gái – tập truyện ngắn 2003.

Tiếng gọi đời sau – tập truyện ngắn 2005.”

(www.vn.express.net).

– Ý của Phạm Thanh Khương cũng như Nguyễn Ngọc Tư: ‘Tôi cảm thấy rất mệt mỏi, vì nhà văn Nguyễn Ngọc Tư và tôi đã nói đây là chuyện riêng giữa tôi và Tư, hãy để chúng tôi tự giải quyết với nhau. Đến bây giờ chúng tôi cũng thấy chuyện này không có gì đáng nói cả”. (web đã dẫn).

Lời bình của người viết:

Cả hai tác giả đang có nghi vấn đều cho đó là chuyện riêng của họ. Vậy thì chúng ta nên… đi chỗ khác chơi để cho họ… đóng cửa bảo nhau. Hội nhà văn hay các cơ quan, đoàn thể cùng các cá nhân không liên can gì đến vấn đề bản quyền của ai kể cả công ước quốc tế hay những văn bản của chính phủ về bản quyền đều vô giá trị trước hai tác giả này?

Một ý kiến phớp lờ người đọc: Hai cây bút. Một luận điệu coi thường dư luận: Hai tác giả. Vậy thì những kẻ bị ghép tội đạo tranh hay đạo nhạc cũng cứ để mặc họ ”Dạ, bẩm Bao đại nhân, con… oan!” và người… được copy ”tự giải quyết với nhau”. Thậm chí, xảy ra án mạng thì cứ để hai bên ”tự giải quyết với nhau” vì ”không có gì đáng nói cả”. Giải tán chính phủ, quốc hội là vừa vì dân chúng đã tự giải quyết với nhau cả rồi, chính quyền, quân đội, công an, tòa án lập ra chỉ để… hát bội!

Tinh thần tự giác này coi như đã đến mức tột đỉnh. Xã hội có như vậy thì cường quốc số một Hoa Kỳ nằm mơ cũng không thấy. Coi bộ xã hội Việt Nam đã không phải ”Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” nữa mà… vọt lên ”Thế giới đại đồng”. Các cụ: KarlMarx, Frederich-Engel, Vladimir llgich LeNin và Hồ Chí Minh nằm trong lòng đất hay trong lồng kính… bật dậy, mừng không kịp!

II. Hai truyện ngắn: Nhân vật thêm vào, bớt ra cũng ngần ấy nội dung:

1. CĐBT:

– Có thêm người em trai tên Điền sống bằng chăn nuôi vịt. Đây là nhân vật ”phụ diễn” cho tác giả về ”dục tình và thế xác”. Nhân vật mười sáu tuổi này đã ”tẩu hỏa nhập ma” với tình dục diễn ra hằng ngày của cha, của những người dân lao động vùng sông nước và trở thành kẻ chạy theo ”tiếng gọi ngàn”: ”Thằng Điền xách nước về, nó cuồng lên hỏi chị đâu. Tôi chỉ con đường kinh xao xác hoa cỏ dại. Em tôi chạy hồng hộc về phía đó. Điền, cũng không trở lại.” (đoạn 7).

Nhân vật này được tác giả xây dựng rất chăm chút về sự ”thức dậy” sinh lý của tuổi dậy thì. Bản năng tự nhiên cảm nhận tình cảm trong Điền đã như chết cứng trước đó: ”Điền chối bỏ niềm vui được trở thành một người đàn ông thực thụ. Nó tự kìm hãm bản năng trổi dậy mạnh mẽ ở tuổi dậy thì bằng sự tất cả sự miệt thị, giận dữ, căm thù. Nó phản kháng bằng cách trút sạch những gì cha tôi có, cha tôi làm. Giãy dụa đến rã rời, nhiều bữa, nó dầm mình dưới ao đến khi người tái nhợt. Nó chạy như điên trong đêm, trên những bờ ruộng mướt cỏ đến khi mỏi nhừ, gục xuống. Rồi nằm xoãi trên đồng, tả tơi. Điền đã lạnh ngắt. Nó dửng dưng nhìn những đứa con gái làm cỏ lúa, quần xoắn cao, đùi non mởn. Đôi lúc bắt gặp những đôi người quấn nhau giữa các chòi ruộng hay lùm cây, nó khinh khỉnh cười khào’‘ (đoạn 6). Vậy mà khi gặp thị Sương, nó đã có cảm giác mắc cỡ, ghen tuông khi thị tìm cách ”sà vào cha” . Khi thị… gường chiếu với cha thì ”lòng nó chao”. Khi thị đem thân trao đổi với tên cán bộ thì: ”Thằng Điền bệu bạo cắn răng, nó tự kìm nén bằng cách siết vai tôi đau nhừ”. Cảm giác này nào phải của một kẻ ”trơ cảm xúc” vì ”Điền yêu chị, nhưng tình yêu đó khiếm khuyết mất rồi. Sau giấc ngủ dài, bản năng nó đã không trở dậy. Trái tim nó chỉ là hòn than nhỏ, không thể hâm nóng lại cơ thể ngã màu tro. Sợi dây xúc cảm như lối đi lâu lắm không người lui tới, cỏ dại mọc bít mất, đường đứt, cầu gãy… ” (đoạn 7).

NNT lại mâu thuẩn. Khi con người yêu được thì tự nhiên bản năng khát khao gần gũi sẽ nổi dậy. Không thể có kẻ yêu với một bản năng đã chết. Quan niệm tình yêu có vô vàn kiểu cách mà ai ai cũng thuộc lòng câu thơ bất hủ của Xuân Diệu: ”Yêu là chết ở trong lòng một ít”. Tình yêu ai cũng biết không có biên giới, tuổi tác và giai cấp nhưng giới hạn nào cũng có mức độ. Tại sao nhân vật Điền trơ như đá cẩm thạch trước những cô gái mà lại ”ngây ngất” trước một người đàn bà có nhân cách tầm thường, đã xấu, đã ”nhão” và chỉ là loại người sinh ra cho trò chơi gường chiếu:”Chị cần nhiều hơn, nhiều hơn, nhiều khủng khiếp, tưởng như chị có thể ngốn ngấu, bào mòn tất cả đàn ông trên thế gian này. Lúc đầu là kiếm sống, nhưng lâu dần, sự chung đụng của thể xác làm chị nghiện. Thằng Điền tuyệt vọng. Tôi cảm giác sự đổ vỡ khi Điền đuổi theo chị, và chị thì chạy theo cha.”(đoạn 7). Điền nổi loạn như con Vá -con heo rừng- sống sót sau trận tàn sát dòng họ nhà heo đám thợ săn trong ”Tiếng gọi ngàn” khi mùa ”động đực” réo gọi nó trong rừng sâu? Điền đánh túi bụi vào hai con chó dính lẹo thì không khác chi, nó đang tự cầm roi quất lấy, quất để vào bản năng tình dục – cơn động tình của nó vì trò gường chiếu của cha đã đánh động ý thức trỗi dậy mà nó đã ví như loài vật. Vậy nếu nó dính vào cơn động tình con vật này thì coi như nó dẫm bước xấu của cha. Mâu thuẩn phát sinh giữa bản năng và mẫu mực. Cuối cùng ”tiếng gọi ngàn” đã thắng! Tiếc thay!

Điền có thật ”yêu” thị hay chỉ là thèm khát bản năng khi thấy những cảnh dục cứ bày ra trước mắt như mâm cổ thịt bày nhày mà nó háo hức muốn ”thử cho biết”? Thị Sương ngoài tính cách lẵng lơ, chài mồi đàn ông, rờ rẫm con nít, ta thấy thị không được tác giả điểm cho chút xíu cái gì gọi là ”cái nết đánh chết cái đẹp”? Điền thương chị bị đánh ghen? Lý do không tồn tại nữa khi thị ”bị đánh” là đáng kiếp vì không chịu đi làm ăn lương thiện? Vậy thì Điền chạy theo thị vì yếu tố nào? Không cắt nghĩa được đó là tình yêu thiêng liêng của hai giới tính thì chỉ còn một khả năng: Nó chạy theo thị vì thị bỏ cha. Thị bỏ cha tức là Điền được ”hả hê” vì khỏi thấy cảnh cha ”làm chuyện đó cũng giống như mấy con vịt đạp mái”Tâm lý nó được ”giải phóng” bởi vì xưa nay chỉ có cha bỏ người đàn bà chứ chưa gặp cảnh người đàn bà bỏ cha như bây giờ thị Sương bỏ ông. Cũng giống như chị nó thấy cha bị lũ cướp vịt đánh nhừ đòn nhưng lại ”thích cha như vậy”: ”Chúng tôi ra về. Cha tha thểu đằng trước với một thân xác nhừ bùn sau cuộc đánh nhau. Cố đi tụt lại phía sau, tôi giấu nỗi vui đang thổn thức, cồn cào. Sẽ không ra gì nếu một đứa gái tỏ ra mừng rỡ khi cha nó bị đánh tả tơi, nhưng rõ ràng là cha tôi đang thay đổi, đang sống lại những cảm xúc bình thường nhất. Tôi thích ông như thế này.” (đoạn 8).

Khi tâm lý Điền được giải phóng thì bản năng tự nhiên của tuổi dậy thì chỗi dậy. Nó thèm khát. Nó vùng vẫy và giống như con Vá trong ”Tiếng gọi ngàn” của Đoàn Giỏi, nó lao theo tiếng gọi bản năng hơn là tiếng gọi của trái tim. Nhận xét về hành động chạy theo bạn bè của con heo rừng mang tên Vá để rồi ”con Vá cứng đờ nằm lù khù một đống, mép xệ cong, chết ngắt”, Tự Sơn đã viết: ”Chống lại các quy luật tự nhiên, coi thường tình cảm đồng loại, bị đẩy khỏi sự chăm sóc của tình yêu thương thì cái kết cục số phận bao giờ cũng bi thảm”. Khi nhà văn xây dựng con vật thì cũng chỉ là một thủ pháp nghệ thuật ”ẩn dụ” thông qua hình thức ”ngụ ngôn” để nói về con người. Kết luận của Tự Sơn, ta có thể trở lại với nhân vật Điền: Điền đã coi thường tình cảm những người chung quanh nó – những cô gái đồng quê. Bản năng trỗi dậy khiến nó vượt ra ngoài sự săn sóc của chị nó, cha nó thì kết cục, bản năng không tạo ra hạnh phúc khi nhục dục được thỏa mãn thì trên mâm cổ chỉ còn là xương với xóc! Nhìn thấy đã… ói không kịp!

Những người đàn ông chân chính sẽ không bao giờ chịu trơ mắt để cho người đàn bà mình thương yêu lấy thân mình ra đổi chác, mua bán. Người cha không có tình với thị Sương nhưng nhân vật Điền có ý. Nó biết tỏ thái độ ghen tương bằng cách bấu vào vai người chị thì tại sao nó cũng ”im như thóc” mà không quyết liệt phản ứng để chứng tỏ tình yêu ”điếc không sợ súng” của nó? Sự im lặng của người cha để chấp nhận người đàn bà lấy thân mình trả ơn cưu mang coi như không phải là người quân tử. Thái độ hèn nhát của Điền chứng tỏ nó chưa phải có tình yêu thực sự và nó chẳng phải là đàn ông. Tính cách của nó còn thua cả con Vá heo rừng. Con Vá bứt phá, cắn xé để được ra khỏi chuồng và chết như một kẻ hy sinh cho tiếng gọi tình. Nhân vật Điền chỉ biết chạy theo sau thị sau khi… chứng tỏ mình thấp hèn! Nhân vật Điền sẽ không bao giờ có tình yêu thực sự. Không dám bảo vệ tình yêu, không dám hay sinh cho tình yêu, con người đánh mất tình yêu chính mình.

Truyện CĐBT với tình tiết đó sẽ hấp dẫn nếu như NNT không ”bồi” thêm một ”cước” ngược khi tạo ra hoàn cảnh người cha chơi trò gường chiếu ngay trong mắt con mình và lồng vào nhân vật Nương một quan niệm ”nhục dục và thể xác không gì xấu” làm cho tác phẩm thiếu đi giá trị chân thật có tính khuynh hướng nghệ thuật.

Xây dựng nhân vật không có tính nghệ thuật, tác phẩm coi như đã không mang lại một giá trị nội dung có tính giáo dục.

CĐBT có thêm chi tiết khác như sau:

– Người cha có tên Út Vũ biết thêm nghề thợ mộc.

– Thêm người đàn bà không tri thức tên Sương bị lũ người đánh ghen đổ keo dán sắt vào chỗ kín, dụ dỗ nhân vật cha và sờ mó chỗ kín của Điền có sức hút Điền phải bỏ nhà chạy theo bà ta.

– Ngoài ra còn một số nhân vật khác trong CĐBT như: Những người hàng xóm. Gã cán bộ sa đọa tên Năm. Người chăn vịt tự tử. Một số thanh niên thi hành tiêu huỷ vịt. Nhóm trẻ con chơi trốn tìm, đánh trận với Nương. Nhóm hiếp dâm là những tên cướp vịt.

– Có chị chủ nhà ở xóm Bầu Sen (Chị phải lòng người thợ mộc – cha của nhân vật Nương và Điền – chịu bỏ đứa con gái để theo ông ta nhưng cuối cùng bị ông quẳng lại như từng quẳng những hạng người đàn bà được ông nhặt bên sông. Đó một cách trả thù hữu hiệu nhất của người đàn ông này đối với đàn bà vì vợ ông đã bỏ ông mà theo người khác) với câu nói bất hủ man rợ, vô chính phủ: ”Bằng cái giọng rộn rã, giòn tan chỗ cao trào, rồi chị hết sức chậm rãi, tỉ mỉ, tả cái đoạn chị dùng dao rạch mặt cô ta và xát muối ớt vào (những người quê mình vẫn thường làm chuyện đó rất bình thường, sẽ buồn cười khi có ai đó nói làm vậy là vi phạm điều X chương Y luật hình sự, họ cãi ngay, “Ủa, nó cướp chồng tui thì tui phải đánh cho tởn chớ”, với vẻ mặt tự hào ngút ngất, tỉnh bơ, ngây thơ, tựa như một người đi qua trận địa cũ và nói với ông bạn mình, hồi năm bảy hai tui bắn thằng lính cộng hòa ở chỗ này, óc nó nát như chao, con mắt văng ra xa cả thước. Ông bạn chẳng ớn, nói tôi cũng cắt cổ thằng Mỹ ở đây chớ đâu” (đoạn 5).

2. DSTN: Khác:

– Người cha không có tên chỉ có một nghề chài cá trên sông.

– Có thêm một người đàn bà mà người cha nhặt ở bến Sủi rồi vứt lại.

– Nhóm hiếp dâm trong DSTN là toán đánh rậm, chăn trâu.

– Có một nhân vật đàn bà có ăn học, có nhà cửa ba gian (giáo viên một trường tiểu học) cũng… được nhặt theo người cha ở bến Trầm, tên là Hến. Người đàn bà đó chính là dì ruột của nhân vật nữ chính cũng là ”em vợ” người đàn ông dung tục kia.

– Có những người thợ đấu. Chủ thầu chính là người đàn ông mà mẹ nhân vật chính phải lòng.

Hai truyện ngắn cùng tình tiết khác chi tiết mà chi tiết chỉ là những cái tên người, thêm vài nhân vật hoặc bớt đi nhân vật thì cũng chừng ấy nội dung: Gia đình không hạnh phúc. Xã hội bệnh hoạn. Cuộc sống dáy dơ. Cưỡng dâm tập thể. Hết!

III. Cùng tình tiết, khác chi tiết:

1. CĐBT:

– Người cha trong CĐBT có nhà hẳn hoi nhưng vì ghen tương mà đốt cha cái nhà thành ra ”không chốn nương thân”. Người ta nói: ”No mất ngon. Giận mất khôn” đâu có sai. ”Sống có nhà. Chết có mồ”. Nhà không ở thì trời lấy đi! Nói theo cách nói của nhân vật Phượng trong ”Một cuộc đua” của Quế Hương trả lời cậu quý tử (bị cụt chân vì đua xe) khi cậu ta đòi cô cái chân, cô trả lời: ”Có chân không đi thì trời lấy”. Đúng như thế!

Người cha rơi vào sa đọa đạo đức vì sự trả thù đàn bà nên chung dụng lung tung. Kết cục, người cha này không có phương hướng gì cho ngày tiếp theo. Bế tắc.

– CĐBT có bọn cán bộ (anh Năm) không làm tròn công vụ vì một người đàn bà chịu ngã giá thân mình để … cứu bầy vịt ??

– Trong CĐBT có những người lao động nữ có chồng chơi đĩ mỗi mùa lúa.

– Có mẹ bỏ con ra đi.

– Có thêm những người đàn bà theo cha làm ”tình hờ” như người đàn bà ở xóm Bầu Sen nhưng không bà con cật ruột gì với nhân vật chính.

– Có thêm người đàn ông uống thuốc tự tử vì tiêu tan vốn nuôi vịt khi chiến dịch thiêu hủy gà vịt vì ”dịch cúm gia cầm”- H5N1 ngược với người cha khi đàn vịt phải gió chết hết, ông vẫn sống được bằng nghề thợ mộc.

– Nhân vật chính học kinh nghiệm đi đứng bằng cách định hướng: Hai chị em Điền – Nương học cách coi hướng đi, biết coi rắn cắn độc hay không… (đoạn 4).

– Nhân vật chính sau khi bị hiếp dâm tập thể có ”di hậu”.

2. DSTN:

– Người cha không nhà cửa với quan niệm: Đói thì chết chứ chưa thấy ai không học mà chết! Còn hơn có nhà mà đốt là… phí của quá… chời! Người cha này có trạng thái hung dữ, tục tĩu nhưng sự cố biểu hiện của sự sa đọa thái quá để gieo rắc dịch… HIV như người cha trong CĐBT ít hơn.

Người cha này sau khi cô con gái (ruột hay nuôi chưa biết) bị nạn thì đã chuyển hướng về bến Trầm – nơi thị Hến được ông … nhặt nhạnh. Coi như ông ngầm tuyên bố sẽ sống với bà ta (cũng là em vợ!) cùng cô con gái, tái lập một mái gia đình: Có tiến bộ trong nhận thức, có chút giá trị nhân đạo nhưng chưa biết giá trị nhân đạo này sẽ bị triệt tiêu sau đó hay không? Thói quen của người cha trong DSTN là không quay lại nơi nào đã xảy ra tai ương cho gia đình ông. Ví dụ như nơi vợ ông sa ngã vào tay tên chủ thầu Đấu, ông ta nhất định không quay lại. Lần này, người cha không quay lại nơi con gái bị nạn có thể vì theo thói quen chớ không phải ông ta muốn về bến Trầm mà sống.

– Có người đàn bà theo người cha sống cùng nhân vật chính: Thị Hến. Tuy nhiên, nhân vật này không làm đĩ hay dụ dỗ đàn ông. Chắc có lẽ vì đây là nhân vật có học thức duy nhất trong hai truyện. Người đàn bà này lại chính là dì ruột nhân vật chính.

– Thị Hến là nhân vật mang nội dung ”không tưởng” trong DSTN:

Xây dựng tình tiết gượng ép khi cho nhân vật thị Hến kể về thân thế hai mẹ con nhân vật chính và lý giải tại sao cô ta phải theo người cha cũng là… ông anh rễ: ”Thương chị, người em đã bỏ dạy về để đi tìm. Một lần ra bến sông, cô vô tình nhìn thấy người con gái con ông thuyền chài đang tắm có cái bớt đỏ bên vai trái như lời người chị dặn lại. Và cô đã trở thành người đàn bà ông nhặt được ở bến Trầm này. Người ấy chính là cô Hến và người chị không ai khác là người đàn bà mà cha đã nhặt được ở mó bỏ mồi cá ngày nào, người đã sinh ra tôi” (đoạn 5). Nhân vật ”tôi” gặp thị Hến (như một giấc chiêm bao) là dì ruột như từ trên trời rớt xuống tại sao không mừng vì có người che chở mà lại… dong chạy ra ngoài? Cách giải quyết đúng tâm lý của tác giả lúc ấy là cho con cháu khóc trong tay dì. Dì lại là một giáo viên. Cách nhìn sự vật, sự việc của một trí thức lại… mòn nhẵn đến mức chịu khom lưng, cúi đầu một cách hèn hạ trong tay nguời đàn ông không ra gì? Đó không phải là sự hy sinh tốt đẹp và cần thiết!

Nếu nói đồng lương giáo viên thời bao cấp nghèo đói thì còn được nhưng nay ai mà không biết lương giáo viên dù bị cắt hết phụ cấp thì cũng vẫn ở mức hơn cả triệu rưỡi một tháng. Đối với vùng 2 và 3 thì mức thu nhập nhích hơn (dantri.com). Chưa kể những phụ thu từ dạy cua, dạy kéo! Đồng lương ấy không dư thừa thì cũng chẳng thiếu thốn đến nổi thị Hến – một cô giáo độc thân – phải ra bến sông chờ… anh rễ nhặt về. Nếu đã thấy cảnh sông nước với nghề chài mò… có ăn nên cô Hến không mang cháu lên bờ để ”giải phóng cuộc đời nó” thì đừng nói nghề chài mó là nghề nghèo. Nếu nghèo, không tương lai thì tại sao kẻ trí thức như dì Hến lại chẳng có một cách giải quyết nào cho con cháu? Tại sao lại cùng anh rễ diễn những màn lường gạt lẫn nhau về tình và cả đạo đức? Đấy không phải là cách xây dựng nhân vật có tính cách mà chỉ là ”hạ cấp” nhân vật khi đẩy nhân vật vào cái dây ”tình chị, duyên em”… lãng nhách”!

– Mẹ bỏ con nhưng đi tự tử. (Ít ra, nhân vật này biết hổ thẹn lương tâm):

Người mẹ bỏ đi để chọn con đường tự tử?

Hai truyện tổng hợp lại đều có những cái chết của vịt, của cá và người! Tác giả là nữ thì để cho nhân vật phụ nam (người chăn vịt uống thuốc vì… vịt). Tác giả nam thì để cho nhân vật phụ là nữ (mẹ con bé chưa biết tự tử bằng cách nào chết luôn vì… tình)! Hai cái chết gom chung bỏ vô… hòm là chết… ”tình-vịt”!

– Học tập kinh nghiệm của những thợ đánh cá: Chèo thuyền, nước sâu, nước cạn, vá lưới, nhìn trời biết nắng hay bão… (cũng đoạn 4).

– Nhân vật chính sau khi bị hiếp dâm tập thể không thấy nói đến ”di hậu”. Điểm này dễ chấp nhận hơn.

IV. Có sử dụng từ ngữ khác miền (từ địa phương):

1. CĐBT: Sử dụng ngôn ngữ miền trong:

– Nhân vật có sử dụng từ ”cưng, hén” ba mấy cưng đẹp trai dễ sợ”. Sử dụng từ ”tui”: tui nuốt còn không vô, nói chi…” hay những từ đệm ” nhen, nghen”: “Mà hên nghen, nhờ vậy mà gặp được mấy cưng, được ở chung vầy, vui thiệt vui… ” hoặc những cụm từ ”thí ông, thí cha” , ”tui – bà”: ”Bầy vịt cũng không vui, chúng mổ vào chân chị mỗi khi chị bước qua rào, “bà ở đây làm chi để phần ăn của tụi tui bị xén bớt, trong máng độn toàn là trấu ngán thấy ông thấy cha, đã vậy còn bắt tụi tui đẻ trứng để nuôi bà”.

(Vịt thì chỉ có cái mỏ dẹp lép nên làm sao như mỏ gà, mỏ diều hâu mà … ”mổ”. NNT đã dùng từ không chính xác làm con vịt (rỉa, xỉa) biến thành con… gà mổ!)

– Miền Nam hay dùng danh từ ”má” chỉ người đẻ ra mình: “Mèn ơi, mắt con sao vậy?. Tôi trả lời, day day chậm rãi, “Chắc tại nó nhìn thấy chuyện bậy đó, má. Trưa nay nó ngủ kẹt bồ lúa”. hoặc từ đệm ”mèn ơi, mèn đét ơi” trong: “Mèn ơi, tội hai đứa nhỏ hôn”.

– Nhân vật Nương không hiểu sao từ ”má” thì dùng đúng còn từ ”tía” trong bản nhạc cho thiếu nhi: ”Má em hừng đông đi cày bừa. Tía em là một người nông dân. Cùng sống trên đồng bao la” mà tác giả cho nhân vật chính không gọi ”tía” mà gọi ”cha” trong: ”Tôi đành để cha đánh để ông bớt đau chút lòng”?

Nhưng lại có chỗ, tác giả để nhân vật kể chuyện gọi là ”ba” trong: ”Chúng tôi chẳng phải những đứa trẻ bình thường, cuối cùng nhỏ con chị chủ nhà cũng nhận ra, nó bỏ mặc. Nó là một đứa trẻ xinh đẹp nhưng hỗn hào, cáu kỉnh, nó chẳng khi nào kêu má ơi má à, khi cần, nó chỉ cộc lốc bảo, tui đói bụng quá bà ơi. Người mẹ phân bua với cha tôi, “Tại ba nó mê theo vợ bé nên không ai dạy…”.

Như vậy, theo tác giả, cách gọi cha mẹ của người miền Nam như sau: ”Má-Cha” và ”Má-Ba”.

– Văn NNT thiên về văn nói. Điều này làm ảnh hưởng đến sự xáo trộn của nguyên tắc ngữ pháp của văn viết dễ tạo ra lỗi ngữ pháp như trên.

2. DSTN: Sử dụng ngôn ngữ, ngữ điệu miền ngoài:

– Cho nhân vật sử dụng từ ”bã bời, tơ tướp”, ”rắng” : ”có lần mẹ rắng với cha” hay ”tý tởn” : học rồi nứt mắt tý tởn” hoặc ”mó”: ”Một đêm, cha thường bỏ ít mười mó, hôm nào thấy có nhiều tăm ông làm mười bốn mười lăm mó”.

– Xưng ”em”, ”tôi” gọi ”bác”: ”Bác chài ơi. Sáng mai có cá để lại cho tôi mấy con nhá.”

– Từ ”mẹ, bố” là ở miền ngoài mà tác giả có dùng lẫn với từ ”cha”: ”Có một chiều chỉ có hai cha con ngồi ăn cơm trước khi ông đi bỏ mồi, tôi hỏi.

– Tại sao lại có sông hả bố?

Vừa bưng bát cơn lên và, ông nói giọng còn lụng bụng trong miệng.

– Vì đời sinh ra bố”.

Cũng có khi, tác giả để nhân vật gọi người cha là ”ông”: ”Có một lần duy nhất trong đời cha nói vui với tôi. Ông bảo tôi sau này lấy chồng, nếu nó léng phéng con cứ lôi nó xuống sông mà dần. ”

Như vậy, cách gọi người sinh ra mình của miền ngoài qua tác giả là: ”Mẹ-Bố” không có ba má, cha má như người trong Nam.

Đọc những văn chương người Hà Nội với ”Hà Nội-một thời xa” của Lê văn Ba hay ”Lộn nhào”, ”Chợ chồm hổm” của nhiều tác giả miền Bắc hoặc ngay cả ”Vợ nhặt” của Kim Lân, ta sẽ thấy PTK đã ”tân tiến” hơn trong việc làm mờ đi ngôn ngữ miền ngoài. Những ”Thầy, U, Mợ… ” cũng không được tác giả sử dụng trong tác phẩm. Đáng tiếc!

Người miền nào, ngôn ngữ đó. Việc dùng đúng ngôn ngữ địa phương để sử dụng trong văn viết làm cho văn viết mang đậm sắc thái từng miền. Tuy nhiên, với một tác giả cứng tay nghề hay có năng khiếu ngôn ngữ thì khi viết về địa phương nào, tác giả có thể sử dụng ngôn ngữ địa phương đó mà không lẫn lộn với ngôn ngữ địa phương của mình vào.

Về điểm này, hai tác giả một truyện ngắn hai nhánh sông, hai cánh đồng đã làm được ở điểm: Người miền nào, viết theo giọng miền đó. Ngôn ngữ địa phương góp phần khắc họa tính cách nhân vật nhưng không làm thay đổi nội dung tác phẩm vốn đã có sẵn. Chi phối nội dung, tác phẩm chịu ảnh hưởng trực tiếp đến các tính chất đặc trưng mà văn học đòi hỏi đó là ”Những thuộc tính văn học”.

Chi phối nghệ thuật, tác phẩm cũng chịu tác động trực tiếp của những thuộc tính nghệ thuật mà văn học đòi hỏi tác giả phải có một giọng văn riêng. Theo Lê Ngọc Trà trong ”Giọng văn” (Từ điển văn học – Bộ mới) trang 534: ”Giọng của tác phẩm cũng giống như giọng nói của con người, mang tính tổng hợp và tính độc đáo rất cao. Trong giọng thể hiện cả nhận thức, thái độ, lối sống và và cả nội lực của nhà văn (và giọng nhiều khi có nghĩa là ”hơi văn”, ”khí văn”) ”.

Hai truyện CĐBT và DSTN chỉ mới dừng lại ở chỗ sử dụng một số từ địa phương bởi vì ”nhận thức, thái độ, lối sống và cả nội lực của nhà văn”, cả hai tác giả đều có sự lệch lạc, tiêu cực, lập lại và nhất là… đuối sức khi vào kết thúc vấn đề.

C. GIÁ TRỊ HAI TÁC PHẨM:

I. Thực và ảo trong ”Cánh đồng bất tận”:

1. Những bông hoa trong CĐBT: Tác giả gieo được những bông hoa nhưng không chăm sóc chúng:

a.Tính cách người cha với tình cảm được tăng tiến:

– ”Cha giao bầy vịt cho hai đứa tôi, lúc rảnh ngồi gọt đẽo những cán dao, tấm thớt hay lẳng lặng vác cần câu đi câu cá, vừa bán được tiền, vừa khỏi phải nhìn những đứa con của một bà mẹ bạc lòng”. (đoạn 4)

– ”Cha bắt đầu có một chút quan tâm với tôi. Dường như chỗ trống của thằng Điền nhắc cha nên quý những gì còn lại. Bắt đầu từ một đêm, cha đứng đằng xa, bảo, “Nương, ngủ sớm đi!”, tôi nghe mắt mình cay, ngợp như ai đó tọng một đám khói vào mặt. Mắc cười, câu nói chẳng ý nghĩa gì lớn lao, những người cha người mẹ nói với con họ hàng ngàn lần, đến phát bực mà tôi lại xốn xang. Hôm bán bầy vịt, cha tôi sắm một chiếc nhẫn vàng, ông đẩy nó về phía tôi, ngượng ngập như sắp chết giấc, “Để dành khi đi lấy chồng… “. (đoạn 7).

Rất tiếc, bông hoa này cũng không được nở nguyên vẹn. Nó sâu sia với ý nghĩ… khác người: ”Mắc cười, câu nói chẳng ý nghĩa gì lớn lao, những người cha người mẹ nói với con họ hàng ngàn lần, đến phát bực mà tôi lại xốn xang.”. Một nhận thức về tình cảm gia đình với ”công cha, nghĩa mẹ” khiếm khuyết. Một câu nói bày tỏ sự quan tâm con cái hiếm hoi của người cha mà nhân vật này cho là mắc cười, cho thiên hạ nghe đến phát bực, chẳng có nghĩ gì lớn lao thì hết chỗ nhận xét! Nhân vật quả thật cứ đùn đẩy những cái xấu cho thiên hạ và vơ cái tốt về mình. Cũng như thị Sương đi làm đĩ, nó lại bênh vực, bao che kẻ lười lao động, vô nhân cách lại cho cử chỉ đó như ”Lục vân Tiên đánh cướp cứu Kiều nguyệt Nga”, so sánh cưỡng ép làm đau lòng cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng nên. Bây giờ, nó đang ”xốn xang” tức là nó đang tiếp nhận sự quan tâm của cha nhưng nó lại muốn… tống khứ tình cảm cha con đó ra khỏi lòng. Nó tả cha nó như một kẻ thất thần, mất sắc ”gượng gập như sắp chết”! Vì lẽ nào mà nó cứ chọn cơn bão tố để đánh bạt tình cảm người cha ra khỏi nó? Suốt tác phẩm, ngoại trừ hai anh em nó đi mua rượu cho cha, dọn được bữa cơm ra, ta chẳng thấy nhân vật này thể hiện tình cảm người con đối với cha như thế nào?

Trồng hoa lẫn với cỏ, cỏ ăn hết phân. Nhân vật với tình cha con lạc lẽo đã thể hiện rõ trong chi tiết dưới đây:

– ”Tiếng gọi ấy làm cha đau đến sững sờ, ông rướn ngước mặt về phía tôi, miệng há hốc… Người cha cởi cái áo trên người để đắp lên đứa con gái. Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che cơ thể nó dưới mặt trời” (đoạn 8). Sự nhớ nhung người mẹ mà tác giả đặt vào tâm tưởng nhân vật Nương, sự xốn xang trước sự quan tâm của người cha, nhân vật này đã… quẳng sạch sẽ để không thể nào gọi được một tiếng kêu cứu khi con người rơi vào khủng hoảng dữ dội về tinh thần. Tiếng ”mẹ ơi, cha ơi” như đã tắt đài. Con người khi lập dị, biến chứng với tình cảm tự nhiên cũng giống như tế bào đi chệch sự nhân chia để biến thành tế bào bệnh hoạn thì chẳng được thiện chung. Tiếng gọi duy nhất mà nhân vật này phát ra là gọi đứa em trai mình: Thằng Điền như một ”đồng loại” hiểu được tim đen, đỏ của nó.

b. Tình cảnh hai chị em đùm bọc lẫn nhau, khát khao yêu thương với mái nhà:

– ”Mà Điền ngồi ém ngay đó, lì ra, không cục cựa, mình nó mướt mồ hôi, không có vẻ gì là nó đang khóc, nhưng nước mắt chảy ròng ròng. Tôi ôm đầu nó, giấu ánh nhìn của nó vào ngực mình” (đoạn 3).

– ”Tôi và Điền buộc phải tự học lấy cách sống… (đoạn 4).

– ”Cái cảm giác đang ở xóm cũ (có ngôi nhà cũ) vây riết lấy chúng tôi (chữ “chúng tôi” tôi không kể cha vào). Những trưa xế ngồi ngoài hàng ba một nhà trong xóm, tôi tước lá dừa thắt cào cào châu chấu, Điền ngó nắng rưng rưng ngoài sân, nói “sao gió ở đây giống hệt gió nhà mình”. Hai đứa tôi muốn khóc.” (đoạn 5)

– ”Tôi ôm quắp thằng Điền nghe những con sóng nhỏ lách tách vỗ vào mũi ghe, nói, Hai nhớ trường học quá à, cưng (Ôi cái trường xiêu dựng trên khu vườn chùa đầy cây thuốc, có ông thầy trẻ tuổi hay vò đầu tôi và xao xuyến hỏi, má khoẻ hôn con?). … Tôi không biết, tôi đã ngưng nhớ nó từ khi sống cuộc sống trên đồng, nhưng đêm nay, sao tôi lại nghĩ tới, cả chuyện kiếm tiền để chữa mắt cho Điền (tôi vẫn nghĩ, sự xuất hiện của nước mắt chỉ có ý nghĩa khi người ta khóc). Và tôi ngủ trong nỗi xốn xang. (đoạn 5).

– ”Chị em chúng tôi nảy ra nỗi thèm muốn, khao khát được trồng cây từ khi rời Bàu Sen, vì biết chẳng bao giờ quay lại sống – bình – thường. Dường như chúng tôi nhớ, nhớ cồn cào. Nỗi nhớ bao gồm được chạy chơi trên cái vuông sân mọc đầy vú sữa đất, được tự mình trồng cây gì đó, có trái, và trái ăn được, ăn rất ngon… .Thằng Điền một bữa ra coi cây bén rễ, nó bỗng chép miệng, “Ước gì đây là đất – của – mình…”.

Tôi cười, điều đó thật xa xôi. Có lần, đi qua xóm, trong một buổi chiều, chúng tôi gặp những ông già ngồi chơi với cháu, thằng Điền đứng tần ngần bên hàng rào dâm bụt, bảo, “Phải chi ông này là ông nội mình, thương đỡ chơi, hen Hai?”. Nghe câu đó tôi bỗng thấy mình nghèo rơi nghèo rớt, nghèo đến nỗi không có… ông nội để thương, thèm muốn bên đường. Tôi lắc đầu, bảo thôi, thí dụ như mình lỡ mến người ta, mai mốt dời đi, buồn dữ lắm. Mà, đã ngấm, đã xé lòng toang hoang với nỗi đau chia cắt rồi, chưa sợ sao?

Những chi tiết nói lên lòng khao khát tình thương nếu được tác giả đi đúng tâm lý nhân vật sẽ làm CĐBT có giá trị hơn về nghệ thuật khai thác tâm lý nhân vật nhưng NNT cứ để cho nhân vật xọ từ cái này qua cái kia làm nội dung rối bèo lên. Ngay cả chi tiết muốn có ông nội thôi, nó cũng… gài vào cái ”nghèo rơi, nghèo rớt, nghèo đến nổi không có ông nội để mà thương”.

Quái gỡ! Cái nghèo đâu phải là nguyên do làm nó không có ông nội. Ông nội già hay bệnh hoạn hoặc mắc tai nạn gì đó chết sớm như một lẽ ”sinh, lão, bệnh, tử” đời thường. Nó gắn vào đó cho người ta thương xót cảnh nghèo của nó? Gia đình nó đâu thấy nó rên ”đói lòng ăn một quả sim” hay ăn cháo trắng hoặc củ mì, củ lang gì? Nó làm gì nghèo rơi, nghèo rớt như chị Dậu đến nổi chị phải bán con, bán chó lấy tiền chạy thuốc cho chồng? Vả lại, tình cảm cha con ở một bên lòng mà nó còn tiếp nhận không nổi huống hồ đến ông nội? Thiệt là một tình cảm ”đứng núi này trông núi nọ”. Cái mình có trong tay cứ phủi tay để ước mơ hão huyền đến những cái đã theo quy luật cuộc đời ra đi không bao giờ trở lại.

Những người như nó còn nói nghèo tơi tớt đến như vậy thì những người ở cái xóm ghẻ chốc, tàn tạ dơ dáy kia còn… mạt đến cỡ nào? Nghèo với nghèo nhưng nó không cảm thông. Nó ”giục cha rời khỏi cái xóm tàn tạ đó” chỉ vì sợ cái nghèo bám vào vai nó mà thôi. Nó không chấp nhận lời người con trai trong cái làng đó van nó ở lại (như một lời tỏ tình rồi còn gì?) không phải vì ”hai gàu nước ít ỏi của má anh, tôi nỡ nào sẻ nửa? mà ngán muốn chết cảnh ở dơ và hai chữ ”tàn tạ” này. Xem ra, đời du mục của nó đâu có phải khốn khó? Trong bài viết” Sống trên đời cần có một tấm lòng” của Giao Chỉ (calitoday.com) có câu: ”Có người ngày mai chưa biết lấy gì ăn, hôm nay gửi hết cả những trăm bạc cuối cùng về cho gia đình”. CĐBT với nhân vật Nương đã không có ”một tấm lòng” khi chỉ mong rời cái xóm tàn tạ đó càng nhanh càng tốt.

Những khao khát, những ước mơ của nhân vật chính chẳng cái nào có gốc rễ vì vậy mà chúng chết yểu. Những đoạn trích dưới đây để thấy tác giả đã hư cấu những chi tiết mâu thuẩn trên tình tiết tưởng có hoa nhưng lại một lần nữa, nụ hoa chưa nở đã tàn, chưa vui đã sầu chia phôi:

– “Sống đời mục đồng, chúng tôi buộc mình đừng yêu thương, quyến luyến bất cứ ai, để khỏi ngậm ngùi, để lòng dửng dưng khi cuốn lều, nhổ sào đi sang cánh đồng khác, dòng kinh khác. Chúng tôi vô định hơn bất cứ người nuôi vịt chạy đồng nào. Vì những cuộc tình của cha tôi, ngày càng ngắn ngủi” (đoạn 6).

– ”Điền xót xa khi thấy tôi trổ mã con gái, “Đẹp làm chi dữ vậy, Hai? Ở cái xó quê này, có đẹp mai mốt cũng phải lấy chồng, đẻ một bầy con nheo nhóc, cũng ra ruộng ra vườn làm lụng đến hết đời, xẹp lép như xác ve. Đẹp, mắc công giữ… “. Điền dặn tôi đừng xoắn quần quá cao, đừng mặc áo quá rộng cổ… Với bọn đám thanh niên lúc nào cũng kiếm cớ lảng vảng, Điền giang tay bọc lấy tôi, nó giễu cợt, “Anh kia, lượm con mắt lên, anh nhìn vậy, chị tôi mòn còn gì”. Đám người cụt ngòi, tẽn tò dạt ra. Ngay cả khi Điền bỏ đi cùng chị, nó cũng để lại cho tôi một món quà lớn.” (đoạn 7).

Những dẫn chứng trên sau này trở thành ”phản biện” cho một quan niệm ”sống cô đơn” của nhân vật mà không phải đại diện cho tất cả những người sống đời du mục.

Du mục là rày đây, mai đó. Cuộc sống như những chàng lãng tử phiêu bạt giang hồ. Nó được người ta coi như là một cuộc sống có nền văn hoá du mục đầy tự hào chứ không phải là một cuộc sống đáng ngao ngán như nhân vật trong CĐBT kêu rên. Đã chấp nhận đời du mục thì ao ước đất đai, nhà cửa chỉ làm người cười. Người du mục sống trong vùng gọi là nội Mông khi được nhà nước Trung Quốc muốn gom họ về định cư thì họ lại lo sợ mất đi truyền thống văn hoá tốt đẹp lãng mạn của họ. Những người du mục ở Tây Tạng cao ngút, ở Ả Rập (nhóm dân Bedouin) trên cát khô không ngày nào dưới 39 độ C hay những người du mục ở Ninh Thuận, Bình Thuận sống trong lò bát quái của Thái Thượng lão quân với những gia súc bò cừu đã chống chọi với gió cát và lửa suốt hàng nghìn năm nay. Trong sung sướng, con người sống nhỡn nhơ thì chẳng có gì đáng trọng. Trong khốn khó mà người ta sống ra con người, biết yêu lao động mới đáng cho người ”nghiêng mình kính nễ”. ”Sống trong cát, chết vùi trong cát” chính là niềm tự hào của cộng đồng dân tộc, là nét đẹp văn hóa truyền thống không thể bắt chước. Vậy mà người du mục trong CĐBT lại… ngồi xổm trên niềm tự hào dân tộc để như oán trách số phận, thiệt đáng tức cười!

Những người du mục làng Chăm Lương Tri – Bình Thuận cũng vất vả với nắng hạn, đồng khô, cỏ cháy mà họ vẫn yêu cuộc đời du mục. Vậy mà tác giả CĐBT lại hư cấu nhân vật dựa trên những khắc nghiệt của thiên nhiên đâu đâu cũng có để làm cho người ta thương hại hay muốn ”chửi chó, mắng mèo”?

Hiện thực đời du mục qua lăng kính của NNT thật tồi tệ với những con người chẳng ra làm sao cả. Nét đẹp truyền thống của đời du mục đã bị tác giả bôi đen không thương tiếc. Đấy có phải là tiếng nói và khát vọng của một người cầm bút chân chính?

Thời chiến tranh, Trịnh Công Sơn đã vẽ ra một ”Đời du mục” khốn khó nhưng là lời ca của lòng nhân đạo dạt dào:

… Đàn bò tìm dòng sông

nhưng dòng nước cạn khô

Đàn bò bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn

rồi một hôm đứng mơ mây ngàn

Người tìm về đồng xanh

nhưng đồng đã bỏ không

Rồi người bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn

Người chợt nghe xót xa đất mình…

Vượt lên nỗi buồn chiến tranh trong sự nhân cách hóa, họ Trịnh gởi cho ta một thông điệp làm người: Phải biết yêu thương người, đồng cảm với nỗi khổ và sống vươn lên. Nỗi buồn của đàn bò trên cánh đồng cỏ cháy, bên dòng sông cạn khô là nỗi buồn dân tộc mong ước cuộc sống no ấm, thanh bình.

Trong CĐBT, quê nhà của NNT như ngọn đom đóm trong sương mù nhưng dù sao, có nó cũng còn hơn không!
c. Quê nhà vẫn là nỗi nhớ:

– ”Cha đẩy chúng tôi trượt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên. Mỗi lần rời khỏi một nơi nào đó, thật khó để phân biệt, chúng tôi bỏ đi hay chạy trốn. Chúng tôi đánh mất cái quyền được đưa tiễn, được xao xuyến nhìn những cái vẫy tay, được nhận vài món quà quê như buồng chuối và hương hay bó rau ngót cắt trong vườn, cùng lời dặn dò quyến luyến, “Đi mạnh giỏi nghen…”. (đoạn 6).

Muốn tìm lại những gì mình đánh mất thì tốt nhất là người du mục tự rời bỏ đời du mục. Người cha không phải còn có cái nghề thợ mộc hay sao? Nhân vật nữ này, ngoài chuyện chăn vịt, cô không thể đi làm cái nghề nào khác hơn ví dụ như đi bán hàng rong, bán báo, bán mước mía, xin làm ”tiếp viên” hoặc ”chạy bàn”. Nhân vật nữ này không phải đã được tác giả trang bị cho một sắc đẹp như thằng Điền tấm tắc: ”Đẹp chi dữ vậy. Hai?” sao? và bọn dâm tặc cũng phải ”lau dãi ròng rãi trên khoé miệng, thảng thốt, “con nhỏ đẹp quá, mày” sao?

Tiếc rằng tác giả không tạo điều kiện cho nhân vật nữ này thử thời vận. Nếu thời vận không mỉm cười trước ”sắc đẹp” mê hồn của nó, còn cuộc đời thì đẩy nó ra khỏi sự lao động lương thiện và tình yêu không đến với nó thì nhân vật này mới có thể rơi vào khủng hoảng như trong cải lương, nữ nghệ sĩ Lệ Thủy có hát một câu: ”Đời bỏ tôi rồi, người ta cũng quên tôi nên tôi muốn chết cho rồi!” (trong vở tuồng nào… không nhớ nữa).

Không thực sự là nạn nhân của nghề nghiệp, không phải là người rớt vào con đường cùng như Jean Valjean của Victor Hugo, anh Pha của Nguyễn Công Hoan, chị Dậu của Ngô Tất Tố hay Thúy Kiều của Nguyễn Du, nhân vật chính trong CĐBT chỉ còn là tiếng than thở cá nhân buông xuôi trong cái nghề du mục mà cô chưa bao giờ yêu thích. Không thích cái nghề mình đang có thì cũng giống như mình tự lấy dây thừng xiết cổ mình! Không để cho tình cảm tự nhiên phát triển thì mình cũng tự bóp chết cái mầm xanh cuộc đời mình. Xã hội nào nhúng tay vào? Hoàn cảnh nào khốn khó đến nổi thế?

Tình người ở đoạn trên cũng còn nghe thắm thiết với những cái xao xuyến vẫy tay, lời đưa tiễn, dặn dò quyến luyến. Vậy mà khi cô gái kia bị hiếp nằm chết dí trên cánh đồng… ma hết ngày, qua đêm mà chẳng có… con ma nào hiện ra để thể hiện tình làng nghĩa xóm như rứa nghĩ cũng buồn cười. Nghề chăn vịt thì phải kiếm chỗ nào có thức ăn mới chạy từ nơi này sang chỗ khác chứ? Chẳng lẽ vì cuộc sống du mục mà người ta mất hết tình cảm nói trên? Vậy thì qua CĐBT, ta có thể kết luận: Những con người du mục chẳng có cái quái gì là tình cảm! Một kết luận trong CĐBT… tệ hơn vợ thằng Đậu!!

d. Những điều hiếm hoi trên cái gọi là ”cánh đồng” trong CĐBT:

Cảnh thiên nhiên:

– ”Cơn mưa buổi xế chiều làm tắt rụi ánh mặt trời, và đêm tối nhanh chóng ập xuống. Mưa giăng bốn bề, những rặng vườn trở nên xa vời, mờ mịt, căn lều và chiếc ghe của mình nằm ở phía nào vậy ta, Điền hoang mang hỏi” (đoạn 5).

– ”Một cánh đồng miên viễn với gió lắt lay những khói nắng héo xèo, một nhúm mây rất mỏng và rời rạc bay tha thểu trên cao. Đường chân trời mờ mờ xa ngái. Một vài gò mả loang lổ dưới chòm trâm bầu. Tiếng chim kêu nhỏ từng giọt thiu thỉu. Mùi rạ mới quyện với bùn tanh tanh. Bầy vịt rúc đầu vào nách, ngủ ơ hờ dưới bóng cây tra treo từng chùm bông vàng tuyệt vọng lay như những chiếc chuông câm.’‘ (đoạn 7).

– ”Bây giờ, gió chướng non xập xoè trên khắp cánh đồng Bất Tận (tên này tôi tự dưng nghĩ ra). Ven các bờ ruộng, bông cỏ mực như những đường viền nhỏ liu riu làm dịu lại mảng rực vàng của lúa. Rất thính nhạy, (như kên kên ngửi được mùi xác chết), đám thợ gặt đánh hơi kéo đến, những người nuôi vịt chạy đồng lục tục ở đằng sau.” (đoạn 8).

Cánh đồng mênh mông (bất tận) được tác giả gói gọn chỉ có bấy nhiêu. Có lẽ vì ”người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (”người buồn cảnh có bao giờ vui đâu” mới đúng ngữ pháp) của Nguyễn Du đã nhập vào tác giả?! CĐBT thiên về độc thoại và văn nói nên văn miêu tả cảnh, tác giả cũng lồng vào câu hỏi của nhân vật Điền.

Những cảnh hiếm hoi này cũng không trọn vẹn. Tác giả đã đưa sự tưởng tượng vào những con kên kên báo hiệu chết chốc ngay khi mùa bắt đầu. Đó là cách nhìn hiện thực cứ đen tối hoài như chứng bệnh nan y hết thuốc chữa dù là đầu mùa hay cuối mùa. Vậy thì mùa nào là mùa đẹp trong tác giả? Thiên nhiên trong ”Nhật ký Đặng Thùy Trâm” dù trong súng bom tơi tớt, rừng vẫn sáng loang loáng trong mưa và từng mùa vẫn về trong lửa đạn. Đấy mới chính là giá trị văn học về nghệ thuật tả cảnh thể hiện nét tính cách buồn đau không làm giảm đi sức sống. Sức sống trong CĐBT như ”ngọn đèn trước gió” thoi thóp, thoi thóp… tắt phụp!

+ Một chút tình người hiện thực và ao ước cũng khan hiếm trong tác phẩm:

– ”Tôi và Điền nằm nhìn trân tráo lên nóc mùng, nghe gió hui hút trên những ngọn tre già bên hè. Một hồi, thím Tư qua, thím kêu hai chị em tôi qua nhà thím ngủ.” (đoạn 3).

– ”Ngay lúc này đây, cứ nghĩ, một bữa trưa mai trưa mốt nào đó, có nắng hiu hiu và gió hiu hiu, vì muốn chứng minh tấm lòng của mình với cha, muốn tỏ thái độ hoà hợp với hai đứa trẻ lạ lùng này, chị bắt thằng Điền lại, xối nước kỳ cọ những mảng đất đã dính khắn trên làn da mốc meo của nó, miệng cắm cẳn, cằn nhằn hay biểu tôi ngồi để chị thắt bím tóc cho, chắc tôi thấy khó chịu vì xa lạ và buồn cười”. (đoạn 6).

+ Kỷ niệm về người mẹ cũng héo hắt theo thời gian:

– ” Má tôi hay mang xoong chảo ra bực sông chùi lọ nghẹ, sẵn đón ghe hàna (bông) mua ít rau cải tươi và bán lại những quày chuối chín bói trong vườn. Dần dần, buổi chiều, đám thương hồ hay lại neo ghe chỗ mấy cây mấm trước nhà. Một người bảo không sao xa được người đàn bà có cái cười làm lấp lánh cả khúc sông.’‘ (đoạn 3).

Tác giả đã không tích cực khai thác chúng mà chỉ nêu ra, dựng lên trên mảnh đất khô cằn bằng những hư cấu không bắt nguồn từ thực tế và tâm sinh lý với những cấu trúc câu còn non nớt ngữ pháp để tác phẩm vượt lên trên những bông hoa cô đơn là những cỏ dại đã ”được mùa” trên khắp ”Cánh đồng bất tận”.

2. ”Cánh đồng bất tận” đầy… cỏ dại:

a. Cánh đồng thời… tiền sử:

Nhân vật thời văn minh đánh ghen… thời tiền sử:

– ”Môi chị sưng vểu ra, xanh dờn… một cái áo khác đã bị xé tả tơi phơi những mảng thịt người ta cấu nhéo tím ngắt. Và những chân tóc trên đầu chị cũng đang tụ máu. Người ta đã lòn tay, ngoay chúng để kéo chị lê lết hết một quãng đường xóm,… Họ giằng ném, họ quăng quật chị trên cái nền vương vãi trấu. Vai nữ chính, một người đàn bà xốc xếch đã lạc giọng, đôi lúc lả đi vì ghen tuông và kiệt sức. Nhưng đám đông rạo rực chung quanh đã vực tinh thần chị ta dậy, họ dùng chân đá vói vào cái thân xác tả tơi kia bằng vẻ hằn học, hả hê… Cuộc vui hẳn sẽ dài, nếu như không có một ý tưởng mới nảy ra trong cơn phấn khích. Họ dùng dao phay chạt mái tóc dày kia, dục dặc, hì hục như phạt một nắm cỏ cứng và khô… đám người đang tràn ra mé bờ chực lao xuống, nhảy nhót điên cuồng”… ”đôi vú rách bươm và khoảng đùi rướm máu” (đoạn 1)

– ”chẳng tin vào bùa thì còn biết làm gì nữa, chị cũng đã lặn lội tới nhà tình địch, đã xé quần áo của cô ta, xởn tóc, lôi xểnh ra biêu riếu giữa chợ rồi, chị kể. Bằng cái giọng rộn rã, giòn tan chỗ cao trào, rồi chị hết sức chậm rãi, tỉ mỉ, tả cái đoạn chị dùng dao rạch mặt cô ta và xát muối ớt vào (những người quê mình vẫn thường làm chuyện đó rất bình thường, sẽ buồn cười khi có ai đó nói làm vậy là vi phạm điều X chương Y luật hình sự, họ cãi ngay, “Ủa, nó cướp chồng tui thì tui phải đánh cho tởn chớ”, với vẻ mặt tự hào ngút ngất, tỉnh bơ, ngây thơ, tựa như một người đi qua trận địa cũ và nói với ông bạn mình, hồi năm bảy hai tui bắn thằng lính cộng hòa ở chỗ này, óc nó nát như chao, con mắt văng ra xa cả thước. Ông bạn chẳng ớn, nói tôi cũng cắt cổ thằng Mỹ ở đây chớ đâu) (đoạn 6).

Cảnh này có tác dụng như một màn ”cảnh cáo” những kẻ làm đĩ thế nào cũng nếm mùi… tiền sử như mọi da đỏ ăn thịt người, hung tợn như thế!

Chỉ một cảnh này thôi cũng đủ làm cho CĐBT nổi tiếng… hấp dẫn thành… tai tiếng phi nhân đạo với hình ảnh man rợ: ”cấu nhéo, kéo lê lết, giằng ném, quăng quật, dùng chân đá vói, hả hê, cuộc vui, dùng dao phạt, nhảy nhót điên cuồng” và tàn bạo: ”óc nó nát như chao, con mắt văng xa cả thước” hay ”cắt cổ thằng Mỹ”! Thấy mà ghê!

Lòng nhân đạo của con người Việt Nam ”thương người như thể thương thân” cũng bị tác giả… xé, cấu, nhéo, ngắt, kéo lê, giằng, ném, quăng, đá, chạt với cả chục động từ cho tơi tả! Khiếp thay cho trí tượng tượng từ ”keo dán sắt” đến kiểu tra tấn con người như tội giảo hình thời Lý, thời Nguyễn! Lập trường, tư tưởng ”Nhân – Nghĩa” làm gốc của Nguyễn Trãi đã bị NNT dùng hơn mười kiểu ”tùng xẻo” như trên… nát như chao! ”Nhà văn nữ” của chúng ta mà bệnh hoạn tâm lý ”thích hành hạ người khác” dù là bằng văn chương thế ư?

Con người thời văn minh nhưng đi làm đĩ tập thể như thời… ăn lông ở lỗ:

– ”Cứ mỗi mùa gặt, họ lại dập dìu trên đê, lượn lờ quanh lều của những thợ gặt, những người đàn ông giữ lúa và bọn nuôi vịt chạy đồng. Họ cố làm ra vẻ trẻ trung, tươi tắn nhưng mặt và cổ đã nhão, nhìn kỹ phát ứa nước mắt. Đêm đến, sau các đụn lúa, họ thả tiếng cười chút chít, tiếng thở mơn man… lên trời, làm nhiều người đàn bà đang cắm cúi nấu cơm, cho con bú trong lều thắt lòng lại… khi không còn mảnh vải nào trên người họ vẫn điềm nhiên cười khúc khích và uốn éo thân mình chứ không trơ ra ngượng nghịu, cam chịu như những người phụ nữ quê” đoạn 2).

Cảnh phi hiện thực này góp phần bôi đen xã hội qua cách miêu tả gợi dục sỗ sàng như con rắn thành tinh, uốn éo thân hình gợi dục của đàn đĩ. Một phương pháp nghệ thuật miêu tả yếu kém với những từ chưa rõ nghĩa ”cười chút chít”, ”thở mơn man”?

Lòng tốt con người có thể ”cưu mang” cả hạng người không đáng cưu mang trong xã hội :

– ”Chị… giả đò buôn bán bánh kẹo lặt vặt, thực chất là làm nghề. Ở đó đàn ông dễ tính và thiệt thà. Chị sống nhờ những món tiền họ cắm câu đêm đêm, bằng tiền bán lúa, dừa khô hay những buồng chuối chín. Cũng có lúc thu hoạch bất ngờ, khi chị mồi chài một người đàn ông vào trò chơi giường chiếu, suốt hai ngày đêm, và chị được một triệu hai. Đó là vốn vay xoá đói giảm nghèo, khi về tới nhà, với tám trăm ngàn còn lại trong túi, hẳn người đàn ông ấy não nề biết bao nhiêu, oán chị biết bao nhiêu khi thấy vợ con nheo nhóc bu quanh nồi khoai luộc trong nhập nhoạng nắng chiều.

– Ăn trên mồ hôi nước mắt của người ta nên lâu lâu bị đánh cũng đáng đời, hen mấy cưng?

Chị nói, và ngã nghiêng cười, dường như chị thấy mình trả giá vậy cũng vừa. (đoạn 2).

Giá trị nhân đạo khiếm khuyết của tác giả là ở đoạn này khi cố tình tố cáo xã hội đã đẩy đưa số phận người đàn bà vào ”bước đường cùng” không cội rễ. Ta đọc một loạt phóng sự ”Kỹ nghệ lấy Tây” hay tiểu thuyết ”Làm đĩ” của Vũ Trọng Phụng hoặc ”Kiếp hài nhi” của Phạm Hưu Vũ sẽ thấy những nhân vật làm đĩ đó là những cô có động cơ là muốn lấy chồng Tây, những nữ sinh viên bị cám dỗ và bị buộc hành nghề. Đó là một cách hư cấu nhân vật dựa vào hiện thực và có động cơ. Mục đích những tác phẩm khi xây dựng nhân vật đĩ điếm, ma cô đều muốn góp phần mượn hiện thực để tố cáo xã hội. Muốn gì thì muốn, làm đơn kiện cáo phải có lý do chính đáng, buộc tội hay giải oan cũng có nhân chứng, vật chứng thì đơn từ mới… nặng ký lô. Vượt quá hiện thực hoặc không chú trọng vào chi tiết, nhân vật trở nên lố bịch thành trò cười mỉa cho thiên hạ.

Hiện thực là mảnh đất màu mỡ cho người viết gieo giống. Gieo quả nào, hưởng quả nấy như quy luật tự nhiên. NNT cũng không ngoại lệ khi gieo vào cánh đồng văn học những tình tiết, chi tiết man rợ, hoang tưởng và phi tính người.