VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI?

Độc giảThưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là vì sao T.T.Kh phải ẩn mình, bởi nếu nhận mình thì là một điều vinh quang chứ có sao đâu?
 “Ai cũng thắc mắc như vậy bao năm rồi nhưng tại sao không ai thấy cho là vào cái thời kỳ 1937 ấy, những câu thơ cuả T.T.Kh quả thật là dữ dội, vượt ra khỏi vòng lễ giáo. Từ sau khi T.T.Kh, trong thơ tình Việt Nam của chúng ta, không thấy có bài nào đạt được sự dữ dội như vậy, kể cả thơ Xuân Quỳnh. Mời bạn đọc cứ đọc lại T.T.Kh: Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời/Ái ân lạt lẽo cuả chồngtôi/Mà từng thu chết, từng thu chết/Vẫn giấu trong tim một bóng người. Rồi thì Đâu biết lần đi một lỡ làng/Dưới trời đau khổ chết yêu đương/Người xa xăm quá tôi buồn lắm/Trong một ngày vui pháo nhuộm đường” Hoặc là Nếu biết rằng tôi đã có chồng/Trời ơi người ấy có buồn không… Tôi có thể nói chắc rằng không một người con gái có chồng nào đủ can đảm đứng ra nhận mình là tác giả của những câu thơ đó đâu, dù sau khi nhận xong thì được trao ngay một giải thưởng văn học lớn đi chăng nữa. Tôi nói ngay cả thời bây giờ cũng không còn ai dám nhận chứ đừng nói tới những năm tháng đó. Những câu thơ ấy tác giả phải sống để bụng chết mang theo”.

Nhận định này vô cùng phiến diện. Chúng ta hãy đọc những câu thơ dưới đây:

Dẫu mai tình không lại

… Em mặc kệ cho ai thầm to, nhỏ

“Khu giáo đường? Không rõ nó yêu ai?”

Em quỷ quái, dĩ nhiên “ai?”, biết rõ

Dẫu mai tình không lại cũng… cho anh.

1985

Những tình ca em viết

…Những tình ca em viết ngày thứ bảy

Để mai này xa vắng nhớ tới anh.

Tình em trao người ở lại mong manh

Hãy giữ mãi trong lòng, đừng quên nhé!…

Tháng 3/26/1986

Ngậm ngùi:

Rồi áo cưới, tiếng pháo hồng, ly rượu

Nhắm mắt nâng ly, lòng tiễn đưa lòng!

Trong nước mắt lạnh lùng, em làm vợ

Bên người chồng sao chẳng thể là anh!

                       Ảo ảnh một đời đôi mắt với vòng tay

Nụ hôn ấy sưởi lòng đêm giá lạnh.

Để quên hết những tháng ngày hiu quạnh

Để lời ru không vương phút chạnh lòng!

Ôi! Tất cả mong đừng là sự thật

Là những điều trần trụi lúc mất nhau!

Tháng 3/14/1991

Xót xa cõi lòng

…Chồng người cứ ngỡ chồng ta

Mặn mà lời lẽ, xót xa cõi lòng!

Vòng tay nào để ôm con

Vòng tay nào để gối mòn tuổi xanh!…

1999

Ngàn năm em ôm tình cũ

… Đời chẳng dài để đêm dài mộng mị

Nhắm mắt rồi cũng chỉ chữ cô đơn!

Như cơn gió thoáng qua rồi đi mất

Chẳng có chi là nhất ở trên đời.

Chút tình này nên giữ kỹ Người ơi!

Đời ngắn ngủi ta chẳng đành hời hợt.

Sóng vẫn mãi đuổi xô theo từng đợt

Em ngàn năm ôm… tình cũ tuyệt vời.

Tháng 8/23/2004

Nhân vật này tuyên bố ghê gớm: “Dẫu mai tình không lại cũng… cho anh!”, “Những tình ca em viết” chỉ để “mai này xa vắng nhớ tới anh” rồi dặn “Giữ kỹ trong lòng, đừng quên nhé”. Tiếp theo trong ngày cưới cũng nghĩ về người ta: “Và áo cưới, tiếng pháo hồng, ly rượu/ Nhắm mắt nâng ly, lòng tiễn đưa lòng!/ Trong nước mắt lạnh lùng, em làm vợ/ Bên người chồng sao chẳng thể là anh!”. Rồi so sánh: “Chồng người cứ ngỡ chồng ta/ Mặn mà lời lẽ, xót xa cõi lòng!”. Nhân vật “ghê gớm” ấy, cuối cùng “dũng cảm” tuyên bố xanh lè: “Em ngàn năm ôm… tình cũ tuyệt vời!”.

So với  Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời/ Ái ân lạt lẽo của chồng tôi/Mà từng thu chết, từng thu chết/ Vẫn giấu trong tim bóng một người/ Biết rằng tôi đã có chồng/Trời ơi người ấy có buồn không?” nào khác gì? Điểm khác, T.T.Kh chỉ là bút danh không rõ ràng. Những câu thơ đáng bị chồng “quánh” dập xương lại không có tên cụ thể thì làm sao mà bằng cái người với những câu thơ nghe như nhẹ nhàng mà “cay đắng” buốt lòng: “Bên người chồng sao chẳng thể là anh”. Tác giả này có tên tuổi đàng hoàng. TĐT chưa đọc hết những tình khúc của người trong thiên hạ đó thôi!

TĐT còn cho là chẳng có cô gái nào dám làm những câu thơ tình chết người như vậy không? Còn nữa, chắc gì T.T.Kh đó là nữ mà vội thách dám nhận hay không dám nhận?)

 

* Độc giảThế còn sáu mươi năm sau, khi Thế Nhật viết cuốn T.T.Kh nàng là ai?, thì mọi thứ ràng buộc có lẽ không còn nữa đối với TTKh. Vậy giả sử bà Vân Chung đúng là T.T.Kh thì việc gì bà phải phủ nhận mình, phải phản ứng dữ dội như vậy? Bà Vân Chung còn nói rằng nhận mình là T.T.Kh là một điều vinh quang nhưng tiếc rằng không thể nhận được vì mình không phải là T.T.Kh, sợ một ngày nào đó có “T.T.Kh thật” xuất hiện thì xấu hổ. Nhiều người cho rằng bà Vân Chung nói như thế nghe ra có vẻ chân thành. Anh có nhận xét gì vế ý kiến này?
– “
Đúng là lời tuyên bố của bà Vân Chung quá cứng rắn khiến ai nghe qua nấy đều phải tin. Tôi dẫn chứng câu chuyện này: một biên tập viên văn học đầy kinh nghiệm của một nhà xuất bản khi đọc bản thảo của tôi đến đoạn này đã hoàn toàn bác bỏ phần giải mã phía trước của tôi và tuyên bố không thể tin Vân Chung có thể là T.T.Kh. ban biên tập nhà xuất bản gửi bản thảo cho một biên tập viên thứ hai đọc lại thì người này cũng có nhận xét tương tự. Như vậy là khó tin thật. Cho nên chỗ này phải tinh mắt chứ suy diễn theo kiểu chủ quan bình thường là không lý giải nổi. Nếu ai đã đọc cuốn sách T.T.Kh nàng là ai? của tác giả Thế Phong thì thấy rõ cuốn sách này viết quá gây sốc, không thể chịu đựng nổi. Vấn đề nằm ở chỗ đó. Vân Chung phủ nhận mình là T.T.Kh chính là để phủ nhận cuốn sách của Thế Phong mà thôi. Và khi đã phủ nhận thì phải nói sao cho người ta tin tuyệt đối, còn nếu nói yếu ớt quá thì chẳng thà im lặng còn hơn. Nói thật, nếu trong đời thường người ta còn phải “thề độc” nữa kia chứ nói như vậy ăn nhằm gì. Hiện ông Thanh Châu còn sống ở TP.HCM, bà Vân Chung còn sống ở Pháp, hai người đâu có phản ứng gì khi tôi cho đăng tải tóm tắt bản thảo cuốn sách lên mặt báo đâu? Vì tôi viết nghiêm túc mà.

Còn vấn đề như nhiều độc giả đặt ra, là đã qua sáu mươi năm rồi, không còn gì phải e ngại, nên nói đúng là T.T.Kh thì bà Vân Chung sẽ đứng ra nhận liền. Lập luận như thế là không hợp lý đâu. Bà Vân Chung phản ứng mạnh là do cách viết cuả ông Thế Phong. Nếu ông Thế Phong viết hiền lành hơn, thì có lẽ bà vân Chung sẽ không phản đối. Nhưng chỉ không phản đối thôi. Còn nói nếu việc tự nhận thì tôi xin thưa rằng, không bao giờ có chuyện đó. T.T.Kh không bao giờ làm cái việc đứng ra nhận mình đâu. Không nhận mình thì mới đúng là T.T.Kh. Chứ còn bây giờ giả sử có người nào đó đứng ra nhận mình là T.T.Kh thì tôi có thể nói ngay rằng đó chắc chắn không phải là T.T.Kh.”.

(Phản hồi: Bà Vân Chung “không phản đối” tức nhận rồi còn gì! Khi “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh” của TĐT ra đời quý I năm 2007, Thanh Châu ở Sài Gòn đã… 95 tuổi rồi. Bà Vân Chung bên Pháp đã 90 tuổi rồi. Qua giai đoạn “Thất thập cổ lai hy“, hai người này đọc được cái gì? Thấy được cái gì trên mạng nữa? Nhớ được thứ gì nữa? Viết được cái chi? Bập bẹ nói được mấy từ mà đi viết “phản đối” TĐT nữa? Con gì “sáng đi bốn chân, trưa đi hai chân, chiều đi ba chân”? Điều này mà TĐT chẳng để ý thì làm sao mà sáng suốt để làm “Độc hành lữ khách” trên đại lộ tìm kiếm tung tích T.T.Kh? Thanh Châu đã về với “Hoa Ti-Gôn” của ông năm 2007. Bà Vân Chung vào 2007 cũng chẳng biết còn hay mất! Chúng ta đừng nên quên khái niệm thời gian. TĐT “viết nghiêm túc” như TĐT tự hào, người đọc sẽ công nhận điều này nếu TĐT công bố cụ thể tư liệu về những dẫn chứng trong phần “đối thoại với độc giả” trên. Công bố những độc giả đó đã liên lạc với TĐT bằng cách nào? Cũng như lời Thanh Châu “khai” hết về Vân Chung cho anh nghe. Băng ghi âm có không? Tiếc rằng, anh chưa cung cấp đủ những yêu cầu như trên và trong phần kiểm chứng của nhân vật chính, anh đã bỏ họ ra ngoài cuộc để phán xét theo ý mình. Người ta “nhiếc” Thế Nhật cũng chính là… “mắng xéo” anh vì anh thấy Cọp mà không tránh, gặp Thánh mà không chào, còn đường đi cuối cùng của anh và Thế Nhật đều cùng một tụ điểm: Vân Chung và Thanh Châu.

Bà Vân Chung hình như cũng có “phản đối” cuốn sách anh. Đây là tư liệu của bài báo do Việt Duy cung cấp:
“CUỐN SÁCH THỨ HAI VỀ T.T.KH :
Sau một thời gian dài bị nhiều nhà xuất bản từ chối vì ngại xảy ra vụ kiện tương tự, mới đây (tháng 2-2007), cuốn” Giãi mã nghi án văn học TTKh” cuả Trần Đình Thu đã được NXB Văn hoá Sài Gòn cho in. Tác gỉa TĐThu cũng khẳng định bà V Chung chính là “nghi can số một” trong” nghi án văn học” này vì bà VChung có nhân thân giống TTKh đến mức kỳ lạ. Để chứng minh lập luận trên, ông TĐThu đã trích dẫn một số bài thơ của bà VChung (do bạn bè cuả bà V Chung cung cấp) để độc giả có sự sánh về phong cách thơ của bà V Chung với TTKh. Tác giả nhắc lại ngày sinh, quê quán, gia cảnh, cha mẹ cùng thân thế của chồng bà Vân Chung để khẳng định bà là người có nhân thân phù hợp nhất với TTKh. Ngoài ra tác gỉa cũng có nêu rõ hoàn cảnh quen nhau giữa bà VChung và người tình cũ, lý do hai người chia tay… Bìa trong cuốn sách còn in ảnh bà Vân Chung và chú thích rõ: “bà T.T. V Chung thời còn trẻ (…). đây là người được khẳng định là TTKh”.
XÂM PHẠM BÍ MẬT ĐỜI TƯ:
Sách ra xong, bà Vân Chung lần nữa lại gửi thư phản đối, nói rằng không thể coi sách là tài liệu văn học, vì đã nêu tên tuổi, đưa hình ảnh, chà đạp lên đời sống cá nhân mà không xin ý kiến của người trong cuộc… Về vấn đề này, luật sư Trương Thị Hoà (Đoàn Luật sư TP.****) tỏ ra khá “ủng hộ” tác giả TĐThu ở khía cạnh đi tìm tên thật tác gỉa TTKh: “Những bài thơ của TTKh đã được lưu truyền và nổi tiếng trong 70 năm qua. Việc nghiên cứu để ghi đúng tên tác gỉa của những vần thơ bất hủ đó là việc đáng ghi nhận và khuyến khích”. Tuy nhiên Ls T.T.Hoà cũng lưu ý:” Việc công bố các tư liệu có liên quan đến đời tư của cá nhân phải được sự đồng ý của họ. Nếu việc công bố vô hại và người trong cuộc cũng không có ý kiến gì thì họ có thể chấp nhận được”. LS Phạm Quốc Hùng (Đoàn LS TP.****) phân tích sâu hơn hành vi xâm phạm đời tư:” Việc công bố, đăng tải những thông tin về đời tư mà không được sự đồng ý của người đó là vi phạm Điều 38 Bộ luật Dân sự về bí mật đời tư của cá nhân, có thể bị kiện bồi thường thiệt hại và thu hồi sách. Ngoài ra, việc tự ý đăng những bài thơ khác của bà V Chung là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ”.  THANH HẢI
(báo Pháp luật TP HCM ra ngày 18/3/2007, phát hành tại TP. HCM). Báo này cung cấp thông tin “bà Vân Nương lần nữa lại gửi thư phản đối“. Thư này tải đăng ở đâu?

Chúng ta thử làm…  luật sư:

Điều 38 Bộ luật Dân sự: Quyền bí mật đời tư.

1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. 3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thầm quyền.

(Bộ Luật Dân Sự, Nxb LĐ-XH – 2005, tr 32).

Bìa cuối ghi: “TÌM HIỂU BỘ LUẬT DÂN SỰ” Ngọc Điệp (sưu tầm)…. Biên tập: Trần Anh Nam?? Xong… game! Chẳng có ai là Luật sư hay Tổ hợp Luật sư nào đứng ra biên tập?)

Trường hợp chung cho Thế Nhật và TĐT:

Thế Nhật đã hiên ngang trên tr 54 trong sách của mình: “Sự công bố hiện tượng văn học T.T.Kh là có thật lại bắt đầu tiếp:

T.T.KH tên khai sinh và thẻ căn cước là Trần Thị Chung (tên thường gọi là Trần Thị Vân Chung*). Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1919 ở thị xã Thanh Hóa (chính quán cũng là Thanh Hóa) trong một gia đình quan lại. Bố mẹ Vân Chung có năm người, ba gái hai trai. Vân Chung có người anh trai cả, bà là trưởng nữ, kế đến hai em gái và một trai út. Năm 1934, qua mối mai, hai gia đình đã thuận gả chồng, cưới vợ. Chồng là luật sư Lê Ngọc Chấn, đậu cử nhân luật, tri huyện. Sau 1950, ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Miền Nam. Trước năm 1973, vị cựu Tổng Trưởng Quốc Phòng (Miền Nam) bất đồng chính kiến, ông Lê Ngọc Chấn bị đưa đi an trí ở Côn Đảo ba năm, đến 1964 mới được trả tự do, sau khi chế độ đệ nhất cộng hòa Ngô Đình Diệm sụp đổ. Ông cũng từng giữ chức đại sứ Việt Nam ở Anh Quốc. Ông bà Lê Ngọc Chấn có bốn con: hai trai và hai gái.

Bà Lê Ngọc Chấn, nhũ danh là Trần Thị Vân Chung (có thể gọi T.T.KH hậu chiến) dưới bút danh Vân Nương là chính. Bà còn ký các hiệu: Lê Đông Phương, Tam Nương. Bà tham gia trong nhóm thơ Quỳnh Dao.

Trước 1975, bà viết bút ký, thơ đăng trên nhật báo Ngôn luận (Sài Gòn).

Năm 1976, ông Lê Ngọc Chấn qua đời ở Sài Gòn. Sau đó bà cùng các con xuất cảnh sang Pháp. Từ đó, bà đăng thơ, bút ký trên các tạp chí Pháp Duyên (Mỹ), Pháp Âm (Nally), Làng Văn (Canada), Hiện Diện (Toulouse, Pháp), Văn Hóa (Paris, Pháp) vv…

Hiện bà sống ở Dordogene, miền đông nam nước Pháp”.

Chưa thấy tác giả nào ghi lý lịch tác giả về thông tin cá nhân mà “kỹ” tới mức… “sai tùm lum” như Thế Nhật mà đương sự bà Vân Nương đã chỉ ra 9 điều sai nói trên.

TĐT cũng chắc nụi trong sách mình (tr 69)Xin nhắc lại một số thông tin về bà Trần Thị Vân Chung. Bà sinh năm 1919 tại Thanh Hóa. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, lớn lên lập gia đình với một người đỗ cử nhân luật, có lúc làm quan tri huyện, về sau làm đến chức Tổng trưởng Quốc phòng trong chế độ Sài Gòn.
Về văn chương, bà Vân Chung là người thường hay làm thơ, viết văn với bút danh Vân Nương, Tam Nương… Bà tham gia nhóm thơ Quỳnh Dao – nhóm thơ của những người phụ nữ đài các trưởng giả lúc trước ở miền Nam, thường làm thơ xướng họa với nhau như một sinh hoạt tinh thần. Nữ sĩ Mộng Tuyết cũng là một trong những chủ soái của nhóm thơ này. Bà đã có một số thơ đăng trên các báo ở Sài Gòn trước năm 1975. Năm 1986, bà cùng các con xuất cảnh sang Pháp. Bà vẫn tiếp tục làm thơ đăng trên các tạp chí tiếng Việt ở nước ngoài…”.

Thông tin này lấy từ đâu? Có phải từ sách Thế Nhật mà sao không chịu “chua” một chữ cho Thế Nhật… hả lòng? Còn nếu từ nguồn khác thì cũng nên chịu khó ghi ra đây để “thanh thiên bạch nhật”.

Hai nhà “săn nhân” này trên một chiếc xe Vân Chung là.. T.T.Kh đúng là đã vi phạm điều 38 “Quyền bí mật đời tư” như luật sư Phạm Quốc Hùng đã sáng mắt chỉ ra. Còn bà luật sư Trương Thị Hòa thì mờ ớ hơn khi đi… hàng hai! Đã nói tới luật thì phải giở luật: Sách nào? Dân sự hay Hình sự? Phần nào? Chương bao nhiêu? Điều thứ mấy? Chứ không phải nói như đánh bài tụ. Đánh không được tụ này thì đặt tụ kia. Không “Tài” thì “Sỉu”! Chẳng “Bầu” thì “Cua”!

Khi người làm luật giở luật, Thế Nhật và TĐT… “tránh trời sao khỏi nắng?” Nhưng chúng ta còn có “luật tình người“. Luật này mới không chìm theo thời gian, chẳng thay đổi khi “thay triều đổi chúa” hoặc “thay bậc đổi ngôi“!

– Phần trả lời độc giả TĐT cũng mâu thuẫn: TĐT mong Thanh Châu trên gường bệnh nói ra mỗi một câu T.T.Kh là Trần Thị Vân Chung. Mong chết đi được. Vậy mà, TĐT “rào đón” nếu ai ra nhận cũng không thể nào là T.T.Kh. Vì cái câu này khiến T.T.Kh còn sống thật đi nữa cũng phải “câm mồm” để cho thiên hạ “văn kỳ thanh, bất kỳ hình” muôn thuở! Vậy điều tra “chân tướng” mà không cho “chân tướng” lộ diện, phải chăng là mục đích của cuốn sách “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh” của TĐT? Bà Vân Chung đã lên tiếng phản đối ở trên. Pháp luật cũng đã vào cuộc. Chỉ cần, bà Vân Chung lớn tuổi kia làm đơn kiện theo luật “Tố tụng hình sự” (Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, Phần thứ 7, chương 35, tr 156 về “Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự) thì trăm ngàn phiền phức!

TĐT nói rằng TĐT viết nghiêm túc nên không ai phản đối. Bà Vân Nương không những đã phản ứng quyết liệt với “cách viết của Thế Phong” nhưng cũng chẳng “dịu lời” với anh. Vậy, anh có nghĩ rằng anh đã “lâm trận tiền” và “chết trong trận” với những tuyên bố chắc như đinh đóng cột của mình?

Anh nói Không nhận mình thì mới đúng là T.T.Kh“. Vậy khi Thế Nhật ghi lại lời kể bà Vân Chung “thú nhận” mình là T.T.Kh với Thư Linh Đỗ Thị Lạc thì bà chẳng phải là T.T.Kh! Đúng như “tiêu điểm duy nhất” phủ nhận hay khẳng định T.T.Kh mà anh đã ghi thành sách hẳn hoi. Còn gì cuốn sách của anh! Anh đi mượn tư liệu từ Thư Linh về bà Vân Nương làm chi để lãnh… “trứng thối, cà chua” như Thế Nhật đã… ôm về ăn chưa hết đến bây giờ? Cười trừ!


Độc giảAnh có nhận xét gì về bức thư ngỏ của bà Vân Chung gửi độc giả trước đây?
– “Bức thư này tuy phần đầu và phần cuối khẳng định mình không phải là T.T.Kh nhưng phần giữa lại đi sâu vào những chi tiết trong cuốn sách của ông Thế Phong. Nó lộ rõ ý định phủ nhận cuốn sách hơn là chứng minh mình không phải là T.T.Kh. Về mặt tâm lý, nếu không phải là T.T.Kh thì không phải nhiều lời lắm đâu. Chỉ cần khẳng định một câu tôi không phải là T.T.Kh” là đủ rồi”.

(Phản hồi: TĐT lại không chịu hiểu về luật dân sự. Nếu có người cho anh là con cháu của tên bán nước… Trần Ích Tắc thì anh như thế nào? Người ta ghi: Trần Đình Thu sinh năm 1964, năm 15 tuổi có yêu một cô gái Tiền Giang và cô ta bỏ đi lấy chồng Hàn Quốc, Trần Đình Thu buồn quá… nhảy xuống cầu Sài Gòn tự tử mà chưa chết nên ngồi viết T.T.Kh cho đỡ buồn? Anh đồng ý chăng? Không phải thì thôi, làm gì dữ vậy? Anh “chỉ cần khẳng định một câu ‘tôi không phải” là đủ rồi“, phải không?

Anh nghĩ đơn giản vì anh chưa phải là người trong cuộc. Nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu là người ngoài cuộc như phải có trái tim của người trong cuộc thì mới thực sự cảm thông cho người khác.

Bà Vân Nương bị nêu đích danh và nhũ danh với ba thành phần đầu, mình và chân tay và bị làm “ốc mượn hồn” T.T.Kh trên sách mà anh cho là “không phải thì thôi“! Trời! Bắt giam một người bị tình nghi là giết người, bỏ tù chung thân người ta. Sau đó, thả ra, thản nhiên: “Không phải thì thôi, ở tù vài cuốn lịch nếm mùi ‘Nhất nhật tại tù. Thiên thu tại ngoại’ cho vui”! Đấy là luật của đất nước không lòng nhân ái.

Còn nữa, TĐT đã trả lời độc giả ở trên: “về mặt tâm lý, nếu không phải là T.T.Kh thì không phải nhiều lời lắm đâu. Chỉ cần khẳng định một câu “tôi không phải là T.T.Kh” là đủ rồi”. Bà Vân Chung đã gởi thư phản đối cuốn “T.T.KH nàng là ai” năm 1994 của Thế Nhật có câu: “Điều trước nhất tôi xin thưa Tôi không phải là T.T.KH!” (sđd tr 122 cuốn 2). Nhưng TĐT gần 12 năm sau vẫn bám theo thông tin của Thế Nhật một mực khẳng định Vân Chung là T.T.Kh. Thế nghĩa là sao?

Trong Bộ Luật Dân Sự, Chương III – Cá Nhân, Mục 2 – Quyền Nhân Thân, Điều 25 “Bảo vệ quyền nhân thân“: “Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

1. Tự mình cải chính

2. Yêu cầu người vi phạm hoặc  yêu cầu cơ quan, tổ chức  có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi, vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai.

3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại (sđd tr 17).

Điều 25 được Điều 37 “Quyền được  bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín” bảo hộ: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân được tôn trọng và  được luật pháp bảo vệ”. (sđd tr 22).

Bà Trần Thị Vân Chung có quyền tại hai điều này).


* Độc giảThế còn bức thư ngỏ của bà Vân Chung gửi bà Thư Linh? Bức thư này rất quyết liệt, chứng tỏ tác giả bị bức xúc?
– “Không phải là T.T.Kh thì thôi chứ làm gì mà bức xúc! Tôi thấy lời lẽ trong bức thư này rất nặng nề u ám. Nó cho thấy tác giả là một người có tâm hồn dễ bị tổn thương. Tôi nhớ lại những câu thơ cuả T.T.Kh thuở xưa cũng nặng nề u ám như thế. Chẳng hạn như câu thơ “Là giết đời nhau đấy biết không?/Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung…”. Độc giả có thấy rằng, nếu bà Thư Linh chỉ phạm “cái tội” như bà Vân Chung nói là “vu khống” cho bà là T.T.Kh trong khi bà không phải là T.T.Kh thì “cái tội” ấy có gì nghiêm trọng đâu. Người ta nói mình là T.T.Kh chứ có nói gì xúc phạm danh dự nhân phẩm đâu mà phải giận dữ ghê thế! Sự giận dữ trong bức thư này thực tế vượt ra ngoài ranh giới bình thường. Nó cho thấy chỉ có bà Thư Linh phạm vào những “cái tội” như vi phạm lời thề không tiết lộ thân phận của bà Vân Chung chẳng hạn thì mới có sự giận dữ vậy”.

(Phản hồi: Trong thư bà Vân Nương gởi cho bà Thư Linh Đỗ Thị Lạc không bao hàm các ý như TĐT đã nghĩ ra là bà Vân Nương giận vì bà Lạc “bẻm mép” chứ không phải phản đối mình là T.T.Kh! Suy diễn này của TĐT là sai. Khi một người rỉ tai một người mới quen biết để lộ rõ tông tích bí ẩn của mình mấy chục năm nay thì rõ ràng người này… có vấn đề “tâm thần”! “Rừng có mạch, vách có tai” huống chi con người có tới hai lỗ tai. Nghe bên tai này, chạy qua tai kia…. đi tuốt luốt sang… hàng xóm! Để cho công chúng hãn hữu, không chi bằng mời độc giả đọc lại bức thư của Vân Nương gởi Đỗ Thị Lạc mà TĐT trích đoạn trong sách mình:

“… Tôi vừa nhận được hai cuốn Những Dòng Thơ Hoa và T.T.KH nàng là ai? Xin cảm ơn chị và xin trả lời lá thư chị trần tình.

Cũng như gần đây tôi đã viết thư cho em Hỷ Khương phủ nhận chuyện bảo tôi là T.T.KH, dặn em đưa thư cho chị và nhà văn Thế Phong cùng rõ, ngay việc viết lai lịch tôi cũng không đúng: gia đình tôi gồm 8 anh chị em, một anh một chị đến tôi là thứ ba. Chúng tôi làm đám cưới vào Noel 1939 (chứ không phải 1934!), nhà tôi hơn tôi 3 tuổi (chứ không phải 7 tuổi!). Có lẽ để phù hợp với câu “Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi” chăng?- Chỉ có vài chi tiết nhỏ đã thấy không đúng với con người thật của tôi, huống gì còn bao nhiêu chuyện giả tưởng do bộ óc tinh vi của chị phóng đại ra! Ví dụ bức thư của chị mà nhà văn Thế Phong đã trích dẫn ít dòng, đại khái “… coi tôi viết vậy đã đủ chưa?…”

Sao chị cả gan dám mạo nhận là bạn thân thiết của tôi sau năm 1945? (tuy viết T.T.KH nhưng không ai ngu gì mà không biết chị ám chỉ tôi) còn bịa đặt “… chị đã hứa với T.T.Kh chỉ được viết lại tâm sự của bà khi bà không còn nữa…”. – Có những sự lắt léo của chị đáng nêu ra ở đây. Sau đó mấy chục năm chị lại tự mâu thuẫn, tạo dựng được một màn giả tưởng nữa! Cuộc đối thoại giữa tôi và chị trong một chiều mưa. Khi nhà tôi đi cải tạo (chị không nói rõ năm?), cái màn mà chính chị đã tả tôi nghe qua bức thư ngày 20-9.1994. Tuy  chị đổ lỗi cho Thế Phong viết cuốn T.T.KH là do bài thơ Hoa Tim của chị nhưng rồi chị lại tự thú với tôi cũng qua bức thư này! – Xin thưa với chị, trong bài Hoa tim ấy, chị chỉ mạo lại, chụp hình lại những vần thơ tâm tình của T.T.KH mà ai cũng biết, chẳng có gì khác lạ để Vân Nương phải bận tâm! – Mặc họ với nhau chứ! Nữ sĩ Thư Linh ‘Viết gởi T.T.Kh người chị thơ phương xa…’ người bạn thân thiết sau 1945 kia mà! Tôi mới gặp chị năm 1978 thì can dự gì đến tôi?

Ôi! Câu chuyện ở nhà em Minh (1976) do chị tả mới thật rùng rợn ghê gớm! Thật đáng sợ cho miệng lưỡi người đời! Đáng khen chị đã khéo thêu dệt nên một khung cảnh ly kỳ qua đầu óc quá thông minh, giàu tưởng tượng nhưng rất vụng về! Chị coi em Minh ngây thơ như đứa trẻ 12-13 tuổi! vừa nghe vài câu giới thiệu sơ sài của ông khách lạ đã vội chạy te te đi tìm chị! Và buồn cười nhất là ông còn dọa ngồi vạ nữa! Tiếp đến cảnh hai người ngã vào nhau (chị xem viết tới những dòng chữ thô tục tôi đã phải tránh né để khỏi thẹn với ngòi bút!) mà chị giải thích trong lá thư: “…ôm hôn nhau để tò lòng thương mến như nước ngoài là thường…”. Đó là đầu óc quá văn minh của chị, theo tôi một người đàn bà Việt Nam đã có chồng thì là một cử chỉ vô luân, tồi bại! Hẳn mọi người ai cũng biết em Minh đông con, lúc nào cũng có vài con gái, mấy anh lớn trog nhà thì bổn phận làm bác, làm mẹ phải dè dặt làm gương cho các con cháu chứ đâu có cảnh quá văn minh như chị tạo dựng nên! Chị cho là  thường nhưng chúng tôi là con nhà có giáo dục, cổ truyền, không phải tư cách của chị em chúng tôi! – Và tôi cũng phủ nhận sự việc đã bị chị vu khống cho cuộc gặp gỡ dơ bẩn ấy! – Rõ ràng chị muốn bôi nhọ tôi còn chưa đủ, chị còn gắp lửa bỏ bàn tay em Minh nữa! Xét cho cùng, xin chị hãy đọc những dòng sau đây của Thanh Châu trong cuốn sách quái gở đó: ‘… Có lẽ chúng ta chẳng cần biết rõ đó là ai? Một phụ nữ vào thời đó là đã theo kịp trào lưu mới là điều đáng trân trọng. Tôi không tin rằng ai đó đã tìm ra bà – nếu bà còn sống, đã đáng bậc bà – không thể được bà sẵn sang tiếp đón’ hoặc như: ‘Tôi thì chưa biết mặt, biết tên thực của T.T.Kh, chỉ biết đó là người đàn bà đã viết nên những vần thơ đẹp… còn muốn gì hơn nữa? Sao người ta lại cứ muốn làm nho bẩn tất cả những gì trong sạch trong cõi đời này?’.

(… ) Khi chị hợp tác với nhà văn Thế Nhật đưa ra cuốn sách quái gở, tôi đã bị các chị em trong Quỳnh Dao trách cứ! Các bạn trách tôi cũng đúng vì tình nghĩa mấy chục năm ít ra tôi gạn được một, hai tâm tình để thố lộ tâm can, Tại sao đối với chị mới quen năm 1978 mà tôi vội trao trọn niềm tâm sự? Nhưng làm gì có chuyện tâm sự? Tôi cũng là con người đâu phải thần thánh mà không có tính khoe khoang? Nhận ra mình là T.T.Kh cũng hãnh diện lắm chứ.

Chị đã lúng túng xin lỗi tôi, dỗ dành tôi như dỗ con nít sau khi: “bị chị quất cho một đòn chí tử”! như trong lá thư để ngày 20-9-1994 “Dù chị có vì chuyện này mà trách giận em thì em xin lỗi chị…” ơ hay! Nếu chị đã kể đúng sự thật với nhà văn Thế Phong như những lời tôi kể với chị thì tại sao tôi có thể trách giận chị được? Chị vì mới quen tôi nên không biết, chứ các bạn Quỳnh Dao suốt mấy chục năm ai cũng biết tính nết tôi đâu phải con người hàm hồ, ngoan cố!

Tôi suy ngẫm mãi, nghĩ xem đã làm điều gì để chị thù óan, vu khống bôi nhọ tôi. Chợt nhớ câu chị dỗ dành “… Vân Nương sẽ có tên trong văn học sử…” tôi mới hiểu thâm ý chị là người háo danh vụ lợi sẵn đầu óc thông minh nên chị đã khéo tính toán, tạo dựng ra câu chuyện giả tưởng để có cuốn T.T.Kh nàng là ai? đồng thời in luôn cuốn Những Dòng Thơ Hoa để ai đọc cuốn này cũng phải tìm mua đọc cuốn kia! Sách sẽ bán chạy như tôm tươi, tha hồ thu tiền về! Và nếu Vân Nương được vào văn học sử, chắc chắn Thư Linh cũng được vào theo vì lý do nhân chứng! Nhưng quả thật chị đã coi thường cả nước Việt Nam vì cái đầu óc quái gở của chị! Và tôi tiếc cho chị: ví thử “cái lợi” đã không làm chị nôn nóng, mù quáng! Chị hãy ráng chờ khi tôi chết hãy đưa ra, chắc chắn cái danh của chị lúc đó sẽ được toại nguyện! (…)

Tôi không trách gì nhà văn Thế Nhật vì chính chị mới là đạo diễn, tác giả mà Thế Nhật chỉ là người thu hình.

Về bài Sầu Thu  trong cuốn Tơ Sương tôi viết năm 1962, khi nhà tôi bị giam  ở khám Chí Hòa thời chính phủ Ngô Đình Diệm (1960-1963) – tại sao chị có thể bới bèo ra bọ? Câu thơ có thể mỗi người hiểu theo một ý. Mùa thu là mùa lý tưởng trong văn chương, chỉ có T.T.KH mới có quyền nói tới mùa thu hay sao?

Chắc chị đã đọc thư tôi viết cho Hỷ Khương? Đúng thế đấy chị ạ! Nếu thật tôi là T.T.KH thì có gì là xấu? Người con gái nào cũng có quyền yêu và cấm sao được người ta yêu mình? Chỉ có những người đàn bà có chồng rồi còn ngoại tình, còn yêu kẻ khác mới đáng khinh bỉ phỉ nhổ? Huống gì nay được khoác cho danh hiệu một nữ sĩ đã làm chấn động dư luận một thời, đã làm tốn bao giấy mực của giới thi văn về những vần thơ kiệt tác, và đã được nhà văn Thế Nhật in thành sách do nữ sĩ Thư Linh cung cấp tài liệu giả tưởng, tạo dựng câu chuyện do bộ óc thông minh giàu tưởng tượng nhưng không biết tự trọng nhân cách của người bạn mà chị gọi là thần tượng của lòng em! – Như thế chẳng là đã lên tới đỉnh chót vót đài vinh quang rồi sao? Nhưng tiếc thay, trước Đạo lý và Lương tâm đã không cho phép tôi nhận ẩu! sợ một ngày nào đó, do một sự tình cờ ai đó tìm ra con người thật T.T.Kh thì danh chưa thấy đâu, chỉ nhận lấy sự khinh bỉ của đời.

Nếu ở thời chế độ cũ chị đã bị ra tòa về tội gì chắc chị không phải con người ngu mà không biết? Nhưng hiện tình tôi chỉ còn cách nhờ báo chí phổ biến dùm hai bức thư trước dư luận để sáng tỏ hư thực vì giờ phút này trong bạn bè thân thuộc cũng như gia đình chúng tôi ở hải ngoại hay quốc nội chắc chắn đã đọc qua cuốn sách quái gở T.T.Kh do chị đẻ ra theo lời xác nhận của nhà văn Thế Nhật: “Nếu không có chị là đã không có cuốn sách này”- Chuyện bắt buộc tôi phải lên tiếng để mọi người chùng biết đâu là sự thật mà tôi là nạn nhân! Nhất là còn vì danh dự của mấy gia đình con chúng tôi nữa,

Sau cùng tôi muốn kết luận với chị rằng: chị cũng là Phật tử hẳn nhớ lời Phật dạy: Con người vương nghiệp nặng do ‘Thân – Khẩu – Ý’  nên tôi rất sợ và thương cho chị vô cùng (…)

                                                                        Vân Nương  (Pháp quốc)

                                                                        Ngày 1 tháng 10 năm 1994

                                          (Trích báo Người Việt, Cali, ngày 24-12-94)

Tóm tắt nội dung bức thư để so sánh lời giải của TĐT với độc giả là chưa đúng:

TĐT: “Không phải T.T.Kh thì thôi chứ làm gì mà bức xúc”? TĐT cho rằng: “Bức thư rất nặng nề u ám”.

Vân Nương: Bức xúc” vì  cuốn sách viết “lý lịch bà cũng không đúng” thì làm sao viết những cái khác cho đúng: nhà 8 người, viết 5 người; đám cưới 1939, viết 1934; chồng hơn vợ 3 tuồi, viết 7 tuổi (Bà Vân Nương ghi nhầm: Thế Nhật ghi như vầy: “Năm 1934, Trần Thị Vân Chung thành hôn với viên quan huyện trẻ tuổi. Chồng hơn vợ chín tuổi…”  (sđd tr 50).

Bức thư tương đối rõ ràng, chẳng có gì u ám cả. Cái u ám chính là hai tác giả Thế Nhật và đã “bói bài hôn nhân” cho Vân Nương… u ám mà thôi. Thế Nhật sai lầm đã cho Vân Nương… 15 tuổi lấy chồng. TĐT “u mê ám chướng” hơn, viết: “Theo xác nhận của chính bà Vân Chung, thì bà sinh năm 1919, tính đến năm 1937 là bà đã 18 tuổi tròn. Đó là tính theo tuổi Tây. Còn theo tuổi ta thì đã 19. Như vậy bà hoàn toàn có thể lấy chồng hoặc chồng đi dạm hỏi vào trước năm 1937. Vậy thì đến tháng 9 năm 1937, nếu là T.T.Kh thì bà có thể viết trong Hai sắc hoa ti gôn:

Nếu biết rằng tôi đã có chồng

Trời ơi! Người ấy có buồn không

Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ

Tựa trái tim phai tựa máu hồng?

Cũng cần nhắc lại là khi bà Vân Chung lấy chồng, ông Thanh Châu ở Hà Nội chứ không ở quê nhà. Vì thế cho nên Vân Chung mới nghĩ rằng ông không biết việc bà đi lấy chồng. Chi tiết này phù hợp với câu thơ “Nếu biết rằng…” (sđd tr 73).

Đúng sai? Bà Vân Nương đã lấy chồng trước năm 1937? Cho như TĐT nói đi. Vẫn như sách ghi: “Vào thời kỳ 1937, những cô gái có tâm hồn văn chương lãng mạn như Vân Chung đều tìm đọc tạp chí Tiểu thuyết thứ bảy. Vì thế truyện ngắn này đã đến tay Vân Chung ngay lập tức. Đọc xong truyện ngắn, Vân Chung chắc chắn cũng đau lòng không kém. Trong tình cảnh như thế, thì một người như Vân Chung hiển nhiên là phải làm thơ để gửi lại Thanh Châu…” (sđd tr 77).

Vậy mà khi trả lời độc giả: “Vân Chung mới nghĩ rằng ông không biết việc bà đi lấy chồng”. TĐT lại “hình như là quên lãng” một chi tiết hết sức nhỏ nhưng quan trọng: “Nhà văn Thanh Châu cùng sinh trưởng ở thị xã Thanh Hóa như bà Vân Chung… Trở về Thanh Hóa, hai người tiếp tục qua lại với nhau và tình cảm ngày càng thắm thiết. Gia đình hai bên cũng biết việc này… Ra Hà Nội một thời gian, Thanh Châu nhận được tin từ gia đình nhắn ra cho biết bà Vân Chung chuẩn bị lên xe hoa về nhà chồng…” (sđd tr 71). Việc bà Vân Chung con nhà giàu lấy chồng quan huyện “môn đăng hộ đối” chắc đám cưới không thể không linh đình? Nhà Thanh Châu không lý nào không báo tin quan trọng này cho Thanh Châu? Vân Chung không thể nào “ngu ngốc” đến mức mà không biết điều này. Vậy thì, bà viết câu: “Nếu biết rằng tôi đã có chồng/Trời ơi người ấy có buồn không?” là câu ngớ ngẩn! Hạc Bút Ông trong “Nhà thơ nữ ẩn danh hay mượn danh” (anthonyha.gotdns.com) từng giễu HSHTG về những câu hỏi đó: “Thơ cà lăm. Hỏi ngớ ngẩn, lời ấm ớ hội tề. Nàng lên xe bông rồi thì chàng vui thế quái nào đặng. Khi ấy mắt chàng sẽ nổ đom đóm ra, chàng dãy đành đạch, tiếc hùi hụi kể gì tới máu hồng hay máu thắm…”.

Câu trả lời chính xác ngày cưới của Vân Nương: “Chúng tôi làm đám cưới vào Noel 1939 (chứ không phải 1934!)”. Rõ ràng TĐT đã không đọc kỹ dòng chữ quan trọng này nên vẫn để những câu đoán mò sai thời gian của mình: “Như vậy bà hoàn toàn có thể lấy chồng hoặc chồng đi dạm hỏi vào trước năm 1937. Vậy thì đến tháng 9 năm 1937, nếu là T.T.Kh thì bà có thể viết trong Hai sắc hoa ti gôn:

Nếu biết rằng tôi đã có chồng

Trời ơi! Người ấy có buồn không

Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ

Tựa trái tim phai tựa máu hồng?”

Thật là buồn cười cho T.T.Kh – Vân Nương! Cuối năm 1939 mới lấy chồng mà ngày 30/10/1937 đã có HSHTG như trên!? Như vậy, 4 bài thơ của T.T.Kh làm trong thời gian mình đã có chồng từ 1937 đến 1938, trong khi T.T.Kh – Vân Nương thì mới lấy chồng tháng 12/1939? Vậy người chồng “nghiêm, chồng ái ân nhạt nhẽo, chồng luống tuổi, chồng nào mà đan áo” với chồng nào sau trong năm 1939? Vân Chung… hai chồng ư?

Cùng một thời điểm 1937-1938, T.T.Kh đã có chồng còn Vân Nương thì chưa là một trong những chi tiết quan trọng nhất để loại bỏ hết tất cả chỉ chứng non nớt, thiếu suy nghĩ khi cho Trần Thị Vân Chung là T.T.Kh.

– Thư Linh không phải là bạn thân thiết gì của bà Vân Nương. Chỉ quen biết năm 1978 >  Thư Linh đã nói láo.

– Câu chuyện về hai người đối thoại trong thư bà Thư Linh về lời hứa… hoàn toàn “bịa đặt” .

– Bà Thư Linh đổ lỗi cho Thế Phong nhưng lại tự thú với bà Vân Nương và xin lỗi.

– Bà Vân Nương cho bài thơ Hoa tim của bà Linh chỉ là mạo lại, chụp lại (tức đạo văn).

– Câu chuyện dựng lên trong sách giữa Thanh Châu và Vân Nương T.T.Kh là khéo thêu dệt … và vụng về buồn cười. Bà khẳng định bà được giáo dục đàng hoàng trong một gia đình có giáo dục cổ truyền. Bà lên án những bà Thư Linh là vu khống cuộc gặp gỡ bẩn thỉu (cảnh hai người ngã vào nhau).

– Chỉ trích sự hợp tác giữa bà Linh và Thế Nhật đã làm bà bị chị em trong Quỳnh Dao trách cứ (tức cuốn sách vu khống, bôi nhọ, quái gở trên có tác dụng làm sứt mẻ tình bạn của bà).

– Bà châm biếm bà Linh nếu bà Linh nghĩ rằng mình đã kể thật với Thế Phong thì làm gì bà Linh xin lỗi Vân Nương. (Câu này, TĐT vin vào đấy để nghĩ rằng bà Vân Nương đã kể cho bà Linh nghe nhưng bà Linh thêm mắm muối nên bà Vân Nương mới bực. Thực ra, đây chỉ là một lời châm biếm rất cay và giả định ‘nếu thế thì…‘)

.- Bà Vân Nương nghĩ lại lời bà Linh đã dỗ dành mà bà cho là dỗ dành con nít để bà Vân Nương có tên trong văn học sử. (Bà Thư Linh viết: Nếu chị không giận trách em thì em mong chị làm lơ như không cần tới vụ này để văn học sử ghi tên Vân Nương bằng những nét son thắm làm rạng rỡ cho phụ nữ nước Việt Nam…” sđd tr 167). Bà cho lời dụ dỗ con nít đó là “quái gở”. Bà cho rằng bà Linh chỉ nghĩ tới cái lợi ăn theo T.T.Kh nếu bà chịu nhận là “nôn nóng, mù quáng”.

– Bà nói không trách Thế Nhật vì bà Linh mới là đầu dây mối nhợ là đạo diễn, là tác giả.

– Bài thơ “Sầu thu” là tâm sự của bà khi chồng bị giam ở khám Chí Hòa mà Thư Linh lấy đưa cho Thế Phong để “bới bèo ra bọ”(Thế Nhật khi có được bài này đã lập tức… cài vào câu suy diễn ngay là Vân Nương còn nhớ tình cũ (tức Thanh Châu): “Mà người xa vắng vẫn không hay/Có thấy chàng Ngưu mắt lệ đầy. Cái tâm sự ai oán này của T.T.Kh (hậu chiến) không dễ một sớm một chiều, một năm, nhiều năm mà gần 30 năm (tính từ ngày bài thơ đầu đăng năm 1937) – bài Sầu thu liên hoàn 10 bài sáng tác vào 1962…” (sđd tr 78).

Bài “Sầu thu” làm trong hoàn cảnh nào? Bà Vân Nương nói rõ ràng là bà làm lúc chồng đi tù ở khám Chí Hòa. Chi tiết Lê Ngọc Chấn… không đi ở khám Chí Hòa mà ra tận Côn Đảo (là sai) đã được Thế Nhật ghi vào sách là ba năm nhưng chẳng ghi rõ năm nào?

Ta thấy bà Lê Ngọc Chấn nhắc “ba thu” trong “sầu đọng ba thu một gánh đầy”. Tức là ba năm với nỗi sầu. Bà viết năm 1962, như vậy ông chồng bị tù là năm 1959-60 chăng? Còn như nỗi nhớ bay về với Thanh Châu (tính theo Thế Nhật) thì tất bà phải viết “Hai mươi tám năm một gánh đầy” chứ? Theo TĐT thì “Hai mươi lăm năm một gánh đầy” chứ? Sao gom lại còn có… 3 năm? Bà đếm mùa thu để nhớ người chồng bị tù mới có câu: “Thu tới thu đi người vẫn vắng” nên tức cảnh sinh tình “Sầu thu ghi lại mấy dòng đây“. Chẳng lẽ lúc này mà “Tựa cửa ngóng trông người trở lại” là ngóng Thanh Châu à? Vô tâm đến thế thì thôi! Vắng chồng nên bà có cảm giác “ngoài song lạnh, trâm cài mái lệch phấn hương bay, lược thẩn thờ, hồn lơ lửng“. Chồng bà là người quan chức lớn nên thơ bà Vân Nương mới có “chiến địa vẫy vùng bao chí cả”. Thanh Châu là văn sĩ thì dùng câu ấy cho ông chẳng khác gì thay vì đưa cây viết thì lại đưa súng cho ông viết ư?

Tội nghiệp cho chú Thế Nhật “tìm trong Vân Nương có hình bóng của chồng không? Có, song hình ảnh này cũng mờ ảo lắm, ẩn chìm một cách lạt lẽo, mặc dầu thơ Vân Nương nói về chồng được khoác qua lối xưng tụng Chàng là anh hùng đấu tranh cho lý tưởng (bài Nguồn sống)…” (sđd tr 79).

Vân Nương không lạt lẽo với chồng, trái lại, bà đem nỗi nhớ đó gieo vào từng từ ngữ ở trên. Tình Vợ – Chồng thắm thiết nên bà Vân Nương mới nhắc tới “Uyên thúy xa vời, Men rượu ân tình…”. Chúc mừng đám cưới, người ta thường chúc Song Hỷ với đôi Long – Phụng đỏ chói nhưng gối cưới thường thêu hình hai con chim Uyên và chim Thúy. Thanh Châu và Vân Nương đã uống rượu giao bôi (men rượu ân tình) đã cùng gối Uyên Thúy chưa mà Vân Nương nhắc tới? Câu “Châu về hợp phố dệt thơ hay” (lẽ ra phải viết đúng “Châu về Hợp Phố“), Vân Nương dùng để kết bài thơ “Sầu thu” có điển tích Trung Quốc, nhiều người chắc hiểu. Hợp Phố là một huyện của thành phố Bắc Hải, tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc. Huyện này, ngày xưa có rất nhiều châu báu. Quan huyện bắt dân chúng ngày ngày tìm châu cho chúng nên những hạt Châu mới đi mất hết. Sau có quan huyện mới đổi về là Mạnh Thường vốn rất thanh liêm, thương dân nên các hạt Châu kia tự động trở về. Tích “Châu về Hợp Phố” có từ đấy. Tức vật cũ quý báu trở lại, tìm được lại là vậy. Không phải “hợp phố” viết thường. Vân Nương thời điểm này còn mong “báu vật” Thanh Châu trở về với bà sao? Bà đang có chồng, có con đàn, cháu đống mà còn mong… người tình xưa trở về với bà? Có nghịch lý với sự tự hào về truyến thống gia đình mình: “Chúng tôi là con nhà có giáo dục, cổ truyền…” của bà hay không?

Báu vật đây chính là người chồng Lê Ngọc Chấn đang ở trại giam Chí Hòa (không phải Côn Đảo như Thế Nhật ghi sai). Thanh Châu nào hiện diện trong tâm tưởng Vân Nương mà trông “tới thu sau” để cùng “hàn huyên to nhỏ chung trà ngát” dưới hiên nhà, “tâm sự vơi đầy chén rượu say” với “đón gió thanh bình lên ý đẹp“? Nếu cho Thanh Châu có chữ “Châu” thì Lê Ngọc Chấn cũng có chữ “Ngọc”. Châu với Ngọc không phải châu báu, ngọc ngà của quý báu sao? Khi chồng đi tù mà làm 10 bài thơ liên hoàn nhắc tới Thanh Châu với những từ ngữ vậy?

Bài thơ khác: “Bài thơ cuối thu” của Vân Nương làm năm 1960 (thời gian này hẳn chồng bà đã ở trong tù). Bà mới có thể viết:

… Nhớ những mùa thu trước

Êm cảnh thanh bình

Trăng tà giải lụa thiên thanh

Thế rồi

Bão táp mưa sa

Trăng hoa tàn tạ

Mênh mông sầu ngập biển đời

Trời thu lộng gió đề người sầu thương

Đang có một cuộc sống quan chức cao cấp, chồng làm Tổng Trưởng Quốc Phòng oai phong lẫm liệt, bỗng, đùng một cái, bị… người mình cho đi tù. Đây mới là cảnh “Bão táp mưa sa” chứ xa Thanh Châu (như hai tác giả dệt mộng) làm gì mưa sa bão táp lớn dữ vậy? Nếu có, 4 bài thơ trước T.T.Kh là bà Vân Nương sao không dùng? Trong 4 bài thơ, T.T.Kh chẳng có nhắc thứ chi ghê gớm, động trời, lở đất như thế cả! Một mái gia đình hai vợ chồng 4 đứa con đang êm ấm bỗng, vợ xa chồng, con lìa cha. Phụ – Tử chia ly, Phu – Thê ly tán. Đấy mới là thành ngữ “bão táp mưa sa” đấy các nhà suy diễn ơi!

Như bà Vân Chung mỉa bà Linh, Thế Nhật, chúng ta đừng bắt chước mà “bới bèo ra bọ”!

– Cảnh hai người gặp nhau (ngã trong vòng tay) trong sách là do Thư Linh cung cấp tài liệu giả tưởng, tạo dựng câu chuyện” là “không biết tự trọng nhân cách của người bạn… thần tượng… “.

Vấn đề này, có Phan Đức là nhân chứng chính cho sự phản đối của gia đình em gái bà Vân Nương. Phan Đức trong bài: “T.T.Kh nàng là ai? Cuốn sách được viết ra từ một sự ngộ nhận?” (Chẳng biết đăng ở đâu mà TĐT in nó trong sách mình? Còn Thế Nhật có nhắc nguồn từ tuần báo Thanh Niên trong trong“T.T.KH nàng là ai”, 2001): “Mới đây, tôi có dịp gặp chị Phạm Minh Chi, sinh năm 1954, là con gái thứ ba của ông bà Hà Thượng Nhân (Phạm Xuân Ninh) và Trần Thị Anh Minh (em gái bà Vân Chung). Chị Phạm Minh Chi, hiện ở 333/14/8 Lê Văn Sỹ, quận Tân Bình (TP. HCM), gọi bà Vân Chung bằng bác. Chị Chi trước là giáo viên dạy Pháp văn, nay đã nghỉ. Chị cho biết: ‘Sau khi đọc cuốn T.T.Kh nàng là ai?, tôi thấy sách viết thiếu đứng đắn và sai quá nhiều. Ví dụ, gia đình bác Vân Nương có tám người: bác cả rồi đến một bác gái, bác Vân Nương là thứ ba… Vậy mà sách nói sai là nhà chỉ có năm người, bác Vân Nương là trưởng nữ ‘ở Sài Gòn buôn bán nhỏ, chạy tảo tần nuôi con’. Kỳ thực lúc đó, các anh chị của tôi đã thành gia thất cả rồi và có người sống ở nước ngoài. Đoạn nói ‘phu quân’ (tức bác trai) mê thư ký ở văn phòng luật sư, nơi ông làm việc’ là hoàn toàn biạ đặt, bôi nhọ cả người đã chết. Đoạn tả ông Thanh Châu vào tìm xin gặp bác Vân Chung, vừa viết sai sự thật, vừa viết theo lối rẻ tiền, câu người đọc. Cuộc gặp diễn ra ở nhà bác Vân Chung, sách lại bảo ở nhà tôi. Người cô họ tôi dẫn ông Thanh Châu đi gặp bác Vân Chung, sách lại nói là mẹ tôi dẫn bác đi gặp ông Thanh Châu. Những chi tiết, sự việc đơn giản ấy về gia đình bác tôi rất dễ kiểm chứng, mà người viết còn viết sai sự thậtm huống hồ tin làm sao được chuyện tác giả Thế Nhật bảo bác Vân Chung là T.T.Kh’.

Vậy Thế Nhật căn cứ đâu để đưa ra những thông tin ấy?” (sđd tr 176-177).

– Bà Vân Nương trong thư còn nhấn mạnh về việc bà có là T.T.Kh thì cũng chẳng có gì xấu vì yêu đương là quyền con người. Nhưng bà khẳng định rằng bà không phải là T.T.Kh. Nhận bừa chỉ đón lấy “sự khinh bỉ của người đời”. Bà làm theo Đạo lý và Lương tâm của bà.

– Bà phải lên tiếng vì bà là “nạn nhân” cái mà Thư Linh và Thế Nhật đã “đẻ ra” … “cuốn sách quái gở” do chính bà Thư Linh gây ra.

Một bức thư rõ ràng như thế mà TĐT… phủi tay cho là “có gì nghiêm trọng đâu” thì thật là… đầu óc có… vấn đề! Tức họ Trần phải đổi sang họ Thích… Đình Thu để được “sắc sắc không không“! Người giận ta vì ta đổi họ cho người thì chứng tỏ Vân Nương giận dữ là chuyện thường tình!).


* Độc giảNhư vậy có thể tin rằng T.T.Kh chính là Trần Thị Vân Chung?

– “Tôi biết diễn đạt thế nào cho khỏi bị bắt bẻ về mặt câu chữ đây? Thú thật tôi rất muốn nói như vậy nhưng có lẽ tôi không nên nói thế mà nên nói thế này: tôi tin rằng từ nay về sau khó có ai có thể tìm ra một người nào khác phù ghợp với T.T.Kh hơn Trần thị Vân Chung. Trần Thị Vân Chung sẽ đi vào lịch sử văn học như là một bóng hình kỳ lạ để từ đó người đời soi rọi ra con người thật của T.T.Kh.”.

(Phản hồi: TĐT khi viết sách, rất hiên ngang, chắc như bắp khi tuyên bố xanh rờn: “Thanh Châu chính là người yêu của T.T.Kh” (sđd tr 66), và “bà Vân Chung chính là người yêu của nhà văn Thanh Châu. Đây là thông tin được chính nhà văn Thanh Châu xác nhận” (sđd tr 70). Nhưng khi độc giả hỏi thì TĐT lại mất đi khí phách hiên ngang ấy mà trả lời chẳng chút tự tin chính mình.

Ở đời, những tiêu chí ta cần đó là: Sự can đảm với chữ DŨNG (can đảm nói sự thật, đúng sai cũng là can đảm). Sự thông minh với chữ TRÍ (hiểu người và hiểu mình. Khổng Tử từng dạy học trò: “Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi; Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; Bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại” (Biết người biết ta, trăm trận không nguy; Không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua; Không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại). Sự thông cảm với chữ NHÂN (thương mình và “thương người như thể thương thân”). Tức là Dũng – Trí – Nhân cần có để nắm chữ Thắng trong tay.

TĐT mới vừa có chữ “Dũng” thì đã vội cởi áo giáp. Có nhiều cách nói giảm tu từ cho phép. Ví dụ như nhắc lại người chết thì có thể nói giảm “người ấy… đã đi rồi”. Câu trả lời của TĐT ở trên không phải là câu nói giảm tu từ học với mục đích khiêm tốn, mà là câu nói của một người đã “lỡ leo lưng cọp“. Vì kết bài, TĐT đã “cao ngạo” khi tuyên bố: “Tôi tin rằng tôi là người cuối cùng khép lại được nghi án này sau 70 năm để ngỏ”. Câu này sẽ được hiểu theo một nghĩa duy nhất, ta nói ở sau.

Một khi người giải mã TĐT chưa tin mình, người trong cuộc chẳng thể xuất hiện đàng hoàng như ảo tưởng thì làm sao nhân vật Trần Thị Vân Chung lại đủ tư cách T.T.Kh để “đi vào lịch sử văn học như là một bóng hình kỳ lạ để từ đó người đời soi rọi ra con người thật của T.T.Kh”?

Người đi vào lịch sử văn học viết bậy, chỉ bừa là những ai đã mang nạn nhân Vân Chung vào cuộc để cho lý lịch cá nhân của bà như cá ươn phơi giữa chợ. Người ấy chính là… Thế Nhật và Trần Đình Thu! Ha… Người nổi tam bành với ta làm chi? Chỉ cần người nói “tôi không phải là được rồi“!


* Độc giảAnh đã gặp bà Thư Linh, người đã tiết lộ câu chuyện rằng T.T.Kh chính là Trần Thị Vân Chung cho tác giả Thế Phong để từ đó người đời biết đến bà Vân Chung?
– “Tôi có tìm gặp bà Thư Linh khi cuốn sách của tôi đã viết sắp xong. Tìm gặp với mục đích mượn một số bài thơ của bà Vân Chung để so sánh chứ không phải để hỏi xem bà Vân Chung có phải là T.T.Kh không. Bởi công việc giải mã của tôi độc lập với những thông tin đó. Bà Thư Linh đã cho tôi xem khá nhiều thơ của Vân Chung gửi tặng bà. Bà Thư Linh cho biết bà rất buồn vì mười năm nay tình bạn của bà và bà Vân Chung bị sứt mẻ trầm trọng từ khi Thế Phong viết cuốn sách”.

(Phản hồi: Câu này sẽ có 2 vấn đề: Tìm mượn thơ Vân Chung từ Thư Linh “để so sánh”. Như vậy, TĐT đã có trong tay tư liệu về Vân Chung!? Trong cuốn sách, TĐT cung cấp thơ Vân Nương chỉ có 3 đoạn mà 2 đoạn lại trích y chang của Thế Nhật. Phần này, TĐT lại ghi: “Chúng tôi đã cố gắng sưu tầm được một ít thơ của bà Vân Chung để bạn đọc có thể đánh giá chúng…” (sđd tr 77). Vậy sao, TĐT không ghi thẳng: “Bà Thư Linh đã cung cấp cho tôi một số bài thơ về bà Vân Chung”? Hay ghi thẳng “trích từ sách Thế Nhật”? Hoặc giả, TĐT có thông tin từ nguồn nào khác?

Người làm công việc nghiên cứu không nên câu nệ chuyện trích sao tư liệu người khác. Cái chính là từ tư liệu người, ta dùng bộ máy xây chữ nghĩa, kiến thức vay mượn của người và chữ Trí của ta để xây nhuyễn như người bán sinh tố xây trái cây vậy. Ai uống cho nổi ly sinh tố trái cây còn lợn cợn, lục cục, lạc cạc? Người nông dân cày ruộng mệt chết cha mới có hạt lúa. Lúa xay thành gạo. Người vay mượn hạt gạo này mà không trả, không biết nói tiếng cám ơn thì chỉ là kẻ vô ơn. Văn học cũng thế. Vay mượn rồi trả nhẹ nhàng bằng sự trích dẫn tư liệu là xong. Biến những tư liệu mượn hết của người ta, thậm chí công trình người ta bằng lời văn của mình tức cũng khác nào, ăn trộm nhãn hiệu người rồi dán nhãn hiệu mình lên! Đạo chích Sở Lư Hương “Thánh thủ thần thâu” cũng đâu làm thế!

Điều thứ hai: Chẳng có công trình nghiên cứu văn học nào mà “độc lập” cả. Nếu có thì người ta không ghi “Tư liệu tham khảo” hoặc “Tư liệu thamkhảo có sử dụng“. Nói chắc rằng: Những cuốn sách nghiên cứu văn học nói riêng, không ghi tư liệu tham khảo và dẫn trích câu, đoạn của người khác là những cuốn “đạo văn” mà tác giả là “đạo chích”! Không có nhà nghiên cứu nào mà thuộc lòng giỏi như thế cả. TĐT không thể ngoại lệ khi cho là “công việc giải mã của tôi độc lập với những thông tin đó”.

Đây chính là điều “xạo pà cố” mà Việt Duy trong bài viết phản hồi ngày 20/3/2007 (bài web đd) đã tô đậm dòng hai từ này để mỉa mai tác giả TĐT: “Bởi công việc giải mã của tôi độc lập với những thông tin đó”. Bởi vì những thông tin này qua Thế Nhật từ Thư Linh mà có. Thế Nhật khẳng định trong bức thư “Gửi chị TRẦN THỊ VÂN CHUNG và anh THANH CHÂU”: “Chúng tôi phải cám ơn bà Đ.T.L nhiều, bởi vì bởi vì không có bà thì sẽ không có cuốn sách này…” (sđd tr 84).

Những thông tin này cũng được chính TĐT ghi vào sách mình: “bà Trần Thị Vân Chung, người được tác giả Thế Phong phát hiện ra và tiết lộ trong cuốn sách T.T.KH nàng là ai?. Đây là nhân vật mà đã gây ra nhiều tranh cãi trên công luận năm 1994…” (sđd tr 68-69). Nếu gọi đây là sự phát hiện, Thế Phong (Thế Nhật và Trần Nhật Thu) “nhặt” trước, TĐT tiếp bước theo sau đúng hơn là đồng tác giả. Sách của TĐT có ghi 4 cuốn tư liệu tham khảo thì sao gọi là “giải mã độc lập?”).


Độc giảNếu bà Vân Chung không phải là T.T.Kh thì thôi chứ việc gì mà phải giận lâu như thế? Có lẽ bà Vân Chung là T.T.Kh thật chăng?
 “Cái này thì tùy suy luận của mọi người thôi. Nhưng tôi cũng đồng quan điểm đó”.

(Phản hồi: TĐT cứ lượn lờ… Tại sao không khẳng định: “Vân Chung là T.T.Kh thật” đi. Trả lời trên thì đi hàng hai, tôi muốn nói như thế này nhưng phải nói thế kia… Bây giờ thì lại. “tôi cũng đồng quan điểm?”. Người ta chỉ hỏi phải con này là bươm bướm không? Thay vì, người đó “ừ” thì lại lùng bùng, dây rau muống ừ, à con này có hai cánh mỏng nè, có màu xanh đỏ vàng nè, có phấn nè, cánh lại cứ xập xòe, có thể là con tầm, ừ có thể là con bướm đấy! Người bệnh chờ uống thuốc mà nghe bác sĩ giải nghĩa viên thuốc được cấu thành từ hợp chất này, theo công thức hóa học kia… bật ngửa chết tự hồi nào!).


Độc giảAnh đã tìm cách giải đáp câu hỏi ai có thể là T.T.Kh nhưng anh chưa giải đáp được cái bút danh T.T.Kh có nghĩa gì?
– “Tôi chỉ có thể giả định ai có thể là T.T.Kh mà thôi. Còn vì sao người đó lại lấy cái bút danh khó hiểu đó thì tôi không thể suy luận được. Bởi việc lấy bút danh nhiều khi rất ngẫu hứng, không theo một quy luật nào cả. Tạm thời chúng ta chỉ thấy hai chữ T.T trùng với chữ đầu của họ và tên lót của bà Vân Chung. Còn KH thì không biết do đâu mà có”.

(Phản hồi: Trừ những người lấy họ tên mình làm bút danh, trừ kẻ mạo nhận bút danh. Bút danh cũng chẳng thể tùy hứng. Chẳng có ai có bút danh, bút hiệu mà không có ý nghĩa hay có một sự tích nào đó (do bạn đặt cho, do đánh máy không bỏ dấu, do ghép họ tên người nào thân thích có liên quan tới mình…)

Ví dụ bút danh của nhà thơ Bùi Minh Quốc là Dương Hương Ly. Bút danh này lấy từ tên con và họ vợ. Nhà thơ Bút Tre Đặng Văn Đăng, đánh không có vần thành “Dang Van Dang”. Nguyễn Thứ Lễ lấy bút danh là Thế Lữ (chữ đọc ngược tên thật). Trần Hữu Trí lấy bút danh Nam Cao (theo Trần Hữu Đảng trong “Giai thoại văn học, Nxb VHDT – 2000) là “ghép từ hai chữ đầu của huyện Nam Sang và tổng Nam Đà”…

Ngay cả Trần Thị Vân Chung lấy bút hiệu “Tam Nương” như bà viết: “Tôi là thứ ba, không phải trưởng nữ, thế nên tôi có bút hiệu Tam Nương”.

T.T.Kh là nghĩa gì? TĐT cho là chữ đầu là họ, chữ thứ hai là chữ lót!? Thế Nhật thì cắt nghĩa kỹ lưỡng trong nhân vật Vân Nương – T.T.Kh của mình trên đường đi gặp “tình nhân” cũ: “Bà hình dung lại những phút giây tại sao bà lại đặt là T.T.KH.

 T chữ thứ nhất nghĩa là: TRẦN

– T chữ thứ hai nghĩa là: THANH

– KH. hai chữ sau cùng: KHÓC.

T.T.KH cả hai cùng khóc cho mối tình chân ngoài đời – mối tình thơ trong dòng lệ…” (sđd tr 62).

Hỡi ơi! Sự giải nghĩa cho một bút hiệu T.T.Kh đang đẹp đẽ, đầy ấn tượng thì… xùm! Trần Thanh Khóc là cái quái quỷ gì chứ? Nếu vậy, sao không lấy luôn Trần Thanh Khóc này mà lại ký hiệu T.T.Kh?

Trong khi đó, MGL ý nghĩa hơn: “T.T.KH là ai? Là Trần Thị Khánh, là Thâm Tâm – Khánh là Tuấn Trình – Khánh…” (sđd tr 122).

Vẫn bút hiệu Tuấn Trình – Khánh là ý nghĩa nhất vì mối tình này có thực. Khi Khánh quen TT khoảng thời gian 1936 như Nguyễn Vỹ kể thì lúc đó là Nguyễn Tuấn Trình chứ không Thâm Tâm với Thâm Thủng gì cả. Bút hiệu Thâm Tâm chỉ có trong những bài thơ từ 1940 trở đi theo văn bản. Nếu đoán mò, ta cũng lý giải được: T.T.KH nghĩa là “Tuấn Trình Ký Hiệu”.


Độc giảAnh có nghĩ rằng mình đã khép lại được nghi án này không?
– “
Tôi tin rằng tôi là người cuối cùng khép lại được nghi án này sau 70 năm để ngỏ”. (sđd tr 81-87).

(Phản hồi: TĐT nói không sai vì sau cuốn sách “Giải mã…”, TĐT… giải nghệ luôn. Nghi án T.T.Kh là Trần Thị Vân Chung không có ai nhào ra “nặn tượng” Vân Nương nữa để mà ăn thêm cà chua…).

 

KẾT LUẬN CHUNG:

1. Hai cuốn sách của hai tác giả Thế Nhật và Trần Đình Thu “giải mã” T.T.Kh là Trần Thị Vân Chung không thể là tác phẩm “đồng tác giả” về “phát hiện T.T.Kh là Trần Thị Vân Chung”.

TĐT nếu không ghi chú rõ ràng nguồn tư liệu T.T.Kh là Vân Nương được lấy từ cuốn sách Thế Nhật thì TĐT sẽ vi phạm Điều 736 – Tác giả. Mục I (Quyền tác giả), Chương III (Quyền tác giả và quyền liên quan), Phần thứ sáu (Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ). Điều thứ 2 của Điều 736: Tác giả: “Người sáng tạo ra tác phẩm phát sinh từ tác phẩm của người khác bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phát sinh đó” (sđd tr 276-277).

Trái với điều này là vi phạm luật dân sự. Sách của TĐT phát sinh từ sách của Thế Nhật nhưng không phải là dịch sách Thế Nhật. Sách của TĐT không phải là phóng tác, cải biên, chuyển thể, chú giải, tuyển chọn…

Tác phẩm truyện dịch thì ta hình dung dễ dàng rồi. Nói về thơ, ví dụ bài thơ “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế có nhiều tác giả dịch: Tản Đà (có người cho là của Nguyễn Hàm Ninh) Thích Quảng Sư, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Nguyễn Hàm Ninh, Ngô Tất Tố… Từ bài thơ này, J.Lieba Lê Văn Bái có “Thuyền dạo Hồ Đông”. Tác phẩm phóng tác có bản nhạc “Nếu tôi lấy được cầu vòng” của Mai Đức Linh từ thơ Vương Ngọc Long (vuonghaida.com). Tác phẩm phim “Người ngựa, ngựa người” phóng tác từ truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan. Hoàng Cầm có “Hận ngày xanh” phóng tác từ Alphonse Marie Louis de Prat de Lamartine… Những vở Tuồng, Chèo dân gian “Ngao, Sò, Ốc, Hến”, “Tấm Cám” hay truyện kiếm hiệp của Kim Dung được cải biên thành thêm chữ “Tân Thời”…

Giải mã nghi án văn học T.T.Kh” của TĐT nếu lọt vào trong nhóm “phóng tác” từ sách Thế Nhật nói trên mới được hưởng “Quyền tác giả” nhưng TĐT lại cho mình viết “độc lập” mới lớn chuyện ra.

Nhưng “Phóng tác” là thể loại nhập nhằng dễ bị xếp vào “đạo văn” nhất. Ví dụ như bản nhạc “Tuổi 16” của Phạm Quốc Bảo Theo kết luận của Hội Âm Nhạc Sài Gòn, ca khúc Tuổi 16 của nhạc sĩ Quốc Bảo và ca khúc Renaissance fair của Ritchie Blackmore y chang nhau đến 100% về hòa âm, giống nhau 90% về cấu trúc và 60% về giai điệu. Dư luận trong giới nghệ sĩ Sài Gòn cho rằng: Nếu như Tuổi 16 được Quốc Bảo viết trước khi “gặp” Blackmore’s night những hai năm thì tại sao Quốc Bảo lại dễ dàng chấp nhận là Tuổi 16 được “gợi ý/ phóng tác” từ Renaissance fair?” (nguoiviet.online). Đạo nhạc rồi còn gì!

Nhưng (lại nhưng), Việt Nam là nước có bộ luật rắc rối, phức tạp, khó định hướng, hình dung nhất thế giới. Nhờ đó, những ngõ ngách vẫn… bỏ ngõ cho những luật sư muốn cải trắng thành đen, đen thành trắng cỡ nào cũng được.

2. Về cá nhân: Hai tác giả Thế Nhật và TĐT cả Thư Linh Đỗ Thị Lạc là người chịu trách nhiệm về việc xâm phạm đời tư nhân thân Trần Thị Vân Chung theo Luật Dân Sự (Điều 38 Quyền bí mật đời tư – đã trích rõ ở phần trên – và Điều 31 Quyền cá nhân đối với hình ảnh“1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. 2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý, trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác. 3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh” (sđd tr 19-20).

Hai cuốn sách đều in hai tấm hình ghi chú là của bà Trần Thị Vân Chung (Hình này lấy từ Thư Linh? Không xin phép Vân Chung?). Thế nhưng, hình trong bức ảnh không phải của Vân Chung mà là của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương. Trong sách Thế Nhật cũng có một tấm hình Vân Chung. Đối chiếu với hình vợ chồng Vân Chung chụp chung với các nữ sĩ trong Hội thơ Quỳnh Dao vào tháng 12/1984 trong sách NTK thì chẳng giống: Vân Nương trong sách NTK mặt đầy đặn, nôm phúc hậu chứ không có mặt dài, hai gò má “sát phu” quá cao với chiếc mũi to như ảnh trong sách Thế Nhật và TĐT. Thế Nhật ghi chú sai người. Tại sao TĐT lại sai giống cái sai của Thế Nhật? Dù là hình của ai, đã ghi chú bên dưới là Trần Thị Vân Chung đưa vào sách mình thì hai tác giả vẫn chịu luật dân sự như thường.

Bà Vân Chung theo Điều 24 Quyền nhân thân, Điều 25 Quyền bảo vệ nhân thân, Điều 37 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm và uy tín, Điều 38 Quyền bí mật đời tư… có quyền khởi tố từ Dân sự sang Hình sự theo Điều 29 Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan, Điều 30 Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra, Điều 31 Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, Điều 51 Người bị hại (thể chất, tinh thần… ).

3. Về cơ quan:

+ Văn Hóa – Thông Tin:

– T.T.KH nàng là ai?” 1994 của Thế Nhật. Chịu trách nhiệm xuất bản: Quang Huy. Chịu trách nhiệm biên tập: Phú Ninh.

– “T.T.KH nàng là ai?” 2001của Thế Nhật. Chịu trách nhiệm xuất bản: Vũ An Chương. Chịu trách nhiệm biên tập: Linh Ngọc.

+ Văn Hóa – Sài Gòn:

– “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh” 2007 của TĐT. Chịu trách nhiệm xuất bản: Đỗ Thị Phấn. Chịu trách nhiệm biên tập: Trúc Phương.

Hai nhà xuất bản và các đương sự có tên trên phải chịu trách nhiệm Dân sự và Hình sự trước pháp luật.

4. Tất cả những đối tượng cá nhân và tập thể nói trên phạm những điều cơ bản nói trên sẽ vô hiệu lực theo Điều 9 của Luật Tố Tụnh Hình Sự: “Không có ai bị coi là phạm tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật“.

Tức không có người khiếu nại, kiện thưa thì làm gì có bản án của Tòa án. Đây là “vẽ đường hưu chạy” của luật!

Vậy, chúng ta hãy tự xử với nhau theo… Luật Giang Hồ!!?? Thế nhưng, không có bản án nào có giá trị bằng bản án của LƯƠNG TÂM

TRẦN THỊ VÂN CHUNG – VÂN NƯƠNG NÊN “TIÊN TRÁCH KỶ“:

1. Bà Thư Linh Đỗ Thị Lạc chẳng có lửa mà sao nên khói“. Sự ngộ nhận của bà Thư Linh như Phan Đức chỉ trích trong sách TĐT: “Tôi cho rằng ngay từ đầu, bà Thư Linh đã ngộ nhận từ sự “không phủ định” của bà Vân Nương, để rồi cứ trượt dài trên con đường ngộ nhận. Và tác giả Thế Nhật đã căn cứ vào một ‘tài liệu giả tưởng’ để viết nên cuốn sách…” (sđd tr 178), như NTK lên án: “Thư Linh đã ‘đùa vui’cho Thế Phong rõ chính Vân Nương nhận mình là T.T.Kh. và còn dặn ‘đúng nói cho ai biết nhé'” (sđd tr 207).

Nếu bà Vân Nương chẳng “hé miệng” thì bà Linh làm gì có điều kiện để “hở mồm” thêm chi tiết? Chuyện hai bà nói với nhau như thế nào có trời mới chứng! Chỉ có điều, một chứng cớ không thể nào chối cãi được cho sự ởm ờ của bà Vân Nương mà NTK trong bài: “Huyền thoại, chỉ nên mãi mãi là huyền thoại” đã thắng thắn về bà bạn của mình: “Ở đây về ‘Huyền thoại nàng T.T.Kh’ chính nữa sĩ Vân Nương cũng có một phần lỗi, khi chúng tôi khảo sát và căn cứ khía cạnh tâm lý nữ giới… sau năm 1975, các đấng phu quân của một số chị đi tù cải tạo. Thư Linh Đỗ Thị Lạc là người võ vẽ làm thơ, có thời gian giúp việc trị sự (trông nôm về quảng cáo và tiền bạc) cho tờ Thân Dân của cụ Nguyễn Thế Truyền, tục bản được vài tháng, tòa soạn đặt tại 55A đường Hồ Xuân Hương. Và Thư Linh đến với Hội Thơ Quỳnh Dao, trước là vì thanh khí, sáu với dụng ý riêng chứ không phải với tư cách là một hội viên.

Trong hoàn cảnh ‘nước mất nhà tan’, người ta dễ thân với nhau. Và Thư Linh đã, với dụng ý nào đó, gạn hỏi Vân Nương về ‘vườn Thanh’, về ‘T.T.Kh.: ‘Nghe đâu T.T.Kh là người nguyên quán Thanh Hóa’ rồi đột nhiên ‘hay chính Vân Nương’ là T.T.kh.? Vì thơ Vân Nương phảng phất lời thơ T.T. Kh tiền chiến quá đi!’ Nghe một người ca tụng mình và ngờ mình là một nữ sĩ nổi danh thời tiến chiến với một huyền thoại sử thi kia, quả thật Vân Nương cũng thấy thích. Không kịp nghĩ, Vân Nương đùa, vờ làm vẻ bí mật: ‘- Suỵt, đừng nói cho ai biết nhé!’. Đấy, theo ý tôi, chuyện nữ sĩ Vân Nương là T.T.Kh. vỏn vẹn chỉ có thế… Thư Linh Đỗ Thị Lạc cũng đã ‘đùa vui’ cho Thế Phong rõ chính Vân Nương nhận mình là T.T.Kh. và còn dặn ‘đừng nói cho ai biết nhé!’. Được Thư Linh mách, Thế Phong nẩy ra ý kiến viết và đã thực hiện, bất kể liêm sỉ” (sđd tr 206-207).

Bài thơ này mới là… trò chơi ờ ỡm của Vân Nương:

4. T.T.Kh, Nàng là ai?

Giữa buổi chiều Thu nhạt sắc mây

Thuyền nan một mái thoắt sa lầy!

Đã cam chiếc lá thân lìa cội

Thêm ngán loài ong nọc độc gây.

Mượn áng văn chương cong bút vẽ

Say mồi danh dợi nổi tham đầy

Người Thơ thuở ấy ai đâu nhỉ?

Ta chỉ là ta, ta vẫn đây.

Vân Nương Trần Thị Vân Chung

Novembre 1994. (sđd tr 133).

Nếu Thế Nhật và TĐT “vớ” được bài thơ này, ắt hẳn “Big Bingo” (trúng thưởng bự)! Đầu đề lấy “T.T.Kh, Nàng là ai?”nhưng bài thơ chẳng nói được cái gì mà chỉ à uôm: “Người Thơ thuở ấy ai đâu nhỉ?/ Ta vẫn là ta, ta vẫn đây” thì những thợ săn ngại leo núi cao nào mà chẳng ngộ nhận bà là T.T.Kh?

Bài thơ trên, bà viết sau khi cuốn sách “T.T.KH nàng là ai?” của Thế Nhật tung ra cùng năm 1994 với lá thư gởi Thư Linh vào tháng 10/1994, và thư ngỏ gởi ngày 4/11/1994 phủ nhận mình là T.T.Kh, phản đối cuốn sách viết “quái gở” của Thế Nhật.

Bài này, bà vẫn giữ lối thơ Đường luật quen thuộc từ 1962 đến nay chẳng có gì mới mẻ. Những từ ngữ bà dùng: “loài ong nọc độc, cong bút vẽ, say mồi danh lợi, nổi tham” là ám chỉ hai kẻ Thế Nhật với Thư Linh. Nhưng, ta vẫn thấy có sự chẳng rõ ràng như NTK nói, Phan Đức nhận xét: Bà chẳng khẳng định mà cũng không phủ định. Như câu: “Ta chỉ là ta, ta vẫn đây”.

Về cách viết một bài thơ về tác giả nào hay người nào đó, quy luật chung là mình phải nắm rõ bản chất (hồn) của người đó, nhân vật đó. Ví dụ như Xuân Diệu viết bài thơ “Bá Nha, Trương Chi“, ít ra, ông cũng nắm được cái lõi Trương Chi là người thuyền chài, giỏi thổi sáo. Bá Nha là người đánh đàn: “Anh là người thuyền chài Trương Chi… Ngọn sáo anh vừa chuốt trong lau…  Anh là người gảy đàn Bá Nha. Một khúc mê đời ca lại ca”.

Hay Trần Mạnh Hảo viết bài thơ chơi chữ 4 câu “Nam Cao“, ít ra cũng nắm được ông là tác giả của truyện ngắn “Chí Phèo” với câu: “Chí ở đâu rồi phèo ở đây/ Thị qua làm nở toét thời nay/ Người nam cao quá nên trời thấp/ Mòn chút tao thôi để sống mày…”…. Những bài thơ với những tựa đề tác giả: Hồ Xuân Hương, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Tản Đà… nằm la liệt trên đường văn học. Bài “T.T.Kh nàng là ai?” của Vân Nương chẳng nói ra được cái lõi gì của nhân vật và cuốn sách này? Không khéo, cháu con lại tiếp tục vin vào nửa không, nửa gật của bà để gán ghép tiếp!

Chiếu theo luật trên, người cung cấp thông tin T.T.Kh là Vân Nương chính là… Vân Nương Trần Thị Vân Chung. Bà cũng không trách khỏi… can phạm.

Xâm phạm đời tư, hiện nay là mốt thịnh hành với biết bao cách thức để… hot nhiều thì hốt cũng nhiều. Cựu phu nhân thứ hai của Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy, bà Cécilia Ciganer – Albeniz đã kiện tác giả Anna Bitton với cuốn “Cécilia” vì cuốn này xâm phạm đời tư của bà.
Tiên trách kỷ. Hậu trách nhân“. Chúng ta nên lấy đó mà ngẫm nghĩ…

Chê khen đúng mực? Một tác giả vô danh (tialia.com) đã khen cuốn sách của Thế Nhật, ĐTL và Vân Nương: “Tôi xin gửi đến bà Vân Chung lời cảm khích vô cùng về những cống hiến của bà cho nền văn học Việt Nam, cảm ơn nhà văn Thế Nhật, bà Đ.T.L cùng những người yêu T.T.KH. Ruốt cuộc cái nghi án văn học. nay đã được công bố”.!!??

Trong khi đó, tác giả Trần Văn Hai (vietbao.com) đã chửi những ai: “Dùng văn chương để ca ngợi Trịnh Công Sơn là những tên bồi bút”??!!

Khen, chê cũng là một hình thức tu từ để người soi mình trong gương thần. Song, khen đúng chỗ, chê đúng người vẫn còn là những dấu hỏi cho những người làm văn học chân chính. Nhưng, người làm văn học chân chính lại như… lá mùa thu…

Vân Nương đáng chê ở chỗ ởm ờ. Thư Linh đáng chê ở chỗ thêu dệt. Thế Nhật đáng chê ở chỗ viết bừa. Trần Nhật Thu đáng chê ở chỗ suy bậy. Còn… Ngọc Thiên… Lôi đáng chê ở chỗ… !

KHẲNG ĐỊNH CUỐI

+ Trần Thị Vân Chung – Vân Nương: 1. Thơ làm sau năm 1950. 2. Thơ toàn thể Đường luật thất ngôn bát cú và liên hoàn. 3. Thơ “Cựu” chứ không “Tân”4. Nội dung thơ không có gì về hoa Ti-Gôn tức không mang một trong những nội dung gì về thơ T.T.Kh ngoài mùa thu chung của thi ca. 5. Đám cưới tháng 12/1939 chứ không phải 1934 hay 1937 trở về trước.

Do đó, Vân Nương không thể là T.T.Kh.

* Cần nói thêm: Ông Tân Đạt Dân, báo Chuông Mây (VNTNTCTT sđd tr 431) ghi: “T.T.Kh còn có bài Trả lại cho đời cánh hoa tim làm sau khi hay tin thi sĩ Thâm Tâm qua đời:

T… hỡi, người yêu của tôi ơi!

Hồn thiêng anh ở tận phương trời

Biết chăng muôn thuở tình căm hận

Tình chết em mang lại cõi đời.”

Đoạn thơ nhại lại đầu bài “Máu máu Ti-Gôn” ký Thâm Tâm với “K hỡi, người yêu của tôi ơi…”. Nếu Vân Nương là T.T.Kh, bà… khùng hay sao mà khóc “T… hỡi”? Nếu T là Thanh trong Thanh Châu, không lẽ Thanh Châu chưa chết mà bà lại làm “điếu văn”? Nhưng đây chỉ là một đoạn thơ “tâm thần”, ta chỉ tham khảo để biết thêm những ai gây nên chuyện này mới là người đáng trách. Không gió, cây làm sao lay!

+ T.T.Kh:

1. Thơ làm khoảng 1937 – 1938. 2. Thơ Thất ngôn tự do (chỉ một bài lục bát). 3. Thơ “Tân” chứ không “Cựu”. 4. Nội dung thơ có hoa Ti-Gôn là chính với mùa thu khô, người yêu là một chàng nghệ sĩ, với điểm vườn Thanh, chồng nghiêm, luống tuổi, lạt lẽo ái ân… 5. Có chồng năm 1937 hay trước đó theo nội dung bài thơ.

Do đó, T.T.Kh chẳng thể là Vân Nương.

+ Thanh Châu: 1. Không hề khẳng định T.T.Kh là Vân Chung. 2. Không dính líu gì tới nội dung trong 4 bài thơ T.T.Kh. 3. Là nhà báo chứ không là nghệ sĩ. Là nhà văn chứ không phải là “nhà thơ”, nhân vật chính trong 4 bài thơ T.T.Kh đã nhiếc “bán thơ anh”! Do đó, Thanh Châu có thể là người yêu của Vân Nương nhưng Thanh Châu không thể là người yêu của T.T.Kh.

+ Người có lỗi: Chính là Thâm Tâm. Bút hiệu T.T.Kh, và Thâm Tâm tranh sáng, tranh tối. Không phải mình làm, mình cũng chẳng đính chính để tạo một sự phiền phức cho văn học.

+ Nền Văn học: Giải thưởng Nhà nước năm 2007 truy tặng cho TT là công lao đóng góp gì ngoài đóng góp cho văn học trong bộ quân phục Vệ quốc quân? Thế nhưng, một người được giải thưởng Nhà nước mà lý lịch chết sống không rõ ràng! Những bài thơ lẫn lộn sen, bùn. Giá trị nhân văn bị giáng cấp vì những bài ký bút hiệu Thâm Tâm. Gia tài văn học chưa có bao nhiêu. Nguồn tư liệu chính lại như mất gốc. Giải thưởng Nhà nước trao cho một tác giả như thế là chưa thuyết phục được bạn đọc. Muốn TT nhận đúng giải thưởng, đúng giá trị xứng đáng công sức đóng góp của TT cho nền văn học, những người có trách nhiệm phải có một hội thảo về TT để thống nhất tiểu sử, các bài thơ đúng của TT chỉ được một khai sinh và bấy nhiêu từ, bấy nhiêu câu, bấy nhiêu đoạn, bấy nhiêu giá trị. Một hội thảo văn học quan trọng và thiết thực về TT còn bỏ ngõ… bấy lâu nay!

Cũng xin có một lời khuyên: Những nhà nghiên cứu nên đầu tư về giá trị thi pháp của những tác giả có liên quan về TT và T.T.Kh. Chúng ta đừng đổ vào văn học những gì mà văn học đang thải ra. Những người xuất bản thơ, truyện… TT nên nhớ ghi nguồn gốc và phải có ảnh chụp lại những tư liệu cũ làm bằng chứng. Nếu không, những cuốn sách về TT của quý vị chỉ chạy theo thị hiếu độc giả mà quên đi chức năng thẩm mỹ của tác phẩm: Giáo dục và hướng thiện con người.

Vài lời trước khi khép sách.

Độc giả đã cùng “cười, chau mày, hài lòng hay bực bội” khi khi đọc xong cuốn Huyền thoại Hoa Ti-Gôn”. Những vấn đề còn tồn đọng, chờ người yêu văn học, quý mến TT tiếp bước đoạn đường nào còn “xốc ổ gà” trong phần đi tìm thi pháp thơ TT và nhóm bạn.

Người… nhiều chuyện nhưng học vấn hạn chế xin được dừng ở nơi đây. Chúc bạn đọc một đêm dài không mộng mị để có một giấc ngủ vùi trong văn học mênh mông đầy lá thu êm rụng sáng vườn chiều, có tình người qua tay trong mê say, có mưa bay bay trong tiếng gió heo may nhiều trăn trở… ./.

 

Tháng 5 /30/2005

Tháng 10/2008 bổ sung tư liệu.

 

   TƯ LIỆU THAM KHẢO CÓ SỬ DỤNG:

         I. Sách trích đăng:

1. Về những kỷ niệm quê hương (NTK, Nxb PH – 1996).

2. Văn học thời nay (Nxb TTVHTN – 2005).

3. Tuyển tập 450 Ðề và Bài văn (Nxb Ðà Nẵng – 2003).

4. Giảng văn chọn lọc Văn học Việt Nam (Nxb ÐHQG Hà Nội – 2003).

5. Giờ văn ngoài lớp -TS Lê Tiến Dũng (Nxb Trẻ – 2003).

6. Ngữ văn 11 Tập 2 (Nxb GD – 2004).

7. Phân tích – Bình giảng Văn học  lớp 11 Tập II ( Nxb ÐHQG HN – 2005).

8. Từ điển Tác giả -Tác phẩm VHVN (Nxb ÐHSP – 2004).

9. Từ điển Văn học Bộ mới (Nxb Thế Giới – 2004).

10. Thi nhân Việt Nam (HT – HC, Nxb VH – 2003).

11. Giai thoại Văn học (Nguyễn Hữu Ðảng, Nxb VHDT – 2000).

12. Ðường thi tuyển dịch (Trương Đình Tín dịch, Nxb Thuận Hóa – 2003).

13. Giảng văn VHVN (Nxb GD – 2005).

14. Giáo trình Hán văn (Chu Thiên,Nxb TPHCM – 2003).

15. Ðại cương lịch sử VN Tập III ( Nxb GD – 2004).

16. Lịch sử VN Tập II (Nxb KHXH – 2004).

17. Văn học 10,11,12 Tập II (Nxb GD 2003 – 2004 – 2005).

18. Thi đàn ”Hương thời gian 1 (Cali – 2005).

19. Việt Nam thi nhân tiền chiến toàn tập (NTL, Nxb VH – 2000).

20. Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên, Nxb GD – 2006).

21. Thơ Thâm Tâm (MGL, Nxb VH – 1988).

22. T.T.KH nàng là ai? (Thế Nhật, Nxb VHTT – 1994) và “T.T.KH nàng là ai?” (Thế Nhật, Nxb VHTT – 2001).

23. Thâm Tâm và T.T.Kh (Hoài Việt, Nxb VH – 1997).

24.  Giải mã nghi án văn học T.T.Kh (TĐT, Nxb VHSG– 2007).

25. Bộ luật tố tụng hình sự (Nxb LĐ-XH – 2005).

26. Bộ luật dân sự (Nxb LĐ-XH – 2005).

27. Sử ký Tư Mã Thiên (Nhữ Thành dịch, Nxn VH – 1988).

       II. Bài viết:

1. Nhà thơ Thâm Tâm (Vũ Quần Phương, vnthuquan.net).

2. Hai sắc hoa Ti-Gôn – Bức thông điệp màu thắm pha. (Nguyễn Nhật Huy, suutap.com).

3. Chọn 10 nhà thơ lớn và 10 bài thơ hay nhất thế kỷ trong văn học Việt Nam (Phan Thư Soan, suu tap.com).

4.  Ký sự nhân vật “Nguyễn Thạch Kiên, nhà văn tiền chiến, tám mươi chưa muốn buông bút” (Huy Phương, perso.wanadoo.fr).

5. Tống biệt hành (Nguyễn Hưng Quốc, vhvn.com).

6. Thâm Tâm với danh tác Tống biệt hành (Huyền Viêm, newvietart.com).

7. Giải mã nghi án văn học chưa biết đúng sai nhưng chắc là phạmluật (Việt Duy, newvietart.com).

8. Thâm Tâm một thời và mãi mãi (Văn Giá, thotre.com).

9. Nhà thơ: liệt sĩ Thâm Tâm: Siêu thoát nơi bản nhỏ (Hoàng Quảng Yên, qdnd.vn).

10. Những phút cuối cùng của Thâm Tâm (Trúc Kỳ, qdnd.vn).

11. Các giá trị văn học và tiếp nhận văn học (Lê Ngọc Trà, Văn học lớp 12, Nxb GD – 2000).

12. Phá vỡ ‘Nghi án T.T.KH.và Thâm Tâm (Nguyễn Tố, báo Sống 15/4/1967, VNTNTCTT, Nxb VH – 2000).

13. Đặc khảo về loài những ‘Loài hoa tim rướm máu’ ” (Lê Văn Lân, nguoi-viet.com).

14. Lịch Sách Vạn Niên (Hồ Thị Lạc dịch, Nxb VHDT – 1997).

15. Tác giả bài thơ ‘Hai sắc hoa ty gôn là ai? (Thụy Khê, thuykhe.free).

16. Thử nhìn lại T.T.KH. Nhà thơ nữ ẩn danh hay mượn danh (Hạc Bút Ông, anthonyha.gotdns.com).

17. Lược sử văn nghệ (Thế Phong, newvietart.com) (Lược  sử văn nghệ Việt Nam, Nhà văn tiền chiến 1930-1945, Nxb Vàng son, Saigon – 1974.

18. Nhà văn Thanh Châu ra đi, T.T.Kh vẫn bí ẩn! (Trần Nhật Thu, nguoilaodong.online, ngày 13/05/2007).

19. Suýt nữa không có Hai sắc hoa ti gôn (Anh Chi, nguoidaibieu.com.vn).

20. T.T.Kh nàng là ai? Cuốn sách được viết ra từ một sự ngộ nhận? (Phan Đức, TĐT, sđd).

21. Các phần khác:
         + Lí luận văn học: Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Xuân Hạnh, Lê Ngọc Trà…

+ Bài liên quan đến cuốn Huyền thoại hoa Ti-Gôn, T.T.Kh và TT của: Mã Giang Lân, Thanh Châu, Hoàng Tiến, Nguyễn Thạch Kiên, Anh Đào, Hoài Anh, Nguyễn Vỹ, Bùi Viết Tân, Hồ Thông, Đỗ Nhân Tâm, Lê Công Tâm, Hoàng Tấn, Ngân Giang, Nguyễn Tấn Long, Vũ Bằng, Vũ Cao, Mai Hương, Lê Chí Dũng, Hoài Việt, Văn Tâm, Lưu Khánh Thơ, Thế Phong, Thế Nhật, Trần Nhật Thu, Trần Thị Vân Chung…

+ Thơ, truyện, nhạc với các tác giả: T.T.Kh, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Đinh Hùng, Nguyễn Bính, J. Leiba, Vũ Đình Liên, Huy Cận, Tế Hanh, Phạm Hầu, Nguyễn Đình Thư, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Sa, Duyên Anh, Nguyễn Phan Hách, Hữu Thỉnh, Trần Anh Thái, Xuân Quỳnh, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên, Ý Nhi, Lưu Trọng Lư, Du Tử Lê, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Quách Xuân Sơn, Thùy Lam, Trần Quốc Sỹ, Hồ Drếnh, Tâm Thư, Mạc Phương Đình, Thuận Hữu, Hoàng Thi Thơ, Phạm Văn Bình, Thế Lữ, Tố Hữu, Chu Mạnh Trinh, Thái Can, Phan Văn Dật, Hoàng Trúc Ly, Quang Dũng, Vũ Đình Trường, Nguyễn Phúc Ân Bình, Gia Phong, Bích Khuyên, Thủy Lâm Synh, Lê Đạt, Hoàng Định Nam, Trần Tiến, Đinh Thu Hiền, Khương Hữu Dụng, Đỗ Trung Lai, Trần Chấn Uy, Trịnh Lâm Ngân, Trịnh Công Sơn, Đặng Dung, Phạm Hồng Thái, Hữu Loan, Bùi Minh Quốc, Nhật Quang, Nguyễn Nhật Ánh, Trần Quốc Hoàn, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tất Nhiên, Duy Thái, Nguyễn Nhật Ánh, Phạm Duy, Nguyễn Trọng Tạo, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Anh Nông, Nguyễn Văn Duy, Lã Thế Phong, Đỗ Trung Quân, Fyodor Ivanovich Tyutchev, Trần Ngọc Tuấn, Vũ Quần Phương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Miên Du, Hoàng Phùng Miên, Nam Trân, Huy Thông, Nguyễn Công Trứ, Đức Hồ, Thư Linh, Vân Nương…

Thơ các nhà thơ Đường…., các hình ảnh minh họa… đều trích từ các cuốn sách nói trên và các web dưới đây:

          III. Web dẫn trích: vi.wikipedia.org, nguoi-viet.com, thanhtung.com, hanoimoi.com.vn, members.cox.net, anthonyha.gotdns.com, comp.nus.edu.sg,dactrung.net, thotre.com, binhthuan.gov.vn, biennho.net, tuoitho.net,.cinet.gov.vn, vinhhao.netmy.opera.com, 5nam.ttvnol.com, vietkiem.com, thehe8x.net, vietnamlibrary.informe.com, 4vn.net, vhvn.com, vietnamsingle.com, lehongphong.net, thovn.net, annonymous.online.fr, langdu.wordpress.com, thotre.com, my.opera.com, newvietart.com myheartmoscow.wordpress.com, khánhly.net, thivien.net, hoasontrang.com.suutap.com, perso.wanadoo.fr, hanoimoi.com.vn, members.cox.net, anthonyha.gotdns.com, comp.nus.edu.sg, binhthuan.gov.vn, avsnonline.net, dantri.com, xuquang.com, vn.net, nguoilaodong.online, nguoidaibieu.com.vn, eVăn.vnexpress.net, anthonyha, gotdns.com…

Xin trân trọng cảm ơn.

 

Chịu trách nhiệm xuất bản: Trung Trung Đỉnh

Biên tập: Tạ Duy Anh

Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2008.

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 1]

    Chuyên luận Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình Văn học Lời giới thiệu Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có một tác giả tạo ra nhiều huyền hoặc, mâu thuẫn nghịch…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 2]

    B: T.T. KH LÀ AI?:     I. Sự liên quan giữa ''Người'' và ''Người ấy'' trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 3]

    b. Những bài thơ của T.T.Kh:                    + Bài số 1: HSHTG.                              Huyền thoại hoa Ti-Gôn Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 4]

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá? 1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình: Bùi Viết Tân kể trong "Thâm Tâm là T.T.Kh?" (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 5]

    Hai bài cùng thi pháp hay không? Điều đáng chú ý: Bài "Các anh" 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách: Hơi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 6]

    * Bích Khê (BK): Trong 74 bài thơ (thivien.net,dactrung.net), có 12 bài: "Mộng cầm ca, Nhạc, Tranh lõa thề, Sọ người, Đồ mi hoa, Bàn chân, Một cõi đời, Trái tim, Cô gái ngây thơ, Cặp mắt,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 7]

     3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính: Đây là "tình nghi viên" sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”. - HT-HC trong "Thi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 8]

    V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?            1. Vài suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 9]

    IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm "Tống biệt hành" (TBH) của Thâm Tâm (TT): Dựa trên bản cũ nhất của HT - HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 1]

    HUYỀN THOẠI HOA TI GÔN - PHẦN II A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất: Thời gian 1937 - 1938, do những va chạm mảng (họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 2]

    4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối... lãnh đủ:               a. "Tiền bối" Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình: Trên (newvietart.com): Về cuốn "T.T.KH - Nàng là ai?": "khen thì…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 3]

    DƯỚI GIÀN HOA MÁU Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là... mơ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 4]

    Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ? Danh từ "nghệ sĩ" chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại... Ví…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 5]

    VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI? * Độc giả: Thưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [PHẦN TÓM LƯỢC]

    HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN TÓM LƯỢC (*) Nhà thơ Thâm Tâm tức Nguyễn Tuấn Trình cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống 1936 bằng làm thơ và vẽ tranh… Tại Hà Nội, anh đã gặp…