Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ?

Danh từ “nghệ sĩ” chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại… Ví dụ như nói về ca sĩ Nguyễn Hưng, Nguyễn Vi Túy (vantuyen.net) đã ví là “chàng nghệ sĩ đa tài“. Nói về diễn viên Quyền Linh, giới văn nghệ hay dùng “chàng nghệ sĩ nông dân“. Với Kim Cương thì là “chàng nghệ sĩ không bằng cấp” (dantri.com)… Thuật ngữ “Nghệ sĩ” ít khi dùng cho giới chuyên cầm bút. Giới chuyên cầm bút đã có từ “Văn, Thi sĩ” rồi.

Thanh Châu viết báo, viết truyện. Ông không phải là nghệ sĩ. Ông là nhà báo, nhà văn. Cho nên, hai câu “Nhưng chàng nghệ sĩ từ đâu lại. Êm ái trao tôi một vết thương” áp đặt vào nhà văn Thanh Châu chẳng xuôi tai. Nói với ra ngoài một chút: Nhân vật trong truyện “Hoa Ti-Gôn” là họa sư – họa sĩ. Ngoài đời, Nguyễn Tuấn Trình tức TT là họa sĩ. Không ám chỉ TT thì thôi, lôi văn sĩ Thanh Châu vào làm “Nghệ sĩ” gì!

Bùi Giáng cũng chỉ cho mình là “trung niên thi sĩ”. Nguyễn Vỹ khi viết sách về 37 cây bút, cũng chỉ ghi: “Văn Thi  sĩ tiền chiến” chứ không ghi “Nghệ sĩ tiền chiến”! HT – HC tuyển thơ cũng chỉ ghi TNVN chứ đâu ghi “Nghệ sĩ Việt Nam”! Nhưng người ta lại dùng “Hội nghệ sĩ Việt Nam” bao gồm các thành phần Sân khấu, Hội họa, Âm nhạc, Điêu khắc, Nhiếp ảnh… Các cây bút làm thơ, viết truyện (đơn xin gia nhập hẳn hoi) thì nằm trong… chuồng “Hội nhà văn”. Phần còn lại không thèm vào hay chưa được vào thì gọi chung là Văn Thi sĩ…

Cho nên, Thanh Châu không nằm trong nhóm “nghệ sĩ” mà TT được… “nằm”! Còn nữaTT, NB mới có thể “bán thơ anh” chứ Thanh Châu thì đào đâu ra thơ mà bán? Không lẽ, nhân vật T.T.Kh Trần Thị Vân Chung nhầm lẫn đến mức tréo cẳng ngỗng đến thế? Một người đang làm nghề thợ bánh mì kiếm sống thì biểu người ta bán hủ tiếu, bò kho mà ăn đi! Một kẻ đang làm ngư phủ thì biểu người ta lên núi làm tiều phu! Điên hết thuốc chữa!

+ TĐT “bó tay” với ĐACC?

TĐT cùng ý với những người khác về “Bài thơ đan áo” tức ĐACC, không phải là của T.T.Kh với lý do: Đăng khác nơi. Sử dụng khác thể loại. TĐT cho rằng nó “có vẻ thô vụng hơn nhiều… chỗ vần không được nhuyễn”. Nhưng cũng như những người khác, vấn đề tìm ra “thi sĩ” viết bài này, mọi người chê theo nhau mà chê nhưng chẳng biết nó “bị chê” là chỗ nào? TĐT lại lầm thời gian: “Thế nhưng T.T.Kh lại không hề cải chính điều này. Ngược lại trong bài thơ Bài thơ cuối cùng nàng lại nhắc đến nó:

Bài thơ đan áo nay rao bán

Cho khắp người đời thóc mách xem

Hiểu thế nào cho đúng vấn đề này?Ai là người đã viết Bài thơ đan áo? Chúng ta nhớ một điều, Bài thơ đan áo ngoài những bất thường như nói trên, còn có điểm khác biệt rất lớn với ba bài thơ kia. Đó là tác giả không viết cho người ấy mà lại viết cho một người chị nào đó:

Chị ơi, nếu chị đã yêu

Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương

Chi tiết này lại khá khớp với Bài thơ cuối cùng. Trong bài thơ đó, T.T.Kh đã nhắc đến một người nào đó ngoài người ấy:

Chỉ có ba người đã đọc riêng

Bài thơ đan áo của chồng em

Ba người ấy là ai? Phải chăng có mặt cả người chị trong Bài thơ đan áo?” (sđd tr 62-63).

Vậy TĐT có kết luận ai làm bài đó chưa? Người chị đó là chị nào? Ba người đã đọc là người nào? Chính là T.T.Kh: “Chúng tôi cho rằng, bài thơ này cũng là của T.T.Kh nhưng được viết ra trước ba bài thơ kia rất lâu. Chỉ có như thế mới giải thích được chuyện nàng rất giận dữ khi chàng làm lộ Bài thơ đan áo ra ngoài” (TĐT, sđd tr 67). Nghe như có vẻ đủ lý. Giải thích “vì sao Bài thơ đan áo không hay như mấy bài thơ kia“, TĐT lại lý lẽ: “Thật ra điều này cũng hợp lý. Một người có thể làm những bài thơ không hay nhưng sau đó làm được những bài thơ tuyệt tác là điều có thể xảy ra. Đó là do hoàn cảnh sáng tác. Trước đây, T.T.Kh chỉ sáng tác để gửi cho người chị nào đó của mình đọc nên có thể cảm xúc không trào dâng bằng viết cho người mình yêu” (sđd tr 67). Nghe cũng… có lý! Thế nhưng, khi được hỏi:

1. Tại sao T.T.Kh lại mang tâm sự bí ẩn của mình để làm thơ gởi chị nào đó? Người chị đó chắc phải là người quan trọng trong cuộc đời T.T.Kh. T.T.Kh theo Thế Nhật và TĐT là Trần Thị Vân Chung. Vậy sao các tác giả này không hỏi trực tiếp bà để “có thêm chi tiết” trả lời độc giả thắc mắc?

Nguyễn Tố từng khẳng định trên báo “Sống” (NTL, sđd) người đọc ĐACC là cô Tuyết. Cô Tuyết và người chị kia với “người ấy” vị chi là 3 người? Người chị mang bài thơ đi đăng báo? Tình huống nào cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì trong thơ T.T.Kh.

Khai thác một nhân vật (nhân vật lịch sử hay văn học) còn sống, người nghiên cứu có bất cứ quyền hạn của giới nghiên cứu là liên lạc thẳng nhân vật đó để trao đổi với bất kỳ phương pháp nào miễn nhân vật đó tiếp nhận thông tin một cách vui vẻ trong tinh thần văn nghệ “tâm phục, khẩu phục“. Sự nghiên cứu văn học nói riêng hay bất cứ vấn đề nghiên cứu nào nói chung này bắt buộc không phải chỉ để thỏa mãn hiếu kỳ bản thân hay mục đích lợi nhuận nào đó của người nghiên cứu!

T.T.Kh không lý nào làm ĐACC trước “rất lâu”, bài thơ này đưa cho chị đọc, rồi bị rao bán trên “Phụ Nữ Thời Đàm” nếu không phải là “người ấy”? Sau khi thân phận mình bị “rao bán”, T.T.Kh mới làm BTCC. Vậy, hỏi TĐT rằng: HSHTG, BTTN, T.T.Kh làm trong khoảng thời gian nào? Sau hay trước ĐACC? Nếu trước, TĐT đoán mò… trật. Nếu sau, vô lý hơn là chính T.T.Kh “rao bán” tình mình bằng HSHTG, BTTN và BTCC. Không ai khác! TĐT một bước đã sai còn bước nữa…

2. Vân Chung lên xe hoa năm 1934 (theo Thế Nhật, TĐT không phản đối, coi như anh ta đã đồng ý với năm 15 tuổi, Vân Chung lấy quan Huyện Lê Ngọc Chấn?!). Năm 1937, tức 17 tuổi, Vân Chung – T.T.Kh viết bài thơ HSHTG ra mắt độc giả?! Một T.T.Kh 17 tuổi mà TĐT cho rằng: “T.T.Kh đang rất điêu luyện trong thể thơ bảy chữ… “. 17 tuổi, chưa hề làm bài thơ nào đăng báo, lại có hai năm làm vợ người ta, bỗng nhiên cầm bút viết ra là “điêu luyện” ngay. Quả là thiên tài văn học! “Đan áo cho chồng” viết trước nữa thì là năm 1934 – 1936, khi ấy T.T.Kh 15-16 tuổi!?? Ối cha! Thần đồng Trần Đăng Khoa nghe tiếng thì phải mang “thần… vàng” biếu cô bé quàng khăn hỉ mũi chưa sạch này!

Cái gì thì tôi không dám chắc chứ điều này, tôi dám khẳng định rằng, tất cả những ai cầm bút làm thơ, viết văn… ở tuổi mười mấy đều không thể nào làm ra bài đầu tiên mà “điêu luyện” cả. Những sản phẩm của lứa tuổi thanh thiếu niên thật… tức cười. Chúng ngây ngô, thậm chí từ ngữ, vần vè khó mà chỉnh tề chứ đừng nói điêu luyện và hoàn hảo! Thơ tình ướt át như thế thì thật khó mà làm nổi ở tuổi ngoài hai mươi chứ đừng nói mười mấy!

Nhân gian có câu rằng: “Nói dóc cho cóc chui ra. Già háp, nói đẹp tiên nga khỉ gì!”

3. “Người ấy” đã được Thế Nhật và Trần Đình Thu “giải mã” là Thanh Châu. Vậy, Thanh Châu không những là “thủ phạm” gây ra “giết đời nhau” khi tung tin bằng HTG rồi còn đem ĐACC đăng trên “Phụ nữ Thời Đàm”?  Tại sao phải đổi chỗ đăng bài như thế? Có gì làm bằng chứng là Thanh Châu nhận bài thơ này từ T.T.Kh? Hóa ra, Thanh Châu đã lừa phỉnh độc giả và dối cả lương tâm mình khi năm 1939 và 1990 ông còn viết ba bài để chứng minh mình cũng chỉ là một độc giả đang hứng thú vì T.T.Kh chứ không hề dính líu gì!? Điều đó có đúng trên con người một văn sĩ Thanh Châu không? Lợi lộc gì khi nhìn tô phở nghi ngút khói trong cơn đói bụng mà cắn răng không ăn dù bác sĩ cho “ăn tới bến” chẳng chửa nghén, bệnh tật gì mà phải “kiêng cử”!

TĐT chỉ mới thấy bệnh cúm theo mùa (seasonal flu) thì đã vội cho là đại dịch cúm (Pandemic Influenza). Mới thấy vi khuẩn H4N6, H5N2, H9N3 gây bệnh cúm B thì vội kết luận đấy là H5N1 (Avian Influenza) gây ra bệnh cúm gà A (Bird Flu)! Viện dẫn mà cứ lần vòng khác nào TĐT “mang con bỏ chợ!”.

Thế nhưng, Nguyễn Vỹ lại có lý giải được lá thư cô Khánh gởi cho TT để phản đối việc đem chuyện tình lên báo. TT đã lấy nội dung bức thư viết thành BTCC. Chưa nói tin hay không tin nhưng giả thuyết này có lý hơn sự khẳng định nóng vội của TĐT khi cho Thanh Châu lấy thơ T.T.Kh gởi đăng lên báo.

T.T.Kh không hề lên tiếng cải chính là bài thơ đó mình không làm là vì:

– Bài đó chính của T.T.Kh làm. Mình làm mình cãi làm gì mất công!

– T.T.Kh trong thời điểm ấy, chẳng có ai viết bài báo cho ĐACC không phải là của T.T.Kh thì mắc gì đi cãi chính? Nếu có, ai viết, bài gì, đăng ở đâu, năm nào? Sau thời điểm trên, kẻ “nhiều chuyện” của giới “lắm mồm” đào xới mộ lên thì T.T.Kh cũng đã… theo diện ông bà. Ma có biết nói không?

Nguyễn Vỹ đã lên tiếng trong “Thâm Tâm và sự thật về huyền thoại T.T.KH” (Văn thi sĩ tiền chiến, Nhà sách Khai Trí – Sài Gòn, 1970, mục 19, tr 14) về vấn đề này: “Để tôn-trọng thực- tế của những sự-kiện đã qua trong Lịch-sử hay trong Văn-học, để đừng xuyên-tạc những chuyện không có, phải nói ngay rằng tên T.T.Kh. không hề gợi một dư-luận nào ‘xôn xao’ ở thời điểm Tiền-chiến…”.

Chúng ta hiểu đó cũng chính là câu trả lời có hay không có một T.T.Kh bằng xương, bằng thịt hay chỉ là “ốc mượn hồn”, “cốt đồng mượn xác”?

Bà Trần Thị Vân Chung sao không cãi chính? Bởi vì bà có làm đâu mà cãi. Bà có phải “chính y thị là T.T.Kh” đâu mà cãi? Nếu có, bà lấy cái gì ra để mà đính chính? Dù bà có lấy “ba đầu, sáu tai, mười hai lỗ miệng” mà cãi thì thơ nó có tiếng nói riêng của nó. Ai mà tin bà!

TĐT đã “thúc thủ” trước câu hỏi này của thiên hạ như trong cuốn sách chỉ dừng lại ở chỗ “lý” mà không “lẽ”, đưa vào mà không dẫn ra. Tức là làm một hướng dẫn viên mà chẳng biết đường!

“Bài thơ đan áo” tức ĐACC dở hay hay?

TĐT đã chê “vần không được nhuyễn”. Lục bát là cần vần. Vần thơ theo luật chứ không phải vần vè. Trong bài thơ đó, có những vần “không nhuyễn” như TĐT nói, chắc là đây: “Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng/ Hay chăng chị mỗi chiều đông/ Đáng thương những kẻ có chồng như em/Vẫn còn giá lạnh trong tim/ Đan đi đan lại áo len cho chồng. Ai đem lễ giáo giam em/Sống hờ hết kiếp trong duyên trái đời”. (mùng-đông; em-tim; em-duyên trật bản lề).

Đúng là như vậy nhưng người ta đã quen cách mượn vần thông tối đa: ai/ây. ôi/ơi. inh/anh. ồng/ung. im/em. yên/em…

Nếu chê nó không nhuyễn thì người gieo lục bát còn “chưa được nhuyễn” phải nói là Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Bùi Giáng… Ví dụ:

Nguyễn Du: Chỉ một vài câu trong đoạn “Kim Trọng tìm Kiều” trong “Truyện Kiều”:

Nhà tranh vách đất tả tơi,
Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa.

Đánh liều lên tiếng ngoài tường,
Chàng Vương nghe tiếng vội vàng chạy ra.

Vật mình vẫy gió tuôn mưa,
Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai!
Đau đòi đoạn ngất đòi thôi,
Tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê.
Thấy chàng đau nỗi biệt ly,
Nhẫn ngừng ông mới vỗ về giải khuyên:

Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo.
Cùng nhau thề thốt đã nhiều,

Còn tôi tôi một gặp nàng mới thôi!
Nỗi thương nói chẳng hết lời;

Tạ từ sinh mới sụt sùi trở ra.

Nguyễn Bính:

Áo anh

May đôi áo nái làm quà cho anh.
Hẹn cho một hẹn, anh chờ
Em may áo nái bao giờ mới xong?

 

Qua đò biếu áo, yên lòng em tôi.
Đưa anh đến bến đò ngang
Con sào đẩy sóng, thuyền nan lìa bờ.

Đêm cuối cùng

Hội làng mở giữa mùa thu
Trời cao, gió cả, trăng như ban ngày.
Hội làng còn một đêm nay
Gặp em còn một lần này nữa thôi. 

Phường chèo đóng Nhị độ Mai
Sao em lại đứng với người đi xem?
Mấy lần tôi muốn gọi em,
Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ.

Đôi mắt

Vò nhàu chéo áo làm vui
Ướt đôi mắt đẹp nhìn tôi nặng tình
Sông đầy lạnh bến dừa xanh
Kể từ ngày cưới xa anh lần đầu.
Chiều quê lùi lại sau tàu
Mắt em sáng mãi chòm sao trên trời
Đưa chồng vượt biển ra khơi 
Đêm đêm con mắt vì tôi thức ròng…


Còn đây là… Bùi Giáng của… TĐT:

Anh về Bình Dương

Nụ cười Nam Việt yên lành bấy nay
Em về đẩy mộng lên vai
Chào xuân ngả nón bụi ngày gió ru
Mừng vui con mắt ngây thơ
Mây nghiêng như lệ pha mờ chiêm bao

Đi tìm

Ngậm ngùi gió nội lang thang
Theo nồng hơi thở miêng vàng chưa quen
Trời xuân xanh xuống hẹn rằng
Sớm sương đổi lục chiều trăng thay hồng
… Dâu Tần ngả nhánh nghiêng nghiêng
Ôi người cố quận nhìn em phương nào.

Bỏ hai chân xuống

Bỏ hai chân xuống một vùng
Nước truông là lá thu rừng xuống khe

… Níu vai phố rộng xin về
Với cây gió trút với  nắng rung
Bữa trước

Chợt hay tin đã lỡ làng
Chân trời bên ấy mây vàng ra sao
Rừng xanh núi đỏ nghiêng đầu
Ngàn năm vĩnh biệt hội nào thiếu em
Dấu bèo phong vận nín thinh
Sóng phơi trường mộng nước im vô chừng
Ngọn triều hư ảo mông lung
Màu tơ tóc lệch tấm thân xương rờn
Tài hoa tức tưởi khôn hàn
Nắm dư vang đẩy lên ngàn bóng sương

Sầu lục tỉnh

Bóng du ải Bắc phiêu bồng
Thổi sương ngần bạch quyên vòng cõi Nam
Tin Xuân Lục Tỉnh mơ màng
Đồng trăng thủy thảo nguyệt cầm ra hoa.
Sóng

Bỏ nằm tháng ruổi sai dòng
Lỡ làng nước đục đắm hồn tiêu tao.

Những chữ in đậm có gì là “nhuần nhuyễn” vần chưa? Tiếng Việt chỉ có 5 nguyên âm chính: A, O, E, U, I thêm Ă, Â, Ư, Ê, Ô… và ghép vần chính với các phụ âm. Mỗi nguyên âm phát âm khác nhau mới tạo ra từ ngữ nghĩa khác nhau. Ai lại cứ hầm bà lằng cho vần nào cũng là vần thông, vần lưng, vần… bụng bà con, tha hồ mà ghép được như trên thì còn gì là thể lục bát với thi pháp lục bát buộc phải gieo đúng vận, đúng luật? Những câu lục bát non nớt như thế làm hỏng bài thơ chứ đừng nói chi ngữ nghĩa. Nguyễn Du, Nguyễn Bính đã rõ, riêng nhà thơ Bùi Giáng ta được các đại sư tỷ, huynh: Thụy Khê, Hoàng Kim, Nguyễn Vạn Hồng, Đặng Tiến, Thanh Thảo… và nhất là sư huynh Trần Đình Thu “khen không hết lời” trong 13 tiểu đoạn về Bùi Giáng. Vậy, có vì “thương ai thương cả đường đi lối về” mà chẳng để ý tới phần lục bát (Bùi Giáng cũng chuyên lục bát như Nguyễn Bính?!) có những chỗ “chưa được nhuần nhuyễn” như đã chỉ trên?

Vần lục bát “hầm bà lằng” như thế hiện nay, vơ một cái là có một vốc! Không phải nói mà chê bai. Yêu quê hương, yêu đất nước, hay “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào… ” đâu chỉ là cầm súng ra chiến trường! Hạn chế lạm dụng vần thông để vần lục bát của chúng ta trong sáng như tiếng Việt của ta trong trẻo như “pha lê” thì mắc gì phải làm những câu thơ đầy vần vay mượn hay đầy “cách tân” bằng… ngoại ngữ?

“Bài thơ đan áo” hay ĐACC  đứng riêng là một bài thơ có giá trị tố cáo phong tục hủ lậu của chế độ tước quyền tự do yêu đương của người phụ nữ. Nó có giá trị về hai mặt nội dung và nghệ thuật. Hay, dở chỗ nào, chúng ta hãy đọc lại phần I phân tích giá trị các bài thơ T.T.Kh.

Tóm lại: TĐT chỉ căn cứ vào đại từ  phiếm chỉ “Ai” (Trách ai mang cánh ti-gôn ấy) và ngôi nhân xưng thứ hai “Anh” (Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ- Từ đây anh hãy bán thơ anh) với “hoa máu, hoa lòng” (Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung) để kết luận “Thanh Châu chính là người yêu của T.T.Kh” là một phán quyết phiến diện nên dám tuyên bố: “Thật sự ta đã giải mã được vấn đề quan trọng là tìm ra ‘người ấy’ của T.T.Kh” không có cơ sở đứng vững! Bao Thanh Thiên mất đi đã không có truyền nhân! Thật đáng tiếc!

+ Tiêu chí “Ai có thể là T.T.Kh?” của TĐT:

“Thứ nhất, T.T. Kh phải là một người phụ nữ”. Tiêu chí này chẳng tồn tại theo “cách lần theo dấu vết” T.T.Kh của TĐT. Ngôn ngữ thơ cho nhân vật nữ không nhất thiết, tác giả phải là phụ nữ.

“Thứ hai, T.T.Kh phải là người thân thiết với nhà văn Thanh Châu, cụ thể hơn người đó phải là người yêu của nhà văn Thanh Châu”. Tiêu chí này càng không thể tồn tại khi những điều vô lý đưa đến ngộ nhận Thanh Châu (là nghệ sĩ, là nhà thơ, là người lấy “Bài thơ đan áo” để “bán rao” tình yêu trên báo…) là người yêu T.T.Kh như chúng ta đã xét trên.

Lòi ra một Trần Thị Vân Chung từ 1994 trên “T.T.KH – Nàng là ai?” của Thế Nhật, sau 11, 12 năm chạy về với “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh” của TĐT.

Nguồn tư liệu?: Thông tin về thân thế Trần Thị Vân Chung và Thanh Châu trên trang 69-70-71: “bà Vân Chung chính là người yêu của nhà văn Thanh Châu. Đây là thông tin được chính nhà văn Thanh Châu xác nhận – một điều trước đây chưa từng được tiết lộ bởi người trong cuộc…” (sđd tr 70).

Thế tại sao hôm nay, Thanh Châu lại tiết lộ cho người… ngoài cuộc là TĐT? Nếu TĐT đã tin Thanh Châu nói thật Vân Chung là người yêu của ông thì tại sao TĐT lại không tin Thanh Châu khẳng định T.T.Kh không phải là Vân Chung? Nếu Thanh Châu biết rõ T.T.Kh là Trần Thị Vân Chung là người yêu của ông, lời tự nhận với TĐT không khác gì “Lạy ông tôi ở bụi này. Tôi đang trốn dưới gốc cây đó mà”!. Con người ta lúc già hay nhầm lẫn nhưng nhân gian cũng có câu: “Đi xa hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Tức là nhấn mạnh sự thật thà của hai loại già trẻ như nhau. Người đời cũng có câu: “Con chim sắp chết  tiếng kêu đau thương. Người ta sắp chết, lời nói ngay thẳng”. Đây cũng là câu mà Phan Bội Châu ghi lại đầu cuốn “Ngục Trung Thư”:
1. Vì sao Long Tế Quang bắt tôi hạ ngục? Con chim sắp chết, tiếng kêu đau thương; người ta sắp chết, lời nói ngay thẳng. Những lời tôi nói ra đây có ngay thẳng hay chăng, tôi đâu có biết. Nhưng chỉ biết là lời nói của 1 người sắp chết thì có… “
 (xuquang.com). Theo điển tích thời Xuân Thu có Tử Sản – Công Tôn Kiều (vn.net) chuyên dùng lời lẽ đức nhân với vợ. Ông gần chết mới gọi Tử Thái Thúc đến bảo rằng: “Con chim sắp chết cất tiếng bi ai. Con người sắp chết nói lời nói phải, thì ngươi cố mà nghe… “.

TĐT đã gặp Thanh Châu. Ta hãy đọc bài viết của chính TĐT sau khi Thanh Châu mất ngày 8/5/2007 thử xem Thanh Châu “con người sắp mất nói lời thật” như thế nào?

Nhà văn Thanh Châu ra đi, T.T.Kh vẫn bí ẩn!
Tôi có ước nguyện được đứng bên ông trong giây phút cuối cùng bên giường bệnh để nghe ông nói câu này: “Vâng, T.T.Kh chính là người yêu của tôi, là Trần Thị Vân Chung”. Thế nhưng giờ đây đã muộn rồi. Ông đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 8-5-2007.
Nhà văn Thanh Châu sinh năm 1912. Vào năm 1937, khi văn đàn xôn xao về mấy bài thơ của tác giả bí ẩn T.T.Kh, ông đã 25 tuổi, có ít vốn liếng văn chương. Ông sinh ra và lớn lên tại thị xã Thanh Hóa, là quê mẹ. Nơi ấy cũng có một người con gái kém ông 7 tuổi đang sinh sống, tên là Trần Thị Vân Chung. Vào năm 1937, nàng đã 18 tuổi. Trên chuyến tàu định mệnh Hà Nội – Thanh Hóa vào một chiều cuối thu trước đó, hai người đã gặp nhau để khởi đầu một mối tình đầy nước mắt. Cũng một ngày cuối thu cách nay 4 năm, tôi đã đến căn nhà mà nhà văn Thanh Châu ở tại Tân Bình – TPHCM để nghe ông nói về mối tình ấy. Khi đó ông đang nằm trên giường bệnh, nói năng rất khó khăn nhưng vẫn cố gắng trả lời những câu hỏi tò mò của tôi. Dù phải chắp nối để nghe cho rõ câu chuyện nhưng tôi cảm nhận được sự thổn thức trong tim ông khi ông nhắc lại mối tình đã tan vỡ gần bảy mươi năm về trước. Có lẽ đó là lần đầu tiên ông tiết lộ vài chi tiết về mối tình bi thương ấy cho một người nghiên cứu như tôi nghe.
Vì sao tôi đến thăm ông lần ấy? Bởi vì trước đó tôi đã thấy hé mở một số vấn đề rất thú vị trong khi nghiên cứu truyện ngắn Hoa ti-gôn của ông và bốn bài thơ tình của T.T.Kh. Tôi đã chắc rằng giữa hai người này có mối quan hệ dây mơ rễ má gì đó. Công việc giải mã truyện ngắn và bốn bài thơ cho tôi kết quả: T.T.Kh chính là người yêu của nhà văn Thanh Châu. Và thế là tôi đến để hỏi ông, về một mối tình tan vỡ đớn đau vào lúc ông khoảng 22 – 23 tuổi. Tôi đã đưa đích danh Trần Thị Vân Chung ra để hỏi, nhưng trong lòng tôi cứ sợ ông chối, không nhận mình là người yêu của Trần Thị Vân Chung. Vì trước đó mười năm, tác giả Thế Phong đã công bố rằng Trần Thị Vân Chung là người yêu của Thanh Châu nhưng chính Thanh Châu đã lên tiếng rằng hai người chỉ là bạn bè một thuở mà thôi.
Nếu nhà văn Thanh Châu không thừa nhận Trần Thị Vân Chung là người yêu của ông thì kết quả giải mã của tôi vô nghĩa. Vì thế tôi vô cùng hồi hộp khi gõ cửa ngôi nhà vắng vẻ ấy để lên căn gác nhỏ thăm ông. Và, tôi đã lặng người đi khi ông gật đầu trước câu hỏi của tôi. Sợ ông nghe nhầm câu hỏi, tôi phải hỏi đi hỏi lại ba, bốn lần, ghi âm cẩn thận và ông vẫn gật đầu. “Vâng, bà Vân Chung và tôi có yêu nhau”. Sau câu trả lời đó của ông, tôi đi sâu vào chuyện tình và ông đã không ngần ngại kể cho tôi nghe một số tình tiết câu chuyện.
Có lẽ tôi phải trở lại đôi điều mà tôi đã trình bày trong cuốn sách Giải mã nghi án văn học T.T.Kh. Trước đó, nhiều giả định cho rằng T.T.Kh có thể là Thâm Tâm hoặc Nguyễn Bính. Có nghĩa là T.T.Kh là những người đàn ông. Nhưng qua phân tích truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu, các bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn, Bài thơ thứ nhất, Bài thơ cuối cùng và Bài thơ đan áo của T.T.Kh, tôi đã đưa ra được một số tiêu chí khác hẳn để xác định T.T.Kh như sau: Bất cứ nhân vật nào nếu muốn giả định là T.T.Kh thì đó phải là một người phụ nữ và hơn thế nữa, người phụ nữ ấy phải là người yêu của nhà văn Thanh Châu. Ngoài các tiêu chí chính đó, còn có các tiêu chí phụ khác như nhân vật đó phải có độ tuổi hợp lý (đến năm 1937 phải là một thiếu nữ 17 – 18 để có thể đã có chồng dạm hỏi hay lên xe hoa rồi), T.T.Kh phải là một người có sinh hoạt văn học (có thơ đăng báo, in sách)… Và thật kỳ diệu, nhân vật Trần Thị Vân Chung, mà trước đó nhà văn Thế Phong đã phát hiện nhưng chính bà từ chối, có những đặc điểm nhân thân khớp một cách gần như hoàn toàn với T.T.Kh. Tôi chỉ còn phải làm một “phép thử” nhỏ, là xác định xem giữa Thanh Châu và T.T.Kh có mối quan hệ tình cảm thực sự nào không. Vì thế tôi đã đến gặp nhà văn Thanh Châu.
Và tôi đã gặp may. Cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu vì sao nhà văn Thanh Châu lại nói thật với tôi về mối tình này. Theo đó, sau khi gia đình Vân Chung không đồng ý cho hai người lấy nhau, Thanh Châu liền ra Hà Nội học và bắt đầu viết văn, làm báo. Ông mang theo mối tình sầu thảm ấy như ông viết trong bài tùy bút Những cánh hoa tim vào mùa thu năm 1939: “Vì tôi thấy tôi cảm thấu hết được những cái gì là tê tái trong tình ái”. Một thời gian sau, Thanh Châu nhận được thư từ Thanh Hóa của gia đình gửi ra thông báo Vân Chung đã lấy chồng. Dĩ nhiên là Thanh Châu không có mặt trong ngày lên xe hoa đó của nàng (chồng Vân Chung lúc đó đã là một người có vai vị, về sau làm đến tri huyện, cho đến thời chính quyền Sài Gòn, làm đến chức tổng trưởng quốc phòng).
Tôi sung sướng tột độ trước những thông tin từ tiết lộ chân thành này của nhà văn Thanh Châu. Cùng đi với tôi có nhà văn Nguyễn Khoa Đăng, khi đó dù chưa nắm thật rõ việc giải mã của tôi nhưng cũng chia sẻ niềm vui với tôi. Thế là những câu thơ T.T.Kh có thể gắn vào cho Trần Thị Vân Chung.
Chẳng hạn đây là giây phút khi Thanh Châu ra Hà Nội viết văn, làm báo, Vân Chung ở lại thị xã Thanh Hóa một mình trong nỗi tiếc thương:
Ở lại vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
(Bài thơ thứ nhất)
Lúc Vân Chung chuẩn bị lên xe hoa về nhà chồng:
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi! Người ấy có buồn không
(Hai sắc hoa ti-gôn)
Có vô vàn sự trùng khớp nữa mà tôi không thể kể ra hết trong một bài báo nhỏ này. Tôi liền quyết định dấn thêm một bước nữa. Tôi ghé miệng vào tai nhà văn Thanh Châu và hỏi (vì khi đó ông đã khá nặng tai rồi):
– Trần Thị Vân Chung có phải là T.T.Kh không ạ?
Hai, ba lần hỏi ông mới nghe rõ và ngó mặt đi chỗ khác:
-Không! Không phải! Bà Vân Chung không phải là T.T.Kh. Toàn là bày vẽ chuyện.
Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng thất vọng ra mặt. Nhưng tôi thì khác. Tôi không hề đón chờ câu trả lời “Vâng, Trần Thị Vân Chung chính là T.T.Kh” vào lúc này. Dù rằng tôi phải hỏi cho bằng được câu hỏi ấy. Câu trả lời ấy nếu có phải là lúc ông sắp sửa đi xa mãi mãi vào cõi vô cùng. Hoặc có thể là không bao giờ có câu ấy, vì họ đã thề rằng:
Cố quên đi nhé câm mà nín
(Bài thơ thứ nhất)
Sau khi tôi hoàn thành cuốn sách, mấy lần tôi định đem đến tặng ông nhưng rồi tôi lại chần chừ không muốn tặng. Không rõ vì lẽ gì. Thật kỳ lạ. Cho đến hôm nay ông đã đi xa vĩnh viễn. Sáu mươi mấy năm trước Hoài Thanh viết trong Thi nhân Việt Nam: “Ai biết “con người vườn Thanh” bây giờ ra thế nào? Liệu rồi đây người có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối?”. Không biết T.T.Kh nghĩ gì trong ngày buồn này? Bà có thầm đọc những vần thơ đau đớn khi xưa để tiễn biệt nhà văn Thanh Châu về cõi vô cùng:
Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ?
Một mùa thu cũ một lòng đau…
(Bài thơ thứ nhất)
Trần Đình Thu (nguoilaodong.online, ngày 13/05/2007)”.

 Cảm nghĩ: Thanh Châu lúc trên gường bệnh đã 95 tuổi. Ông còn đủ sáng suốt để kể chuyện Vân Chung là người yêu của ông thì câu nói này của ông là “tiếng nói của con chim sắp chết”: – Không! Không phải! Bà Vân Chung không phải là T.T.Kh. Toàn là bày vẽ chuyện”.

Chúng ta tin chắc rằng Thanh Châu đã nói thật một lần cuối trong đời mình. Tức là dù ông và Vân Chung từng có thời yêu nhau nhưng Vân Chung không phải là T.T.Kh!

Khả năng Vân Chung có làm thơ, viết văn, đăng báo sau này nhưng trước đó, theo anh bạn của bà là NTK (người đã giữ bút tích lá thư chửi Thế Nhật và Thư Linh Đỗ Thị Lạc rồi đăng nguyên bút tích trên cuốn “Về những kỷ niệm quê hương”), Vân Nương chỉ tập tò làm thơ sau 1950. Tức là sau khi TT mất. Do đó, nói Vân Nương lúc 13 tuổi đã yêu Thanh Châu, 17 tuổi làm thơ tình điêu luyện là ngược tâm sinh lý con người. TĐT lại “chua” thêm: “Gia đình hai bên cũng đều biết việc này” nhưng cô em Vân Chung là Trần Anh Minh chẳng hề nhận ra chút xíu gì trên người ông anh rễ “xí hụt” này khi gặp mặt năm 1976 trong truyện hư cấu cuộc gặp mặt của đôi tình nhân này? Thanh Châu có thuật “dị dung” như nhân vật trong truyện chưởng của Kim Dung hay dùng chăng?

Trần Thị Vân Chung – T.T.Kh gởi thơ bằng con đường nào?

Bằng đường: Đưa thơ tận tay hay bưu điện? Phần trước, ta đã biết là người trong TTTB như Thanh Châu chỉ nói nhận thư thôi. HT- HC càng không dám khẳng định. Thiên hạ đồn lung tung. Ta chỉ xét về hai đường thì đường nào, Thanh Châu cũng biết “địa chỉ” của T.T.Kh qua dấu bưu điện. Vậy sao ông không tìm cách liên lạc với T.T.Kh Vân Chung khi ấy?

Thanh Châu là người cộng tác chủ chốt trong TTTB. Ông dĩ nhiên biết rõ T.T.Kh là Vân Chung gởi thơ đăng báo ở chỗ ông. Tức là T.T.Kh không thể “vô tâm, vô ý, vô tứ” mà gởi bài. T.T.Kh biết rằng mình khi gởi bài núp bóng T.T.Kh thì chẳng bao giờ mình có nhuận bút. Tức là người làm thơ vô vị lợi. Nhưng vô vị lợi trong chữ Tiền chứ không vô thức với chữ Tình!

T.T.KH Vân Chung tự mình làm mấy bài thơ coi như tự mình khai báo hết, tung… video sex lên mạng đó chứ ai? Thanh Châu chỉ viết có một truyện chẳng ăn chung gì lai lịch của nhân vật trong thơ. Trái lại, T.T.Kh ”tung bốn chưởng” (nếu 4 bài cùng làm hết như TĐT khẳng định) tới tấp “vừa đốt nhà vừa la làng“. Thanh Châu đáng trách chỗ nào? Nếu sau bài HSHT, Thanh Châu viết bài tự nhận mình là người yêu thì T.T.Kh mới “tung chưởng” tiếp chứ? Không lẽ những bài ký Thâm Tâm là do Thanh Châu “tá đao sát nhân” (mượn đao giết người)?

Bài “Những cánh hoa tim” chỉ là cảm xúc về HSHTG rồi Thanh Châu mới kể lại nguồn động lực viết truyện “Hoa Ti-Gôn” của mình. Có ăn nhập gì tới T.T.Kh mấy bài sau? Chúng ta hãy đọc lại bài “Những cánh hoa tim” của Thanh Châu năm 1939 này trong phần trước.

Thanh Châu gặp lại Vân Chung năm nào?

Thế Nhật ghi 1976 đúng với “thư phản đối” của Vân Chung. TĐT ghi chưa đúng thời gian: “Từ đó Thanh Châu không bao giờ còn gặp người yêu xưa nữa cho đến bốn mươi năm sau, khi miền Nam giải phóng, ông tìm vào Sài Gòn để thăm lại cố nhân…” (sđd tr 72). Tính lui năm 1934 Vân Chung lấy chồng (15 tuổi). TĐT ghi: “Sau cú xốc này, Thanh Châu ra Hà Nội sống, Vân Chung ở lại quê nhà. Một thời gian sau thì lấy chồng… Ra Hà Nội một thời gian, Thanh Châu nhận được tin tức từ gia đình nhắn ra cho viết bà Vân Nương chuẩn bị lên xe hoa về nhà chồng… “.

Một thời gian là bao xa? Chi tiết tưởng chừng bé con nhưng nó rất quan trọng để lần ra tuổi tác phù hợp với lý lịch nhân vật thật với nhân vật và hoàn cảnh ra đời của những bài thơ T.T.KH. Mốc 1934 được dựng bởi Thế Nhật lên tới năm 1976 là 42 năm. Nếu tính 40 năm phải từ mốc thật 1976 lùi về 1936. Vân Chung lấy chồng đã hai năm. Thế Nhật tính được thời gian dù thời gian cũng “khống”. TĐT kẻ đi sau, không khái niệm được tốc độ thời gian. Thật là rầy rà!

Một nguồn tư liệu khác về “Nguồn gốc” HSHTG mà Thanh Châu… chẳng hề biết tới?

            “Suýt nữa không có Hai sắc hoa ti gôn

Cuối mùa thu năm 1937, tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy nhận được bài thơ nhan đề Bài thơ thứ nhất, rồi sau đó ít ngày, nhận được một bài thơ nữa, nhan đề Hai sắc hoa ti gôn, đều của một tác giả ký tên T.T.Kh. Sau đó, tòa soạn không nhận được bài thơ nào nữa của T.T.Kh, cũng không biết tác giả này ở đâu.

Sau khi báo đăng hai bài thơ, làng văn xôn xao lắm, nhưng không hề thấy T.T.Kh liên hệ với tòa soạn. Có mấy người đã nhất quyết, T.T.Kh chính là người yêu của mình, nhưng chả có ai đưa ra được chứng cớ thuyết phục. Tác giả T.T.Kh vô hình vô ảnh trong cuộc đời, nhưng thơ của bà được giới phê bình luận bàn náo nhiệt (và không hiểu sao mọi người đã tin chắc ngay rằng T.T.Kh là nữ giới). Đương thời, có người không ngần ngại đánh giá đó là những áng thơ tuyệt tác, nhất là bài Hai sắc hoa ti gôn.
Về những ý kiến cho hai bài thơ đầu tiên đó của T.T.Kh là kiệt tác thì tác giả Thi nhân Việt Nam đã nói rõ quan điểm của mình: “Nói thế đã đành là quá lời, nhưng trong hai bài thơ ấy cũng có những câu thơ xứng đáng với vẻ lâm ly của câu chuyện. Cô bé T.T.Kh yêu…”. Có lẽ, với cách đánh giá như vậy nên Hoài Thanh và Hoài Chân đã không chọn in thơ T.T.Kh vào tập Thi nhân Việt Nam… Tuy vậy, thực tế đời sống văn chương Việt Nam hơn 70 năm qua, T.T.Kh luôn được độc giả mến mộ, nhất là đối với bài Hai sắc hoa ti gôn. Dường như càng trải thêm thời gian, bài thơ này càng biểu lộ vẻ đẹp đặc biệt, càng có sức sống lạ lùng. Chúng tôi nghĩ, nếu có cuộc điều tra tỷ mỷ để tìm hiểu những bài thơ Việt Nam nào trong 70 năm qua được bạn đọc yêu mến nhiều nhất, thì chắc sẽ có cả Hai sắc hoa ti gôn.
Chúng tôi phải trình bày lại sự ra đời và giá trị của bài thơ Hai sắc hoa ti gôn trong đời sống văn chương nước ta như vậy để chúng ta ý thức rằng: nếu không có bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, trong đời sống văn chương nước ta sẽ có sự thiệt thòi lắm! Và trên thực tế, việc đó đã suýt nữa xảy ra. Mà mãi đến năm 1990 chúng tôi mới biết việc ấy…
Năm 1990, nhà văn Ngọc Giao lên thượng thọ, 80 tuổi. Ông nguyên là Thư ký tòa soạn của báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Có một tâm sự ông giữ mãi trong lòng hơn nửa thế kỷ, khi vào tuổi 80 mới thổ lộ với bạn bè tâm giao. Rằng đó là một buổi trưa, cuối mùa thu năm 1937, ở tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Những đồng nghiệp trong tòa soạn đã về nghỉ gần hết, chỉ còn lại Trúc Khê Ngô Văn Triện và Ngọc Giao. Trúc Khê Ngô Văn Triện còn nán lại để dịch Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra quốc ngữ. Ngọc Giao thì đã tiến đến chỗ mắc áo để lấy mũ và ra về. Nhưng đúng lúc đó có tiếng kèn đám ma. Đám tang đang đi qua phố Hàng Bông. Ngọc Giao là người rất sợ nghe tiếng kèn đám ma, nên ông mới nán lại thêm cho xe tang đi qua đã. Đã khoác áo, đội mũ chỉnh chu, ông không muốn quay vào phòng trong mà kéo ghế ngồi tạm lại chỗ gần cửa, gần nơi để cái sọt đựng giấy loại. Không biết điều gì xui khiến, ông đưa tay vào sọt giấy loại, nhặt lên mấy tờ bị vo tròn và quẳng vào đó chờ đi đổ xe rác. Tẩn mẩn, ông vuốt một tờ ra và đọc. Đó là một tờ giấy học trò khổ nhỏ. Một bài thơ. Chữ viết bằng bút chì nguệch ngoạc, nét run, nét mờ, như thể viết ra một lần là xong và gửi luôn cho tòa báo. Lệ của báo là bài lai cảo phải viết trên một mặt giấy sạch sẽ. Còn bài thơ nét chữ bút chì nàylại viết trên cả hai mặt giấy. Nhưng bài thơ đã khiến Ngọc Giao xúc động lạ thường, đó là Hai sắc hoa ti gôn của T.T.Kh. Và ông đã ngồi lặng đi trong mối rung cảm đặc biệt. Rồi ông bước vội đến đưa bài thơ cho Trúc Khê, yêu cầu đọc ngay. Trúc Khê Ngô Văn Triện thấy Ngọc Giao đang quá xúc động, cũng bỏ bút, cầm đọc bài thơ. Và ông cũng ngồi lặng đi, rồi đọc lại lần nữa. Ông già Trúc Khê vỗ tay xuống bàn, nói với Ngọc Giao: “Sao lại có bài thơ tuyệt đến thế này…!” Rồi ngay sau đó, Ngọc Giao gọi ông cai thợ sắp chữ nhà in lên, bảo sắp chữ ngay bài thơ ấy cho số báo sắp ra. Vậy là Hai sắc hoa ti gôn đi vào đời sống thơ ca Việt Nam…
Kể câu chuyện tâm sự mấy mươi năm xưa cũ, nhà văn Ngọc Giao còn cầm bút ghi vào cuốn sổ lưu niệm của một bạn văn cùng thời là nhà văn Phạm Văn Kỳ cũng từng làm thư ký tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết Thứ năm. Những dòng lão nhà văn Ngọc Giao ghi vào sổ lưu bút của lão nhà văn Phạm Văn Kỳ có đoạn: “… Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh bị bỏ rơi sọt rác như vậy đó. Nó càng được bạn đọc nhắc đến bao nhiêu, tôi càng ân hận về lỗi làm ăn cẩu thả, sơ xuất bấy nhiêu… Nếu không có cái đám ma qua phố thổi kèn rầu rĩ đó thì tôi đã đội mũ lên đầu, không cúi xuống sọt rác… thì đóa hải đường Hai sắc hoa ti gôn đành an phận nằm trong đó, rồi người ta mang đi theo thường lệ, người ta phóng lửa đốt cả… Trong đó, rất có thể cả những áng văn hay mà cái anh thư ký tòa soạn quan liêu, nhác lười, cẩu thả đã ném đi!… Câu chuyện pha chút hài hước “nếu không có cái đám ma qua phố…” lại là một tâm sự canh cánh trong lòng nhà văn Ngọc Giao suốt 53 năm trời. Vì tế nhị, nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng giữ kín suốt đời câu chuyện này. Nghĩ rằng, chuyện có thể hữu ích với nghề báo chí văn chương hôm nay, chúng tôi đã xin phép nhà văn Phạm Văn Kỳ và mạn phép nhà văn quá cố Ngọc Giao viết ra trong bài này. Chúng tôi cũng muốn được khép lại bài viết này bằng mấy dòng di bút cao thượng của lão nhà văn Ngọc Giao viết mùa thu năm 1990: “Tôi xin cúi đầu nhận lỗi đã có hành vi bất kính đối với một tài năng văn học. Tôi xin bà mãn xá cho tôi nếu bà đã qua đời, cũng miễn thứ cho tôi nếu bà còn ở cõi thế gian này với mái tóc cũng bạc trắng như tôi, như tất cả chúng ta cùng chung thế hệ đoạn trường văn bút”
. (ANH CHI, nguoidaibieu.com.vn).

Vậy ai là người ném thơ T.T.Kh vào sọt rác theo Ngọc Giao kể? Thanh Châu, TT chức gì trong TTTB? Mỗi ngày… lòi ra mỗi chi tiết thiên trời địa đất không có “triện son”!

Ta thấy có gì đó không thánh thiện khi TĐT đứng bên một cụ già 95 tuổi bệnh nặng, gần như lẫn mà trong lòng không thầm cầu mong nguyện gì cho ông. Trái lại, TĐT tâm địa chỉ mong một ước nguyện cá nhân: “Tôi có ước nguyện được đứng bên ông trong giây phút cuối cùng bên giường bệnh để nghe ông nói câu này: “Vâng, T.T.Kh chính là người yêu của tôi, là Trần Thị Vân Chung”.

Một câu nói của người sắp chết rất đáng tin. Thế nhưng, Thanh Châu đã không nói câu TĐT cần vì người sắp chết không biết nói… láo!

TĐT đã viết một dòng rất… “tiên tri”: Nếu nhà văn Thanh Châu không thừa nhận Trần Thị Vân Chung là người yêu của ông thì kết quả giải mã của tôi vô nghĩa”. Thanh Châu quả thật đã không nói gì. Đúng như đầu đề TĐT đặt cho bài viết của mình: “Nhà văn Thanh Châu ra đi, T.T.Kh vẫn bí ẩn!”. Văn nghiệp linh ứng, TĐT đã “tự tổng kết” công sức giải mã của mình bằng câu tổng hợp cũng của chính mình ở trên! “Mưu sự tại nhân. Thành sự tại thiên” đúng chăng?

Thế Nhật hay Trần Đình Thu ép Thanh Châu làm người yêu của T.T.Kh có khác nào “Thuận thủ khiên dương” (thuận tay dắt dê)!

 

Thơ Trần Thị Vân Chung – Vân Nương – T.T.Kh bị “ép”:

– Trong “T.T.KH-Nàng là ai?” của Thế Nhật:

… Nhớ những mùa thu trước

Êm cảnh thanh bình

Trăng tà giải lụa thiên thanh

Thế rồi

Bão táp mưa sa

Trăng hoa tàn tạ

Mênh mông sầu ngập biển đời

Trời thu lộng gió đề người sầu thương

(Bài ca cuối thu, 1960)

 

… Lá vàng cuốn gió bay vèo

Giật mình chợt nhớ: ơ chiều vào thu

Xa xa sương phủ mịt mù

Ạt ào thác đổ, âm u núi rừng…

(Thu Cao Nguyên, 1960)

 

… Lững lờ nước chảy lưng ghềnh

Nắng len lỏi – đá núi chênh vênh trời

Hoang vu nào thấy bóng người

Nơi đây hẳn cũng vắng mồi lợi danh

                          (Hoang Vu, 1961)

 

… Mênh mông sầu ngập biển trời

Đường muôn vạn nẻo kiếp người bơ vơ

Nương dâu bãi cát vật vờ

Bao la vũ trụ phủ mờ rong rêu

(Triền Miên)

 

SẦU THU

Ba thu dọn lại một chiều nay

Bàng bạc mây trôi gió chuyển đây

Thất tịch sầu nghiêng hồ lệ thảm

Hoàng hôn bóng ngả cánh hoa gầy

Tâm tư ấp ủ tàn năm tháng

Thương nhớ lan tràn úa cỏ cây

Thu tới thu đi người vắng vẻ

Sầu thu ghi lại mấy dòng đây

                  *

Sầu thu ghi lại mấy dòng đây

Thắm nhạt càng phai cảnh sắc này

Mái tóc pha sương cay đắng đủ

Làn da nắng sạm nhớ thương đầy

Tương giang một giải mênh mông nước

Ô Thước đôi bờ vương vít mây

Phảng phất mưa vương hồn Chức Nữ

Buồn dâng nghèn nghẹn ý chua cay

                 *

Buồn dâng nghèn nghẹn ý chua cay

Sơ xác vườn thu dáng liễu gầy

Màu tím hoa sim vương nếp áo

Sắc vàng cỏ dại ngợp chân mây

Ngả nghiêng dậu trúc hồn chưa tỉnh

Thấp thoáng gương nga mộng vẫn đầy

Tựa cửa ngóng trông người trở lại

Mỏi mòn năm tháng có ai hay

                  *

Mỏi mòn năm tháng có ai hay

Sầu động ba thu một gánh đầy

Rượu cạn hồ nghiêng tơ phím láng

Trâm cài mái lệch phấn hương bay

Thềm lan trăng khuất sau rèm lạnh

Vườn cúc hoa tàn trước gió lay

Mộng vẫn bâng khuâng hình bóng cũ

Ngoài song lành lạnh gió heo mây

                    *

Ngoài song lành lạnh gió heo mây

Để khách phòng thu hận tháng ngày

Lược thẫn thờ vương làn tóc rối

Hồn lơ lững thả bóng chim bay

Án đào nắng chếch người đâu tá

Khán hạnh trăng lồng cảnh vẫn đây

Mong đấng cao xanh xoay chuyển lại

Cho người hạ giới chút vui lây

                    *

Cho người hạ giới chút vui lây

Bấc lụn dầu hao lệ vẫn đầy

Chiến địa vẫy vùng bao chí cả

Khuê trang giam giữ mảnh hồn ngay

Nắng vương cuối ngõ vàng hoa lá

Sương phủ ven trời trắng cỏ cây

Men rượu ân tình ai nhớ nhỉ?

Nửa như muốn tỉnh nửa còn say

                   *

Nửa như muốn tỉnh nửa còn say

Trẻ tạo trêu ngươi khó đặt bày

Uyên thúy xa vời hoa héo cánh

Trời mây cách biệt liễu châu mày

Gương mờ nước thủy mờ son phấn

Áo nhạt màu tươi nhạt cỏ cây

Gió chuyển thu về sầu vạn nẻo

Mà người xa vắng vẫn không hay

                   *

Mà người xa vắng vẫn không hay

Có thấy chàng Ngưu mắt lệ đầy

Khúc hận phân ly tràn đất nước

Nỗi niềm tâm sự nghẹn trời mây

Thềm khuya vườn vắng in hình lẻ

Song lạnh lầu không thoáng bóng gầy

Giải mối ưu tư nhờ gió thoảng

Cho lòng dìu dịu chút men cay

                  *

Cho lòng dìu dịu chút men cay

Sống với chờ mong tự bấy chầy

Cứ tưởng xuân về hồng má thắm

Nào hay thu tới ủ ê mày

Đêm vương hồn mộng vào trang sách

Ngày thả vần thơ dưới bóng mây

Có lẽ thu này thôi khóa sổ

Sầu thu trang trải trắng bàn tay

                *

Sầu thu trang trải trắng bàn tay

Mong tới thu sau én hiệp bầy

Trăng hết lạnh lùng bên ải bắc

Hoa chào hớn hở dưới hiên tây

Hàn thuyên to nhỏ chung trà ngát

Tâm sự vơi đầy chén rượu say

Đón gió thanh bình lên ý đẹp

Châu về hợp phố dệt thơ hay

(1962 trích Tơ Sương).

Đây là một bài thơ đầy ấp tâm trạng của người phụ nữ một mình trong “ba thu” với “một gánh đầy”. Ta xét tâm trạng này ở phần sau. Giải mã được tâm sự trùng trùng trong bài này của Vân Nương, ta sẽ có kết quả, bài này, bà làm cho ai, hoàn cảnh nào và loại ngay từ vòng sơ khảo cho đó là tâm sự của T.T.Kh nhớ… Thanh Châu của Thế Nhật và TĐT.

– Thơ Vân Nương trong “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh” của TĐT:

TĐT đưa ra ba bài thì hai bài có từ sách Thế Nhật. Phần trích hai bài của Thế Nhật có dấu ba chấm trên đầu tức là bài thơ được trích phần tiếp theo.

Xét về nguyên tắc trích dẫn, Thế Nhật trích đúng. Phần trích của TĐT, người đọc cứ tưởng mở đầu bài thơ, câu đầu tiên đã là như thế.

TĐT thêm bốn câu:

Hơi may se cả bầu trời

Hàng cây lá đã vàng phơi ít nhiều

Nhà ai một mái tịch liêu

Chìm trong làng vắng tiêu điều chiêm bao

(Vào thu, 1993)

Nhận xét: Cả hai tác giả đều lấy tiêu chí “mùa thu” trong thơ Vân Nương để cho rằng bà bị ám ảnh chung với “mùa thu” của T.T.Kh.

Mùa thu không của riêng ai. Mùa thu là mùa thơ của thi văn sĩ. Mùa thu là mùa cảm xúc của thi nhân. Mùa thu là mùa bội thu của văn học thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Do đó, tiêu chí này sử dụng để tìm ra chân tướng một tác giả là chưa chính xác. Thu trong mỗi người phải gắn liền với kỷ niệm nào đó.

Ta đọc lại mùa thu trong thi ca của thi nhân sẽ thấy thu tràn trên trang thơ Đường: Lý Bạch (Chi điền), Trương Kế (Phong Kiều dạ bạc), Nguyễn Trãi (Thu dạ khách cảm, Thu nhật ngẫu hành), Hồ Xuân Hương (Mưa thu, Trăng thu), Nguyễn Khuyến (Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh), Nguyễn Bính (Cây bàng cuối thu, Chiều thu), Xuân Diệu (Đây mùa thu tới, Ý thu…), Vũ Hoàng Chương (Mùa thu đã về, Thu có nguyệt, Nhớ thu) Đinh Hùng (Bài hát mùa thu, Gởi người dưới mộ) Lưu Trọng Lư (Tiếng thu, Khi thu rụng lá), Tản Đà (Gió thu, Đêm thu trông trăng), Thanh Tịnh (Chiều về), Chế Lan Viên (Tết Trung thu, Trung thu 69, Thu, Thu về), Nguyên Sa (Tương tư), Du Tử Lê (Bài nhân gian tháng tám, Mùa thu trăng khuyết), Cung Trầm Tưởng (Mùa thu Paris, Thu ngây)

Mùa thu cũng “trút lá vàng”, cũng se se gió heo mây trong “thi nhân văn học mạng”… kể không xuể!

Trong làng nhạc, mùa thu cũng về với nhạc sĩ Văn Cao (Buồn tàn thu), Trịnh Công Sơn (Nhìn những mùa thu đi, Hà Nội mùa thu), Phạm Duy (Mùa thu chết – Phổ thơ của Guillaume Apollinaire)…

Tha hồ cho chúng ta thưởng thức bát cháo, tô phở quê hương.

Vân Nương viết về mùa thu chung như thế thì có chi lạ? Cái lạ ở đây là thơ thu của Vân Nương chẳng dính dấp chút tí tẻo tẹo nào về hoa Ti-Gôn. Chi tiết hoa tim vỡ này, hai tác giả đã cố sống, cố chết bám riết để lôi Thanh Châu và T.T.Kh vào vòng giả tưởng ảo của mình.

– Thơ Vân Nương trong sách VNKNQH của NTK:

1.         Vàng đá theo về

Tâm sự vơi đầy buổi rạng đông

Ra đi mắt lệ ứa lưng tròng

Đã buồn hạc vút ngàn mây thẩm

Thêm tủi hoa trôi ngọn nước ròng

Xứ tuyết ngậm ngùi bao dấu vết

Vườn lan tươi tốt nhánh vun trồng

Hoàng hôn xế bóng dừng chân lại

Vàng đá theo về hẹn núi sông

                     Sarlat 14.6.1988

2.         Hiên ngang trời đất

Bát ngát rừng xa, bát ngát rừng

Mặc đời dâu bể vẫn tồn hưng

Thu pha lá úa vàng bao trượng

Xuân trổ trầm non biếc mấy từng.

Thấp thoáng ngựa xe ngoài thế tục

Thảnh thơi trăng gió vọng không trung.

Uớc chi chuyển tiếp làm cây nhỉ?

Trời đất hiên ngang đứng vẫy vùng.

                           Sarlat. Fevrier 1993

 

   3.      Hoa Phong Lan

Trên xứ Trầm Hương phải Tố Lan?

Cớ sao Tục Phố bén duyên phàm?

Mây phong hài hướt hoa kiều mỵ

Mộng thả trăng vời sắc điểm trang.

Mỗi độ xuân nồng tươi cánh lụa

Là khi đông lạnh héo tơ vàng.

Có nghe gió cuốn từ muôn ngả

Đem khổ đau về rắc thế gian?

                                   Fév.1993

Vẫn là những bài dạng thất ngôn Đường luật cổ kính! Vậy mà đối với TĐT, Vân Nương – T.T.Kh từng được TĐT khẳng định: Thơ T.T.KH rất “Tân“. Vậy, chúng ta hãy thử tìm cái “Tân” trong thơ Vân Nương?

Tân tức là mới. Mới về hình thức. Mới về từ ngữ. Mới về ngữ nghĩa. Mới tất! Thơ chỉ có hay và chưa hay. Trong cái chưa hay có hai loại dở vừa, dở tệ. Cái hay hoặc chưa hay đó do đâu? Do những cái không mới, chẳng thay đổi ở trên. Chẳng hạn trong thơ Vân Nương:

– Về thể loại: T.T.Kh sử dụng liên tục dạng thất ngôn. ĐACC mới xé rào thất ngôn, tung vào thì bị chê dở vì lối thơ lục bát “chưa nhuần nhuyễn” (xét lại là không phải). Vân Nương sử dụng lục bát, thể tự do thì xin được… miễn bàn!

Thể thất ngôn Đường luật dạng liên hoàn là lối thơ cổ của Trung Quốc. Mỗi câu 7 chữ trong 8 câu. Nó phải tuân theo Luật, Niêm, Vần (xem “Việt Nam văn học sử yếu” của Dương Quảng Hàm). Các nhà thơ Đường của Trung Quốc Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Thôi Hiệu, Vương Bột… hoặc một số nhà thơ Việt Nam như Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hồ Xuân Hương… tương đối chắc tay thể loại hóc búa này. Thơ Mới năm 1932 ra đời là phá bỏ dạng thơ thất ngôn Đường luật vì nó khó làm và rất khó làm hay.

Vân Nương chuộng lối thơ thất ngôn Đường luật mà T.T.Kh chẳng hề “đụng đũa”. Lối liên hoàn có nghĩa là câu cuối của bài trước là câu đầu của bài sau. Dạng lập lại trên na ná “thủ vĩ ngâm” (đuôi và đầu giống nhau):

Ví dụ: Thơ Nguyễn Trãi:

Thủ vĩ ngâm

Góc thành Nam, lều một gian,
No nước uống, thiếu cơm ăn.
Con đòi trốn, dường ai quyến,
Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn.
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá,
Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn.
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải,
Góc thành Nam, lều một gian.

(Vô đề, Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, Nxb KHXH – 1976).

TÙNG

Đống lương tài có mấy bằng mày,
Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay.
Cội rễ bền dời chẳng động,
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày.

 

Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày,
Có thuốc trường sinh càng khoẻ thay.
Hổ phách phục linh nhìn mới biết,
Dành còn để trợ dân này.

 

                    MAI

Danh quân tử, tiếng nhiều ngày,
Bảo khách tri âm mới biết hay.
Huống lại nhưng nhưng chăng bén tục,
Trượng phu tiết cứng khác người thay.

 

Trượng phu tiết cứng khác người thay,
Dưỡng dụ trời có ý vay?
Từ thuở hoá rồng càng lạ nữa,
Chúa xuân ngẫm càng huyễn thay.
                                  (Môn hoa mộc, sđd)

Ta thấy thất ngôn bát cú (liên hoàn hay không) ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc: Luật-Niêm-Vần, chúng còn phải có dấu câu (câu lẻ thì phẩy (,), câu chẳn thì chấm(.) nghiêm chỉnh như trên. Đây là điều bắt buộc người trích dẫn phải giữ nguyên dấu chấm hay phẩy chứ không phải muốn sao theo mình cũng được. Đào Duy Anh trích đúng và thivien.net (Điệp Luyến Hoa) trích lại cũng đúng.

Thế Nhật và Thế Phong trích thơ Vân Nương từ  tập thơ “Tơ Sương” không một dấu chấm, phẩy nào hết, không hiểu lỗi phần tác giả hay người đánh máy? Vân Nương biết cách làm thơ Đường luật, dĩ nhiên, bà hay bất cứ ai làm thể này đều không nên quên luật chấm phẩy đó. Nếu quên thì chưa thể gọi là “Nhà thơ Đường luật”.

– Vậy sao thơ Vân Nương (hậu chiến) vẫn bị Thế Nhật và TĐT chê không tiếc lời?

+ Thế Nhật“Vân Nương khác với T.T.KH tiền chiến là những bài thơ thời hậu chiến viết theo thể tự do… đường luật xướng họa liên hoàn… Vân Nương nhắc đến mùa thu hậu chiến không còn bối cảnh gắn liền với mối tình oan trái đời mình – đời chàng… ” (sđd tr 75).

Nhận xét được như thế mà Thế Nhật vẫn cứ cố “ép” Vân Nương làm T.T.Kh, chẳng biết là sao?

+ TĐT chê thẳng ruột ngựa: “Thơ của bà Trần Thị Vân Chung không phải là thơ hay. Hầu hết đều bình thường. Chính vì vậy mà nhiều người cho rằng, bà Vân Chung không thể là T.T.Kh vì thơ bà không xứng tầm với thơ T.T.Kh…” (sđd tr 79).

Lời nhận xét trên cả hai đều sáng suốt. Nhưng thơ đã “không hay” thì chỉ còn là “dở” thôi. Làm gì có chuyện không hay mà “bình thường”? Phải nói là “thơ thường quá” tức là “dở” (cách nói giảm tu từ học). Thế nhưng, TĐT lại “ép” cho tới… chảy nước thơ Vân Nương ra để bắt mọi người tin đó là thơ T.T.Kh hậu chiến!

+ NTK nhận xét khá hơn: “Tôi nghe như cái khí phách anh thư nơi các đồng chí của chúng tôi thuở nào ẩn hiện trong từng dòng, từng lời thơ Vân Nương viết” (sđd tr 131). “Khí phách anh thư” này, thơ T.T.Kh làm sao mà có?

TĐT lại bào chữa cho thơ “không phải là hay” của Vân Nương: “Lập luận như thế là không đúng. Thật ra không có nhà thơ nào có thể làm thơ hay suốt đời. Nhiều nhà thơ nổi tiếng nhưng về sau vẫn làm những câu thơ rất tầm thường…”. Giá mà TĐT ví dụ thử một vài nhà thơ trước hay, sau tầm thường coi thử thì… lý lẽ trên có giá trị hơn.

TĐT còn cho rằng sỡ dĩ thơ Vân Nương hậu chiến không hay vì: “Một bài thơ hay phải gắn liền với một hoàn cảnh đặc biệt” là chưa nắm được nguyên lý sáng tác.

Từ thời 1937 đến 2007, ngót nghét gần 70 năm mà Vân Nương chẳng có “hoàn cảnh đặc biệt” nào để làm thơ cho hay ư? Vậy những bài thơ “chẳng hay”của bà toàn viết trong lúc chẳng có cảnh gì cả. Còn mùa thu của nhân gian, không gợi được cảm xúc cho bà thì bà làm “thơ bã đậu” để làm gì nếu chẳng có nguồn cảm xúc!?

Thơ không hay là vì cảm xúc chưa chín. Có chín đi nữa nhưng năng lực sáng tác của mỗi người khác nhau. Ta có thể thấy rõ ràng, cùng một lớp mà có học sinh này học giỏi hơn học sinh kia, cùng một nghề mà có người này trội hơn người nọ. Thi nhân, Tha nhân cũng nào khác gì! Ví dụ cũng cùng một đề tài viết về “mùa thu”, tại sao “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư ngắn gọn chỉ có 9 câu, thể ngũ ngôn mà để đời, trong khi 10 bài liên hoàn “Sầu thu” của Vân Nương trùng trùng tâm sự dài tới 80 câu bảy chữ thì chẳng… mang hơi gió heo mây cho người  buồn lây, chẳng thấy lá thu bay cho người mê say?

Thơ Vân Nương không hay không phải là không có bối cảnh mà vì năng lực thi ca Vân Nương tới đấy là hết! Nó cũng như con người tới 25 tuổi thì sự tăng trưởng của chiều cao hình như… dậm chân tại chỗ và… lụn xuống như ngọn nến trong đêm thu.

Điển hình thêm một ví dụ về hoàn cảnh làm thơ: Bài thơ “Nguồn sống” (Thế Nhật sđd) được làm trong bối cảnh tang thương là chồng Vân Chung bị người của chế độ Ngô Đình Diệm bắt bỏ tù:

… Các anh những con đường đầy chí hướng

Khinh gian lao và coi rẻ ngục tù

Chí ngang tang giam hãm trọn ba thu

Đành ấp ủ mối căm thù Bạo chúa

… Tàu cập bến các anh từ Côn Đảo

Trở về đây xây đắp lại tương lai

Những con người từng nếm mật nằm gai

Vì Tổ quốc miệt mài gương chiến đấu…

Thơ “đại ngôn” như thế trong thơ Việt Nam ta nào có thiếu? Thế Nhật “phang” ngay: “Thơ tồi… ấu trĩ về tư tưởng, non nớt về nghệ thuật, chẳng dễ làm rung động được ai?… danh từ sáo rỗng… không có hồn…”. Tìm mãi trong thơ Vân Nương chẳng ra bài nào khá hơn nên Thế Nhật thất vọng: “Bàn về giá trị thơ Vân Nương, hoặc gọi đi một cách khác, thơ T.T.Kh hậu chiến, điều này cũng chẳng tôn giá trị thi ca của bà lên cao hơn. Đành khép lại ở đây và hết lòng tạ lỗi để nói lên cảm tưởng của chúng tôi…” (sđd tr 80-81).

Hú ba bàn chín trụi! Nếu thêm vài bài thơ như thế nữa chắc độc giả… uống Aspirin, Tylenol, Ibuprofen, Advil trị…  nhức đầu”!

Thơ Vân Nương “tân” hay “cựu”?

Những bài thơ Vân Nương trích ở trên, toàn làm từ 1960 trở đi mà thôi. Điểm thời gian này hợp với NTK đã khẳng định chắc chắn trong VNKNQH của ông: “từ đầu thập niên 50 trở về trước, Vân Nương chưa làm thơ…” (sđd tr 207).

+ Thể thơ không “mới”: Tức Đường luật với những câu thơ… bắt chước:“Lá vàng gió cuốn bay vèo” như “hút hơi” từ hơi thơ “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” trong “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến. “Ba thu dọn lại một chiều nay” dính với “Ba thu dọn lại một ngày dài ghê” từ “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

+ Ngôn ngữ cũng chẳng “tân”. Những từ ngữ cũ kỹ: “tóc sương pha, tương giang một giải, vương vít mây, chút men cay, tự bấy chầy, hờn căm bạo chúa, ba thu, lưng ghềnh, nương dâu bãi cát, hồ lệ thảm, mái tóc sương pha, dáng liễu gầy, ngợp chân mây, thấp thoáng gương nga, rượu cạn hồ nghiêng, trâm cài mái lệch, án đào nắng chếch, người đâu tá, khán hạnh,  bấc lụn dầu hao, chiến địa vẫy vùng, men rượu ân tình, khuê trang, uyên thúy, liễu châu mày, khúc hận phân ly, thoáng bóng gầy, song lạnh, vương hồn mộng…” xem ra, “màng nhện phủ đầy” nhiều hơn thơ nhóm “Tam Anh – Áo bào gốc liễu”!

Những từ ngữ rong rêu trên đã níu chân thơ trên đường rong duỗi. Nếu thuở mười 17-18, (1937) Vân Nương – T.T.Kh đã có những bài thơ rất “tân”, tại sao sau 33 năm (tính thơ Vân Nương làm năm 1960) lại “cựu” quá vậy? Người ta trước “cựu” sau “tân”. Ai đâu “tân” trước, tới phần “cựu” sau vậy trời?

TĐT thẳng thừng chê “Thâm Tâm và Nguyễn Bính rõ ràng là những nhà thơ thuộc tầng lớp ‘cựu’, trong khi đó T.T.Kh lại rất ‘tân’”, nên mới cho rằng TT, NB không thể là T.T.Kh.

Vậy “Gậy ông…” thế này: “Vân Nương rõ ràng là… làm thơ thuộc tầng lớp ‘cựu’, trong khi đó, T.T.Kh lại rất ‘tân’”. Do đó, Vân Nương không thể là T.T.Kh!

Kết luận:

1. Thanh Châu không thể là người yêu của T.T.Kh.

2. T.T.Kh không phải là Vân Nương Trần Thị Vân Chung.

                       AI ĐẠO VĂN AI?

– Việt Duy trong bài phản hồi:  “GIẢI MÃ NGHI ÁN T.T.KH
CHƯA RÕ ĐÚNG SAI NHƯNG CHẮC LÀ PHẠM LUẬT
(Báo PHÁP LUẬT TP.HCM ngày Chủ Nhật 18.3.2007, newvietart.com).

“Năm 2004, tác giả Trần Đình Thu lật giở toàn bộ tư liệu liên quan để xem lại. Thật bất ngờ (ông TĐT chỉ cần lật giở toàn bộ tư liệu đã có sẵn là giải mã ngay chóc! tài thật) khi kết quả giải mã cuả ông trùng khớp với thông tin được tiết lộ trước đây. (thông tin nào trước đây, thưa ông TĐT?)”.

… “Năm 2004 (1994-2004), tác giả Trần Đình Thu lật giở toàn bộ tư liệu liên quan để xem lại…. (hồ sơ tư liệu nào để ông lật giở thưa ông TĐT ??? phải chăng là hồ sơ tư liệu lấy từ “thông tin ngắn ngủi và không có bằng chứng” trong phần Phụ Lục quyển sách T.T.K.H NÀNG LÀ AI? của – Thế Nhật – NXB Văn Hoá Thông Tin Hà Nội 1994). Sự luộm thuộm, dấu đầu hở đuôi trong công trình giải mã, lật giở hồ sơ tư liệu cuả ông TĐT lại thấy trong một bài “TỰ HỎI rồi TỰ ĐÁP” của chính ông TĐT…”
Tức là nguồn tư liệu của TĐT sử dụng cho cuốn sách của mình lấy từ đâu? TĐT cần phải có câu trả lời này. Đây cũng là câu hỏi của bất cứ người nào muốn TĐT trong sáng trong việc sử sụng tư liệu nghiên cứu văn học để ra cuốn “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh“.

Công bằng trên tác phẩm:

– Cuốn “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh” của TĐT có những điểm tương đồng với cuốn “T.T.KH – Nàng là ai” của Thế Nhật.

+ Tương đồng về hình thức kết cấu tác phẩm: Tức là về bài viết chính của tác giả cả hai đều đi theo kết cấu chưa bằng 1/2 toàn bộ tác phẩm (Bài viết chính và phần phụ lục). Nếu là người nghiên cứu, chúng ta cần tránh sự tương đồng về hình thức này. Nếu không, sách ta sẽ rớt vào dạng “đạo hình thức kết cấu”.

+ Tương đồng về nội dung: Hai cuốn sách cùng khẳng định Thanh Châu là người yêu của T.T.Kh và Trần Thị Vân Chung tức Vân Nương chính là T.T.KH.

TĐT có ghi những dòng này: “Trong số những người phụ nữ được giả định trước đây, chỉ có một “ứng viên” duy nhất phù hợp với vị trí của T.T.Kh theo tiêu chí nói trên. Đó chính là bà Trần Thị Vân Chung, người được tác giả Thế Nhật phát hiện ra và tiết lộ trong cuốn sách T.T.Kh, nàng là ai? Đây là nhân vật đã gây ra nhiều tranh cãi trên công luận vào năm 1994″ (sđd tr 68-69). Trong phần “Tư liệu tham khảo“, TĐT có ghi tên 4 cuốn sách tham khảo trong đó có cuốn sách của Thế Nhật. Như vậy, nguồn tư liệu của TĐT là lấy từ 4 cuốn sách đã ghi trong trang “TƯ LIỆU THAM KHẢO”. Thế nhưng, nguồn trích dẫn của TĐT cho cuốn sách mình “yếu ớt”. TĐT hầu như không trích dẫn một câu, đoạn của 4 cuốn sách này vào bài viết chính của mình. Chứng tỏ, TĐT với cách thức tham khảo tư liệu người khác để bổ sung cho bài viết của mình chưa biết cách trích dẫn để người bỏ công sức lao động được “ấm lòng”. Tư liệu tham khảo nếu chỉ ghi cho có thì đừng ghi làm gì cho tốn thêm trang sách!

Một điều khẳng định:  Không có một cuốn sách của một tác giả nào về nghiên cứu các lĩnh vực nói chung và văn học nói riêng mà không dùng tư liệu – công sức lao động chất xám của người khác. Do đó, ngay cả những người có bằng cấp cao nhất của trí tuệ không ghi tư liệu tham khảo và trích đoạn vào sách của mình đều được coi như “đạo văn”. Như một hành tinh khi ở trong vũ trụ đều phải tuân thủ luật tuần hoàn theo chu kỳ vòng quay của các hành tinh. Khẳng định này không phân biệt cho bất cứ thành phần, địa vị tầng lớp nào trong dạng nghiên cứu.

Đồng ý tham khảo chứ không phải copy hết những ý tưởng, những tư liệu trong sách rồi làm của mình mà không có cái gì là của riêng mình. TĐT có hay không? TĐT quả thật đã đi theo hướng tìm T.T.Kh và người yêu T.T.Kh của Thế Nhật. Chúng ta công bằng ở chỗ: Hướng tìm nhân vật giống nhau cùng trên con đường đi. Thế nhưng vừa đi vừa phá chông, gỡ… mìn cóc như thế nào mới là phần tri triển “nội công – bút pháp – chưởng lực” riêng của mỗi người.

Ví dụ vui: Cùng là những người giang hồ “Thiên hạ ngũ tuyệt” nhưng Tây Độc Âu Dương Phong (Lão Độc Vật) xử dụng “Xà độc” với ngón “Hàm mô công“. Đông Tà Hoàng Dược Sư (Hoàng Lão Tà) có tuyệt kỹ “Lạc Anh, Ngọc Tiêu kiếm pháp“, với tuyệt chiêu “Đan chỉ thần công”, Đoàn Chí Hưng (Đoàn Nam Đế) có ngón “Nhất dương chỉ“, Vương Trùng Dương (Trung Thần Thông) có “Cửu âm chân kinh”, Hồng Thất Công (Bắc Cái) có “Đả cẩu bổng pháp” và “Giáng Long thập bát chưởng”. Sau cuộc luận kiếm ở Hoa Sơn, vẫn có một Vương Trùng Dương là nhất! Mục đích chung của họ là “hành hiệp giang hồ”.

So sánh khập khễnh dưới đây trong cuốn “Danh Nhân Thế Giới” để thấy rằng sự “nối tiếp phát minh” của người đi sau trong khoa học hay “nối tiếp phát hiện” của người đi sau trong văn học gần như nhau: Thomas Alva Edixon, nhà vậy lý vĩ đại lừng danh của Mỹ và thế giới đã cải tiến máy điện thoại đi động được phát minh bởi nhà khoa học Scotland (UK) Alexander Graham Bell (nhờ tăng cường độ và làm rõ âm thanh). Edixon cũng dựa trên nguyên lý ánh sáng bằng hồ quang của Willam Walace mà chế tạo ra bóng đèn bằng điện hiện nay chúng ta đang dùng. Vợ chồng nhà toán học và vật lý học người Pháp, Maria Marie Curie và Pierre Curie được giải Nobel (Vật lý và Hoá học) vì đã hoàn chỉnh tia X nhờ vào phát hiện tia X trước đó của Wilhelm Conrad Röntgen (Đức) và hiện tượng phóng xạ của Antoine Henri Becquerel (Pháp)…

TĐT chưa phải là nhà nghiên cứu văn học thực thụ nhưng TĐT cũng đã có con đường riêng của mình khi nghiên cứu về T.T.Kh bao gồm các bước: 1. Mở đầu huyền thoại T.T.Kh. 2. Nêu những người được giả định là T.T.Kh là loại bỏ. 3. Tiến tới xác định giới tính cho T.T.Kh và khẳng định T.T.Kh là phụ nữ. 4. Bước nữa, thử tìm ai là người yêu của T.T.Kh và cùng khẳng định chung với Thế Nhật là Thanh Châu. Các bước này nói chung trùng qua, trùng lại là chuyện thường. 5. Bước xác định ai là T.T.Kh mới là điểm đích để chúng ta bàn. Thế Nhật dựa vào lời kể (bội tín) của Thư Linh Đỗ Thị Lạc với bài “Hoa tim – T.T.Kh Phương Xa” của bà để khăng khăng cho Trần Thị Vân Chung là T.T.Kh. Trong khi đó, TĐT lại “kỵ mã đáo giang hà” (cỡi ngựa qua sông) bằng 4 bài thơ của T.T.Kh. Khác nhau là ở chỗ này.

Do đó, phần thứ 5, TĐT không “đạo văn” (ý tưởng) từ sách của Thế Nhật. Trường hợp “tiếp nối” của TĐT từ Thế Nhật không giống như những trường hợp đạo văn mà chúng ta nghe đã “thủng lỗ nhĩ”. Mới đây, Tiến sĩ Đinh Văn Liên đã dùng “Non nước Bình Định” của Quách Tấn và “Văn hóa dân gian xã Nhơn Thành” của nhà văn Mai Thìn để viết cuốn “Bình Định – đất võ trời văn” đăng hai kỳ trên eVăn.vnexpress.net. Khi người ta đối chiếu hai cuốn sách này lại với nhau thì… tá hỏa: “Non nước Bình Định của nhà văn Quách Tấn (1910 – 1992) được xuất bản từ năm 1968. Đây là công trình biên khảo nổi tiếng về danh lam, thắng cảnh, phong tục và con người đất võ. Đối chiếu giữa hai cuốn sách, người ta dễ dàng nhận ra sự giống nhau đến từng câu nếu không tính đến việc TS Đinh Văn Liên đã thay đổi đi một số từ ngữ” (eVăn.vnexpress.net).

Thế nhưng, Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ “đạo văn” nào chỉ một mình Đinh Văn Liên? Bên Mỹ, năm 2008, cuốn sách “Nhớ nguồn” (thơ văn, lịch sử) như một cuốn sử dày 485 trang của Nguyễn Lộc Yên nhưng không có một dòng ghi “Tư liệu tham khảo”? Phải chăng, bộ óc tác giả này vô cùng vĩ đại có thế nhớ nổi các địa danh Việt Nam từ Nam ra Bắc và thuộc hết các triều đại từ khi lập nước đến nay mà không bỏ sót một con số, một nhân vật lịch sử, một bài thơ, văn thuộc về văn học sử? Không thể nào. Chẳng cần đọc, chúng ta cũng biết ngay là “đạo văn”. Nhiều khi họ chưa biết rõ hoặc giả vờ chẳng biết tới “Thế nào là tác quyền? Thế nào là sỡ hữu trí tuệ”! Nói chung là… lười đọc, lười suy nghĩ như các thầy, các nhà phê bình như Nguyễn Đăng Mạnh và Nguyễn Hòa từng lên tiếng trong “Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học” Đồ Sơn 2006.

Những bài viết về T.T.Kh, các tác giả khác cũng xào qua, nấu lại đến mức hôi ê trên mạng, trong sách. Cứ mở đầu là… thế này, là thế kia cũng dẫn hết HT – HC đến Hoàng Tiến, Nguyễn Vỹ, Thanh Châu, MGL, Phạm Thanh, Hoài Việt… tới ông này, chú nọ viết về T.T.Kh rồi “phăng” ra tùm lum nhất là các vị trong các diễn đàn. Người này lấy tư liệu người nọ nhưng chẳng ghi nguồn gốc từ đâu đến đâu. Bởi thế, đạo văn càng ngày không phải chỉ có những ba bảy đường mà thiên trùng vạn lý! Nay hai cuốn sách đồng đạo khác hành này nữa. Đọc chừng ấy nội dung mà dàn tới, dàn lui như Vạn lý trường thành, độc giả phải uống thuốc trợ lực liên tục! Nhiều sách, lắm lời, muôn trùng bịa chuyện đến thế mà “Lục Vân Tiên” trong vai “ốc mượn hồn” T.T.Kh và TT vẫn ngoài vòng kim cô của Quan Thế Âm Bồ Tát đang… cười!

Điểm khác biệt thêm: Bước thứ 6 cuối cùng của cuốn sách, TĐT đã tự chọn giải pháp trả lời thắc mắc độc giả. Đây là điểm mà sách Thế Nhật không có: “Vì sao bà Trần Thị Vân Chung không nhận mình là T.T.KH?”

VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI?

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 1]

    Chuyên luận Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình Văn học Lời giới thiệu Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có một tác giả tạo ra nhiều huyền hoặc, mâu thuẫn nghịch…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 2]

    B: T.T. KH LÀ AI?:     I. Sự liên quan giữa ''Người'' và ''Người ấy'' trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 3]

    b. Những bài thơ của T.T.Kh:                    + Bài số 1: HSHTG.                              Huyền thoại hoa Ti-Gôn Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 4]

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá? 1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình: Bùi Viết Tân kể trong "Thâm Tâm là T.T.Kh?" (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 5]

    Hai bài cùng thi pháp hay không? Điều đáng chú ý: Bài "Các anh" 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách: Hơi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 6]

    * Bích Khê (BK): Trong 74 bài thơ (thivien.net,dactrung.net), có 12 bài: "Mộng cầm ca, Nhạc, Tranh lõa thề, Sọ người, Đồ mi hoa, Bàn chân, Một cõi đời, Trái tim, Cô gái ngây thơ, Cặp mắt,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 7]

     3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính: Đây là "tình nghi viên" sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”. - HT-HC trong "Thi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 8]

    V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?            1. Vài suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 9]

    IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm "Tống biệt hành" (TBH) của Thâm Tâm (TT): Dựa trên bản cũ nhất của HT - HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 1]

    HUYỀN THOẠI HOA TI GÔN - PHẦN II A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất: Thời gian 1937 - 1938, do những va chạm mảng (họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 2]

    4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối... lãnh đủ:               a. "Tiền bối" Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình: Trên (newvietart.com): Về cuốn "T.T.KH - Nàng là ai?": "khen thì…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 3]

    DƯỚI GIÀN HOA MÁU Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là... mơ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 4]

    Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ? Danh từ "nghệ sĩ" chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại... Ví…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 5]

    VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI? * Độc giả: Thưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [PHẦN TÓM LƯỢC]

    HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN TÓM LƯỢC (*) Nhà thơ Thâm Tâm tức Nguyễn Tuấn Trình cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống 1936 bằng làm thơ và vẽ tranh… Tại Hà Nội, anh đã gặp…