DƯỚI GIÀN HOA MÁU

Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là… mơ mộng.

Tất cả đều đúng.

Bà con lối xóm còn được biết thêm và thường gọi chàng, nhắc đến chàng là “cậu giỏi chữ nghĩa” ngay từ lúc cậu mới 13, 14 tuổi đầu. Gặp, là y như thấy cậu cầm sách. Học bài, học say mê với cốt truyện vừa xem. Hay tập vẽ, với những cây bút chì màu xanh, vàng, đỏ.

Ở gần nhà cậu, có một cô bé có đôi mắt tròn xinh, vẻ dịu hiền, thông minh, sáng sủa. Cô thường đến xem cậu vẽ, viết. Tò mò, cô hay hỏi:

– Cậu Trình ơi! Cậu làm gì đấy?

Thấy có người hỏi, cậu không nhìn lên, đáp gọn:

– Vẽ!

– Cậu vẽ gì thế?

– À…. chàng vừa nhìn ra, vừa khi cô bé tiến lại gần. Anh vẽ cho bài thơ vừa sáng tác,

Cô bé thật sự không hiểu. Cô mỉm cườim đỏ hồng đôi má. Chợt cô nũng nịu:

– Anh dạy cho em vẽ với nhá?

Chàng cười, xoa nhẹ đầu cô, vuốt tóc cô:

– Em học lớp mấy rồi? Em làm thơ và vẽ sao được?

– Em vẽ được, làm được. Sang năm em lên lớp ba! Cô bé sôi nổi.

Chàng thanh niên thở dài, hơi thở phả lên tóc cô gái:

– Để sang năm hẳn hay… Và chàng tiếp tục, lúi húi với công việc. Cô bé phụng phịu bỏ về.

Từ ấy cô ít sang nhà “cậu học giỏi”. Còn cậu, cậu mải mê với công việc, cậu cũng quên lửng “cô bé nhà trước cửa”. có giàn hoa dây leo lấm chấm màu trắng, đỏ.

Một năm sau, chợt chàng sang nhà trước cửa, nói với bà mẹ cô gái:

– Bác cho cháu ngồi đỡ ở sân nhà. Cháu muốn dùng giàn hoa leo làm cảnh để vẽ tranh.

– Cậu vẽ tranh để bán hay vẽ chơi?

– Dạ thưa bác, đây là cháu muốn thực tập, cốt cho nhuần nhuyễn mọi cảnh vật. Quen tay, mai này cộng tác với bất cứ cơ sở báo chí hay nhà xuất bản nào, họ bảo vẽ gì là có ngay vốn liếng “chất liệu” thực hiện.

– Cậu có bằng cấp gì rồi? Có còn theo học không?

– Dạ, cháu mới có bằng Cơ Thủy, đang học ở trung học.

Vừa trả lời những câu hỏi của người đàn bà đứng tuổi có dịp cật vấn chàng trai cho thỏa óc tò mò, “cậu học giỏi” – gọi theo từ của bà con lối xóm – vừa đặt giá vẽ theo như ý muốn, quệt quệt mấy nét phác thảo và cắm cúi vào việc. Thốt nhiên chàng thấy một cô gái ở trong nhà bước ra. Nàng đến bên người đàn bà:

– Mẹ! và hướng về phía chàng trai. Cậu Trình ở xế nhà mình đấy mà. Cậu vẽ giỏi. Chắc bữa nay cậu muốn vẽ giàn hoa Ty-gôn nên mới quá bộ sang đây.

Bà mẹ cười:

– Đúng. Cậu ấy vừa xin phép mẹ. À này, bố con sắp đi làm về đấy.

– Vâng.

Nhìn theo mẹ xách giỏ, lững thững lần theo con ngõ hẹp ra chợ Trung Phụng, cô gái nhẹ đến bên chàng:

– Em lấy ghế để họa sĩ vẽ, đứng vậy, mỏi chết. Thật đất!

Chàng cười vui:

– Cám ơn em gái dễ thương. Nhưng… anh quen rồi. Anh không mỏi mệt gì đâu.

– Quen. Không mỏi mệt. Lưng anh sẽ đau rũ ra cho coi. Thật đấy!

Tiếng nàng thanh như rót bên tai, nửa vỗ về, nửa tỏ vẻ nghiêm khắc. Trình thấy vui vui, ngưng tay nhìn.

Đúng là cô gái năm ngoái đã ghé sang nhà chàng với đôi mắt tròn xinh, hơ gầy, luôn tò mò hỏi chuyện và đòi chàng dạy làm thơ, tập vẽ. Nhưng bây giờ, chỉ một khoảng cách ngắn, từ một bé gái, cô trổ mã thấy rõ những đường cong cơ thể của một thiếu nữ dậy thì.

Đôi mắt tinh tế nhạy cảm của một nghệ nhân như chàng thật sự bàng hoàng vì cái Đẹp. Lòng chàng xốn xang. Bất giác chàng buông tiếng thở dài, rất khẽ và rất nhẹ.

Cô gái chợt cười, âu yếm:

– “Cậu” buồn nỗi chi? Thôi, để em mang ghế ra cho anh ngồi, anh vẽ nhé?

Một thoáng, chiếc ghế mây được đem ra để sau lưng chàng. Cô gái kéo tay chàng như ấn xuống ghế.

– Anh lại ngồi đi. Nhân tiện em xin nhắc lại lời anh hứa. Là “sang năm em lên lớp Ba, sẽ dạy em làm thơ và vẽ…”. Hôm nay, em đã học lớp Ba hơn tháng rồi. Anh nhớ hay quên?

Chàng trai nhủn người, tim đập mạnh khi cô gái vừa nói phía sau vừa tỳ lồng ngực vào lưng chàng, đầu hơi cuối xuống với một ngón tay chỉ bức vẽ:

– Giàn hoa leo được đấy nhưng hơi tẻ lạnh. Anh cần phải vẽ một cô gái tay vói giây leo và nét mặt thật gợi cảm mới được! Có thế tranh mới có hồn. Thật đấy!

Chàng cười, thật lòng thấy vui vì cô gái quá thông minh, ngộ nghĩnh. Muốn đứng lên nhưng sợ cô gái buồn, chàng bảo:

– Em dễ thương ghê. Khôn lanh và chóng lớn quá, mới năm ngoái, em còn nhỏ xíu mà nay… vượt trổi… anh khó dạy nổi em vẽ và làm thơ được. Thật đấy!

Thiếu nữ rời bộ ngực chũm cau để trần dưới làn áo trắng mỏng, vòng ra phía trước rũ cười:

– Anh nhại em đấy à! Chẳng qua em chỉ kém anh có vài tuổi. Suốt năm qua, yêu thơ văn, em đã đọc rất nhiều trong các báo, nhất là thơ mới. Em đã tự luyện nhưng tự học có vẻ không thành. Phải có thầy dạy mới được. Nên em chọn anh. Anh Trình, dạy em nhé!

Và nàng như bỏ nhỏ vào tai chàng: “Chóng ngoan, em… yêu!”

Chàng trai đứng thẳng lên, đỏ mặt. Nhưng chẳng biết nghĩ sao, anh buông bút vẽ, vuốt ve làn tóc cô gái:

– Anh yêu em, thật đấy. Anh có nhại gì em đâu. Dạy kèm em vẽ và làm thơm, thực sự anh rất mong và rất lấy làm hân hạnh. Tuy nhiên, anh sợ…

– Mình đừng “tuy nhiên” gì cả, anh Trình! Năm nay em mới mười lăm tuổi rưỡi. Chúng mình còn đang cấp sách đến trường. Mọi dự tính cho tương lai còn khá nhiều thời gian… Ta cứ từ từ mà toan tính, mà quyết định. Ô, anh ngồi xuống ghế vẽ đi chứ. Mẹ em sắp về rồi, và em phải giúp mẹ thổi cơm, nhặt rau, đun nấu.

Chàng nhìn trời. Vào giữa mùa Thu Hà-Nội, trời về chiều vương vương đầy màu nắng vàng hanh. Trên con đường nhỏ hẹp dẫn vào lối xóm nhô lên những mô đất nâu gồ ghề sống trâu, cò vài ba người uể oải lần bước. Họ vừa ở sở làm về sau những giờ mệt nhọc. Áo quần tuy tươm tất nhưng vẫn không giấu nổi vẻ bình dân lam lũ, đói nghèo. Bất giác, chàng trai thở dài, nhẹ ngồi xuống ghế. Chàng hết hứng vẽ.

– Thế nào, anh tiếp tục vẽ đi chứ. Kìa mẹ em đả về kia!

– Anh cũng về thôi. Vẽ phác thế đủ rồi. Ngày mai anh sẽ sang nhờ em đứng làm mẫu. Chịu không?

– Chịu! Thiếu nữ bỗng sôi nổi. Em muốn hỏi cho rõ, có phải những bài thơ đăng báo, anh đều ký bút hiệu là Thâm Tâm?

– Em tài thật đấy! Chàng cười. Thế còn em, em có định lấy bút hiệu nào không?

– Em ấy à? Em tên là Khánh. Vậy thì em muốn bút hiệu em là… T.T.KH.

– Em họ Trần hay họ Trịnh? T.T.KH có nghĩa Trần Thị Khánh hay Trịnh Thị Khánh hả em?

Mẹ cô gái vừa tới sân nhà. Bà nhìn bảng vẽ phác chàng trai vừa sáng tác, gỉa lả:

– Cậu vẽ giàn hoa này giống đấy. Nhưng… cậu vẽ xong chưa?

– Dạ, cũng sắp xong ạ.

Người đàn bà đi vội vào nhà, không dùng  dằng, nấn ná. Ánh chiều thu dần nhạt. Thiếu nữ cũng muốn theo mẹ xuống bếp nên nói khẽ:

– Trần hay Trịnh nào có nghĩa gì! Và nàng hơi cau mày. Anh… anh hãy tự tìm hiểu. Anh có vẻ chậm hiểu tâm sự những cô gái đấy! Thôi em vào giúp mẹ thổi cơm đây.

Và nàng vội vã bỏ đi. Còn lại một mình, chàng trai ngỡ ngàng. Anh mơ màng như sống trong mộng. “Cô bé dạn ghê. Mười lăm tuổi rưỡi. Mới học lớp Ba. Suốt năm qua… đọc rất nhiều…nhất là thơ mới. Tự học và tập, nhưng không thành. Lại biết cả tên cúng cơm và bút hiệu của mình nữa. Đàn bà, con gái thật tinh như ma. Và, họ cũng biết yêu sớm quá. Ảnh hưởng tiều thuyết Tố Tâm, Hồn Bướm Mơ Tiên…. và thơ mới? Lãng mạn. Cả tâm hồn lẫn thể xác ư? Nhưng mình muốn gì? Tại sao với một cô bé mới lớn, lém lỉnh, mình lạ hồi hộp quá đáng như thế? Sao mình không nghiêm khắc, thờ ơ như năm ngoái? Chẳng lẽ…”. Chàng nhún vai, ôm giá vẽ, nhắc chiếc ghế đặt lui vào tận hiên nhà, nói lớn:

– Cháu chào bác, cháu về. Chào cô Khánh nhé.

Lợi dụng vẽ, Trình thường lui tới góc sân nhà Khánh để trau chuốt bức tranh chẳng có ngày hoàn thành và chẳng bao giờ được đem triển lãm.

Tuy nhiên mối giao hảo giữa Trình và cô gái đã có phần tự nhiên, thân mật. Ngoài việc vẽ Khánh ngồi làm mẫu dưới giàn hoa, Trình còn phải giảng giải cho cô những đề toán khó, phân tích cú pháp văn phạm và linh tinh những điều cô hỏi,

Có một điều không thể chối cãi, là với tuổi dậy thì, không một cô bé nào mà không mơ mộng, thèm được yêu thương vuốt ve mơn trớn. Thoạt tiên, bé Khánh tò mò nhìn ngắm “vóc dáng văn nhân” của chàng trai lối xóm tối ngày lẩm lũi đi, về. Nàng thấy chàng đầy vẻ hay hay.Và vì “hay hay”, một tiếng sét như tự trời cao đột nổi – có thể gọi thế – một tiếng sét ái tình làm cho cô bé thấy bào hao cơ thể, mặt tái mét, chân run rẩy mỗi khi cô gặp “cậu Trình thi sĩ” rất tài hoa, nhà cùng xóm mỗi lần cô giáp mặt.

Còn chàng? Vẫn như bao giờ “tay xách, nách báo” mơ màng với tứ thơ đang nhảy múa sắp xếp từng vần điệu trong đầu. Thấy cô gật và lí nhí chào, chàng chỉ khẽ “gật đầu đáp lại” rồi thản nhiên thẳng bước. Chẳng khi nào chàng phải bận tâm vì ai, ngoài công việc. Và chàng quên khuấy cả cái ngày cô sang chơi, lân la nhờ chàng dạy cô làm thơ và tập vẽ.

Bữa ấy, thực sự Khánh giận chàng. “Người gì mà cứ như lờ lững trên mây! Và có dáng vẻ người lớn, làm ra cái điều khinh bạc mọi người. Tệ Thật!”.

Giận. Cô muốn quên. Nhưng càng muốn quên, cô lại càng thấy nhớ. Hình ảnh “cậu Trình” như in trong tâm hồn cô, càng vùng vẫy hầu mong xóa nhòa đi, cô lại càng thấy nó hiển hiện hằng đêm trong tâm trí khiến cô trằn trọc, thao thức, biếng ăn, quên ngủ. Gầy. Và võ vàng thấy rõ.

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai?

Bà mẹ cứ tưởng cô lo học hành và, với tuổi con gái dậy thì sẽ phải trải qua tính tình thay đổi nên chỉ chăm sóc cô bằng tất cả tình cảm của một người mẹ. Giản dị vậy. Cho tới một buổi chiều, trong khi đang thẫn thờ dạo chơi một mình nơi khu Thanh Giám, bỗng nhiên cô gặp cậu cũng đang thơ thẫn nhìn trời.

“Chắc cậu Trình này, như Tú – Uyên xưa, đang ngơ ngẩn đi tìm người đẹp Giáng – Tiên biến hiện nơi phường Bích-Câu này hẳn? Mình phải trêu cho cậu hết mơ mộng mới được!” Và cô gọi:

 – Anh Trình! Anh Trình! Em đây mà. Khánh đang đợi anh trong “vườn Thanh” đây.

Nghe người gọi tên mình vẻ giật giọng, Trình thót đứng lại. Anh nhận ngay ra “bé Khánh nhà trước cửa”. Nhưng, không phải là cô bé Khánh nhỏ xíu ngày nào. Trước mắt Trình, đấy chính là một thiếu nữ khá xinh đẹp, và duyên dáng. Như một bông hoa hàm tiếu đang rộ nở. Bừng trong ánh sáng ban mai. Trinh nguyên. Thơm mùi hồng, huệ. Rất mực cao quý, tôn thờ.

Trình luýnh quýnh thấy rõ. Tim đập mạnh. Máu hốt nhiên bừng trên khuôn mặt nóng bừng. Anh mỉm cười, ấp úng:

– À, em Khánh! Sao? Em đang đợi anh ở vườn Thanh nào? Đây là khu Thanh – Giám thuộc phường Bích-Câu xưa. Thật tình cờ bữa nay mình gặp nhau.

Thiếu nữ rũ ra cười. Cái cười không hẳn vô tình. Mà là một cố ý, khỏa lấp. Rất tinh khôn của một cô gái vốn dạn dĩ cho Tình yêu, và vì yêu khi gặp đối tượng mình nhung nhớ bấy lâu. Nàng cười vui nhỏ nhẹ:

– Vâng, tình cờ mình gặp nhau… À, anh đi đâu đấy, có hẹn cô nào ở đây không? Em hỏi thật đấy!

Trình cười, nhìn sâu vào tận cùng đôi mắt cô gái đang khắc khoải:

– Ở toà báo ra, thấy chiều nay nắng đẹp, anh nhẩn nha đến đây để tìm tứ thơ, nhân thể tìm hiểu xem tâm sự của những con Rùa đội bia khắc ghi những Tiến sĩ, ông Nghè triều Lê nơi Thanh-Giám này. Còn em… em chờ ai ở nơi đây? Thật đấy, anh muốn rõ.

Khánh tức uất. “Té ra mình là con số không dưới mắt chàng! Cứ lơ mơ, lờ mờ dễ ghét! Nhưng được, mình cứ huỵch toẹt, xem chàng tính sao?”. Nghĩ vậy, nàng vờ cúi đầu, thẹn thùng:

– Em buồn quá. Còn nghỉ hè, không biết làm gì nên em đi xe điện tới phố Hàng Bông, xuống, rồi quanh quẩn ở tòa báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy hy vọng trông thấy anh đang ngồi làm thơ hoặc vẽ cho những bài thơ của anh. Nhưng không được như ý. Anh mải vui ở những nơi đâu… Em đành đi bộ qua chợ Cửa Nam, vượt qua phố Sinh-Từ tới Thanh-Giám để nhìn người xa lạ… Ô, ở khu này và ở trước cổng trường Sơ phố Hàng Bột kia có những cây còn nở đầy hoa phượng đỏ. Phượng học trò. Riêng của lứa tuổi học trò chúng ta, anh thấy có đúng không?

Nàng như cố nói tới một thôi dài trong tiếng thở, giọng run run. Trình thật hiểu tâm sự của Khánh. Cảm động, anh nắm nhẹ tay cô:

– Đúng. Phượng học trò. Và học trò, tất cả đều yêu hoa Phượng… rung rinh… trước gió.

Khánh cảm động, nhẹ chớp mắt rồi nhìn về phía xa kia. Nàng được an ủi rất nhiều. Và muốn rưng rưng nước mắt. Rút tay về, Khánh cười:

– Anh thử nhìn con đường trước mặt mà xem. Đầy màu hoa Phượng đỏ.

Cả hai nhẹ từng bước trên lối cỏ. Đây, đó phượng Hà-Nội nở rộ trong một buổi chiều cuối hè sắp sang Thu. Và ve còn râm ran trong lùm cây điệu-nhạc-buồn chưa một lần thay đổi.

Khung trời xanh lơ, bát ngát.

Đôi bạn cùng để lòng lâng lâng, lắng nghe tiếng con tim nhịp trong lồng ngực. Một lát. Thời gian như ngừng trôi. Lại một khắc nữa. Tình yêu ngợp trời như bủa vây họ. Đột nhiên Khánh nghe như có tiếng thở lan dài theo gió chiều phả nhẹ mái tóc nàng. Khánh ngó nghiêng. Nàng thấy chàng vẫn có vẻ xa cách: với khuôn mặt lạnh, chàng như mải ngắm bóng chiều dần thoi thóp trên con đường Hàng Bột bụi mù, chạy dài qua Gò Đống-Đa tới Ngã Tư Sở, và vào mãi tới miệt Hà-Đông heo hút. “Chẳng rõ anh nghĩ gì khi anh đang ở một bên em? Mới mười chín mà anh cứ như một ông già khắc khổ, không chịu vui với lứa tuổi của mình! Đọc thơ anh, em luôn thấy anh mơ màng về những bến sông vắng có con thuyền nhỏ đón đợi. Thế có nghĩa gì hở anh yêu?”

Nàng âm thầm nhận xét, không dám lên tiếng hỏi. Cái tuổi mười sáu (theo âm lịch) của Khánh, nói theo bà mẹ, giá lấy chồng sớm thì đã “tay bồng tay mang” đúng như câu ca dao:

Lấy chồng từ thuở mười ba

Đến năm mười tám thì đà năm con…

Hoặc:

Ra đường thiếp vẫn còn son

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng…

Bất giác Khánh buông tiếng thở rất khẽ. Nàng chợt thấy xấu hổ. Đến giây phút ấy Trình mới nhận ra cái khoảng trống của hai kẻ yêu nhau cùng lặng lẽ, im lìm sóng bước. Chàng âu yếm:

– Em có tâm sự buồn? Làm sao em lại thở dài?

– Không, em… buồn đâu! Chẳng qua em thấy anh mải ngắm bóng chiều phong đầy đường cát bụi… mà chạnh nhớ đến thân phận mình…Anh yêu ơi! Hai năm nữa em tròn mười tám tuổi, mình sẽ làm đám cưới nhé. Anh có vui không?

– Anh vui lắm chứ, thế… em sẽ bỏ học à?

– Gia đình em bảo “con gái chỉ cần đọc thông viết thạo là đủ. Mình nghèo, có được mảnh bằng Sơ học Yếu lược đã là khá rồi”. Do đấy em chỉ học thêm một năm nữa thôi. Rồi em sẽ tập vẽ, tập viết truyện… Có năng khiếu sẽ có ngày thành đạt. Tài không đợi tuổi, phải không anh?

Sau lần gặp nhau ở “vườn Thanh” khu Văn Miếu Thanh-Giám, Trình đã có cớ sang nhà Khánh để vẽ nhất là kèm cho cô học. Cha mẹ nàng rất vui không chút nghi ngờ.

Tuy nhiên giữa cậu học giỏi và cô bé lối xóm cũng rất đàng hoàng. Chẳng một ai thấy họ xàm xỡ, lợi dụng. Ngược lại, có một cái gì đó được gọi là nghiêm khắc ngăn giữa “lửa và rơm”. Và giữa “anh và em” chỉ hơn nhau gần năm tuổi.

Tình yêu của họ như đã theo một mật ước thiêng liêng làm chuẩn. Bảo đảm cho một ngày mai thỏa nguyền, hạnh phúc. Nên chẳng một ai cần “đốt giai đoạn” để “sống vội, yêu cuồng”. Ngoại trừ lúc ban đầu bâng khuâng, nhung nhớ mà ta quen gọi là “phải lòng” nhau. Cái cầu tương tư, cảnh gái mê trai hoặc trai mê gái, đã qua với cô bé hang xóm, có thể nói cả với thi sĩ Tuấn Trình “luôn lơ mơ khó hiểu”. Khánh thông minh, học giỏi nên tới kỳ thi, nàng đậu bằng Sơ học Yếu lược cách dễ dàng. Công lao ấy thực sự nhờ mảnh lực ái tình và sự khuyến khích nồng nhiệt của ai kia. Chứ riêng nàng nếu cứ võ vàng, suy tư, sầu muộn thì chẳng chữ nào “vô” được. Và hỏng thi là cái chắc, không sao tránh khỏi.

Bữa đón nàng ở cổng trường Tiểu học Sinh-Từ để cùng xem kết quả, cho đến lúc ấy Trình mới rõ thực sự bút hiệu Khánh chọn. Lúc mừng rỡ cùng dìu nhau đến bến xe điện phố Hàng Đẫy để ra Bờ Hồ ăn kem, Trình nói nhỏ bên tai Khánh:

– Em… khéo ghê! T.T.KH. lại là cô Từ Thị Khánh? Hoặc Tuấn Trình Khánh? Hay Thâm Tâm Khánh… Hỏi nhỏ em nhé: cả mấy đại danh tự đó em thích từ nào hơn?

Nghe người yêu “khờ khạo” hỏi, cô gái nguẩy người, vẻ giận dỗi, nhưng hoàn toàn vui. Nàng nũng nịu:

– Em thích T.T.KH. cơ. Tên đó nói lên cái tình em yêu anh. Cả hai người nhưng kết hợp, nó chì còn là một. Anh có chịu không?

– Chịu lắm, em!

– Thế sao anh cứ chậm hiểu và… hỏi mãi. Thật đấy!

Trình cười. Cô bé lém lĩnh thật. Thật thế, cô có cả một hành trang sắp sẵn, và chủ động. Về mọi việc. Cho cuộc đời ngay từ khi mới lớn. Mơ mộng và thực tế. Và lãng mạn trong truyền thống đức hạnh Việt Nam mặc dầu phong trào “trẻ trung lãng mạn” đang được cổ súy khắp nơi nhất là tại các đô thị…

Không thấy chàng trai trả lời, lại có vẻ suy tư, thốt nhiên nàng rùng mình nghĩ tới “cuộc đi chơi với trai” không hề hẹn hò này, và cái lặng lẽ đầy toan tính có vẻ ám muội của bọn đàn ông nói chung, ngoài chàng.

Nàng khắc khoải hỏi:

– Anh yêu, anh nghĩ gì thế?

– À, anh đang nghĩ về việc “cần chấn chỉnh lại đời sống xã hội” trong nay mai này. Anh như nhìn thấy một đoàn thanh niên, trong đó có anh đang đi trên con đường mênh mông sỏi, đá. Đường lại gập ghềnh, đầy truông sâu, rậm rịt, đầy song rạch hiểm nguy cản lối. Trước mặt, nơi tít chân trời, là biển sâu song vỗ… Vậy bọn anh phải làm sao đây?

– Anh… thật hay chỉ là giả tưởng? Các anh phải làm gì à? Thì cứ đi, cứ tiến, vững bước mà tiến lên. Không bao giờ quay lưng lại. Thế mới là nam nhi nước Việt. Nhưng rồi sao hở anh?

Xe điện leng keng tiến lại. Nhóm người đi xem kết quả và đông đảo học trò trai cũng như gái sửa soạn ào lên.

Nắng hè lung linh trên những khuôn mặt hớn hở. Riêng Khánh, không vui cũng chẳng buồn, đang tìm hiểu, cố tìm những điều Trình nói. Nó ngụ ý cái gì? Đoàn trai trẻ đang trên con đường chông gai trước mặt trong đó có cả Thâm Tâm

… Ly kem chanh ở một nhà hàng gần rạp chiếu bóng Phi-La Bờ Hồ sao mà khó nuốt đối với Khánh.

“- Nào, mừng em thi đậu! Em coi kià, Phượng học trò nở đỏ mặt Hồ Gươm. Ngoại cảnh, buồn hay vui đều tùy thuộc vào lòng người vui hay buồn, phải không em? Riêng đối với anh, cả cuộc đời anh, có thể vui ít buồn nhiều. Ảnh hưởng tới đời sống xã hội, của một giống nòi hiện làm kiếp sống nô lệ đó em. Mới mười bốn tuổi đầu, anh đã chứng kiến cảnh Tây thực dân dẫn giải những người yêu nước Việt Nam đi chém đầu mà các báo thời bấy giờ đều đăng tin đầy đủ. Rồi còn biết bao nhiêu án tù đầy ngoài Côn-Lôn nữa. Do đó, anh băn khuăn, luôn suy nghĩ đến thân phận mình, thân phận mọi người chúng ta. Vậy thì Tuổi Trẻ chúng ta khi đã biết suy nghĩ, chúng ta phải làm gì? Đấy là cả một vấn đề… Thôi, em ăn kem đi chứ!”.

Những âu yếm vồn vã của Trình khiến Khánh hởi dạ. Tuy nhiên, nàng chỉ mỉm cười, khẽ “dạ”, nhẩm nha nhấm nháp từng chút kem một vẻ buồn buồn.

– Đi chơi với anh lần này có lẽ là lần cuối. Rồi mai mốt này không biết cảnh ngộ hai đứa mình sẽ ra sao đây?

– Em lo xa quá! Trình cười vui. Rất hồn nhiên, cởi mở. Tuy cả hai gia đình chúng ta đều thanh bạch như nhau, nhưng nếu em cương quyết thì song nào, núi nào cản ngăn nổi. Các bạn anh cũng nghèo, đều ở gần nơi đây, như các anh Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính… Tội nghiệp, chị và bà mẫu thân vẫn phải làm lam lũ lo cho con….ngày bữa no, bữa đói. Chạy được gạo rồi còn phải kiếm chút rau, kéo vó kiếm vài ba con cua, con tép… nấu canh, kho mặn… ăn cho qua ngày. Bọn anh đều thương mẹ, thương chị nhưng hoàn cảnh chung của xã hội, bọn anh đành chịu trận chờ mong một ngày tươi sáng hơn, chứ biết làm sao bây giờ! Thôi chúng ta dạo bờ hồ một lát rồi anh đưa em về, em nhé!

– Dạ!

Cả hai cùng đứng lên. Trình ra quay trả tiền, dìu Khánh rời quán kem. Chàng và nàng cùng rảo bước, băng ngang đường đi về phía nhà Thủy Tạ.

Trời Hà-Nội gần về trưa hun hút nắng, đẹp. Càng lung linh sâu thẩm lồng bóng dưới gương hồ.Mây trắng lưởng vưởng bay bay. Gió hây hẩy khiến làn nước nhung xanh gờn gợn.

Đi một bên Trình, Khánh có cảm giác mình chỉ như một cô-em-gái rất bé nhỏ. Nàng lẽo đẽo theo chàng qua hết một vòng cung Hồ Gươm sang qua bót Hàng Trống, vào đường Trường Thi rồi quẹo thẳng đường Hàng Kèn. Hồ Thuyền Cuông nằm bên đường Halais phút chốc đã ở trước mặt, phía xa kia.

– “Anh khéo chọn đường để về nhà. Gần. Và toàn bóng cây rợp mát. Tới Halais, chỉ đi một khúc ngắn đường Mongrand nữa là tới đầu đường Khâm –Thiên vào Trung Phụng, nhà mình. Ô, sao mà anh im lặng? Anh nghĩ gì thế?

Bao câu hỏi trong óc nhưng Khánh không nói, không hỏi thành lời. Cả hai cứ như mải miết đi. Cho chóng về nhà.

– Anh nghĩ gì thế? Không thể dừng được, Khánh lên tiếng.

– À, anh đang nhớ tới bài thơ Căn gác nhỏ của anh bạn thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp…

– Anh đọc qua cho em nghe với. Anh biết đấy, em thích thơ lắm mà chưa thể làm được. Nhân tiện, anh kể cho em nghe sơ lược tiểu sử của nhà thơ ấy.

– Đồng ý.

Và chàng ngâm nho nhỏ khiến nàng phải đi sát vào người chàng, chứ không kẻ trước người sau nữa:

Ngõ hẽm, bùn rêu đầy gác nhỏ

Văn nhân tài tử mươi lăm người…

Ngâm xong, Trình lắc đầu:

– Thơ buồn quá em nhỉ? Thi sĩ là thứ nam ông Nguyễn Văn Vĩnh, chủ nhiệm Đông Dương tạp chí và em ruột nhà thơ kiêm họa sĩ Nguyễn Giang.

Năm ngoái anh Nguyễn Nhược Pháp cho xuất bản tập thơ nhan đề Ngày xưa gồm tất cả 10 bài. Và mới đây anh ấy đến thăm nơi các bạn anh thường tụ tập trên một căn gát nhỏ ở ngõ Sầm Công. Anh hiền như thơ của anh vậy. Anh ấy cũng có cả một tấm lòng đối với anh em nữa, nên xuất khẩu làm tặng bài thơ ấy đấy!

– Sao các anh lại tụ tập đông như thế, lại ở một căn gác nhỏ tại ngõ Sầm Công? Tụ tập để làm gì anh?

Trình không muốn nói ra một sự thực: đa số văn nhân thi sĩ Hà-Nội đều tìm nguồn văn ý thơ bên một ả Phù Dung. Do đó, mắc nghiện không sao dứt ra được. “May mà mình còn trẻ, không bị cám dỗ vào vòng, chứ không thì… Cơm hai bữa trong ngày, chạy ăn còn chật vật, huống hồ còn chạy  thuốc hút! Thật là tội nghiệp…”

Chàng nói lảng:

– À… thì thỉnh thoảng mổi tháng đôi lần, bọn anh thường ước hẹn ở đấy để bàn đủ thứ chuyện. Nhà văn nhà thơ vốn nghèo nhưng lại có máu “bốc đồng” ưa cao lâu Bồng Lai hoặc Đông Hưng Viên phố Hàng Buồm, nên bàn chuyện xong thường hay kéo đến những nơi ấy. Bữa anh Nhược Pháp tới thăm, là lúc Hà-Nội mưa dầm. Bùn ngập ngõ và rêu xanh ẩm ướt mốc meo ngàn đời trên tường. An hem lại chưa lãnh lương nên gặp lúc mưa rả rich, đành co người nằm chờ với bụng đói dỗ giấc ngủ. Anh Pháp làm thơ tại chỗ, nên bọn anh mới có. Đọc. Và thuộc. Bài này thật cảm động, rất đúng tâm trạng mọi người trong bọn anh lúc bấy giờ…

Nghe và ngẫm nghĩ một lúc lâu, Khánh thở dài:

– Ngõ Sầm Công ở đâu, anh? Có phải ở ngay liền một bên ngõ Quảng Lạc không? Khu ấy… em nghe nói có nhiều tệ nạn… không nên lui tới. Thế mà anh cũng tới được, lạ thật!

– Ở đâu mà chẳng có những tệ nạn. Chẳng qua khu đó có những Hoa kiều làm ăn, buôn bán suốt dọc phố Hàng Buồm, Mã Mây… hơi sô bồ… vậy thôi. Các bạn anh đến đấy, phần lớn là vì tòa soạn nhà báo đặt ở khu vực ấy: Hàng Bồ có nhà Lê Cường, Bờ Hồ có nhà Nam Ký, Quan Thánh có nhà Đời Nay của Tự Lực Văn Đoàn và báo Phong Hóa. Rồi phố Tiên Sinh, Hàng Bút, quành ra Hàng Gai, Hàng Bông, Cửa Nam, phố Sinh Từ… Tóm lại, trạm xe điện đi về các ngả 5 cửa Ô Hà-Nội là phố Cầu Gỗ ở đầu phố Hàng Đào. Các anh, mỗi tốp vài ba người. Tốp ở Ô Đông Mác, tốp ở Ô Cầu Giấy (có ngôi mộ của tên lái buôn người Pháp là Francis Garnier bị giặc Cờ Đen giết), tốp ở Ô Chợ Dừa, người ở cạnh Ô Quan Chưởng, và người ở Ô Cầu Dền, mãi miệt chợ Mơ, Hoàng Mai, Cống Vọng và Ngã Tư Sở… Chính Tô Hoài cũng ở mãi trên làng Bưởi nữa. Và chúng mình thì trú ngụ tại làng Trung Phụng… quanh năm bùn lầy nước đọng và ở ngay sát trung tâm Hà-Nội đó.

Mải mê câu chuyện, cả hai đã đi tới Hồ Thuyền Quang lúc nào. Khánh cắt ngang, vẻ linh hoạt:

– Này anh, mình sắp về tới nhà. Nếu mẹ có hỏi sao anh em mình về muộn thế thì anh liệu mà trả lời nhé. Cốt một điều đừng nói mình ra Bờ Hồ ăn kem là được!

Trình cười:

– Anh không quen nói dối.

Khánh nguẩy người:

– Nhưng… nói dối vô hại, anh đừng ngại phải nói thế. Bởi lẽ mình phải phòng hờ mọi chuyện, mọi thị phi có thể xảy ra.

– Ờ, anh sẽ nói dối kiểu vô hại, như câu ca dao xưa:

“Yêu nhau cởi áo cho nhau

Về nhà, mẹ hỏi

– Qua cầu… gió bay…”

Phải không em yêu?

*

Mùa hè năm sau, Hà-Nội vẫn không có gì thay đổi. Phượng vẫn nở trên các ngả đường. Ve vẫn âm vang điệu nhạc cũ trong các cành cây rợp mát. Và Trình vẫn sáng sáng cắp cặp tới tòa soạn báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, gặp ông Vũ Đình Long như thường lệ.

Ông chủ nhiệm đưa cho chàng bài thơ của Đặng Đình Hồng, một nghĩa đệ của nhà văn Lê Văn Trương vừa gửi tới, và mấy bức thư của độc giả nhờ chàng giải quyết. Ông không quên nhắc về trình trạng báo nhà  bị cạnh tranh ráo riết, cần phải có những món ăn mới, luôn luôn thay đổi và hấp dẫn người đọc. Như trường hợp Hà-Nội Báo có truyện Thị Mịch của nhà văn V ũTrọng Phụng. Một truyện dài ăn khách vì hấp dẫn được mọi giới độc giả với mấy màn “khiêu dâm vừa phải” mà vẫn làm rung động được lòng người. Về thơ thì có Phạm Huy Thông, con cụ Chấn Hưng, nổi tiếng về lịch sử các triều đại An-Nam mình sáng tác. Cũng được nhiều bậc thức giả tán thưởng, mua đọc. Ngoà ra, còn có Nguyễn Vỹ, Lê Tràng Kiều… luôn luôn dóng trống phất cờ. Nào là lối thơ Bạch Nga mười hai chân… với những sáng kiến thật táo bạo cứ như là muốn làm nổ tung cả Hà-Nội và toàn cõi Đông Pháp không bằng! Còn nữa, nhóm Phong Hóa, Ngày Nay của bọn ông Nhất Linh. Vẫn như trước, họ luôn đi tiên phong về số lượng báo và xuất bản các sách truyện. Ngay như loại Sách Hồng viết cho con nít mà cũng chạy như tôm tươi, cái mới kỳ lạ. Tại sao thế? Có phải họ viết hay và làm hay hơn mình không? Và đem so sánh, mình kém hơn họ về điểm nào?

Còn trẻ và nhất là chưa đủ kinh nghiệm, Trình tự biết mình chưa đủ tài nhận định về các khía cạnh ông chủ nhiệm đòi hỏi nên bàn:

– Mình cũng có những Lê Văn Trương, Vũ Bằng, Ngọc Giao, Nguyễn Triệu Luật, Trúc Khê Ngô Văn Triện… và bao cây bút hữu danh khác. Vậy ông mời họ cùng đến đây họp bàn, hy vọng tìm ra được diệu kế.

– Thì mình vẫn tự hào về loại “Những Tác Phẩm Hay” do Tân Dân xuất bản, loại Báo nhưng lại là Sách như “Phổ Thông Bán Nguyệt San” và tờ tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy này đấy chứ! Tuy nhiên ông Lê Văn Trương viết không đều tay. Sau những cuốn như Trường Đời, Tôi là Mẹ, Nguời Anh Cả… và gì gì nữa, ông luôn đi sai hướng. Nói mãi, ông mới viết Một Lương Tâm Trong Gió Lốc khá tàn bạo vô luân cùng với cuốn Trong Ao Tù Trưởng Giả, rất ăn khách. Còn ông giáo Nguyễn Công Hoan thì có tài, rất dí dỏm và sâu sắc nhưng ông lại nặng về mô phạm. Tóm lại, sự thực Tự Lực Văn Đoàn và báo Ngày Nay hơn ta điểm nào? Uy tín cá nhân ư? Tài năng và sự tổ chức? Mình đâu có kém họ những điểm ấy. Thôi, anh làm việc đi, tôi ra phố có chút việc. Nhớ suy nghĩ và tìm hiểu những điều tôi vừa nói. Để đầu tháng tới ta sẽ thảo luận cho thật chính xác…

Chàng trai hơi buồn vì biết đối tượng của mình chỉ là một nhà thương mại thuần túy trong ngành báo chí và xuất bản. Tuy cũng thành công đấy nhưng ông ta còn thiếu một tấm lòng đối với giới cầm bút nói chung. Ai lại cứ tối ngày so đo tính toán như một lái buôn. Phải có một lý tưởng và nhiệt tình với văn học… khả dĩ mới có uy tín trong giới văn nghệ sĩ và các giới độc giả.

Chàng lắc đầu ngán ngẩm. Suốt buổi sáng hôm ấy, ngồi làm việc, Trình cảm thấy hết hứng thú. Chiều, quen lệ chàng theo các bạn tới ngõ Sầm Công…

Đấy là vào một buổi chiều thứ bảy. Hà-Nội vui, nhộn trong các thú ăn chơi. Lần đầu tiên, thực sự Trình tìm quên, muốn khuây khỏa trong thú ăn chơi ấy. Và chàng say bí tỉ, quên cả trời, cả đất. Chàng ngủ như chết trên căn gác nhỏ, trong một con hẽm đầy bùn rêu ẩm mốc. Mãi tới tối chủ nhật chàng mới lần về nhà. Con hẽm Trung Phụng cũng đầy bùn, ngập ngụa.

Và người chị Trình cho biết cô Khánh, gia đình cô, mới dọn đi nơi khác. Vội vã, cô sang chào và nói “em về Thanh… sẽ có dịp trở lại thăm Bác và các anh chị”. Vẻ mặt cô ấy trông buồn lắm em ạ!

Trình thấy lòng rưng rưng muốn khóc.

Lặng lẽ chàng nhìn xế sang nhà có giàn hoa Ty-gôn ở trước cửa. Giàn hoa như chưa bao giờ, chẳng hề có. Và Khánh như chưa từng hiện hữu

Nhà không người, không đèn đóm, tối thui.

Cả một vùng trống rỗng. Thê lương. Như cuộc đời.

Tất cả…!”

(NTK, sđd tr 41-61)

– Nhận xét: Về cơ bản, chúng ta thấy rằng, cuối truyện, NTK đã bỏ đi chi tiết chủ yếu của mối tình Tuấn Trình – Khánh: Cô Khánh rời xa Tuấn Trình là vì dọn nhà theo mẹ chứ không phải bỏ người yêu mà đi lấy chồng thương gia, lớn tuổi. Động lực này khiến Tuấn Trình đau khổ tột đỉnh là chưa đủ động cơ.

Trong phần đối thoại, tác giả để nhân vật nói quá tầm hiểu biết của tuổi trẻ. Quan điểm cá nhân về cuộc đời, thời thế, tác giả mượn lời nhân vật suy nghĩ, nói khá nhiều. Thành ra, hai nhân vật trên trở thành phát thanh viên cho tư tưởng của tác giả.

Mức độ tư liệu, truyện của NTK cung cấp cho chúng ta khá lý thú về những văn thi nhân sống trong một xã hội nửa tây, nửa ta. Hai nhân vật Khánh và TT đều có nét tính cách chững chạc trong suy nghĩ, thơ ngây trong hành động và nhất là giữ được nét đẹp của thanh thiếu niên Việt Nam trong một thời kỳ khói lửa.

Với NTK, truyện có mở, có kết như thế là thành công. Tất nhiên những chi tiết từ trong nội dung các bài thơ của T.T.Kh được “lạm dụng” như: “vuốt tóc”, “thở dài”, “nhìn dáng chiều phong”, “lạnh lùng”… nên, “Dưới giàn hoa máu” cũng bị “ép xác”!

– Sự thất bại của Thế Nhật trong truyện không tên:

Chính là bám vào bản “Hoa tim” của Thư Linh Đỗ Thị Lạc.

 HOA TIM (ANTIGONE) – T.T.KH PHƯƠNG XA

Giây leo mỏng mảnh kết chùm hoa

Nho nhỏ xinh xinh dáng dịu hòa

Mấy cánh hồng hình tim khắng khít

Bao tua xanh sắc lá nhạt pha

 

Gió lên lồng lộng bông rơi rụng

Nắng thoảng mờ phai dạ xót xa

Thi sĩ ví như tim vỡ nát

Tình yêu tan tác giống đời hoa

 

T.T.KH Phương Xa

Có còn nhớ đến loài HOA TIM này?

Tuổi hồng vương mộng tình say

Đường tơ dở khúc, lòng day dứt buồn

 

Vườn Thanh xưa cánh hoa vương

Tóc mây phơ phất ai thường vuốt ve

Tài hoa cát bụi trần che

Non sông giục bước, lòng se sắt lòng

 

Một chiều thu nắng qua song

Bên nhau NGƯỜI ẤY mắt trông ánh buồn

Rồi theo bóng hạc mờ sương

Vin cành hoa trắng ngắm phương trời chiều

 

Tay ngà nâng cánh hoa yêu

Thở dài NGƯỜI ẤY đăm chiêu nhủ rằng

Hoa như tim vỡ thấy chăng?

Sợ tình tan vỡ… Nàng rằng: Không đâu…

 

Sắc hoa trắng mối tình đầu

Chúng ta hát khúc bạc đầu trăm năm

Hoàng hôn nhạt nét chiêu đăm

Mây trôi lãng đãng, núi nằm cheo leo

 

Gió lên hoa trắng bay vèo

Duyên thiêng tỉnh mộng, tình treo chỉ mành

Trời xui sóng rộng biển xanh

Hôn hoàng nhuộm tím mồi tình đầu tiên

 

HOA TIM vỡ nát hương nguyền

Lòng thơ lạnh khóc duyên thiêng nửa vời

Người đi ngày một xa xôi

Ngàn dòng tâm sự, một trời nhớ thương

 

Vườn Thanh hoa cỏ se buồn

Đêm ngày dệt mối tơ vương ngậm sầu

Giải đường xa bóng ai đâu?

Tiếc thương hoa vỡ nát màu chia ly

 

Không gian bặt tiếng người đi

Môi hồng lợt sắc, hồn thi thắm sầu

Tháng năm chờ trĩu lòng nhau

Áo Trang Sinh có gợn màu Hương Quan?

 

Vườn Thanh hoa nát, canh tàn

Ghi thơ thương nhớ, nhấn đàn chờ trông

Mối mai cha mẹ bận lòng

Vâng lời vẹn hiếu áo hồng ủ vai

 

Bắc, Trung đếm giọt u hoài

Pháo hồng thắm sắc đẹp ngời vinh sang

Duyên lành ủ trái tim tan

Nước mây thương khách đa đoan nghẹn lời

 

Nhớ, quên… ôi cũng đành thôi

Chung tình sẻ nửa bên người bên ta

Tình đầu đẹp nhất tuổi hoa

Thời gian trôi mãi vẫn là nhớ thương

 

Lắng nghe tiếng vạc chiều sương

Buồn nghiêng trướng gấm sầu vương mái lầu

Không gian bàng bạc tình đầu

Ai buâng khuâng nhớ? Ai rầu rĩ thương?

 

HOA TIM rụng trắng trong vườn

Hoa tan tác mộng nghẽn đường gió bay

Tái phùng trúc cỗi, mai gầy

Lệ thu dàn dụa hương ngây mủi lòng

 

Bài thơ ký tắt não nùng

Bao dòng tâm sự ngàn trùng quan san

Tình xưa ẩn náu thời gian

Người người thương cảm bàng hoàng hỏi: Ai?

 

Lặng căm náu tháng năm dài

Giữ danh chồng há dám phai chữ đồng

HOA TIGÔN vỡ tim hồng

Cung thương lỡ dở tơ lòng đứt dây

 

Tình yêu man mác trời mây

Vì yêu chịu khó đọa đày dở dang

Mối tình đẹp giữa trần gian

Là Hoa Tim vỡ, mộng tàn kiếp thơ

 

*Xin kính gửi người chị thơ xa mà tôi đã dành nhiều yêu mến.

                   “Những dòng thơ hoa – Nghiêm Phái – Thư Linh”

                      NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội 1994

(“T.T.KH – Nàng là ai?” sđd tr 65-69).

– Nhận xét: Bài thơ theo đơn đặt hàng này, tác giả viết dùm tâm trạng T.T.Kh nhưng không có sự cảm thụ thật lòng nên lạc lẽo, vô hồn. Người viết sau khi cảm thấy khó thành công ở thể loại thất ngôn hai đoạn đầu đã kịp chuyển sang lục bát. Nội dung bài thơ đều lấy lại nội dung thơ T.T.Kh và chỉ thêm phần “tái hợp” 3 đoạn rưỡi cuối. Lục bát gieo dạng tập tò. Nếu xét theo Công ước Berne mà ngày 26/7/2004, Việt Nam đã ký xin gia nhập. Ví dụ về một tác phẩm: “Sao chép nguyên văn một phần hay toàn bộ tác phẩm đã có từ trước nhưng không có giấy cho phép của người hay giới có bản quyền.

Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng toàn bộ ý tưởng chi tiết cũng như thứ tự trình bày của một tác phẩm bị sao chép. Dạng vi phạm này khó phát hiện hơn nhưng vẫn có thể cho là một dạng vi phạm bản quyền nếu như có bằng chứng là “bản sao” bắt chước theo nguyên mẫu.

Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng bị thông dịch lại các ý tưởng sáng tạo (thành ngôn ngữ khác hay thành các dạng khác).

Lưu ý: Một tác phẩm sẽ không bị xem là vi phạm bản quyền nếu nó là sự tổng hợp có tính sáng tạo riêng từ nhiều hệ thống tác phẩm khác về ý (ý văn, ý nhạc, ý tưởng). Tuy nhiên, để kết luận rằng một tác phẩm là không hay có vi phạm bản quyền, trường hợp này, thường rất phức tạp và đôi khi phải có sự can thiệp của các luật sư và toà án. (vi.wikipedia.org).

Bài thơ “Hoa Tim” của Thư Linh Đỗ Thị Lạc này nằm trong hệ thống “đạo văn” từ thơ T.T.Kh nói trên.

BTTN cũng là dạng “đạo thơ” từ HSHTG. TBH của Hoàng Anh Tú cũng “đạo thơ” theo kiểu đó:

Tống biệt hành

Đưa người ta đưa ra sân bay
Đã nghe mây xám khắp mặt mày
Chiều xuống trăng lên sầu vạn thước
Một tấm kính ngăn tay rời tay
Đưa người ta chỉ đưa tới đây
Đã nghe hẫng lòng sống mũi cay

Ly khách! Ly khách! Đôi mắt đỏ
London- Hà Nội mấy ngàn cây
Hỏi người bao giờ nói trở lại
Hai năm cộng lại bảy trăm ngày

Ta biết London sương mù lắm
Bây giờ Hà Nội sương buông trắng
Một phố, hai phố trắng sương buông
Chẳng biết vẫy tay ai. Phố vắng
Ta biết người cô độc xứ người

Thân gái đường xa buồn chết thôi
London ko có mùi hoa sữa
Nên dẫu có sương buông ngang trời…

Người đi, ừ nhỉ, đừng ngoảnh lại
Mắt thà coi như chẳng thấy nhau
Tai thà coi như ko tiếng nấc
Chân thà coi như bước thật mau…

Đây là loại thơ “tập tàng”, chỉ là dạng “ghép chữ”. Một bài “đạo thơ” chính hiệu hàng… Trung Quốc! Nội dung tầm thường. Thi pháp nhạo chế kém cỏi. Không hiểu thivien.net tại sao lại tuyển loại thơ này vào trang web mình? Tuy nhiên, nó cũng có ý nghĩa là ta có thể tự soi thơ mình vào thơ người để phân loại thấp cao! Trường hợp “họa thơ” (phải tuân thủ phép họa), trích thơ người khác vào bài thơ mình, có trích dẫn thì không phải đạo thơ. Ví dụ, bài “66” của Xuân Sách có ghi chú trích thơ TT “Câu Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!” trong bài thơ “Tống biệt hành” của nhà thơ thực!” trong bài thơ “Tống biệt hành” của nhà thơ Thâm Tâm).

Người đi, ừ nhỉ người đi thật

Đi thật nhưng người lại trở về
Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu
Mà đắm hồn người trong tái tê.

– Với bài “Hoa tim” của Thị Lạc, họa thơ thì không phải vì không trùng thể loại. Đây là một bài thơ từ không nói có, từ cái có nói đến cái không có. Thế Nhật đã sử dụng để làm nền cho cuốn sách của mình kết thúc câu chuyện nồi cơm “trùng phùng… trong vòng tay” của Thanh Châu và Vân Chung một cách… sống sít!

– Về bức thư của Thế Nhật: Thư Thế Nhật gởi Vân Nương và Thanh Châu cũng như thư bà Đỗ Thị Lạc đều “rào trước đón sau” buộc người vào thế “cưỡi lưng cọp”. Cả hai đều mang chiếc “vương miện” (sự nổi tiếng) chụp lên đầu người ngoài cuộc bị “bắt cóc bỏ dĩa” và báo mức tai hại nếu từ chối: “Dù chị có cải chính thì ai cũng hiểu cả rồi!”. Nghĩa là, bà nhận hay không đều chẳng có ý nghĩa gì khi sách “T.T.KH -Nàng là ai?” đã sinh non, thơ “Hoa Tim – T.T.KH Phương Xa” đã lỡ “không chồng mà đẻ”… mới ngon!

Tóm lại: Thế Nhật đã không thể nào thành công khi tuyên bố Trần Thị Vân Chung là T.T.Kh và Thanh Châu là người yêu của T.T.Kh bằng sự nhận xét còn nhiều cảm tính. Xử lý tư liệu hời hợt vì đọc chưa kỹ thông tin. Nóng vội khi in sách về nhân vật thật mà không so sánh, đối chiếu, liên lạc với nhân vật còn sống để chỉnh lý, bổ sung chi tiết (sai đúng?). Cho nên, khi bị nhân vật thật phản đòn bằng chiêu thức “pháp luật” thì không đỡ nổi nên trở qua… quạu quọ, thách thức. Điều này, không hay. Đây là một bài học cho chúng ta về bốn chữ “lương tâm” và “tín nhiệm”.

 

Với Trần Đình Thu:

+ Nguồn tư liệu chưa rõ ràng:

– Phần I: “Câu chuyện buồn bảy mươi năm xưa”: Những tư liệu về nghi án văn học bắt đầu bằng câu chuyện T.T.Kh với 4 bài thơ chưa biết TĐT đọc, trích dẫn từ nguồn tư liệu nào?

 Phần I, III: Vẫn không mới hơn những bài viết đã in trong sách hay trên các mạng về Nguyễn Bính, TT, Bùi Viết Tân, Phạm Quang Hòa, Hoài Thanh – Hoài Chân, Hoàng Tiến…

Có một điều hết sức sai lầm khi TĐT cho rằng: “những câu thơ dường như chỉ là tác giả nữ thì mới viết như thế:

                          ‘Nếu biết rằng tôi đã có chồng

Trời ơi! Người ấy có buồn không” (sđd tr 52).

Vậy, ta hãy đọc những câu sau đây của ai viết?:

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

 

Hay:            Anh ơi! Em nhớ, em không nói,
Nhớ cứ đầy lên, cứ rối lên

…Nhớ nhớ, mong mong, mãi mãi rồi …

 

Hoặc:            Một mình đứng tủi ngồi sầu,
Đã than với nguyệt lại rầu với hoa.
Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải,
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ.

Còn một đoạn lời nhạc: “Và em muốn nói yêu anh dù tình yêu trái ngang. Và em muốn nói yêu anh dù đời đã dở dang…Và xin tha thứ cho nhau để lòng thôi đớn đau…Và em muốn nói yêu anh dẫu cho tình phai tàn…”.

Nam hay nữ viết?

Nếu cho rằng lời nữ thì nữ viết, lời nam thì nam viết thì làm sao ta có lời Thúy Kiều khóc lỡ duyên Kim Trọng trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du? Ta làm sao nghe được tâm sự ai oán của cung nhân than khóc trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều? Ta cũng chẳng được nghe lời người con gái nhớ mong trong “Nhớ” của Nguyễn Bính và cũng chẳng được nghe Mỵ Châu tha thiết với Trọng Thủy trong bản nhạc “Và em hãy nói yêu anh” của Việt Dũng… trong các ví dụ ở trên! Những tác giả đó là nữ sao?

– Đánh giá những cuộc tình chưa chính xác: Không hiểu căn cứ vào đâu mà TĐT cho rằng: “Làm sao từ một câu chuyện tình phụ tầm thường nhạt nhẽo giữa Thâm Tâm và cô gái mang tên Trần Thị Khánh hay Tào Thị Khương nào đó mà thi sĩ viết được những câu thơ đớn đau thế này?” (tr 54).

Vậy sau này, Vân Chung bị nạ thành T.T.Kh thì cuộc tình Thanh Châu với Trần Thị Vân Chung là một chuyện tình “cao thượng, ngọt ngào”? Thế sao họ chia tay? Có phải vì Vân Chung lấy ông quan Huyện bỏ Thanh Châu không? Nếu phải thì cả hai Khánh hay T.T.Kh – Vân Chung cũng là “tình phụ” hết mà TĐT đã “nhất bên trọng, nhất bên khinh” thật là “nghịch nhĩ”!

– Kết luận thiếu tư liệu: “Nhiều hình ảnh trong thơ T.T.Kh không thể có được trong thơ của Thâm Tâm hoặc của Nguyễn Bính: nhặt cánh hoa rơi, buồn quá xem tiểu thuyết, tiếng lá thu khô…Những hình ảnh này rất “Tây” tiêu biểu cho một tầng lớp thị dân chính cống chứ không phải từ nhà quê lên tỉnh như Nguyễn Bính”.

Vậy những hình ảnh này có “Tây” không nhé?:

1. Lạ quá! Làm sao tôi cứ buồn?
Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn?
Làm sao tôi cứ tương tư mãi?
Người đã cùng tôi phụ rất tròn?

2. Trời đen như mực tối ba mươi
Diễm trốn nhà sang để gặp tôi
…Rùng mình Diễm sát lại gần tôi
Nắm chặt tay tôi, khẽ mỉm cười

3. Ai đi chắp lại cánh hoa rơi? 
Bắt bóng chim xa tận cuối trời.
Có lẽ ngày mai đò ngược sớm,
Thôi nàng ở lại để… quên tôi.

4. Mùa thu đến chậm như chưa đến,
Lá vội rơi theo gió vội vàng,

 

5. Mỗi buổi thu sang gió lạnh nhiều
Tình rụng tự mùa thôi rụng lá
Biết tìm đâu phấn hương yêu.

Chúng ta đã tìm hiểu nội dung thơ NB ở phần I. Trong thơ T.T.Kh có cái gì thì thơ NB có cái nấy. Ai dám bảo không là chưa đọc hết NB! Chi tiết “buồn quá – xem tiểu thuyết” của T.T.Kh là vì T.T.Kh “cảm xúc” từ truyện “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu mà ra. Nếu NB cũng bắt chước viết “xem tiểu thuyết” thì còn gì là… NB! NB “không cảm” “Hoa Ti-Gôn” của Thanh Châu nên không thể viết “buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết” nhưng NB “cảm” bài thơ BTTN của T.T.Kh (bài mình viết thì mình nhớ hơn ai hết) nên đã viết: “Hôm qua vừa đọc thơ người vườn Thanh” trong (Cô gái vườn Thanh – Dòng dư lệ”) dù cái cảm này “chưa chín” nên… cảm sang đàng! Cảm cho thị hiếu độc giả thời bấy giờ mê say T.T.Kh.

Phân loại thơ “Tây” hay “Ta”, “nông thôn” hay “thành thị”, chúng ta không nên xẻ chúng nhưng xẻ mít, chẻ như chẻ tre. Có những ngôn ngữ riêng dành cho nội dung tác phẩm mà mỗi tác giả cần có. Cũng là một loại kèn nhưng nhạc thổi kèn đám ma vẫn khác nhạc kèn đám hát chứ!

Về NB (đã nói kỹ trong phần đầu), nếu có phân biệt thì hãy coi thử thơ NB có chứa đại từ nhân xưng ngôi thứ ba “Người ấy”  và ngôi thứ hai “Người” mà thơ T.T.Kh chủ yếu nhắc tới hay không?

Lại có đấy:

6. Người ấy, bụi hồng phong nếp áo
Đi theo tiếng gọi của vinh quang
Nhưng nay dừng bước trên hoa rụng,
Người thấy đâu đây một nhỡ nhàng.

“Hôm nay đã cuối thu rồi lạnh
Nàng hãy mang theo bóng dáng tôi
Cho ấm lòng mình khi lỡ bước
Mưa phùn trên quán trọ xa xôi”.

Người ấy đi rồi… Nàng trở lại
Hờ hai mắt đọng một u sầu.
Buồng hương hoa héo mùa thu hắt
Qua lá mành tương đã lạt màu.
Bao nhiêu ân ái thế là thôi.


Những dẫn chứng trên là trích từ các bài thơ “Vâng, Thi vị, Thôi nàng ở lại, Quán lạnh, Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời để dành riêng tặng cho nàng” của… NB đấy!

Chủ đề thơ T.T.Kh bao trùm là tình yêu với kỷ niệm mùa thu đầy hoa Ti-Gôn rụng thì làm sao TT hoặc NB dùng từ “tráng sĩ”, “đập vỡ chén”, “giày kiếm gươm cùn” hoặc cứ “hái dâu, chăn tằm, dệt cửibắt bướm, quay tơ” được. Thơ Mới là tiếng nói bức phá khỏi gông cùm luật lệ thơ đường luật cũ nặng nề thi pháp, chằng chéo tứ thơ. Nếu cứ cho NB không “mới” thì sao các ngài Tiến sĩ, Giáo sư chúng ta cứ một hai bảo rằng trong các nhà Thơ Mới nhất định phải có NB? Nếu TT cứ “cựu” hoài thì những trang sách “Từ điển văn học” cò những dòng ghi TT đến với Thơ Mới muộn màng nhưng có tiếng vang! Khi nào cần mới, tác giả sẽ mới chứ. Không những mới mà còn “mới toanh” nữa kia!

Nếu nói thơ NB, TT không có “lá thu khô” như T.T.Kh nên không thể là T.T.Kh thì đây: Một Lưu Trọng Lư có: “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô”. Lá vàng khô với “lá thu khô” có gì không phải mùa thu khô lá? Lá mùa thu rụng thường rơi vào mùa thu khô hẳn nhiên như trái đất tự quay chính nó và quay chung quanh mặt trời! Lưu Trọng Lư có phải là T.T.Kh không?

Điểm “sáng” của TĐT là sự phát hiện thơ NB không giống thơ T.T.Kh (TĐT chỉ so sánh bài HSHTG mà thôi) nhưng không chỉ ra được vì sao? Bởi vì, NB không phải là tác giả bài thơ HSHTG!

Xác định loại thơ chưa chín nên TĐT trượt đà trên đoạn đường mình đi tới cuối cùng “vô định con đường rêu“…

– TĐT giải án “Ai là người yêu của T.T.Kh”:

+ Tìm “Người” trong thơ T.T.Kh chưa trúng:

Thứ nhất: Bài thơ HSHTG không phải là “bài thơ như ‘họa’ lại truyện ngắn từ hình thức cho đến nội dung” truyện ngắn của Thanh Châu như TĐT nghĩ. Ta đọc truyện ngắn này của ông:

HOA TI-GÔN

“…Hoa leo ti-gôn sắc đỏ, sắc hồng, sắc trắng năm nào cũng vậy, một mùa tàn lại một mùa nở. Nó chẳng giống lòng bất trắc của con người…”
KHÁI HƯNG (Gánh hàng hoa)
Sáng nào cũng vậy, hết giờ dạy vẽ ở trường Mỹ thuật về qua phố Tràng Tiền, họa sư Lê cũng không quên mua một bó hoa “ti-gôn”. Đó là thói quen của họa sư mà không một người bạn hay người học trò thân nào là không biết rõ. Đến mùa hoa “ti-gôn” nở nhiều nhất, trong nhà họa sư Lê người ta chẳng còn thấy một thứ hoa nào khác. Mà có người nào tẩn mần ngắt một nụ hoa nho nhỏ ấy xem kỹ, họ sẽ phải cho lời nhận xét của họa sư Lê là đúng: “Hoa ti-gôn hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu hồng dịu như nhuốm máu đào”. Rồi người ta phải tự hỏi thầm: “Tại sao họa sư Lê lại thích chơi cái thứ hoa trông như giấy ấy, để trong phòng quá một ngày đã rụng rồi? Chắc lại có điều tâm sự chi đây”.
*
Một buổi trưa – hồi đó Lê Chất hai mươi bốn tuổi, còn là một họa sĩ nghèo mới ở trường ra – một buổi trưa đạp xe về các vùng lân cận Hà-Nội, Lê Chất rẽ vào làng Mọc với giá vẽ buộc trên xe. Người thiếu niên ấy đi tìm cảnh đẹp. Mà cảnh đẹp đây là một thiếu nữ chàng mới gặp chiều qua.
Đến gần một ngôi nhà cũ kỹ, trông ra dáng biệt thự của một ông quan hưu dùng làm chỗ nghỉ ngơi, Chất hãm xe, nghễn cổ nhìn qua một hàng rào cây tốt um tùm. Chiều qua, lúc Chất sắp đạp xe rất nhanh qua đó, tình cờ liếc mắt vào nhà, bỗng thấy một thiếu nữ đứng trên một chiếc ghế cao, đang với tay lên những dây hoa đỏ trên giàn nứa. Người con gái mặc áo cánh lụa cụt tay, hở cổ, để lộ một màu da khỏe mạnh, như thứ da thường ra nắng của những cô gái nhỏ. Hai má ửng hồng, vài sợi tóc trên vầng trán, cảnh “con gái hái hoa” ấy như một bức tranh linh động, khiến người họa sĩ phải dừng chân ngắm không chán mắt. Khuôn mặt đều đặn, vẻ đẹp thông minh, nhất là đôi môi có một nét vẻ lạ, đó là thứ nhan sắc hiếm hoi, ai trông thấy một lần đều in sâu trong trí nhớ. Thiếu nữ vô tình, bận gỡ hoa trên giàn đã để Lê Chất có thì giờ nhìn ngắm kỹ. Đến khi cô gái bước xuống đất, sắp vào nhà, đưa mắt nhìn ra đường thấy có người đứng nhìn mình, mới cau mày tỏ vẻ không bằng lòng.
Nhưng từ hôm đó, hôm nào họa sư cũng đạp xe vào làng Mọc, giá vẽ buộc trên xe, mà chẳng vẽ bao giờ, vì còn bận quanh quẩn gần biệt thự. Thiếu nữ động trông thấy bóng anh chàng là lẩn vào nhà.
Lê Chất chỉ được trông thấy nàng vài lần nữa rồi thôi bởi ngôi nhà hình như sau đó không có người ở nữa, ngày nào cũng chỉ nhìn thấy có một ông già cuốc cỏ trong vườn.
Rất lâu, Lê Chất mơ màng đến người thiếu nữ. Anh cố nhớ lại khuôn mặt, thân hình, hai cánh tay đẹp để trần, nhất là đôi môi của thiếu nữ. Anh đã vẽ nhiều croquis cất trong an-bom để ghi giữ lại rồi dần dần cũng quên đi…
Lê Chất đã nổi tiếng. Thầy học cũ của anh vì mến tài, đã đưa anh lên một địa vị mà nhiều người ghen tỵ. Tranh của anh được nhiều báo nước ngoài nói đến và bán với giá cao: Anh đã bỏ lối phong cảnh để vẽ người. Tranh vẽ người, nhất là tranh vẽ đàn bà đã khiến các bạn Chất tặng cho cái tên: “Người lấy máu để vẽ các cô gái đẹp”. Họa sĩ đã trở nên giàu có, ăn mặc sang, khó tính. Lê Chất bây giờ đã đứng tuổi, từ lâu không còn là gã họa sĩ nghèo huýt sáo đạp xe quanh vùng lân cận Hà-Thành đi tìm cảnh đẹp, với giá vẽ buộc trên xe đạp.
Mùa lạnh năm ấy, Lê Chất đi vẽ ở một vùng Vân Nam phủ. Trong một bữa tiệc chiêu đãi của tòa lãnh sự Pháp, họa sĩ trông thấy một thiếu phụ ta, đẹp một vẻ khác thường, nhưng có dáng buồn. Chất bỗng ngờ ngợ như hơn một lần đã gặp người này. Ở đâu? Chất giật mình. Có thể nào? Nhưng quên làm sao được khuôn mặt ấy, đôi môi ấy? Nhờ một người quen giới thiệu, Chất được rõ: Thiếu phụ là vợ một viên chức trong tòa lãnh sự.
Trong khi nhảy với thiếu phụ một bản “tăng-gô”, Lê Chất đột nhiên hỏi:
– Bà vẫn thích hái hoa “ti-gôn” chứ?
Thiếu phụ nhìn chàng rất ngạc nhiên:
– Ông nói gì… tôi không hiểu.
– Có lẽ bà đã quên Hà-Thành, làng Mọc, cái biệt thự xinh xinh có một giàn hoa…
Người đàn bà ấy kêu lên, mắt long lanh:
– Có phải ông là cái anh chàng họa sĩ vẫn nhìn trộm tôi ngày trước đó không?
Nàng nói tiếp:
– Thảo nào mới nhìn ông tôi cũng tự nghĩ không biết đã gặp ở đâu rồi. Tám chín năm rồi đấy, thế mà chúng ta còn nhận được nhau…
Mai Hạnh – tên thiếu phụ – rất buồn ở Vân Nam phủ. Nàng không có bạn. Lấy một người chồng gia thế cân đối với nhà mình, cuộc đời nàng bằng phẳng nơi đất khách. Bây giờ gặp được người cùng xứ, người đó lại đã dự vào dĩ vãng tươi đẹp của mình, một họa sĩ nổi danh, nàng không có cảm tình với Lê Chất làm sao được? Hạnh thường đến chỗ họa sĩ trọ, thăm viếng mỗi ngày, và thuận cho chàng vẽ một bức chân dung.

Một buổi sáng, hai người đi chơi, trên một ngôi chùa Tàu cheo leo đỉnh núi, Lê Chất nói:
– Tôi biết thế nào trong đời tôi cũng còn gặp Hạnh, bởi vì không bao giờ tôi quên cái buổi chiều ở làng Mọc. Nhưng số mệnh khiến chúng ta gặp nhau lần này có phải là để chúng ta chỉ có thể thành đôi bạn thôi ư? Hạnh có đoán được lòng tôi lúc này không?
Mai Hạnh, giọng run run tái nhợt, giơ tay bịt miệng Lê Chất. Nhưng khi Chất đã ôm nàng thì Hạnh không cưỡng lại:
– Em cũng yêu anh ngay từ buổi đầu.
Thế là, hai người như sống trong một cơn mê.
Mai Hạnh cố chống chọi lại với tình yêu mỗi ngày một lớn, còn Lê Chất thì lo ngại, tính toán như ngồi trên đống lửa. Chàng định cùng Hạnh trốn đi Nhật, không cần danh dự, chức nghiệp, dư luận của người đời. Nhưng Mai Hạnh tuy yếu đuối hơn, rụt rè, e ngại sau cùng cũng nhận lời.

Lê Chất trở về Hà-Nội, sắp đặt xong mọi việc, lo lót giấy tờ tiền bạc, đồ dùng đi xa, tất cả đã sẵn sàng, thì phút cuối cùng nhận được thư của Hạnh: “Chất, anh hãy đi một mình và quên em đi, vì em không có thể theo anh. Đừng giận em tội nghiệp, em không phải là loại đàn bà có thể vượt được hết những khó khăn như anh đã tưởng. Đến phút cuối cùng, em bỗng sợ, em sợ gia đình tan tác, khổ thân thầy mẹ em, chồng em khinh bỉ, tai tiếng ở đời, những lo ngại ở tương lai… Em thấy rằng: nếu đi với nhau chưa chắc chúng ta đã sung sướng. Anh thấy chưa? Em là một đứa hèn! Em không yêu anh được như anh tưởng đâu, vì em đã hy sinh anh cho tất cả những lo ngại trên kia. Vậy mà em yêu anh có thể chết vì anh được. Trong đời anh còn nhiều chuyện, anh có thể quên em được đấy! Nhưng còn em thì chẳng bao giờ, chẳng bao giờ! Vì em biết em sẽ không bao giờ tự an ủi được, bởi em đã làm hỏng đời em, nếu em chẳng theo anh…”
Trong thư, một dây hoa “ti-gôn” nhỏ ép rơi ra: những nụ hoa chum chúm hình quả tim vỡ, đỏ hồng như nhuộm máu đào.
Lê Chất đặt một cái hôn trên những cánh hoa, và khóc. Nhưng đó là một kẻ đàn ông có nghị lực. Chàng đi du lịch xứ Phù Tang có một mình.
*
Bốn năm sau, một hôm họa sư Lê Chất thấy trên bàn giấy mình một phong thư viền đen báo tang. Ông mở ra xem thì đó là của người chồng Mai Hạnh báo tin nàng đã chết.
Họa sư đáp xe lửa đi Vân Nam ngay để một buổi chiều đặt trên mồ Mai Hạnh những dây hoa quen thuộc. Rồi trở về Hà-Nội, ông mới sực nhớ ra rằng đã quên không hỏi xem Mai Hạnh đã chết vì một bệnh gì, một cơn cảm sốt… hay vì sầu muộn…
Ngày nay, họa sư Lê Chất đã già, nhưng cứ đến mùa hoa “ti-gôn” nở, không buổi sáng nào ông quên mua một ôm về thay thế hoa cũ trong phòng vẽ, vì thứ hoa ấy chóng tàn.

THANH CHÂU

(TTTB, 7-1937 – VNKNQH, tr 183-188).

Truyện trên có gì mà giống thơ T.T.Kh ngoài hoa Ti-Gôn có hình quả tim vỡ? Nếu căn cứ vào chi tiết này để ép Thanh Châu có cuộc tình với T.T.Kh mà truyện ngắn trên “đầu dây mối nhợ của mọi chuyện” như TĐT nói hay những ai cùng ý kiến là chưa hiểu câu trích dẫn của Thanh Châu.

Nếu đầu dây mối nhợ thì phải từ truyện dài “Gánh hàng hoa” (1934) của Khái Hưng và Nhất Linh. Thanh Châu trích dẫn cũng chưa đầy đủ khi chỉ ghi mỗi Khái Hưng là tác giả. (Ví dụ như cuốn TNVN do hai anh em HT – HC đồng tác giả thì khi trích dẫn, chúng ta buộc phải ghi tên cả hai).

“Gánh hàng hoa” có 13 chương. Câu trích dẫn của Thanh Châu lấy từ chương thứ 11 (Hai cảnh mộng) nói về nhân vật Liên (cô gái bán hoa, vợ Minh) đang buồn chồng là Minh sau khi sáng mắt đã bỏ nhà đi theo người đàn bà tên Nhung khác. Khái Hưng và Nhất Linh đã để nhân vật Liên liên tưởng: “Quả thật, những bông hoa đủ các màu sắc rực rỡ như vui mừng hớn hở chào mừng và an ủi một người bạn từ thuở xa xưa. Hoa ti-gôn sắc đỏ, sắc hồng, sắc trắng, năm nào cũng vậy. Cứ một mùa tàn lại đến một mùa nở. Nó chẳng giống như lòng bất trắc của con người. Hoa kim liên sắc vàng tươi như một nụ cười thân yêu. Song Liên chẳng buồn ngắm tới mọi vật, chỉ cặm cụi ngồi xới đất ở các gốc huệ, gốc hồng. Khi tới gần giàn móng rồng, Liên chạnh lòng nhớ lại thời kỳ Minh mắc bệnh. Nàng ngậm ngùi ứa hai hàng lệ…”.

Lòng bất trắc” ở đây ám chỉ Minh phản bội nàng, cũng vừa ám chỉ biến đổi khó lường của cuộc đời nhất là trong những mối nhân duyên.

Thanh Châu mượn lời cảm nghĩ của nhân vật Liên là muốn nói đến hai nghĩa này cho nhân vật Lê Chất của mình thôi! Cảm xúc của Thanh Châu có từ “Gánh hàng hoa” chứ không phải chỉ riêng hoa Ti-Gôn mọc và rụng đầy Hà Nội. Ta chẳng thấy có cái chi là ám chỉ cuộc tình “chẳng bao giờ có” giữa ông và T.T.Kh cả.

+ So sánh truyện “Hoa Ti-Gôn” và HSHTG:

– Mở đầu: Họa sư Lê (trung niên) sáng nào cũng mua hoa ti-gôn. Ông trình bày câu chuyện thay cho câu trả lời: Vì sao? Vì ngày xưa, ông là Lê Chất 24 tuổi đi tìm chỗ vẽ thì gặp một thiếu nữ (như truyện đã mô tả) đứng gỡ hoa Ti-gôn. Buổi gặp mở đầu ấy là “một buổi trưa”.

Trong khi HSHTG, buổi gặp là “mỗi hoàng hôn”“Nặng ánh nắng tà qua mái tóc. Tôi chờ người đến với yêu đương”. “Người ấy thường hay vuốt tóc tôi” trong khi truyện tảThiếu nữ “cau mày tỏ vẻ không bằng lòng” chàng họa sĩ nhìn trộm. Mỗi lần nàng “thấy bóng anh chàng là lẩn vào nhà” để cho chàng… ngửi bóng chứ nào được “xơ múi” gì?

Hai nhân vật, hai hồi ức tréo bản họng, giống cái gì đâu trời?

Tiếp theo: Truyện tả cảnh thiếu nữ bỏ đi nơi khác còn Lê Chất ở lại, trong khi HSHTG than “Đâu biết lần đi một lỡ làng… Người xa xăm quá! Tôi buồn lắm”. Lê Chất “dần dần cũng quên đi” khi nhân vật thơ “dưới trần gian khổ chết yêu đương”. Nàng trong thơ “xem tiểu thuyết” Thanh Châu xong, xúc động làm thơ và than thở. Truyện kể Lê Chất đã thành trung niên, họa sư nổi tiếng, gặp lại người thiếu nữ ngày xưa (nay cũng thành thiếu phụ) trong một “mùa lạnh” (tức mùa đông) và hai người yêu nhau trong bối cảnh “tình ngoài”. HSHTG đâu có giây phút này?

Hai người hẹn hò, rủ nhau bỏ đi Nhật. Thiếu phụ trước ừ, sau gởi thư từ chối. Những điểm này, nhân vật thơ không nói tới. Sau đó, Lê Chất được tin chồng thiếu phụ báo nàng đã chết trong khi nhân vật trong thơ chỉ hồi ức về người ấy “ngóng đòchiều thu rụng đỏ” hoa ti-gôn…

Chi tiết thiếu phụ bảo Lê Chất: “Em cũng yêu anh ngay tự buổi đầu” nghe như “không trung thực” vì trong truyện, Thanh Châu đã không để nhân vật Mai Hạnh có một “ấn tượng tình yêu” từ họa sư Lê Chất như Nguyễn Đình Chiểu đã để nhân vật Kiều Nguyệt Nga ghi bónh hình Lục Vân Tiên là chàng trai anh hùng, nhân nghĩa vì đã đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga. Kiều Nguyệt Nga trong lòng Lục Vân Tiên là người con gái có sắc, có tài. Vì vậy, sau này, hai nhân vật đó nên duyên rất lôgích. Cũng như nhân vật thơ HSHTG có tình yêu từ những buổi hoàng hôn, từng được người yêu vuốt tóc… nên khi “pháo nhuộm đường” vẫn “giấu trong tim bóng một người” có vẻ hợp lý hơn.

Lê Chất đáp xe lửa đi Vân Nam để viếng mộ Mai Hạnh bằng những hoa ti-gôn quen thuộc. HSHTG có nói tới đâu?

Kết thúc: Nhân vật Mai Hạnh đã chết. Nhân vật nàng thơ… “sống nhăn răng”. Nhân vật Lê Chất hàng ngày mua hoa ti-gôn thay thế trong nhà. Nhân vật người ấy của thơ… mất tăm?

Vậy HSHTG có gì mà “họa”? Chi tiết hai người gặp nhau ở “Hà-Thành, làng Mọc” trong khi HSHTG chẳng đề cập tới. Chỉ có BTTN nói là ở “vườn Thanh”. TĐT và Thế Nhật cùng cho là Thanh Hóa nữa nên… xe lửa trật đường rầy!

Phương pháp “họa” thơhọa truyện là phải họa từng câu, từng đoạn, từng phân đoạn, bố cục, từng nội dung, từng nghệ thuật…

Ví dụ: Phan Văn Trị (thivien.net, annonymous.online) đã họa những bài thơ của Tôn Thọ Tường, kẻ được coi là tên bán nước cho Pháp:

TỪ THỨ QUY TÀO

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi,
Muối xát lòng ai, nấy mặn mòi.
Ở Hán hãy còn nhiều cột cả,
Về Tào chi sá một cây còi!
Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,
Bịn rịn trông vua biếng giở roi.
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Nguỵ
Thân này xin gác ngoại vòng thoi!

Tôn Thọ Tường

HỌA TỪ THỨ QUY TÀO

Quá bị trên đầu nhát búa voi,
Kinh luân đâu nữa để khoe mòi!
Xăn văn ruổi Nguỵ mây ùn đám,
Dáo dác xa Lưu, gió thổi còi.
Đất Hứa nhớ thân sa giọi tủi
Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!
Về Tào miệng ngậm như bình kín,
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi?
Phan Văn Trị

VỊNH THÚY KIỀU

Mười mấy năm trời nhục rửa xong,
Sông Tiền Đường đục hoá ra trong.
Mảnh duyên bình lãng còn nong nả,
Chút phận tang thương lắm ngại ngùng.
Chữ hiếu ít nhiều: trời đất biết,
Gánh tình nặng nhẹ chị em chung.
Soi gương kim cổ thương mà trách,
Chẳng trách chi Kiều, trách hoá công
.

Tôn Thọ Tường

HỌA VỊNH THÚY KIỀU

                                Tài sắc chi mi, hỡi Thuý Kiều!
Cũng thương mà trách một đôi điều:
Ví dù viên ngoại oan vu lắm,
Sao chẳng Đề Oanh sớ sách kêu?
Cái nghĩa chàng Kim tình đáng mấy,
Lượng vàng họ Mã đáng bao nhiêu!
Liêu Dương ngàn dặm xa chi đó,
Nỡ để Lâm Tri bướm dập dìu!
                                Phan Văn Trị

GIANG SƠN BA TỈNH BÀI 1

Giang nam ba tỉnh hãy còn đây,
Trời đất xui chi đến nỗi này?
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo
Mây tuôn đẹn kịt khói tàu bay.
Xăn văn thầm tính, thương đôi chỗ,
Khấp khởi riêng lo, biết những ngày.
Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc,
Khuyên đàn con trẻ chớ thày!

Tôn Thọ Tường

HỌA GIANG SƠN BA TỈNH BÀI 1

Hơn thua chưa quyết đó cùng đây,
Chẳng đã, nên ta mới thế này.
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thủa,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
Lòng ta sắt đá há lung lay!
Phan Văn Trị

Thất ngôn bát cú đòi hỏi đối, niêm, luật ở Thực và Luận (3-4 và 5-6). Trên các mạng, những bài thơ xướng họa vẫn thiếu những yếu tố này. Ngay cả HSHTGnhiều người họa lại cũng chẳng phải là thơ họa mà chỉ là dạng “cảm tác”, “ngẫu hứng”:  Ví dụ:

ĐỌC THƠ T.T.KH

CẢM TÁC

Nàng là người đẹp xứ Thanh (Hóa)

Tuổi Xuân phơi phới tâm tình mênh mang

Gặp chàng nghệ sĩ lang thang

Chiều Thu duyên sớm bẻ bàng chiều Thu

Lỡ duyên – số phận mịt mù…

Tigôn hoa máu, trời Thu lệ nhòa!

Bài thơ Thứ Nhất” chia xa

“Bài thơ Đan Áo” đông qua úa tàn!

Tâm tình phong kín quan san,

Thơ đăng mặt báo phủ phàng đời hoa.

Ôi thiên tình sử – bi ca:…

Tháng năm, rồi lại ngày qua lạnh lùng!

“Bài thơ cuối” cuộc tình chung.

T.T.KH mịt mùng – Từ đây!

Sáu mươi năm – tìm bóng người.

Còn thơ sáng mãi bên trời yêu thương

Thanh Tùng (thangtung.com)

+ TĐT lầm lẫn hai bài thơ:

TĐT đã vô cùng nhầm lẫn khi hiểu hai câu thơ trong BTCC: “Bài thơ cuối cùng đã làm nàng lộ tẩy… Trách ai mang cánh ‘ti-gôn’ ấy/ Mà viết tình em được ích gì? Bạn đọc thấy chưa. Thật là giấu đầu hở đuôi. Nàng đã quên cả ý tứ, đi trách một người mà nàng bảo là không quen biết. Cái bọc đã không giấu nổi cây kim… Hóa ra, tác giả truyện ngắn Hoa ti-gôn không phải là người dưng. Bởi có mối quan hệ mới đi trách người chứ?

Chúng tôi đã có dịp nói chuyện với nhà văn Thanh Châu và chỉ ra với ông chỗ này. Nhà văn Thanh Châu cũng hoàn toàn đồng ý với chúng tôi quả thật câu thơ của T.T.Kh đã có hàm trách ông” (sđd tr 63).

Phát hiện của TĐT cũng không ngoài thắc mắc của một số ít người: Tức là thơ T.T.Kh có mâu thuẫn. Ta thử coi câu: “Trách ai mang cánh ti-gôn ấy. Mà viết tình em được ích gì?” trong BTCC ám chỉ người nào, tình em với ai?

Thứ nhất: Thanh Châu viết truyện “Hoa Ti-gôn” có nguồn cảm hứng đàng hoàng từ câu suy nghĩ của nhân vật Liên trong “Gánh hàng hoa” của Nhất Linh và Khái Hưng mà trong bài “Những cánh hoa tim“, Thanh Châu đã nói rất kỹ. Người đọc chưa  nhận ra không phải là lỗi của Thanh Châu mà tại vì chúng ta đầu óc hẹp hòi, chẳng tinh thông cứ một hai ép buộc, mang râu, đội mão cho ông. Do đó, nhân vật trong thơ T.T.Kh chẳng thể nào nói ông mang cánh ti-gôn để viết tình nàng. Sự so sánh không tương đồng giữa nhân vật truyện và thơ đã chứng tỏ rõ ràng. Nhân vật trong thơ không thể hàm hồ mà không biết điều đó nếu như nhận định thơ T.T.Kh rất “Tây”. Tức kiến thức văn chương và cuộc đời không phải bảo thủ như phong kiến.

Thứ hai: Viết tình nàng là viết cái gì? Lê Chất và Mai Hạnh có liên quan gì đến cô ta? Địa điểm khác, thời điểm khác, thời gian, tuổi tác cho sự yêu đương cũng khác. Sự Tử – Sinh của nhân vật cũng khác. Sở thích nhân vật cũng khác: Mai Hạnh thích gỡ hoa ti-gôn. Nhân vật trong thơ thích cái gì? Chỉ “nhặt cánh hoa rơi” mà thôi! Nhưng thật sự, nhân vật thơ trách không lầm đối tượng mà chỉ có những ngư ông ngoài biển mặn lấy cần câu cá rô để câu cá mập!

Tình em là tình ra sao?

– Từ một cô gái thơ ngây đã được yêu bởi một chàng nghệ sĩ. Người ấy cùng nàng hẹn hò. Người ấy có sở thích vịn cành hoa ti-gôn trắng, hay thở dài khi thấy người yêu hồn nhiên và thường vuốt tóc nàng trong lúc yêu đương. Sau khi tình duyên tới thời mặn mòi thì chàng đi mất. HSHTg đã “khai” chừng ấy thì BTTN lại cung cấp thêm chi tiết về địa điểm và tuổi tác người chồng cũng như nghề nghiệp người yêu cũ: Nàng ở lại vườn Thanh cô đơn. Nàng cũng được ông chồng nghiêm “luống tuổi” (tức già hết xí quách!?), rước về dinh. Người yêu cũ là chàng nghệ sĩ. Kinh khủng cả hai bài thơ là đã nhấn mạnh sự lạt lẽo của chồng và trong tim nàng có hình bóng người yêu cũ.

Truyện Thanh Châu có nói vậy đâu? Vậy thì “đứa nào mách lẻo” thế? HSHTG và BTTN chứ ai!

Thằng moi ruột, phơi lòng nhân vật trong HSHTG đã kể sơ sơ thì “đứa lẻo mép” trong BTTN đã khai tuốt tuồn tuột! Lời khai báo này có giá trị như một cuốn băng video sex ghi cảnh hai người… rồi tung lên mạng như trường hợp các cô trong giới người đẹp, ca sĩ, diễn viên… nổi tiếng và là các cô cậu ấm của các con ông bà lớn, ai mà chẳng biết! Ví dụ như Vũ Hoàng Việt (Việt Dart – Chấu Chí đại công tử) con trai của một vị thượng tá, chánh văn phòng cơ quan CSĐT Hà Nội cùng “nữ diễn viên” 19 tuổi Vàng Anh – Thùy Linh” tạo điều kiện cho các đối tượng: Nguyễn Xuân Hiền, Tạ Quang Phú, Đào Mạnh Hùng, Vũ Thị Thùy Linh, Võ Thanh Hiệp, Nguyễn Thu Linh, Nguyễn Hữu Tài… biên tập rồi tung lên mạng mà thiếu tướng Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc CA Hà Nội khẳng định: “Hai cháu Thùy Linh và Hoàng Việt không phạm tội”!? Yêu nhau, ai mà có tội? Pháp luật nào mà ghi tội ấy cho vừa? Nhưng liệu những tư cách tầm thường với trò gường chiếu trên thì chẳng nên cho đó là một tình yêu chân chính! Hai đứa này và nhiều đứa khác nữa như thế, thật là đáng… xấu hổ cho cha mẹ cho chủng tộc, giống nòi. Đạo đức con người nhất là tuổi thanh niên mới lớn, chưa nói tới tình dục ngoài hôn nhân, chỉ nói đến tính đồi truỵ sớm khi vừa “sex” vừa quay video! Thấy mà thất kinh. Những tư cách tầm thường với trò gường chiếu trên chẳng cho đó là một tình yêu chân chính! Chỉ có lương tâm đạo đức mới là tiếng nói có trọng lượng, có giá trị chuẩn mực đánh giá đạo đức con người tha hóa hay không mà thôi! Vụ án “tung tin tình yêu” của T.T.Kh với BTCC cũng na ná như thế! Người trong cuộc tất kẻ là thủ phạm, người không. Người không “tung ra”, không “kể lại”, tất nhiên phải tức như điên cái người chơi trò gường chiếu rồi “úm ba la bớ người ta xem lại!” chứ! Ai mà im lặng để kiếm… vàng trong lúc này! Vậy thì nàng hay chàng công bố cuộn băng video sex này?

Chàng có làm không? Người trong cuộc và kẻ ngoài cuộc bây giờ mới “nhập cuộc” đây. Chàng hay nàng cũng đều có thể thay hình đổi dạng mà vào “chung kết” bóng đá trái banh T.T.Kh như Trần Đăng Khoa ví “Trăng tròn như quả bóng. Bạn nào đá lên trời”!!

Nàng mắng chàng tơi tớt trong BTCC chứng tỏ nàng không làm việc ấy? Thế nhưng, đã “lên tiếng phản đối” về “cuộn video sex” kia “Trách ai mang cánh ‘ti-gôn’ ấy/Mà viết tình yêu được ích gì?“, nhân vật trong thơ lẽ ra phải “câm mà nín” chứ! Tại sao, nhân vật này lại tiếp tục “khai thêm chi tiết”: Thời gian cuộc tình: Ba năm “Ba năm ví biết anh còn nhớ”. Khai thêm nghiệp chính của chàng nghệ sĩ: Nhà thơ với câu “từ nay anh hãy bán thơ anh”. Còn khẳng định mối tình ba năm vẫn nhớ người ta “Đi nhớ người không muốn nhớ lời” (tức là không nghe lời dặn của chàng nên nàng “ngứa miệng phải nói ra thôi!)

Rõ ràng, TĐT chưa hiểu thấu đáo truyện ngắn của Thanh Châu. Chúng ta phải hiểu ở trên, truyện “Hoa Ti-Gôn” không có một chi tiết nào chứng tỏ tác giả “viết tình em” T.T.Kh trong đó. BTCC trách là trách tác giả HSHTG, BTTN. Bởi chung, vì có ba tác giả làm 3 bài thơ này nên nội dung tư tưởng không thống nhất. Hiểu vậy mới dễ nói chuyện, bằng không, chỉ “mã tầm mã, ngưu tầm ngưu” nữa mà thôi!

Sự thật nếu Thanh Châu có gật đầu thì cũng chẳng chỉ chứng được gì vì ông cũng chỉ là độc giả. Sự hiểu nhầm giữa câu nói người này với người nọ cũng là sự thường trong “bất trắc” của con người. Việc đối thoại giữa TĐT với Thanh Châu cũng chẳng ai kiểm chứng được chi! Ta hãy đi theo phương pháp khác mà tìm.

Vậy thì ai làm những bài thơ mỗi tin tức, mỗi mâu thuẫn khác nhau mà TĐT có nhìn ra trong các bài thơ này? Đây mới chính là hướng chính cho người tự cho là có tài “giải mã” ẩn số văn học đấy!

Thanh Châu có liên can gì?

Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ?

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 1]

    Chuyên luận Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình Văn học Lời giới thiệu Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có một tác giả tạo ra nhiều huyền hoặc, mâu thuẫn nghịch…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 2]

    B: T.T. KH LÀ AI?:     I. Sự liên quan giữa ''Người'' và ''Người ấy'' trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 3]

    b. Những bài thơ của T.T.Kh:                    + Bài số 1: HSHTG.                              Huyền thoại hoa Ti-Gôn Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 4]

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá? 1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình: Bùi Viết Tân kể trong "Thâm Tâm là T.T.Kh?" (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 5]

    Hai bài cùng thi pháp hay không? Điều đáng chú ý: Bài "Các anh" 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách: Hơi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 6]

    * Bích Khê (BK): Trong 74 bài thơ (thivien.net,dactrung.net), có 12 bài: "Mộng cầm ca, Nhạc, Tranh lõa thề, Sọ người, Đồ mi hoa, Bàn chân, Một cõi đời, Trái tim, Cô gái ngây thơ, Cặp mắt,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 7]

     3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính: Đây là "tình nghi viên" sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”. - HT-HC trong "Thi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 8]

    V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?            1. Vài suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 9]

    IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm "Tống biệt hành" (TBH) của Thâm Tâm (TT): Dựa trên bản cũ nhất của HT - HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 1]

    HUYỀN THOẠI HOA TI GÔN - PHẦN II A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất: Thời gian 1937 - 1938, do những va chạm mảng (họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 2]

    4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối... lãnh đủ:               a. "Tiền bối" Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình: Trên (newvietart.com): Về cuốn "T.T.KH - Nàng là ai?": "khen thì…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 3]

    DƯỚI GIÀN HOA MÁU Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là... mơ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 4]

    Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ? Danh từ "nghệ sĩ" chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại... Ví…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 5]

    VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI? * Độc giả: Thưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [PHẦN TÓM LƯỢC]

    HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN TÓM LƯỢC (*) Nhà thơ Thâm Tâm tức Nguyễn Tuấn Trình cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống 1936 bằng làm thơ và vẽ tranh… Tại Hà Nội, anh đã gặp…