4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối… lãnh đủ:

              a. “Tiền bối” Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình:

Trên (newvietart.com): Về cuốn “T.T.KH – Nàng là ai?”: khen thì ít mà chửi thì nhiều”.

– Thanh Hải “Báo Pháp luật TP HCM ra ngày 18/3/2007 VỤ “KIỆN” TTKH-NÀNG LÀ AI?: “Năm 1994, cuốn sách TTKh – nàng là ai? cuả tác giả Thế Nhật gây xôn xao dư luận vì đã giải mã bí mật về nhân thân của tác giả TTKh. Qua lời kể của bà Thư Linh (bạn của một phụ nữ tên trần Thị Vân Chung), nhà văn Thế Phong khẳng định TTKh chính là TTKh (sinh năm 1919 tại Thanh hoá, sống tại Pháp). Sau khi sách in ra,bà Vân Chung đã gửi thư tới Bộ Văn hoá-Thông tin, NXB Văn hoá-Thông tin, tác giả Thế Nhật và bà Thư Linh để phủ nhận mình là TTKh. Bà Vân Chung tỏ ra bức xúc và khẳng định: Nếu có mặt ở VN, bà sẽ kiện bà Thư Linh về tội vu khống vì “miêu tả sự sỗ sàng của người đàn bà co chồng mà còn có cử chỉ vô luân tồi bại” với người khác. Vụ khiếu nại của bà Vân Chung đối với cuốn sách trên gây xôn xao dư luận báo chí suốt một thời gian dài rồi tạm khép lại”.

– NTK “Thái độ côn đồ trong văn nghệ”  (sđd) cho rằng Thế Phong viết “T.T.KH., Nàng là ai? để vu khống và lừa độc giả”.

– T.T.Kh?! Trần Thị Vân Chung phản đối: “Điều trước nhất tôi xin thưa: ‘Tôi không phải là T.T.Kh! Dưới đây tôi xin nêu rõ từng điểm sai trái, bịa đặt trong cuốn T.T.KH nàng là ai?” (sđd tr 160).
     b. “Hậu bối” TĐT theo gương cha chú cũng “hưởng phúc lợi’ như chú cha:

– Việt Duy: Giải mã nghi án T.T.Kh.” của Trần Đình Thu – chưa rõ đúng sai nhưng chắc là phạm luật” (Paris, 20.3.2007, newvietart.com):
“… cái tên T.T.KH vẫn còn là một nghi vần để hôm nay, năm 2007, người ta lại có dịp được “thưởng thức” tài “giải mã” văn (g) học của nhà giải mã Trần Đình Thu mà ngay trang bìa 4 cuốn sách với những hàng chữ: ‘Năm 1994 một người cung cấp cho ông Thế Phong một thông tin mật”: T.T.Kh chính là bà Trần Thị Vân Chung hiện sống ở Pháp. Thông tin ngắn ngủi và không có bằng chứng nhưng ông Thế Phong đã viết thành một cuốn sách với tựa đề hấp dẫn: T.T.Kh nàng là ai? Khi cuốn sách phát hành, bà TTVChung công khai phủ nhận, cho rằng mình không phải là T.T.Kh.
Năm 2004, tác giả Trần Đình Thu lật giở toàn bộ tư liệu liên quan để xem lại. Thật bất ngờ (ông TĐT chỉ cần lật giở toàn bộ tư liệu đã có sẵn là giải mã ngay chóc! tài thật) khi kết quả giải mã cuả ông trùng khớp với thông tin được tiết lộ trước đây.(thông tin nào trước đây, thưa ông TĐT?) “T.T.Kh chỉ có thể là Trần thị Vân Chung “Đó chính là những gì được trình bầy trong sách bạn cầm trên tay – (Sách do NXB Văn hoá Saì Gòn và Cty Cadasa thực hiện xuất bản, phát hành tại Tp HCM qúy 1/2007. Sách dầy 192 trang, khổ 13x19cm, gía bán 23000 VNĐ – “tác giả” Trần Đình Thu.) .
Chỉ với những dòng chữ trên đây người đọc đã cảm thấy có điều gì rối rắm mập mờ trong công cuộc “giải mã vĩ đại “của nhà giải mã TĐT: lập luận ở trên thì vào năm 1994 với Thông tin ngắn ngủi và không có bằng chứng nhưng ông Thế Phong đã viết thành một cuốn sách với tựa đề hấp dẫn: T.T.Kh nàng là ai? nhưng lập luận ở dưới: Năm 2004 (1994-2004), tác giả Trần Đình Thu lật giở toàn bộ tư liệu liên quan để xem lại…. (hồ sơ tư liệu nào để ông lật giở thưa ông TĐT ??? phải chăng là hồ sơ tư liệu lấy từ “thông tin ngắn ngủi và không có bằng chứng” trong phần Phụ Lục quyển sách T.T.K.H NÀNG LÀ AI ? của – Thế Nhật – NXB Văn Hoá Thông Tin Hà Nội 1994). Sự luộm thuộm, dấu đầu hở đuôi trong công trình giải mã, lật giở hồ sơ tư liệu cuả ông TĐT lại thấy trong một bài “TỰ HỎI rồi TỰ ĐÁP” của chính ông TĐT… Khi đọc bài HỎI và ĐÁP trên người ta nhận ngay được nhà giải mã T.Đ.T đã “GIẢI MÔ thật vô cùng “vất vả” với những gì đã được ông Thế Phong “dọn sẵn cỗ” cho ông rồi và ông chỉ cần sao chép lại thêm thắt vài việc (chẳng lẽ lại chép tuốt hết sách của ông Thế Phong thì coi kỳ qúa xá!) rồi làm cách nào để ngụy trang những gì sao chép không quá gây sốc, để không không thể chịu đựng nổi. Thế là với: Thông tin ngắn ngủi và không có bằng chứng nhưng ông Thế Phong đã viết thành một cuốn sách với tựa đề hấp dẫn T.T.Kh nàng là ai? được ông TĐT “giải mã” trùng khớp với thông tin được tiết lộ trước đây (thông tin được tiết lộ trước đây: “cuỗm” từ TTKH Nàng Là Ai? của Thế Nhật). Rồi nhà giải mã T.Đ.T khiêm tốn tuyên bố một câu “xanh rờn”:
– Tôi tin rằng tôi là người cuối cùng khép lại được nghi án này sau 70 năm để ngỏ…  Ông giải mã TĐT chẳng những phạm luật theo những nhận xét của các Luật Sư Trương Thị Hòa và Phạm Quốc Hưng trong Đoàn Luật Sư TP.HCM mà còn phạm một luật chơi tuyệt đối cấm kỵ của giới cầm bút: Sao Chép Ý Tưởng của Thế Nhật mà chàng giải mã vĩ đại cứ phớt tỉnh Ăng Lê, lờ tịt đi xuất xứ lấy từ đâu ra (trong văn chương gọi là đạo văn, đạo ý – ngoài đời gọi là “cuỗm”, “thuổng” hay nói nôm na là “ăn cắp”) rồi mập mờ đánh lận con đen xử dụng cái trò tiểu xảo “ăn theo” “hùa theo” “ăn có”(một việc làm chẳng đẹp tý nào).
Thành Danh trong Sự Nghiệp Văn Chương có rất nhiều phương cách.
Nhà giải mã TĐT đã chọn cho mình phương cách đi TẮT cho NHANH, cho GỌN, cho DỄ , GÂY ĐƯỢC TIẾNG NỔ dù THƠM dù THỐI nhà giải mã TĐT cũng “đếch” cần miễn làm sao được nổi danh liền tuýt suỵt là đủ .May mắn thay cho nền văn chương Việt Nam ngày hôm nay không có nhiều người cầm bút đi tắt theo kiểu NHÀ ĐẠI GIẢI MẢ VĂNG HỌC TĐT”!.
– Thanh Hải (Báo Pháp Luật ngày Chủ Nhật 18.3.200710.ttvnol.com): “GIẢI MÃ NGHI ÁN T.T.KH” của ông TĐT CHƯA RÕ ĐÚNG SAI NHƯNG CHẮC LÀ ông TĐT PHẠM LUẬT: “CUỐN SÁCH THỨ HAI VỀ TTKH: “Sau một thời gian dài bị nhiều nhà xuất bản từ chối vì ngại xảy ra vụ kiện tương tự, mới đây (tháng 2-2007), cuốn” Giãi mã nghi án văn học TTKh” cuả Trần Đình Thu đã được NXB Văn hoá Sài Gòn cho in. Tác gỉa TĐThu cũng khẳng định bà V Chung chính là “nghi can số một” trong” nghi án văn học” này vì bà VChung có nhân thân giống TTKh đến mức kỳ lạ. Để chứng minh lập luận trên, ông TĐThu đã trích dẫn một số bài thơ của bà VChung (do bạn bè cuả bà V Chung cung cấp) để độc giả có sự sánh về phong cách thơ của bà V Chung với TTKh. Tác giả nhắc lại ngày sinh, quê quán, gia cảnh, cha mẹ cùng thân thế của chồng bà Vân Chung để khẳng định bà là người có nhân thân phù hợp nhất với TTKh. Ngoài ra tác gỉa cũng có nêu rõ hoàn cảnh quen nhau giữa bà VChung và người tình cũ, lý do hai người chia tay… Bìa trong cuốn sách còn in ảnh bà VChung và chú thích rõ: “bà T T V Chung thời còn trẻ (…). đây là người được khẳng định là TTKh”.
XÂM PHẠM BÍ MẬT ĐỜI TƯ:
Sách ra xong, bà V Chung lần nữa lại gửi thư phản đối, nói rằng không thể coi sách là tài liệu văn học, vì đã nêu tên tuổi, đưa hình ảnh, chà đạp lên đời sống cá nhân mà không xin ý kiến của người trong cuộc. Theo ông TĐThu thì ông chỉ muốn nghiên cứu “giải mã TTKh” để ghi đúng tên tác giả những bài thơ trên vào danh mục tác giả văn học. Ông khẳng định sách của ông chỉ viết “bà V Chung là TTKh” chứ không xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của bà. Mặt khác, theo ông, thì nội dung sách không phạm điều cấm của Luật Xuất Bản nên chẳng có gì để nói ông phạm pháp luật.
Về vấn đề này, luật sư Trương Thị Hoà (Đoàn Luật sư TP.HCM) tỏ ra khá “ủng hộ” tác giả TĐThu ở khía cạnh đi tìm tên thật tác gỉa TTKh: “Những bài thơ của TTKh đã được lưu truyền và nổi tiếng trong 70 năm qua. Việc nghiên cứu để ghi đúng tên tác gỉa của những vần thơ bất hủ đó là việc đáng ghi nhận và khuyến khích”. Tuy nhiên Ls T.T.Hoà cũng lưu ý:” Việc công bố các tư liệu có liên quan đến đời tư của cá nhân phải được sự đồng ý của họ. Nếu việc công bố vô hại và người trong cuộc cũng không có ý kiến gì thì họ có thể chấp nhận được”. LS Phạm Quốc Hùng (Đoàn LS TP.HCM) phân tích sâu hơn hành vi xâm phạm đời tư:” Việc công bố, đăng tải những thông tin về đời tư mà không được sự đồng ý của người đó là vi phạm Điều 38 Bộ luật Dân sự về bí mật đời tư của cá nhân, có thể bị kiện bồi thường thiệt hại và thu hồi sách. Ngoài ra, việc tự ý đăng những bài thơ khác của bà V Chung là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ”.

     III. Đánh giá chung:

           1. Ưu:

– Ba tác giả hai cuốn sách nói trên đều cố gắng giải mã ẩn số văn học T.T.Kh từ 1937 đến nay. Đó là một ẩn số văn học hấp dẫn mà các bậc nghiên cứu tiền bối đành… thúc thủ!

– Tư liệu tham khảo dẫn chứng tương đối đầy đủ các bài viết chính của Thanh Châu, MGL, Hoài Anh, Hoàng Tiến, Nguyễn Vỹ, Hoài Việt, HT- HC và các bài thơ có liên quan chính của T.T.Kh và TT, NB.

– Các tác giả có đưa ra được vấn đề mâu thuẫn trong thơ (thi pháp, nội dung) của các nhân vật liên quan để loại bỏ các “tình nghi viên” là T.T.Kh như TT, Trần Thị Khánh hay “tình nghi viên” người yêu của T.T.Kh như TT, NB.

– Các tác giả tìm đủ mọi cách để “khoanh vùng” hai bài viết của Thanh Châu và thơ T.T.Kh để tìm sự tương đồng là “Hoa Ti-Gôn” để cùng nhất trí khẳng định Thanh Châu là người yêu của T.T.Kh.

– Các tác giả cũng tìm cho bằng được “nhân chứng” (Thư Linh Đỗ Thị Lạc) và “vật chứng” (Hoa Tim – T.T.Kh Phương Xa của Đỗ Thị Lạc) cùng nội dung các bài thơ nhất là HSHTG để chỉ chứng chính Trần Thị Vân Chung (Vân Nương) là T.T.Kh.

– Các tác giả sau khi có trong tay tư liệu về Thanh Châu và Trần Thị Vân Chung đã cố gắng sắp xếp, bố trí các nội dung trên để độc giả tin rằng tất cả những thao tác đó đã phù hợp với sự tìm ra “T.T.KH., Nàng là ai?” của Thế Nhật và “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh” của T ĐT: Đó là cuộc gặp gỡ  và chia tay tình duyên giữa Thanh Châu và Vân Nương – T.T.Kh. Đó là cuộc gặp lại sau 42 năm (Thế Nhật) và 40 năm (T ĐT) ly kỳ  giữa trung niên Thanh Châu và bà góa phụ Lê Ngọc Chấn – Trần Thị Vân Chung được cho là T.T.Kh.

– Các tác giả đã không “đạo ý tưởng”  T.T.Kh là TT, là Khánh, là NB… mà tìm ra nhân vật mới toanh “Vân Chung” để lập nên một nghi án khác “Thanh Châu là người yêu của T.T.Kh và T.T.Kh là Trần Thị Vân Chung”!?

Tất nhiên, dù có nguyên vật liệu trong tay (hành tiêu ớt tỏi, cá mắm, rau thịt…) nhưng nấu món nào thì dung nguyên vật liệu gì? Gia vị nào mới phù hợp? Người ăn khoảng bao nhiêu thì vừa, đủ? Lượng cay, ngọt, mặn như thế nào mới hợp các cái lưỡi của mọi người trên bàn cổ? Các tác giả này đã hằm bà lằng đổ hết bấy nhiêu gia vị vào một cái thùng nước lèo rồi đốt lửa…

2. Khiếm khuyết:

    a. Chung:

– Tất cả nguồn tư liệu đều chưa được rõ ràng.

– Xử lý chưa chín tư liệu hai cá nhân Thanh Châu và Trần Thị Vân Chung để xảy ra hiện tượng người trong cuộc phản ứng quyết liệt và đòi thưa kiện.

– Kỹ thuật phân tích tâm lý nhân vật, phân tích thơ, truyện chưa đủ… mặn ngọt cho vừa lưỡi ai!

– Thiếu tính nghiêm túc của Lý luận – Nghiên cứu văn học khi áp đặt nội dung truyện, thơ và lý lịch cá nhân nhân vật theo cách hiểu của mình mà không cần ý kiến người trong cuộc.

– Kết luận vội vã, chủ quan khác nào cho người ăn cá sống, chưa đủ lửa.

– Phương pháp nghiên cứu văn học còn mang cảm tính: Thấy một chiều nằm mà không thấy không gian có… bốn chiều!

b. Riêng:

Với Thế Nhật:

– Về khâu tư liệu:

Ghi tư liệu tham khảo “Tiểu thuyết thứ bảy – xuất bản 1937 tại Hà Nội” là chưa chính xác. TTTB của Vũ Đình Long cũng như “Tiếu thuyết thứ năm” của Lê Tràng Kiều hay “Phong hoá – Ngày nay” của Nhất Linh – Khái Hưng… là những tờ báo lớn phát hành theo ngày, thứ, tuần ở Hà Nội chứ không phải “xuất bản”… như một cuốn tiểu thuyết hay truyện gọi là sách.

Thế Nhật đã đọc được bản chính của TTTB thì nên đính chính, chỉnh lý cho người đọc những bản chép sai quá nhiều trong cách bài viết của người khác. Chẳng hạn như bài “Các anh”, 4 bài thơ của T.T.Kh để ghi ngày tháng năm cho chính xác hơn. Nếu như Thế Nhật đã đọc ở “Thư viện Khoa xã hội (34 Lý Tự Trọng, Quận 1) và Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM” thì nên ghi rõ nguồn cuối cùng này.
+ Tư liệu tham khảo không thể ghi “cuội” như “Và các báo xuất bản trong và ngoài nước”. Với tư cách là người viết sách, bình văn, yêu cầu chính là “Tư liệu phải rõ ràng”: Bài nào? Báo nào? Đăng ở đâu? Ai viết? Web nào đăng? Sách nào in? Web nào đăng lại của web nào? Người nào chép lại của người nào?…

– Về phương pháp:

+ Chỉ qua một bức thư của bà Đ.T.L có nhắc tới T.T.Kh: Thế Nhật nói chưa rõ ràng. Trong bức thư đó, bà Đ.T.L có nói tới câu “mớn mồi” của Thế Nhật “vì thấy ý anh muốn vậy nên viết cho anh vui lòng”. Tức là bà Đ.T.L đã viết theo “đơn đặt hàng” của Thế Nhật. Viết theo đơn đặt hàng thì có gì mà tư liệu với tư chất? Nghĩa là trước đó, hai người có nói qua, bàn lại về T.T.Kh rồi.

+ Chỉ một “nhân chứng” (Đỗ Thị Lạc) chưa “nặng ký” và “vật chứng” chưa đủ “đô” (bài thơ “Hoa Tim” của Đỗ Thị Lạc) mà Thế Nhật nhanh chóng thay đổi nhận định của mình về T.T.Kh trước đó bằng ba từ “đã khác đi”? Điều nóng vội này khiến cho Thư Linh Đỗ Thị Lạc cùng tác giả Thế Nhật “ăn cho hết… thùng nước lèo hằm bà lằng” tự mình làm “đầu bếp” từ người bị đưa lên giàn hỏa thiêu là… Trần Thị Vân Chung. Bà Vân Chung đã gởi thư đăng báo phản ứng gay gắt tới 9 điều không chính xác trong cuốn “T.T.KH, Nàng là ai?”

May thay! Thanh Châu sau khi “nóng gà” thì đã tiêu diêu cực lạc ngày 8/5/2007 rồi. Tất nhiên, Thanh Châu không phải là Chu Du. Thế Nhật chẳng phải là Khổng Minh nên chuyện Chu Du uất Khổng Minh thổ huyết mà chết chẳng bao giờ xảy ra!

+ 9 điều sai cơ bản trong cuốn “T.T.KH. Nàng là ai?” của Thế Nhật mà bà Vân Chung chỉ rõ:

1.   “Trong sách viết chúng tôi làm đám cưới năm 1934… Tôi sinh năm 1917, nếu lấy chồng 1934, tôi mới 15 tuổi hay sao? Trong sách viết tôi gặp ông Thanh Châu năm 17 tuổi, sao mâu thuẩn quá vậy? Sao quá vụng tính toán cho thời gian không ăn khớp nhau?

2.   Chúng tôi hơn nhau ba tuổi. Nhà tôi tuổi Bính Thìn (1916), tôi Kỷ Mùi (1919), sao lại viết hơn nhau 9 tuổi? Có lẽ (tác giả) muốn chứng minh cho đúng với thời gian xuất hiện thơ T.T.Kh vào năm 1937 cho hợp với câu thơ “Tóc úa giết dần đời thiếu phụ” và “Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi” chăng?

3.   Nói về gia đình tôi cũng không đúng! Bố tôi không làm quan (cũng như khi làm đám cưới, nhà tôi chưa là ‘quan huyện’!). Chúng tôi có tám anh em (ba trai, năm gái) chứ không phải năm người. Tôi là thứ ba, không phải trưởng nữ, thế nên tôi đã có bút hiệu Tam Nương.

4.   Tôi không viết bút ký hay có thơ đăng báo Ngôn Luận trước năm 1975, cũng như bút hiệu Lê Phương Đông, chứ không phải Lê Đông Phương.

5.   Nhà tôi bị chính phủ Ngô Đình Diệm bắt giam tại khám Chí Hòa ba năm (1960 – 1963) chứ không phải đi đày Côn Đảo.

6.   Năm 1976, tôi vẫn ở cư xá Nông Tín, đường Trương Minh Ký cũ, từ 1972 – 1982. Mãi tới năm 1980, nhà tôi đi cải tạo về, chúng tôi có giấy xuất cảnh mới bán nhà này, dọn về ở nhờ nhà chị Mộng Tuyết, đường Nguyễn Minh Chiếu cũ vào năm 1982.

7.   Câu chuyện (chị Thư Linh và tác giả Thế Nhật) tạo dựng vào năm 1976; ông Thanh Châu gặp tôi ở nhà em Minh (vợ nhà thơ Hà Thượng Nhân) cũng hoàn toàn thêu dệt, vu khống. Sự sỗ sang của một người đàn bà có chồng rồi mà còn cử chỉ vô luân tồi bại đã tả trong cuốn sách T.T.Kh nàng là ai? (từ tr. 54 tới tr. 65), nếu chúng tôi có mặt  tại quê nhà đã đưa chị ra tòa, kiện về tội mạ lỵ và vu khống!

8.   Vì sự thật năm 1976, ông Thanh Châu vào Nam có nhờ cô em họ tôi dẫn tới thăm tôi tại cư xá Nông Tín, đường Trương Minh Ký cũ…Cuộc gặp này chỉ hoàn toàn có tính cách như hai người bạn cũ gặp lại với sự hiện diện của cô em họ, rất đàng hoàng, đứng đắn. Vì trải qua bốn mươi năm, cả hai bên đều đã an phận từ lâu, cả hai đều có bổn phận với gia đình mình. Hơn nữa, ông cũng là bạn thân của ông anh ruột tôi từ hồi còn ở Thanh Hóa. Tôi còn gặp ông một lần nữa tại nhà anh chị tôi khi ông đến chào để về Bắc. Như vậy tôi nghĩ đâu có gì đáng nói khi đã coi nhau như bạn?

9.   Bôi nhọ nhà tôi, đúng là người chết rồi cũng không được buông tha: ‘Bà cũng nhớ ngày phu quân mê một nữ thư ký ở văn phòng luật sư, nơi ông làm việc…

Tôi xin thưa: Trước sau văn phòng luật sư của nhà tôi chỉ có hai cô thư ký: một cô là phật tử, trong gia đình phật tử chùa Quán Sứ, Hà Nội. Khi vào Nam, cô đã là huynh trưởng của bốn đứa con chúng tôi, trong gia đình phật tử chùa Phước Hòa, Sài Gòn vào thời gian đó. Vài năm sau, cô đi lấy chồng nên đã thay thế con gái của một người bạn chúng tôi và cũng là bạn chơi phong lan của (nhà văn) Nhất Linh – Nguyễn Trường Tam, một gia đình nho phong ngoài Bắc vào Nam năm 1945… và tuy làm thư ký văn phòng, chúng tôi vẫn coi như hai cô cháu trong nhà…” (T.T.KH nàng là ai? Thế Nhật, sđd).

9 điều này, Thế Nhật nhận hết trong “T.T.KH nàng là ai” cuốn 2 năm 2001.

+ Thế Nhật đã sai nguyên tắc cơ bản mà bà Vân Chung nêu ra: “Bởi vì đã gọi là ‘tài liệu văn học’ thì sự việc và nhân vật phải cho thật chính xác. Cuốn sách được nêu đích danh tôi: Vân Nương Trần Thị Vân Chung, nên tôi gởi thư này tới quý vị, lên tiếng đính chính những điều sai trái, lẫm lỗi trong cuốn T.T.Kh nàng là ai?… Chỉ tiếc hành động của quý vị đã quá hấp tấp (nếu không nói là quá sơ suất).Vì theo thông lệ: trước khi khi xuất bản một cuốn sách thuộc về ‘tài liệu văn học’,gọi đích danh đương sự, nêu hình ảnh, chà đạp lên đời sống cá nhân v.v… quý vị cũng nên thận trọng trong hành động, phải lắng nghe ý kiến của cả hai bên. Qúy vị có thể liên lạc thẳng với tôi hỏi xem thực hư ra sao, để tránh những lỗi lầm tai hại…”.

Đây là một việc làm hết sức thận trọng của người nghiên cứu. Phim sắp dựng “The sorrow of war” (Nỗi buồn chiến tranh) của Bảo Ninh do đạo diễn người Mỹ Nicolas Simon, biên kịch là Peter Himmelstein khởi quay lại phải đình tới đình lui chờ đạo diễn khác khi Bảo Ninh tuyên bố: “Không dính líu tới bộ phim này” vì thấy rằng tư tưởng tác phẩm của mình đã bị sửa đổi. Ta là Người chỉ khi nào trái tim ta là trái tim của lý trí.

Việc một tác phẩm đã bán tác quyền thì không được quyền gì về mặt pháp lý là phi nhân văn. Bán tác quyền có nghĩa là bên bán không sử dụng tác phẩm của mình nữa chứ không phải bên mua muốn thêm bớt cái gì vào cho mặn mòi theo “thị hiếu” khách hàng. Luật nào ra cũng không bằng luật lương tâm và trách nhiệm. Phản ứng của Bảo Ninh là đúng đắn. Bán con cho người ta nuôi, dạy chứ không phải bán con cho người ta biến thành “con mèo Trạng Quỳnh”. Sửa đổi tư tưởng tác phẩm đã mua tác quyền hay “đạo ý tưởng” chi bằng mình… viết lấy có tốt hơn không? Những người cầm bút chân chính, cha mẹ những tác phẩm chân chính sẽ không bao giờ “tàn nhẫn” bán con mình! Đây là một bài học muôn đời!

Hôm nay, sự kiện xảy ra khi một tác phẩm viết về đời tư một tác giả mà sai be bét khác gì sửa đổi tư tưởng tác phẩm!

Thế Nhật đã “gậy ông đập lưng ông” như thế nào?

– Thế Nhật cho rằng Nguyễn Vỹ “dựng đứng lên mối tình Thâm Tâm và Trần Thị Khánh với bao tình tiết éo le, diễm lệ sặc mùi cải lương”. (sđd tr 38). Thế nhưng, người đời dễ dàng chấp nhận cuộc tình TT – Khánh này hơn là Thế Nhật đã “mối mai” cho Thanh Châu và Trần Thị Vân Chung trong vai – T.T.KH?! Nguyễn Vỹ không khẳng định Trần Thị Khánh là T.T.Kh vì cô ta không biết làm thơ. Điều này đã kiểm chứng bằng văn học và tâm lý thời cuộc. Trần Thị Vân Chung biết làm thơ nhưng, chết nổi! Người ta không tìm ra thơ bà này trong khoảng thời gian đó dù dưới những bút hiệu khác? Tại sao? Tại vì theo NTK “Huyền thoại, chỉ nên mãi mãi là huyền thoại”: “từ đầu thập niên 50 trở về trước, Vân Nương chưa làm thơ. Do đấy, Vân Nương không phải là T.T.Kh.!” (sđd tr 207).

– Thế Nhật cho Nguyễn Vỹ nhầm lẫn vườn Thanh trong thơ T.T.Kh là vườn Thanh Giám nhưng thật sự, vườn Thanh Giám nhiều hoa Ti-Gôn này ở Hà Nội nghe ra đáng tin hơn vườn Thanh nào đó ở Thanh Hóa hay Thanh Miện. Thanh Hóa là nơi huyền thoại và lịch sử. Thanh Hóa không hề nghe có huyền thoại về hoa Ti-Gôn mà chỉ có những di tích lịch sử về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, với những dòng tộc đế vương: Hồ Quý Ly, Lê Lợi và Nguyễn Hoàng, với “địa linh nhân kiệt” như Lê Phụng Hiểu, Nguyễn Hữu Cảnh, Đào Duy Từ… và nơi của cửa Trình, sân Khổng, của Tứ Vị Thánh Nương, Đông Hải Đại Vương, miếu đường, thần ấp, hội hè. Thanh Hóa chỉ có những thắng cảnh Sầm Sơn, động Đông Quan, cầu Hàm Rồng, Đông Sơn, Khu du lịch Nga Sơn, Lam Kinh… Ngoài ra, nếu T.T.Kh ở Thanh Hóa, ngoài 12 phường, 6 xã chẳng có một chữ Thanh thì còn vớt vát “Công viên Thanh Quảng” nhưng ở đấy, có hoa Ti-Gôn không? Nhắc tới một kỷ niệm mà chẳng ăn nhập gì với tín hiệu tình yêu đó thì nhắc làm gì? Ai hiểu?

Nếu Vân Chung ở Thanh Hóa thì có ăn nhập gì tới T.T.Kh với với vườn Thanh Giám đầy hoa Ti-Gôn ở Hà Nội? Nguồn cảm xúc của Thanh Châu từ hoa Ti-Gôn mọc đầy Hà Nội chứ có nói mọc đầy ở Thanh Hóa đâu!

– Vườn Thanh trong HSHTG đúng là vườn Thanh Giám – Văn Miếu – Hà Nội.

Theo lời kể của Hồ Thông (sđd), TT nói rằng Trần Thị Khánh hay Từ Thị Khánh là người Phủ Thường Tín, gốc Khê Hồi. NTK đã chú giải, Khánh họ Từ đúng hơn họ Trần: “Đi từ phố ga Thường Tín qua làng Bình Vọng và vượt một quãng đường ruộng là tới làng Khê Hồi. Làng này xưa có vị quan nổi tiếng: cụ Từ Đạm! Các ông Từ Động (người ký trên giấy bạc thời Đệ I VNCH), BS Từ Uyên v.v… có lẽ là con cháu của cụ. Ngoài ra có cụ Từ Ngọc Liên (các con trai và con gái cụ là Từ Ngọc Bích, Từ Ngọc Quỳ, Từ Ngọc Tỉnh, Từ Ngọc Lân… Từ Ngọc Long và chị Từ Thị Dung… cụ Từ Duy Nhạ… Và nàng T.T.Kh, theo lời kể, rất có thể là người làng Khê Hồi, họ Từ. Tiếc quá, tôi còn có cô bạn học cùng lớp là Từ Thị Ren ở làng Khê Hồi mà dạo xưa vì giữ ý nên chẳng bao giờ tôi đề cập đến nàng T.T.Kh.với cô để hỏi cho rõ. Từ năm 1937 cho tới 1940, đồng bào không ngớt nhắc tới “Hai sắc hoa Ty-gôn” thơ của T.T.Kh. và chuyện một hoa khôi làng Khê Hồi là cô Từ Thị Minh Kha rất được nhiều người ngưỡng mộ… Chúng tôi rất tiếc là đã không tới Trường Tiểu học Sinh Từ vào đầu thập niên 40 và hỏi bạn hữu ở làng Khê Hồi để tìm hiểu cho rõ lý lịch T.T.Kh. Thật uổng!” (sđd tr 200 – 201).

Vậy, ta tin có Từ Thị Khánh (chưa phải là T.T.Kh) người yêu của TT hơn là Trần Thị Vân Chung bị ép là T.T.Kh làm người yêu của Thanh Châu! Tréo cẵng ngỗng về chuyện hai người quen nhau ở vườn Thanh (chưa kiểm chứng được). Nhưng Thanh Châu thì ngoại lệ vì ông nói rõ nguồn cảm hứng của mình ở Hà Nội với hoa Ti-Gôn rụng ngập trời. Còn Vân Nương ở Thanh Hóa lại nhập vai T.T.Kh nói về hoa Ti-Gôn ở Hà Nội của Thanh Châu. Té ra, chú Thế Nhật nhà ta đã “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia“! Nguyễn Vỹ về chuyện này quả không “nhầm lẫn” mà chính Thế Nhật vội vã không suy nghĩ mới “bé cái nhầm!”.

– Chi tiết “Truyện Hoa ti-gôn in trên nhà báo Hà Thành” (tr 50) là hơi lạ! Ai cũng biết là Thanh Châu đã đăng nó lên TTTB nơi ông cộng tác.

+ Thế Nhật giải quyết vấn đề chưa tới chốn:

– Thế Nhật “ép” Thanh Châu khi chặt khúc truyện ngắn hay hồi ức của Thanh Châu mà cho rằng Thanh Châu “lơ đãng không giữ lại những dòng chữ run run trong một bức thư ngắn”. Rồi Thế Nhật cho rằng Thanh Châu: “vì không muốn công khai tên tuổi của mình, mà người con gái tác giả bài thơ kia gửi tới” (tr 32). Như vậy, theo Thế Nhật: Thanh Châu biết rõ người tác giả bài thơ là ai? Là người yêu của ông – Trần Thị Vân Chung ngay lúc ấy là T.T.Kh? Vậy khi hai người yêu nhau, chắc chắn ông biết rõ bút tích của Vân Nương. Nay ông nhận ra chữ của nàng, ông biết mà ông… câm! Nếu ông còn sống, chẳng hiểu khi thấy bút tích Vân Nương trên sách NTK, Thanh Châu có nhận ra “dòng chữ run run” của nàng T.T.Kh khi xưa?!

Vân Nương năm 1937 (lấy chồng năm 1934 khi… 15 tuổi, xuất hiện ở Hà Nội năm 1937 (18 tuổi) làm thơ!?? Lần đầu tiên làm thơ mà thơ nhuần nhuyễn mới… kỳ tài? Vậy mà cái tài này “trắc nghiệm, khảo hạch” thử qua các bài thơ nàng Vân Nương do Thế Nhật cung cấp hay NTK so sánh thì… tài năng bốc khói! Thế Nhật từng “mạt sát”: “thơ tranh đầu, xưng tụng anh hùng ca của Vân Nương (nói riêng) thuộc vào loại thơ tồi… vì thơ còn ấu trĩ về tư tưởng, non nớt về nghệ thuật, chẳng dễ làm rung động được ai” (sđd tr 79). Ai mới làm thơ đều chẳng non nớt. Nếu nhận định như thế, NTK nói không sai là Vân Nương chỉ mới làm thơ sau 1950.

Vân Nương nếu biết Thanh Châu viết cho TTTB tức Thanh Châu ở Hà Nội. Vậy khi Vân Nương – T.T.Kh của Thế Nhật lấy chồng thì nàng ở đâu mà Thế Nhật xuýt xoa rằng: “Chồng hơn vợ chín tuổi, cuộc sống gia đình hạnh phúc bề ngoài, vợ chung tình sẻ nửa bên người bên ta thấm thía mầm bi kịch nội tâm. Còn chàng ở Hà Nội xa tít phương trời xa, bỏ dở học Tú tài, chàng viết văn, làm báo” ?(tr 50).

Vậy, Thanh Châu và Vân Nương “yêu nhau” ở Thanh Hóa hay Hà Nội? Yêu nhau mấy năm rồi xa? Năm 1934, Vân Nương lấy chồng, “một mùa thu cũ” chẳng lẽ 13 tuổi, Vân Nương yêu Thanh Châu? Vân Nương khi lấy chồng rồi vẫn ở Thanh Hóa hay đi đâu mà có câu “Còn chàng ở Hà Nội xa tít phương trời xa” của Thế Nhật tung ra. Thành phố Thanh Hóa cách Hà Nội khoảng 350 cây số, “tuy xa mà gần, tuy gần mà xa”!. “Và còn xa mấy nữa”, khi Thế Nhật quá đà…!

Lưu Khánh Thơ trong “Thanh Châu” (Từ điển Tác giả, Tác phẩm Văn học Việt Nam, Nxb ĐHSP – 2004) ghi rõ: “Thanh Châu làm báo, viết văn ở Hà Nội (từ những năm 30), cộng tác chủ yếu với tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy (ra đời năm 1934)”.

Vậy thì chàng Thanh Châu ốm o này phải lặn lội từ Hà Nội vào Thanh Hóa mấy bận để yêu cô bé 13-14 tuổi. Hèn chi… mập không nổi!? Chi tiết thời gian không ăn khớp với thời điểm, chẳng hợp tâm sinh lý này đã chỉ ra lỗi của Thế Nhật… vồ vập tư liệu một cách “tham lam” nên… mắc nghẹn!

+ Thế Nhật ghi: “Cuộc tình chia ly, cách xa từ 1934 cho đến 1954 tính ra 20 mùa xuân cách biệt. Chàng núp bóng trong vai họa sĩ Lê, cũng: “một mùa thu cũ, tôi đã ngắt những bông hoa ấy trong tay và vò nát chúng đi trước một giàn hoa…”.

Không hiểu, Thế Nhật trích mấy câu trong “Những cánh hoa tim” của Thanh Châu như trên với thời gian 20 năm là ý gì? Bởi thời điểm 1954 không có gì đặc biệt trong cuộc tình hai người và nếu đem thời điểm 20 năm để Thanh Châu viết “Những cánh hoa tim” như Thế Nhật trích trên là không phù hợp thời gian nữa! Lẽ ra, Thế Nhật phải viết như thế này: “Cuộc tình chia ly, cách xa từ 1934 cho đến 1937 tính ra 2 mùa xuân cách biệt. Chàng núp bóng trong vai họa sĩ Lê, cũng: “một mùa thu cũ, tôi đã ngắt những bông hoa ấy trong tay và vò nát chúng đi trước một giàn hoa…” thì mới có ý nghĩa vì bài này, Thanh Châu đã viết năm 1939. Nhưng “mùa xuân cách biệt” chữ dùng của Thế Nhật cũng “trật đường rầy”. Phải viết là “mùa thu cách biệt” mới hợp gu với “một mùa thu trước, một mùa thu cũ” chứ?

Thế Nhật ”áp đặt” cho Thanh Châu quá nhiều cái mà ông không có:

Lấy câu“… Hoa leo ti-gôn sắc đỏ, sắc hồng, sắc trắng năm nào cũng vậy, một mùa tàn lại một mùa nở. Nó chẳng giống lòng bất trắc của con người…” KHÁI HƯNG (Gánh hàng hoa) đặt đầu truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn” mà cho rằng: “Chàng đã mượn văn thơ của tác giả Gánh hàng hoa để trách người tình về lòng bất trắc của nàng. Đúng là như vậy!”.

Nhưng khi đọc truyện này, con nít cũng hiểu Thanh Châu chỉ viết cho hai nhân vật có thật của mình ở Hà Nội chứ chẳng có bà Vân Chung – T.T.Kh nào lọt nào đấy cả! Điều này, Thanh Châu đã hồi ức rất rõ ràng từ năm 1939 trong “Những cánh hoa tim”.

 Chuyện cảm hứng qua, cảm thơ lại mà có thơ là chuyện của văn nghệ. Thế giới văn thơ không có ngoại cảm, tâm cảm này thì thành thế giới chết! Không thể lấy hiện tượng ngoại cảm nhập tâm đó để gán ghép cho người ta có tình ý với nhau. Ví dụ như Lưu Quang Vũ là kịch tác gia lớn của nghệ thuật kịch Việt Nam đã cảm “Hai sắc hoa Ti-Gôn” mà viết bài thơ “Hoa Ti-Gôn”:
(Tặng Giang)
Nhà văn xưa tôi yêu mến mê say
Nay già lão được chính quyền sủng ái
Lưng còng xuống quên cả lời mình nói
Phản bội những điều trong cuốn sách thiêng liêng

Bác tôi chỉ huy trinh sát trung đoàn
Người anh hùng tuổi thơ tôi thán phục
Nay thủ trưởng một văn phòng lớn
Suốt ngày lau xe đạp chữa đèn pin

Cô bé tôi yêu giờ đã lấy chồng
Béo tốt càu nhàu tẻ nhạt
Thằng bạn nhỏ cùng vui đùa thưở trước
Cụt hai chân từ mặt trận lê về

Chỉ lũ chim xưa vẫn đập cánh bên hè
Hoa tigôn đẫm nước
Hoa tigôn của TTKH
Bài thơ thời đi học nhớ không em
Bài thơ đắng cay tuy điệu mà buồn
Nay đọc lại chẳng còn rơi nước mắt
Hoa tigôn như trái tim vỡ nát
Chết âm thầm dưới những bước chân quen.

Bao nhiêu kẻ đồng cảm với HSHTG như Lưu Quang Vũ, Đinh Tiến Luyện… mà có thơ. Thanh Châu “cảm” không được sao? Hay cảm hứng từ hoa Ti-Gônnhư Thanh Châu, Khái Hưng cũng không được nốt? Khi Trịnh Công Sơn cảm hoa Quỳnh mà có “Chuyện đóa Quỳnh” thì phạm luật ư? Hoặc thi sĩ Pháp gốc Ban Lan, Guillaume Apollinaire, bạn thân của danh họa Picasso, cảm hoa Thạch Thảo mà viết: “L’Adieu-Lời vĩnh biệt” mà Phạm Duy phổ nhạc đổi thành“Mùa thu chết”:  “Ta ngắt đi một cành hoa Thạch Thảo. Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi…”; hay hoa Sữa mùa thu thơ ngây trong thơ “Hoa Sữa” của Nguyễn Phan Hách (Hồng Đăng phổ nhạc), hoa Sữa ngậm ngùi trong “Chia tay người Hà Nội” của Bùi Thanh Tuấn…

– Thế Nhật cho rằng: “Thanh Châu tự cho mình là người có quyền được nắm giữ hầu hết bí mật thơ T.T.KH, nên ông đặt câu hỏi với ông Mã Giang Lân tuyển in vào tập THƠ THÂM TÂM mà không đề năm tháng, xuất xứ.  Thanh Châu phủ nhận một cách ẩn ý về bài này, lẫn cả bài: Các anh mà ông cho là thơ dỏm của Thâm Tâm. Ông lại cất công tìm gặp ông Phạm Quang  Hòa… Thanh Châu không những được nghe băng Cassette ghi onâm giọng một bà kiều bào ở Paris – ông còn được nghe một băng khác, lần này đặc biệt hơn: thơ T.T.KH chính T.T.KH ngâm! Quả là một tâm hồn đồng điệu, đồng cảm, đồng tình không ai hơn được! Sám hối tận nửa đêm tận cùng yêu Bóng người ngày xưa T.T.KH!” (sđd tr 72).

Nhưng Thanh Châu trong “Thơ T.T.KH ở nước ngoài” chỉ ghi: “Năm 1989, ông Lê Trường, kỹ sư nông nghiệp sang làm chuyên gia cho Algérie, khi về nước qua Paris, được một Việt kiều tặng một băng cassette, ghi âm thơ T.T.KH. do chính người đó ngâm. Bà Việt Kiều đó, trước kia ở Hà Nội, làm công tác nghệ thuật, rất mê thơ T.T.KH. Vì có giọng ngâm tốt cho nên bà đã dạy cho nhiều bà con bên đó ngâm thơ. Băng cassette này ghi âm bài Hai sắc hoa ti-gôn nhưng người ngâm lại bắt đầu từ câu Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn đến câu Trong một ngày vui pháo nhuộm đường thì lại bắt sang bài Bài thơ cuối cùng của T.T.Kh. Người ngâm bỏ hai đoạn đầu (8 câu) mà ngâm từ câu:  “Từ đấy thu rồi thu lại thu” cho đến câu “Tựa trái tim phai, tựa máu hồng” là hết bài. Người nghe nếu không nắm được thơ T.T.Kh. thì rất có thể nhầm đó là cùng một bài. Có lẽ người ngâm nhớ lẫn lộn nên đã để xảy ra tình trạng đó chăng? Nhất là trong bài được ghi âm còn có một số câu không đúng với nguyên tắc nếu có dịp thì nên xóa đi ngâm lại cho đúng. Chúng tôi còn được biết thêm, ông Trần Trịnh đã phổ nhạc bài “Hai sắc hoa ti-gôn” nhạc tango). Bài nhạc có lời do cô Thu Hương hát. Bài hát này cũng được những người di tản mang theo ra nước ngoài.

Thế là thơ của T.T.Kh. không có cánh mà đã bay tới nhiều phương trời.

T.C” (Thế Nhật sđd tr 105-106).

Thanh Châu viết rõ: Ông Lê Trường: “được một Việt kiều tặng một băng cassette, ghi âm thơ T.T.Kh. do chính người đó ngâm. Bà Việt Kiều đó, trước kia ở Hà Nội, làm công tác nghệ thuật, rất mê thơ T.T.Kh. Vì có giọng ngâm tốt cho nên bà đã dạy cho nhiều bà con bên đó ngâm thơ”. Tức là bà Việt Kiều đó có giọng ngâm tốt đã đích thân ngâm thơ T.T.Kh tặng ông Lê Trường chứ nào có phải như Thế Nhật “xỉn” hay sao mà cho “chính T.T.KH ngâm”? Nhầm chữ. Nhầm nghĩa. Nhầm người! Thế Nhật nhầm Vân Nương là T.T.Kh như thế qua câu của Vân Nương trong thư gởi Thư Linh: “Nếu thật tôi là T.T.KH thì có gì là xấu…” để làm câu trả lời “vì sao lại vẫn tin như vậy” trong “Lời cuối sách…”. Vân Nương dùng: “Nếu thật tôi là T.T.KH” là câu giả định để phủ định “Nhưng thật tôi không là T.T.Kh” chứ nào Vân Nương đã nhận?

MGL trích thơ không ghi rõ nguồn thì Thanh Châu thắc mắc cũng như Hoàng Tiến, như chúng ta đặt câu hỏi vậy. Vả lại, Thanh Châu thắc mắc thơ TT chứ có thắc mắc thơ T.T.Kh đâu?

Thế Nhật kết luận cho sự đồng cảm từ HSHTG của T.T.Kh mà Thanh Châu viết “Những cánh hoa tim”: “Kể ra, kịch tác gia Thanh Châu đạo diễn màn kịch thơ câm T.T.KH thâm thúy, cao siêu thật!” (tr 52). Thật ra, Thanh Châu nào có biết chi đâu! Nếu biết, ông mà không “tóm được nó”, ông… chết liền! Bây giờ, ông chưa thể… tóm đứa nào viết… bậy thì ông… chết thiệt!

Chẳng biết, nói bậy… cà lăm. Không nói, ai có bảo câm bao giờ!

Về “nhân chứng” Đ.T.L:

– Thế Nhật đã tin tuyệt đối: “bà đã vui lòng kể cho tôi nghe những bí ẩn đời T.T.KH do chính T.T.KH kể trước khi xuất cảnh sang Pháp. Qua nhiều buổi, một lần tôi khuyên bà nên viết thành một bài thơ để cho đời biết được nghi án này trở thành hiện thực. Bà đồng ý và viết bài Hoa Tim – T.T.KH Phương Xa… hé mở cánh cửa, đủ để rọi sáng những mờ ảo về thân thế T.T.KH” (tr 43).

Chúng ta thấy rằng thật chưa thể tin hết TT thố lộ với bao nhiêu người về mình là T.T.Kh. Nhưng thật sự chẳng bao giờ tin, T.T.Kh là Trần Thị Vân Chung. Có gan câm suốt bao nhiêu thời gian “chín búa” sao còn “búa” cuối cùng lại tự… đập vào… đầu mình? Nếu chuyện long trời lở đất như miếng mồi ngon dụ cọp mà đi kể cho thiên hạ nghe rồi dặn đừng kể cho ai, đừng nói cho ai biết. Có nghĩa là… nói đi, cầm loa phóng thanh mà loa khắp thế giới dùm tôi! Tâm lý con người đục ngầu chính là sự tò mò, tọc mạch, thóc mách. Chuyện một cô gái mới có bồ sang tai kẻ khác thì là có mang, sang tiếp vài người nữa thì đẻ con ba đầu sáu tai mười hai con mắt… Không ai nghe tin “giựt gân” mà “im như thóc” bao giờ. Miệng mồm không ngứa ngáy, xin… cùi! Bản thân Thế Nhật chỉ mới nghe Đ.T.L hé miệng thì đã vội vàng “qua nhiều buổi… khuyên bà nên viết”. Khi bà ta “rặn” ra bài “Hoa tim” vô hồn, vô nghĩa (chưa nói là đạo thơ) năm 1994 thì Thế Nhật lại vội vàng “làm bà mụ” mà đưa lên làm “vật chứng” bằng cách trích nội dung thơ “Hoa tim” vào sách minh chứng cho cuộc tình T.T.Kh đã 57 năm. Nếu bà Đ.T.L mà làm bài “Hoa tim” ngay lúc ấy thì bài thơ của bà có giá trị tư liệu văn học chút ít rồi!

Với HSHTG, ai mà chẳng lồng nhân vật hay cả mình vào được. Ví dụ: “Bà X, Y, Z  hồi còn đi học có yêu một anh chàng. Sau đó, duyên nợ không thành, bà phải lên xe bông về nhà chồng. Bà vẫn thương người đó lắm: “Nếu biết rằng tôi đã có chồng. Trời ơi, người ấy có buồn không”? Không được sao?

Thế Nhật nhầm lẫn thời gian khi đem 1954 gắn với hai bài viết của Thanh Châu năm 1937-1939: “Năm 1954, chàng trở về Hà Nội thì nàng đã cùng gia đình vào Nam từ lâu… Tác giả Hoa ti-gôn, nhân vật là họa sĩ Lê Chất (1937) và Những cánh hoa tim vẫn lại là họa sĩ Lê (1939). Nhân vật trong truyện sau, Lê không lấy vợ, lại chỉ ngâm thơ T.T.KH nhiều lần, rất nhiều lần của nhiều đoạn thơ khác nhau, ghi lại cảm nghĩ khác nhau của T.T.KH…” (tr 53). Thế nhưng, ai đọc “Những cánh hoa tim” của Thanh Châu mà không hiểu là Thanh Châu chỉ hồi ức lại nguồn cảm hứng sáng tác truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn” của ông mà thôi! Làm gì có chuyện như Thế Nhật suy diễn lạc đề như trên. Thanh Châu sau khi hồi ức thì ghi tâm sự rõ ràng: “Tôi đọc bài thơ đầu của T.T.Kh. với một sự cảm động thực thà. Tôi cho là những lời thơ xuất tự tâm hồn, giản dị nhẹ nhàng và chân thật ấy còn đẹp hơn cả những lời thơ đẹp nhất của các Desbordes Valmores hay Rosemonde Gérard của Pháp nữa. Và tôi thấy chán cả cái nghề viết tiểu thuyết…Tôi đã nghe bàn tán nhiều về T.T.KH. Người ta tò mò muốn biết  rõ đời riêng của người đàn bà có cái tâm sự kia… Tôi thì tôi chưa được biết mặt, biết tên thực của T.Tkh… Tôi cầu chẳng bao giờ gặp mặt T.T.Kh. để được yêu thơ hơn. Và tôi lại có ý muốn lạ lùng này, đừng bao giờ người đàn bà ấy viết thêm một bài thơ nào nữa. Tôi chỉ sợ những bài thơ sau sẽ làm giảm bớt giá trị của bà đi… ” (Về những kỷ niệm quê hương, sđd tr 167-168). Với những lời cảm nghĩ thật thà như thế, trong sạch như thế, can cớ chi mà Thế Nhật lại cứ khăng khăng: Ông biết T.T.KH là ai mà không dám nói, không dám công khai…

Nỗi bức xúc của Thanh Châu cũng vì yêu vì thơ T.T.Kh. Người ta sợ thần tượng của mình sụp đổ khi thấy mặt nhau là chuyện thường. Mỵ Nương mê tiếng sáo Trương Chi mà bệnh tương tư. Gặp nhau rồi thì… giấc vàng sực tỉnh! Chẳng thà không gặp thì hay! Chàng Chi xấu xí chua cay một mình! Thanh Châu nếu biết T.T.Kh chính là Vân Chung, người yêu cũ thì việc gì có sự lo ngại và phập phồng như thế? Ông đánh lừa độc giả từ năm 1939 ư?

+ Thế Nhật thật sự quá tin người:

Lẽ ra, Thế Nhật phải đặt một dấu hỏi ngay khi nghe bà Đ.T.L kể về T.T.Kh chứ? Tại sao T.T.Kh tự dưng kể cho bà trước khi đi Pháp? Một tâm sự trùng trùng trút vào người bạn chẳng thân thiết thì có khác gì như cá trê trút ống! Bà Đ.T.L hứa với T.T.Kh là chỉ kể ra khi bà ta chết! TT cũng bảo Hồ Thông như vậy. Những người dựng chuyện sao lại giống nhau từng chi tiết như người mắc bệnh “Đao” (Down sydrome)?

Bà Đ.T.L không giữ lời hứa mà “bép xép” với Thế Nhật. Thế Nhật không giữ lời hứa với Đ.T.L “Chính tôi đã suy nghĩ rất nhiều, khi không thể làm vừa lòng bà Đ.T.L, để công bố về T.T.KH, hình ảnh, tiểu sử, cả tên thật của người yêu T.T.KH… ” (tr 44) để phát ra cuốn sách mà “phản bác chiếm 4/5″ như Thế Phong đã trung thực trả lời độc giả VU THANH HIEN trên newvietart.com.

– Đánh mất chữ “TÍN”:

Ta thấy chưa nói đến đúng sai nhưng làm người phải luôn giữ chữ TÍN. Chữ Tín là một trong 5 giáo đức (Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín) truyền thống nhân văn của người Việt Nam. Nếu một người vì lợi ích cá nhân, bán rẻ bạn bè, bán rẻ mọi thứ thiêng liêng thì có còn là Người hay không? Dân gian đã đúc kết thành câu: “Chim khôn tìm cây mà đậu. Người khôn chọn chúa mà thờ. Người khôn chọn bạn mà chơi“. T.T.Kh – Vân Chung quả thật “có mắt không ngươi” (Nhãn mục vô châu) mới chọn bà Đ.T.L để mà trút bầu tâm sự! “Mã tầm Mã. Ngưu tầm Ngưu”, bà Đ.T.L mới chọn Thế Nhật mà… khơi bầu dục vọng của Thế Nhật – chữ dục vọng mà Tạ Tỵ dùng cho Thế Phong trong bài: “Thế Phong và cơn mê dục vọng” (vantuyen.net). Thế Phong cũng là người viết chính cho cuốn “T.T.KH. Nàng là ai?” như Thế Phong trả lời độc giả: “1) Hai cuon sach qua hai lan xuat ban chi la mot. Lan thu nhat in vao 1994, anh Tran Nhat Thu (nguoi viet hai chuong: “Buc thu ngo”& Dan nhap”, con la chu bien va an loat). 2) Lan tai ban vao 2001, tren Giay phep trich ngang xuat ban so 1207/CXB/13/10/2001, o muc tac gia co ghi: The Phong(dong 1), The Nhat(dong 2)…” (web đd). Khi tác phẩm đồng tác giả mà không ghi phần nào ai viết, cuốn sách được khen thì khen chung, bị chửi cũng không riêng ai. Trường hợp cuốn “Lí luận văn học” (Nxb GD – 2006) do Phương Lựu chủ biên cùng 5 tác giả khác. Chương nào con cũng mồ côi cha mẹ sao gọi là “khoa học”? Ai viết phần nào thì có phần người đó chứ. Không lẽ 12 cánh tay viết xuống cùng một lúc, cùng một từ, cũng một câu, một đoạn, một chương?! Tài thánh tập hai!

Thư Linh: “Còn chỗ chị và người ấy gặp nhau; em chỉ thuật là đã khóc”. Tức là bà này đã kể lại cho người khác nghe dù trước đó đã hứa “em bảo rảnh sẽ viết về chị. Chị bảo: Thư Linh đừng viết, anh Chấn hay ghen lắm nên em hứa sẽ không viết“. Coi như bà “không viết” mà chỉ “kể” bằng ”Hoa tim” thôi! Hà! Kể hay nói bằng cách nào cũng là “phản”.

Thế Nhật: “Khi tôi báo tin cho bà Đ.T.L biết là bà giữ chữ lời hứa với T.T.KH cần phải giữ trọn chữ tín – nhưng đối với tôi – tôi chỉ biết mà không quen T.T.KH như bà Đ.T.L với T.T.KH là quen biết lâu đời; vì đã quen, tất nhiên là đã biết nhưng biết thông thường chưa hẳn không quen. Một điều nữa đây là cuộc trả giá đối với bản thân chúng tôi, đã từng công bố sự nhầm lẫn của mình khi viết sách ghép THÂM TÂM và T.T.KH. vào làm nột – bây giờ đây, nếu đưa ra ánh sáng cuộc chơi tình thơ đẹp ão não, đau thương đậm đà từng làm đổ bao nước mắt, khiến bao con tim rung động  với mối tình chân thơ T.T.KH để chúng ta cùng biết rõ T.T.KH là ai, và ai là người tình thật của T.T.KH – đó là chúng tôi đã tự tha thứ cho sự lầm lẫn cá nhân mình xưa kia… “.

Tức là bà Thư Linh quen T.T. Kh lâu năm thì bà giữ lời hứa mặc bà. Tôi chỉ biết mà không quen T.T.Kh thì tôi tất phải có gì mà giữ lời! (cái câu “vì đã quen, tất nhiên là đã biết nhưng biết thông thường chưa hẳn không quen” không hiểu như thế nào?) Thế Nhật bán cái cho Thư Linh. Thế Nhật vin vào sự nhầm lẫn trước đó của mình nên mượn điều phản lại lời hứa mà “tự tha thứ cho mình“. Công bố mình đã tìm ra T.T.KH là ai cho độc giả biết (dù trật hất đi nữa), Thế Nhật coi như “lấy công chuộc tội”?!

Đây là một quan niệm chưa chín. Chúng ta là người trần, mắt thịt sao không có lúc sai lầm? Nếu những “khai quốc công thần” không sai lầm thì chẳng bao giờ bị cái cảnh “Điểu tận cung tàn”! Những nhà bác học còn sai lầm trong nghiên cứu khoa học nữa là chúng ta. Ngày trước, giáo hội La Mã tin học thuyết “Trái đất là trung tâm vũ trụ” mà bỏ tù, đánh đập nhà thiên văn học, vật lý học người Italia là Galile. 300 năm sau, mới công khai Galile với thuyết “Mặt trời quay, trái đất cũng quay” là đúng!

Stephen Hawking nhà thiên văn, vật lý học Anh tàn tật đã tuyên bố trước đám đông: Sự nghiên cứu về Hố đen (Black hole) dùng định lý Gauss- Bonnet để chứng minh sự  kiện của một hình cầu bốn chiều của hố đen (có thể nuốt tất cả các vật thể gần nó) đã thất bại. Nào có ai chê bai? Tự nhận khuyết điểm, tự nhận thất bại là nấc thang cho ta bước lên thành công và khẳng định giá trị thật của con người chúng ta. Không ai khen kẻ thắng huênh hoang và chẳng ai chê người thất bại vì khả năng, vì thời cuộc!

Thế Nhật đã không lấy sự nhầm lẫn (theo Thế Nhật) để khỏi nhầm lẫn tiếp mà Thế Nhật lại đứng trên vai người khác, đạp chữ Tín xuống để đạt mục đích của mình. Người cho mượn vai chịu không nổi bước chân phàm nhân, ngã kềnh. Kẻ mượn vai chưa với được trời đã té… chỗng gọng! “Giàn xiêu, bí đổ” chính là đây!

Phản lại chữ Tín, con người phản bội lại nhân cách làm người của chính mình. Chúng ta dù có giải thích, ngụy biện với cái “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo” và với bất kỳ mục đích nào của cái gọi là chính nghĩa hay phi nghĩa thì kẻ phản bội bằng hình thức nào cũng như nhau! Điều này, ta có thể thấy những người bạn nối khố của TT, dù có biết gì thì họ vẫn “im lặng là vàng” cả khi TT mất vào năm 1950. Sau và trước thời gian này, họ chẳng “rỉ tai” người khác như kiểu “thêm mắm, thêm muối cho vừa miệng tôi” như bà Đ.T.L. Thân đàn bà từng bị thế gian cho rằng “nhiều chuyện”. Quả đúng thật với bà Đ.T.L này!

+ Bức thư của Thư Linh Đỗ Thị Lạc (Đ.T.L):

Ta hãy đọc bức thư của bà Thư Linh Đỗ Thị Lạc từ Sài Gòn gởi cho bà Trần Thị Vân Chung – T.T.KH bị “ép”: “Sài Gòn, ngày 20-9-1994

Chị Vân Nương thân mến, em in xong tác phẩm Những dòng thơ hoa chưa kịp tặng chị thì được anh Thế Phong và Trần Nhật Thu đem tới tặng tập T.T.Kh nàng là ai? Em giở ra đọc mới hay: chỉ vì coi bài thơ Hoa tim (antigone) trong tập Những dòng thơ hoa mà ra chuyện! Em xin chị đừng buồn nhé! Em xin chị bình tĩnh đọc lại những diễn biến vì sao em nói ra T.T.Kh là ai? Sau khi ở nước ngoài về, em có ý định ở lại nước nhà; bạn bè hay lui tới tụ họp, nói chuyện văn chương. Hôm đó có anh chị Như Hiên – Thanh Vân, Thế Phong, Quốc Văn và một vị nào đó nữa. Em nghe anh Thanh Vân nhắc tới T.T.Kh rằng: anh đã tới thăm tại nhà, khi nghe ai đó hỏi ‘Nay T.T.Kh còn trẻ không?’ anh Thanh Vân nói ‘Già và không còn đẹp nữa, thơ thì xuống lắm, xem rồi không còn hay’. Em thì chị lạ gì rất thẳng thắn, hơn nữa T.T.Kh em coi là thần tượng nên em nhíu mày nói: “Có thể T.T.Kh anh quen là giả đó vì tôi cũng được biết T.T.Kh, thơ nay vẫn tuyệt vời và đẹp lắm!’. Anh Thanh Vân cứ nhất định người anh quen là T.T.Kh thật và hỏi em “Người chị biết là ai?’ Em bực bội nói là: ‘Chị Vân Nương chứ ai!’, thế rồi câu chuyện đứt quãng vì có người mới tới, Thanh Vân và Như Hiên ra về. Đêm hôm đó em ngồi viết chuyện tình cảm của T.T.Kh với tựa đề Hoa tim (antigone) và chú thích ‘Gửi người chị thơ phương xa tôi vô cùng mến yêu’, ý em gửi tặng chính chị vì em chưa thể quên được năm anh Chấn chưa đi cải tạo về, một chiều mùa thu chị lên nhà chơi… em cùng chị về sắc thái của các ca sĩ… Khi nhắc tới ba bài thơ về Hai sắc hoa ti gôn, em nhớ trước đây chị bảo em chị ở Thanh Hóa. Chị nhớ có lần em đã hỏi một chị bạn cũng ở Thanh Hóa có biết T.T.Kh là ai không? Chị ấy bảo không biết nhưng nghe người ở Thanh đồn tên cô ta là Chung đẹp lắm và giỏi thơ, nhưng đã lấy một ông quan huyện. Lúc đó em mới hỏi: Tên Vân Nương là bút hiệu hay tên chị? Chị bảo tên mình là Trần Thị Vân Chung. Chị có nhớ em nói ngay: “Thì ra T.T.Kh là chị rồi!”. Chị cười: Ai nói với Thư Linh thế? Em trả lời có người nói lâu rồi, nhưng sao nghe nhiều bài, nào Nguyễn Bính, nào Thâm Tâm nhận… vậy là ai? Chị lại cười: ‘Họ nói bậy thôi!’ Em hỏi: ‘Chị quen anh Chấn lâu hay mau rồi mới cưới?’ Chị thuật là do anh Chấn về Thanh thăm mẹ, qua hiệu chụp hình thấy ảnh chị, anh Chấn tìm bạn dẫn đến tiệm hình hỏi: “Có biết người này là ai không?’ Người đó mách anh Chấn nhà chị, sau đó gia đình đi hỏi, hai bác bằng lòng gả chị cho anh Chấn. Chị còn cho em biết: cách đây ít lâu anh bạn cũ ấy vào Nam tìm chị mãi không thấy đâu, sau tìm được nhà chị Minh, chị Minh sang kêu chị (lúc đó anh Chấn còn bị giữ ở ngoài Bắc). Chị sang tới nơi, khi gặp nhau, không hiểu sao chị khóc, anh bạn xưa có nói rằng tìm mãi không được tin tức chị, nhiều khi lên cả xe bus tìm chị nữa, em bảo rảnh sẽ viết về chị. Chị bảo: Thư Linh đừng viết, anh Chấn hay ghen lắm nên em hứa sẽ không viết. Có những mẩu chuyện rời rạc như anh Thế Phong hỏi: ‘Chắc khi xưa chị Vân Nương đẹp lắm?’ Em trả lời: ‘Nếu không đẹp sao anh Chấn chỉ thấy hình đã mê quyết tìm cho ra xin cưới!’. Em đâu dè anh Thế Phong và Trần Nhật Thu viết thành tác phẩm T.T.Kh nàng là ai? căn cứ vào bài thơ Hoa tim của em. Có nhiều chỗ họ hư cấu như nhắc thời gian đó chị ở nhà bà Mộng Tuyết. Còn chỗ chị và người ấy gặp nhau; em chỉ thuật là đã khóc, vậy mà họ dám nói tầm bậy là đã… Em và chị đã ra ngoại quốc thì bạn bè thân ở xa gặp ôm hôn để tỏ lòng mến thương cũng chuyện thường thôi, nhưng trong bài thơ em đâu có nói ôm hôn, nên em phone đòi cải chính lại thì sách đã in mất rồi! Mấy đêm nay em thức trắng bực mình giận anh Thế Phong đã không bò những dòng vớ vẩn đó, em tin chị cũng sẽ bực mình và giận em. Thật ra những bài thơ thần thánh của chị khi xưa ai cũng tôn kính coi là một áng văn học, em cũng mong mọi người đọc sẽ đều kính ngưỡng chị. Nếu chị không giận trách em thì em mong chị làm lơ như không cần tới vụ này để văn học sử ghi tên Vân Nương bằng những nét son thắm làm rạng rỡ cho phụ nữ nước Việt Nam.

Hôm qua em gặp chị Như Hiên, chị tỏ ra bất bình về chuyện này và nói sẽ gửi đăng bài một tờ báo lá cải nào đó, phóng tác từ tập T.T.Kh nàng là ai? của Thế Nhật để gửi sang bắt chị phải cải chính. Như Hiên còn nói chỉ có Như Hiên mới có quyền được nói về chị mà thôi. Em hiểu Như Hiên; tức vì chị ở trong Quỳnh Dao sao chị không tâm sự với chị ấy mà em là người ngoài Quỳnh Dao lại được biết! Đời có những người quen nhau mấy chục năm mà vẫn không thể coi nhau tri kỷ được. Em không biết tình chị đối với em từ nay như thế nào? Có giảm đi không? Nhưng riêng em lúc nào cũng kính yêu chị và coi chị là thần tượng của lòng em, dù vì chuyện này mà chị có giận em thì em cũng xin tạ lỗi cùng chị. Em tin rằng các cháu đã sống với văn minh Âu Tây sẽ hiểu và luôn kính trọng yêu quý mẹ. Người con gái lớn lên khi gặp người hợp ý tâm đầu, yêu nhau trong hoàn cảnh phải xa nhau, mối tình tuổi thơ thật trong trắng. Khi lấy chồng chị vẫn yêu chồng, yêu con, không hề có điều khuất tất thì mối tình đó rất cao thượng có chi đâu mà phải cải chính, làm như chị không hay biết, đó là chị đã thấu chữ vô thường vậy, và như thế là chị đã không giận em, người bạn nhỏ đã hết lòng yêu mến chị. Chĩ Hỷ Khương rất cảm thông với em về chuyện này, riêng Như Hiên tỏ vẻ khó chịu nói: ‘Nếu không phải là em thì chị ấy đã viết báo cải chính rồi’. Em thì chị lạ gì em bảo: ‘Cứ viết để em cũng sẽ viết theo những gì em đã biết’. Nếu vụ này rùm beng lên thì âu cũng là do bài thơ Hoa tim mà ra, đúng là nghiệp thơ của em chị ạ.

Một lần nữa em mong chị đọc kỹ cả hai tập thơ và hiểu cho em rằng vẫn luôn tôn trọng chị chứ không có ý khác và rất mong chị tĩnh tâm, suy nghĩ xem lời em trình bày có đáng để chị dịu đi những bực dọc mà có người đã mách, đã pousser chị làm to chuyện? Dù chị có cải chính thì ai cũng hiểu cả rồi! Nếu vụ này chị không phản đối em thì xin chị một đề nghị, nhưng còn tùy thuộc thái độ đại lượng hay giận trách của chị. Vì xem kỹ tập sách T.T.Kh nàng là ai? em thấy tác giả rất tôn trọng và kính mộ chị – ngoài một vài hư cấu.

Một lần nữa em xin chị đừng buồn em, em không muốn chúng ta mất nhau! Cầu chúc chị sức khỏe, thâm tâm lạc trong ơn Đức phật từ bi.

Em yêu chị

THƯ LINH”

Đọc thư bà Thư Linh, chúng at có thấy chút “thân thiện” nào từ những dòng bà viết? Những lời trong thư bà vừa nhận lỗi vừa buộc, vừa đổ thừa, vừa ca cuốn sách, vừa ca cả bài thơ của bà, vừa ép Trần Thị Vân Chung phải im luôn đi nếu không thì tùm lum chuyện không hay.

– Thứ nhất: Vì đâu Thế Nhật có cuốn “T.T.Kh – nàng là ai?”?

Thư Linh: Cho rằng chính Thế Phong và Trần Đình Thu: Chỉ vì coi bài thơ Hoa tim (antigone) trong tập Những dòng thơ hoa mà ra chuyện!”. Tức là bà Thư Linh chẳng có kể gì.

Thế Nhật: Bà vui lòng kể cho tôi nghe những bí ẩn đời T.TKH do chính T.TKH. kể trước khi xuất cảnh sang Pháp”.

Tức là bà Thư Linh đã kể tùm lum.

– Thứ hai: Bài Hoa tim viết với nguyên nhân nào?

Thư Linh: “Anh Thanh Vân cứ nhất định người anh quen là T.T.Kh thật và hỏi em “Người chị biết là ai?’ Em bực bội nói là: ‘Chị Vân Nương chứ ai!’, thế rồi câu chuyện đứt quãng vì có người mới tới, Thanh Vân và Như Hiên ra về. Đêm hôm đó em ngồi viết chuyện tình cảm của T.T.Kh với tựa đề Hoa tim (antigone) và chú thích ‘Gửi người chị thơ phương xa tôi vô cùng mến yêu’…”. Nghĩa là bà Thư Linh làm vì bực cuộc đối thoại trong buổi hội họp chứ không phải do Thế Phong “đặt hàng”.

Thế Nhật: “Qua nhiều buổi, một lần tôi khuyên bà nên viết thành một bài thơ để cho người đời biết được nghi án này trở thành hiện tượng văn học có thực. Bà đồng ý và viết bài thơ Hoa Tim – T.T.KH Phương Xa…”. Tức là bà Thư Linh đã chịu viết theo “đơn đặt hàng” của Thế Nhật. Sao hai lời thế này?

– Vụ T.T.KH là Vân Nương ai từng được biết?

Thư Linh: Chị nhớ có lần em đã hỏi một chị bạn cũng ở Thanh Hóa có biết T.T.Kh là ai không? Chị ấy bảo không biết nhưng nghe người ở Thanh đồn tên cô ta là Chung đẹp lắm và giỏi thơ, nhưng đã lấy một ông quan huyện. Lúc đó em mới hỏi: Tên Vân Nương là bút hiệu hay tên chị? Chị bảo tên mình là Trần Thị Vân Chung. Chị có nhớ em nói ngay: ‘Thì ra T.T.Kh là chị rồi!…”.

Tức là có người biết từ lâu thì chuyện này còn gì mà bí mật nữa! Vậy, người chị bạn bà Thư Linh kể, bà Thư Linh phải biết tên. Nếu bà Thư Linh giữ chữ Tín với bà chị bạn thì sao lại phun ra khai khấu cho Vân Nương hết trơn? Nếu bà Thư Linh không chịu nói tên bà chị bạn này ra thì bà Thư Linh bịa đặt theo “đề cương tìm kiếm T.T.Kh” của bà cùng Thế Nhật có từ lâu! Nếu lời đồn đã có người tên Chung ở Thanh Hóa là T.T.Kh từ trước thì Thanh Hóa cũng bị… bom tò mò, mìn tọc mạch của thiên hạ đào bới T.T.Kh banh chành từ đời nào, kiếp nào!

Thế Nhật: “Chỉ có Thanh Châu mới biết rất rõ T.T.KH là ai? Vì ai? mà có ‘Hai sắc hoa Ti-gôn”. Nghĩa là Thế Nhật khẳng định không có ai biết T.T.KH chính là Trần Thị Vân Chung? Vậy mà bà Thư Linh lại nói có người biết lâu rồi? Bà Thư Linh đã “đá giò lái” Thế Nhật hiệp mở màng! Hàng “Vân Chung” là T.T.Kh đâu còn là “hàng độc” riêng của Thế Nhật nữa đâu!

– Thế Nhật có hư cấu bậy trong cuốn sách mình không?

Thư Linh: “Em đâu dè anh Thế Phong và Trần Nhật Thu viết thành tác phẩm T.T.Kh nàng là ai? căn cứ vào bài thơ Hoa tim của em. Có nhiều chỗ họ hư cấu như nhắc thời gian đó chị ở nhà bà Mộng Tuyết. Còn chỗ chị và người ấy gặp nhau; em chỉ thuật là đã khóc, vậy mà họ dám nói tầm bậy là đã… Em và chị đã ra ngoại quốc thì bạn bè thân ở xa gặp ôm hôn để tỏ lòng mến thương cũng chuyện thường thôi, nhưng trong bài thơ em đâu có nói ôm hôn, nên em phone đòi cải chính lại thì sách đã in mất rồi! Mấy đêm nay em thức trắng bực mình giận anh Thế Phong đã không bò những dòng vớ vẩn đó”. Vân Nương đã chỉ ra 9 điểm sai cơn bản và vu khống phần trên).

Thế Nhật: (Ta xét về hư cấu cuộc gặp mặt của “đôi nhân tình”):

Với truyện ngắn chẳng có tên gọi, Thế Nhật đã quên thời gian khi cho nhân vật lịch sử văn học nhập cuộc. Thanh Châu chia tay T.T.Kh (gọi như vậy cho ngắn gọn theo sự gán ghép của Thế Nhật) năm 1934. Thanh Châu tìm kiếm T.T.Kh năm 1976. Họ xa nhau vị chi 42 năm. Họ không gặp nhau trong thời gian dài như vậy mà nhận ra ngay chẳng chút ngại ngùng, cũng hay! Chuyện Thanh Châu yêu T.T.Kh cả nhà Vân Nương ai cũng biết. Nhưng cô em gái T.T.Kh là Anh Minh cũng không nhận ra Thanh Châu là ai: “Khi bà Anh Minh ra gặp khách lạ, ông giới thiệu tên mình và nói thẳng cho cô em vợ ‘hờ’, ông cần gặp T.T.KH.”. Còn Vân Nương đã 42 năm chắc gì nhận ra Thanh Châu (ví dụ vậy đi), vậy mà khi mới gặp nhau thì đã “Thân hình nàng ngả về phía trước, lọt vào vòng tay khách trung niên”. Thanh Châu với: “Thế giới ấy chỉ còn hai người, họ không cần biết đến có ai xung quanh”. Tâm lý trang bị cho nhân vật còn yếu quá, gây bẽ bàng, phản tác dụng khi một tình yêu huyền thoại đẹp đẽ đã biến thành cảnh thèm khát xác thịt của hai nhân vật chính!

Trong thể tự sự, hư cấu nhân vật là bắt buộc nhưng hư cấu mức nào? Tự nhiên hay gượng ép? Truyện, Tiểu thuyết Việt Nam ta chuyên hư cấu nhân vật theo sự đạo diễn của mình mà không cho nhân vật được quay theo quỹ đạo tự nó phát sinh. Nếu dựng nhân vật nữ là người đàn bà (có chồng hay chưa) “tình cũ không rủ cũng tới” thì phải trang bị cho nhân vật nét tâm lý trước (thư từ, phôn… ) để nhân vật có thể trở lại kỷ niệm êm đềm nào đó trong quá khứ. Không có hồi ức kỷ niệm thì không thể có… vòng tay tình yêu cố nhân! Nếu có hồi ức kỷ niệm cũng phải tùy tuổi tác và hoàn cảnh. Thế Nhật cũng chưa thể cho nhân vật đả phá vào tường thành thời gian nhanh như “tiếng sét ái tình” của tuồi 20. Hỏng bét!

Nhà văn Léon Tostoi trong “Ana Karénine” đã cho nhân vật Ana bị “tiếng sét ái tình” từ chàng trai Vronsky tấn công ráo tiết nên cùng chàng yêu đương trên chiếc sô-pha nhà mình. Hay Colleen McCulough trong “The Thorn Birds” (Tiếng chim hót trong bụi mận gai – Những con chim ẩn mình chờ chết) đã để cho Meggie và cha Ralph gặp nhau ngoài đảo Matloch một cách hợp lý sau khi Meggie có chồng mà anh chồng cứ mê bạn trai bỏ nàng ở một mình mãi. Chúng ta đọc mà xúc cảm chân thành bởi vì nhà văn nước ngoài đã miêu tả rất có tình, có lý chứ không hời hợt “mở pha ăn tiền” như nhà… Drăng” chúng ta!

Yếu tố “Tự Nhiên” khi xây dựng nhân vật khác với miêu tả tự nhiên là một trong những nhân tố quyết định sự sống còn của tác phẩm. Khả năng này không phải nhà văn nào cũng có được nhưng mức độ thành công ít nhiều phải khác nhau khi nhà văn xây dựng nhân vật mình trên nền tảng có trách nhiệm ngòi bút.

Khi ta đọc “Dưới dàn hoa máu“, truyện ngắn về mối tình TT và Trần Thị Khánh của NTK trong cuốn “Về những kỷ niệm quê hương”, ta cũng thấy ông còn vướng víu ở thao tác tạo bối cảnh, ngôn ngữ đối thoại nhân vật chưa được tự nhiên. Thế nhưng, khi đặt truyện hư cấu của Thế Nhật với hư cấu Thanh Châu và T.T.KH?!, người ta sẽ thích “Dưới giàn hoa máu” hơn. Nội dung trong truyện NTK dàn dựng dựa trên những chi tiết có thực là chuyện tình TT họa sĩ với cô bé Khánh bên giàn hoa Ti-Gôn và ngày tan vỡ của họ cũng từ câu chuyện có thực.

                          DƯỚI GIÀN HOA MÁU

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 1]

    Chuyên luận Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình Văn học Lời giới thiệu Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có một tác giả tạo ra nhiều huyền hoặc, mâu thuẫn nghịch…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 2]

    B: T.T. KH LÀ AI?:     I. Sự liên quan giữa ''Người'' và ''Người ấy'' trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 3]

    b. Những bài thơ của T.T.Kh:                    + Bài số 1: HSHTG.                              Huyền thoại hoa Ti-Gôn Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 4]

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá? 1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình: Bùi Viết Tân kể trong "Thâm Tâm là T.T.Kh?" (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 5]

    Hai bài cùng thi pháp hay không? Điều đáng chú ý: Bài "Các anh" 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách: Hơi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 6]

    * Bích Khê (BK): Trong 74 bài thơ (thivien.net,dactrung.net), có 12 bài: "Mộng cầm ca, Nhạc, Tranh lõa thề, Sọ người, Đồ mi hoa, Bàn chân, Một cõi đời, Trái tim, Cô gái ngây thơ, Cặp mắt,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 7]

     3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính: Đây là "tình nghi viên" sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”. - HT-HC trong "Thi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 8]

    V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?            1. Vài suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 9]

    IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm "Tống biệt hành" (TBH) của Thâm Tâm (TT): Dựa trên bản cũ nhất của HT - HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 1]

    HUYỀN THOẠI HOA TI GÔN - PHẦN II A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất: Thời gian 1937 - 1938, do những va chạm mảng (họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 2]

    4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối... lãnh đủ:               a. "Tiền bối" Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình: Trên (newvietart.com): Về cuốn "T.T.KH - Nàng là ai?": "khen thì…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 3]

    DƯỚI GIÀN HOA MÁU Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là... mơ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 4]

    Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ? Danh từ "nghệ sĩ" chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại... Ví…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 5]

    VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI? * Độc giả: Thưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [PHẦN TÓM LƯỢC]

    HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN TÓM LƯỢC (*) Nhà thơ Thâm Tâm tức Nguyễn Tuấn Trình cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống 1936 bằng làm thơ và vẽ tranh… Tại Hà Nội, anh đã gặp…