IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm “Tống biệt hành” (TBH) của Thâm Tâm (TT):

Dựa trên bản cũ nhất của HT – HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối bị cắt của thi phẩm sau khi đọc các đoạn và chọn bốn câu cuối của thi phẩm đưa về bản TBH:

Hơi thu đầu núi giá lên trăng,

                                Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

                                Ly khách ven trời nghe muốn khóc

                                Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm.

Với loại đề tổng hợp, người viết đi từ hiện thực (bối cảnh có trong văn bản đến hiện thực xã hội từ văn bản suy ra) sau đó, đưa giá trị hiện thực lên giá trị hình tượng qua cách đi từ nội dung sang nghệ thuật hòng mang đến cho người đọc hiểu thêm ý nghĩa ”Nhân bản” trong “Thi phẩm TBH ” qua sự chọn lựa cách phân tích ngang chứ không theo cách phân tích theo bố cục hay từng đoạn bởi vì các ý tưởng lẫn lộn, ẩn mình trong từng câu trên dưới.

Phần dẫn chứng có sử dụng thơ văn của các nhà thơ trong nước cũng như thi hữu nước ngoài không phân biệt. Mọi tư liệu tham khảo có trích dẫn hay tư liệu trích từ các nguồn, người viết sẽ ghi rõ trong bài.

                           KHÚC NHẠC TIỄN ÐƯA NHÂN BẢN

TỐNG BIỆT HÀNH

                                 Ðưa người, ta không đưa qua sông,

                                 Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

                                 Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

                                 Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

                                 Ðưa người, ta chỉ đưa người ấy

                                 Một giã gia đình, một dửng dưng…

 

                               – Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,

                                 Chí nhớn chưa về bàn tay không,

                                 Thì không bao giờ nói trở lại!

                                 Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

                                                      ***

                                 Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước.

                                 Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

                                 Một chị, hai chị cùng như sen

                                 Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

                                 Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay;

                                 Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

                                 Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

                                 Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

                                 Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

                                 Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

                                 Chị thà coi như là hạt bụi

                                 Em thà coi như hơi rượu say.

 

                                 Hơi thu đầu núi giá lên trăng,

                                 Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

                                 Ly khách ven trời nghe muốn khóc

                                 Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm.

                                                                  (Thâm Tâm)

(”Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh – Hoài Chân trang 275 – 276, tháng 11- 1941).

Nét buồn thời chiến đã mang lại cho văn học nhân loại một đề tài tiễn biệt. Bên cạnh dòng chảy tiễn biệt tổng hợp xuyên qua mọi thời đại, TBH của TT với hai mươi sáu câu thơ theo thể thất ngôn đã vượt trội với dòng thơ trữ tình chảy riêng từ nhánh sông Văn học Việt Nam đổ vào dòng tiễn biệt của Văn học thế giới.

Giá trị hiện thực xã hội thời loạn lạc được TT phản ánh qua văn bản với nhiều ẩn ý sâu sa: Một gia đình gồm mẹ già, hai chị và một em gái. Gia đình này đã trải qua những đêm nước mắt vì sự quyết định ra đi của người con trai. Ai đã nhìn thấu được nội tâm của từng nhân vật mà viết xuống nếu không là người trong cuộc:

Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước.

                              …  Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay;

Cụm từ ”Ta và ngươi” khác ”Ta và người””Ta” một lối xưng hô từ ”Tôi” mà ra nhưng hàm ý khí phách rất biết mình, tự khẳng định mình so với cái từ “Tôi” khiêm tốn. “Ta” có thể đi với “Ngươi” vì tính cách ngang hàng. ”Ta” cũng đi với ”Người” như ”Tiễn người – ta tiễn thêm lần nữa” (Hoàng Định Nam). “Tôi” đi với “Người” trong câu ”Người đi – Tôi tiễn khỏi lòng tôi” (Hoàng Định Nam). “Ta” đi với “Em” như người yêu, như người em gái: “Ta và em với không tên” (Trần Anh Thái). “Ta” đi với “Ta” như hai người: “Bác đến chơi nhà ta với ta” (Nguyễn Khuyến). “Ta” đi với “Ta” là chủ thể một người: “Ta đến một mình ta với ta” (Duyên Anh)…

”Ngươi” hay ”Người” đều chỉ ngôi vị thứ hai tức là người thứ hai. ”Tôi” hay ”Ta” chỉ là một người là chủ thể, là bản thể của mình. Trong TBH, với hai câu trên, ta cũng ngầm hiểu được có hai người. Một người là chủ thể ngôi thứ nhất đang nói với ngôi vị thứ hai. Nhưng khi xét toàn văn bản, chủ thể ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai lại nằm trong một con người theo một lời độc thoại: Con người của mình trong quá khứ nói với con người của mình trong hiện tại.

Một dị bản khác viết ”Ta biết người buồn” thì thấy rõ hai con người khác nhau nhưng trong TBH, TT đã viết ”Ta biết ngươi buồn” thì hiểu ngay ”ngươi”  là ”ta” nên ”ngươi” có suy nghĩ gì ”ta” cũng biết hết. Không ai dùng cặp từ ”Ta-Người” là hai người cho một người nhưng nói về một người có thể dùng cặp từ xưng hô ngang hàng ”Ta-Ngươi”.

Theo cách hiểu như vậy, TT trong TBH “ngươi”, ta hiểu chỉ còn một người, tức là mình tự nói với chính mình. Độc thoại nội tâm nhân vật bộc phát khi gặp tình huống bất ngờ. Trong TBH, tình huống đó là sự chia ly. Khi TT dùng ”người” là có cả hai người. Hai người đó là những ai? Một người là người nào? Hiểu ra họ, thi phẩm phần nào được hóa giải theo nghĩa ”tươi lắm thay” chư không ”buồn chiều hôm trước, buồn sáng hôm nay” và mới thấy sự cắt bỏ đoạn cuối của thi phẩm là một sự không nên làm.

Nghiên cứu tác phẩm chính là chỉ ra “những yếu tố, những chọn lựa và kết hợp, bổ sung và đối lập” để làm gì? “Để phát hiện những yếu tố bổ sung trong tác phẩm văn học đã bổ ích, phát hiện được những đối lập lại càng lí thú…” (Phân tích tác phẩm, Lí luận văn học, Nxb GD – 2000 tr 680).

Đó cũng chỉ là phát hiện những đối lập, những mâu thuẫn. Chính sự phát hiện này sẽ là cái nền cho ta đứng trên hiện thực tác phẩm phân tích nhân vật mà không bị… ngã ngửa!

Trong TBH, giá trị đối lập chính là: Hình ảnh hai người chị. Mẹ. Em gái. Người yêu. Chủ thể tác giả hay nhân vật của tác giả.

            1. Hình ảnh hai người chị với các giá trị văn học:

“Tác phẩm nghệ thuật nói chung không chỉ chứa nội dung giao tiếp, không chỉ nối liền nhà văn (người sáng tác chung không chỉ nhà văn) với người đọc, xích gần con người với nhau…” (Lí luận văn học, sđd tr 181).

+ Giá trị tình chị em:

Trong TBH, hình ảnh hai người chị xuất hiện sau người mẹ nhưng giá trị của hai người chị quyết định “thái độ” của người mẹ yên tâm hay không yên tâm cho con ra đi.

Hai người chị xuất hiện trong TBH với các từ giản dị đầy ẩn dụ “hai chị cùng như sen” và “như hạt bụi“:

                                 Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước.

                                 Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

                                 Một chị, hai chị cùng như sen

                                 Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

                         …     Chị thà coi như là hạt bụi

Buổi “chiều hôm trước” ám chỉ một thời gian đã qua nhưng chưa xa lắm. Nỗi buồn từ ”chiều hôm trước” còn tồn động thành đá tảng, chưa trôi tan đến “sáng hôm nay” dù hai người chị hết lòng: ”Khuyên nốt em trai dòng lệ sót”.

Dòng lệ sót” là dòng nước mắt đã cạn cùng và có thể hiểu như một dòng lệ sót sa vì từ ”dòng lệ” này có tính chất ướt lệ cho số nhiều chứ không như một ”giọt” ít ỏi. Hiểu theo hai nghĩa nhập lại ”dòng – giọt lệ sót” thì dứt giọt nước mắt chắt chiết này, lời cuối sẽ khô. Hai người chị không phí nước mắt nữa mà gạt nước mắt, bằng lòng tiễn em lên đường chẳng dây dưa qua từ “nốt” là hết không thêm bớt nửa lời (cho nốt, ăn nốt, làm nốt…).

Đây là một tính cách cứng cáp hiếm có. Có lẽ, nó được phát sinh từ hình bóng trụ cột là người cha không có trong gia đình và gia đình này đã quen với sự trống vắng, chịu đựng mất mát. Sống trong một môi trường như thế, những con người ấy sẽ có tính cách vững vàng, quyết liệt hơn. Hai người chị trong TBH đã là nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Từ trang sách bước ra, họ là nhân vật phụ nữ được soi sáng bằng giá trị văn học. Họ là tấm gương của một truyền thống nhân văn Việt Nam “Anh em như thể tay chân” cho tất cả những người phụ nữ nói riêng và người Việt Nam nói chung soi vào thấy bóng quá khứ, hiện tại và tương lai. Giá trị này của TBH qua nhân vật hai người chị lẽ nào không được văn học ghi nhận, đóng dấu?

+ Giá trị ẩn dụ một vẻ đẹp từ hình thức đến nội dung của hai người chị:

Với hai chị? Hai chị trong trắng, tiết tháo hơn bất cứ loài hoa nào mà người em trai đã nhìn thấy:

  Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

                                 Một chị, hai chị cùng như sen   

(Văn bản khác ghi ”cũng như sen”, đồng nghĩa).

Thi phẩm có hai từ“nốt” – cách dùng miền Bắc – nghĩa là hết, chấm dứt, cuối cùng. (Hiện nay, thi ca ít thấy sử dụng, chỉ sử dụng trong văn nói).

Một từ ”nốt” dùng cho lời khuyên em trai của hai người chị ”Khuyên nốt em trai dòng lệ sót”. (Theo ”dòng lệ – giọt lệ sót”, ta có thể hiểu lúc đầu sẽ khuyên em trai đừng đi, sau đó gạt nước mắt khuyên bảo những điều dọc đường gió bụi cần làm. Ðây cũng là nét tâm lý chung mà chị thay mẹ lo lắng cho em.)

Từ ”nốt” thứ hai dùng cho loài sen ví với hai chị trong hai câu trên. Lời chị thương em đã rót ”nốt” – hết – cho người em trai. Người em trai cũng nhìn ra ”hết” – nốt – nét đẹp “cùng như sen” của hai chị. Sen có thể tàn nhưng hương sen trong lòng, sao có thể phai!

Người ngoài thường cho sen nở, sen tàn nên nghĩ hai chị cũng “tàn” như sen nhưng quên mất cái quý giá của sen chính ở chỗ ”Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Sen càng về đêm, sen ngào ngạt. Tình người về đêm càng khao khát lứa đôi.

Hai nhân vật người chị trong TBH mang giá trị văn học nhân văn “Trong đầm gì đẹp bằng sen…” với cái đẹp tâm hồn là đỉnh cao của nhận thức thẩm mỹ khi đánh giá cái đẹp của người phụ nữ nói riêng và con người nói chung. Phẩm chất cao đẹp và sự hy sinh của người chị đã đi vào văn học nghệ thuật qua những sáng tác “Chị tôi” của Trần Tiến:

 

Nhà tôi trên bến sông có chiếc cầu nhỏ cong cong
Hàng cau dưới nắng trong lá trầu không
Chị tôi trông dễ thương bán rau chợ cầu Đông í a
Chị tôi chưa lấy chồng

Thời con gái lưng ong có bao người thầm mong theo
Mẹ dục con gái yêu lấy chồng đi
Chị thương hai đứa em thương mẹ già con đau í a
Chị tôi chưa lấy chồng

Rồi mẹ tôi khuất xa, chúng tôi không còn thơ ngây
Chị lại lo các em chuyện chồng con
Ngày chia tay bến sông thấy chị buồn mà thương í a
Chị tôi chưa lấy chồng

Rồi một đêm sáng trong có một người đàn ông qua
Họ về xây chiếc cầu nối bờ sông
Gặp chị tôi dễ thương mới xin lời cầu hôn í a
Chị cũng muốn lấy chồng

Cầu xây xong đã lâu không thấy người về đưa dâu.


“Chị tôi
” trong thơ Đinh Thu Hiền mất hết thời xuân sắc:

Chị thì đã quá bốn mươi
Người ta con cháu chị cười chát chua
Đời người sớm nắng chiều mưa
Tóc thề ngày ấy giờ thưa thớt rồi

Chị thì đã quá năm mươi…

“Chị tôi” trong thơ Khương Hữu Dụng là sự đầy đọa xác thân:

Chị tôi mười tám tuổi
Bước chân đi lấy chồng
Làm dâu bà mẹ ghẻ
Hai năm nước mắt ròng

Đem gởi nhà bác dâu
Vì thương tình vợ trẻ
Người chồng có ngờ đâu
Bác còn hơn mẹ ghẻ
… Chấm dứt một cuộc đời
Làm toàn bằng toàn nước mắt
Ra đi có ngậm cười
Đất lại về theo đất…
Thu 1926

“Chị tôi” với Đỗ Trung Lai là chiếc khăn tang trong lòng người góa phụ:

Anh tôi đi mãi không về
Không ai giải được lời thề chị tôi
Chị tôi giờ hết duyên rồi
Bao năm chỉ thấy gió giời trên cao
…Đời người thế cũng xong ư?
Đầu xanh mà cũng ba thu một ngày
Nói chi đến chuyện hao gầy
Chị tôi đã chết từ ngày anh đi!

Người chị trong trường ca “Ngày đang mở sáng” của Trần Anh Thái với câu hỏi “Vì sao nước mắt chị tôi rơi“, vì:

Chiến tranh hốc hác mặt người

… Con thơ đói sữa

Đêm mơ

Người lính Bắc năm xưa chập chờ xanh rớt

… Anh vẫy tay bước đi

…Nghĩa trang bên bờ sông Vệ

Trắng chùm hoa dại nở quên.

“Chị” trong thơ Trần Chấn Uy cùng số phận “có chồng đời chiến chinh có mấy đi trở lại”:

Tôi có một người chị ở làng

Lấy chồng lính giữa những ngày khói lửa

Rồi anh đi B biền biệt

Chị vẫn hằng đêm đốt lửa ngóng chờ

Ba mươi năm một mình lận đận

Chị già theo con nước đầy vơi

Và chị tôi đã sống hết một đời

Không son phấn, không ồn ào khoe mẽ

Như con vạc đồng quê lặng lẽ

Chị sớm khuya một bóng một mình

Họ là hình bóng của những số phận chịu thiệt thòi, đau khổ đáng được chúng ta cảm thông nhưng họ chưa có giá trị nào được văn học ghi nhận để nâng cấp sự hy sinh này vì không có sự hy sinh nào mà vô nghĩa.

Thế nhưng, nhân vật hai người chị trong TBH mang đức tính hy sinh chung và sự hy sinh tuổi xuân (già đi vì thời gian đợi chờ như các bài thơ, nhạc ở trên) đã được TT nâng cấp thành những đóa hoa sen thơm ngát trong đầm. Hình ảnh hai người chị trong TBH được nâng cấp như thế, nó không chỉ là hình ảnh người chị hy sinh bản thân vì đại cuộc mà nó có thêm một giá trị văn học và cuộc đời: Đó là khi người con gái, người phụ nữ “lỡ bước sa chân” vào vũng bùn lưu lạc làm gái bán hoa…  quay trở về với con đường lương thiện thì họ cũng là sen trong trắng giữa bùn lầy như Nguyễn Du đã xây dựng nhân vật Thúy Kiều vẫn được coi trọng với “chữ trinh cũng có đến ba bảy đường” và Tố Hữu từng ca ngợi họ trong “Tiếng hát sông Hương”. TBH qua hình ảnh hai người chị đã làm được chức năng “nối liền người đọc với người đọc, xích gần con người với nhau” như các nhà lý luận Phong Lưu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình đã đưa ra tiêu chuẩn trong sách mình. Giá trị văn học này được bổ sung từ giá trị bản thân nhân vật trong TBH, lẽ nào văn học không ghi nhận?
Ðây là giá trị nhân bản thứ nhất của thi phẩm.

 

2. Hình ảnh nhân vật người mẹ:

Tính cách vững vàng này của hai người chị đã làm nhân vật người mẹ an tâm mà ẩn mình với dòng nước mắt trước khóc chồng nay khóc tiễn con trai bên cạnh hai người con gái dũng cảm giữa thời chiến. Hình ảnh người mẹ này nằm chung trong tổng thể nội dung văn học về một gia đình phân ly trong một thời đại binh lửa. Thế nhưng, mỗi một nhân vật người mẹ, họ sẽ có những đặc điểm riêng mà tác giả xây dựng nên trong tác phẩm của mình.

Hình ảnh người mẹ với các giá trị văn học:

“Chức năng khái quát của nhân vật không phải chỉ là tính cách và quy luật khách quan của đời sống mà còn là quan niệm về tính cách và toàn bộ tư tưởng mà tác giả muốn thể hiện…” (Lí luận văn học, sđd tr 697).

Chúng ta thử xem, TT đã để nhân vật người ra đi trong TBH của mình quan niệm về tính cách của nhân vật mình với mối quan hệ gia đình ra sao?

Trong TBH, hình ảnh người mẹ chỉ xuất hiện ngắn ngủi với hai từ “mẹ già” và “như chiếc lá bay”:

Chí nhớn chưa về bàn tay không,

                                 Thì không bao giờ nói trở lại!

                                 Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

                           …   Me thà coi như chiếc lá bay.

Thi Thánh Đỗ Phủ thời thịnh Đường sống trong thời kỳ loạn lạc “An – Sử” (An Lộc Sơn – Sử Tử Minh) đã dùng ngòi bút hiện thực phê phán chế độ, lên án chiến tranh và nhận xét trong “Binh xa hành”:

Tín tri sinh nam ác,

                                 Phản thị sinh nữ hảo.

                                 Sinh nữ do đắc giá tị lân,

                                 Sinh nam mai một tùy bách thảo.

(Nếu biết sinh con trai chi bằng tốt hơn sinh con gái. Sinh con gái còn có giá vì được ở gần. Sinh con trai thân mai một vùi trong cỏ dại).

Thiết nghĩ đem ý hiện thực chua chát này để lý giải tại sao người mẹ đã không có lấy một lời với con trai dù mình đang đau lòng, đứt ruột. Hình ảnh người mẹ âm thầm này trở thành hình ảnh người mẹ chung trong buổi chia biệt:

 Ngày con đi mẹ gượng cười không khóc

                                 Rồi gục đầu để giấu kín tâm tư.

                                             (Lê Như Phò – Tâm tình gởi mẹ)

Hay Thủy Lâm Synh đau xót trong niềm tự hào:

Thưở ấy ta đi mẹ già nín khóc

                                Nắng của ngày mưa chết yểu sau vườn.

(Thuở ấy ta đi)

Người mẹ dù ”gượng cười”, dù ”nín khóc” cũng đồng nghĩa một sự hy sinh, cam lòng đáng quý trọng. Người phụ nữ được coi là phái yếu ớt giữa đời thường, nhưng trong chiến tranh, nét yếu ớt chuyển sang sức mạnh tinh thần hơn cả cánh đàn ông với khả năng có thể “đào hào, sẻ núi, lấp sông” sá chi chỉ trong một tình huống “tiễn con” lên đường phải ”dấu kín tâm tư”.

Ta hãy xem, người con trai và mẹ già đã có sự chuẩn bị tâm lý đến mức độ nào cho ngày tiễn biệt trong bài “Gốc khế” của Lê Đạt:

     Khi gió mùa anh đi

                                 Sang sông tìm nắng khác.

                                 Để mẹ già tóc bạc

                                 Lưng còng trên gậy tre.

                             …Ba năm anh không về

                                 Ba năm rồi ba năm .

Ba năm anh không về” qua lời dẫn truyện rồi ba năm nữa cũng không. Bài thơ chưa có chuẩn bị sự tâm lý nào cho người mẹ ở lại ngóng trông với tóc bạc, lưng còng theo quy luật thời gian. Mất mát này cộng thêm tâm lý nhớ con theo năm tháng (sự không về của anh là sự hụt hẩng của mẹ). Bởi thế, gốc khế xanh kia vẫn xanh mà… chát vì vắng người xưa còn mẹ thì ”lưng còng trên gậy tre” tàn lụi vì thời gian. Ðây là hiện thực nhưng hiện thực này làm người đọc tưởng chừng như người con trai chưa làm tròn bổn phận làm con để báo đáp ”Công cha như núi. Nghĩa mẹ nước nguồn”.

Trong TBH, TT đã để nhân vật con trai (tác giả hóa thân) tỏ lòng cùng với mẹ, nói trước khả năng xấu cho mẹ trong bước đường ra đi của mình:

 Chí nhớn chưa về, bàn tay không.

                                 Thì không bao giờ nói trở lại!

                                 Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Từ “ba năm” quen dùng như sự ướt lệ chỉ thời gian tượng trưng từ quan niệm: “Ba năm tang chế”. Điều đó có nghĩa là người sắp ra đi sẽ không hứa hẹn một ngày trở về. Sự chuẩn bị tâm lý này dẫu thật sự có trần trụi, tàn nhẫn nhưng dù sao cũng dễ chịu hơn nếu sau đó có một tin dữ của người con từ chiến khu hay từ nơi nào đó báo rằng người con đã ngã xuống. Mẹ già sẽ không nghe như “sét đánh ngang tai“, không đứng tim đột ngột bởi cú sốc bất ngờ.

Trong dòng tự sự, ngòi bút chuẩn bị tâm lý này không làm người đọc ngạc nhiên nhưng trong thi ca, bút pháp này quả thật gây cho người đọc cảm xúc pha chút bất ngờ qua từng cụm từ toàn phủ định “không bao giờ trở lại”, cũng đừng mong” mà như khẳng định: ”Con không về, mẹ đừng trông”. Cũng như trong “Xuân này con không về“, nhạc sĩ Nhật Ngân (Trịnh Lâm Ngân) đã thay lời người con trai tự nói với mình và với mẹ “Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm. Mái tranh nghèo không người sửa sang. Khu vườn thiếu hoa đào mừng xuân”. Nhưng nhân vật trong nhạc là người cầm súng giữ biên cương. Một chí khí đã có trong “chín tháng quân trường“. Còn nhân vật trong TBH, chưa có cái gì để tỏ rõ khí khái của mình cho thiên hạ tỏ, nhất là người trong gia đình. Nếu người này trong ngày mai, có một ý chí như nhân vật trong nhạc, chắc chắn anh cũng không thể “vù về” vì nhớ mẹ với lý do rất “thiêng liêng”, rất “núi sông”: “Con biết bây giờ, mẹ chờ, em trông nhưng nếu con về bạn bè thương mong. Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm. Mẹ ơi con xuân này vắng nhà”. Khí khái vì tình chung, quên tình riêng của anh, người mẹ sẽ là người chịu gánh sự thiệt thòi này bởi “nước mắt chảy xuôi”. Hiểu tới chỗ này, ta sẽ thấy sự hy sinh tình nhà từ phía người mẹ, người trong gia đình chứ không phải từ phía người ra đi – ly khách! Người trong tâm trạng này, nghe lời nhạc, nghe lời thơ “nếu con không về chắc mẹ buồn lắm”, tất sẽ giấu đi giọt nước mắt lặng thầm, chực rơi…

Người chấp nhận sự hy sinh đứa con và sự chịu đựng mọi sự bất trắc có thể xảy ra cho người con trai duy nhất trong gia đình mà người con đã báo trước, thông tin trước đó, người đó, chính là người mẹ có tấm lòng “bao la như biển Thái Bình dạt dào” trong tâm tưởng của nhân vật: Người mẹ trong TBH!

TT đã xây dựng nhân vật người ra đi đáp ứng “chức năng khái quát của nhân vật” như chúng ta đã thông qua ở trên. Chức năng văn học này qua suy nghĩ khái quát về hình ảnh người mẹ trong TBH không lẽ nào văn học bỏ quên?

Ðây là giá trị văn học nhân bản thứ hai của thi phẩm.

 

3. Tư tưởng thống nhất của nhân vật chủ thể:

Hình ảnh người chị trong các tác phẩm mà chúng ta đã điểm qua, thái độ tác giả (người em hoá thân) chỉ cực tả nỗi thống khổ, sự chịu đựng và tuổi xuân héo tàn mà không nhìn thấy giá trị ẩn dụ đẹp đẽ của sự hy sinh đó. Nhân vật người em trong TBH thì khác. Người em trước khi ra đi đã nghĩ gì về hình ảnh người mẹ và người chị của mình?

Tư tưởng người con, người em nghĩ về mẹ, chị với các giá trị văn học:

Tâm lý chia tay, ai chẳng ngậm ngùi. Nhân vật trong TBH dù nói cứng nhưng ”miệng cứng, lòng mềm”. Nỗi buồn đã bật ra vì sao?

Huy Cận trong “Tương tư” lý giải:

 Hôm nay trời nhẹ lên cao

                                 Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.

Một cắt nghĩa nhẹ tênh, bế tắc. Huy Cận buồn không tên, không tuổi. Nhân vật người con trai trong TBH buồn có “lý lịch” hẳn hòi: Đó là buồn ngày tiễn biệt. Ngày tiễn biệt là một buổi sáng mùa hạ lý tưởng:

Sáng hôm nay;

                                  Trời chưa mùa thu tươi lắm thay,

+ Với mẹ: Thời gian đưa tiễn đã có. Tâm lý chuẩn bị cho sự xa cách có thể vĩnh viễn này cũng đã xong. Người đi chỉ việc xách ba lô con cóc ra đi. Nhưng trước khi ra đi, những hình ảnh gia đình động lại trong mắt, trong tâm tưởng người ra đi như thế nào? Văn bản cho thấy: “Mẹ” đã “già” trong lòng con trai với sự chịu đựng mất mát đứa con thân yêu và như thế nỗi xót xa, thương yêu sẽ hằn trong tâm tưởng người ra đi. Nhân vật người con ra đi này sẽ mang tấm lòng bao la của mẹ vào hành trang lên đường.

+ Với hai người chị:

Vẻ đẹp bên ngoài có rực rỡ cỡ nào cũng theo quy luật “hoa nở, hoa tàn”, “người đẹp thường hay chết yểu”… còn cái tiết  liệt bên trong mới là phẩm giá quý nhất và có giá trị vĩnh cữu của con người. Trong đôi mắt của người em trai, hai chị “đẹp người, đẹp nết” là hình ảnh khắc sâu trước giờ tiễn biệt mà em trai buột phải xa cách. Hình ảnh này sẽ mãi mãi theo người em đi xa dù lỡ mai em có thể không quay về hay thời gian có tiễn đưa tuổi xuân chị “theo con bướm nọ đi về nơi xa” nhưng với người em, hai chị vẫn đẹp tươi như những đoá sen từ thuở ly biệt. Nhân vật người ra đi này sẽ mang hình ảnh đẹp đẽ của hai người chị mình vào hành trang lên đường.

+ Nghĩ về bản thân: Một “chí nhớn“nào?

Những hình ảnh mẹ, chị, em, kỷ niệm… trong đôi mắt người sắp đi tràn đầy yêu thương. Với bao nhiêu tình yêu mến này trong gia đình mà cũng không đủ sức giữ người con trai ở lại? Sức mạnh nào thôi thúc anh đi? Lý do nào không cắt nghĩa nổi? Anh ta ra đi  vì cái gì? Vì sao muốn ”đi một bước xa lìa phố cũ?”.

Ta xem xét văn bản: Người con trai quyết lòng ra đi với cái “chí nhớn”, “đỉnh thiên lập địa” có phải thật sự là lý do chính:

Chí nhớn chưa về bàn tay không,

                                Thì không bao giờ nói trở lại!

Chí nhớn” từ miền Bắc như ”chí lớn” từ miền Nam. Có nhiều bản ghi ”chí lớn” không sai nghĩa nhưng giữ ”từ địa phương”, giữ nguyên văn bản là một cách coi trọng tác giả và để phân biệt tác phẩm ra đời cựu hay tân. Văn bản khác ghi ”Chí nhớn không về, bàn tay không” nghĩa là có hai từ ”không” tạo thành ”phủ định của phủ định” là khẳng định: ”Không còn mơ ước gì nữa cả” tạo ra một cảm giác thất vọng giết mất sức sống của ý thơ. Chọn từ ”chưa về” là hợp lý với ý còn hy vọng cho câu thơ tươi sáng vì chí lớn chưa về chứ không phải không về.

Ý ra đi không hẹn ngày về nằm ở câu ”Ba năm mẹ già cũng đừng mong” và nằm trong hai câu trên.

Ca dao có câu:

Làm trai cho đáng nên trai

                                 Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên.

Thiết tưởng đây cũng là phương cách sống của tất cả những người con trai không phải chỉ riêng gì những người trai thời loạn. Cái chí làm trai trong ca dao gặp “Chí nam nhi” của Nguyễn Công Trứ như cá gặp nước:

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc

                                 Nợ tang bồng, vay trả, trả vay .

                                 Chí làm trai nam bắc, đông tây

                                 Cho phỉ sức anh hùng trong bốn bể.

Ngẫm ra, kẻ mang nặng ”chí làm trai” chưa thấy múa may gì cho ra hồn nhưng khẩu khí khẳng khái thốt ra như vậy cũng hiếm thấy kẻ có “sức anh hùng” như thế cả. Chí khí này gặp cái trí mài gươm giết Trương Phụ của Đặng Dung: ”Tẩy binh vô lệ vãn thiên hà” hay làm một Phạm Hồng Thái với tiếng bom Sa Diện? Hoặc muốn như Mã Viện:“Đại trượng phu dương tử ư cương trường, dĩ mã cách khỏa thi nhĩ” (da ngựa bọc thây) mà Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ nguyện với lòng: “Tuy dư chi bách thân cao ư thảo dã, dư chi thiên thi, khỏa ư mã cách, diệc nguyện vi chi (Trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm).

Có ngoa, cũng như một Tào Thực với “hùng tâm tráng khí” ủ mộng “hưng quốc”: “Bắt Tôn Quyền, xẻo tai Gia cát Lượng, dù cho thân bị phanh ở bờ cõi Thục, đầu có bị treo ở cổng thành Ngô cũng coi như còn được sống”.

Ngay cả người con gái Triệu Thị Trinh năm nao lại “cỡi luồng sóng dữ quét quân thù chớ không chịu thân nô tì cho người ta”. Huống hồ nam nhi sống trong trời đất không bắt chước Kinh Kha sang Tần, Dự Nhượng nuốt than, Kính Đức liều mình, Triệu Tử Long cứu chúa, Đặng Dung mài gươm, Phạm Ngũ Lão đan sọt… thì làm cái gì nữa!

Nhưng hỡi ơi! Chí lớn có con đường thênh thang mà cuộc đời có còn cái thời đại ”oanh oanh liệt liệt” cho người dấn thân vào chốn ”giang hồ” để làm những việc hữu ích ”quang tông diệu tổ?”. Bức tường ”Quan Trạng đi trước võng vàng theo sau” đổ nhào tự bao giờ trong Nguyễn Bính nói riêng và trong tầng lớp chờ mong ”danh đề bảng hổ”!

Người con trai trong TBH có biết thế không? Nếu biết mà vẫn chọn con đường ra đi thì thật là kẻ liều mình, gan dạ! Nếu không biết mà cứ dấn thân thì càng cần có một bản lĩnh. Người con trai trong TBH đã có một ”bản lĩnh” nào nếu không nói cái bản lĩnh ấy được kế thừa từ trong gia đình kiên cường? Cuộc chia tay không hẹn ngày về với cái chí lớn đó đã vẽ ra hình ảnh một “ly khách” trong đầu người con trai có bản lĩnh này:

– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,

Hai tiếng kêu thầm như nhắc nhở bản lĩnh này qua cái gạch đầu dòng dành riêng cho ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. (Có văn bản bỏ dấu ngang (-) nên từ “ly khách” biến thành lời dẫn suông mang tính cách miêu tả).

Hai tiếng kêu đó còn mang ý tự cảm thán. Con ve sầu lột xác hay tằm hóa bướm khi hình ảnh nam nhi bắt đầu khoác chiếc áo “ly khách”? Nam nhi chi chí  là người vẫy vùng ngang dọc trên con đường nhỏ nhưng ”ly khách” là kẻ mang trong mình một trách nhiệm hẳn hoi mới kèm theo“chí lớn”. Đem “con đường nhỏ” của nam nhi đối lập với “cái chí lớn” của ”ly khách” trong câu thơ với ý thật khập khểnh bởi vậy mới kêu lên chua chát: ”- Ly khách! Ly khách!” (Kẻ bỏ quê! Kẻ bỏ nhà!). Nhưng TBH đã có người mẹ chịu đựng mất mát giỏi, có chị tháo vát, tiết liệt thì kẻ làm con, em trong một gia đình như thế không lẽ buông tiếng kêu não lòng? Vì vậy mà hai câu thơ trên được hiểu: ”Ly khách” đi với ”chí lớn” còn ”con đường nhỏ” đi với ”bàn tay không”.

Chí lớn phải được đi trên con đường lớn. Nếu đi trên con đường nhỏ thì kết quả chỉ có bàn tay không. Cho nên, người sắp ra đi phải cần có một thái độ biểu hiện mình không thua kém mẹ, chị  mới kêu lên đầy khí phách qua dấu ngang đầu dòng: – Ly khách! Ly khách! (Người đi oai phong! Người đi oai vũ!). Tiếc thay cho kẻ có hoài bão lớn lao mà chưa biết đi đâu? Về đâu? Làm gì như một lớp thanh niên thời loạn. Trần Chấn Uy… uy vũ rã rời mà còn “gân cốt”: “Không có kiếm thì chống gậy”. Nhưng cuối cùng “Ngửa mặt một tiếng cười” than thân: “Trượng phu chống kiếm đi về đâu?”. Một NB “chân quê” “Hành phương Nam“, hiên ngang tráng sĩ:

Giày cỏ gươm cùn ta đi đây…

Ta đi nhưng biết đi về đâu chứ?

                                 Đã dấy phong yên lộng bốn trời.

Con người “giày cỏ, gươm cùn”  hào khí y chang con ”võ sĩ bọ ngựa” của Tô Hoài mà cũng dám tỏ mặt anh hùng với bốn phương. Lời thơ cuồng nhưng gan dạ. Khá khen thay những kẻ dám “múa lưỡi đánh tan bao kẻ sĩ”. Nhưng mộng kia chưa chín đã rơi:

 Hôm qua không có, hôm nay mất

                                 Ai rú trong trời tám hướng sương.

Vũ Quần Phương đã nhận xét câu thơ trên trong bài “Không đề” của TT: “Thân kiếp chơi vơi trong cõi phi thời gian, dĩ vãng không có, hiện tại cũng không mà tương lai thì mù mịt sương khói? “Con đường nhỏ” như vậy làm sao mà thành cái ”chí lớn” đây? Cuối cùng, chí nào cũng rơi vào u uất như Ðặng Dung trong ”Cảm hoài”:

                                 Thời lai đồ điếu thành công dị

                                 Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

(Gặp thời kẻ bần cũng thành công. Ngẫm đắng cay khi anh hùng lỡ bước). “Con đường nhỏ” cũng rớt vào ”lỡ bước”, cái ”chí lớn” cũng rơi vào nỗi “cảm hoài”! Vậy mà người con trai trong TBH dám mang cả hai vừa muốn làm kẻ ”nam nhi” vừa muốn được ghi danh “tráng sĩ” qua từ ”ly khách” dẫu biết rằng: ”Ra đi là sự đi liều. Quản chi nắng sớm, mưa chiều cực thân”.

Lời nguyện giữ vững ý chí cũng đã thốt ra từ người sắp ra đi mặc cho con đường mình đi đầy chông gai mà vẫn gan góc thề trong TBH:

Chí nhớn chưa về bàn tay không,

                                 Thì không bao giờ nói trở lại!

Như trong “Tráng sĩ hành“:

Đã bước chân ra khôn hẹn kỳ,
Đời người bất quá vị tri kỷ,
Sống, chết, nên, chăng, ai sá chi!
Túi áo xênh xang ba tấc kiếm,
Bụi hồng rong ruổi đôi bánh xe.
Ngoảnh lại thành Yên đầy uất khí,
Thấu lòng hoạ chỉ người tương tri
Tức chấp nhận bão giông trong cuộc đời đón chờ phía trước. Người con trai này có phong cách nam nhi chi chí vẫy vùng biển khơi. Phân tích nhân vật là phải xem xét nhân vật “trong chỉnh thể thống nhất toàn vẹn… Nghĩa là phải xem xét nhân vật như một chỉnh thể đa dạng do nhiều yếu tố khác nhau hợp thành… Nội dung nhân vật là tính cách. Tính cách được triển khai qua hàng loạt những thuộc tính, đặc điểm. Phân tích nhân vật phải tìm hiểu những đặc điểm ấy” (Phân tích nhân vậtLí luận văn học, Nxb GD – 2006).

Với nhân vật người ra đi – người con trai trong TBH, những thuộc tính cương quyết, đổi buồn chia ly bằng hành động trong tương lai và đặc điểm rất thương yêu mẹ (nói cho mẹ tình huống thực để mẹ khỏi bất ngờ), nâng niu hai người chị (chị vẫn đẹp như những đóa sen dù có là sen cuối mùa). Chính thuộc tính và đặc điểm này, TT đã xây dựng nhân vật nam trong thơ là một con người trước sau như nhất một nét đặc biệt mà thời đại nào, thanh niên cũng soi thấy mình trong đó.

Nhìn thấy bản chất phức tạp của sự việc, nhìn thấy được những phẩm cách đẹp đẽ ẩn sâu của từng người thân, cũng như nhìn thấy hết mối quan hệ nội tại (bên trong tác động) và ngoại tác (bên ngoài tác động), nhân vật này đã không còn là nhân vật tầm thường ra đi vì miếng cơm manh áo, ra đi vì tiếng đời ô trọc, ra đi vì chán ghét thế thời mà nhân vật này lên đường trong hành trang có chứa những tấm lòng vàng. Những tấm lòng vàng này sẽ là nguồn động viên lớn nhất cho người ra đi từ ra đi từ mục đích cá nhân tiến lên ra đi vì có cả người thân mình trong đó. Vậy, sự ra đi sẽ có chủ đích (chí lớn), có điểm tới trong nhân thân “ly khách”. Hướng xây dựng tâm lý nhân vật từ thấp lên cao, từ mục đích tầm thường lên mục đích cao cả, tình tình cảm riêng tư phát triển đến tình cảm tập thể, từ vô mục đích cho tới có mục tiêu là một cách xây dựng nhân vật điển hình. Giá trị này của nhân vật ra đi trong TBH, không lẽ nào, văn học không đóng dấu son?

Ðây là giá trị văn học nhân bản thứ ba của thi phẩm.

 

4. Thi pháp “chuyển nhượng nhân vật” xuất sắc:

“Nắm bắt nguyên tắc tổ chức mâu thuẫn là chìa khóa để phân tích nhân vật như một chỉnh thể vận động… Mâu thuẫn được xem như cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập luôn luôn loại trừ nhau không thể cùng nhau tồn tại trong một thực thể…” (Lí luận văn học, sđd tr 703).

Lý luận có vẻ “đao to búa lớn” như thế nhưng thực tế, loại hình thi ca, những “mâu thuẫn đấu tranh” coi như được sự mềm mỏng, ngọt ngạo của thể loại văn vần này “xén” bớt và hóa giải. Nhưng TBH của TT là tác phẩm mâu thuẫn: Mâu thuẫn trong các chi tiết. Mâu thuẫn  từng nhân vật mà điển hình là hình ảnh người “Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” và “Em thà coi như hơi rượu say” đang hỏi chúng ta là hình ảnh người em gái hay người yêu? Chỉ rõ? Mâu thuẫn này không đấu tranh để loại trừ mà song song tồn tại. Những mâu thuẫn song song tồn tại trong TBH là nét đặc biệt nhất của tác phẩm. Nét đặc biệt độc đáo này, chưa thấy một tác phẩm văn vần nào đạt tới giá trị tột đỉnh như TBH.

Chúng ta xem mâu  thuẫn khó hiểu trong TBH qua hình ảnh người “em” và “em nhỏ”, TT giải quyết như thế nào? Chúng tồn tại với nhau hay loại trừ nhau?

Hình ảnh “em nhỏ”, “em” và “chiếc khăn tay” với những giá trị văn học:

+ “Em nhỏ”:

  Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

  Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Nếu nói hình ảnh người mẹ già sẽ lặng nhìn con đi với nét tâm lý sẵn sàng chịu đựng “ba năm tang chế” lỡ con không về và hình ảnh người chị cao cả, thanh khiết, bất khuất, đẹp đẽ là hình ảnh mà người em trai không quên thì hình ảnh cuối cùng trong thi phẩm là hình ảnh nguời “em nhỏ”:

 Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

                                 Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay

Marcus Tullius Cicero có nói tới “Khuôn mặt là chân dung của tâm hồn, còn đôi mắt là để diễn tả” như dân gian ta có câu: “Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”.

Mắt em nhỏ không phải là đôi mắt mà thi ca đắm say:

Mắt em là một dòng sông

                                 Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em.

của Lưu Trọng Lư trong ”Trăng lên” cũng không phải là ”mắt xoe tròn thương thương quá đi thôi” mà Giang Nam đã dùng trong ”Nghe em vào đại học” . Đây đây đích thực là một người em gái nếu văn bản chỉ dùng một từ ”em nhỏ” trong câu “Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc”.

Hữu Loan đã từng dùng “em nhỏ” là đứa em gái của nhân vật “chị” trong “Màu tím hoa sim”:

Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Có thể chăng là “em nhỏ” trong “Bài thơ hạnh phúc” của Bùi Minh Quốc:

Em nhỏ giao liên, mẹ hiền trụ bám
Cô du kích dịu dàng dũng cảm
Sông Thu Bồn hằng xao động tâm tư
Có tiếng hò như thực như hư.

Cách hiểu coi ”em nhỏ” trao anh trai ”chiếc khăn tay” như tình anh em hay người yêu cũng đều là không đúng tâm lý.

Lúc này, ta mới thấy giá trị của từng câu chữ, từng cách dùng từ chính xác, tinh xảo, hoàn hảo của TT qua từ ”Em nhỏ” (em giao liên, em bán cốc, em đi cày… ) chuyển thành ”Em” với hai nghĩa khác hoàn toàn và đáng được có trong thi phẩm.

Ta đi theo cách loại bỏ những từ chưa thích hợp dưới đây: Văn bản khác ghi: ”Em nhỏ ngây thơ đôi mắt ướt”. ”Mắt ướt” có những nghĩa: Mắt lúc nào cũng ướt (bệnh chảy nước mắt gọi là Mục phong lệ xuất hay Nghênh phong xuất lệ). “Mắt ướt” có nghĩa khác là mắt huyền, mắt mơ. “Mắt ướt” trong dị bản trên có thể hiểu là “em nhỏ” cũng… khóc. Từ này dùng vẫn được trong câu thơ với ý không đổi bao nhiêu nhưng giá trị nghệ thuật (cách vận dụng vần) trong câu thơ sẽ bị triệt tiêu bởi vì ”mắt ướt” không đi với “thuơng tiếc” mà chỉ có “mắt biếc” đi với “thương tiếc” làm câu thơ mặn mòi, nổi bật về nội dung ẩn dụ, già dặn nghệ thuật gieo vần ”iếc”.

Dựa vào “sen nở nốt” với “em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” trong ”Giời chưa vào thu”, người đọc có thể hình dung độ tuổi của họ trong gia đình: Họ san sát nhau, không thể già hơn một mùa sen đang nở tàn, không thể vàng hơn một mùa thu rụng lá sắp tới. Người sắp ra đi đang độ tuổi học trò. Có day dứt, bâng khuâng, quyến luyến gì với gia đình dù không có sự đưa tiễn của người cha thì người trong cuộc vẫn phải ra đi. Có nhiều cách đưa tiễn khác nhau nhưng cách nào cũng làm người tiễn nhỏ lệ và người đi mủi lòng. Em nhỏ nào biết gì mà cũng khóc! Thế giới của sự chia ly không phải là thiên đường của tuổi thơ. Vậy sao không dùng chiếc đũa thần kỳ của bà tiên mà cho nó “biến”? Nhưng nhân vật trong thơ chứ đâu phải nhân vật trong thể loại tự sự mà tác giả cho ai sống thì nhân vật đó chẳng thể nào chết! Biến đổi như thế nào cho phù hợp đây? TT dùng phép thuật phù thủy hay bà tiên?

Trong TBH, hình ảnh “em nhỏ” coi như người em gái đã được tác giả dùng phép… nội tâm chính mình thay “em nhỏ” bằng hình ảnh một người “em” khác mang sắc thái một mối tình. Em nhỏ đang ngây thơ, làm sao nỡ để em nhập vào sự chia tay đầy nước mắt của mẹ, hai chị và của chính mình? Do đó, nó xuất hiện khi cần thiết “ngây thơ đôi mắt biếc” nhìn anh sắp ra đi mà thôi. Người anh sẽ mãi nhớ người em gái với đôi mắt biếc ngây thơ này. Vai trò của em gái đến đây là hết để thay thế bằng nhân vật khác. Đấy là cách chuyển nhượng đúng lúc, đúng tâm lý và đúng với tiếng lòng. Thi nhân nếu không trở về với cái thực của nội tâm, những dòng thơ tiếp theo sẽ rơi vào mênh mông sa mạc. Ai thưởng thức dòng thơ sa mạc bao giờ!

Sự chuyển nhượng, thay đổi nhân vật cũng như trong dòng nhạc, nhạc sĩ thỉnh thoảng chuyển từ giai điệu này sang giai điệu khác. Ví dụ trong bản “Đêm đông” của Nguyễn Văn Thương, phần điệp khúc đã chuyển sang một “key – khóa” khác “key – khóa” đầu nhưng tổng thể vẫn hòa hợp nên nó vẫn là một trong những tác phẩm của những người “chinh phu, thi nhân, ca nhi” trong đêm đông với một “giấc mơ, gia đình, yêu đương” bất hủ. Người nghe thẩm thấu được “lòng cô lữ đêm đông không nhà” chính là nhờ sự “chuyển nhượng” tiết tấu tài tình này.

TBH đã gắn thi ca và loại hình 7 nốt vào cung bậc thăng giáng tuyệt vời! Đây là một thi pháp lạ đáng ghi nhận trong thi pháp văn học.

Nhân vật “em” của nhân vật trong thơ xuất hiện trong TBH theo cung bậc thăng (sharp) hay giáng (flat) nào?
“Em”:

                  Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay

TT trong trạng thái ban đầu đã chủ ý dựng lên hình ảnh các nhân vật mẹ, chị, em trong gia đình vào ngày đưa tiễn. Thế nhưng, cảm hứng chủ đạo buổi chia tay bình thường trong gia đình đã tự bộc lộ ra nỗi niềm riêng một đời giấu kín, một mối tình riêng, một thời câm nín. Ta dùng “một thời” ở đây vì TT đã mang nỗi lòng này gởi vào thi ca. Thơ là nơi ẩn nấu, là tiếng lòng của những tâm hồn đau thương, bất hạnh của tình đời, tình trường. Tiếng lòng của TT, của nhân vật trong ngày đưa tiễn với từ “em nhỏ” đã chuyển sang từ “em“. Trong thơ, có những cái vô tình khách quan tạo nên giá trị bất hủ cho câu thơ.

Ví dụ bài thơ “Trưa hè 2″ của Nguyễn Bính có câu:

Thương con lại nhớ lời chồng

Lấy thân làm bức thành đồng cho con.

Khi đưa bài in, người thợ sắp chữ “không biết vì có tài thẩm thơ xuất chúng – hay chỉ là đơn giản vì lầm chữ đã xếp thành Lấy thân làm bức thành đồng che con'”(Nguyễn Hữu Đảng). Vô tình chữ “che” đã biến bài thơ có câu kết đầy ý nghĩa.

Với TBH, bỏ đi từ “nhỏ” trong “em nhỏ” không phải do thợ sắp chữ nhầm hay người nào nhúng tay sửa chữa mà chính là TT đã cắt đi. Đây không phải là sự vô tình. Mâu thuẫn này đã trở thành mâu thuẫn thống nhất trong sự phân vai nhân vật của tác giả.
Trong dòng thi ca, thi nhân dùng cho người yêu bằng từ “em gái, em tôi”. Hữu Loan trong ”Màu tím hoa sim” da diết: ”Tôi là người vệ quốc quân yêu nàng như tình yêu em gái” và Xuân Diệu trong ”Đơn sơ” đã “mắng nhiếc”… yêu:

Em tôi ăn nói vô duyên quá

                                Em giết tình anh có biết không?

Từ ”mắt biếc” nếu đứng riêng sẽ là một hoán dụ chỉ người yêu như trong ”Nhớ anh” của Nhật Quang:

Thu tiễn hạ trời buồn da diết

                                Nhớ anh yêu, mắt biếc đợi chờ.

Nguyễn Nhật Ánh đã dùng hai từ “Mắt biếc” để đặt tên cho truyện ngắn của mình năm 1990. Mắt biếc của Nhật Ánh là cô bé tuổi đáng bằng cháu là Trà Long kiểu “đừng gọi anh bằng chú nghe em” rực sáng một tình yêu bất ngờ, thơ ngây và chia tay trong khoảnh khắc.

Trần Quốc Hoàn trong “Lời yêu thương” (vietnamsingle.com) xúc động:

Mắt em biếc cho chiều thu xanh biếc

Má em hồng cho rực rỡ nắng mai.

… Gió mỉm cười chúm chím cả làn môi

Cho tình thu dâng đầy trong mắt biếc.

Bích Khê trong “Đây bản đàn thơ” đã say sưa:

Đây bản đàn thơ rất xốn xang
Là đôi mắt biếc của mơ màng
Màu thu lướt mướt trong làn sóng
Run rẩy căm hờn nức nở than.

 

Một Du Tử Lê trong “Đời ở mãi phương Đông” an ủi bằng ngợi ca:

Em đừng tủi bởi nếu cần khi ấy
ta dùng tay để tìm lấy thềm nhà

thông héo gầy bởi thông nhớ nhung ta
chim sẽ rủ nhau về đôi mắt biếc

Ít ai dùng chữ “em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” để ám chỉ người yêu.

Nhưng trong một câu thơ mà có một từ, hai nghĩa: Một người, một mắt vừa là em gái vừa là người yêu, ta nên hiểu cách nào hợp lý đây? Ta lại phải cầu cứu vào quy luật thơ.

Ca dao thì hay dùng ”Phú. Tỷ. Hứng” (Diễn tả. So sánh. Cảm xúc): Trên nói bâng quơ, dưới mới vào ý chính:

Trời không mây như cây không gió

                               Mắt ai sầu, anh ngó, anh thương.

Thơ ca thường thường hai câu đi với nhau tạo thành một nghĩa. Câu trên mở, câu dưới kết. Trong câu: ”Em nhỏ/ ngây thơ/ đôi mắt biếc” là câu mở cho ”Gói tròn/ thương tiếc/ chiếc khăn tay…” là câu kết.

”Em nhỏ” cộng với tính từ mức độ “ngây thơ” thêm “đôi mắt biếc” chia đủ ba cụm không dư một từ đủ thấy tác giả thật khéo léo đưa hình ảnh trên đối với hình ảnh dưới là “chiếc khăn tay”.

Nhưng ”Em  nhỏ” có biết gì đâu mà ”thương tiếc chiếc khăn tay”? Giả dụ, ”em nhỏ” tặng cho anh chiếc khăn thì cũng đến mức độ “lưu luyến” người anh đi xa thôi như ta phân tích ở trên.

Từ ”thương tiếc” chỉ dùng trong văn tự như điếu văn hay trên vòng hoa cho người khuất bóng và thường được trang trọng ghi ”vô cùng thương tiếc”…

Trong văn thơ, từ này cũng được sử dụng cho những gì đã qua trong quá khứ và là kỷ niệm sâu sắc lắm. Nếu kỷ niệm được ”gói tròn” trong ”chiếc khăn tay” thì em nhỏ chỉ là người trao cho anh trai chiếc khăn của anh với ai đó mà anh vô tình hay cố tình bỏ quên.

Có thể hiểu từ ”thương tiếc” là tiếc nuối cho một kỷ niệm dễ thương nhưng đã mất thật rồi. Xuân Diệu nhìn áo nhớ người “mắc lên móc đó cho mình nhớ thương“. Nguyên Sa nhìn “áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh, anh mến lá sân trường”. Tức là nhìn áo nàng màu gì thì yêu cha màu đó rồi về tương tư. TT nhìn chiếc khăn tay kia tất sẽ nhớ lại kỷ niệm. Kỷ niệm đầy ấp rứt bỏ sao đành! Khăn nếu được tặng thì người nhận sẽ vui sướng dù là chia xa, không ai nhận tặng vật mà lòng ”thương tiếc”. Tiếc cái gì kia chứ? Mất rồi, xa rồi cái gì đó thì ta mới tiếc chứ? Vậy thì… đã hết thật rồi đó một chữ ”tình” bỏ ngõ… trong ca dao:

Khăn thương nhớ ai

                       Khăn rơi xuống đất.

                       Khăn thương nhớ ai

                       Khăn vắt trên vai.

Em nhỏ sao lại trao cho anh mình chiếc khăn “thương nhớ ai” này?

+ Ý nghĩa “chiếc khăn tay“?

Trong thi ca, ngoài đời, tiễn bạn thường rót rượu cho nhau:

Mời anh cạn hết chén này

                          Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay.

(Lưu trọng Lư – Giang hồ)

Mượn rượu tiêu sầu để thời gian ngắn lại thật lời thơ hiếm có xưa nay. Thơ Đường có Ôn Đình Quân trong “Tống nhân đông du” mời rượu cho bạn:

                          Hà đương trùng tương kiến,

                          Tôn tửu úy ly nhân.

(Bao giờ gặp nhau lần nữa, chén rượu này mời kẻ đi xa).

Chuyện tiễn đưa bên chén rượu dài đến say mèm không nói hết, nói tới chết cũng không thể hết lời.

Sao TBH ngày tiễn biệt không có chén rượu nào? TT thiếu sót hay vì người tiễn đưa chỉ là những người phụ nữ? Hai người bạn đàn ông tiễn nhau nếu không có chén rượu thì cuộc tiễn mất vẻ khí phách nam nhi và thi ca mất hương vị say độc đáo qua chén rượu làm kỷ niệm.

Loại bỏ giả thuyết chén rượu này thì trong thi phẩm chỉ còn chút kỷ niệm là một ”chiếc khăn tay”. Thi phẩm có nhiều cái rắc rối, mơ hồ, khó hiểu trong đó có hình ảnh ”người em nhỏ” và ”chiếc khăn tay” này.

Theo Hoàng Tiến (bài đã dẫn) và dân gian, buổi tiễn đưa này là TT tiễn Phạm Quang Hòa có Huyền Trân, mẹ già, hai chị (một chị dâu con ông bác của Hòa, một chị là bạn người chị dâu). Cô bé là cô hàng xóm tặng chiếc khăn tay có thêu thêm hai chữ Y.A. (tên hay từ “yêu anh” không rõ!) mà trong ”Những kỷ niệm về quê hương” của NTK cũng có nhắc tới.

Đời cần cụ thể. Thơ văn không nhất thiết phải cụ thể như thế vì sẽ làm mất chất lãng mạn của thi ca, nhân vật sẽ không còn mang giá trị thẩm mỹ dù nét thẩm mỹ đó bắt nguồn từ hiện thực và được hư cấu theo từng loại thể.

Ví dụ để nói về ”chiếc khăn tay” – kỷ vật của tình yêu, trong “Hương thầm”, Phan Thị Thanh Nhàn đã từ sự thật một cửa sổ ở làng Yên Phụ mà đứa em trai với người yêu học trò của nó để hư cấu một cô bé:

Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay

Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm.

Bên ấy có người ngày mai ra trận

Bên ấy có người ngày mai đi xa…

Cái “ngập ngừng”, thẹn thùng ấy đầy nữ tính sao quá đổi dễ thương nhưng cô gái này ở thời điểm 1972 hiện đại hơn “em nhỏ” trong TBH hơn mươi năm nên cô gái của ”Hương thầm” bạo dạn hơn. Cô dám sang tận nhà hàng xóm tiễn người!

Trong TBH, người tiễn ”Em” hình như… thụ động và có chút… không rõ ràng. Tại sao? Vì “em” này là nhân vật trong tâm tưởng chứ nào nhân vật của nhân vật trong thơ hay của TT. Nhân vật đứa em trai của hai người chị trong thơ đang nhìn chiếc khăn tay mà nhớ lại kỷ niệm đây. Bởi vậy mà người đi mới nghĩ về “người ấy” trong một nỗi đau chia xa, như một sự tan vỡ của “Hai sắc hoa Ti-Gôn” mà đành lòng thở dài, chua xót khi đẩy hình bóng và đôi mắt người xưa này ra khỏi lòng: “em thà coi như hơi rượu say”.

Nhân vật phát sinh cuối cùng đã đưa người về huyền thoại hoa Ti-Gôn bằng đôi cánh “chiếc khăn tay” – dấu tích một cuộc tình đã mất!

Thi pháp chuyển nhượng nhân vật độc đáo này trong TBH: Hiện tại: “Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” về quá khứ: “Em – người yêu với chiếc khăn tay – một cuộc tình” tới tương lai: “Em thà coi như hơi rượu say“: Phải đành quên để làm lại cuộc đời.

Trần Anh Thái trong “Ngày mai mở sáng” đã xây dựng các nhân vật mẹ, chị, em, người lính, má Mừng… qua 3 chiều thời gian độc đáo suốt một bản trường ca 107 trang! Cũng ba chiều thời gian, TT tái tạo nó chỉ trong… ba câu thơ. Đây là sự “phá kỷ lục” hiếm thấy trong thi ca cho một cuộc tình đã mất. Nó đã có trong TBH. Giá trị thi pháp này không đáng cho văn học ghi nhận sao?

Đây là giá trị văn học nhân bản thứ tư của thi phẩm.

 

4. Những giá trị văn học ẩn hình:

+ “Chiếc lá bay. Hạt bụi. Hơi rượu say” với giá trị văn học:

Ngôn ngữ văn học và ngôn từ văn học “ly khách” còn nhiều tranh cãi giữa hình ảnh ”ly khách” qua ngôn ngữ và hình tượng ”ly khách” qua ngôn từ lại gặp nhau ở ba câu:

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

                                 Chị thà coi như là hạt bụi

                                 Em thà coi như hơi rượu say.

Dòng thơ trữ tình bắt nguồn từ hiện thực nào cũng mang đôi cánh lãng mạn. Trong sự chia xa bao giờ cũng  nhận thương đau cho cả hai phía. Trong TBH, đau thương ấy đã được chấp cánh bởi ngôn ngữ văn học: ”chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say”. Từ ngôn ngữ văn học này, người đọc sẽ thấy được nghĩa tạo hình đó có giá trị nhất định trong từng cụm từ trên và khi chúng đứng hẳn trong một câu thơ sẽ tạo ra hình tượng mang tính chất trừu tượng làm nhức đầu người đọc với hình ảnh:

– “Chiếc lá bay” kia thả hồn như một cuốn chuyện phim ”Cuốn theo chiều gió” (Gone with the wind) của nữ văn sĩ Mỹ Margaret Mitchell và như “diệp lạc tiêu tiêu” – lá rụng từng cơn của các nhà thơ Đường. Nó còn như “Chiếc lá cuối cùng” bay xa của Vũ Thành An trong nhạc và vô định như ”Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong.

–  “Hạt bụi” kia cũng tan trong cõi vô hình ẩn ý cho một kiếp “phù sinh tử táng mấy lâm hồi”’ của Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ.  Nó như “cát bụi trở về với cát bụi” của Phật giáo cùng đồng nghĩa “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi” của Trịnh Công Sơn.

– “Hơi rượu say” mang dư vị mơ hồ, cảm giác phù phiếm, ảo mộng, trôi tan trong “Xuân nhật túy khởi ngôn chí” của Lý Bạch và như ”say” cuồng của Vũ Hoàng Chương.

Ba câu thơ rạch ròi không thể đổi khác. Chủ ngữ “mẹ, chị, em” chi phối vị ngữ là cụm động từ “thà coi như” với giá trị nhất định. Nếu ta bỏ động từ “coi” hay trợ từ so sánh nổi “như“:

– Mẹ thà như chiếc lá bay > mẹ thà chiếc lá bay, vô nghĩa.

– Chị thà như là hạt bụi > chị thà là hạt bụi > nghĩa khác với sự khẳng định của chủ ngữ là người chị chấp nhận mình là hạt bụi như một sự thua cuộc.

– Em thà như hơi rượu say > em thà hơi rượu say, vô nghĩa.

+ Giá trị ngữ pháp của hư từ “Thà”:

Như vậy, xét về phương diện ngôn ngữ, từ ”thà” chỉ là từ kết nối giữa chủ ngữ với vị ngữ. Giá trị của nó khi đi với chủ ngữ thì không rõ nghĩa.

Ví dụ trong TBH, không thể hiểu nếu chỉ viết: ”Mẹ thà. Chị thà. Em thà” + với danh hay cụm danh từ.

Nhưng hư từ “thà” cần thêm một động, tính từ nữa đi kèm thì lại có nghĩa.

Ví dụ câu châm ngôn: “Thà chết vinh hơn sống nhục“.

Hay:

Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương.
Tần đế còn nhường danh họ Lỗ,
Hán vương đâu biết bệnh thầy Trương.
Thôi thôi đã vậy thôi thà vậy,
Một túi kiền khôn mặc mở mang.

(Minh nguyệt thanh phong – Nguyễn Đình Chiểu)

Chúng đi theo nghĩa chán ghét cái gì đó nên mới chịu… “thà”…trong tình thế bị bắt buộc.

Ba câu trên nếu bỏ đi từ ”thà” thì giá trị câu trở thành câu so sánh suông: ”Mẹ coi như chiếc lá bay. Chị coi như là hạt bụi. Em coi như hơi rượu say” dẫn đến sự hiểu hai cách: ”Mẹ, chị, em coi con, em, anh mình như chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say” và người sắp ra đi coi mẹ, chị, em mình cũng như vậy.

Trong TBH, khi TT dùng từ ”thà” đứng trước động từ so sánh (như) có danh từ (chiếc lá, hạt bụi, hơi rượu) làm bổ ngữ thì chúng lại có ý nghĩa như một tự nguyện mình hy sinh thành cái gì đó tốt đẹp.

Ví dụ: ”Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá” (Nguyễn Tất Nhiên) hay trong câu nói bất hủ của Trần Bình Trọng: ”Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Hoặc trong “Thà như ngày thơ ấu. Hai đứa cầm tay đi” của Nguyễn Nhật Ánh.

Trong TBH, cụm động từ “thà coi như” không thể bỏ mất một từ nếu không, câu thơ chẳng còn mang phép tu từ điệp ngữ ”thà coi như” mà chỉ còn mỗi điệp từ ”coi như”. Giá trị tu từ của từ “thà” đứng riêng hay nằm trong văn bản đều mang bản sắc “đi không đổi tên, ngồi không đổi họ”. Khi một tác giả dùng từ ”thà” trong tác phẩm, “coi như” họ, hay nhân vật họ dựng đã chịu ”lùi xuống”. Lui xuống không có nghĩa là thua cuộc.

Hư từ “thà” trong TBH đã được hiểu từ trước tới nay theo nghĩa nào?

Coi “thà” như “nhát dao” như một số nhà nghiên cứu là hơi quá nghĩa hy sinh, hơi chút tàn nhẫn. Coi “thà” như sự hy sinh một cách “bất hiếu” cũng hơi quá lời. Đằng nào cũng làm cho người con trai ra đi thêm “trọng tội” theo cách hiểu:

Người ra đi không về kia coi như là “chiếc lá bay” trong lòng người mẹ, là “hạt bụi” trong mắt người chị, là “hơi rượu say” trong lòng người em. (Dừng lại chỗ này: ”Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” kia sao có thể hiểu hết ý nghĩa một ly rượu cuộc đời. Say tình, say đời không thể dùng cho “em nhỏ). Tạm thời hiểu theo nghĩa suông theo sự chọn lựa của mẹ, chị và cả trong ý nghĩ của người con tức là cả hai cũng nghĩ, cùng chọn lựa hóa thân tốt đẹp:

 Mẹ là chiếc lá bay trong lòng con trai.

                                 Chị là hạt bụi trong lòng em trai.

Thử nghĩ:

Chia tay với đứa con trai mà coi như nó mất hẳn (chiếc lá bay) thì đời còn gì ý nghĩa gia đình con cái thánh thiện? Vì thế, giữa kiếp sống người thân với sự chia lìa đau đớn so với chiếc lá bay vô tư của cỏ cây, người mẹ không muốn mất con thì …“thà” chọn kiếp vô tư của cỏ cây. Nhưng cỏ cây nào phải vô tình. Chính vì vậy, ta mới thấy có cụm từ “thà coi như” với hình ảnh “chiếc lá bay” của người mẹ cuốn theo bước chân người con trai. Đây là tu từ “vật hóa”. Ở đâu chẳng có màu xanh. Ở đâu chẳng có nắng hanh ngập lòng? Vậy, hình ảnh của mẹ hóa thân vào chiếc lá sẽ luôn ở bên con mình. Nó có thể không thấy mẹ nhưng mẹ lúc nào cũng thấy nó.

Người chị không muốn mất em, không nỡ để em bên trời cô đơn nên ”thà” đành chọn kiếp làm “là hạt bụi”. Ở đâu chẳng có bụi đường. Ở đâu chẳng có phong sương cuộc đời? Hóa thân của hai người chị “là hạt bụi” để cùng “chiếc lá bay” của mẹ mà bay, mà lăn theo em tận cùng trời cuối đất, cùng san sẻ buồn đau, sướng khổ với nó, động viên nó.

Những hóa thân này, trong chúng ta, ai cũng từng có những phút khóc chia xa, ai cũng từng có một thời sa đà và nông nổi, ai chẳng từng có một thuở hoàng hôn. Ta có thể hóa thân vào chiếc lá “cuốn bay xa“. Ta có thể là hạt bụi “hóa kiếp thân tôi”. Ta có thể hóa thân vào giọt rượu “vẫn chua cay“. Sao không thể là một tiếng đàn “vỡ một nốt si“. Một nốt nhạc lòng tôi viết “hai nốt kép“. Sao không thể là một “giọt sương trên mí mắt“. Một cơn gió ”trên tóc thôi bay”. Một tiếng ve “rưng rưng gọi mùa hè“. Một cánh chim “bay trong hoàng hôn không mỏi”. Một cánh diều ”thả trong nỗi nhớ tuổi thơ”… Trong hóa thân đó, ta chọn dành cho mẹ, cho chị, cho em, cho bạn bè, cho quê hương, cho loài người và… cho người ta yêu!

Con người có thể trở mặt với nhau nhưng vạn vật có bao giờ biết cùng nhau… trở mặt! Những danh vọng, ta đeo theo mệt lử. Chỉ hóa thân vẫn mãi là bất tử.

Cụm danh từ ”chiếc lá bay” với nghĩa tự nguyện âm thầm mà nhân vật người con trai hay tác giả nhẹ nhàng dùng cho mẹ và mẹ nghĩ về con cũng đi đôi với sự nén khóc âm thầm khi chia tay con lúc đầu. Diễn biến tâm trạng cũng như tính cách nhân vật mẹ trong TBH đã hợp nhất.

Cụm động danh từ “là hạt bụi” được tác giả chọn lựa dùng với nghĩa ”dọc đường gió bụi” bám vai hai chị coi như tương xứng với những lời yêu thương “nói nốt” với em trai lúc đầu cũng như sự đảm đang của hai người chị nuôi mẹ cho em yên tâm lên đường cũng thống nhất.

– Hóa thân cho người “em“:

Đến phiên người ”em”? Với cái nhìn ngây thơ từ đôi mắt biếc kia, tác giả – nhân vật nam để cho em gái sẽ chọn ”thà” làm cái gì cho xứng đáng? Tác giả đã đưa em gái ra khỏi sự hy sinh. Từ “em nhỏ” biến mất ở câu dưới, chỉ còn một từ “em” mà TT không thể vô tình sử dụng như người viết đã đề cập ở phần trên.

Em” đã được chọn “thà” làm “hơi rượu say” khi lòng ta không tỉnh táo:

   Vắng em lửa cháy bình khô rượu

                                 Đời vắng em rồi say với ai ?

(Say – Vũ Hoàng Chương)

Rượu làm ta say. Em cũng làm ta say. Nhưng không em, ta say để làm gì? Hình ảnh này với “hơi rượu say” làm sao anh trai có thể dùng cho em gái và ngược lại? Đã nói men say, hơi rượu chỉ dành riêng cho bạn bè tri kỷ, tri âm và vợ chồng trước khi chia tay trong thơ Đường và thời phong kiến.

Ngày nay, chia tay nhau người ta chỉ dùng… hơi bia với câu ”bảo trọng” như phim Tàu. Không có anh trai nào coi đứa em gái cốt nhục của mình là ”men say”, “hơi ruợu say” cả. Men rượu say bao giờ cũng được hiểu như men rượu của ái tình.

Trong dòng nhạc, dòng thơ không bao giờ thiếu vắng hình ảnh say vì ”em”, say vì ”tình” này. TT từng nằm vùi trong “Một mảnh tình”:

Đôi lứa phương tâm một mảnh tình

Như trăng vàng mở vẹn gương trinh

Chén sen ráo miệng, thề pha lụy

Quạt trúc trao tay, ước lỗi hình

 

Gió trải luống gào duyên cựu mộng

Dây oan chỉ riết chí kim sinh

                        Say vùi ta đốt tuơng tư thảo

                       Bóng khói qua mây lại nhớ mình.

Say vùi rồi chợt tỉnh. TT quả có cái say của lý trí. Trong ”Tình xa”, Trịnh Công Sơn đã nhìn thấy cả ”Giọt rượu nào mãi chua cay trong tình vẫn u mê”.

Như vậy, ”hơi rượu say” dứt khoát không thể dùng, không viết cho tâm trạng của em gái hoặc dùng cho nhân vật người anh trai nghĩ về em gái ruột thịt. TT tuy đã dùng nó nhưng rất ý nhị khi bỏ đi từ ”nhỏ” trong ”em nhỏ” để chỉ còn lại từ ”em” đầy đủ nghĩa ẩn ý. Em nhỏ kia đang ngây thơ thì hãy để em nhỏ ra ngoài sự hy sinh thầm lặng nên từ ”thà” cũng rơi xuống cho ”em” chứ không là ”em gái”. Vậy là người yêu rồi còn gì!

Dị bản với cụm từ ”hơi rượu cay” đứng trong văn bản này càng khẳng định tác giả, người con trai sử dụng cho người yêu qua từ ”cay”. ”Cay”:  Tính từ chỉ mức độ mà vị giác: Có uống mới hay. Có dùng mới biết. Có thử mới tường. Trong khi đó, từ ”say” cũng là tính từ chỉ mức độ nhưng cảm nhận từ não bộ. Tính từ ”say” này cao cấp hơn ”cay” vì ”rượu cay” nhưng chưa chắc làm người ta say nhưng đã ”say” vị thơm hương nồng đắng thì phải có thêm mùi vị cay của rượu. Người mới nghe, họ sẽ chọn từ ”cay” vì thực tế hơn nhưng ”say” rồi sực tỉnh ngay mới là ”bản lĩnh”.

Người nam trong thi phẩm từng mang bản lĩnh của TT trong “Lưu biệt“:

Tiệc này đêm cuối mai chia ly

Anh cố lưu tôi có ích gì

Đời người say tỉnh bao nhiêu dịp

Xin cạn chén rượu để tôi đi

… Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa

Tôi quyết đi rồi tôi phải đi

Tức chấp nhận “vạn sự khởi đầu nan”. Bản chọn của HT – HC giữ nguyên từ “say” này ngẫu nhiên mà ”đắc”. Thế nhưng, xưa nay, “hoa rơi hữu ý, nước chảy vô tình”, “anh hùng nan quá mỹ nhân quan“! Có khí phách cỡ nào, bản lĩnh cỡ nào thì cũng khó thoát khỏi sự yêu thương lẽ thường của con người. Thiên điạ cũng hữu tình huống hồ là con người! Khi họ nghĩ về người yêu một chút trong ngày tống biệt thì cũng đâu làm mất đi chí khí nam nhi. Trái lại, nó còn tăng giá trị người đó không đến nổi là gỗ đá, là vô tình. Thật ra, cây cỏ cũng nào có phải vô tri, nếu vô tri không ai tin có ”Lời của gió” mà Duy Thái đã viết nên ca khúc tuyệt vời này:

…  Cơn gió nào bay ngang cuộc đời

Nói với em rằng tôi lẻ loi…

Dù gió có bay ngang vườn chiều

Làm lá khô rơi rụng nhiều…

Nhưng gió ơi gió đừng hôn lên má em

Gió  ơi gió đừng đùa trên tóc em

Gió ơi gió đừng ru đôi mắt em dịu hiền

Gió hãy nói rằng em mong có anh

Gió hãy nói rằng em luôn nhớ anh

Gió hãy nói rằng em yêu anh

Con người với mình trần, mắt thịt – một thực thể biết nói, không thể hiểu nổi một ”pho tượng đá” nói gì thì chỉ còn cách tự biến mình thành ra một dạng khác để ”im lặng” nghe. Khi lời không thể phát được giữa thinh không thì ngôn ngữ thầm sẽ tự bật ra. Nếu con người hiểu con người thì sự vật hiểu sự vật trong mối quan hệ tương đồng. Ta cũng có thể lý giải vì sao, chúng ta thường thầm thì cầu nguyện một điều gì đó mong được “đấng thiêng liêng” lắng nghe.

Cùng sự đồng điệu này của văn học, Phạm Duy đưa “Thà như giọt mưa” của Nguyễn Tất Nhiên vào âm nhạc tạo thành những cung bậc, âm sắc xót xa: Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá. Thà như giọt mưa khô trên tượng đá. Thà như mưa gió đến hôn tượng đá. Có còn hơn không?”. Không có sự lựa chọn nào có những hình ảnh hy sinh âm thầm huyền hoặc mà đầy đủ ý nghĩa như vậy cả với từ ”thà” cam chịu, chấp nhận hy sinh một cách cao thượng không một chút tính toán để giữ lại nguyên vẹn một chữ ”tình người” như thế cả!

Ngôn ngữ dùng để xây dựng hình tượng nhân vật, tiếp cận sự việc, lý giải vấn đề như trên gọi là ”phép nhân hóa”. Phép biến con người chuyển sang sự vật thì gọi là phép gì trong thi phẩm TBH nếu không cho là ”phép vật hóa”?

Mẹ: Chiếc lá bay,

                               Chị: Hạt bụi,

                               Em: Hơi rượu say.

Dị bản khác đã ghi:

 Mẹ! Thà coi như chiếc lá bay,

                              Chị! Thà coi như là hạt bụi,

                              Em! Ừ coi như hơi rượu cay.

Theo văn bản này qua ba dấu cảm thán (!!!), ta xác định được ngay người con trai đang nghĩ về người mẹ ”như chiếc lá bay”; người em trai đang nghĩ về người chị ”như là hạt bụi”; người anh nghĩ về em gái ”như hơi rượu cay” nghĩa là người ra đi coi mẹ, chị, em như vật thể vô tri biến mất, tiêu tan…

Cách hiểu như vậy làm cho nghĩa thâm thúy, lòng hy sinh cao cả của hai bên đều bị thương tổn. Bí mật, ẩn ý của những câu thơ mất. Tình cảm gia đình thiêng liêng cũng chẳng còn. TBH chỉ còn là bài thơ tuyên truyền, cổ động cho một kiểu ra đi vì đất nước hay vì manh áo miếng cơm mới quên đi ”tình nhà”. ”Tình nhà, nợ nước” nếu có trong cuộc đời mà thi phẩm đem vào  được ”nâng cấp” và bảo toàn, ấy mới là điều kỳ diệu của tay ”kỳ bút”, ấy mới thật sự là một thi nhân tài ba! TT may mắn bảo toàn được điều này.

Ðến đây, ta lại gặp chút bí ẩn: ”Chiếc lá bay” qua mùa thu hoặc già cỗi thì rụng. Trời mưa, đất nhão. Cây khô, lá chết. ”Hạt bụi” này có lúc có, lúc không nếu người ra đi kia… chui vào nơi không có cây cối, không có hạt bụi. Hai hình ảnh trên không phải lúc nào cũng gắn bó bên đời người đi xa nhưng chính ”hơi rượu say” thấm thía này mới đi từ cõi lòng mà ra qua cả bốn mùa, tồn tại hẳn trong ngày lẫn đêm. Cái gì chưa uống đã say? Chính hơi say của tình đời này mới cắn hồn ta, mới bám lấy hồn ta đời đời kiếp kiếp. Không phải là ”em” thì còn cái gì đủ sức làm ta điên đảo hơn? Như vậy, bản thân người ”em” không chọn từ ”thà” mà chính là người sắp đi xa đã chọn từ ”thà” khi nghĩ tới ”em”.

Trong ba câu hy sinh chọn từ ”thà” thì hai câu được chọn từ chủ thể ”mẹ, chị”. Câu thứ ba được chọn bởi đối tượng vị ngữ không hiện diện trong câu. Sự sắp xếp này từ cổ chí kim chưa thấy có thi nhân nào gây ra nhiều rắc rối thú vị như vậy cả! Như vậy, câu ”Em thà coi như hơi rượu say” nên hiểu ngược lại ”Ta thà coi em như rượu say” vì lỡ có ”say” em, ta cũng sẽ tỉnh lại  và cũng còn đủ bản lĩnh tỉnh táo mà đi theo con đường gió bụi ta đã chọn.

Trong TBH, chỗ nào nữa để tác giả hóa thân nhân vật người con trai  nhắc về “tình riêng” của mình. “Chiếc khăn tay” đã hé mở một điều. “Hơi rượu say” cho ta nhiều nghi vấn vì hơi thơ có “tĩnh” nhưng âm vị rất “chua cay”.

Trong đoạn trước, nhân vật người yêu đã xuất hiện trong tâm tưởng nhân vật ra đi qua hình cảnh chiếc khăn bên cô em nhỏ có đôi mắt biếc ngây thơ. Trong đoạn gần cuối, nỗi lòng nhân vật có xáo động lên vì dư vị kỷ niệm như giọt rượu tình không uống cũng say. Cuối cùng, người ra đi đã quyết định quên đi quá khứ đau buồn mà ra đi. Một quyết định cần và đủ để tạo năng lượng đủ sức tống phi thuyền tìm tự do bay lên trời!

                    Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

– Giá trị văn học từ “Ừ nhỉ“:

Từ ”Ừ nhỉ!”: Tiếng nói thầm, bảo thầm với chính mình. Khi ngộ giác (quên đi tâm tình nam nữ) trong tâm đã thành chánh quả (quyết định ra đi làm lại cuộc đời), nhân vật ra đi phát ra tiếng nói thầm.

Trong thi ca, một số tác giả đã từng dùng từ này. Ví dụ:

rồi cũng khóc cho điều đã mất
trâm Cỏ Thi. ừ nhỉ, cỏ thôi mà
nhưng nước mắt… cũng như em, tôi đã
thêm một lần tái diễn trước cỏ hoa…
17.3.1993 (Tái diễn – Nguyễn Trọng Tạo)

Mây bay, ừ nhỉ? mây bay!
Khát khao tôi ngửa bàn tay hứng trời.

Mưa rơi
Từng giọt mưa rơi
Bàn tay tôi đậu mảnh trời xinh xinh.
(Giọt nước – Nguyễn Anh Nông)

ừ nhỉ, chiều hôm nay có nắng
buổi sáng dài ra sau một tháng
gió thủ thỉ qua song
thủy tiên vươn vai lá cùng tình tự
(Bên cửa ô tầng 6 – Nguyễn Văn Duy)
Giật mình, ừ nhỉ! thu sang,
Sao rừng phong đứng, áo vàng chưa thay?
Em về giữa gió thu bay,
Cho ta ngờ ngợ tháng ngày riêng ta,
(Em về giữa lá thu bay 
– Lã Thế Phong)

Trong cuộc đời chúng ta, có ai chẳng từng nhiều lần tự “nói xàm” một mình! Nhận xét khi phân tích về đọan thơ nhiều thi pháp của TBH, giáo sư Lê Ngọc Trà  trong ”Văn học 11-Tập II ” (Nxb GD – 2004 ) có nhận định:

 “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

                               Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

                               Chị thà coi như là hạt bụi

                               Em thà coi như hơi rượu say.

Chỉ có bốn câu thôi mà không biết có bao nhiêu cách hiểu. Không ai biết chính xác tác giả nghĩ như thế nào, nhưng chắc chắn là không phải cách hiểu nào trùng với tác giả mới là hay”.

Như vậy, cách hiểu nào đưa giá trị nội dung, nghệ thuật của tác giả lên cao, bảo đảm ”tính nhân bản” của tác phẩm thì người đọc có quyền chọn mà theo.

Trước sự quyết tâm ra đi của người con trai không hẹn ngày trở lại, những người thân trong gia đình đã chọn nghĩa hy sinh (thà làm một cái gì đó) nhưng không phải hy sinh con, em mình, không thể bỏ nó mà sự hy sinh với  mong mỏi được như ”người bạn đồng hành” của người sắp ra đi vào bước đường bão giông trước mắt. Trong sự hy sinh này còn sự chọn lựa nào khác hơn là sự ”hoá thân” sang một kiếp khác lặng lẽ, trôi tan, sưởi lòng bằng ”chiếc lá bay, là hạt bụi”. Những hình ảnh này mãi theo dư vị đắng cay, ngọt bùi của cuộc đời ở bên người ra đi. Người đó sẽ phải nhớ rằng: ”Dù bất cứ nơi đâu, hoàn cảnh nào, tôi sẽ không bao giờ cô đơn”. “Hơi rượu say” – một cuộc tình qua tay, kia sẽ làm người ra đi tỉnh lại chợt nhận ra mình cần phải bước tiếp đoạn đường mình đã chọn lựa: “người ra đi đầu không ngoảnh lại/Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” (Đất nước – Nguyễn Đình Thi).

Người con, em có thể sẽ quên mẹ, chị nhưng mẹ và chị, không bao giờ quên con, em mình như một thể thống nhất “nước mắt chảy xuôi“.

Trong đoạn chia tay, hình ảnh người em nhỏ hiện ra bên cạnh mẹ, chị như một cảnh chia tay ấm tình gia đình dù vắng mặt người cha. Nhưng chỉ trong nháy mắt, chỉ dùng một cụm từ “hơi rượu say”, TT đã thế hình ảnh người yêu vào sự lựa chọn sự hy sinh. Mẹ, chị vẫn thống nhất từ đầu tới cuối nhưng nhân vật em gái biến khỏi sự hy sinh này. Khi nghĩ về gia đình, vẫn có em gái. Khi nghĩ về sự hy sinh, người yêu hiện diện.

Hai nhân vật “em nhỏ” và “em” song song tồn tại trong một mâu thuẫn. Chúng không những không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau theo hai chiều ý nghĩa. Thi pháp chuyển nhượng nhân vật” của TT vừa làm cho thi phẩm tăng sức cuốn hút vừa phá vỡ nguyên tắc “mâu thuẫn đấu tranh loại trừ nhau” trong “Lí luận văn học” của các giáo sư, các nhà nghiên cứu trong đó có cả Lê Ngọc Trà đã đề ra.

Đó không phải là “một cách hiểu” tốt cho tác phẩm mà Gs. Lê Ngọc Trà đã “vẽ đường hươu chạy” hay sao?

Ðây là giá trị văn học nhân bản thứ tư của thi phẩm.

 

         5. “Người, Người ấy” với thi pháp “chuyển nhượng nhân vật“:

Phân tích giá trị nhân vật phải đưa nhân vật đó về chung một hệ thống chủ đạo của tác phẩm.

– Giá trị văn học trong 4 câu đầu:

“Người” là ai?

                               Ðưa người, ta không đưa qua sông

                               Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

                               Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

                               Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Người” là một kẻ đi xa. Người này phải là người thuộc những nhóm chính sau đây: Gia đình. Bạn bè. Người yêu.

Ta xét thử, người này thuộc nhóm nào trong các nhóm trên. Ta đặt tác giả trong cương vị là người tiễn. Loại bỏ cách hiểu tác giả viết dùm cho người khác ở đây.

“Đưa người, ta không đưa qua sông“: Rõ ràng, người mà tác giả muốn đưa tiễn không phải là người mang ý chí Kinh Kha qua sông Dịch mưu sự hành thích Tần Thủy Hoàng theo điển tích xưa mà các sách Giáo khoa bắt học sinh học theo… lòi mắt. Tức người ra đi không phải là người mang trong mình một chí lớn gì to tát cả mà cánh mày râu thường ví von. Như vậy, nhân vật “người” này chỉ là người nam ra đi bình thường. Tiễn đưa một người đàn ông bình thường (không chí khí thì cũng là hạng tầm thường) sao tác giả lại đau thương cực độ đến nỗi lòng dâng sóng, mắt ngập hoàng hôn? “Đồng tình luyến ái” à?

Người ra đi cũng chẳng phải là người “qua sông” hay “sang sông. Tức là “Người” này cũng chẳng phải người yêu của tác giả mà tác giả phải “nuốt lệ làm vui nhìn chiếc xe hoa”! đến nổi nghe sóng quậy trong lòng, thấy hoàng hôn ngập mắt?

Nam thì tầm thường. Nữ chẳng phải người yêu. Anh em chẳng phải. Họ hàng cũng không! Họ chẳng thuộc một nhóm người nào ở trên. Vậy, “người” là ai? Đưa tiễn người mà người đó không phải là bạn, chẳng phải bồ thì không lẽ là “ma”? Bây giờ, chúng ta lại phải tìm hệ thống chủ đạo của TBH là cái gì? Chính là sự “Tống biệt“. Tống biệt là tiễn đưa. Tiễn đưa ai? Cái gì? Nếu chúng ta chọn phân tích bổ ngang, đi từ trên xuống dưới là chúng ta lạc vào “mê hồn trận” của TBH.

Sự vay mượn các đoạn thơ và các câu thơ bị xáo trộn liên tục trong TBH không theo hướng bổ ngang là thao tác cần làm.

TBH có mẹ, có hai chị, có em nhỏ rõ ràng đang chuẩn bị tiễn con, em, anh mình sao chúng ta lại thấy đoạn đầu có như không có? Bởi vì tới đoạn có gia đình, TT lại “xuất hồn” ra khỏi xác mà để cho nhân vật của tác giả thế vào. Đây cũng là thi pháp chuyển nhượng nhân vật”, TT đã làm cho “em nhỏ” là em gái nhỏ biến thành “em” –  người yêu trong tư tưởng.

Trong thi ca, đã có một Xuân Diệu từng “úm ba la” “chén nước” thành “rượu nho”:

Em cho anh chén nước

Anh biến thành rượu nho.

Anh lại nâng chén nước

Mời em nhấp môi cho

Em ơi đừng uống hết

Kẻo say chết bây giờ!

Đoạn nào không có gia đình, là có TT. Đoạn nào có, TT biến mất. Khó hiểu của thi phẩm thêm một mâu thuẫn ở chỗ hai nhân thân: Nhân vật của tác giả và nhân vật chính tác giả.

Từ ”Người” gói gọn trong một chủ thể “Người” chính là tác giả. Chủ thể tác giả có hai chủ thể con:

Người thứ nhất là người bạn trước đó là nhân vật mà TT xây dựng để tiễn. Sau đó, ngòi bút hư cấu nhân vật một người bạn tầm thường ra đi không còn sức hấp dẫn cho chủ đề “Tống biệt” nên nhân vật ẩn núp trong tim phá bốn vách tim, chui ra thay thế là người thứ hai.

Khi nào cần vai diễn, nhân vật người bạn sẽ hiện ra. Khi nào không còn gia đình, TT trở lại vai diễn chính của mình.

Chúng ta không còn lạ thi pháp này của TT sử dụng trong TBH như đã sử dụng trong HSHTG để xây dựng nhân vật “Người ấy sang sông đứng ngóng đò” chính là “Người” trong TBH: Một gã TT “ném chén cười cho đã mắt” đang ôm nốt “Si” bự chát. Ta chính là Ta!

Biết mấy đời trai trong góa bụa

Đêm ròng đứng thắp mẩu tầm hương.

TT từng biến đời trai xông pha sương gió xuống thành đời “góa bụa”. Góa bụa ai dùng cho đàn ông! TT dùng. Cái gì ngược ngạo là có TT. TT chẳng phải là “nhà phù thủy hô sóng vào lòng và gọi  hoàng hôn lên mắt” như Vũ Bằng tán dương mà TT đúng là “Bà tiên góa… vợ với chiếc bút thần kỳ diệu, cưỡi sóng lượn trong hoàng hôn”.

Tuyệt bút TBH của TT vượt hẳn các nhà thơ khác với đề tài tiễn biệt theo thể ”Hành” là ở đoạn đầu bốn câu này. Ta đưa lòng ta! Lòng ta là lòng con người muốn làm ”ly khách” định ”giã gia đình”. Lòng ta mâu thuẫn với con ”người ấy” có bản lĩnh vì nếu muốn tiễn đưa lòng trước hết phải ”dửng dưng” với quá khứ như Hoàng Trọng Nam trong ”Tiễn người ra khỏi lòng tôi” đã viết:

Tiễn nguời – Tôi tiễn khỏi lòng tôi…

                               Người đi – tiễn khúc trỗi lên rồi.

TT đã dựng cảnh ”tống biệt” không có sông mà nghe tiếng sóng. Âm vang tống biệt với tiếng sóng lòng làm ta nghe văng vẳng đâu đây lời ca ngậm ngùi ru con chim sáo ngày xưa trong ca dao:

Ai đưa con sáo sang sông

                              Ðể cho con sáo sổ lòng bay xa.

Con người có nghĩa, có tình, từng “Mơ một thuở thanh bình” như TT sao không thể để cho nhân vật mình hóa thân ngậm ngùi ru tình vào kỷ niệm một lần cuối qua dòng sông quên lãng? Dòng sông trong ca dao như một hình ảnh ướt lệ cho sự sang ngang. Phụ diễn sự tiễn biệt đau lòng đó, Ngô Thụy Miên đã ghép thành nốt nhạc rưng rưng: ”Tôi đưa em sang sông. Chiều xưa mưa rơi âm thầm”.

Cho nên, đoạn đầu 4 câu trên, chúng ta sẽ thấy tác giả TT như tiễn bạn, rồi như không hề tiễn bạn, như tiễn người yêu mà chẳng hề tiễn người yêu, lại tiễn lòng mình. Thế nhưng, trong lòng mình đã có người yêu. Như vậy, tiễn đưa lòng mình có khác gì tiễn người yêu mới có “tiếng sóng ở trong lòng”, mới thấy “hoàng hôn trong mắt trong”.

Ai là người thấu được nỗi lòng này? Một người ngoài cuộc nếu có thấy cũng chỉ thấy “Vu vơ” như Tế Hanh:

 Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt

                              Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.

Xót dùm, buồn dùm thôi chứ làm sao người ngoài cuộc biết “ẩn tình dạ khúc” ở bên trong? ”Vu vơ” không thôi thì làm sao nói được nỗi lòng người trong cuộc?

+ Ẩn dụ của “Sóng“:

Trong vật lý học, sóng là sự lan truyền của dao động. Sóng biển là sự dao động thẳng hay tròn của nước biển.

Trong văn học, sóng biển là hình ảnh tượng trưng, là những ẩn dụ của cuộc đời. Trong thi ca, sóng thường là biểu hiện của tình yêu không bao giờ ngừng nghỉ.

Khi tình yêu chưa… tắt thở, nó xanh ngọt ngào, da diết trong Xuân Quỳnh “Chỉ có sóng và em“:

Một trời xanh, một biển tận cùng xanh
Và gió thổi và mây bay về núi
Lời thương nhớ ngàn lần em muốn nói
Nhưng bây giờ chỉ có sóng và em..

Khi nó thắm thiết, người yêu nghẹn lời trong “Biển, núi, em và sóng” của Đỗ Trung Quân:

Cám ơn sóng nói thay lời dào dạt
Hàng thùy dương nói hộ tiếng thầm thì
…Cám ơn em dịu dàng đi bên cạnh
Biển ngoài kia xanh quá nói chi nhiều
Núi gần quá – sóng và em gần quá
Anh đủ lời để tỏ một tình yêu.

Khi tình yêu chín mùi, nó “tham lam” mật ngọt trong “Biển” của Xuân Diệu:

Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi

Khi nó lên hương thì ngút ngàn ca ngợi “Em, sóng biển anh yêu” của nhà thơ Nga Fyodor Ivanovich Tyutchev (thivien.net):

Trong phút giây bất hạnh
Như có sức bí huyền
Đẩy hồn anh còn sống
Vào con sóng tình em.

Sóng trở thành cổ tích tình yêu trong “Chuyện tình biển và sóng” của Trần Ngọc Tuấn:

Sóng bạc đầu từ đó phải không anh?
Còn biển kia vẫn xanh màu huyền bí?
Không phải đâu em biển kia không chung thủy,
Dẫu bạc đầu sóng vẫn mãi thủy chung.

Anh dắt em giữa biển nghìn trùng,
Nghe dã tràng kể chuyện xưa xa vắng.
Dẫu không phải tình đầu em trong trắng,
Chỉ mong anh một lòng với cổ tích biển ngày xưa!

Còn đây, sóng tri âm trong lòng thi nhân:

Chỗ ấy, sóng đập vào bờ bể
Nguời đến rồi người lại ra đi
Sóng vô tâm và đá vô tri
Chỉ tiếng đập trong lòng ta ở lại.

Tiếng sóng đập xa vời xa ngái
Ngỡ tan đi mà vẫn đang còn
Sóng không đổi dẫu bờ thay đổi
Ta nhìn ta mà lạ tâm hồn.

Cứ ngỡ lạc mà không thể lạc
Tiếng sóng xa là bạn đồng hành
Tiếng sóng ảo cho đời nương tựa
Tiếng đất trầm chói nỗi mông mênh.
10-12-2000

(Chỗ ấy sóng – Vũ Quần Phương)

– “Sóng” trong TBH của TT là tiếng sóng nào? Hình như nó cũng là “tiếng đập trong lòng ta ở lại”! Nó không còn là tiếng sóng của một tình yêu xanh ngát, ngọt ngào, êm đềm nữa mà nó đã thành “bạn đồng hành, cho đời nương tựa” khi “Người đến rồi người lại ra đi” như Vũ Quần Phương (VQP) ngùi ngùi, se sót. “Người đến, người đi” của VQP chưa biết có giống như “Người” mà TT tiễn ra khỏi lòng không nhưng trong lòng cả hai TT và VQP đã tồn tại tiếng sóng. Tiếng sóng của VQP là tiếng sóng thật đánh động vào lòng. Tiếng sóng của TT là tiếng sóng lòng đánh ra mà có! Có sẵn rồi có thêm đã đau. Không có mà phải có mới nát tan cõi lòng. VQP có tiếng sóng ở lại làm tri kỷ. TT thì cả tiếng sóng tri kỷ cũng tiêu luôn trong “Can trường hành”: “Giai nhân, danh sĩ đua ngao du. Cùng ta tri kỷ không ai ở”. Cả tiếng sóng trong lòng ta cũng phản ta, thì giữ lại mà làm gì? Tiễn đi thôi! Cấp độ sóng trong TBH dấy lên thành… sóng Thần! Khi sóng thần dấy lên, đại hồng thủy ngập tràn trong cửa sổ tâm hồn:

Bóng chiều không thắm không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? 

Khi sóng thần trong lòng dấy lên, lòng nào chẳng tanh banh… tim nào không ngập ngụa nước ròng? Trời đang nắng vụt tắt mặt trời. Mắt đang long lanh chợp ngập hoàng hôn. Cái gì đủ sức mạnh cho ta thành người dở sống, dở chết như thế nếu không là Tình Yêu?

Bóng chiều của thi ca bao giờ cũng đi kèm với nội tâm không vui của con người nhưng với TT lại khác: ”Bóng chiều không thắm, không vàng vọt” nghĩa là buổi chiều chưa tắt mặt trời. Bầu trời vẫn còn đủ sáng. Ðó là một cái nhìn rất ”tĩnh”, rất ”chuẩn”, rất ”tinh tế” khi quan sát một hiện tượng thiên nhiên với từng sắc màu ”không thắm” (không hồng tươi), nhưng cũng ”không vàng vọt” (lợt lạt, bệnh hoạn, không sức sống). Chỉ bằng hai sắc màu mà TT thi – họa sĩ đã vẽ lên được một buổi chiều chưa tắt nắng trước khi hoàng hôn bao phủ không thua kém gì thi bút Tô Đông Pha.

Dù nói ”không thắm, không vàng vọt” nhưng nội tâm nếu không buồn, không xám, không tươi thì làm sao có những từ chỉ mức độ ”vàng vọt” dẫn cảnh ”hoàng hôn” phủ xuống dòng thơ? Bề ngoài là lý nhưng bên trong đầy tình. Tình và lý thống nhất trong một con nguời. Có mâu thẫn gì thì cũng ”anh em bà con cật ruột” với nhau ”môi hở răng lạnh”, ”máu chảy ruột mềm”. Cho nên, tình trào ra, lý níu lại. Nét tâm lý này coi như ”đột biến gien” đặc sắc của TT làm cho những ẩn khúc trong thi phẩm xoắn lại với nhau khi có khi không, khi ẩn khi hiện với bao sắc màu tươi đó, buồn đó, mông lung, huyền hoặc đi đi, ở ở thu hút lòng người ưa thích phiêu diêu, say cơn nghiền ngẫm …

+ Giá trị văn học của danh từ “Hoàng hôn” trong TBH:

Dòng thơ ”tống tiễn” trong văn học Trung Quốc đầy đủ ”hữu giang, hữu lãng tất bất vô yên” (có sông, có khói không thể không có sóng). Nó còn có ”diệp lạc tiêu tiêu” (lá rụng), có ”bạch vân vô tận” (mây trắng mãi bay), có ”hàn cầm dữ suy thảo” (chim lạnh, cỏ héo)… trong thơ Tư Không Thư, Lưu Trường Khanh, Vương Duy.

Dòng chảy này qua văn học Việt Nam giữ lại được bóng sắc ”hoàng hôn, khói, sóng, mây…”:

 Mây bạc lưng trời bay lững thững

                               Chim trời tan tác bóng hoàng hôn.

(Trông chồng – Thái Can)

Từ ”hoàng hôn”, ”tan tác” đã nói hết nội tâm buồn bã, mất mát, cô đơn của cảnh ”trông chồng” khi ”chinh nhân ruỗi ngựa lên miền Bắc”. Hoàng hôn gợi nhớ chồng. Hoàng hôn gợi nhớ nhà trong Ðinh Hùng với ”Bài hát mùa thu” năm nao:

Ai về xa mãi cô thôn

                               Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà.

Khói hoàng hôn ở đây hắt hiu, man mác khi chuyển sang ”Tràng giang” của Huy Cận thì nó mang ý nghĩa ”không” mà ”có”:

 Lòng quê dờn dợn vờn con nước

                               Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Nỗi nhớ nhà này không chờ phải thấy khói hoàng hôn (tức cảnh sinh tình).

Khói chiều là khói thật từ những làng quê bay lên khởi đầu buổi nấu cơm nhưng có giá trị là một tín hiệu kết thúc một ngày bình thường không chiến tranh. Ở đây, ”lòng quê” đầy ắp nỗi nhớ trong lòng người đi xa nên không cần cái tín hiệu khói chiều kia phát ra, người ta cũng thấy nỗi nhớ tràn ra, bao phủ cả trời chiều!

Các nhà thơ Ðường không ai biến hóa ngòi bút ảo giác như vậy ngay cả Thi Tiên Lý Bạch, Thi Thánh Ðỗ Phủ, Thi Phật Vương Duy.

Từ ”hoàng hôn” sang các thi nhân trẻ hơn thì lại một lần nữa biến hóa thành nỗi nhớ hư không, một nỗi buồn ly biệt. Thời đại với những biến cố chiến chinh, ly loạn đã làm thay đổi ý nghĩa câu chữ và đưa ngôn từ sang một nét nghệ thuật khác phù hợp với thời đại.

Giá trị hiện thực của một  tác phẩm được nâng cao nếu nó phản ánh đúng những gì mà xã hội đã có. Thế nhưng mỗi thể loại văn học có sự phản ánh theo đặc trưng riêng của từng loại thể. Thi phẩm TBH trong dòng trữ tình mang giá trị hiện thực nhưng cấu trúc ngôn từ đặc biệt của thể Thơ đã trang bị cho nó đôi cánh lãng mạn và ”hoàng hôn” trong thi phẩm chuyển nghĩa ”buồn ly biệt” đã thành một bức tranh có giá trị nghệ thuật tuyệt đỉnh mà không thi phẩm nào có được. Tại sao ta dám khẳng định như vậy? Tại vì khi từ ”hoàng hôn” hay ”không khói hoàng hôn” gây nỗi buồn nhớ nhà, nhớ quê hương qua tay TT, nó đã thành bức tranh được thu gọn cực nhỏ đủ gởi vào đôi mắt một “người” mà “người ấy” đang nhìn hiện thực tươi roi rói (không vàng vọt) thì lập tức ”đầy hoàng hôn trong mắt trong”.

Bóng chiều chưa đến mà đã thấy hoàng hôn. Chưa có hôm nay đã nghĩ đến ngày mai. TT từng than thở trong “Không đề“:

Tôi đợi trăng tươi pha ngọt mắt

Và chờ bóng lá đắp lòng đơn

Hôm qua không có, hôm nay mất

Ai rú trong trời tám hướng sương.

Chưa sập nắng đã thấy chiều kéo lại! Nỗi bi quan này từ đâu mà có? Cuộc đời nếu có những tháng ngày vui vẻ, hạnh phúc ai buồn làm gì! Chỉ có những thất bại trong tình trường mới buồn… sập mắt vậy mà thôi! Vì thế, TT mới tiên liệu một tương lai xám xịt buông quanh, phủ dày: Chưa bình minh đã thấy trời hoàng hôn.

Thúy Kiều của Nguyễn Du từng vật vã: ”Nay hoàng hôn lại thấy mai hôn hoàng”. Bế tắc! (Từ hoàng hôn dùng ngược như Nguyễn Du là một từ vô nghĩa. Bí vần. Vì thế, Báo Thanh Niên, Lao động năm 2001 đã đăng bài viết của các cô cậu Tú: tên khách họ Hoàng thật là tàn nhẫn, hắn hôn Thuý Kiều đã rồi lại bắt Kiều hôn lại” tức là: Hôm nay Hoàng hôn Kiều, mai, Kiều hôn Hoàng?!). Nhưng nghĩ cho kỹ: Hôm nay thấy hoàng hôn. Mai thấy hoàng hôn. Vậy thì còn một quãng thời gian nữa vào ban đêm. Bóng tối không ai cho là hoàng hôn cả. Nghĩa u ám còn nhẹ. Với TBH, TT “đính” một từ ”đầy” định ngữ cạnh ”hoàng hôn” mà ”hoàng hôn” đầy ắp đó ở ngay trong mắt!

Cánh ”cửa sổ tâm hồn” như vậy là khép mất rồi bởi nó ”đầy” quá, không thêm vào hay bỏ bớt ra thì mở hay nhắm lại ngày qua ngày, đêm qua đêm coi như không còn ý nghĩa sống! Mắt vô hồn. Mắt thất tình mới vậy chứ!

Nhưng ta đã thấy nhân vật nam trong thi phẩm có sáu đức tính tuyệt vời dưới đây sao lại thấy hoàng hôn u ám trong mắt? Chẳng qua, TT vẽ một cảnh này để minh họa cho một ý khác mà thôi. Thử xem: Tiễn đưa bạn cũng đâu đến nổi dùng đôi mắt chết lịm, vô hồn như vậy? Chỉ có tiễn đưa lòng mới đau khổ cùng cực đến độ tột cùng như thế mà thôi!

Hình ảnh này đã có trong ”Tiễn biệt” của Nguyên Sa:

Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ

                             Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

Tiễn đưa lòng mà ”hỏi thầm” tức là vẫn còn tâm trí. Tiễn đưa lòng của nhân vật nam trong TBH thì cái tâm trí hỏi thầm kia đã thu hết vào ”cửa sổ tâm hồn” mà nhìn. Cái nhìn ”đụng” ngay bức tranh “đầy hoành hôn” treo… trong mắt. Tầm mắt đã cạn cùng. Tiếng lòng cũng theo đó mà tắt nghẹn.

Vũ Đình Liên từng hỏi:

Làn gió heo mây xa hiu hắt

                               Lạnh lùng chẳng biết tiễn đưa ai.

Dấu hỏi của người trong cuộc tự hỏi lòng đã sinh ra những dấu hỏi khác cho người đọc ”Hoàng hôn trong mắt ai?”, ”Ðưa người nào? Ai đưa ai?”

+ “Giá trị ngữ pháp của cụm danh từ “trong mắt trong“:

Có hai cách hiểu:

Thứ nhất: Mắt trong: Tính từ chỉ sắc thái: ”trong” làm định ngữ cho danh từ ”mắt”. Tác dụng của nó trong đoạn bốn câu thơ trên là giữ cho câu thứ nhất, nhì và bốn liền vần: “qua sông – trong lòng – mắt trong” (TT thuận cách gieo vần 1-2 và 4 trong thất ngôn). Chính nó đã làm cho nghĩa đoạn thơ thêm phần ”bí ẩn”. Nếu ta bỏ đi từ ”trong” thay bằng ”ai” (Sao đầy hoàng hôn trong mắt ai?) câu thơ giảm vần (chỉ còn từ “sông – lòng”) và ý thơ ”bí ẩn” đắc giá kia bị triệt tiêu. Phép tu từ mất đi một nghĩa chơi chữ ”trong” – động từ, gặp ”trong” – định ngữ (trường hợp từ ”đồng âm, khác nghĩa”).

Thứ hai: ”Mắt trong” : Theo nghĩa đen: Mắt sáng, khỏe mạnh, đồng tử trong veo như nước hồ thu. Theo nghĩa bóng: Ám chỉ một ánh mắt ngây thơ chưa thấy ”Ba vạn sáu nghìn ngày” của Cao Bá Quát ”có có, không không”. Thi nhân ngày xưa tả người con gái đẹp thường dùng ”làn thu thủy nét xuân sơn”, mày tằm, mắt phượng”, ”sóng thu ba” hay ”mắt huyền”.

TT dùng ”mắt trong” theo ý nghĩa nào? Ta có thể nghĩ theo hai cách nhưng ánh mắt này có phải ”hoàng hôn trong mắt em ?” mà Miên Du trong ”Cánh thu sầu” đã viết:

 Chiều nay trong mắt em dấu hoàng hôn

                             Người xưa đã mất, vàng lá thu phong.

thì khẳng định không phải.

Sự ”tiễn đưa lòng” trong TBH không thể có bóng dáng người yêu nào đứng cạnh người yêu với đôi mắt trong veo như vậy. Chỉ có mắt mình đối diện với mắt mình mới ”trong mắt trong”. Như vậy, sự thống nhất trong đoạn 4 câu đầu trong TBH là sự tiễn đưa lòng. Chọn cách nào cũng có ”hoàng hôn trong mắt” mà đoạn thơ đang tả cảnh buổi chiều trước khi hoàng hôn. Hãy chú ý câu: “Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước ”. “Chiều hôm trước” là chiều nào? Buồn vì chuyện gì? Chính là cái buổi chiều trước hoàng hôn này:

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

(văn bản khác ghi ”Nắng chiều” nghĩa tả thật không gợi cảm u buồn bằng ”bóng chiều”)

 Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Buồn vì ”Ðưa người, ta không đưa qua sông”. Từ ”người” không viết hoa này như lặng lẽ, ngấm ngầm giấu một nỗi lòng. Nếu ”người” là ”em” thì chính là nỗi lòng của ta. Ta đưa em cũng chính là ta đưa lòng ta. Vậy thì coi lại từ ”người” ở đoạn thơ đầu với ”ngươi” ở đoạn thơ giữa có cùng một nghĩa hay khác?

Trở lại cặp từ mà người viết có nhắc tới ở phần mở đầu ”Người – Ta” ở đây là nhân vật nam. ”Ta – Ngươi” ở đây cũng là nhân vật nam. Xét từng cặp từ thì ”Người – Ta” ở đoạn đầu nhẹ nhàng hơn vì ”Người” vừa chứa ta, vừa có “Em” mới có ”tiếng sóng lòng” quấy lên. Hơn nữa, đứng về cách hành văn, không ai viết: ”Ðưa ngươi, ta không đưa qua sông” nặng nghĩa ”trịch thượng”, mất giá trị cảm xúc của lời thơ. Còn đối với cặp từ dưới “Người – Ta” trong “Đưa người, ta chỉ đưa…” nhấn mạnh, khẳng định một lần nữa là mình đưa ai? Lòng đã dứt rồi, không có ‘‘Em” còn quấy sóng nên chỉ còn lại mình ta đối diện một sự thật mà thôi.

Văn bản khác dùng từ ”người” trong câu ”Ta biết người buồn” thì nên hiểu theo nghĩa có hai chủ thể: Người đi, người tiễn. Người đi là bạn (người), người tiễn là tác giả (ta). Vậy, gia đình người (mẹ, chị, em) là gia đình của bên người đi hay người tiễn? Nếu nói gia đình là bên người tiễn thì mẹ, chị, em không thể có những hóa thân cho thằng con, em, anh trai… hàng xóm! Muốn không tiễn con hàng xóm thì chỉ còn nhập nhân vật đi vào nhân vật tiễn là xong. Nhưng đã nói người đi là bạn tác giả hay nhân vật của tác giả trong 4 câu đầu không thuộc trong nhóm nào cả và người bạn ở trên cũng đã biến mất theo con sóng trong lòng của nhân vật bạn tiễn. Cuối cùng, chúng ta thấy chỉ còn lại gia đình của nhân vật của tác giả hay của tác giả. Từ ”ngươi” trong điệp cụm chủ vị “Ta biết ngươi buồn” xuất hiện hai lần khẳng định chắc chắn rằng người đi hay tiễn cũng chỉ có một người.

+ Giá trị tu từ của “Người” và “Ngươi” trong TBH:

Ta xem lại văn bản đoạn thơ đầu sẽ thấy rõ con người thứ nhất (Ta) qua từ ”người” này đang khụy xuống (đầy hoàng hôn trong mắt) thì con nguời thứ hai (Ta) qua từ ”ngươi” tỉnh táo (không vàng vọt) vực dậy. Đồng hành với TT, còn có Đinh Hùng trong ”Một tiếng em” đã từng là kẻ ra đi:

Từ giã hoàng hôn trong mắt em

                          Tôi đi tìm những phố lên đèn.

Say tình, buồn tình rồi tự tỉnh giấc khi ”bóng khói qua mây lại nhớ mình”, chán đời khi ”phiếm du mấy chốc đời như mộng” , TT đã tự vực mình đứng dậy qua từ “Ngươi” nói với chính mình: Ừ nhỉ! Tỉnh mộng rồi!

Vậy, từ “người” có chứa ba chủ thể (bạn – người yêu = ta), từ “ngươi” chứa một chủ thể “Ta”. “Người”: Yếu đuối. “Ngươi“: Khí phách. Hai khí chất đối lập nhau cùng tồn tại trong thể thống nhất chủ đề “Tống biệt”. Mâu thuẫn phát sinh vẫn không loại trừ nhau. Một ẩn. Một hiện thay phiên… “hành” người đọc váng mồ hôi… chẳng hiểu hư thật thế nào! Vậy người trong cuộc thực sự tiễn đưa này là ai? Không ai cả? Tiễn đưa không có ai thì chỉ còn mình tiễn đưa lòng, tự mình dùng… bảy mươi hai phép thần thông của Tôn Ngộ Không mà “phân thân” ra để tự đưa, tự tiễn.

Con người trong ngữ cảnh đi, ở này đã xẻ ra hai phân thân vì từ ”người” (có ta có em ):

Ðưa người, ta chỉ đưa người ấy,

                           Một giã gia đình, một dửng dưng …

Phân thân một: ”Người ấy” là người nào? Chính là người đang từ giã gia đình ”sáng hôm nay” lúc ”trời chưa mùa thu tươi lắm thay”. Tức là từ ”ngươi” có ”bản lĩnh” đó.

Phân thân hai”Người ấy” là người đành phải ”dửng dưng” với nỗi buồn quá khứ từ ”chiều hôm trước” khi có “tiếng sóng trong lòng”, có ”hoàng hôn trong mắt trong” vì ”đưa người ” (có ta có em) chứ không là người phải ”dửng dưng” với gia đình. Ba chấm lửng (…) kia kéo dài cho sự dửng dưng tăng giá trị tư duy về phía độc giả.

(Chú ý cách hiểu này vì ở trên, chúng ta đã thấy được nét  tính cách độc đáo của mẹ, chị: Can trường, tiết liệt, chịu đựng, đồng tình, thông cảm  cho con em trai nên nhân vật nam này không thể ”dửng dưng” với gia đình. Nếu không thấy được ý nghĩa này thì từ ”dửng dưng” sẽ chạy theo nghĩa hy sinh tình nhà, hình tượng nhân vật đại diện cho một tầng lớp người trong thời ly loạn sẽ mất ý nghĩa cao đẹp).

Một con người đưa tiễn hai phân thân của mình chính là ”người ấy” trong văn bản ”Ðưa người, ta chỉ đưa người ấy” mà ”người ấy” trong quá khứ có một thời:

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng

                             Giải đường xa vút bóng chiều phong

                                                                      (HSHTG)

“Người ấy” oai phong, uy vũ, nhìn xa, thấu rộng, có xác, có hồn. “Người ấy” thấy cả sự ”lạnh lùng” trong bóng chiều đã tắt còn có con đường để đi cũng như người ấy trong TBH thoát qua cửa ải sầu tình mà ra đi. Hai người này là một. Cách xây dựng nhân vật hai phân thân và có khí chất ẩn dưới hai lớp áo nam – nữ cũng chỉ là một người, một tác giả chỉ có trong TT.

Tóm lại: “Người ấy”: “Một giã gia đình” (chia tay với mẹ, chị, em) nên “buồn sáng hôm nay“. “Người ấy“: “Một dửng dưng” (chia tay với tình cũ) nên buồn “chiều hôm trước“. Sự hấp dẫn 4 câu đầu vẫn chính là thi pháp “chuyển nhượng nhân vật”. “Chiều hôm trước“: Thời gian của quá khứ. “Sáng hôm nay“: Thời gian của hiện tại. Chúng ta gặp thủ pháp xây dựng không gian ba chiều của TT trong cụm từ chỉ bằng ba câu thơ “Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc/ Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay/ Em thà coi như hơi ruợu say”. Chúng ta gặp lại nó trong bối cảnh “người ấy” giã gia đình và “người ấy” dửng dưng với quá khứ cũng chỉ bằng… hai câu thơ!

Văn Giá trong bài “Thâm Tâm một thời và mãi mãi” (thotre.com) từng có dự cảm: “Phải thừa nhận rằng bốn câu mở đầu này có một sức quyến rũ mê người. Và hầu hết trong số chúng tôi đều coi mấy câu thơ ấy viết về tình yêu, viết về cuộc tiễn biệt của đôi trai gái yêu nhau nào đó. Bảo là nỗi buồn nặng trĩu trong lòng đôi người yêu nhau kẻ đi người ở có gì là sai đâu…”.

Chúng ta hãy lấy đầu đề rất có giá trị thời gian của Văn Giá đóng mộc cho giá trị văn học này của TT.

Đây là giá trị nhân bản thứ năm của TBH.

             

  6. Những phẩm chất của hình tượng “ly khách”:

Với loại hình tự sự, yêu cầu chúng ta đi từ nhà văn đến nhân vật nhưng trong thi phẩm khó hiểu như TBH, chúng ta lại phải lội ngược dòng từ nhân vật tới tác giả.

TT đã để mình tiễn cái quá khứ của mình: Muốn phá bỏ thực tại. Thực tại quá chán chường “ru rú trong trời tám hướng sương” mà trong “Can trường hành”, TT đã phẫn nộ muốn “Ném chén cười cho đã mắt ta” khi cảm thấy không xứng đáng là một kẻ “tráng khí” bằng người. Nam nhi vẫy vùng cần gì phải mượn cái gương Kinh Kha tận bên Tàu. Chỉ cần “Giày cỏ, gươm cùn” như Nguyễn Bính trong “Hành phương Nam” cũng đi. Chỉ cần trang bị chút “da ngựa bọc thây” của Trần Quốc Tuấn và ”Trung liệt ca” Phạm Hồng Thái:

 Thà làm một đấng nam nhi.

                              Ngửa nhìn máy chém gan lỳ tướng quân.

mà Hoàng Phùng Miên diễn tả là có thể ”giã gia đình, trường học để ra đi”. Người ra đi là tác giả. Người tiễn cũng là tác giả. Tưởng tượng gắn liền hiện thực: Tác giả phải xây dựng cho được bối cảnh gay cấn rồi đặt mình trong bối cảnh ấy mà giải quyết. TBH đã có bối cảnh cô nhi quả phụ rất thương tâm: Không cột trụ (đàn ông) trong gia đình. Hiện thực này đã không xa lạ trong lịch sử thời ly loạn, binh biến, chinh chiến (nhập ngũ, bắt lính, tòng quân…). Nếu thơ Ðỗ Phủ là bức tranh hiện thực tố cáo xã hội phong kiến thời thịnh Ðường đang trên đường xuống dốc với những cuộc nổi loạn như loạn An – Sử, TBH bé nhỏ hơn với một bức tranh ”cô nhi quả phụ” trên cũng có giá trị như một bằng chứng sống tố cáo cuộc chiến tranh gây ra nỗi đau chia cắt!

TT chỉ để hai từ ”buồn” cho nhân vật người con trai trong thi phẩm như muốn kiềm chế nỗi lòng có ”bi” nhưng không ”lụy” như Nguyễn Bính đã nói dùm trong ”Hành phương Nam”:

                               Người đi buồn lắm mà không không khóc

                               Mà vẫn cười qua chén rượu đầy.

Khí phách này dù đã mượn chén rượu mới có nhưng rất đáng mặt nam nhi mà ngàn năm trước, tận bên Trung Quốc, Lư Luân đã viết tiễn Lý Ðan:

 Ly biệt chính kham bi,

                               Yểm khấp không tương hướng .

(Ly biệt đau lòng nhưng không thể hướng vào nhau mà khóc.).

Trong thực tế, Nguyễn Bính ”mang giày cỏ, gươm cùn” vào Nam khi chiến tranh đến. TT cũng chọn một cách lên đường sau cách mạng tháng Tám bỏ lại ”những chuyện thương tâm”, xa lìa ”ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng” trong “Ngậm ngùi thế sự” với khí khái của một ly khách “chí nhớn chưa đầy nửa tấc gang” trong “Vọng nhân hành“:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

Ta ghé hoài câu “nhất khứ hề”.

(Những bài làm theo thể ”Hành” của chín nhà thơ Ðường: Lý Bạch, Lý Ích, Tào Phi, Thôi Hiệu, Ðỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Cao Thích, Vương Duy, Trần Ðào và bảy. nhà thơ Việt Nam: Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Bính, Tô Thùy Yên, Thu Bồn, Trần Chấn Uy, Trần Tuấn Khải đều mang âm điệu buồn day dứt chứ chưa có một niềm vui ngay cả bài ”Dương phụ hành” của Cao Bá Quát ca ngợi sắc đẹp của người đàn bà tây phương. Chỉ riêng bài TBH của TT, nghĩa một, tả thực là buồn nhưng nghĩa thứ hai, ẩn dụ hình tượng lại là một bản lĩnh bên cạnh giá trị văn học là một bức tranh lên án chiến tranh).

Tạo ra hoàn cảnh thương tâm bao nhiêu thì cách giải quyết càng quyết liệt , dứt khoát bấy nhiêu mới khắc họa được tính cách nhân vật sâu sắc, mới có giá trị hiện thực của hình tượng xây dựng. Ví dụ: Bức tranh ”Binh xa hành” cuả Ðỗ Phủ là biểu tượng cuả cảnh mẹ, vợ con xa cách chồng, cha vì họ bị bắt lính. Bức tranh ”Sở kiến hành” của Nguyễn Du là biểu tượng về kiếp sống lê la của mẹ con thuộc tầng lớp nghèo hèn trong xã hội. Bức tranh TBH quả phụ cô nhi của TT là biểu tượng về sự chia cắt bởi chiến tranh và hình ảnh ”ly khách” là biểu tượng cho một tầng lớp trẻ ra đi tìm lý tưởng sống trong thời loạn lạc.

TT đã xây dựng nhân vật có sự phân vân giữa tình nhà và tình riêng với chí lớn, giữa quá khứ và hiện tại. Tác giả đặt mình vào nhân vật để giải quyết tình nhà (mẹ, chị, em đều là những người can đảm, tiết liệt đủ sức chịu đựng, chèo chống  trong sự trống vắng những rường cột gia đình: Trước vắng cha nay vắng con, em trai). Nếu giải quyết tình nhà mà chưa giải quyết tình riêng là một thiếu sót cho nhân vật. TT đã không hề quên và đã sắp đặt câu thơ, hình tượng hết sức khôn khéo, thông minh. Mẹ, chị, em đã giải quyết xong. Tiếng lòng của họ cũng đã tuôn ra từng giọt lệ, từng hoá thân thầm lặng để thông cảm, nâng bước người sắp phải ra đi mà ta đã xem xét ở trên.

Buồn thương nhưng không bi lụy (không khóc), nhân vật này đã mang chữ ”Dũng” .

Không để hoàn cảnh chi phối (ngoại cảnh vẫn tươi sáng, không héo uá ”Giời chưa mùa thu tươi lắm thay! Bóng chiều không thắm, không vàng vọt”) nhân vật này đã mang chữ ”Trí” vì người buồn mà không ảnh hưởng bởi cảnh. Nó phủ định cách lý giải quen thuộc “người buồn cảnh có vui đâu“.

Ngược lại, nỗi buồn không lan tràn bao trùm cảnh vật, không để người em gái là kẻ chịu hy sinh, nên khung cảnh tiễn đưa vẫn vô tư trong buổi sáng mùa hạ lý tưởng, cả ba người mẹ chị, em là hình ảnh đẹp nhất trong lòng nhân vật ra đi, nhân vật này đã mang một chữ ”Nhân”.

Ra đi nhưng vẫn mang theo hình bóng người mẹ và không để mẹ rơi vào tình huống bất ngờ, nhân vật này đã mang chữ ”Hiếu”.

Ra đi nhưng không quên mang theo hình bóng hai người chị tiết hạnh, trong trắng đẹp đẽ và em nhỏ thơ ngây đáng thương, nhân vật này đã có chữ ”Nghĩa”.

Quyết lòng quên đi người đã làm mình ”say” nhưng không hề quên đi kỷ niệm dù là chỉ một chiếc khăn tay, nhân vật này giữ trọn chữ ”Tình”.

Một con người ”lý tưởng” với sáu chữ ”Hiếu, Nghĩa, Tình, Dũng, Trí, Nhân” tuy có quá lời nhưng chính là con người nói theo nghĩa “cách mạng”: Có một “nhân sinh quan, thế giới quan” tương đối mới mẻ để biến nỗi buồn thương kia thành sức mạnh tiếp nối, động viên cho một dự định ”giã gia đình”. Nét tâm lý này đã được ngòi bút nghệ thuật khéo léo TT dàn dựng khiến thi phẩm TBH khác hẳn những thi phẩm của những nhà thơ Ðường trong cùng đề tài ”Tống biệt” bằng thể ”Hành”.

Theo những nhà thơ Đường, chia tay phải gắn với cảnh. Cảnh gắn với tâm trạng mới bật thành tiếng thơ ai oán, ngậm ngùi, chua xót và bao giờ chia tay cũng có bối cảnh: Kẻ đi, người tiễn. Họ là những nhân vật thật có tên tuổi và họ là nhân vật hư cấu của tác giả. Trong thơ Đường, đề tài tiễn biệt, không hề có nhân vật phức tạp, khó hiểu khi vừa là người tiễn, vừa là người đi như nhân vật trong TBH.

Xét sáu mươi bốn nhà thơ Ðuờng tính từ Sơ Ðường có Vương Bột đến thịnh Ðường có Lý Bạch qua Trung Ðường có Hàn Dũ kết lại ở Vãn Ðường có Lý Thương Ẩn không ai không viết tiễn đưa người đi xa mà thiếu cảnh buồn.

Rõ nhất là mười sáu nhà thơ Ðường có bài thơ với đề tựa ”Tống biệt”. Nhân vật của họ đều là thật như Lý Bạch có ”Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quãng Lăng”, Ôn Đình Quân có ”Tống nhân đông du”… Sự tiễn đưa đều rõ ràng như Ðỗ Phủ có ”Tân hôn biệt”, Tào Ðường có ”Thiên Thai tống biệt”, Lý Ích có ”Hỷ ngoại đệ, hôn ly biệt”

Cảnh tiễn biệt này sang Việt Nam đã được lột xác mang sắc thái phương Ðông đậm đà hương vị gia đình, huyền ảo đầy hư cấu cho bạn bè, cho người yêu. Ta có thể tìm thấy trong thơ Thế Lữ với ”Bên sông đưa khách”, trong Nguyễn Đình Thư với ”Tống biệt”, trong Phạm Văn Dật với ”Tiễn đưa”, trong Huy Thông với ”Anh-Nga” , Trần Huyền Trân có “Lưu biệt”… dành cho bạn bè. Cuối cùng cho một tình yêu qua ”Giản dị” của Hồ Drếnh hay trong ”Một mùa đông” của Lưu Trọng Lư hoặc ”Tiễn người ra khỏi lòng tôi” của Hoàng Định Nam. Đặc biệt, TT có tiễn cả chính mình trong “Lưu biệt“, vừa tiễn người ra khỏi lòng như TBH.

Trong TBH, nhân vật nam vừa mang giấc mộng ra đi với “chí nhớn chưa đầy nửa tấc gang” vừa ray rứt với quá khứ buồn đau. Tiếng lòng kia thắt lại theo câu ”tống biệt” ngày nao trong HSHTG:

                              Ðâu biết lần đi một lỡ làng

                              Dưới trần gian khổ chết yêu đương.

Quá khứ hiện dần với dòng sông chia cắt:

Gió về lạnh lẽo chân mây trắng

                              Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

Con đò đi mất, chỉ còn lại người bên sông buồn một mình. Buồn chết nhưng làm sao mà khóc? Giọt nước mắt của con người lụy tình kia sắp rớt thì người nam nhi (Dũng. Trí. Nhân) hùng dũng… nuốt vào lòng! Thế mới có cảnh đưa người ra đi (người: ta và em), vừa đưa lòng đi (ngươi) ra đi một lượt.

Nhân vật ”Ta” đang tâm trạng buồn đau khi phải đối diện với xót xa chính mình ”đầy hoàng hôn trong mắt” đã nhanh chóng chuyển sang tâm trí can trường. Đó cũng là tiếng nói chung của những người trai thời loạn muốn bứt phá khỏi nơi chỉ đủ “cắm chặt một chiếc bè“. Đây cũng chính là nét đặc biệt của thể “Hành“:

Hãy đứng dậy vứt chiếc cầm ảo não

                           Tôi cần nghe những khúc nhạc rất hùng.

(“Giận khúc nam ai” Nam Trân)

Bi mà không lụy là vậy. Người con trai trong TBH cũng thế. Chàng chọn con đường ”ly khách” để từ bỏ một quá khứ buồn đau, đen tối không sáng sủa. Không đi không được. Không đi thì rớt vào bi kịch đã có sẵn mà đoạn thơ bị cắt bỏ đã nói đầy đủ ý này. Ði nhưng chưa biết đi đâu? Thái tử Đan nước Yên đưa Kinh Kha qua sông làm tráng sĩ (Kinh Kha không qua sông hành thích Tần Thủy Hoàng thì không gọi là tráng sĩ). Nhân vật nam trong thi phẩm không được đưa ”qua sông” (nói theo văn bản), không dự định làm cái gì cả nên không thể mang danh vị ”tráng sĩ” cũng không thể là ”chinh phu” như ”chàng tuổi trẻ” trong ”Chinh phụ ngâm” vì có ra gió bụi biên thùy gì đâu? Chàng trai trẻ này cũng không gọi là ”nam tử hán, đại trượng phu” được vì có mài gươm dưới trăng chờ giết thù như Ðặng Dung hay làm một việc gì to tác xẻ núi lấp sông, ”đội trời, đạp đất, vẫy vùng bốn bể” như Nguyễn Công Trứ đâu?

Con đường chàng chọn chỉ như một người ra đi ”ly khách – người ra đi” mà thôi. Dây dưa mãi, cuối cùng cũng phải chọn đi xa trong bỡ ngỡ ”Người đi? Ừ nhỉ! Người đi thực!”. Tưởng nó (ta) nói đùa cho hả chí làm trai, ai ngờ nó (ta) đi thực. Không tin thì phải tin bởi từ ”Ừ nhỉ” này. Sự ”gật gù” trên như đồng tình cho dự định mà người ra đi dứt khoát với quá khứ.

Hình ảnh ”ly khách” chỉ người đi xa chập chờn trên con đường nhỏ mang hoài bão một ”chí lớn” mà ”đoạn tuyệt” với quá khứ nhưng hiện thực chí lớn ấy cũng chỉ ”hồn bướm mơ tiên”! Lâu đài cứu cánh lại xây trên cát nên sóng trào, cát lỡ. Người đi rồi như cũng chưa đi. Mộng chưa tròn thì hiện thực sống dậy.

– Giá trị văn học sử 4 câu cuối bị cắt được phục hồi:

Hơi thu đầu núi giá lên trăng

                              Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

                              Ly khách ven trời nghe muốn khóc

                              Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm.

Ðoạn cuối này có nhiều dị bản nhưng cũng đều nêu lên một tâm trạng thật: Nỗi buồn cố hữu chưa thoát ra được hiện thực bằng mộng ảo ra đi (ly khách). Nó hợp với đoạn đầu là hình ảnh thực nhất của thi phẩm mà tiếng lòng phát ra đầy đủ ý nghĩa nhất (tiễn đưa lòng) so với các đoạn giữa đã dàn dựng, hư cấu cảnh một gia đình chia tay trong thời loạn lạc.

Ly khách nhỏ bé kia ôm ”chí nhớn” mơ hồ để rồi cô đơn, lạnh lẽo, trống vắng theo ”hơi thu đầu núi” như Ðức Hồ trong ”Tình bơ vơ”:

                              Ôm hôn gió bụi bên đường

                              Tình người lữ khách dầm sương lạnh lùng.

(Từ ”mây thu” không gợi lên được sự lạnh lẽo bằng từ ”hơi thu” kéo theo luồng gió lạnh. Dùng ”gió lên trăng” cũng chưa lột tả hết cái lạnh lẽo của người đi bên triền núi). Ta cũng cân nhắc khi dùng từ ”ly khách” theo dị bản ”Ly khách ven trời nghe muốn khóc” ở câu thứ ba đoạn cuối so với “Buồn ở lưng trời nghe đã lại”.

Câu thứ ba ”Buồn ở lưng trời nghe đã lại” kết bằng dấu nặng theo từng đoạn trên là: ”vàng vọt, trở lại, hạt bụi” đã lại có giá trị vần điệu riêng cho từng đoạn khiến cho thi phẩm đọc lên nghe suông hơn sự kết bằng dấu ngang; ”như sen”,  kết bằng dấu sắc: ”mắt biếc” (những câu thứ ba trong mỗi đoạn bốn câu). Thế nhưng, hình ảnh “ly khách” đột ngột biến mất ở phần cuối khiến cả đoạn phục hồi mất chủ thể. “Buồn ở lưng trời nghe đã lại“, ai cũng cảm nhận được. “Ly khách ven trời” kia mới là chủ thể của không gian mênh mông buồn tênh, lạnh lẽo tấn công.

Hình ảnh ”ly khách” bước đi chưa lâu lắm theo văn bản khi ”trời chưa vào thu” đến ”hơi thu đầu núi” chỉ mới từ hạ chớm thu với sự hăm hở mơ hồ theo phân thân của con người thứ nhất (ngươi) tỉnh táo, can trường biến mất. “Ly khách” chỉ còn lại dưới bóng trăng làm bạn với chính cái bóng tưởng như cô đơn của mình.

Trăng với bóng chính là sự tồn tại thực nhất khi con người trở về với chính mình để mà ”nửa soi gối chiếc, nửa soi dặm trường”. Hình ảnh ”ly khách” mất đi thì hình ảnh người ra đi cô đơn trở về không còn ”dửng dưng” với thực tại nữa. Nỗi buồn từ buổi ”chiều hôm trước” như tồn động, sống dậy bám theo, khó gỡ!

Một dị bản khác: ”Cơn lạnh chiều nao đổ bóng hằng” để đi với từ ”trăng” và từ ”căm” nhưng ”bóng hằng” chưa rõ nghĩa lắm. Nếu hiểu ”bóng in dấu” thì phải là từ ”hằn” còn hiểu theo ”bóng hằng nga” làm bạn cùng người đi  thì chẳng hợp lý vì người ra đi đã có ánh trăng in bóng mình soi xuống mặt đường làm bạn rồi. ”Bóng hằng” kéo theo từ ”hờn căm” là một tính từ nổi, đọc không thấy khác nghĩa nhưng nhìn kỹ thì từ ”căm” ngó hung hăng trái với giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng toàn thi phẩm.

Bốn câu cuối không cho thấy chủ thể. “Ta – Ngươi” hay “Ta – Người” cũng biến mất. Giá trị hình ảnh ”ly khách” đã chuyển sang giá trị hình tượng với nỗi buồn, cơn lạnh, bóng thầm này có thể ứng cho tất cả con người trong cảnh loạn ly trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Ngoại cảnh (thu, núi, trăng, chiều, trời, đời). Nội tâm (hơi, giá, lạnh, thầm, buồn, xô động, hờn câm) song song đi với nhau không tách rời được nữa. ”Ly khách bên trời – lưng trời – nghe muốn khóc” tức người ra đi dù có cảm nhận mẹ, chị, (chiếc lá bay, hạt bụi) đi bên cạnh mà vẫn cảm thấy trống vắng. Buồn thương trở lại với ”hơi rượu say” :

Sầu hận cũ tim ta ai biết được.

                              Người vui tươi ta mãi mãi căm hờn

                              Thời gian chảy đá mòn sông núi lỡ.

                              Lòng ta  luôn còn mãi vết thương đau.

(Chế Lan Viên)

Thiết nghĩ: Thời gian có thể làm ”đá chảy, sông mòn, núi lở (sự vật kiên cố bất di, bất dịch, vững chắc) nhưng không làm tan ”vết thương lòng” (yếu mềm).

Ðối lập giữa cái mềm yếu ớt với cái bất di bất dịch để cho thấy nguyên nhân của ”vết thương lòng” chính là ”Sầu hận, căm hờn”. Văn tự tại ngoại này quả ý nhị thay! Nhưng ”căm hờn” nghe bề thế… dữ dội với chất ”tính từ” chỉ mức độ của nó biểu lộ hết cả ruột gan ra bên ngoài và có thể… bùng nổ một hành động như từ ”hờn căm”.

TBH đã tồn tại dị bản có chứa hai từ ”hờn căm ”và ”hờn câm”. Người viết chọn từ ”hờn câm” nuốt vào lòng để từ này đi với chiếc ”bóng thầm” của đoạn thơ cuối hợp với bút pháp nhiều nghĩa trầm lắng, mơ hồ đầy hấp dẫn của toàn bộ thi phẩm có một ”tâm sự riêng mang như vết xước, thời gian xa xót cháy trong lòng” (Hỏi thầm – Mạc Phương Đình) giữa ”tiếng đời xô động, tiếng hờn câm”. Trong những bài thơ còn lại hiếm hoi của TT, lời thơ khí phách nhưng rất hiền từ ngay bài “Căm thù“. TT có thể nói tới chữ hận, chữ hờn nhưng có những bài như Vọng Hương Sơn, Chết, Ngậm ngùi cố sự, Lưu biệt… và những bài thể hành, yếu tố nhân bản vẫn chiếm toàn bộ sáng gần hai mươi tác phẩm.

Hiện thực xã hội đã gói gọn trong bức tranh ly loạn. Nếu đoạn bốn câu đầu là bức tranh có sắc màu rất buồn nhưng rất ”tĩnh” thì bốn câu cuối này lại là bức tranh toàn những âm thanh rất buồn nhưng lại ”động”. Kết cấu bốn câu đầu và bốn câu cuối như thế rất cân đối (không hiểu sao, HT – HC lại cho đoạn thơ đầu tới 6 câu? mà cắt 4 câu cuối?).  Mới nhìn, mới đọc, mới nghe, ta tưởng chừng như nhân vật ly khách kia cô đơn nhưng thật sự những âm thanh động kia lại hợp thành ”hành khúc” để nâng bước chân người đi.

”Ly khách” thật ra nào có mất đi! Hình tượng này đã hòa vào cuộc đời, thâm nhập vào cuộc sống với đầy mùi vị buồn vui, ấm lạnh, tương hội, biệt trùng hòa tan vào thiên nhiên, làm bạn với  trăng sao với bốn mùa mưa nắng. Ta nghĩ rằng có thấm thía mùi đời, người ra đi ấy mới có thể chọn một cách sống tốt đẹp hơn.

Ðây là giá trị văn học nhân bản cuối cùng và là nét nhân bản chính của thi phẩm.

* Tổng kết:

Một phương cách sống mới từ hiện thực đau thương. Ðó không phải là ”lý tưởng” mà kẻ ”ly khách” kia ước muốn hay sao? Sự thôi thúc đó là cái gì, “thi nhân đầu bạc sớm hơn ai” này đã không nêu được cụ thể hơn ngoại trừ một ý đi tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn, có ích hơn.

Ngày hôm nay cái ”cụ thể” lại càng không được nêu. Bởi một lẽ: Cụ thể hóa một tác phẩm theo phương pháp ”mổ sẻ” kiểu bác sĩ sẽ làm hỏng đi tính nghệ thuật riêng cần nên có của một thi phẩm. Một bài câu chữ có vần, điệu, ý tưởng phong phú cũng chỉ mới gọi là ”Thơ” nhưng đã gọi là ”Thi phẩm” thì giá trị vượt trội của thi phẩm so với các bài thơ khác ở chính chỗ: Thấy mà lý giải không ra. Biết mà không sao hiểu hết. Hiểu rồi chẳng viết thành văn. Nghĩa là ”ra đi vẫn ngoái đầu nhìn lại”. Luyến tiếc mãi, suy luận hoài: “Vừng, mè ơi! Mở cửa!”. TBH đã cho ta cái cảm giác này khi được đọc toàn bộ thi phẩm.

HT – HC trong TNVN khi nói về Nguyễn Đình Thư có viết ”Khách yêu thơ gặp được một bài thơ hay là một cái thú. Nếu bài thơ chưa từng in trên mặt giấy cho hàng vạn người xem thì cái thú lại gấp hai. Thơ in ra rồi hình như mất đi một tí gì, có lẽ là một ít hương trinh tiết’‘. Có lẽ muốn giữ cho TBH đã hay kia ”một ít hương trinh tiết” mà hai ông phải… cắt bỏ đoạn cuối chăng? Hay là vì nghĩa của ”Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm” ấy? Xô động vì lẽ gì? Hờn câm vì sao? TBH có nhiều cách hiểu. Vậy thì hãy chọn cách tươi sáng mà hiểu để cho thi phẩm vừa hay vừa mang tính nhân đạo. Nên ta có thể nói: Thơ cho in không cần phải cắt chỗ này, xén chỗ kia gọi nôm na là ”nhuộm sắc bản thảo” theo ý đồ của mình mà làm giá trị thực sự của văn bản bị tước bỏ một cách không tôn trọng tác giả. Ngoài cái việc sửa chính tả là cần làm, chúng ta đừng tự tiện thêm bớt từ ngữ câu chữ vào văn bản  mà không thông qua tác giả. Nếu tác giả không còn nữa thì điều ấy càng nên được bảo toàn.

Thi phẩm TBH mở ra đã toàn dấu hỏi của một bức tranh ”tĩnh” rồi khép lại cũng toàn dấu hỏi của một bức tranh ”động” nhưng cái ”tôi” cá nhân đã lẫn vào cái ”ta” cuộc đời không bao giờ cô đơn giữa ”tiếng đời xô động”. Khúc nhạc ”tống biệt” này trong ngày mai chắc chắn sẽ có người viết tiếp điệu thức cuối cùng. Nói như Ts. Chu Văn Sơn ”Bài thơ chất chứa những uẩn khúc trái ngang này vẫn rất cần những tri âm”.

Nếu Trần Đăng Khoa cho bài ”Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư là ”bài thơ thơ nhất” thì TBH không có danh vị nào xứng hơn là ”Bài thơ Tống biệt hay nhất Việt Nam” và có lẽ nó còn vươn tận sang bên cái nôi của thi ca dòng tống biệt thời Ðường với thể ”Hành” được hiểu như là ”hành khúc”. Một hành khúc nhẹ nhàng, êm diệu của thi ca.

TBH còn là bài thơ có nhạc, có họa, có cả chất tự sự, trữ tình và kịch tính gieo nhiều dấu hỏi nhất trong lòng người đọc. Chính giá trị bắt nguồn từ hiện thực xã hội thời ly loạn qua bàn tay khéo léo như vô tình của tác giả đã dựng lên hình tượng nhân vật ly khách bay bỗng trên nhiều tình huống phức tạp, bí ẩn được giải quyết khôn  khéo đầy tính nhân bản làm cho thi phẩm này có giá trị vĩnh cữu. ”Hành” không còn chỉ là nghĩa ám chỉ lối văn cổ phong Trung Quốc nữa mà nó được coi như một khúc nhạc tiễn biệt – khúc ly ca – đệm đàn cho thi phẩm TBH.

Ðời có muôn vàn nẻo đi. Một ngày nào đó, ta cần chia tay với những kỷ niệm, với những con người thân quen, TBH sẽ là khúc nhạc tiễn chân người. Nếu một thời đại trong thi ca có thể bị quên lãng thì hãy lấy TBH này làm hành trang tiễn biệt. Nếu không qua được cây cầu nhân duyên đã lỡ thì khúc ly ca này có thể sẽ giúp ta lãng quên!

Đó chính là giá trị ”nhân văn – nhân bản” mà TBH đã có tức là nhân vật trong TBH có ”khả năng cảm thụ thế giới và cảm thụ bản thân” để tự quyết định cuộc đời mình với hệ thống chằng chịt những bâng khuâng, ray rứt đời thường bao quanh.

Nhận xét theo hệ thống lý luận văn học, Nguyễn Xuân Nam trong ”Tự điển văn học – Bộ mới” đã viết ”Không có những suy tính dằn vặt, trăn trở giữa thiện ác, tốt xấu, lành dữ, đúng sai, không có suy nghĩ gì khi hành động, con người đã mất hết tính người”. Chính sự giải quyết khéo léo qua ngòi bút vừa hiện thực vừa lãng mạn cùng thi pháp “chuyển nhượng nhân vật” tuyệt xảo của TT dành cho các hình tượng nhân vật mà thi phẩm qua bao thế hệ vẫn được độc giả dành cho một sự ưu ái hiếm có trong lịch sử văn học Việt Nam vì tính ”nhân dân” của thi phẩm. ”Tính nhân dân đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phổ cập và nâng cao làm sao cho tác phẩm văn học nghệ thuật được dân hiểu và yêu thích” (Nguyễn Văn Hạnh – Tự điển văn học – Bộ mới ). TBH đã không là một tác phẩm văn học được yêu thích và ngày càng được hiểu theo chiều tươi sánh nhất hay sao?

Một thi phẩm có tĩnh có động, có bi mà không lụy, từ cõi mênh mông, TBH – lòng tiễn đưa lòng mãi vỗ vào lòng ta những tiếng sóng như một thuở ta chưa từng có hoàng hôn để cho ta luôn là cánh sen giữa tháng ngày không còn êm ả với cả mùa hạ ly tan gợi chớm thu về biền biệt xa cách còn nỗi nhớ thì đã một lần tiễn biệt là xa nghìn trùng.

Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại” với Trịnh Công Sơn đã kết thúc một khúc ca ”Tống biệt ” mà TT – T.T.Kh đã nói hộ cho ta một lần chia tay với tiếng lòng không tên tuổi!./.

HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN – PHẦN II

A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất:

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 1]

    Chuyên luận Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình Văn học Lời giới thiệu Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có một tác giả tạo ra nhiều huyền hoặc, mâu thuẫn nghịch…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 2]

    B: T.T. KH LÀ AI?:     I. Sự liên quan giữa ''Người'' và ''Người ấy'' trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 3]

    b. Những bài thơ của T.T.Kh:                    + Bài số 1: HSHTG.                              Huyền thoại hoa Ti-Gôn Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 4]

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá? 1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình: Bùi Viết Tân kể trong "Thâm Tâm là T.T.Kh?" (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 5]

    Hai bài cùng thi pháp hay không? Điều đáng chú ý: Bài "Các anh" 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách: Hơi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 6]

    * Bích Khê (BK): Trong 74 bài thơ (thivien.net,dactrung.net), có 12 bài: "Mộng cầm ca, Nhạc, Tranh lõa thề, Sọ người, Đồ mi hoa, Bàn chân, Một cõi đời, Trái tim, Cô gái ngây thơ, Cặp mắt,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 7]

     3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính: Đây là "tình nghi viên" sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”. - HT-HC trong "Thi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 8]

    V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?            1. Vài suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 9]

    IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm "Tống biệt hành" (TBH) của Thâm Tâm (TT): Dựa trên bản cũ nhất của HT - HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 1]

    HUYỀN THOẠI HOA TI GÔN - PHẦN II A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất: Thời gian 1937 - 1938, do những va chạm mảng (họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 2]

    4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối... lãnh đủ:               a. "Tiền bối" Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình: Trên (newvietart.com): Về cuốn "T.T.KH - Nàng là ai?": "khen thì…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 3]

    DƯỚI GIÀN HOA MÁU Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là... mơ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 4]

    Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ? Danh từ "nghệ sĩ" chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại... Ví…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 5]

    VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI? * Độc giả: Thưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [PHẦN TÓM LƯỢC]

    HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN TÓM LƯỢC (*) Nhà thơ Thâm Tâm tức Nguyễn Tuấn Trình cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống 1936 bằng làm thơ và vẽ tranh… Tại Hà Nội, anh đã gặp…