V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?

           1. Vài suy nghĩ về bản quyền :

Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại trừ các tác giả quá cố bị những nhà xuất bản đánh cắp bản quyền in ấn phát hành tự do. Các nhà sản xuất “lậu” đó lan tràn nhiều nhất trong lĩnh vực sao chép băng, đĩa nhạc copy tài tình).  Nhưng cũng có thể tác giả đó trao bản quyền cho một vài người đáng tin cậy. Ở hải ngoại, từ di chúc (will) luôn luôn được làm trước và được giao cho một luật sư mà người đó tin cậy và có sự bảo vệ của luật pháp.

Trong thơ văn Việt Nam, có tác giả đã bán bản quyền nên tác giả đó không còn quyền hạn sử dụng tác phẩm đó nữa. Trường hợp của Hữu Loan với bài thơ “Màu tím hoa sim” được ông Lê Văn Chính, giám đốc công ty Điện Tử Tân Bình (VTB), mua một trăm triệu đồng tác quyền. Có tác giả giao người khác bản quyền như Hàn Mặc Tử giao cho Quách Tấn toàn quyền sử dụng. Cũng có trường hợp bản quyền đang phải tranh chấp như trường hợp nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên với tập thơ “Minh Khúc” đang giành nhau giữa vợ nhà thơ là Minh Thủy và bố nhà thơ là Nguyễn Ngọc. Gần đây, tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” (The Sorrow of War) của Bảo Ninh cũng “bị” mua đứt bản quyền bởi đạo diễn Nicolas Simon.

Còn bài thơ ký T.T.Kh sau khi sàn lọc là HSHTG thì người giữ bản quyền thực sự có đầy đủ thẩm quyền phải là TT.

Chuyện tình là chuyện tình của TT, và Kh nhưng nhân vật qua sự “nấu nướng” của thi ca đã thành nhân vật thi ca. Việc mổ xẻ bài thơ để tìm nhân vật thật trong cuộc đời đến đây coi như không cần thiết nữa. TT hay tổ hợp thơ viết thì cũng đã xoay quanh một trục tam giác tình yêu. Tổ hợp thơ không ai còn sống mà thừa nhận thật giả, còn TT có đủ lý do để T.T.Kh trở về với nhà thơ. Tiếc rằng, sự nhìn nhận này muộn màng khiến cho nhiều nhà văn,  nhà thơ vĩnh viễn không bao giờ thấy được những đứa con lưu lạc trở về. Thiết nghĩ, ta cần tìm hiểu để trả lại tác phẩm của TT ký dưới bút hiệu T.T.Kh trở về với thi nhân có cuộc tình huyền thoại độc đáo này.

Một điều cần làm là chúng ta nên thống nhất lại lại tiểu sử TT trên cái sườn cũ tổng hợp và bổ sung để học sinh, nghiên cứu sinh và người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về nhà thơ có những thi phẩm bất hủ này mặc dù TT không có trong danh sách mười nhà thơ lớn nhất thế kỷ nhưng có bài thơ được chọn là một trong mười bài thơ hay nhất thế kỷ và là của muôn đời.

2. Ðôi nét về tiểu sử Thâm Tâm:

Dựa vào HT – HC (Thi nhân Việt Nam), Nguyễn Hữu Ðảng (Giai thoại văn học), Tôn Thảo Miên (Từ điển tác giả, tác phẩm VHVN), Trần Hữu Tá (Từ điển văn học- Bộ mới), Hà Bình Trị (Thâm Tâm,Văn học 11, tập II), Nguyễn Thạch Kiên (Về những kỷ niệm quê hương), Nguyễn Tấn Long (Thi nhân Việt Nam tiền chiến), “Thơ Thâm Tâm” (Mã Giang Lân), Lịch sử Việt Nam (tập 1&2 1958 – 2000)… và những tìm hiểu mới, người viết xin được phép tổng hợp, loại bỏ và bổ sung như sau:

Thâm Tâm (TT) sinh ngày 12/5/1917 ở Hải Dương trong một gia đình tiểu tư sản (có bố là nhà nho dạy học nghèo) nên học xong tiểu học, cậu bé Trình phải bỏ học cùng gia đình lên Hà Nội năm 1936 làm đủ nghề để sống. Trong thời gian 1936, TT có quen cô nữ sinh trường Tiểu học Sinh Từ, Từ Thị Khánh. Mối tình giữa chàng nghệ sĩ, tiểu tư sản nghèo và cô nữ sinh vườn Thanh nẩy nở đến lúc “ngào ngạt hương hoa“, cô bé Kh nghe lời mẹ đi lấy chồng. Một bước sang ngang của người yêu đã để lại nổi đau một đời cho chàng nghệ sĩ và đẩy chàng sang một ngã rẽ khác.

TT sống bằng nghề vẽ tranh và bắt đầu làm thơ. TT viết cho tờ “Truyền bá” (không rõ của ai) và “Tiểu thuyết thứ bảy” của Vũ Đình Long. TT bén duyên với những bài thơ làm theo dạng “Hành”, một lối thơ cổ lai của Trung Quốc gồm: ”Can trường hành”, ”Vọng nhân hành”, “Tráng ca”. Đặc biệt là “Tống biệt hành“.

Các bài thơ thể thất ngôn có: Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành, Không đề, Bán hoa đào, Mơ thuở thanh bình, Hoa gạo, Ngược gió, Vạn lý trường thành, Chết, Ngậm ngùi cố sự, Lưu biệt, Một mảnh tình. Đặc biệt là bài “Hai sắc hoa Ti-Gôn”.

Các bài thể lục bát: Tráng ca, Chào Hương Sơn, Ngô Sơn vọng nguyệt (viết chung với Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Trúc Khê).

Bài thể tự do: Căm thù.

Bài thể ngũ ngôn: Chiều mưa đường số 5.

Những bài từng cho là của TT như “Đây cảnh cũ, đâu người xưa, Màu máu Ti-Gôn, Các anh, Dang dở, Bài thơ thứ nhất, Bài thơ cuối cùng, Đan áo cho chồng” đều được loại bỏ vì lạc thi pháp, nguồn không rõ ràng, sai thời gian và nội dung không hợp với thi pháp thơ TT sau khi đối chiếu bằng văn bản. Những bài thơ này nằm trong tập “Thơ Thâm Tâm” do Mã Giang Lân tuyển chọn và sách VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long.

Thời kỳ 1937 – 1939 là thời kỳ đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa và đến 1945 toàn bộ báo chí trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng. Một thời đại trong thi ca mất sân chơi. Từ giã “Tiểu thuyết thứ bảy” và ”Truyền bá” (đóng cửa), cũng như bạn bè kẻ vô Nam, người ra Bắc, TT tham gia văn nghệ trong ”Hội cứu quốc” và tham gia ban kịch cùng người bạn thân là Trần Huyền Trân. TT biên tập cho báo Tiền Phong (cách mạng) với công việc làm bích báo, vẽ áphích, viết kịch như: ”19.8”, ” Lối sống”,  ”Ðầu quân vào Nam” (1945), ”Người thợ”, ”Lá cờ máu” (1946).  Ngoài ra, một số thể loại dịch thuật, truyện ngắn (Lá quạt hoa Quỳ), TT có “động đũa” nhưng chưa có bài nào nổi bật và chẳng còn ai lưu giữ lại.

Năm 1947, chàng nghệ sĩ ba mươi tuổi này đã quyết định ra đi, bỏ lại quá khứ có một cuộc tình huyền thoại bi thương để gia nhập bộ đội theo chỉ thị thông tư của Bộ quốc phòng vào tháng 2/1947. TT là người lính cầm bút trong Tòa soạn báo Vệ Quốc Quân với tư cách một thư ký cho cơ quan ngôn luận của quân  đội nhân dân Việt Nam. Thời kỳ này, TT viết truyện ”Ðại đội Kim Sơn” (1948), ”Văn thơ bộ đội” (Tiểu luận, 1948). Bài thơ mà các nhà nghiên cứu cho là nổi bật về tinh thần những người bộ đội là “Chiều mưa đường số 5” (1946).

Năm 1950, chiến dịch biên giới ở căn cứ Việt Bắc với phương án đánh Pháp ở Cao Bằng do đại tướng Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy trưởng được đổi sang Ðông Khê. Trên đường hành quân này, TT bệnh nặng (có tác giả ghi vì sốt rét, vì đau tim đột ngột) mất ngày 18 tháng 8 năm 1950 dưới chân đèo Mã Phục gần bản Pò Noa, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng vì chứng sốt rét ác tính. Hiện nay, tại bản Pò Noa có ngôi mộ tưởng niệm nhà thơ – liệt sĩ TT. Mùa thu này nhắc lại ”một mùa thu trước” mà mối tình chàng nghệ sĩ TT với cô nữ sinh trường Sinh Từ, Kh tan vỡ ”trong một ngày vui pháo nhuộm đường” mười bốn năm về trước. Đồng thời, mùa thu này cũng khép lại một đời thi nhân và mở ra một huyền thoại…

Thơ TT mang phảng phất hơi thơ cổ phong tự do với chí khí muốn bứt phá của người trai thời loạn và những day dứt về con người trong cuộc sống đầy khó khăn vì chiến tranh ”ngày giặc giã quê hương mình mỏi mệt”. Thơ TT đi lên từ hiện thực và bay bổng theo hình tượng nên có giá trị vĩnh cửu. Thơ TT còn là những tình khúc buồn man mác, bâng khuâng, nuối tiếc cho một cuộc tình đầy kỷ niệm thơ ngây, ngọt ngào đã tan vỡ theo từng lá thu heo hút rụng bên đời! Bài thơ ”Hai sắc hoa Ti-gôn” ký T.T.Kh của TT đã mang nội dung trên bổ sung vào nội dung, nghệ thuật thơ thêm một giá trị bất hủ.

Tình yêu, anh có Kh. Tình bạn, anh có Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Trúc Khê Ngô Văn Triện. Còn quê hương? Anh đã gởi lại trên mảnh đất này nửa cuộc đời với những khát vọng tuổi trẻ và tài năng. Nói như Vũ Quần Phương: ”Người đọc không thấy được hết sự phong phú của ông trong chặng đường mới. Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn, ở giai đoạn sau, ông lại ra đi quá sớm”.

Muộn hay sớm gì cũng cũng chỉ một lần ra đi vỏn vẹn cho một đời người. “Trâu chết để da, người ta chết để tiếng”. Với TT, đó là tiếng tiếc thương vô bờ của người còn ở lại dành cho anh ”Nửa đời trai nào tiếc cái danh hời. Ðem tuyệt bút ‘Tống biệt hành’ gởi lại”.

Thi phẩm ”Tống biệt hành” đến với độc giả cũng nhiều nỗi gian truân, không trọn vẹn là một trong mười thi phẩm hay nhất thế kỷ(*).

(*Phần tiểu sử này đã đăng trên mạng năm 2005. Một số web đã tải đăng lại. Tác giả chính thức sửa, chữa bổ sung vào phần tiểu sử TT cho đầy đủ năm 2008. Các web đã trích, có thể bổ sung vào bản trích của mình. Cám ơn).

 

C. TỐNG BIỆT HÀNH:

Nguồn gốc ra đời của TBH:

– Hoài Việt trong“Hồi ức về Thâm Tâm”, Tạp chí Văn học số 3-1991,  kể:  “Theo ông Ngọc Giao, một nhà văn viết cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy cùng với Thâm Tâm thì bài thơ “Tống biệt hành” bất tử của Thâm Tâm chính là tác giả gửi tâm sự vào đó trong bữa rượu tại nhà Lê Văn Trương chia tay một người bạn tên là Viễn sắp đi xa… Thâm Tâm ứng khẩu đọc bài thơ ấy trên chum rượu bên hồ. Cũng theo ông Ngọc Giao thì “anh chàng Viễn – một tay đồ tể khét tiếng ở lò sát sinh Lò Đúc – làm nghề chọc tiết lợn nhưng Viễn rất yêu mến, hiểu biết về văn học, hào hiệp như một hảo hán thời Đông Chu liệt quốc”.

“Nhưng theo ông Phạm Quang Hòa, nguyên Giám đốc sở Thông Tin Liên khu X (Việt Bắc) thì Thâm Tâm viết bài thơ này là để tặng ông ngày ông tìm lên chiến khu. Trước lúc ra đi, ông có mời ba người bạn thân là Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Thâm Tâm đến uống rượu tiễn. Mỗi người làm một bài thơ tặng ông. Thâm Tâm làm bài thơ Tống biệt hành, Nguyễn Bính có bài Chia tay, còn bài thơ của Trần Huyền Trân thì ông không nhớ.
Trong bài Tống biệt hành có một số người phụ nữ được nhắc đến, đó là hai người chị của ông (một chị dâu, một người bạn gái của chị dâu) và cô em gái chính là người yêu của ông lúc đó mới 16 tuổi” (
Hoài Việt, Hoàng Viêm, “Thâm Tâm với danh tác Tống biệt hành”, newvietart.com).

– Hoàng Tiến cũng“đưa ra những điều không có căn cứ” (MGL) tung tin TT viết tặng ông bạn… Phạm Văn Hòa: “Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc thuộc lớp thơ trước Cách mạng tháng Tám, năm nay đã 74 tuổi (tên thật là Phạm Quang Hòa), bạn thân với các nhà thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Chính bài Tống biệt hành Thâm Tâm viết tặng Phạm Quang Hòa khi đi hoạt động cách mạng”(“T.T. KH là ai“, Hoàng Tiến – Nhân dân Chủ nhật số 23 tháng 7-1989, Hoài Việt, Thế Nhật, sđd).

– NTK: Trong “Tống biệt hành” (Về những kỷ niệm quê hương, trang 65-66) viết: “Bài thơ này Thâm Tâm chủ ý làm tặng Khánh với tựa đề Đưa em sang sông và nội dung hoàn toàn riêng tư hờn trách. Nhưng khi thực hiện, ý tưởng xô chen, Thâm Tâm chỉ giải bày một phần nhỏ tâm tư đối với sự ra đi đột ngột của nàng”. Giải thích lai lịch bài thơ, NTK viết “Anh cảm khái nhớ đến cái ngày người yêu đột ngột bỏ đi không lời từ giã với chính anh. Thế là anh lần tới ‘vườn Thanh’-nơi Khánh đặt tên-ngồi viết”. Ông còn chú rõ người đặt lại đầu đề cho bài thơ “Đưa em sang sông” chính là Nguyễn Bính (tr 67).

Chung: TT hay bất kỳ tác giả nào viết cho ai cũng được. Nhân vật trong tác phẩm có thể là thật như Phan Thị Thanh Nhàn viết “Hương thầm” với người em trai và bạn gái, Hữu Loan viết “Đồi tím hoa sim” về người vợ Đỗ Thị Lệ Ninh chết đuối năm 16 tuổi, Trần Huyền Trân viết “Lưu biệt” tiễn Lê Văn Trương. Bùi Minh Quốc viết “Bài thơ về hạnh phúc” tưởng nhớ vợ hy sinh là DươngThị Xuân Quý… Song, nhân vật của tác giả không phải chỉ là nhân vật của riêng tác giả. Khi nhân vật bước vào trang sách là nhân vật thật nhưng khi bước ra ngoài trang sách, họ là những nhân vật của tác giả nhưng mang những tính chất, phẩm cách hai chiều cộng trừ của cuộc đời.  Những nhân vật này chỉ còn là 1/2, 1/3, 1/4… “bản sao” của hiện thực. Tác giả có quyền hư cấu chi tiết theo mức độ nào thì tùy khả năng của họ.

Với TBH, TT lúc đầu có thể viết về ông Phạm Quang Hòa hay ông tên Viễn nào đó hoặc ông X, bà Y và gia đình ông Hòa hay ông Viễn có thể có dâu, con, chị em hàng xóm cũng được nhưng những nhân vật đó đi vào trong TBH đã trở thành nhân vật của tác giả hư cấu thêm. Họ đã trở thành một gia đình ruột thịt. Nhân vật của tác giả không nhất thiết phải là tác giả nhưng trong TBH, nhân vật đó có hai phân thân: Một là nhân vật của tác giả. Một là nhân vật tác giả. Sự nhập nhằng này chính là chỗ mà chúng ta thắc mắc bao đời nay giữa nhân vật thực và nhân vật hư. Thắc mắc này, coi như không cần thiết vì bản thân một tác phẩm tự nó có thể làm luật sư hay công tố viên cho chính nó.

Có thể tạm xác định theo cách hiểu cũ ”Tống biệt hành” không thể làm trước những bài thơ ký T.T. Kh với khoảng thời gian từ 1937 – 1938 vì trước 1937, TT chưa làm thơ nên trong cuốn ”Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới”- Nxb TPHCM của Lê Đức Tịnh từ năm 1865 – 1934 không có bóng dáng TBH. Nhưng nếu theo cách hiểu mới, TT làm thơ bắt đầu từ năm 1936 và 1937 ”Hai sắc hoa Ti-Gôn” ra đời. Cuốn sách Lê Đức Tịnh viết sớm hơn TT chính thức cầm bút nhựng 2 năm nên nó không mang bóng dáng thơ TT.

NTK (sđd) trang 65, phần 5 “Tống biệt hành” ghi: “Thoắt đấy, Thâm Tâm vừa tròn hai mươi tuổi. Anh vẫn tôn trọng mối tình đầu với nàng. Hy vọng sẽ có ngày nhận được tin Khánh… Anh cảm khái nhớ cái ngày người anh yêu đột ngột bỏ đi không lời từ giã với chính anh. Thế là anh lần tới “vườn Thanh” – nơi Khánh đặt tên – ngồi, và viết:

                        Đưa người ta không đưa qua sông

                        Sao có tiếng sóng ở trong lòng?…”

TT sinh năm 1917. Tính năm anh 20 tuổi phải là năm 1937. Thời gian này, anh đã chia tay với mối tình đầu là cô Khánh. Tìm hiểu chính xác thời điểm ra đời của bài thơ, chúng ta mới nắm được nội dung mà tác giả muốn gởi gắm tiếng lòng vào đó.

Một điều quan trọng tưởng chừng như đơn giản là mỗi tác phẩm, tác giả cần cho nó một “khai sinh”. Điều đó, không những tránh cho người đời sau suy diễn mà còn giúp người nghiên cứu văn học khỏi nhọc công khi phân tích giá trị tác phẩm qua hai mặt nội dung và nghệ thuật. Chúng ta không nên e ngại là những đứa con tinh thần của mình được sinh “già tháng” mà tước bỏ “khai sinh” của chúng. Vấn đề trích đăng tác phẩm cũng vậy, người trích phải cẩn thận trích nguyên với những tác phẩm có khai sinh đàng hoàng.

Trường hợp TBH của TT là một ví dụ cho sự đăng trích không ngày tháng, trích không thống nhất, chứng tỏ tư liệu không cùng một ngọn nguồn tạo những suy diễn và sự ngộ nhận đáng tức cười!

Điều mà chúng ta hôm nay cần chú ý là thẩm thấu một tác phẩm, biết nguồn gốc, lai lịch càng tốt, không biết, chưa biết, biết chưa đầy đủ thì đừng viết thêm những gì không có nguồn. Chúng ta hãy thưởng thức tác phẩm và đánh giá tác phẩm trên hai mặt thẩm mỹ và giáo dục thế hệ con em chúng ta.              

 

      I . TBH với những văn bản chưa thống nhất:

          1. Bản của HT – HC trong TNVN:

Ðây là văn bản được coi là cũ nhất mà HT – HC đã đưa vào TNVN dựa trên bài thơ đã được đăng trên TTTB nơi TT từng cộng tác. Khi đưa vào sách, HT- HC đã cắt bỏ bốn câu cuối nhưng không thấy nêu lý do. Nguyên bản chấm phẩy như sau:

                                        TỐNG BIỆT HÀNH

Ðưa người, ta không đưa qua sông,

                                 Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

                                 Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

                                 Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

                                 Ðưa người, ta chỉ đưa người ấy

                                 Một giã gia đình, một dửng dưng…

 

                               – Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,

                                 Chí nhớn chưa về bàn tay không,

                                 Thì không bao giờ nói trở lại!

                                 Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

                                                        ***

                                 Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước.

                                 Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

                                 Một chị, hai chị cùng như sen

                                 Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

                                 Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay;

                                 Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

                                 Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

                                 Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

                                 Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

                                 Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

                                 Chị thà coi như là hạt bụi

                                 Em thà coi như hơi rượu say.

                                                               (Thơ Thâm Tâm)

Nghĩ cũng lạ. Thường thì ”dị bản”chỉ có trong văn học dân gian bởi chúng không có tác giả và lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng miệng nên ”tam sao thất bản” như ”Thánh Gióng” trong thần thoại; ”An Dương Vương” trong truyền thuyết; ”Tấm Cám”, ”Cô bé lọ lem” trong cổ tích; ”Thỏ và Rùa” trong ngụ ngôn và nhất là trong ”Tục ngữ, ca dao, dân ca” toàn dị bản.

Ví dụ:

 Con người có tổ có tông

                                   Như cây có cội như sông có nguồn.

 

hay:                             Con người có bố có ông

                                   Như nhà có nóc như sông có nguồn.

 

hoặc:                           Người ta có bố có ông

                                   Tui đây không có tổ tông họ hàng.

Ðằng này, thi phẩm có tác giả hẳn hoi lại không hiểu vì lý do gì mà bị sửa đổi tùm lum. Thành ra, văn bản coi như mất gốc. Không có tác giả nào muốn đứa con tinh thần của mình mang nhiều ”quốc tịch” như vậy. Tiếc rằng khoa học hiện đại phát hiện DNA để giúp cha nhận con nhưng  khi con là một thi phẩm thì… ông nội khoa học cũng… bó chân mà thôi! Ðiều này đã ảnh hưởng đến giá trị hiện thực của tác phẩm bởi vì từng câu chữ, từng dấu phẩy sẽ là những sắc thái tu từ mà không một nhà phân tích, bình luận, nghiên cứu nào cho qua.

Học sinh làm bài thiếu phần này tức thiếu giá trị nghệ thuật sẽ xơi… trứng ngỗng ngon ơ hoặc vác… cây gậy đi tập tễnh cho vui!

Với TBH ta xem xét các ”dị bản” của nó coi thử phần nào thay đổi đáng kể, phần nào do lỗi in ấn theo nội dung chính mà tác giả gởi gấm, sau đó, ta có thể chọn ra một văn bản thích hợp để mà theo.

2. Bản của Mã Giang Lân:  Không giữ lại dấu phẩy. Trước từ ”ly khách” không có dấu ngang. Từ ”chí nhớn” thay bằng ”chí lớn””Ngươi buồn” thành ”Người buồn””Cùng như sen” thay bằng ”cũng như sen””Giời chưa mùa thu ” thay bằng ”trời chưa mùa thu” và bỏ luôn dấu phẩy giữa câu. Câu: ”Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” thành ”Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc” với dấu tách câu ở giữa.

3. Bản của Trần Đình Sử: Giữ được vài dấu phẩy nhưng thêm dấu phẩy sau câu ”chị thà coi như là hạt bụi,” mà văn bản cũ không có. Cũng ”người buồn” nhưng thêm dấu hai chấm (:) văn bản cũ không có. Thay đổi đáng kể là ”bóng chiều không thắm, không vàng vọt,” thay bằng ”Nắng chiều không thắm…”

Ðây là bản duy nhất đổi từ ”bóng” thành ”nắng” khiến nghĩa cũng đổi theo.

4. Bản của Lê Tiến Dũng và Chu Văn Sơn:  Giống TÐS thêm dấu phẩy sau từ ”hạt bụi,” và khác MGL không thêm dấu tách câu ở giữa nhưng vẫn đổi ”chí lớn”, “người buồn”. Có bổ sung 4 câu cuối cũng khác nhau.

5. Bản của Trần Đăng Xuyền: Lấy theo nguyên bản của HT- HC nhưng giống các tác giả trên đổi từ ”ngươi” thành ”người”.

6. Bản của Hà Bình Trị (ngữ văn 11-tập 2): Bỏ mất dấu chấm than ở từ ”ly khách” mà thêm dấu phẩy vào sau ”ly khách” và ”hạt bụi” (Ly khách, ly khách, con đường nhỏ … là hạt bụi,).

7. Bản của Nguyễn Hưng Quốc:  Bản duy nhất giữ nguyên từ ”ngươi” trong ”ngươi buồn” nhưng lại đổi ”Giời chưa mùa thu” bằng ”Trời chưa là thu”.

          8. Bản của Mã Giang Lân: (Thơ Thâm Tâm): Còn một hai chỗ chưa chấm phẩy đúng, và tự phân đoạn cuối thành 4 câu không đúng với TNVN.

9. Bản của Nguyễn Tấn Long: Đoạn đầu nhập thành 10 câu trong khi TNVN, đoạn đầu chỉ có 6 câu. Từ “ngươi buồn” cũng biến thành “người buồn“. “Giời chưa là thu” thành “Trời chưa là thu“. “hơi rượu say” thành “hơi rượu cay“. Một số tác giả, các web site trích chưa đúng với TNVN chắc là lấy từ văn bản TNVNTC của Nguyễn Tấn Long này.

10. Các văn bản khác trên: biennho.net, tuoitho.net,.cinet.gov.vn, vinhhao.netmy.opera.com, 5nam.ttvnol.com, vietkiem.com, thehe8x.net, vietnamlibrary.informe.com, 4vn.net,vietnamsingle.com, lehongphong.net,thovn.net, annonymous.online.fr, langdu.wordpress.com, thotre.com, my.opera.com, myheartmoscow.wordpress.com, thanh tung.com, khánhly.net…

– Không có dấu phẩy ở sau các câu. Không dấu phẩy ở ngắt câu chỉ có một dấu phẩy ”một chị,”. Không gạch đầu hàng ly khách (- Ly khách ).

–  ”Giời chưa mùa thu” thay bằng ”Trời chưa vào thu”Trời chưa là thu”

– Chí nhớn chưa về bàn tay không” thành ”Chí lớn không về, bàn tay không”.

– ”Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” thành ”Em nhỏ ngây thơ đôi mắt ướt”.

– ”hơi rượu say” thành ”hơi rượu cay”.

– “Sao có tiếng sóng ở trong lòng” thành “ nghe tiếng sóng ở trong lòng“, “Mà sao có sóng ở trong lòng”.

– “Bóng chiều không thắm” thành “Bóng chiều không thẩm“, Nắng chiều không thắm”, “Buổi chiều không thắm”.

– ”Ta biết ngươi buồn” thành ”Ta biết người buồn”.

– “Một chị, hai chị cùng như sen” thành “Một chị, hai chị cũng như sen“, “Một chị, hai chị đều như sen“, “Một chị hai chị cùng nhành sen”.

-”Em thà coi như hơi rượu say” thành ”Em thà coi như hơi rượu cay”, “Em ừ! Coi như hơi rượu cay”, “Em! ừ xem như hơi rượu cay”.

– ”Mẹ. Chị. Em.” thành ”Mẹ! Chị! Em!”.

Không tính tới bản của nhạc sĩ Trần Tử Thiêng và nhạc sĩ Thanh Trang đã phổ nhạc TBH với nhiều thay đổi nhất là bản của Thanh Trang.

Có bút hiệu gán bừa cho tác giả TBH là Thâm Tâm Tài Nhân (vietnamsingle.com) lẫn lộn TT với Thanh Tâm Tài Nhân Từ Văn Trường (đời nhà Thanh-Trung Quốc) là tác giả của Kim Vân Kiều.

Hầu hết các web, sách trong học đường đều đăng TBH với “ngươi” thành “người”. Không biết ngoài bản TBH đăng trong TNVN, còn có cuốn sách nào xưa hơn cuốn này? Trích đăng không đúng nguyên gốc hay cắt bỏ, tự tiện sửa chữa và không trích rõ nguồn dẫn, người trích đã làm trái nguyên tắc trích dẫn, copy, sao chép văn bản có thể phạm luật bản quyền.

Thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến giá trị thẩm mỹ và nội dung ý nghĩa của câu và như nói như HT- HC, tác phẩm mất đi một ít ”hương trinh tiết”!

II. TỐNG BIỆT HÀNH (Nguyên bản chưa bị cắt )

1. Bản của Nguyễn Hưng Quốc: Bốn câu cuối:

 Mây thu đầu núi, gió lên trăng

                               Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

                               Ly khách ven trời nghe muốn khóc

                               Tiếng Ðời xô động, tiếng hờn câm.

(Không biết vì sao từ “Ðời” viết hoa?)

2. Bản của những trang ”Web” (biennho.net, vietnamsingle.com):

Mây thu đầu núi gió lên chăng

                        Cơn lạnh chiều nao đổ bóng hằng .

                        Ly khách bên trời nghe muốn khóc

Tiếng đời ru động, tiếng hờn căm.

 

 Mây thu đầu núi gió lên chăng
Cơn lạnh chiều nao để bóng hằng
Ly khách bên trời nghe muốn khóc

 Tiếng đời ru động tiếng hờn căm.

  Mây lên đầu núi gió đưa trăng
Cơn nắng (gió) chiều nay đổ bóng thầm
Viễn khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hờn căm.

hay                   Hơi sương đầu núi giá lên trăng

 

hoặc                  Mây thu đầu núi, gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hờn căm.

Mây thu đầu núi gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đã đổ thầm
Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc
Tiếng đời xô động tiếng lòng căm.

3Bản của Chu Văn Sơn :

Hơi thu đầu núi giá lên trăng

                    Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm

                    Buồn ở lưng trời nghe đã lại

                    Tiếng đời xô động tiếng hờn câm.

Các bản thêm này cũng không ghi rõ nguồn trích từ đâu. Đây cũng là sai nguyên tắc trích dẫn một văn bản.

Ðể nguyên hay phục hồi nguyên bản thi phẩm TBH? Chọn bản nào và vì sao? Ta cần theo nội dung toàn bài và cách gieo vần của một bài thơ thuộc thể ”Hành”.

 

      II. Thể “Hành” qua những bài thơ Việt Nam và Trung Quốc:

              1. Thể “Hành”: Nguồn gốc:

                   a. Trong tiếng Việt:

Hành là một danh từ chỉ một loại rau cọng nhỏ, màu xanh, thẳng đứng. Củ và lá hành có tác dụng khử mùi dầu mỡ. Hành có mùi hăng, thơm khó ngửi tùy khứu giác con người. Hành đi với ngò là hai loại gia vị không thể thiếu được trong các món ăn Việt Nam và được dùng như một bài thuốc Nam chữa các bệnh khác như bệnh nhức đầu cộng với gừng. Không biết Nam Cao đã lấy hành ở đâu cho Thị Nở nấu cháo đãi Chí Phèo mà làm thằng thích ăn vạ này “suy nghĩ nhiều” và “tỉnh rượu“. Tỉnh rượu thì mới trở thành Người? “Bát cháo hành Thị Nở” từ đấy mà ra. Tên Chí Phèo cũng đã ”lưu hành” trong văn học Việt Nam.

Trong thi ca, ca dao không hiểu tại sao người ta nỡ lòng:

Thò tay mà bứt (ngắt) ngọn ngò

                                  Thương em (anh) đứt ruột giả đò làm lơ (ngơ)..

Còn thằng bạn ”hành” chẳng mấy ai chú ý nên không bị… mẻ đầu sứt trán gì!

Hành” đi vào ”chuyện xưa tích cũ” là loại mọc lên từ “bánh bao nhân thịt chó” của bà Thanh Đề… đãi mấy sư sãi vì họ khi dễ thành tâm của bà. (Ngoại kể vậy). Vì món “giả thịt cầy” này mà bà bị xử “oan” ngồi bàn chông dưới địa ngục!?

Chưa gì mà “hành” đã “hành hạ” người ta như thế khi nó trở thành động từ “hành” cho bõ ghét, “hành hạ cho đến chết”. Khi nó dẫn người ta về cội nguồn, lễ hội theo tôn giáo thì nó trở lại danh từ trong“hành hương”.

“Hành”… mọc tràn trên những tác phẩm thể loại tự sự văn xuôi nhưng trong mảnh đất thi ca, “hành” ít được… trồng có lẽ vì  “động từ” của nó.

Đi sâu vào vuờn “Hành” – thế giới từ của các nhà ngôn ngữ, chôm chĩa cọng “hành” rồi nhanh chân chạy ra, nếu không… chết trong trận “thiên la địa võng” của sân cỏ ngôn ngữ này!

Tiếng Việt, nghĩa “hành” là như thế. Tiếng Việt chịu ảnh hưởng nghìn năm đô hộ của Trung Quốc nên từ “hành” trong tiếng Hán Nôm cũng tương tự.

b. Trong ngôn ngữ Hán Nôm: “Hành” có chức năng: Danh từ, động từ:

– “Hành” là động từ trong: “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công” nghĩa là “Đạo trời đất được lưu hành thì cả thiên hạ chung” (”Đại đồng học thuyết – Học thuyết đại đồng” – Chu Thiên, Giáo trình Hán văn – Nxb TPHCM – 2002).

(“Hành” với nghĩa “lưu hành” sang Tiếng Việt là “lưu hành nội bộ, lưu hành trong dân gian”, cao hơn chút là “Giấy thông hành” Hộ Chiếu – Passport).

Hành” cần danh từ làm bổ ngữ trong câu:Hành thiện chi nhân, như xuân viên chi thảo” nghĩa là “Người làm việc thiện như cỏ mùa xuân” (”Thiện dữ ác-Thiện và ác” Chu Thiên, sđd)

– “Hành” là danh từ trong “Cảnh hành lục vân: Tri túc thường lạc, đa tham tắc ưu” nghĩa là “Sách Cảnh hành lục nói: Biết (cho là) đủ thường vui, tham quá ắt lo nhiều” (”Tri túc – Biết đủ”- Chu Thiên).

Sách có sách “Cảnh hành” của Trung Quốc. Thơ cũng có “hành” là “hành” danh từ nhưng “hành” người ta theo nghĩa động từ đó là “Hành” của một thể văn cổ xưa.

Hành” trong ”Hán -Việt từ điển” (Đào Duy Anh, tr 282-283) có nghĩa là ”Người đi-Vật chuyển động”. Nó đi kèm với các danh từ để trở thành cụm danh từ như: Phẩm hạnh, Hành chính khu vực, Hành tinh, Hành vi, Hành biên, Hành quân, Hành binh, Hành khách, Hành khất, quan Hành khiển, Hành lang, Hành lý, Hành nhân, Hành trang, Hành trạng, Hành trình, Hành tung, Hành văn lưu thủy. Hành binh bố trận. Nó cũng vừa danh vừa động từ trong: Hành hình, Hành hạ, Hành xác, Hành quyết…

2. Thể “Hành” trong thi ca:

Cuốn “Đường thi tuyển dịch” của Trương Đình Tín ghi rõ: Thơ Đường chỉ có hai thể chính là: Thơ cổ thể hay còn gọi là thể cổ phong: ”Đây là một thể thơ không có một luật lệ nhất định từ cách gieo vần cấu tứ đến thanh điệu, câu chữ và bố cục… sắp xếp câu dài ngắn không hạn chế”.

Nó có nguồn gốc vẫn còn bàn cãi nhưng tạm cho từ thời Hán Vũ Đế.

Thơ cận thể hay còn gọi là kim thể hay cách luật mà “người làm thơ phải tuân thủ những luật lệ nghiêm ngặt về câu, về thanh, về vần về bố cục…” (Trương Đình Tín, sđd)

Như vậy thể “Hành” nằm trong thể thơ cổ thể (cổ phong) nhưng vì sao gọi là “Hành” thì Trương Đình Tín không nói, Chu Thiên cũng chẳng ghi chú, người viết cũng nào có biết đường mà lần nên đành mượn tạm những bài “Hành” của các nhà thơ ta, thơ Tàu coi có gì để gọi là “Hành”?

a. Những bài thơ theo dạng “Hành” của 11 nhà thơ Đường và 8 nhà thơ Việt Nam:

Thơ Đường chia làm bốn chủ đề: Điền viên, Lãng mạn, Biên tái và Hiện thực nhưng sự phân chia trên chưa thật rõ ràng vì giữa bốn chủ đề không có biên giới rõ rệt. Một bài thơ có thể mang nhiều nội dung khi ẩn, khi hiện.

–  “Trường can hành” của Lý Bạch được xếp vào lớp “lãng mạn” vì miêu tả hồi ức của người vợ trẻ tuổi rất ướt át nhưng thực sự, nó cũng mang giá trị hiện thực: Nỗi lòng vợ trẻ có chồng đi xa .

– “Binh xa hành”, “Cổ bá hành”, ”Lệ nhân hành” của Ðỗ Phủ được xếp vào lớp “hiện thực” vì nó tố cáo nỗi thống khổ, xã hội bất công, nhân tài bị bạc đãi, sắc đẹp là niềm đau nhưng nó vẫn mang nội dung biên tái vì diễn tả cảnh bắt lính vào trận mạc.                       

– ”Đào nguyên hành” của Vương Duy được xếp vào lớp điền viên vì thấm màu sắc Phật, Lão quên hẳn sự đời nhưng thơ điền viên lại có “phong, hoa, tuyết, nguyệt” nên nó nhập lại dòng “lãng mạn”.

– Ở Việt Nam, ”Thơ Mới ”1932 với đỉnh cao Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Huy Cận… nằm trong trường phái lãng mạn mà chúng đã có từ… ngàn năm trước! Sự tiếp cận văn học thế giới của ta chậm quá. Ngay cả Nguyễn Du cũng phải đi lấy đề tài từ “Kim Vân Kiều” truyện của Thanh Tâm Tài Nhân tận Trung Quốc!

Nhìn vào khối lượng thơ  Ðường (chỉ một thời đại ) với 48 ngàn bài thơ và 2100 nhà thơ nổi tiếng bất hủ và vô giá so với mấy trăm bài thơ Việt Nam thì thơ Việt Nam có bao nhiêu bài chuyển tải được nội dung sống muôn đời như họ? Bởi những bài thơ chỉ phục vụ cho nội dung chính trị nhất thời, ca ngợi thái quá một triều đại, một chế độ, một con người nào đó (không phải là quốc tổ, thánh tổ) thì thử xem những bài thơ đó đã  sống được qua mấy mùa lá rụng trong vườn?

Là con đẻ của thơ Đường cổ phong và cận thể,  thể hành ”nằm gọn trong cách chia theo bốn nội dung trên và hình như tưởng rằng chẳng có một sắc thái nào khác biệt.

*Thể Hành qua 11 tác giả Trung Quốc với 20 tác phẩm (Đường thi tuyển dịch, thivien.net, hoasontrang.com, vhvn.com).

Chúng tôi cung cấp tương đối đầy đủ các bản “Hành” để giúp các nghiên cứu sinh, các thầy cô giáo và độc giả yêu thích thơ Đường hay giảng dạy TBH hoặc thể “Hành” có tư liệu tham khảo cần thiết.

1. Trường can hành (Lý Bạch): 30 câu. Thể ngũ ngôn: Nói về tâm trạng người thiếu phụ trẻ 14 tuổi lấy chồng, 16 tuổi phải tiễn chồng đi xa…

Thiếp phát sơ phú ngạch
Chiết hoa môn tiền kịch
Lang kỵ trúc mã lai
Nhiễu sàng lộng thanh mai
Đồng cư Trường Can lý
Lưỡng tiểu vô hiềm sai
Thập tứ vi quân phụ
Tu nhan vị thường khai
Đê đầu hướng ám bích
Thiên hoán bất nhất hồi
Thập ngũ thuỷ triển mi
Nguyện đồng trần dữ hôi
Thường tồn bão trụ tín
Khởi thướng Vọng Phu đài
Thập lục quân viễn hành

Cù Đường Diễm Dự đôi
Ngũ nguyệt bất khả xúc
Viên thanh thiên thượng ai
Môn tiền trì hành tích
Nhất nhất sinh lục đài
Đài thâm bất năng tảo
Lạc diệp thu phong tảo
Bát nguyệt hồ điệp hoàng
Song phi tây viên thảo
Cảm thử thương thiếp tâm
Toạ sầu hồng nhan hão
Tảo vãn há Tam Ba
Dự tương thư báo gia
Tương nghênh bất đạo viễn
Trực chí Trường Phong Sa

Lý Bạch thêm bài Trường can hành kỳ 2: Người vợ mơ ngày gặp chồng sau khi xa cách dù người chồng đi không chốn hẹn:

Ức thiếp thâm khuê lý
Yên trần bất tằng thức
Giá dữ Trường Can nhân
Sa đầu hậu phong sắc
Ngũ nguyệt nam phong hưng
Tư quân há Ba Lăng
Bát nguyệt tây phong khởi
Tưởng quân phát Dương Tử
Khứ lai bi như hà?
Kiến thiểu biệt ly đa!
Tương Đàm kỷ nhật đáo?
Thiếp mộng việt phong ba
Tạc dạ cuồng phong độ
Xuy chiết giang đầu thụ
Diễu diễu ám vô biên
Hành quân tại hà xứ?
Bắc khách chân vương công,
Chu y mãn giang trung.
Nhật mộ lai đầu túc,
Sổ triêu bất khẳng đông.
Hảo thừa phù vân thông
Giai kỳ Lan chử đông
Uyên ương lục bồ thượng
Phí thuý cẩm bình trung
Tự liên thập ngũ dư
Nhan sắc đào lý hồng
Na tác thương nhân phụ

Sầu thuỷ phục sầu phong!

2. Trường can hành (Lý Ích): 24 câu. Thể ngũ ngôn: Tâm trạng người vợ trẻ nhớ thương chồng…

Ức thiếp thâm khuê lý,
Yên trần bất tằng thức.
Giá dữ Trường Can nhân,
Sa đầu hậu phong sắc.
Ngũ nguyệt nam phong hưng,
Tư quân hạ Ba Lăng.
Bát nguyệt tây phong khởi,
Tưởng quân phát Dương Tử.
Khứ lai bi như hà,
Kiến thiểu ly biệt đa.
Tương đàm kỷ nhật đáo,
Thiếp mộng việt phong ba.
Tạc dạ cuồng phong độ,
Xuy chiết giang đầu thụ.
Diểu diểu ám vô biên,
Hành nhân tại hà xứ.
Hảo thừa phù vân thông,
Giai kỳ lan chử đông.
Uyên ương lục phố thượng,
Phỉ thuý cẩm bình trung.
Tự liên thập ngũ dư,
Nhan sắc đào hoa hồng.
Na tác thương nhân phụ,
Sầu thuỷ phúc sầu phong.

 

3. Trường can hành (Thôi Hiệu): Thôi Hiệu có 4 bài. Mỗi bài 4 câu. Thể thất ngôn: Lời đối đáp giữa hai người đàn ông và đàn bà hỏi về nơi chốn, quê quán (như Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ đối đáp với nhau trong bài ”Bán Chiếu”):

Trường Can Hành 1 
Quân gia hà xứ trú?
Thiếp trú tại Hoành Đường
Đình thuyền tạm tá vấn
Hoặc khủng thị đồng hương
Trường can hành 2
Gia lâm Cửu Giang thủy
Lai khứ Cửu Giang trắc
Đồng thị Trường Can nhân
Sinh tiểu bất tương thức

Trường can hành 3 nói về chí khí người đi vượt sóng gió mà trở về:

Trường can hành 3

Hạ chử đa phong lãng,
Liên chu tiệm giác hi.
Na năng bất tương đãi,
Độc tự nghịch triều quy.

Trường can hành 4 nói về dù triều sóng Tam Giang, Ngũ  Hồ có dữ dội, ta cũng vượt qua bằng thuyền nan:

Trường can hành 4

Tam Giang triều thủy cấp,
Ngũ Hồ phong lãng dũng.
Do lai hoa tính khinh,
Mạc úy liên chu trọng

4. Cổ bá hành (Đỗ Phủ ): 24 câu. Thể thất ngôn: Niềm hoài cổ, tỏ bày nỗi lòng thông qua cây bá cổ trước miếu Lưu Bị, Khổng Minh để xót xa cho người tài hoa bị bỏ rơi.

Khổng Minh miếu tiền hữu lão bá,

Kha như thanh đồng căn như thạch.

Sương bì lưu vũ tứ thập vi,

Đại sắc tham thiên nhị thiên xích.

Quân thần dĩ dữ thời tế hội.

Thọ mộc do vi nhân ái tích.

Vân lai khí tiếp Vu Giáp trường,

Nguyệt xuất hàn thông Tuyết Sơn bạch.

Ức tạc nhiễu lộ Cẩm đình đông,

Tiên chủ Võ Hầu đồng bí cung.

Thôi ngôi chi cán giao nguyên cổ,

Yểu điệu đan thanh hộ dũ không.

Lạc lạc bàn cứ tuy đắc địa,

Minh minh cô cao đa liệt phong.

Phù trì tự thị thần minh lực,

Chính trực nguyên nhân tạo hóa công.

Đại hạ như khuynh yếu lương đống,

Vạn ngưu hồi thủ khâu sơn trọng.

Bất lộ văn chương thế dĩ kinh,

Vị từ tiễn phạt thùy năng tống?

Khổ tâm khởi miễn dung lâu nghi?

Hương diệp chung kinh túc loan phụng.

Chí sĩ u nhận mạc oán ta,

Cổ lai tài đại nan vi dụng.

 

5. Binh xa hành (Đỗ Phủ): 35 câu. Thể tự do: Cảnh bắt lính, dân tình khốn khổ vì sưu thuế.

Xa lân lân,
Mã tiêu tiêu,
Hành nhân cung tiễn các tại yêu.
Gia nương thê tử tẩu tương tống,
Trần ai bất kiến Hàm Dương kiều.
Khiên y đốn túc lan đạo khốc,
Khốc thanh trực thướng can vân tiêu.
Đạo bàng quá giả vấn hành nhân,
Hành nhân đãn vân: điểm hành tần.
Hoặc tòng thập ngũ bắc phòng Hà,
Tiện chí tứ thập tây doanh điền.
Khứ thời lý chính dữ khoả đầu,
Qui lai đầu bạch hoàn thú biên.
Biên đình lưu huyết thành hải thuỷ,
Vũ Hoàng khai biên ý vị dĩ.
Quân bất văn: Hán gia Sơn Đông nhị bách châu,
Thiên thôn vạn lạc sinh kinh kỷ?
Túng hữu kiện phụ bả sừ lê,
Hoà sinh lũng mẫu vô đông tê.
Huống phục Tần binh nại khổ chiến,
Bị khu bất dị khuyển dữ kê!
Trưởng giả tuy hữu vấn,
Dịch phu cảm thân hận!
Thả như kim niên đông,
Vị hưu Quan Tây tốt.
Huyện quan cấp sách tô,
Tô thuế tòng hà xuất?
Tín tri sinh nam ác,
Phản thị sinh nữ hảo.
Sinh nữ do đắc giá tị lân,
Sinh nam mai một tuỳ bách thảo.
Quân bất kiến Thanh Hải đầu,
Cổ lai bạch cốt vô nhân thu?
Tân quỷ phiền oan, cựu quỷ khốc,
Thiên âm vũ thấp, thanh thu thu.

 

6. Lệ nhân hành (Ðỗ Phủ): 26 câu. Thể tự do: Phê phán sắc đẹp chị em Ðường Quý Phi là nguyên nhân gây ra chiến tranh:

Tam nguyệt tam nhật thiên khí tân,
Trường An thuỷ biên đa lệ nhân.
Thái nùng ý viễn thục thả chân.
Cơ lý tế nhị, cốt nhục quân.
Tú la y thường chiếu mộ xuân,
Xúc kim khổng tước, ngân kỳ lân.
Đầu thượng hà sở hữu ?
Thuý vi hạp thiệp thuỳ mấn thần.
Bối hậu hà sở kiến?
Châu áp yêu kiếp ổn xứng thân.
Tựu trung vân mạc tiêu phòng thân
Tứ danh đại quốc Quắc dữ Tần.
Tử đà chi phong xuất thuý phủ,
Thuỷ tinh chi bàn hành tố lân.
Tê trợ yêm ứ cửu vi hạ,
Loan đao lũ thiết không phân luân.
Hoàng môn phi khống bất động trần,
Ngự trù lạc dịch tống bát trân.
Tiêu quản ai ngâm cảm quỷ thần.
Tân tòng tạp đạp thực yếu tân,
Hậu lai yên mã hà thuân tuần.
Đương hiên há mã nhập cẩm nhân.
Dương hoa tuyết lạc phú bạch tần,
Thanh điểu phi khứ hàm hồng cân.
Chích thủ khả nhiệt thế tuyệt luân,
Thận mạc cận tiền, thừa tướng sân…

 

7. Tỳ bà hành (Bạch Cư Dị): 88 câu. Thể thất ngôn: Sự đồng cảm với người ca kỹ qua tiếng đàn với tâm trạng thương xót hoàn cảnh của nàng, có chồng không được thương tưởng, em trai đi lính, dì chết:

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân hạ mã khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Tuý bất thành hoan thảm tương biệt
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
Hốt văn thuỷ thượng tỳ bà thanh
Chủ nhân vong quy khách bất phát
Tầm thanh âm vấn đàn giả thuỳ
Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai
Do bão tỳ bà bán già diện
Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh
Vị thành khúc điệu tiên hữu tình
Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ
Tự tố bình sinh bất đắc chí
Đê mi tín thủ tực tực đàn
Thuyết tận tâm trung vô hạn sự
Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu
Sơ vi Nghê thường hậu Lục yêu
Đại huyền tào tào như cấp vũ
Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ
Tào tào thiết thiết thác tạp đàn
Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn
Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt
U yết tuyền lưu thuỷ hạ than
Thuỷ tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt
Ngưng tuyệt bất thông thanh tiệm yết
Biệt hữu u sầu ám hận sinh
Thử thời vô thanh thắng hữu thanh
Ngân bình sạ phá thuỷ tương bính
Thiết kỵ đột xuất đao thương minh
Khúc chung thu bát đương tâm hoạch
Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch
Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung
Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung
Tự ngôn bản thị kinh thành nữ
Gia tại Hà Mô lăng hạ trú
Thập tam học đắc tỳ bà thành
Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ
Khúc bãi tàng giao thiện tài phục
Trang thành mỗi bị Thu Nương đố
Ngũ Lăng niên thiếu thanh triền đầu
Nhất khúc hồng tiêu bất tri số
Điễn đầu ngân tì kích tiết toái
Huyết sắc la quần phiên tửu ố
Kim niên hoan tiếu phục minh niên
Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ
Đệ tẩu tòng quân a di tử
Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố
Môn tiền lãnh lạc xa mã hy
Lão đại giá tác thương nhân phụ
Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly
Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ
Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền
Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thuỷ hàn
Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự
Mộng đề trang lệ hồng lan can
Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức
Hựu văn thử ngữ trùng tức tức
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức
Ngã tòng khứ niên từ đế kinh
Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành
Tầm Dương địa tích vô âm nhạc
Chung tuế bất văn ty trúc thanh
Trú cận Bồn giang địa thế thấp
Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh
Kỳ gian đán mộ văn hà vật
Đỗ quyên đề huyết viên ai minh
Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ
Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh
Khởi vô sơn ca dữ thôn địch
Âu á triều triết nan vi thính
Kim dạ văn quân tỳ bà ngữ
Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh
Mạc từ cánh toạ đàn nhất khúc
Vị quân phiên tác Tỳ bà hành
Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập
Khước toạ xúc huyền huyền chuyển cấp
Thê thê bất tự hướng tiền thanh
Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp
Toạ trung khấp hạ thuỳ tối đa
Giang Châu tư mã thanh sam thấp.

 

8. Yên ca hành (Cao Thích): 28 câu. Thể thất ngôn: Cảm thông những người binh sĩ ở biên giới và ca ngợi công lao của Lý tướng quân Lý Quảng.

Hán gia yên trần tại đông bắc,
Hán tướng từ gia phá tàn tặc.
Nam nhi bản tự trọng hoành hành,
Thiên tử phi thường tứ nhan sắc.
Song kim phạt cổ hạ Du Quan,
Tinh kỳ uy di Kiệt Thạch gian.
Hiệu úy vũ thư phi hãn hải,
Thiền Vu lạp hỏa chiếu Lang Sơn.
Sơn xuyên tiêu điều cực biên thổ,
Hồ kỵ bằng lăng tạp phong vũ.
Chiến sĩ quân tiền bán tử sinh,
Mỹ nhân trướng hạ do ca vũ.
Đại mạc cùng thu tái thảo suy,
Cô thành lạc nhật đấu binh hy.
Thân đương ân ngộ thường khinh địch,
Lực tận quan sơn vị giải vi.
Thiết y viễn thú tân cần cửu,
Ngọc trợ ưng đề biệt ly hậu.
Thiếu phụ thành nam dục đoạn trường,
Chinh nhân Kế Bắc không hồi thủ.
Biên đình phiêu dao na khả độ,
Tuyệt vực thương mang cánh hà hữu.
Sát khí tam thời tác trận vân,
Hàn thanh nhất dạ truyền điêu đẩu.
Tương khan bạch nhận tuyết phân phân,
Tử tiết tòng lai khởi cố huân!
Quân bất kiến sa trường chinh chiến khổ,
Chí kim do ức Lý tướng quân.

          9. Yên ca hành (Đào Hàn): 18 câu. Thể ngũ ngôn: Ca ngợi danh tướng Hán đánh giặc Hung Nô:

Thỉnh quân lưu Sở điệu,
Thính ngã ngâm Yên ca.
Gia tại Liêu thủy đầu,
Biên phong ý khí đa.
Xuất thân vi Hán tướng,
Chính trị Nhung vị hòa.
Tuyết trung lăng Thiên Sơn,
Băng thượng độ Giao hà.
Đại tiểu bách dư chiến,
Phong hầu cánh Sa Đà.
Quy lai Bá Lăng hạ,
cố cựu vô tương quá.
Hùng kiếm ủy trần hạp,
Không môn thùy tước la.
Ngọc trâm hoàn Triệu nữ,
Bảo sắt phó Tề nga.
Tích nhật bất vi lạc,
Thời tai kim nại hà.

         10. Yên ca hành (Tào Phi): 15 câu. Thế thất ngôn: Người thiếu phụ nhớ người yêu trong gió thu.

Yên ca hành kỳ 1: Thu phong

 Thu phong tiêu sắt thiên khí lương,
Thảo mộc dao lạc lộ vi sương.
Quần yến từ quy nhạn Nam tường,
Niệm quân khách du tứ đoạn trường.
Khiểm khiểm tư quy luyến cố hương,
Quân hà yêm lưu ký tha phương.
Tiện thiếp cung cung thủ không phòng,
Ưu lai tư quân bất cảm vong.
Bất giác lệ hạ chiêm y thường,
Viện cầm minh huyền phát Thanh thương.
Đoản ca vi ngâm bất năng trường,
Minh nguyệt hạo hạo chiếu ngã sàng.
Tinh Hán tây lưu dạ vi ương,
Khiên Ngưu, Chức Nữ dao tương vọng,
Nhĩ độc hà cô hạn hà lương.

                    Yên ca hành kỳ 2: Biệt Nhật 16 câu. Thể thất ngôn (có thiếu một câu): Chia ly đớn đau. Nhớ thương ngâp tràn trong lòng người thiếu phụ:

Biệt nhật hà dị hội nhật nan,
Sơn xuyên du viễn lộ man man.
Uất đào tư quân vị cảm ngôn,
Ký thư phù vân vãng bất hoàn.
Thế linh vũ diện huỷ hình nhan,
Thuỳ năng hoài ưu độc bất than.
Cảnh cảnh phục chẩm bất năng miên,
Phi y xuất hộ bộ đông tây.
Triển thi thanh ca liêu tự khoan,
Lạc vãng ai lai tồi tâm can.
Bi phong thanh lệ thu khí hàn,
La duy từ động kinh Tần hiên.
Ngưỡng đới tinh nguyệt quan vân gian,
Phi thương thần minh,
Thanh khí khả liên,
Lưu liên hoài cố bất tự tồn.

            11. Đào nguyên hành (Vương Duy): 32 câu. Thể thất ngôn: Tâm trạng của người khách lạc vào miền đất lạvới những người dân chạy trốn chiến tranh mà ao ước được sống lại cảnh thần tiên đó.

Ngư châu trục thuỷ ái sơn xuân
Lưỡng ngạn đào hoa giáp cổ tân
Toạ khán hồng trụ bất tri viễn
Hành tận thanh khê bất kiến nhân

Sơn khẩu tiệm thành thỉ ôi áo
Sơn khai khoáng vọng triền bình lục
Diêu khán nhất xứ toản vân thụ
Cận nhập thiên gia tán hoa trúc
Tiều khách sơ truyền Hán tính danh
Cư nhân vị cải Tần y phục

Cư nhân cộng trú Võ Lăng nguyên
Hoàn tùng vật ngoại khởi điền viên
Nguyệt minh tùng hạ phòng long tịnh
Nhật xuất vân trung kê khuyển huyên

Kinh văn tục khách tranh lai tập
Cạnh dẫn hoàn gia vấn đô ấp
Bình minh lư hạng tảo hoa khai
Bạc mộ ngư tiều thừa thuỷ nhập

Sơ nhân ti địa khứ nhân gian
Cánh văn thành tiên toại bất hoàn
Giáp lý thuỳ tri hữu nhân sự
Thế trung diêu vọng không vân sơn

Bất nghi linh cảnh nan văn kiến
Trần tâm vị tận tư hương huyện
Xuất động vô luận cách sơn thuỷ
Từ gia chung nghỉ trường du diễn
Tự vi kinh quá cựu bất mê
An tri phong hát kim lai biến

Đương thời chỉ kí nhập sơn thâm
Thanh khê kỉ độ đáo vân lâm
Xuân lai biến thị Đào hoa thuỷ
Bất biện tiên nguyên hà xứ tầm.

12. Lũng tây hành (Trần Đào): Thể thất ngôn: Ca ngợi 5000 binh sĩ đánh Hung Nô bỏ mạng mà vẫn là người lý tưởng, thần tượng của những người thiếu phụ chốn khuê phòng.

Lũng Tây Hành 1

Hán chủ đông phong báo thái bình,
Vô nhân kim khuyết nghị biên binh.
Tung nhiêu đoạt đắc lâm Hồ tái,
Thích địa tang ma chủng bất sinh.

Lũng Tây Hành 2

Thệ tảo Hung Nô bất cố thân
Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần
Khả liên Vô Định hà biên cốt
Do thị xuân khuê mộng lý nhân.

Lũng Tây Hành 3

Lũng thú tam khan tái thảo thanh,
Lâu Phiền tân thế hộ Khương binh.
Đồng lai tử giả thương ly biệt,
Nhất dạ cô hồn khốc cựu doanh.

Lũng Tây Hành 4

Hiệt Lỗ sinh cầm vị hữu nhai,
Hắc Sơn doanh trận thức long xà.
Tự tòng quý chủ Hòa Thân hậu,
Nhất bán Hồ phong tự Hán gia

Trong đó bài dài nhất là ”Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị, ngắn nhất là ”Trường can hành” của Thôi Hiệu, “Lũng Tây Hành” của Trần Đào.

Những bài “Hành” trên đề tài chính vẫn là nỗi lòng, tiếng nói, sự cảm thương số phận con người (là kỹ nữ, là tài ba là người  trông chồng là người lính thú…).

*Thể hành qua 8 tác giả Việt Nam với 11 tác phẩm:

1. Sở kiến hành (Nguyễn Du): 42 câu. Thể ngũ ngôn: Ghi lại cảnh đói khổ của ba mẹ con lê la trên đường kiếm ăn.

Hữu phụ huề tam nhi
Tương tương tọa đạo bàng
Tiểu giả tại hoài trung
Ðại giả trì trúc khuông
Khuông trung hà sở thịnh
Lê hoắc tạp tì khang
Nhật án bất đắc thực
Y quần hà khuông nhương
Kiến nhân bất ngưỡng thị
Lệ lưu khâm lang lang
Quần nhi thả hỉ tiếu
Bất tri mẫu tâm thương
Mẫu tâm thương như hà
Tuế cơ lưu dị hương
Dị hương sảo phong thục
Mễ giá bất thậm ngang
Bất tích khí hương thổ
Cẩu đồ cứu sinh phương
Nhất nhân kiệt dung lực
Bất sung tứ khẩu lương
Duyên nhai nhật khất thực
Thử kế an khả trường
Nhãn hạ ủy câu hác
Huyết nhục tự sài lang
Mẫu tử bất túc tuất
Phủ nhi tăng đoạn trường
Kỳ thống tại tâm đầu
Thiên nhật giai vị hoàng
Âm phong phiêu nhiên chí
Hành nhân diệc thê hoàng
Tạc tiêu Tây Hà dịch
Cung cụ hà trương hoàng
Lộc cân tạp ngư xí
Mãn trác trần trư dương
Trưởng quan bất hạ trợ
Tiểu môn chỉ lược thường
Bát khí vô cố tích
Lân cẩu yếm cao lương
Bất tri quan đạo thượng
Hữu thử cùng nhi nương
Thùy nhân tả thử đồ
Trì dĩ phụng quân vương

 2. Dương phụ hành (Cao Bá Quát):  8 câu. Thể thất ngôn: Ca ngợi những cái đẹp của người đàn bà phương Tây.

Tây Dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ thanh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nam nam hướng lang thuyết.
Nhất uyển đề hồ thư lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh thiến lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt ly!

+ Sa hành đoản ca16 câu. Thể tự do: Ca ngợi khí khái người trên bãi cát đường đời chông gai.

Trường sa phục trường sa,
Nhất bộ nhất hồi khước.
Nhật nhập hành vị dĩ,
Khách tử lệ giao lạc.
Quân bất học tiên gia mĩ thụy ông,
Đăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng!
Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩu lộ đồ trung.
Phong tiền tửu điếm hữu mĩ tửu,
Tỉnh giả thường thiểu tuý giả đồng.
Trường sa, trường sa nại cừ hà?
Thản lộ mang mang uý lộ đa.
Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca,
Bắc sơn chi bắc sơn vạn điệp,
Nam sơn chi nam ba vạn cấp.
Quân hồ vi hồ sa thượng lập?

3. Hành phương Nam (Nguyễn Bính): 44 câu. Thể thất ngôn: Nỗi lòng nam nhi khi lưu lạc vào đất Nam.

Đôi ta lưu lạc phương Nam này,
Trải mấy mùa qua én nhạn bay.
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở,
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay.

Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu,
Mà không uống cạn mà không say?
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may.

Người giam chí lớn vòng cơm áo,
Ta trói chân vào nợ nước mây.
Ai biết thương nhau từ buổi trước,
Bây giờ gặp nhau trong phút giây.

Nợ thế chưa trả tròn một món,
Sòng đời thua đến trắng hai tay.
Quê nhà xa lắc xa lơ đó,
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc,
Ly tán vì cơn gió bụi này.
Ngươi đi buồn lắm mà không khóc,
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy.

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết,
Ngày mai ra sao rồi hãy hay.
Ngày mai có nghĩa gì đâu nhỉ?
Cốt nhất cười vui trọn tối nay.

Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn,
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay.
Hỡi ơi! Nhiếp Chính mà băm mặt,
Giữa chợ ai người khóc nhận thây.

Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén,
Ai kẻ dâng vàng kẻ biếu tay ?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự,
Giày cỏ, gươm cùn ta đi đây.

Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên lộng bốn trời.
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,
Uống say mà gọi thế nhân ơi!

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ.
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười.
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,
Hát rằng phương Nam ta với ngươi.

Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh,
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi.

Đa Kao 1943

 

 4. Hành phương Nam (Thu Bồn): 40 câu. Thể thất ngôn: Tâm trạng một người hồi cổ, hoài niệm.

Câu Tiễn xưa kia đi nếm mật
ta nay ăn đất một đời thừa
xưa kia tráng sĩ hề da ngựa
ta nay uống cạn mấy rừng mưa

độc huyền tráng sĩ xưa ca cẩm
ta ôm xích đạo gẩy vòng cung
môi hôn ngọn gió thơm hoa trái
núi cùng chiều ta đứng trập trùng

ta cũng không ham chi nghiệp lớn
bồ đào không có chẳng giai nhân
cửa nhà thông thốc muôn phương gió
túi rỗng nhiều phen bạn đỡ đần

bơi qua biển lửa ta về lại
gọi Thái Bình Dương đến dạo đàn
những cung xưa cũ lời em hát
còn cháy lòng ta lửa thử vàng

ba năm gối núi đầu hóa đá
tiếng hát rừng rung Ngũ Giác Đài
bao phen xa xứ người thương nhớ
trăng sáng mà em áo vẫn cài

thôi em về với cây dừa lửa
vun vén trời xanh đỡ phũ phàng
mắt em đăm đắm như còn nữa
huyền thoại anh nghe đến ngỡ ngàng

ta như con dế nằm trên cỏ
đợi uống từng đêm giọt ngọc sương
châu báu trọn đời con dâng mẹ
là trái tim đau lắm bụi đường

có đêm tung súng lên trời hát
hỏa pháo soi từng cổ họng khổ
em có đem về thêm giọt nước
rưới cho bạn khát dưới nấm mồ

ta nằm nghe gió qua rừng Thái
nghe cả tiếng tru lũ sói rừng
con trăng cứ sáng rồi cứ khuyết
ta uống vầng trăng đến cạp vành

cứ ngỡ là em trao trái thị
gieo cầu em ném giữa mông lung
anh như cơn gió làm sao bắt
lại rớt vào tay một gã khùng.

     5. Hành phương Nam (Trần Chấn Uy): 4 câu. Thể tự do. Tâm trạng chán đời của kẻ sĩ “bất phùng thời”:

Hành phương Nam ta tìm ta

Đất Khánh Hòa có khánh hòa không nhỉ

Hai mươi năm trời ta như một thanh sắt rỉ

Trong chiếc bị cói cà tang của bà bán ve chai.

Nha Trang, 01/2000

6. Trường Sa hành (Tô Thùy Yên): 64 câu. Thể thất ngôn: Tâm trạng chua xót, buồn bã trong cao ngạo của những người lính ở đảo.

Trường Sa! Trường Sa! Đảo chếnh choáng
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han hề Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi ?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi ?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo…
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừ ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

Đất liền, ta gọi, nghe ta không ?
Đập hoảng vô biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Ngàỵ Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên

Ôi! Lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

Sa hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.
(8-1974)

7. Can trường hành (Thâm Tâm): 48 câu. Thể thất ngôn: Tâm trạng con người muốn phá bỏ hiện thực (xem phần TT).

 8. Vọng nhân hành (Thâm Tâm): 26 câu. Thể thất ngôn: Tâm trạng buồn đời không như ý, phẩn chí (xem phần TT).

9. Tống biệt hành (Thâm Tâm): 26 câu. Thể thất ngôn: Nỗi lòng của người  nam nhi trong ngày tiễn biệt (xem phần phân tích TBH ở phần cuối bài).

        10. Tráng sĩ hành (Trần Tuấn Khải): Thể tự do: Khí khái của người tráng sĩ đội trời đạp đất, phá núi đào sông, mang chí khí Kinh Kha bất tử.

Tráng sĩ hành

“Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê,

      Tráng sĩ một đi, không bao giờ về!”
Tay nâng chén rượu giã người cũ,
Miệng đọc câu ca chân bước đi.
Dao tình mài liếc với thanh khí.
Chí hùng tung bốc đầy sơn khê.
Nghe tiếng đờn trúc gõ réo rắt,
Mặc cho kể hết niềm phân ly.

Niềm phân ly!
Đã bước chân ra khôn hẹn kỳ,
Đời người bất quá vị tri kỷ,
Sống, chết, nên, chăng, ai sá chi!
Túi áo xênh xang ba tấc kiếm,
Bụi hồng rong ruổi đôi bánh xe.
Ngoảnh lại thành Yên đầy uất khí,
Thấu lòng hoạ chỉ người tương tri

Người tương tri, 
Lá gan bầu mật, cùng nhau thế:
Thề đem tấm thân tới hang hổ,
Giết con cọp dữ rừng man di,
Đời nếu chôn lấp hết công lý,
Anh hùng hào kiệt còn ra gì!
Phá núi Thái Sơn, lấp Đông Hải;
Ấy là phận sự đàn nam nhi.

Đàn nam nhi,
Chuyển đất xoay giời thường có khi.
Khuyên ai chớ học bọn khăn yếm:
Xa nhau một bước lệ đầm đìa.
Liếc mắt khắc trông vũ trụ đó.
Đâu không là cảnh ta say mê!
Chếnh choáng hơi men bốc chính khí,
Ngâm câu khẳng khái mình ta nghe…

“Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi không bao giờ trở về”
(Hai khổ đầu bài thơ tác giả viết vào năm 1926, tác giả viết tiếp và hoàn thành bài này vào năm 1933.thivien.net).

Bài dài nhất là ”Trường Sa hành” của Tô Thùy Yên, ngắn nhất là “Hành phương Nam” của Trần Chấn Uy.

Trong mười sáu bài “Hành” tiêu biểu trên, TBH của TT, theo người viết, vẫn được xếp ở đầu bảng về cả hai mặt nội dung (giá trị câu chữ) và nghệ thuật (giá trị hình tượng). Độc giả có thể thử đọc phần dịch Nôm từ văn bản Hán Việt của những tác giả trên để chọn những tác phẩm nào mình thích.

b. Khái niệm “Hành” trong văn học:

Xét 31 bài “Hành” trên, ta thấy đứng về nội dung: “Hành” chưa nói lên được cái gì khác biệt vì ”Hành” giống như một khúc nhạc (ly ca) chia xa. Về gốc độ loại thể ngũ ngôn, thất ngôn (tự do ở cách gieo vần), tự do thì những bài “Hành” đều giống y chang những bài khác.

Nếu “Hành”  hiểu theo nghĩa: “Đi thấy rồi viết”  như “Sở kiến hành” của Nguyễn Du, “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính, “Lũng tây hành”  của Trần Đào… thì cũng đâu có gì khác hơn những bài không có chữ  “Hành” mà cũng đi cũng viết như “Há chung Nam Sơn quá Hộc Tư sơn nhân túc, trí tửu” của Lý Bạch hay “Thanh khê” của Vương Xương Linh…

Ngay cả khi dạng đối đáp nam nữ thôi như “Trường can” của Thôi Hiệu cũng mang từ “Hành” theo sau (Trường can hành) thì “Dương phụ” của Cao Bá Quát ca ngợi sắc đẹp tự nhiên của người đàn bà Tây phương  nối chữ “Hành” (Dương phụ hành) cũng đâu có gì lạ?

Bài “Trường Sa hành” của Tô Thùy Yên (Việt Nam) dài 64 câu, thể thất ngôn so với bài “Trường Sa quá giả Nghị Trạch” của Lưu Trường Thanh (Trung Quốc) chỉ 8 câu thể thất ngôn cũng nói về số phận con người sống trên đảo buồn bã không khác gì. Chỉ khác, Lưu Trường Thanh làm ngắn hơn và không bỏ chữ “Hành” theo sao đầu đề mà thôi vì đầu đề dài quá.

Từ đây, ta suy luận ra, nếu đề bài dài, tác giả hầu như ít thêm chữ ”Hành”. “Hành” chỉ đi sau những đề tựa ngắn gọn, đặc biệt chỉ có hai từ. Nhưng cũng chưa chắc vì nếu hễ ta thấy những bài thơ nào chỉ có hai từ, ta thêm từ ”Hành” vào là không hợp.

Ví dụ: Ta không thể cho ”Tiễn đưa” của Phan Văn Dật thành ”Tiễn đưa hành” nhưng có thể cho “Tống biệt” của Vương Duy,  ”Tống biệt” của Nguyễn Đình Thư thành “Tống biệt hành” như TT thì không sai.

Tại sao được? Tại sao không?

Định nghĩa: “Hành” chỉ là một thể nhỏ của loại thơ cổ thể (cổ phong).“Hành” được làm theo đủ thể loại đặc biệc là thể ngũ ngôn và nhất là thể thất ngôn nhưng tự do ở cách gieo vần (khác thể cận kim có luật bằng, trắc chặt chẽ của Trung Quốc. Khi sang Việt Nam, loại này làm mưa làm gió một thời trên văn đàn và thi cử. Đến thế kỷ 19, nó bị công kích dữ dội và thay bằng “Thơ Mới” nhưng thật ra cũng chỉ là một loại thơ cổ phong ngàn năm trước).

“Hành” theo nghĩa danh từ phần lớn đứng sau đề tựa mà tác giả đặt (để ngầm phân biệt với thể song thất lục bát, lục bát, tứ ngôn, thơ không hạn số chữ). ‘‘Hành” là con đẻ giữa ”cha” thể cổ phong (không luật bằng trắc, gieo vần tự do và không hạn chế câu) với ”mẹ” cận kim (có đối câu, có quy định luật như sau: Thể loại phải là ngũ ngôn, thất ngôn, ít theo thể tự do nhưng không phải buộc là “Nhất, tam, ngũ bất luật. Nhị tứ lục phân minh”).

Đầu đề bài thơ dạng ”Hành” được quy định như sau:

– Phải là một danh từ chỉ địa điểm (Lũng Tây, Trường Can, Trường Sa, Đào Nguyên…)

– Phải là từ Hán-Việt (Tỳ Bà, Binh Xa, Cổ Bá, Yên Ca, Sở Kiếm, Dương Phụ, Tống Biệt, Can Trường, Vọng Nhân…).

– Trật tự từ: Là tân ngữ, trợ danh từ “Hành” phải đặt sau danh từ làm chủ ngữ.

– Đầu đề thể Hành: Chỉ được gói gọn trong hai từ chính (đầu đề) + một từ phụ là từ ”Hành”. Nó có tác dụng làm cho đầu đề bài thơ trang trọng hẳn lên.

– Nội dung: Không bó buộc trong khuôn khổ một nội dung nào qua giọng điệu khoan thai, nhẹ nhàng và tràn đầy tình cảm với cái “ta” cái “tôi” của chủ thể sáng tạo ra nó được bộc lộ rõ nét.

Bài thơ thể “Hành” chẳng có cái gọi là: “Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển…” như HT – HC đã sai lầm khi nhận định về thơ thất ngôn cổ phong mà TBH là một ví dụ điển hình.

Các bài “Hành Phương Nam” của Thu Bồn, Nguyễn Bính, Trần Chấn Uy đã đưa từ “Hành” ra trước là sai nguyên tắc trật tự từ. Nó phải là “Phương Nam” (danh từ) + “Hành” (trợ danh từ – định ngữ – tân ngữ) = “Phương Nam Hành“. Tức là “Bài ca Phương Nam” chứ không phải “Phương Nam bài ca”. Bài “Sa hành đoản ca” của Cao Bá Quát coi như dư từ “đoản ca” vì bản thân từ “Hành” đã là khúc ca, bài ca, đoản ca rồi!

Như vậy, “Hành” chỉ có nhiệm vụ “động niên, đội mũ mão, trang bị kiếm cung” cho viên tướng ra trận. Còn chuyện đánh đấm thắng bại là do coi tướng đó có tài cán gì (khả năng cầm bút, khả năng rung động) hay không?

Tới đây, ai cũng có thể làm được một bài thơ theo thể “Hành” rồi đó. Có thể nói: Cha phóng túng (cổ phong), mẹ nghiêm khắc (cận kim) sinh ra đứa con với kiếp lãng tử giang hồ… “hành”  thiên hạ.

TBH của TT là một điển hình với nội dung tiễn biệt đã ”hành” người nghiên cứu và độc giả từ năm 1940 cho đến tận bây giờ với sự khắc khoải giữa đôi bờ tống biệt chưa biết của ai với ai!

 III. Đề tài “Tống biệt” qua 16 nhà thơ Đường và những câu tiễn biệt tiêu biểu của các nhà thơ Việt Nam (trong nước, ngoài nước):

Cuộc đời muôn hình muôn vẻ là chất liệu phong phú cho thi ca nói riêng và văn học, nghệ thuật nói chung. Một tác phẩm luôn có hai giá trị:

+ Một là giá trị hiện thực (cuộc sống con người và thời đại).

+ Hai là giá trị thẩm mỹ (cách xây dựng hình tượng có giá trị vĩnh cửu, để lại trong nguời đọc một cảm xúc tất tận từ tác phẩm).

Một thời đại chinh chiến liên miên sẽ sinh ra hình ảnh người lính thú nơi biên tái và hình ảnh ”hòn vọng phu”… mòn mỏi trông chờ. Triều đại nào cũng có kẻ lên quan, người xuống chức: ”Gặp thời cỡi ngựa bắn cung. Hết thời cỡi… kiến, lấy… dây thun bắn… ruồi!” Đó cũng chính là tiếng thở dài, bi phẩn vì thời cuộc và nỗi buồn của buổi chia ly nhưng cách nhìn này cũng sẽ biến dạng theo từng cách nghĩ, cách nhìn của từng tác giả qua từng thời đại.

Chia ly cũng là đề tài mang tích cách quốc tế. Đề tài “Đưa tiễn” trong thi ca Việt Nam và “Tống biệt” trong thi ca Trung Quốc ra đời trên những chất liệu đó.

1. Mười sáu nhà thơ Đường với đầu đề có chữ ”tiễn biệt”(trích từ ĐTTD):

Vì trong biển thơ Đường, đề tài này mênh mông quá nên người viết chỉ hạn hẹp trong khuôn khổ những nhà thơ có đầu đề với chữ ”tiễn biệt” (tống biệt) đã nói ở trên và người viết tạm lược dịch vắn tắt dựa trên bản dịch chuyển ngữ của Trương Đình Tín trong ”Đường thi tuyển dịch” .

a. Tám tác giả thời Đường (713-765): Cực thịnh của nhà Đường (Đường Huyền Tông):

– Đổ Phủ: Có “Tân hôn biệt” gồm 32 câu, thể ngũ ngôn:

Kết phát vi quân thê,

                          Mộ hôn thần cáo biệt .                   

…Dữ quân vĩnh tương tương

(Chiều hôm làm lễ cưới, sáng đã chia tay rồi… Xin mãi nhớ nhau).

– Vương Duy: Có *”Tống biệt” 1, gồm 6 câu, thể ngũ ngôn:

Há mã ẩm quân tửu,

                          Vấn quân hà sở chi?

                          Quân ngôn bất đắc ý,

                          Quy ngọc Nam Sơn thùy.

                          Đản khứ, mạc phục vận,

                          Bạch vân vô tận thì.

(Mời xuống ngựa uống với tôi một chén rượu. Hỏi người đi về đâu. Mây trắng mãi bay còn lòng người không ý nguyện nên về ẩn dật ở núi Chung Nam).

           *”Tống biệt” 2 gồm 4 câu, thể ngũ ngôn:

  Sơn trung tương tống bãi

                           Nhật mộ yểm sài phi,

                           Xuân thảo minh niên lạc

                           Vương tôn quy bất qui?

(Ta ở lại trong núi sau khi tiễn anh đi, năm tới cỏ xuân xanh tốt, vương tôn có đến nữa không?).

Lưu biệt“: Thể thất ngôn bát cú:

Tịch tịch cánh hà đãi,
Triêu triêu không tự quy.
Dục tầm phương thảo khứ,
Tích dữ cố nhân vi.
Đương lộ thuỳ tương giả,
Tri âm thế sở hi.
Chỉ ứng thủ tịch mịch,
Hoàn yểm cố viên phi.

(Lưu biệt)

(Tối không chờ đến. Sớm không tự về. Tìm nơi hoa cỏ có dấu tích bạn cũ không nỡ chia tay. Đường đời chẳng biết tri âm mấy người. Trở về vườn cũ đóng cửa lặng im).

– Lý Bạch:  Có *”Độ kinh môn Tống biệt” gồm 8 câu, thể ngũ ngôn:

Độ viễn kinh môn ngoại,
Lai tòng sở quốc du.
Sơn tuỳ bình dã tận,
Giang nhập đại hoang lưu.
Nguyệt hạ phi thiên kính,
Vân sinh kết hải lâu.
Nhưng liên cố hương thuỷ,
Vạn lí tống hành chu.

(Qua núi Kinh Môn, dạo chơi trong nước Sở ngày xưa với ruộng đồng, sông núi bao la. Trăng sáng như gương làm nhớ thương dòng sông cũ. Mây kết thành lầu giữa biển vạn dặm tiễn người đi).

*”Tống Mạnh hạo Nhiên chi Quãng Lăng” gồm 4 câu, thể thất ngôn:

                           Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,

                           Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.

                           Cô phàm viễn ảnh bích không tận,

                           Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.

(Người bạn cũ từ Hoàng Hạc Lâu đến nơi Dương Châu đô hội trong ba tháng tựa như khi cánh buồm xa dần trong màu xanh bao la chỉ còn thấy sông Trường giang chảy mãi trên trời).

– Lưu Trường Khanh: Có ”Tiễn biệt Vương thập Nhất Nam du” gồm 8 câu, thể ngũ ngôn:

Vọng quân yên thuỷ khoát,
Huy thủ lệ triêm cân.
Phi điểu một hà xứ,
Thanh sơn không hướng nhân.
Trường giang nhất phàm viễn,
Lạc nhật Ngũ Hồ xuân.
Thùy kiến đinh châu thượng,
Tương tư sầu bạch tần.

(Vẫy tay tràn nước mắt nhìn theo sông nước khói mênh mông. Chim bay muôn nẻo, ngọn núi này cũng không nhìn ta. Sông Trường Giang một cánh buồm, Ngũ Hồ đã hoàng hôn. Bãi xa kia nào thấy cố nhân khiến cả đám bạch tần cũng tương tư sầu).

– Bùi Dịch: Có ”Tống thôi Cửu ” gồm 4 câu, thể ngũ ngôn:

Qui sơn thâm thiển xứ ,

                           Tu tận khâu hác mỹ,

                           Mạc học Võ lăng nhân,

                           Tạm du Đào Nguyên lý.

(Ẩn mình nơi sơn cùng sâu cạn thì nên chọn nơi có nét đẹp của hang hóc. Đừng nên sống như dân ở Võ lăng. Tạm chơi ở Đào Nguyên rồi về nhé).

– Sầm Than: Có ”Tẩu mã xuyên hành phụng tống Phong đại phu xuất sư Tây Chinh” theo thể tự do:

 Tướng quân kim giáp dạ bất khoát,

                           Bán dạ quân hành qua tương bát.

(Tướng thì đêm về hoàng giáp không cỡi còn quân thì nửa đêm khua giáo lên đường).

– Vương Xương Linh: Có ”Phù Dung lâu tống Tân Tiệm” gồm 4 câu thể ngũ ngôn:

  Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,

                          Bình minh tống khách Sở sơn cô.

                          Lạc dương thân hữu như tương vấn,

                          Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

(Mỗi tối trên sông lạnh vào đất Ngô, sáng sớm tiễn khách tại ngọn núi chơ vơ trên đất Sở. Nếu người thân Lạc Dương có hỏi, thì người ở đây vẫn giữ một lòng băng giá trong bình ngọc).

– Lý Kỳ: Có ”Tống Ngụy Vạn chư kinh” gồm 8 câu, thể thất ngôn:

Triêu văn du tử xướng ly ca,

                          Tạc dạ vi sương sơ độ hà.

(Sáng nay nghe người lãng tử hát khúc biệt ly, đêm hôm qua ghi lòng những giọt tơ sương trên sông).

* Tống biệt thời thịnh Đường là khúc nhạc biệt ly của vợ chồng, của bạn bè, của những người tìm nơi quy ẩn với tiếng lòng thắm thiết cùng cảnh núi rừng thâm cốc, sông lạng, mây sầu, gió hiu, lá rụng, rét buốt kinh người.

Đó là tiếng nói hiện thực của thời đại cuối thịnh Đường đầy loạn lạc.

b. Tống biệt với ba tác giả thời Trung Đường (766-835) : (Lý Dự – Ðường Ðại Tông):

– Lý Ích: Có “Hỷ kiến ngoại đề hựu ngôn biệt” gồm 8 câu, thể ngũ ngôn:

Thập niên ly loạn hậu,

                           Trưởng đại nhất tương phùng.

                            Minh nhật Ba Lăng đạo,

                           Thu sơn hựu kỷ trùng?

(Sau mười năm ly loạn, anh em mới gặp nhau. Sáng mai em về Ba Lăng, anh em lại cách trở muôn trùng thu phải không?).

– Tư Không Thu: Có ”Tặc bình hậu tống nhân bắc du” gồm 8 câu, thể ngũ ngôn:

   Thế loạn đồng nam khứ,

                           Thời thanh độc bắc hoàn.

                        … Hàn Cầm dữ suy thảo,

                           Xứ xứ bạn sầu nhan.

(Vì giặc giã nên cùng lánh nạn ở phương Nam. Nay thanh bình chỉ một người về phương Bắc. Mặt người buồn theo với lũ chim lạnh lẽo cùng cỏ cây héo sầu).

– Lư Luân: Có ”Tống Lý Đoan” gồm 8 câu, thể ngũ ngôn:

 Cố quan suy thảo biến,

                           Ly biệt chính kham bi.

                           Yểm khấp không tương hướng,

                           Phong trần hà sở kỳ?

(Quê cũ cỏ tàn lụi khắp nơi. Chia tay chính lúc buồn. Nay lại chia tay nhưng không nhìn anh bi lụy. Chốn gió bụi khi nào mới gặp nhau?).

* Tống biệt thời Trung Đường là khúc nhạc biệt ly của anh em, bạn bè có bi nhưng không lụy cùng với cỏ cây úa sầu. Đây cũng là tiếng nói hiện thực chính cho một triều đại Trung Đường chỉ toàn giặc giã và loạn lạc.

c. Thời Vãn Đường ( 836-907 ): ( Lý Ngang – Đường Văn Tông)

– Ôn Đình Quân:  Có ”Tống nhân đông du” gồm 8 câu, thể ngũ ngôn:

 Hoang thú lạc hoàng điệp,

                           Hạo nhiên lý cố quan.

                       … Hà dương trùng tương kiến?

                           Tôn tưủ úy nhan.

(Lá vàng rụng nơi đóng quân lạnh lẽo, người vẫn một lòng từ biệt cố hương. Biết ngày nào gặp lại sẽ nâng ly rượu cho anh thôi buồn sầu).

– Tào Đường: Có ”Thiên thu tống biệt” gồm 8 câu, thể thất ngôn:

 Ân cần tương tống xuất thiên thai,

                           Tiên cảnh na năng khước tái lai.

                           Trù trướng khê đầu tòng khử biệt,

                           Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài.

(Ân cần đưa tiễn người xuống núi thiên thai. Cõi tiên chẳng thể cho người trở lại nữa. Thiếp bên đầu suối buồn bã tiễn người. Chỉ còn non xanh với ánh trăng chiếu rọi rêu phong).

* Tống biệt thời Vãn Đường là tiếng nói của những nam nhi thời loạn lạc và những người khuê phụ tiễn người trung nhân trong những chén rượu đầy nước mắt cùng với trăng thanh non ngàn hiu quạnh. Đây là tiếng nói hiện thực của một triều đại cuối Đường với những cuộc khởi nghĩa và cướp bóc. Nó còn là bài ca tống tiễn một thời đại rực rỡ, phồn thịnh nhất trong lịch sử Trung Quốc đi vào dĩ vãng. Thời Đường coi như cáo chung nhưng hiện thực theo văn học đã ở lại với lịch sử văn học Trung Quốc cũng như lịch sử văn học thế giới.

Ðề tài ”Tống biệt” quay trở lại với nền văn học Việt Nam qua dòng thơ “Tiễn biệt”.

2. Những bài thơ Việt Nam trong và ngoài nước có những tựa đề và những câu ”Ðưa tiễn” (trích từ VNTN, VNTNTCVHTN…)

Nếu ”Tống biệt” của Trung Quốc thiên về toàn bộ những cảnh chia ly cha con, chồng vợ, anh em mà đặc biệt là bạn bè thì ”Ðưa tiễn” của Việt Nam nghiêng về chủ đề ”tình yêu” nhiều hơn rồi mới đến bạn bè. Ðó cũng chính là nét khác biệt sáng tạo như một sự ”tách dòng” ra khỏi ảnh hưởng ”một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” (Người viết chỉ lược trích một số câu tạm gọi là tiêu biểu trong một số bài thơ đã đọc qua có liên quan đến thi phẩm TBH của TT).

a. Ðưa tiễn lòng:

– Vũ Đình Liên:

Làn gió heo mây xa hiu hắt

Lạnh lùng chẳng biết tiễn đưa ai.

– Huy Cận:

Có ai tiễn biệt nơi xa ấy

Xui bước chân đây cũng ngại ngùng.

Chân rộn, lòng đau xé
Tay buông, dáng não nùng.
Đứng dừng trông mắt lệ,
Đi bắc cầu nhớ nhung.

Người xa, buồn lại gần
Tai nặng lời giao thân
Ngã ba áo lặn…
Dặm trường thương cố nhân.
                                  (Tiễn đưa)

  – Tế Hanh:

Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt

Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.

(Những ngày nghỉ học)

– Phạm Hầu:

Ðưa tay ta vẫy ngoài vô tận

Chẳng biết xa lòng có những ai?

                                              (Vọng hải đài)

– Nguyễn Đình Thư:

Và đây xa cách không người tiễn

Mắt với trông theo nghĩ chẳng đành.

(Vương tình)

– Nguyên Sa:

Người về lòng tôi buồn hay lòng tôi vui?
Áo không có màu nên áo cũng chưa phai

Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ

 Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

                                                       (Tiễn biệt)

  b. Ðưa tiễn bạn:

– Thế Lữ:

Tôi tiễn anh đi đến tận thuyền

Ðể dài thêm hẹn cuộc tình duyên.

                                        (Bên sông tiễn bạn)

  – Xuân Diệu:

Anh đi đường có hoa

 Tôi nằm trong tủi lạnh.

                                   (Viễn khách)

– Vũ Hoàng Chương:

Kinh Kha hề Kinh Kha

Vinh cho người hề! ba nghìn tân khách

Tiễn người đi tiếng trúc nhịp lời ca.

                                                   (Bài ca sông Dịch)

– Nguyễn Đình Thư:

Ðể giờ lủi thủi người đi

Mai chiều hiu quạnh tà huy tôi buồn.

                                                           (Tống biệt)

– Tố Hữu:

                        Đưa tiễn anh đi mấy dặm đường
Nặng tình đồng chí lại tình đồng hương!
                                                                (Tiễn đưa)

 

– Chu Mạnh Trinh:

“Giấc Mơ” mênh mang mấy thời nghiệp dĩ
Phải: “tôi đưa người hay người đưa tôi”…
Nhủ thầm với lòng đừng nên bước vội
“Nhưng chậm thế nào, thì cũng phải xa nhau”…

(Tháng 4 tiễn biệt Nguyên Sa)

– Huy Cận

Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi

Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi.  

                                                                        (Nhạc sầu)

           c. Ðưa tiễn người yêu:

– Huy Thông:

Chàng ơi! Chàng ở lại.

Chờ vừng hồng tắm nắng chân mây xa.

Và biệt chàng, thiếp xin đi, đi mãi! 

                                            (Anh-Nga)

  – Hàn Mặc Tử:

Lau mắt đi, đừng cho lệ rơi

Vì anh rõ trước sẽ có ngày cách biệt.

Ngó như gầm nhưng thiệt xa khơi. 

                                            (Trường tương tư)

  – Thái Can:

Anh biết em đi chẳng trở về

Dặm ngàn liễu khuất với sương che.  

                                                  (Anh biết em đi )

  – Phan Văn Dật:

Ngày mai chàng lên đường.

Thân gió bụi tuyết sương .

Tối nay còn với thiếp.

Xin cạn chén quỳnh tương. 

                                           (Tiễn đưa)

  – Quách Xuân Sơn:

Ngắn bằng tiếng nấc buồn đưa tiễn

Chẳng ngắn sầu thương đậm tháng ngày. 

                                                                           (Xa)

– Lưu Trọng Lư:

Kẻ ra non nước, người thành thị

Ðôi ngã tình đi, người mỗi nơi. 

                                                   (Tình điên)

Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm

                    Em vẫn nô đùa uống rượu say. 

                                             (Một mùa đông)

  – Huy Cận:

Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt

Xa nhau chỉ biết nhớ vơi đầy. 

                                              (Vạn lý tình)

  – Hoàng Trúc Ly:

Em bảo anh người đi không trở lại

Nấm mồ ai như giọt lệ chưa tan. 

                                                (Gặp người em)

  – Quang Dũng:

Người đi người đi đường quạnh quạnh

Ngày tháng thương vay kẻ đợi chờ. 

                                                              (Cố Quận)

– Vũ Đình Trường – Tâm Tưởng:

Ca khúc cuối cùng cho thương nhớ dài thêm

                  Ôi ly biệt để rồi không gặp nữa.   

                                                       (Mưa về Cao nguyên)

– Nguyễn Phúc Ân Bình:

                         Câu thi tiễn biệt càng ngao ngán,
Chén rượu tương phùng luống ngẩn ngơ.
                                 (Tiễn biệt người tình)

Những khúc nhạt tiễn đưa này sẽ mãi mãi đi theo dòng đời qua từng thời đại, từng thế kỷ với mọi chia ly.

   d. Tiễn đưa với những hình ảnh tráng sĩ, ly khách viễn khách, chinh phu, Kinh Kha:

– Nguyễn  Bính:

Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén.

Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?

Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự.

Hài cỏ, gươm cùn, ta đi đây.

                                                         (Hành phương Nam)

– Huy Cận:

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh người chinh phu

Trong lòng người cô phụ. 

                                         (Tiếng thu)

 

– Thái Can:

Chinh phu ruổi ngựa lên miền Bắc

 Tiếng địch bên thành thổi véo von.  

                                                   (Trông chồng)

 

– Lưu Trọng Lư:

Cây nước say theo người tráng sĩ

Con đò quên cả chuyến sang ngang. 

                                                        (Chiều cổ)

 

– Thế Lữ:

Non nước đương chờ gót lãng du

Ðâu đây vẳng tiếng hát chinh phu. 

                                     (Giây phút chạnh lòng)

 

– Xuân Diệu:

Ðang lúc hoàng hôn xuống.

Là giờ vìễn khách đi.

Nước đượm màu ly biệt.

Trời vương hương biệt ly

                  (Viễn khách)

 

– Gia Phong:

Ðời lữ khách sầu vương luyến nhớ

Dấu chân mòn lối nhỏ đường xưa.

                                 (Tri âm khúc)

 

– Bích Khuyên:

Ðâu tiếng vó câu cuốn bụi hồng.

Ðâu người tráng sĩ của non sông?

Mùa Thu hiu hắt ngoài song cửa.

Em đợi người về mỗi gió Ðông. 

                                            (Em vẫn chờ anh)

Vượt lên trên những bài viết cùng đề tài ”Tiễn biệt”, TT với  ”Tống biệt hành” đã đóng dấu vào Văn học Việt Nam một thi phẩm bất hủ.

 

IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm “Tống biệt hành” (TBH) của Thâm Tâm (TT):

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 1]

    Chuyên luận Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình Văn học Lời giới thiệu Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có một tác giả tạo ra nhiều huyền hoặc, mâu thuẫn nghịch…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 2]

    B: T.T. KH LÀ AI?:     I. Sự liên quan giữa ''Người'' và ''Người ấy'' trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 3]

    b. Những bài thơ của T.T.Kh:                    + Bài số 1: HSHTG.                              Huyền thoại hoa Ti-Gôn Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 4]

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá? 1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình: Bùi Viết Tân kể trong "Thâm Tâm là T.T.Kh?" (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 5]

    Hai bài cùng thi pháp hay không? Điều đáng chú ý: Bài "Các anh" 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách: Hơi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 6]

    * Bích Khê (BK): Trong 74 bài thơ (thivien.net,dactrung.net), có 12 bài: "Mộng cầm ca, Nhạc, Tranh lõa thề, Sọ người, Đồ mi hoa, Bàn chân, Một cõi đời, Trái tim, Cô gái ngây thơ, Cặp mắt,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 7]

     3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính: Đây là "tình nghi viên" sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”. - HT-HC trong "Thi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 8]

    V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?            1. Vài suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 9]

    IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm "Tống biệt hành" (TBH) của Thâm Tâm (TT): Dựa trên bản cũ nhất của HT - HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 1]

    HUYỀN THOẠI HOA TI GÔN - PHẦN II A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất: Thời gian 1937 - 1938, do những va chạm mảng (họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 2]

    4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối... lãnh đủ:               a. "Tiền bối" Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình: Trên (newvietart.com): Về cuốn "T.T.KH - Nàng là ai?": "khen thì…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 3]

    DƯỚI GIÀN HOA MÁU Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là... mơ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 4]

    Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ? Danh từ "nghệ sĩ" chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại... Ví…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 5]

    VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI? * Độc giả: Thưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [PHẦN TÓM LƯỢC]

    HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN TÓM LƯỢC (*) Nhà thơ Thâm Tâm tức Nguyễn Tuấn Trình cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống 1936 bằng làm thơ và vẽ tranh… Tại Hà Nội, anh đã gặp…