3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính:
Đây là “tình nghi viên” sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”.

– HT-HC trong “Thi nhân Việt Nam – Nxb VH – 2003″ ghi: Sinh năm 1919 ở làng Thiện Vịnh, huyện Vụ Bản (Nam Định). Không hề học ở trường, chỉ học ở nhà với cha và cậu. Làm thơ từ năm 13 tuổi. Đã làm gần một nghìn bài. Được giải khuyến khích về thơ Tự lực văn đoàn năm 1937. Đã đăng thơ: Ngày nay, Tiểu thuyết thứ năm, Nam cường. Đã xuất bản: Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi (Lê Cường, Hà Nội 1940), Hương cố nhân (Á Châu, Hà Nội 1941)” (sđd tr 336).

– Bích Thu: Trong “Từ điển tác giả, tác phẩm VHVN, Nxb ĐHSP – 2004” phần NB tr 341): Sinh năm 1918, mất năm 1966, có tên thật là Nguyễn Trọng Bính. Quê gốc: xóm Trại, thôn Thiện Vịnh, xã Cộng Hoà, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ sớm mồ côi mẹ, được cha dạy học ở nhà…”

– Nguyễn Hoàng Khương: Trong “Từ điển VH – bộ mới, Nxb TG – 2004 phần NB tr 1110-1111): “(1918 – 20.I.1966). Nhà thơ việt Nam. Lúc nhỏ tên là Nguyễn Trọng Bính, có thời kỳ lấy tên Nguyễn Bính Thuyết, sinh tại làng Thiệu Vinh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, trong một gia đình nhà Nho nghèo. Mồ côi mẹ từ rất sớm, gia đình túng thiếu, ông phải rời quê theo người anh cả là Nguyễn Mạnh Phát (tức Trúc Đường, nhà viết kịch) ra Hà Đông kiếm sống, khi mới 13, 14 tuổi…”

Chưa nói tới nội dung, HT – HC, Bích Thu, Nguyễn Hoàng Khương hoặc bài trên mạng vi tính đều không nhắc gì tới “Cô gái vườn Thanh – Dòng dư lệ”đã khiến NB trở thành nhân vật khá quan trọng, đầy sức hấp dẫn trong Huyền thoại T.T.Kh. Đó là một thiếu sót khi viết tiểu sử NB. Về năm sinh (1919 hay 1918?) làng, thôn (Thiệu Vinh hay Thiện Vịnh?). Về thông tin cá nhân cũng chưa thống nhất. Tất cả đều không hề có nguồn dẫn ban đầu. Đó là sai sót về tính khoa học của những người nghiên cứu – phê bình văn học.

Với bài “Các anh“, “mẻ kho” của NB là sự phá cách trong lục bát (tức là không đi theo luật bằng trắc) mà trong thơ lục bát của ĐH, VHC hay THT đều không tìm thấy dạng “mẻ kho” này.

– “Các anh”: Bản của MGL trong 8 câu đầu:

Hơi đàn buồn như trời mưa,

Các anh trút nốt âm thừa đi thôi.

Câu 6 từ “BB/TT/BB” đã thành: “BBBBBB” như… súng liên thanh… 6 viên kẹo đồng nổ dòn! Chúng ta sẽ gặp chúng trong lục bát NB:

 

          Hồn anh như hoa cỏ may
Một chiều gió cả bám đầy áo em….

(Hoa cỏ mây)
Ai yêu như tôi yêu nàng 
Họp nhau lại, họp thành làng cho xinh.

                                        (Em với anh)

         Mưa rào rào, mưa ào ào
Trùm chăn say khói thuốc lào đê mê.
                                       (Gió mưa)

       Nàng về làm dâu nhà tôi
Vườn dâu có thẹn với đôi tay ngà.

 (Nhà tôi)

Sự quen tay này, không phải ai cũng “thuận”. Điều này, sẽ khiến cho MGL mất phương hướng khi cho bài “Các anh” chỉ có 16 câu (8 đầu+8 cuối) vì câu lục bát phá cách này đã nằm trong đoạn của bài thơ dài 64 câu mà MGL không công nhận:

Hồn tôi lờ mờ sương khuya

Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời.

Đàn xưa từng chia đường tơ,

Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.

Thi sĩ nào có thể dùng lục bát phá cách trong “Các anh” ngoài NB?

Trong bài thơ “Các anh“, có hai từ “vâng“:

Vâng, tôi biết có một người…

Vâng, tôi biết lắm cánh đồng thời gian

Từ này, chỉ tìm thấy trong thơ NB:

Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa.
                             (Người hàng xóm)

Vâng! chính là cô chửa yêu ai,
Lần đầu đan áo kiểu con trai.
                                 (Vâng)

Thêm một chìa khóa nữa trong câu lục bát phá… làng của NB: “Hơi đàn buồn như trời mưa”  hay “Đàn xưa từng chia đường tơ” là tiếng đàn. NB là thi sĩ hay sử dụng ngón đàn” trong thơ mình:

Lần lần lá rụng rồi đây,
Tơ đàn rã rợi cho tay lỗi đàn.
                         (Chờ mong)

Thơ không làm trọn một bài,
Đàn không gẩy trọn một vài khúc ngâm.

(Không hẹn ngày về)
Đàn ai chùng đứt dây tình
Nổi lên một tiếng buồn tênh rồi chìm.

(Lửa đò)

Khoan đàn, em hãy gắng say
Một đêm, chỉ một đêm nay thôi mà!
…Chưa say, em, đã say gì
Chúng tôi còn uống, còn nghe em đàn
                            (Một con sông lạnh)
Lòng tôi, rối những tơ đàn,
Cao vời những ước, đầy tràn những mơ.
                                                (Tình tôi)

Trong “Tỳ bà truyện“, NB đã cho nhân vật Ngũ Nương đàn… tưng bừng trong ngày “hợp cẩn giao bôi” với Thái Sinh:

Một đàn năm ngón tay tiên,
Một đàn chim mộng triền miên bay về
Đàn như tỉnh, đàn như mê,
Đàn se vời vợi, đàn về đăm đăm,
Tri âm đàn gọi tri âm,
Đàn ngời ánh ngọc, đàn ngâm giọng vàng.
Phải đây là lúc hợp hoan?
Một bàn tay bốn dây đàn nở hoa.
…Khôn ngăn ý đẹp tràn đầy.
Thái sinh nắm lấy bàn tay đương đàn…


Chúng ta chớ nên… lôi Nguyễn Du vào đây vì ông để cho Kiều đánh đàn cho Kim Trọng, đánh đàn hầu Hồ Tôn Hiến… Những thi nhân khác, ai cũng có một vài bài có sử dụng từ “đàn” nhưng họ chẳng ăn nhậu gì đến vụ án T.T.Kh và TT như Hồ Văn Hảo có “Cung đàn đất khách, Tiếng nhạc bên lầu” hoặc những câu thơ có từ “đàn” trong Nguyễn Văn Duy, Thái Thăng Long, Anh Thơ, Lưu Quang Vũ, Nguyên Sa, Võ Quê…

Chưa hết, “mẻ kho” NB với cụm “hạt lệ – dòng dư lệ – nước mắt thừa”:

Bao nhiêu hạt lệ còn thừa

Dành ngày sau khóc những giờ vị vong

Chúng chỉ có trong thơ NB và T.T.Kh mà NB đang là “tình nghi viên”:

Tặng người gọi một dòng thơ

Hay là dòng nước mắt thừa đêm qua.

(Dòng dư lệ )

Giận anh, tôi viết dòng dư lệ (BTCC)

Cho tôi ép nốt dòng dư lệ (BTTN)

– Đoạn trong “Các anh“, NB viết:

Hơi đàn buồn như trời mưa,
Các anh trút nốt âm thừa đi thôi.
Giờ hình như ở ngoài trời,
Tiếng xe đã nghiến đường rời rã đi.

Hồn tôi lơ mờ sương khuya,
Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời.
Vâng, tôi biết có một người,
Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng.
Để hôm sau khóc trong lòng,
Vâng, tôi biết lắm cánh đồng thời gian.

Hôm qua gặt hết lúa vàng,
Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.

Em về đan nốt tơ duyên,
Vào tà áo mới đừng tìm mối xưa.
Bao nhiêu hạt lệ còn thừa,

Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.
Bao nhiêu nương cánh hoa lòng
Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng hồn cha.
Nhắc làm chi chuyện đời ta
Bản thân anh đã phong ba dập vùi…

Cặp từ “anh – em” cũng tìm thấy trong thơ NB qua “Hôn nhau lần cuối”, Thoi tơ”, Tỉnh giấc chiêm bao” có những câu cay chua:

Thư rằng: “Thôi nhé đôi ta

Tình sao không phụ mà ra phụ tình

Duyên nhau đã dựng Trường Đình

Mẹ em đã xé tan tành gối thêu…

… Tình cờ gặp giữ phố đông

Em đi ríu rít tay chồng, tay con

Nét cười âu yếm môi son

Áo bay nhắc buổi trăng tròn sánh vai…

… Em đi hạnh phúc hồng tươi

Anh nhìn tận mắt cuộc đời đẹp thay?

Sắc hương muôn nẻo tuôn trào

Nhắc mà chi giấc chiêm bao một mình…

Từ khóa tìm thấy: “nhắc mà chi/ nhắc làm chi… với e thơ đuộm chua xót cho cuộc tình đã mất. Lời lẽ dùng cho tình yêu trắc trở, này làm gì có “cựu”? bao giờ!

Những từ đồng quê mộc mạc thường thấy trong thơ NB như “Chiều tàn, lúa vàng, chiều tan, đan áo, tơ duyên, tà áo, hoa lòng…” đều nằm trong “Các anh”. NB là nhà thơ của ca dao. NB là nhà thơ của những chuyến xe hoa theo người về bến mộng. Nhưng NB cũng là nhà thơ có những mối hận lòng như THT, VHC. Đừng nói NB không có những bài thơ mang nỗi sầu hận. Vũ Hoàng Chương cũng “Cầu nguyện” nhưng cầu nguyện cho mình “tròn một kiếp say”. Nếu Tagore, Anna Andreevna Akhmatova, Hàn Mặc Tử, Lưu Quang Vũ, Phùng Quán “cầu nguyện dưới chân Chúa, cầu nguyện cho những người nghèo khổ đã chết…” trong đêm Noel, mùa xuân buổi sáng thì NB cầu nguyện cho… nàng “sống mà xem như đã chết” như một lời khuyên “xốc óc” để nàng… “thôi vết hận sâu”:

Cầu nguyện

Nàng hãy vui đi, dẫu một ngày,
Dẫu phần ba phút, góc tư giây.
Dẫu trong thoáng mắt nhìn như chớp,
Cũng đủ cho nàng quên đắng cay.

Nàng đừng nên tưởng tôi không biết
Những nỗi yêu thương, những oán sầu,
Tràn ngập những đêm đầy nước mắt,
Những ngày đầy hận của nàng đâu?

Không, không, tôi biết, nhưng nàng hỡi!
Tôi biết làm sao giữa lúc này?
Giữa lúc nắng không tươi đẹp nữa,
Hoa không buồn thắm bướm không bay.

Giữa lúc tâm hồn trong sáng ấy
Đường mờ như thuỷ mảnh gương phai.
Ngây thơ hấp hối trong nhan sắc,
Đợi hắt hơi thừa một sớm mai.

Khuyên một lời ư? Nhưng biết đâu
Lời khuyên không chạm đến tim đau
Tim đau sẽ vọt ngàn tia máu,
Đọng lại muôn ngày vết hận sâu…

Song tôi phải nói khi oan khổ,
Đã hiện hình lên ám ảnh nàng,
Ai nỡ quay đi không cứu vớt
Lấy người tri kỷ đắm đò ngang.

Nàng sống sao cho khỏi yếu hèn,
Khóc là uỷ mị, chết là điên.
Gây cho hoàn cảnh thêm tươi đẹp
Lọc mãi cho hồn trong sáng lên.

Nàng nên gìn giữ lấy dung nhan,
Chớ tắt khi chưa đến độ tàn,
Chớ hết khi còn và phải mãi
Ngược dòng tàn phá của thời gian.

Và nên thương đến đứa con thơ
Săn sóc ai người những sớm trưa.
Mùa nắng ai người may áo mỏng
Ai người ấp ủ những đêm mưa?

Những câu nhạt nhẽo tầm thường ấy,
Tôi viết ra đây để tặng nàng,
Mong sẽ vì tôi nàng bớt khổ.
Giơ tay cười đón ánh xuân sang.

(Nguời con gái ở lầu hoa)

Những câu khuyên Khánh trong “Các anh” cũng thật “nhạt nhẽo tầm thường” …

+ So sánh thơ Nguyễn Bính với thơ ĐACC của T.T.Kh:

Chủ đề những bài thơ của NB hầu như na ná thơ T.T.Kh đều là tâm sự của một kẻ yêu trong đau khổ dù nhân vật nam hay nữ.

Với nhân vật nam, thơ Nguyễn Bính diễn tả nỗi lòng kẻ có người yêu đã vu quy (Lỡ duyên, Nàng đi lấy chồng…), chiêm bao hoặc yêu thầm (Bến mơNgười con gái ở Lầu Hoa, Cô hàng xóm… ).

Hình ảnh người phụ nữ đan áo len không lạ trong thơ NB:

 

Nàng có bao giờ nghĩ đến không?
Không, nàng đan áo suốt mùa đông,
             (Người con gái ở lầu hoa)

Mơ có năm năm đã vội tàn

Có nàng đan mãi áo len đan.

(Vẩn vơ)
… Chiều nay gió lạnh đấy, nàng ơi!
Tất cả mùa đông đan áo len

(Mùa đông đan áo)

                              Mưa dầm gió bấc cố nhân ơi!
Áo rét nàng đan lỡ hẹn rồi
                                                             (Gởi cố nhân)

Em còn sợ nữa mùa thu tới

Người ấy còn đan áo nữa đâu!

(Khăn hồng)
Thất ngôn của NB cũng… thiên vị làm sao! Cái nàng đan áo len này lạnh lùng trong “tất cả mùa đông” để đan cho “tất cả mọi người” trừ người trong cuộc! Nội dung những bài thơ của NB đã khiến cho người nghiên cứu tìm ra sự giống nhau ở cả hai mặt nội dung và ý tưởng trong T.T.Kh. Rất tiếc là nàng đan áo len mà nhân vật trong bài thơ trên của NB đang tha thiết yêu kia lại không có tư thế “xung phong” để đan áo ấm ra sa trường như “Chuyện tình người đan áo” của Trần Thiện Thanh!

Nội dung từ khóa “đan áo len” trong ĐACC ký T.T.Kh đã tìm thấy trong thơ NB.

– Cặp từ khóa nữa “chị – em“. Đây là cặp từ hiếm hoi trong thơ các “tình nghi viên” nhưng NB đã dùng rất nhiều trong thơ mình:

Lỡ bước sang ngang

I 
Em ơi, em ở lại nhà,
Vườn dâu em hái, mẹ già em thương.
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa.
Cậy em, em ở lại nhà,
Vườn dâu em hái, mẹ già em thương.
Hôm nay xác pháo đầy đường
Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng.
Chuyến này chị bước sang ngang.
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây…
Rượu hồng em uống cho say,
Vui cùng chị một vài giây cuối cùng.
Rồi đây sóng gió ngang sông,
Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ.
Miếu thiêng vụng kén người thờ.
Nhà hương khói lạnh chị nhờ cậy em.
Đêm qua là trắng ba đêm,
Chị thương chị, kiếp con chim lìa đàn.
Một vai gánh vác giang san,
Một vai nữa gánh muôn vàn nhớ thương.
Mắt quầng, tóc rối tơ vương,
Em còn cho chị lược gương làm gì!…
Một lần này bước ra đi,
Là không hẹn lại ngày về nữa đâu.
Cách mấy mươi con sông sâu,
Và trăm ngàn vạn nhịp cầu chênh vênh.
Cũng là thôi, cũng là đành!
Sang sông lỡ bước riêng mình chị đâu?
Tuổi son nhạt thắm phai đào,
Đầy thuyền hận có biết bao nhiêu người?
Em đừng khóc nữa, em ơi!
Dẫu sao thì sự đã rồi nghe em!
Một đi bảy nổi ba chìm.
Trăm cay nghìn đắng con tim héo dần.
Dẫu em thương chị mười phần,
Cũng không ngăn nỗi một lần chị đi.
Chị tôi nước mắt đằm đìa,
Chào hai họ để đi về nhà ai.
Mẹ trông theo, mẹ thở dài,
Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran.
Tôi ra đứng ở đầu làng,
Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa.
II
Trời mưa ướt áo làm gì?
Năm mười bảy tuổi chị đi lấy chồng.
Người ta pháo đỏ rượu hồng,
Mà trong hồn chị một vòng hoa tang.
Lần đầu chị bước sang ngang,
Tuổi son sông nước, đò ngang chưa tường.
Ở nhà mẹ nhớ em thương,
Ba gian trống, một mảnh vườn xác xơ.
Mẹ ngồi bên cửi se tơ,
Thời thương nhắc “Chị mày giờ ra sao?”
“Chị bây giờ… nói thế nào?
Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang.
Chị từ lỡ bước sang ngang,
Trời dông bão, giữa tràng giang, lật thuyền.
Xuôi dòng nước chảy liên miên,
Đưa thân thế chị tới miền đau thương.
Mười năm gối hận bên giường,
Mười năm nước mắt bữa thường thay canh.
Mười năm đưa đám một mình,
Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên.
Mười năm lòng lạnh như tiền.
Tim đi hết máu! Cái duyên không về!
Nhưng em ơi! Một đêm hè,
Hoa soan nở, xác con ve hoàn hồn.
Dừng chân trên bến sông buồn,
Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang.
Đoái thương thân chị lỡ làng,
Đoái thương phận chị dở dang tháng ngày,
Rồi… rồi… chị nói sao đây?
Em ơi nói nhỏ câu này với em.
Thế rồi máu chảy về tim,
Duyên làm lành chị, duyên tìm về môi.
Chị tôi lòng ấm lại rồi,
Mối tình chết đã có người hồi sinh.
Chị từ dan díu với tình,
Đời tươi như buổi bình minh nạm vàng.
Tim ai khắc một chữ “Nàng”,
Mà tim chị một chữ “Chàng” khắc theo.
Nhưng yêu chỉ để mà yêu,
Chị còn dám ước một điều gì hơn.
Một lầm hai lỡ keo sơn,
Mong gì gắn lại phím đờn ngang cung.
Rồi đêm kia, lệ dòng dòng,
Tiễn đưa người ấy sang sông, chị về.
Tháng ngày qua cửa buồng the,
Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa.
III
Úp mặt vào hai bàn tay,
Chị tôi khóc suốt một ngày một đêm!
Đã đành máu chảy về tim,
Nhưng không buột nổi cánh chim giang hồ,
Người đi xây dựng cơ đồ,
Chị về trồng cỏ nấm mồ thanh xuân;
Người đi khoác áo phong trần,
Chị về may áo lịm dần nhớ thương.
Hồn trinh ôm chặt chân giường,
Đã cùng chị khóc đoạn trường thơ ngây.
Năm xưa đêm ấy giường này,
Nghiến răng… nhắm mắt… cau mày… cực chưa?
Thế là tàn một giấc mơ,
Thế là cả một bài thơ não nùng!
Tuổi son má đỏ, môi hồng,
Bước chân về đến nhà chồng là thôi.
Đêm qua mưa gió đầy trời,
Trong hồn chị có một người đi qua.
Em về thương lấy mẹ già,
Đừng trông ngóng chị nữa mà uổng công
Chị giờ sống cũng bằng không,
Coi như chị đã sang sông đắm đò! …

(Lỡ bước sang ngang)

Tình đời nớt nả sang sông
Chị tôi buộc thắm, giam hồng lênh đênh
Chiều nay thương nhớ vào thành
Ngất ngây rượu uống một mình cũng say
Nón mề ai ghé qua đây?
Áo kia ai tím? Môi này ai tươi?
Có lần em tính, chị ơi
Làm quà cho chị một người em dâu!
Nhưng mà làm lỡ duyên nhau
Thì em hẹn đến kiếp sau cho đành
(Một chiều say)

Viết cho chị cánh thư này,
Một đêm lữ thứ em say rượu cần.
Nhớ người cách một mùa xuân,
Hình như người đã một lần sang sông.
Ồ! Say! Thương nhớ vô cùng,
Rượu hay lệ ướt khăn hồng chị ơi!
Làm sao giấc ngủ không dài ?
Mà đêm không ngắn, mà trời cứ mưa ?
Làm sao em sống như thừa ?
Cố đem men rượu tẩm vừa lòng đau.
Kể từ hai đứa thôi nhau,
Em thường chả có đêm nào không say .
Sao em đơn chiếc thế này ?
Sao em lại khóc như ngày chị đi …?
(Thư cho chị)

Ta không để ý tới nhân vật nam hay nữ xưng “em” trong thơ NB mà chỉ chú ý tới cách xưng hô “chị – em” ngọt xớt trong thơ NB. Lục bát của NB mang tình “chị – em” đó thả vào ĐACC viết cùng THT ba đoạn sau:

“Chị ơi! Nếu chị đã yêu

Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương,

Đã xa hẳn quãng đời hương,

Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng.

 

Biết chăng chị? Mỗi mùa đông,

Đáng thương những kẻ có chồng như em.

Vẫn còn thấy lạnh trong tim,

Đan đi đan lại áo len cho chồng.

 

Lòng em khổ lắm chị ơi!

Trong bao tủi cực với lời mỉa mai.

Quang cảnh lạ, tháng năm dài,

Đêm đêm tưởng tới  ngày mai, giật mình!”

Ta đọc thơ lục bát của ĐH “Bài hát mùa thu, Hoa bay về ngàn, Tâm tình cuối năm, Mái tóc viễn phương, Hoa rơi yên ngực, Thủy mặc, Xuân ấm hương rừng…” chứa toàn là đồ “quý”, “vật lửng lơ” như “những ngọc lưu ly, ngọn cồn bóng sương, em đi hoài cảm một mình, đàn lả cung thương, soi gương tư tình, mây giăng cánh bướm, sông rừng uốn khúc, phong lan nõn nà, lưu lạt hồn quê, thướt tha suối thề, viễn phương mái tóc, hoa nở xuân cùng, dòng suối xanh, chum hoa trắng, bóng thêu hoa nắng, ái tình đỏ sắc hoa rơi, huyền âm chín cõi, mùi phấn giao mùa, buông trùng sóng hoa, ánh mắt trăng tà…”. Chúng chẳng chút hơi hướng “đan áo, chim lồng, thở than thân phận” của ĐACC như thơ THT và NB.

NB là T.T.Kh? Tại sao không?

Nội dung hai câu này trong “Mùa đông đan áo“:

Tôi đành ngậm miệng nữa mà thôi
Tôi quen ngậm miệng với tình xưa

thì lại giống ý câu thơ của T.T.Kh trong BTTN:

Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:

“- Cố quên đi nhé, câm mà nín

Đừng thở than bằng những giọng thơ”.

trong BTCC:

Ba năm ví biết anh còn nhớ

Em đã câm lời, có nói đâu!

Bài giống cả nội dung HSHTG là bài “Bao nhiêu đau khổ của trần gian” tới 122 câu thất ngôn: Trích đoạn:

Nhưng mùa đông ấy, sau xe cưới,
Pháo đỏ giǎng dây thắm trước lầu
Chú rể vui mừng châm lửa đốt
Đốt tan mộng đẹp của cô dâu.

Trước tài sắc ấy, người chồng ấy
Không cảm, không yêu, chẳng hiểu gì
Nàng biết từ đây đường hạnh phúc
Của nàng ngày một ngắn dần đi.

Nàng có ngờ đâu đến nỗi này
Lỡ làng chôn hết tuổi thơ ngây.
Sống trong buồn tẻ, trong đau khổ,
Với mảnh hồn đơn của những ngày.

Mắt đầy ngấn lệ, lời đầy lệ
Mỗi buổi thu sang gió lạnh nhiều
Tình rụng tự mùa thôi rụng lá
Biết tìm đâu phấn hương yêu.

Bỗng một ngày hè hoa phượng thắm,
Nở đầy trong lá phượng xanh tươi.
Trải dài thắm đỏ con đường trắng,
Nàng thấy đi trên thảm một người.

Người ấybụi hồng phong nếp áo
Đi theo tiếng gọi của vinh quang
Nhưng nay dừng bước trên hoa rụng,
Người thấy đâu đây một nhỡ nhàng.

… Hôm nay đã cuối thu rồi lạnh
Nàng hãy mang theo bóng dáng tôi
Cho ấm lòng mình khi lỡ bước
Mưa phùn trên quán trọ xa xôi”.

Người ấy đi rồi … Nàng trở lại
Hờ hai mắt đọng một u sầu.
Buồng hương hoa héo mùa thu hắt
Qua lá mành tương đã lạt màu.

Bao nhiêu ân ái thế là thôi.
Là bấy nhiêu oan nghiệt, hỡi giời.
Nghẹt dưới bàn tay thần định mệnh,
Nàng đương dệt tấm hận muôn đời.
Hà Đông 1938

Một mối tình dang dở. Một đám cưới mùa đông năm ấy. Một mùa thu kỷ niệm năm này. “Người, Người ấy” (được nhắc ba lần) ra đi. Nàng kia ở lại.

Đem cái câu:

Người ấy đi rồi… Nàng trở lại

Hờ hai mắt động một u sầu.

Buồng hương hoa héo mùa thu hắt
Qua lá mành tương đã lạt màu.

Hay:

Rồi đêm kia, lệ ròng ròng

Tiễn đưa người ấy, sang sông chị về.

(Lỡ bước sang ngang)

để bên cạnh câu thơ trong BTTN, nội dung y chang:

Thổi tan âm điệu du dương trước

                   Và tiễn người đi bến cát xa…

                    Ở lại vườn Thanh có một mình

                   Tôi yêu lá rụng lúc tàn canh.

Đoạn thơ này:

Người ấy, bụi hồng phong nếp áo
Đi theo tiếng gọi của vinh quang
Nhưng nay dừng bước trên hoa rụng,
Người thấy đâu đây một nhỡ nhàng.

đặt bên HSHTG của T.T.Kh:

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng

Giải đường xa vút bóng chiều phong

Và phương trời thẳm mờ sương cát

Tay vít cành hoa trắng, chạnh lòng.

“Người ấy” của hai tác giả đều là người của phong sương. Bối cảnh đều có hoa: Hoa rụng để lại ngỡ ngàng (Nguyễn Bính). Hoa trắng để rồi chạnh lòng (T.T.Kh). Hay câu “Mỗi buổi thu sang gió lạnh nhiều” của NB không khác gì câu “Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều?” của T.T.Kh. Hoặc câu “Không cảm, không yêu, chẳng hiểu gì” của NB lại như câu “Thuở ấy nào tôi có hiểu gì” của T.T.Kh.

 Những thi sĩ khác hay dùng “thi sĩ”, NB dùng “nghệ sĩ”:

            Ta vẫn là nghệ sĩ
ta vẫn là nhà thơ
nghệ thuật vẫn chung thủy
không chết yểu bao giờ.

(Thư gửi Trần Huyền Trân)

Trong “Lỡ bước sang ngang“, Nguyễn Bính có nhắc tới “nhà nghệ sĩ”:

           Dừng chân bên bến sông buồn,
Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang.

“Nhà nghệ sĩ” mà trong BTTN, T.T.Kh đã nhớ:

Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại

Êm ái trao tôi một vết thương.

 

– NB cũng dùng “dòng nước mắt thừa – dòng dư lệ“:

Tặng người gọi một dòng thơ

Hay là dòng nước mắt thừa đêm qua.

T.T.Kh cũng dùng nó đến hai lần trong hai bài:

Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên

(BTTN)

Giận anh, em viết dòng dư lệ

Là chút dư hương điệu cuối cùng

                                       (BTCC)

Ta thấy trong TBH, TT có dùng từ này cho hai người chị “khuyên nốt em trai dòng lệ sót”. Thế nhưng, đã xét phần đầu, TT vô can trong hai bài thơ ký T.T.Kh này.

Những từ “thu”, chúng ta không cần xét vì nó lủ khủ trong thi đàn.

Rõ ràng, thơ T.TKh có nội dung nào, chi tiết nào, thơ Nguyễn Bính cũng không thiếu. Bây giờ, chúng ta chỉ còn nhờ cách tìm “mẻ kho” trong “tài sản” hai tác giả để xem thử  “người ấy” của T.T.Kh là ai?

Mẻ kho? Nôm na là cái chén bể. Nó chỉ có trong những nhà nghèo mạt rệp. Chuyện “Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho” đành thua đau, mất cho quan nọ cả gia tài để biến thành con Thằn Lằn tiếc của mà tắc lưỡi trên vách. Mẻ kho ở đây được hiểu nôm na chính là cái mà hai tác giả phải có kẻ có người không. Đó là cái gì đây? Lại trò Lô tô đánh đố độc giả? Bởi vì trong thơ hai tác giả, cái nào cũng không thiếu. Thế nhưng, khi chúng ta hỏi NB: Hoa Ti-Gôn của anh đâu? NB chẳng có! Trong bốn bài của T.T.Kh thì hết ba bài đã có! Trường hợp Thanh Châu và T.T.Kh có cùng “cánh hoa tim – ti-gôn” thì như thế nào? Ta xét sau.

Thế nhưng, thơ lục bát của NB đã từng mang “hơi hám” của Nguyễn Du nên thơ 7 chữ của Nguyễn Bính có mang “hơi hám” của T.T.Kh cũng không có gì lạ. Những bài thơ tình 7 chữ của NB đều ra sau T.T.Kh. Chúng cũng có cái hậm hực của một cuộc tình dang dở bên cạnh những tâm tình tôi – nàng mộc mạc, ai cũng nhận ra ngay.

Điểm đặc biệt:

BTTN là bản sao của HSHTG. BTCC là bản sao của BTTN. Giọng thơ giống nhau. Chúng cùng mở đầu bằng cách gieo vần trắc “Thuở trước hồn tôi phơi phới quá/ Anh hỡi! Tháng ngày xa quá nhỉ?”, chúng ta cũng có thể thấy trong thơ thất ngôn của NB mở đầu cũng vần trắc:

Mùa thu đến chậm như chưa đến,
Lá vội rơi theo gió vội vàng,
Sương đã dâng lên, chiều lắng xuống,
Bến đò đã tắt chuyến sang ngang.
                                      (Quán lạnh)

I
Mùa vải năm nay chừng đến muộn
Chưa nghe tu hú giục xuân đi.
Nóng lòng cây gạo lìa hoa đỏ
Trổ búp tơ xanh đón gió hè.
II
Xếp lại chăn bông cùng áo dạ
Mở toang bốn cửa cất then cài
Nắng lên mất thú ngồi bên lửa
Mùa hết hoa rồi, bạn với ai ?
(Nam Định 3-1960 – Tháng ba)

Hoa đào từng cánh rơi như tưới
Xuống mặt sân rêu những giọt buồn,
Như những tim tình tan vỡ ấy,
Nhện già giăng mắc sợi tơ đơn.

Hôm nay bắt được thư Hà Nội

Cho biết tin Dung đã đẻ rồi

(Oan nghiệt)

Ở chòi hẹp nhưng hồn chìm vũ trụ
Trái tim đau vì thương cả loài người
                         (Người của ngày mai)

Trời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài mãi đến mấy ngày.
                               (Trời mưa ở Huế)

Em ạ! Ngày xưa vua nước Bướm

Kén nhân tài mở Điệp lang khoa.

(Chuyện cổ tích)

Học trò trường huyện ngày năm ấy
Anh tuổi bằng em lớp tuổi thơ
                         (Trường Huyện)

Từ buổi thu sang, sầu lá rụng,
Liễu gầy thôi buộc ngựa vương tôn.
                                (Vườn xuân)

Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh,
Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ.
                         (Viếng mồ trinh nữ)

Đố chị thư này ai viết nhé,
Chị ơi, em bé chị đây mà!
                      (Xuân nhớ)

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
               (Xuân tha hương)

Xuân tha hương” rồi “Xuân vẫn tha hương” “Gởi chị Trúc“, “Xuân về“, NB vẫn gieo vần trắc đầu câu như trên. Trong hai bài BTTN và BTCC có những đoạn cuối cùng yếu dần về nội dung. Non nớt về giá trị nghệ thuật biểu cảm, chứ không nói nghệ thuật gieo vần. Tức là tác giả như… Trình Giảo Kim đời Đường Thái Tông, đánh đủ “ba búa” rồi… bỏ chạy:

Như tiếng chân người len lén đến

Song đời nào dám gặp ai về

Tuy thế tôi tin vẫn có người

Thiết tha theo đuổi nữa, than ôi!

 

Mưa buồn, mưa hắt trong lòng ướt

Sợ quá đi anh… có một người…

Hiểu được? Chết liền! (xem phần phân tích TT để thấy vì sao TT không là tác giả những bài ký Thâm Tâm và ba bài thơ ký T.T.Kh).

4. Tình nghi viên… Đinh Hùng:

NTL ghi trong VNTNTCTT: “Đinh Hùng là tên thật, sinh ngày 03-07-1920 tại làng Trung Phụng kế cận Hà Nội, chính quán tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông nay là tỉnh Hà Tây…. mất ngày 24-08-1967 tại Sài Gòn… Nhà thơ Đinh Hùng đưa ta vào một thế giới xa lạ – thế giới siêu tưởng…”

Thơ văn: “Năm 1943, ông cho xuất bản tập văn xuôi ‘Đám ma’ (nhà Tân Việt xuất bản) và đăng thơ trên tạp chí Văn Học; Hà Nội Tâm Văn (của Vũ Ngọc Phan), Giai Phẩm Đời Nay (của Tự Lực Văn Đoàn)… Năm 1961, Đinh Hùng cho in tập ‘Đường vào tình sử’ gồm 60 bản. Năm 1967, ông cùng nhà thơ Phổ Đức chủ trương tờ Tao Đàn Thi Nhân, tuần báo thuần túy về thi ca…”.

Vì là nhà thơ chuyên nghiệp thể 8 chữ với các gieo vần 2-3 độc đáo trong hầu hết toàn bộ thơ 8 chữ mà không một nhà thơ nào cùng thời và cùng nhóm bạn TT làm được. Cách gieo độc đáo này cùng với nội dung những bài thơ 8 chữ “ăn khớp” với cách gieo vần 2-3 trong thơ 8 chữ “Dang dở” ký Thâm Tâm nên Đinh Hùng đã được xác định là người làm bài “Dang dở”.

Cũng vì thuộc dạng thơ “siêu tưởng” với những giá trị nghệ thuật tu từ thậm xưng, các dùng thán ngữ cộng lối xưng hô khác cách những tình nghi viên khác nên ĐH cùng THT là song tác bài “Màu máu Ti-Gôn” đã xét trên.

Trong thể lục bát đang nằm trong nghi vấn, có hai bài lục bát: “Các anh” ký Thâm Tâm và ĐACC ký T.T.Kh.

Trong ĐACC có hình ảnh “chim lồng” là từ khóa và danh từ xưng hô “Chị – Em” mà thơ ĐH chưa tìm thấy. Chúng ta chỉ thấy thơ ĐH có những “Cánh chim dĩ vãng, Bầy chim bên suối, Tiếng vang chim lạ gọi mình…” không phải là ẩn dụ cho kiếp số bị giam cầm. Thế nhưng, bài thơ dài 64 câu này vẫn có “hơi hám” của thơ ĐH với những thán ngữ, những “siêu tưởng” và cách xưng hô “anh – em” rất “ngọt” và rất “cay” đã tìm thấy trong thơ ĐH và bài “Màu máu Ti-Gôn”.

ĐH viết những đoạn này:

Tiếng xe trong vết bụi hồng,
Nàng đi thuở ấy, nhưng trong khói mờ
Tiếng xe trong xác pháo xưa,
Nàng đi có mấy bài thơ trở về,
Tiếng xe mở lối vu quy
Hay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời
Miệng chồng, Khánh gắn trên môi
Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ,

Khánh ơi! Còn hỏi gì anh?
Lá rơi đã hết mùa xanh mùa vàng.
Chỉ kêu những tiếng thu tàn,
Tình ta đã hết anh càng muốn xa.
Chiều tàn chiều tắt chiều tà,
Ngày mai ngày mốt đều là ngày nay,
Em quên mất lối chim bay,
Và em sẽ chán trông mây trông mù.
Đoàn viên từng phút, từng giờ,
Đời yên lặng thế em chờ gì hơn,
Từng năm từng đứa con son,
Mím môi vá kín vết thương lại lành.
Khánh ơi! Còn đợi gì anh?
Xưa tình đã lỡ nay tình lại nguyên.

So với cặp từ “anh – em” cay đắng trong thơ ĐH, Vũ Hoàng Chương thể hiện “anh-em” như một “vườn tâm sự” chỉ để “thương xót những đêm tàn lá rụng”, thương nhớ “một dĩ vãng tràn thơ và đẫm lệ” mà thôi, không đắng chát với người con gái nào qua thơ VHC.


      IV: Ai là người yêu của T.T.Kh:

1. Tình nghi viên J. Leiba – Lê Văn Bái  (bút hiệu Thanh Tùng):

– HT – HC (TNVN trang 232) cho biết J. Leiba đã viết cho “Ngọ Báo, Loa, Tin văn, L’ Annam Nouveau, Tiểu thuyết thứ bảy, Ích hữu, Việt báo, Nam cường).

– Thanh Châu bổ sung thêm: “Leiba có thời gian ngắn làm cho báo Ích Hữu (của Tân Dân) sau đó thi đổ, ra làm ông phán tòa sứ Sơn-Tây rồi mất (1941). Leiba là lớp trước Thâm Tâm, không quen biết gì nhau”. (VNKNQH, NTK, sđd)

– NTL chua thêm: “Theo một nguồn tin, J.Leiba đã chết trong thời kháng chiến chống Pháp vào khoảng 1948“.

NTL có lẽ “khoái” năm 1948 lắm, hết cho TT chết năm 1948 rồi cho J.Leiba theo luôn như “ngày trùng” văn sĩ! Hèn nào, J.Leiba than: “Người đẹp vẫn thường hay chết yểu. Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai” trong “Hoa bạc mệnh”.

J. Leiba vì cảm T.T.Kh nên khi đem bài ĐACC đăng trên Ngọ Báo có ghi 4 câu tặng T.T.KH.:

“Anh chép bài thơ tự trái tim

Của người thiếu phụ lỡ làng duyên

Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ

An ủy anh và để tặng em.”

                                J. Leiba

Như vậy, J. Leiba đã “quang minh chính đại” ký tên mình. Anh không thể nào là tác giả T.T.Kh và thơ của J. Leiba hình như không có bài nào là lục bát, còn thể loại thất ngôn như “Bến giác”, “Hoa bạc mệnh”, “Mai rụng”, “Năm qua”, “Bốn mùa yêu đương”, “Sinh, Luỵ, Tử” ,”Xích tùng tử” , “Thu nga”, “Thu xưa” thì giọng thơ lơ mơ ở bên trời nào đó không giống giọng thơ T.T.Kh. hay giọng thơ ký bút hiệu Thâm Tâm trong các bài thơ: “Dang dở, Màu máu Ti-Gôn, Các anh”. Thế nhưng, J. Leiba có một bài “Thu xưa” làm… giật mình người nghiên cứu T.T.Kh:

Thu xưa

Một chiều ủ rũ bên sông vắng

Mà cánh phù dung đỏ khắp bờ

Người đẹp chờ thuyền sang bến mộng

Màu da màu áo trăng như mơ.

 

Môi hồng thiếu phụ buồn man mác

Hoa rụng trong thu gợn ngậm ngùi

Một cánh hoa rơi rồi một cánh

Lòng ta tàn một chút gì vui.

 

Buồn vướng mắt nhung xinh đẹp quá

Âm thầm ủ một mộng yêu đương

Thu xưa, từ độ thu xưa lắm.

Hằn một tình duyên đã lỡ làng.

 

Bờ thu đỏ nhuộm màu hoa rụng

Chẳng một con thuyền đậu bến sông

Thiếu phụ mong gì? Hoa đã rụng

Trời chiều lại lỡ một chờ mong!…

 

… Lòng tôi buồn bã từ hôm ấy

Và mỗi chiều thu nắng đẹp tàn.

Nhìn cánh phù dung nơi bến vắng,

Nhớ người thiếu phụ, nhớ yêu đương.

*

Em buổi ngây thơ mười bốn tuổi

Mắc vòng truỵ lạc trót hai năm

Hoa tàn còn biết chi vui nữa,

Thân đã vô tình với ái ân.

 

Câu thơ đầu kết lại cũng vần… trắc: “Một chiều ủ rũ bên sông vắng” như “Thuở ấy hồn tôi phơi phới quá” của T.T.Kh. Những câu tả cảnh: “Bờ thu đỏ nhuộm màu hoa rụng”, “Thu xưa, từ độ thu xưa lắm” na ná như trong HSGTG: “Chiều thu hoa đỏ rụng. Chiều thu” , “Một mùa thu trước rất xa xôi“. Thế nhưng “hoa đỏ” của J.Leiba là hoa Phù Dung chứ không phải hoa Ti-Gôn, người viết… thở phào! Băn khuăn hỏi tác giả “Thu xưa“: Có phải em nhỏ 14 tuổi kia đã thành… thiếu phụ vì “mắc vòng truỵ lạc” rồi mới đi lấy chồng. Nếu không, sao chưa gì, “người đẹp chờ thuyền sang bến mộng” mà gọi là… “môi hồng thiếu phụ buồn man mác“?

J.Leiba và TT cũng chẳng hề quen biết nhau cho lắm. Chẳng qua mến thơ mà đề thơ tặng mà thôi.

Ví dụ Xuân Diệu lấy câu thơ của Hồ Xuân Hương “Bao giờ thông thả lên chơi nguyệt” đặt trước bài thơ “Đã tới mặt trăng” của mình. Vũ Đình Liên lấy câu thơ “Quá quan này khúc Chiêu Quân” của Nguyễn Du đặt lên đầu bài thơ “Chiều xuân” hay lấy bốn câu thơ của Thế Lữ đặt trong bài “Chia phôi” của ông…. Nếu vì thơ đề tặng mà “chụp mũ” người đó là người yêu thì các nhà Thơ Mới, ai cũng có thơ đề tặng… nhau cả: Nguyễn Bính tặng Hoàng Tấn, Trần Huyền Trân, Nguyễn Du, Tản Đà; Bích Khê tặng Hàn Mặc Tử; Trần Huyền Trân tặng… Phạm Ngũ Lão, Quách Thị Hồ, Việt Châu, Thâm Tâm; Xuân Diệu tặng Thế Lữ, Huy Cận; Vũ Hoàng Chương tặng Lư Trọng Lư… coi chừng thành… đồng tình luyến ái!

Chúng ta loại bỏ J.Leiba là người yêu của T.T.Kh tại đây.

2.          Tình nghi viên Thanh Châu (TC):

Trên web (binhthuan.gov.vn): “khai sinh: Ngô Hoan, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1922. Quê quán: huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Trình độ văn hóa: trung học (Pháp). Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Trước Cách mạng tháng Tám, Thanh Châu làm báo, viết văn ở Hà Nội (từ những năm 30); Kháng chiến chống Pháp ông tham gia quân đội (Đại đoàn 304), phụ trách báo Vệ quốc quân và là thông tin viên báo Quân đội nhân dân; Sau hòa bình (1954): làm báo Văn nghệ, báo Văn.  Tác phẩm đã xuất bản: Trong bóng tối (truyện ngắn, 1936); Người thầy thuốc (truyện ngắn, 1938); Tà áo lụa (tiểu thuyết, 1942); Cái ngõ tối (truyện vừa, 1944); Cún số 5 (truyện thiếu nhi, 1942, 1950, 1957 và 1994); Vàng (truyện thiếu nhi, 1950); Những ngày trao trả tù binh (phóng sự, 1954); Không rời quê hương (phóng sự, 1955)”.

Bài viết không nhắc gì tới hiện tượng truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn” nổi đình, nổi đám một thời, lại dính tới ẩn số T.T.Kh. – nhân vật huyền thoại trong văn học Việt Nam. Năm sinh 1922 chắc là viết nhầm?

Trong “Từ điển, tác giả, tác phẩm văn học“, sđd tr 656-657, phần TC của Lưu Khánh Thơ: “Nhà văn Thanh Châu, sinh ngày 17.9.1912, tên thật là Ngô Hoan. Quê gốc: huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Trước Cách mạng tháng Tám, Thanh Châu làm báo, viết văn ở Hà Nội (từ những năm 30), cộng tác chủ yếu với tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy (ra đời năm 1934)… Thanh Châu bắt đầu được dư luận chú ý với truyện ngắn Hoa Ty gôn cũng là một truyện tình yêu. Câu chuyện giản dị nhưng được viết một cách duyên dáng, ngọt ngào, pha chút ngậm ngùi, nuối tiếc. Xuất hiện trên Tiểu thuyết thứ bảy, câu chuyện đã chiếm được tình cảm của người đọc, làm xao xuyến trái tim bao người…”.

Trong “Từ điển VH – bộ mới”, sđd tr 1631-1632, phần TC của Văn Tâm: (Sinh 17.IX.1912). Nhà văn Việt Nam. Tên thật: Ngô Hoan. Quê nội: Nghệ An. Quê ngoại: Thanh Hóa. Sinh tại thị xã Thanh Hóa, trong một gia đình công chức. Học tiểu học ở Thanh Hóa…Tình tứ mơ màng buồn thương trong tác phẩm của ông kích thích cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, như trường hợp truyện ngắn Hoa Tigôn (1937) đã khơi dậy men thơ cho T.T.Kh. sáng tác bài thơ nổi tiếng: Hai sắc hoa ti gôn. Từ 1945 trở đi, Thanh Châu viết không đáng kể và ông đã từng ngưng bút sau bài báo Mua hàng mậu dịch (1956)”.

Nhưng chúng ta thấy rằng Thanh Châu đã trở lại văn đàn ít nhất với một bài báo dài: “Nói thêm về T.T.KH.” năm 1990 (Thâm Tâm và T.T.Kh, Hoài Việt sđd hay “Về những kỷ niệm quê hương“, NTK, sđd).

Thanh Châu đã viết truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn” đăng trên TTTB tháng 9-1937 (theo HT – HC trong TNVN), đăng tháng 7/1937 theo tác giả và đăng tháng 6/1937 theo các mạng trùng nhau (không nguồn gốc nên không có giá trị tư liệu văn học).

Chúng ta đã xét và loại trừ tháng 6, tháng 7 cho bài “Những cánh hoa tim“.

Thanh Châu là nhà báo, nhà văn. Những truyện ngắn của ông ngoài “Hoa Ti-Gôn” mà chúng ta đã xét ở phần trên, ông không có một truyện nào đề cập tới nội dung giống như nội dung những bài thơ T.T.Kh. Thanh Châu không phải là nhà thơ. Đây là điều hiển nhiên để những thông tin “bé cái nhầm” khi gán T.T.Kh là người yêu của ông như Thế Nhật. Thế Nhật cho T.T.Kh hờn Thanh Châu trong “Từ đây anh hãy bán thơ anh” là tréo cẳng ngỗng. Nếu đúng thì phải viết như vầy: “Từ nay anh hãy bán… văn anh” hay “Từ đây anh hãy bán… báo anh” thì hợp… gu ngay!

Cảm hứng chủ đạo của truyện ngắn  “Hoa Ti-Gôn”, Thanh Châu đã nói rõ trong bài viết “Những cánh hoa tim” (đã đăng trên TTTB ngày 4 tháng 9 năm 1939). Giữa Thanh Châu và T.T.Kh chẳng có quan hệ gì với nhau. Chúng ta đừng lấy đất sét nặn ra cái bánh vẽ mà… ăn không được, nuốt không trôi!

 3. Tình nghi viên Nguyễn Bính:

TT kể, Hồ Thông ghi: “Bài thơ Dòng dư lệ của Nguyễn Bính là một thí dụ. Bài này mới đầu nhan đề là Cô gái vườn Thanh. Khi in trong tập Lỡ bước sang ngang mới đổi lại đề”.

TT kết luận: “Các anh ấy chỉ cảm xúc xót thương thôi chứ không hề có ác ý hoặc bôi bác”.

Nguyên nhân nào NB bị nghi ngờ là T.T.Kh?

NB đã viết bài “Dòng dư lệ” (Cô gái vườn Thanh) gồm 95 câu lục bát làm vì xúc cảm T.T.Kh.

Dòng dư lệ

Tặng T.T.Kh
           ( Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên)
T.T.Kh.
 

Gió đưa xác lá về đường,
Thu sang nhuộm cả sầu thương một trời.
Sầu thương quyện lấy hồn tôi,
Đêm qua ngồi đọc thơ người xa xǎm.
Một ngàn nǎm, một vạn nǎm,
Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ.
Tặng người gọi một dòng thơ,
Hay là dòng nước mắt thừa đêm qua.
Đường về Thanh Hoá bao xa?
Bao giờ ra nhớ rủ ta với, chàng!
Bảo rằng quan chẳng cho sang,
Ai đời quan cấm đò ngang bao giờ!
*
Vườn Thanh qua đấy nǎm xưa,
Trọ nhờ đêm ấy trời mưa tối trời.
Quanh lò sưởi ấm, bên tôi,
Bên người lão bộc đương ngồi quay tơ.
Tuổi nàng nǎm ấy còn thơ,
Còn bao lời hứa đợi chờ một mai.
(Rồi đây bao gió bụi đời,
Tôi quên sao được con đường vườn Thanh)
Lạnh lùng canh lại sang canh,
Lòng tôi thao thức với tình bâng quơ.
Bởi sinh lạc kiếp giang hồ,
Dám đâu toan tính xe tơ giữa đường.
*
Thu sang, rồi lại thu sang,
Cúc bao lần nở, lá vàng bao rơi?
Bao nhiêu vật đổi sao dời?
Đường bao dặm thẳm, hỡi người bốn phương?

Trọ bao nhiêu quán bên đường,
Nhưng không lần nữa qua vườn Thanh xưa.
Cô nàng nǎm ấy quay tơ.
(Tôi quên sao được!) Hẳn chưa lấy chồng.
Một hôm lòng lại nhủ lòng:
Nơi đây giáp với cánh đồng vườn Thanh.
Rồi tôi len lén một mình,
Ra đi với một tấm tình hay hay.

Đường mòn tràn ngập bông may,
Gió heo báo trước một ngày thu sang.
Dừng chân trước cửa nhà nàng.
Thấy hoa vàng với bướm vàng hôn nhau.

Tìm nàng chẳng thấy nàng đâu.
Lá rơi lả tả bên lầu như mưa…
Chợt người lão bộc nǎm xưa,
Từ đâu mang mảnh guồng tơ lại nhà

                         *
Một hai xin phép ông già,
Trọ nhờ đêm ấy, nữa là hai đêm.
Ông già nể khách người quen.
Ngậm ngùi kể lại một thiên hận tình.

Rồi ông kết: (giọng bất bình)
“Trời cay nghiệp thế cho đành

Thưa ông…
“Cô tôi nhạt cả môi hồng,
Cô tôi chết cả tấm lòng ngây thơ.

Đâu còn sống lại trong mơ?
Đâu còn sống lại bên bờ sông yêu?
Buồng the sầu sớm thương chiều.
Khóc thầm biết có bao nhiêu lệ rồi.

Tơ duyên đến thế là thôi!
Thế là uổng cả một đời tài hoa.
Đêm đêm bên cạnh chồng già,
Và bên cạnh bóng người xa hiện về…”

Rùng mình tôi lại gạt đi:
“Già ơi! Thảm lắm! Kể chi dài dòng?
Cháu từ mắc số long đong,
Yêu đương chìm tận đáy lòng đã lâu.

Đau thương qua mấy nhịp cầu,
Cạn dòng nước mắt còn đâu khóc người!
“Dối già một chút mà thôi,
Nghe lời già kể cháu mười đêm luôn,

Chợt thương, chợt khóc, chợt buồn,
Cháu như một kẻ mất hồn, già ơi!”

*

Truyện xưa hồ lãng quên rồi,
Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh.

Bao nhiêu oan khổ vì tình,
Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa?
Phải chǎng? Mình có nên ngờ,

                        Rằng người nǎm ngoái bây giờ là đây?

(Lỡ bước sang ngang)

NB nặng nghiệp đa tình. Thơ NB tràn ngập “nàng” với “tôi“. Từ “Cô hàng xóm” tới cô nàng “thôn Đông“, tương tư cô đan áo len, cô lái đò, cô hái mơ, quacô gái Lầu Hoa đến cô Oanh, thêm những cô áo đỏ lấy chồng, “nhớ người trong nắng”, rồi cô Ý Nhi, cô Tú Uyên… Chao! Đời có bao nhiêu cô, NB yêu hết bấy nhiêu như Xuân Diệu có được bao nhiêu calori… hôn bao nhiêu thì… xài hết bấy nhiêu! Do vậy mà NB có “Tương tư” thêm cô nàng T.T.Kh thì cũng đâu có gì lạ cho cái chàng từng ôm “ước mơ ông lái đò”, ước mơ quan trạng cũng chỉ để… phụng sự cho Nàng? Con người “giày cỏ gươm cùn” dám “Hành phương Nam” chỉ là một chàng trai thừa ủy mị trong tình trường, thiếu cân nhắc trong tình cảnh!

Nhưng thơ đâu phải chỉ là chiếc chiếu cho ta nằm cuộn tròn với từng kỷ niệm riêng ta! Thơ đâu phải là con đường ký ức chỉ mỗi ta qua dưới bóng nắng nhạt nhòa, dưới cơn mưa tơi tả? Thơ là chiếc võng thời gian ru người qua bốn mùa ấm lạnh. Thơ là ánh trăng khuyết tròn soi cho tất cả nhân loài.

Vậy thì, chúng ta hãy hiểu tổng thể của thơ với từng nhân vật không phải cho riêng cái bóng tác giả mà tất cả nhân vật trong thơ đều là nhân vật đã được chiếc roi trần gian hiện thực đánh cho tơi tả mới chui vào tổ ấm thơ ca để sinh tồn.

Riêng với NB, nếu dựa vào những lời thơ xúc cảm T.T.Kh mà cho T.T.Kh là người yêu của NB thì trước đó, NB xúc cảm hàng loạt nhân vật nữ trong thơ mà chúng ta từng biết. Vậy, không lẽ, tất cả những người con gái trong đó đều là người yêu của anh ta? Nhân vật là một chuyện, nội dung thơ mới là “mẻ kho” của từng tác giả.

Với “Dòng dư lệ“, trước hết, ta xem xét nhân vật trong thơ là NB. Tức là nhân vật đồng thời cùng tác giả: Tôi chính là Tôi.

Về xuất xứ bài thơ “Dòng dư lệ“?

Như trường hợp bài thơ “Bao giờ ngày mai” của Thanh Hải đã trích hai câu thơ của Tố Hữu trong “Tiếng hát sông Hương“: “Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài. Thơm như hương nhụy hoa lài” để lên đầu, NB lấy hai câu thơ của T.T.Kh trong BTTN đăng ngày 20/11/1937 “Cho tôi ép nốt dòng dư lệ. Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên” để làm đầu cho bài thơ mình. Theo Thanh Châu: “Nguyễn Bính đã đăng một bài thơ (đề tặng T.T.Kh) bài ‘Cô gái vườn Thanh’ in năm 1940” (sđd tr 172). Bài thơ này được in trong tập “Lỡ bước sang ngang” mới đổi tên.

Xem xét: Mở đầu bài thơ là mùa thu với xác lá rụng giăng đầy đường. NB “Đêm qua ngồi đọc thơ người xa xăm”?! T.T.Kh xuất hiện ngày 30/10/1937. NB viết bài thơ này, phải nằm cuối tháng 11 hoặc sau nữa vì nguồn động lực cho NB là do BTTN (20/11/1937) mà ra. Nhưng cuối hay sau tháng 11 mà tả:

Gió đưa xác lá về đường
Thu sang nhuộm cả sầu thương một trời.

chỉ… hù người ta! Ở Việt Nam, tháng 10 là mùa mưa lũ. Tháng 11, 12 là mùa đông thì còn gì thu nữa hỡi chàng ơi! Thôi! Tạm cho chàng “sầu thương” quá hóa lẫn thời gian.

Bản tự khai của NB là chàng có quen một cô gái ở Thanh Hóa. Quen lâu quá rồi…. bỏ quên trong trí nhớ. Đọc thơ T.T.Kh có câu: “Ở lại vườn Thanh có một mình” thì từ khóa “vườn Thanh” mở trí nhớ NB ra ngay tức khắc: “Vườn Thanh qua đấy năm xưa. Trọ nhờ lão bộc đang ngồi quay tơ. Tuổi nàng năm ấy còn thơ”. Còn thơ là bao nhiêu? Cô bé là cháu hay con ông lão bộc (người ở) quay tơ? Mắc mớ gì “Trọ bao nhiêu quán bên đường. Nhưng không lần nữa qua vườn Thanh xưa”? Năm xưa khi chàng lò dò trú mưa, ở trọ nhà “Bên người lão bộc đương ngồi quay tơ” chứ nào có thấy cô bé quay tơ vì “tuổi nàng còn thơ“. (Nếu ghi như vầy thì mới thấy nàng quay tơ: “Bên người lão bộc, nàng ngồi quay tơ” để sau đó, NB mới nhớ “Tôi sao quên được cô nàng quay tơ” chứ?). Vậy mà, NB… táp nhá, táp nhướng nhớ rằng: “Cô nàng năm ấy quay tơ. (Tôi quên sao được) Hẳn chưa lấy chồng”? Xạo… pà cố! (NTL tuyển thơ lẽ ra, phải sửa từ “đương ngồi” thành “nàng ngồi” mới đúng hồi ức “cô nàng năm ấy quay tơ“. Nếu không, chỉ có ông lão bộc ngồi quay tơ mà thôi!).

Chàng… mê gái kia khí phách… thua cả Kiều của Nguyễn Du nhớ Kim Trọng mà “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Anh thỏ đế này chỉ “len lén một mình. Ra đi với một tấm tình hay hay”. Chúng ta coi thử “tấm tình” của chàng có gì mà tự cho là “hay hay“? (dùng từ non nớt quá!). Gặp lần đầu thì nàng “còn thơ“. Khi nàng lớn lên “thu sang rồi lại thu sang“, nào có thấy con cò đậu bến ngày xưa đâu? Nó đang đậu “trọ bao nhiêu quán bên đường”. Nó “đi ăn đêm” mà không sợ bị “lộn cổ xuống ao” mà để cho ông lão bộc kể chuyện nàng… ngoại tình trong ký ức:

Đêm đêm bên cạnh chồng già,
Và bên cạnh bóng người xa hiện về…

Với một khối “hận tình” bự chảng như thế mà nào có thấy chàng si tình này làm thơ đá động tới trong cả trăm bài thơ tình của mình bao giờ? Chẳng qua, đọc BTTN của T.T.Kh có đoạn:

Biết đâu tôi một tâm hồn héo

Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi

Thì chàng thỏ đế mới “nghiễn” chuyện ra rồi túm tim mình bỏ vào… túi mình:

Cháu từ mắc số long đong,
Yêu đương chìm tận đáy lòng đã lâu.

Đau thương qua mấy nhịp cầu,
Cạn dòng nước mắt còn đâu khóc người!

Đúng là “dòng dư lệ” cũng không chảy nổi với cuộc tình… lãng nhách như thế!

Truyện xưa hồ lãng quên rồi,
Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh.

Bao nhiêu oan khổ vì tình,
Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa?
Phải chǎng? Mình có nên ngờ,
Rằng người nǎm ngoái bây giờ là đây?

NB thiệt khéo vẽ vời. Bày ra cái chuyện rối bời thế nhân! Này nhé! Oan hồn cụ có linh thiêng. Về nghe trẻ nhỏ… huyên thuyên mấy lời. Cụ quên rồi nhé cụ ơi! Đêm qua, cụ mới đọc “người vườn Thanh”. “Chân” thơ cụ chạy khá… nhanh. Chuyện không, dựng có… tài lanh quá chời! “Chuyện mình”? nghe thấy…  rụng rời! “Người năm ngoái” đó… một trời khác xa. T.T.Kh phân qua: “Bài thơ thứ nhất” chu cha, chuyện buồn. “Mẻ kho” phải có tích tuồng: Hoa Ti-Gôn nọ, ngọn nguồn trống quơ! “Chuyện mình”? không bến chẳng bờ… Nàng Kh có nhắc “quay tơ” bao giờ? “Chuyện mình”? nàng hãy bé thơ. Hẹn hò chẳng có, lời thề cũng không? “Dòng dư lệ” chỉ viễn vông. “Người năm ngoái”? Cụ… vẽ rồng rắn chơi!

Thật ra, giọng thơ bài này của NB ảnh hưởng quá nhiều từ Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nội dung “Dòng dư lệ” hư cấu thật… tệ. Mâu thuẫn và không đồng nhất với thơ T.T.Kh. Nếu cả hai đúng là “người năm ngoái” thì họ phải ghi lại: Một đêm mưa tối trời. Bên lò sưởi ấm. NB có ghi lại. T.T.Kh… cũng ghi lại nhưng… quăng cha cái “đêm mưa”, quăng… mẹ cái “lò sưởi ấm” của NB để… “yêu lá rụng”, “yêu trăng”, “yêu bóng chim sa, nắng lướt mành”. NB có nhắc tới hoa mà “hoa vàng với bướm vàng hôn nhau”. T.T.Kh cũng nhắc hoa mà lại … “cánh hoa tim” Ti-Gôn. NB có viết dòng nào nói về hoa Ti-Gôn đâu? Chỉ có ông lão bộc. Trong khi, người mà T.T.Kh nhắc là người “Bỗng ai mang lại cánh hoa tim” cho nàng viết lên BTTN để cụ “đêm qua ngồi đọc thơ người vườn Thanh”. Kh nhắc: “một lần gặp gỡ dưới trăng nghiêm”. NB cũng nhắc mà nhắc… “đêm ấy trời mưa tối trời”! Chỉ có một mùa thu chung thì cụ NB lại đi nhắc một mùa… thu uớt với “trời mưa tối trời”, trong khi T.T.Kh nhắc tới một mùa… thu khô với “Tiếng lá thu khô xiết mặt hè“. Mật mã vào vườn cấm Adam và Eva mà người gào:“vừng mè ơi!”, kẻ réo: “đậu đen ơi!”, “Mở cửa ra!”… trật lất! Ngược đời như thế mà cụ Nguyễn dám cho “rằng người năm ngoái bây giờ là đây?”. Thiệt tình! “Điếc không sợ súng!”. Ứng cử viên NB là người yêu của T.T.Kh mới chỉ vào phần thi “trắc nghiệm” thì đã đã thành “con cò mà đi ăn đêm…”!

Chúng ta loại bỏ NB là người yêu T.T.Kh tại đây.

            4. Sơ kết: Sau khi phân tích giá trị thi pháp thơ với các tu từ và nội dung thơ, chúng ta sơ bộ tìm ra những bài thơ ký T.T.Kh, ký Thâm Tâm như: “Màu máu Ti-Gôn, Các anh, Dang dở, Bài thơ thứ nhất, Bài thơ cuối cùng, Đan áo cho chồng” do “tổ hợp Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, Đinh Hùng” đã làm “ốc mượn hồn”.

Riêng bài thơ đầy tấm chân tình, đầy nước mắt nuốt ngược vô lòng trong thi pháp ẩn dụ bức họa “Hai sắc hoa Ti-Gôn” là chính… Thâm Tâm làm. Độc giả nên suy nghĩ phải hay không. Lý do vì sao phải? Vì sao không? chúng ta đã xét qua tình và lý cùng thi pháp thơ TT ở phần đầu.

Giá trị văn học tìm hiểu các thi pháp thơ, văn cho từng thi sĩ, văn sĩ là một phương pháp khoa học, hấp dẫn. Nó đòi hỏi chúng ta phải có năng lực tư duy, cảm thụ và trách nhiệm với tấm lòng. Thiếu một trong bốn yếu tố này, chúng ta rơi vào lỗ hổng chân không!

Tất cả những cố gắng trên (viết dưới dạng nghiêm túc có, trào phúng có) cũng chỉ vì một mục đích  muốn trả lại cho TT một giá trị đáng được công nhận mà ai cũng mong muốn kết thúc một huyền thoại để khỏi ”đêm dài lắm mộng”. Dù có nuối tiếc đến đâu về một huyền thoại huyền ảo, ta hãy vì giá trị tác giả, tác phẩm mà ”cũng đành đem vết tích xưa vào trang cổ tích cho vừa nhánh thương”.

Chuyện tình T.T.Kh với HSHTG là một huyền thoại đẹp, hấp dẫn trong thi ca. Chúng ta cần loại trừ những bài thơ có khả năng đưa huyền thoại đó trở thành một cuộc tình tầm thường giữa anh chàng tự cho mình ”tài hoa” và “nàng kiều nữ” đáng thương.

Con người của TT không thể có hai người vừa thiết tha yêu vừa rẻ rúng tình yêu. Nhân vật Kh có thể nhớ người yêu cũ nhưng chuyện nàng viết để trải lòng mình trên giấy trắng không thể làm được trong một khả năng cầm bút hạn chế, một hoàn cảnh “phi thương bất phú“, một gia đình lễ giáo, một thời đại kỹ cương không cho phép. Nỗi buồn kín đáo đó chỉ có thể có một người yêu tri kỷ là TT hiểu được, nghĩ thêm và viết giùm khi TT còn là người “tự do” trên mọi ý nghĩa.

TT lập gia đình năm 1945. Nhân vật ma T.T.Kh cũng rút lui khỏi văn đàn từ 1940. Đây là một điểm nút có thể lần ra vì sao? Những bài thơ ký TT sau thời gian này cần được xét lại nghiêm túc.

 a. Vụ làm dùm thơ văn: Có hay không?

Chuyện người gà bài dùm, thi dùm, viết luận án dùm… ở tù dùm cũng không thiếu trong cuộc đời huống chi là làm thơ dùm. Làm thơ dùm, trong lịch sử văn học Việt Nam không phải là chẳng có.

– Trong “Cô lái đò” của NB, không biết ai đã làm dùm bốn câu cuối:

 Thế rồi trên bến một đêm kia

                                    Người khác tình duyên lại trở về.

                                    Cô gái đã vui duyên phận mới

                                    Khách còn trở lại nữa làm chi?

(Nguyễn Hữu Ðảng – Giai thoại văn học, Nxb VHDT – 2003).

Bốn câu cuối khác hẳn bốn đoạn thơ trong ”Cô lái đò” là không có lấy một vần trùng dù chỉ “vần lưng”!

Hiện tượng “sao y bản chính lỗi thời nên copy phỏng phỏng ra đời thế chân”. Các web site, thi ca cũng chơi chiêu này. Khi nào quý vị cần tư liệu vào các web ấy thấy bài mình cần tìm mà web không ghi tên tác giả là đích thị “chúng nó đấy“! Tác giả các bác ngồi cặm cụi viết “bạc đầu râu” thì đạo chích văn chương chỉ cần làm “đau đầu bác” bằng cách copy nháy mắt có ngay, thảy vào web mình không ghi ngọn nguồn nhưng bắt các độc giả muốn trích thì ghi nguồn ngọn của mình. Hà! “Văn người, vợ mình” là thế!? Có ngày… trúng mánh hầu tòa cho vui!

– Với Quang Dũng, tác giả “Tây tiến” cũng lắm dư luận về “đoàn quân không mọc tóc” và “rải rác mồ viễn xứ” đã có bài thơ “Kẻ ở”. Lần đầu tiên trong thơ ca Việt Nam, hình ảnh người con gái cỡi ngựa buồn thiu đi vào thơ:

  Mai chị về em gởi gì không?

                                  Mai chị về thấy má em hồng

                                  Đường đi không gió sao lạnh

                                  Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong.

                                             …

                                  Ngựa chị dừng bên thác trong veo

                                  Lòng chị buồn khi nắng qua đèo…

Quang Dũng không nhận bài này mình làm mặc dù nó hay, còn ai đã làm dùm thì đến nay… bó tay! Cỡi voi như Bà Trưng, Bà Triệu, cưỡi ngựa như Bùi Thị Xuân trong lịch sử đã có. ”Cỡi ngựa” trong văn học thì chỉ có… đấng mày râu! Bài thơ này làm người ta đang suy nghĩ…

– Trong “Thương người như thể thương thân“, (Giai thoại văn học, sđd tr 56), Nguyễn Hữu Đảng kể chuyện nhà văn Tô Hoài từng “viết dùm” cho Nam Cao một đoạn tả cảnh vì: “Để có một cuốn truyện ngắn, có khi Nam Cao và Tô Hoài phải viết đôi cho nhau mới kịp. Nam Cao rất thạo tả nhân vật, còn Tô Hoài lại giỏi tả cảnh. Họ thường viết hộ cho nhau. Một lần, đang viết, Nam Cao buồn ngủ quá, bảo Tô Hoài:

– Cậu làm hộ mình cái này nhé. Sắp mưa. Bờ ao có bụi tre. Buổi chiều. Mấy trang cũng được.

Tô Hoài liền “lia” hộ vài trang do Nam Cao phác…”.

– NTK (Về những kỷ niệm quê hương, sđd, đã trích phần đầu) cũng kể lại tổ hợp của Lê Văn Trương cũng ngày đêm thi nhau viết cho kịp theo nhu cầu báo của Võ Đình Long. Lê Văn Trương là nhà văn thân thiết của nhóm TT trong TTTB mà sau này, Trần Huyền Trân đã viết bài “Lưu biệt” đề ghi tặng.

b. Có tổ hợp thơ không? Có.

– Tổ hợp thơ gồm Trần Huyền Trân, Trúc Khê, Nguyễn Bính, Thâm Tâm đã ra bài “Ngô Sơn vọng nguyệt” (Nguyễn Hữu Đảng sưu tầm, ghi chép trong “Giai thoại văn học, sđd tr 336-337), đã trích trong phần nói về TT.

– Tổ hợp thơ Trúc Khê, Ngân Giang, Trần Huyền Trân đã làm bài “Đêm hội Ngô Sơn”: “Ông chủ nhà Trúc Khê ra đề tài ‘Đêm hội Ngô Sơn’ để các bạn xướng họa:

Non Ngô dưới ánh trăng rằm
Duyên may hội ngộ tri âm buổi này

Trần Huyền Trân liền đọc tiếp:
Rượu nồng chưa nhấp đã say
Nhưng tình đã thấy rót đầy lòng nhau

 Nguyễn Bính đọc: 
Chắc rằng gặp mãi nhau đâu
Duyên bèo nước có bền lâu bao giờ?

Ngân Giang tiếp:
Tiệc này dưới ánh trắng mờ
Tiệc sau e bóng người thơ lạc loài
Họ cứ thế đọc tiếp thành một bài thơ dài. Và điều đáng khâm phục là giọng thơ của người nào mang phong cách riêng của người ấy”.
(Lê Hoài Nam, tiền phong, avsnonline.net). Nguyễn Hữu Đảng hay Lê Hoài Nam cũng lấy tư liệu từ “Nguyễn Bính,Thơ và Đời”, Hoàng Xuân tuyển chọn, Nxb VH, Hà Nội – 1998) mà ra cả.

– Tổ hợp thơ Thi Nhím và nthh cũng ra bài: “Phôi phai kỷ niệm”:

Thi Nhím:

Em về thăm chốn cũ

Gió xưa giờ đã xa…

Nơi ta ngồi thuở ấy

Mưa gió đã phôi pha…

 

Con còng đêm trăng đó

Chắc nay đã về già?

Cuối trường cây hoa sứ

Một mình rụng từng hoa…

 

Góc sân thềm tu viện

Đám lá cuộn nắng tà.

Chỉ còn con sóng nhỏ

Không ngớt vỗ hồn ta!

nthh:

Hồn ta con sóng vỗ

Theo gió cuốn vô bờ.

Tu viện chiều bỡ ngỡ

Người xưa nay trở về?

 

Hoa sứ thời thương nhớ

Cũng qua rồi tuổi thơ!

Nửa vầng trăng dang dở

Thẫn thờ trên sóng xưa!

 

Em về thăm chốn cũ

Bờ đá còn, anh đâu?

Gió về không chỗ đậu

Giọt sầu hay mưa ngâu?

 

Em về thăm chốn cũ

Gió xưa giờ đã xa…

Nơi ta ngồi thuở nọ

Mưa gió về phôi pha..

Tháng 2/2005 (vantuyen.net)

Muôn trùng!

c. Chuyện một người lấy nhiều bút hiệu? Muôn trùng!

– Chuyện một người lấy nhiều bút hiệu người khác cho “xôm tụ” cũng không còn lạ lùng. Nhiều tờ báo, đặc san hải ngoại đã có muôn trùng. Thời thập niên ba mươi, bốn mươi không thiếu. Chính cuốn TNVN đáng tin cậy của HT- HC đã ghi: “Sau khi đăng bài ông Phan Khôi chẳng bao lâu, phụ nữ Tân Văn nhận được bức thư hoan nghênh ký cô Liên Hương (Faifo), một bài thơ mới Trên đường đời’ ký Lưu Trọng Lư và một bài thơ nữa ‘Vắng khách thơ’ ký Thanh Tâm. Ký nhiều cho rộn thế thôi chứ đi lại cũng chỉ một người”.

Có người cho TT có bút hiệu “Trăm Năm”, “Tuấn Trình” (Hoài Việt, sđd, khanhly.net). Tuấn Trình có nghe qua khi TT ký cho tranh vẽ chứ không ký cho thơ. Còn “Trăm Năm” thì chắc là “báo chợ, cơm hàng” như “Râu ông nọ cắm cầm bà kia”! Nếu ai có những tư liệu về bút hiệu này, vui lòng trình làng cho mọi người “sáng mắt, hả lòng“!

Trong các cuốn sách nghiên cứu các nhà văn thơ đều không ít tác giả dưới ba bút hiệu.

 d. Nhận xét về hiện tượng bút hiệu ký T.T.Kh và ký Thâm Tâm:

Đứng về gốc độ tâm lý mà nói: Thời đại bây giờ hiện đại, tình yêu cũng không còn nép trong khuôn mẫu ngu khờ. Thế nhưng, trái tim thứ hai không thể có trong một con người thì đành thêm cho một vết cắt. Một cú phone của ngàn xưa thương nhớ. Một tin nhắn xa xót vô bờ. Người trong cuộc… bủn rủn! Người ta đắp đê để chặn những cơn lũ tràn về. Đâu ai lao vào dòng chảy xiết để mà ngụp lặn như những người xưa trên sông tình lỡ!

Những cuộc cách mạng có thể có nhiều chiến thuật: Tấn công, phòng thủ và rút vào hoạt động bí mật nhưng cái ”tiếng lá thu xưa xiết quanh trời” chỉ có thể tồn tại được với có một chiến thuật duy nhất: Bí mật. Tan tành không đành. Đỗ vỡ phải tránh.

Thời TT và Kh, cái “bí mật” ấy càng phải giữ cho người đi lấy chồng. Người đứng ngoài sáng suốt. Điều đó có thể lý giải vì sao khi ta coi một trận bóng đá, những huấn luyện viên và khán giả thấy rõ ràng đường bóng đưa tới, đưa lui vẫn không bay vô lưới thì la hét chửi rủa om sòm. Trong sân cỏ, cầu thủ đá banh có thấy cái gì đâu ngoài có một trái banh mà xúm nhau rượt đuổi mệt… le lưỡi!

TT là người trong cuộc nhưng khi Kh lấy chồng, TT lại là kẻ đứng ngoài mái ấm của Kh với trái tim người trong cuộc. Cho nên, kẻ sáng suốt thấy được sự đau khổ của Kh (dù là tưởng tượng) chính là TT mà kẻ xót xa cho người yêu thương cũng chính là TT. Giọng thơ phát từ một người với hai nội tâm như vậy sẽ đi theo chiều thậm xưng, tăng mức độ đớn đau cho người trong cuộc mới có những thán ngữ “trời ơi!” mới có những câu hỏi tu từ “có buồn không“? Còn kẻ viết dùm thì chỉ là một kẻ đứng ngoài “sáng suốt” theo một lý tính cứng đơ vì có yêu sâu, đau nặng như TT đâu mà biết mức độ? Vậy thì dòng suy diễn của kẻ tàng hình bật ra mới kêu réo “Khánh ơi, Khánh hỡi“,  mới lên giọng đạo đức “nghĩa chồng hồn cha” cắt đứt một huyền thoại!

Phân tích, lý giải, bình tâm lý cũng đã làm, người dẫn truyện đã nêu, lời thơ đã tự bạch, chỉ còn những người trong cuộc của câu chuyện tình TT và Kh.

5. Nhân vật chính và nhân chứng liên quan:

a. Nhân vật chính: TT và T.T.Kh:

– T.T.Kh:  Đó là người con gái vườn Thanh đoạn tình với TT bằng chuyến xe hoa mà Nguyễn Vỹ miêu tả “Rước dâu bằng mười chiếc Citroen mới, cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo cưới màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi trên xe hoa như nàng công chúa ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh.”

Thanh Châu trong bài “Nói thêm về T.T.KH.” năm 1990 (NTK, sđd) nghi vấn: “Có phải là Trần Thị Khánh? Hay Tào Thị Khê? Hay Tôn Thị Khuê? Trần Thị Khải, Thái Thị Khương? Ai mà biết được”.

Tác giả bốn bài thơ “Hai sắc hoa Ti-Gôn”, “Bài thơ thứ nhất”, “Đan áo cho chồng” và “Bài thơ cuối cùng” có phải là nàng hay người khác?

 Đó là TT. TT tự trách: “Thoắt cái mười năm trôi qua. Chẳng hiểu bây giờ gia đình cô bé phiêu bạt nơi nào, trong chiến tranh thảm khốc này?… Thú thực chính cá nhân tôi rất xấu hổ. Vô tình tôi đã tạo nên sì-căng-đan ấy. Trong tình yêu, người ta thường trẻ con. Sau khi đóng trọn vở tuồng ‘một mình mình biết, một mình mình hay”, tôi ngỡ ngàng ‘khi soi gương ngắm lại mình’. Tôi nhận ra chính tôi đã lừa dối mình, phỉnh độc giả quần chúng”. (đã đề cập ở phần III, 1).

Nhân vật T.T.Kh là có thật mà thật với “bốn chàng ngự lâm pháo thủ”: TT, NB, THT và ĐH.

                  b. Nhân vật liên quan:

– Đó là người bạn thơ của TT tên H.Th (Hồ Thông) trực tiếp nghe TT kể tâm sự này “Vào những ngày đầu của cuộc chiến chống thực dân Pháp năm 1947, tình cờ tôi được điều về đơn vị có nhà thơ Thâm Tâm hiện diện… Do đó, tôi đã ở chung với Thâm Tâm trong một thời gian và gạn hỏi chính Thâm Tâm về huyền thoại nàng T.T.Kh., với bài thơ hai sắc hoa Ty-gôn kia“.

Ông còn là nhà giáo, yêu thích văn nghệ mà NTK ghi trong VNKNQH của mình “Anh ta hiện làm việc ở Hà Nội, đã từng gia nhập Vệ Quốc Đoàn trong năm 1946, theo đoàn quân Tây Tiến cùng với Quang Dũng, Hồ Văn Thông v.v… trong những năm 1947, 1948″. Vậy thì từ nguồn gốc này, chúng ta có thể tham khảo và tiếp tục tìm thử coi người này có thật không hay chỉ là nhân vật… ma.

– Đó là thầy Vũ Văn Nhượng nơi Kh và TT đã học (Trường Sinh Từ) và TT đã đến thăm lần cuối. NTK chú thích: “Ông Đốc Nhượng… chính quán làng Mưỡi Giáp, xã Thanh Quyết, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Ông dạy học và điều hành Trường Tiểu học Sinh Từ cho tới cuối năm 1945 mới về nghỉ hưu. Thời gian T.T.Kh học Primaire Sup, tại trường Sinh Từ” (Nguyễn Vỹ thì ghi rõ TT ngà ngà say đã kể chuyện tình của TT cho Nguyễn Vỹ nghe và khẳng định Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp Nhất trường Tiểu học sinh Từ).

– Đó là người con gái mang ba bài thơ vào tòa soạn báo TTTB của Vũ Đình Long. Nàng tên gì? Ở đâu? Sống chết?

Vẫn theo NTK kể từ Hồ Thông, TT cho là “cô em họ” của mình, chép thơ và đưa thơ dùm.

 Đó là những nhà thơ bạn bè mà TT nhắc hay đem mọi đề tài ra thảo luận như “Nguyễn Bính, Vũ Trọng Can, Trần Huyền Trân, Tấn Hiến, Lê Văn Trương, Đặng Đình Hồng… rồi sau đó có thêm Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… và những bạn khác nữa như Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng v.v…” Chẳng ai biết mặt T.T.Kh. TT kể với Hồ Thông: “Kể cả Thanh Châu, nhà văn đã khơi mào viết ra truyện ngắn Hoa Ty-Gôn kia. Và cả bọn Vũ Trọng Can, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân… nữa. Tất cả đều không một ai biết mặt T.T.Kh. Họ phỏng đoán, làm thơ, tranh giành một cái bóng”.

Tiếc thay ”mây cuối trời bay còn trở lại mà ngàn thu xa cách chẳng tái lai”!

Không còn ai để lên tiếng xác minh bản chính nên huyền thoại TT và Kh như huyền thoại về con tàu Titanic nguy nga bị đắm ngày 10/04/1912 được thêu dệt lên bằng mối tình của Jak Dawson và Rose Dewett (qua hình ảnh một người duy nhất sống sót) chìm theo dòng nước nhưng đã sống mãi cùng thời gian như một huyền thoại.

Cuối cùng, huyền thoại thì vẫn là huyền thoại dù khi chúng ta có biết được họ chính là những người nằm trong tổ hợp thơ. Coi như mỗi thi nhân TT, NB, THT, ĐH có thêm bút hiệu là T.T.Kh, là Thâm Tâm nữa thì cũng đâu có sao! Tên trùng tên. Họ trùng họ. Bút hiệu trùng nhau cũng là chuyện thường cơm cá của nhân gian.

              6. Những kẻ cơ hội và cục diện phản bác:

*Trường hợp T.T.KH.

– Hoàng Tiến (HT) trong bài: “T.T.KH là ai?” quả quyết: “Được biết T.T.Kh. về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bây giờ bà còn hay mất” tức là từ năm 1985-1988. Sau khi HT viết bài này, MGL trong “Ghi thêm về Thâm Tâm và T.T.KH” đã chép miệng “chỉ tiếc một điều bằng lối văn lộng ngữ Hoàng Tiến đã đưa ra những nghi ngờ, những điều không có căn cứ”. Vậy là HT tiên sinh đã bỏ lỡ cơ hội giải mật mã T.T.KH rồi.

– Vũ Bằng (VB) người mà MGL “Ghi thêm về Thâm Tâm và T.T.KH”  bực mình: “Vũ Bằng là người giỏi bịa chuyện đã làm rùm beng một dạo để tỏ mình là người từng trải, là người hiểu biết. Và trong những dịp ấy nhiều người cũng nhảy ra “ăn theo, bởi vì họ chỉ biết qua nghe, rồi nhặt nhạnh, thêm bớt, viết thành bài làm sang. Báo chí Sài Gòn lúc đó còn công bố thêm nhiều bài thơ giả cũng ký tên là T.T.Kh”.

Vũ Bằng được giải thưởng Nhà Nước về Văn học Nghệ thuật 2007.

– Tai hại nhất là cuốn sách của Thế Nhật (ký chung bút hiệu) có tên “T.T.KH. Nàng là ai? xuất bản năm 1994 được NTK cho là bịa đặt “Đọc thơ và hiểu thơ như Thế Nhật chỉ có Thế Phong và Trần Nhật Thu thôi. Bởi lẽ các ông ấy không thưởng thức Thơ bằng tâm hồn, trái tim nghệ sĩ mà chỉ nhận chân được một điều là tất cả những diễn tả trong thơ hẳn phải là sự thật đời thường của nhân vật nên căn cứ vào trò bỉ ổi của Thư Linh Đỗ Thị Lạc để áp đặt cho Vân Nương chính là Nàng thơ T.T.Kh. thời tiền chiến”.

NTK nhận xét: “Viết tập sách về T.T.Kh., Thế Nhật chỉ căn cứ vào bài thơ ‘Dòng dư lệ’ của Nguyễn Bính và bài thơ ‘Hoa tim’ của Thư Linh Đỗ Thị Lạc với mấy dòng chữ:

‘Sài Gòn ngày 1 tháng 4-94

Thân gửi Anh Th…

(…) Anh đọc qua bài ‘Hoa tim’, coi tôi viết vậy có đủ ý chưa? Tôi viết đêm thứ 5 đó, vì thấy ý anh muốn vậy nên tôi viết cho anh vui lòng. Có điều, anh đừng nói cho ai rõ T.T.Kh. là ai hộ tôi, để tôi giữ lời hứa với chị ấy…’

Y thị đã gửi cho Thế Phong thư và bài thơ Hoa Tim, để Thế Phong dùng nó mà áp đặt, múa bút chửi người”.

 Như vậy, Thế Ngọc tức Thế Phong và Trần Nhật Thu đã ra cuốn sách “T.T.KH., Nàng là ai?” năm 1994 để vu khống và lừa gạt độc giả” (“Thái độ côn đồ trong văn nghệ” (VNKNQH, sđd, tr 90).

Khi bị chính Vân Nương và nữ sĩ Mộng Tuyết gởi thư phản đối quyết liệt sự áp đặt xúc phạm đời tư, Thế Phong “bạo phổi mạt sát”. Cuốn sách “T.T.KH nàng là ai?” năm 2001, Thế Phong đã đăng lại năm 1994 và đăng cả lời chính thức nhận sai 9 điểm mà Vân Nương đã chỉ ra năm 1994 trong mục thứ 5: “Trả lời 9 điểm của bà Vân Nương: Tôi không phải là T.T.KH” ngày 20/3/1995 (sđd tr 124 – 138, xem bản chụp kèm trong sách này).

Nhận sai không ai cười. Nhưng nhận sai mà viện đủ lý do để hạ người, thì đó mới là điểm thiếu quân tử. Thế Nhật có hay không?

NTK đưa tin “Nhà thơ Sa Giang Trần Tuấn Kiệt biên soạn cuốn Thi ca Việt Nam Hiện đại, hiện đang có mặt ở Sài- Gòn, vẫn còn là một chứng nhân cho một hiện tượng Thế Phong” (Về những kỷ niệm quê hương, trang 92, sđd). NTK nhấn mạnh: “từ đầu thập niên 50 về trước, Vân Nương chưa làm thơ. Do đấy Vân Nương không phải là T.T.Kh.! (Huyền thoại, chỉ nên mãi mãi là huyền thoại, sđd tr 207).

Không gì đáng tin khi chính Vân Nương viết thư cho NTK (bút tích Vân Nương có đăng trong sách này). Ông chụp hình lá thư này và công bố ở tr 210. Thư như sau:

Sar lat ngày 15 Juillet 1996

Kính gửi anh Thạch Kiên

… Về vụ TTKh, cuốn sách xuất bản ở Sài gòn, chỉ là vụ trả thù đê hèn…

Có một điều đáng buồn là những người ‘tạo dựng’ ra cuốn sách là người của chế độ cũ! Chắc anh đã biết Thế Phong… còn Thư Linh là bạn thơ của Thi Đoàn Quỳnh Dao- nhưng chỉ mới quen tôi 2 năm nên tiểu sử của tôi đã đưa ra một cách mơ hồ! Sách thì viết lối văn rẻ tiền, mất dạy… toàn bịa đặt, vu khống cá nhân tôi… còn tấm hình tôi… là Thế Phong hỏi mượn ‘để in vào cuốn sách nói về cuốn Tơ Sương của chị Vân Nương’! Anh thấy tư cách của nhà văn Thế Phong không? Thật đáng hổ thẹn…” .

Về tấm hình của Vân Nương, Thế Nhật cũng lầm lẫn khi đăng chú thích vào hình Tôn Nữ Hỷ Khương mà bảo là đấy là hình bà Trần Thị Vân Chung. Hình cung cấp của NTK mới chính là Vân Chung bên cạnh chồng và hình Tôn Nữ Hỷ Khương trong sách Thế Nhật chính là Vân Chung. Điểm này, bà Vân Chung chưa phát hiện nên chưa phàn nàn. (xem tư liệu hình Vân Chung thật và Vân Chung – Hỷ Khương trong sách này).

Chúng ta từ từ mà thẩm thấu sự việc đúng sai, phải trái. Sự kiện T.T.Kh tìm về với TT như một sự kiện “Châu về Hợp Phố” cần có thời gian.

V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?

                1. Vài suy nghĩ về bản quyền :

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 1]

    Chuyên luận Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình Văn học Lời giới thiệu Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có một tác giả tạo ra nhiều huyền hoặc, mâu thuẫn nghịch…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 2]

    B: T.T. KH LÀ AI?:     I. Sự liên quan giữa ''Người'' và ''Người ấy'' trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 3]

    b. Những bài thơ của T.T.Kh:                    + Bài số 1: HSHTG.                              Huyền thoại hoa Ti-Gôn Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 4]

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá? 1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình: Bùi Viết Tân kể trong "Thâm Tâm là T.T.Kh?" (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 5]

    Hai bài cùng thi pháp hay không? Điều đáng chú ý: Bài "Các anh" 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách: Hơi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 6]

    * Bích Khê (BK): Trong 74 bài thơ (thivien.net,dactrung.net), có 12 bài: "Mộng cầm ca, Nhạc, Tranh lõa thề, Sọ người, Đồ mi hoa, Bàn chân, Một cõi đời, Trái tim, Cô gái ngây thơ, Cặp mắt,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 7]

     3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính: Đây là "tình nghi viên" sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”. - HT-HC trong "Thi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 8]

    V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?            1. Vài suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 9]

    IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm "Tống biệt hành" (TBH) của Thâm Tâm (TT): Dựa trên bản cũ nhất của HT - HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 1]

    HUYỀN THOẠI HOA TI GÔN - PHẦN II A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất: Thời gian 1937 - 1938, do những va chạm mảng (họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 2]

    4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối... lãnh đủ:               a. "Tiền bối" Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình: Trên (newvietart.com): Về cuốn "T.T.KH - Nàng là ai?": "khen thì…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 3]

    DƯỚI GIÀN HOA MÁU Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là... mơ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 4]

    Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ? Danh từ "nghệ sĩ" chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại... Ví…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 5]

    VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI? * Độc giả: Thưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [PHẦN TÓM LƯỢC]

    HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN TÓM LƯỢC (*) Nhà thơ Thâm Tâm tức Nguyễn Tuấn Trình cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống 1936 bằng làm thơ và vẽ tranh… Tại Hà Nội, anh đã gặp…