Hai bài cùng thi pháp hay không?

Điều đáng chú ý: Bài “Các anh” 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách:

Hơi đàn buồn như trời mưa (bb/bb//bb) không có vần trắc. Lục bát phá cách này, ta gặp ngay trong bài “Các anh” hay “Các anh hãy uống thật say” hoặc “Gởi các anh” 64 câu như NTL in ở trên. Đó là câu:

Hồn tôi lờ mờ sương khuya

và       Từ ngày đàn chia đường tơ.

Lục bát phá cách này, TT hay THT hoặc Vũ Hoàng Chương hay Đinh Hùng (những tình nghi viên T.T.Kh) không hề quen tay làm. Có một tình nghi viên khác…

Kết luận: Hai bài này, từ “tổ hợp thơ Thâm Tâm và T.T.Kh” làm ra. Bài nào cũng không phải do TT làm.

Phản hồi của độc giả về bài “Các anh“:

Chính những bài thơ làm trong cảnh “nhàn cư vi bất thiện” này đã khiến không ít người… “ném cà chua, trứng thối” vào bút hiệu Thâm Tâm khiến cho “Tiểu nhân đắc chí, quân tử gặp phiền“.

Trong bài “Thử nhìn lại T.T.KH. Nhà thơ nữ ẩn danh hay mượn danh” (anthonyha.gotdns.com), Hạt Bút Ông chửi tới bến: “Miệng chồng Khánh gắn trên môi Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ. So với câu thơ máy nước: “Vâng, tôi biết có một người. Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng.” thì hai câu trên phải được gọi là hạ lưu, ma cạo. Nếu quả có một người nữ phải dấu diếm thân phận khi ký tên tắt là KH., thì buồn thay chàng “nhà thổ” này lại rêu rao, cung khai huỵch toẹt tên cúng cơm nàng là Khánh. Chưa kể lối dùng chữ thô thiển và thô bạo cỡ đó. Chàng nhà thổ này muốn chứng minh điều gì? Sĩ diện hão hay định làm săng-ta để hại đời tư nàng… Chàng Sở Khanh cố biện giải để lấp liếm tội quất ngựa truy phong. Rằng chàng không hề biết gì về những vương vấn tình cảm trong nàng thế đó. Rằng khi nàng đã ôm quần sang thuyền khác rồi, cũng hạnh phước, cũng phây phả chán. Rằng ván đã đóng thuyền rồi, nàng còn lẩn thẩn mần thơ tỏ tình chi rứa? Thơ Thâm Tâm xuống cấp và ý hạ cấp không nổi can. Anh lạc vần hơi nhiều (đan không thể vần với len được dù là vần lơi), thơ ngớ ngẩn không thua gì T.T. KH. “Khánh ơi, còn hỏi gì anh? Lá rơi đã hết mầu xanh, mầu vàng Chỉ kêu những tiếng thu tàn. Tình ta đã chết anh càng muốn xa. Chiều tan, chiều tắt, chiều tà  Ngày mai, ngày mốt, vẫn là ngày nay”. Anh nhà thổ Thâm Tâm đúng là kẻ vô tâm….” Anh nhà thổ Thâm Tâm còn dùng những lờ hạ cấp hơn để mắng nhiếc rủa xả, người tình. Em hãy dành nước mắt để khóc ở những giờ vị vong (goá bụa) sau này. Chưa đã nư, anh chàng còn lôi cả mả cha người tình vào cuộc. Dễ sợ!”

Lời chửi đầy… bụi đường! Thế nhưng, bất bình mà chửi. Chửi không vị lòng. TT phải… vui vẻ nhận lấy vì “kẻ không biết không có tội” nhưng “người biết mà không nói” mới là “tội nhân thiên cổ“! Nhưng “nó chửi ai chứ có phải chửi mình đâu. Mình không làm thì chửi mình cũng như chửi… cha nó!”. A!…

Bài thứ năm:

                       Màu máu Ti-Gôn

(Gửi T.T.Kh…

                               tác giả bài thơ Hai sắc hoa ty gôn“)

 

Người ta trả lại cánh hoa tàn,
Thôi thế duyên tình cũng dở dang
Màu máu ti gôn đà biến sắc.
Tim người yêu cũ phủ màu tang!

K… hỡi! Người yêu của tôi ơi!
Nào ngờ em giết chết một người
Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ
Hình ảnh em hoài mãi thế thôi.

Quên làm sao được thuở ban đầu,
Một cánh ti gôn dạ khắc sâu
Một cánh hoa xưa màu hi vọng
Nay còn dư ảnh trái tim đau.

Anh biết làm sao được hỡi trời
Dứt tình bao nỡ, nhớ không thôi
Thôi, em hãy giữ cành hoa úa,
Kỷ niệm ngàn năm của cuộc đời!

Bài thơ này các tác giả MGL, NTL, Thế Nhật… trích giống nhau trừ dấu câu. Giống nhau ở cả không ghi thời gian. Điều này khiến cho chúng ta có thể nghi ngờ tư liệu thông tin của các tác giả này.
Bài thơ này có vấn đề: Chúng ta tin ý thì sẽ nhận ra đoạn 1 và đoạn 3 là một nội dung:

Người ta trả lại cánh hoa tàn,
Thôi thế duyên tình cũng dở dang
Màu máu ti gôn đà biến sắc.
Tim người yêu cũ phủ màu tang!


Quên làm sao được thuở ban đầu,
Một cánh ti gôn dạ khắc sâu
Một cánh hoa xưa màu hi vọng
Nay còn dư ảnh trái tim đau.

Đoạn 2 và 4 một nội dung:

K… hỡi! Người yêu của tôi ơi!
Nào ngờ em giết chết một người
Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ
Hình ảnh em hoài mãi thế thôi.


Anh biết làm sao được hỡi trời
Dứt tình bao nỡ, nhớ không thôi
Thôi, em hãy giữ cành hoa úa,
Kỷ niệm ngàn năm của cuộc đời!

Một bài thơ thống nhất nội dung, nếu chúng ta đảo lộn xộn, nó sẽ không hợp nhất. Bài thơ này, chúng ta đảo tới, đảo lui, chẳng “xi nhê” gì! Vì mỗi đoạn đã là một nội dung.

Khi MGL tuyển bài này vào sách, ông… được Thanh Châu “chiếu tướng” ngay: “Theo tôi, đây là một bài thơ dở nhất, không xứng với Thâm Tâm, mặc dù tác giả nói rõ là K… hỡi, người yêu của tôi… Đến nay, tôi không hiểu, bài thơ này in ở đâu? Lấy ở đâu ra, sau này lại do Mã Giang Lân tuyển in vào tập Thơ Thâm Tâm (do nhà xuất bản Văn học in năm 1988, mà không đề năm tháng?) (sđd tr 128). Thế Nhật cũng in trong “T.T.KH nàng là ai” mà cũng chẳng ghi chú từ nguồn nào?

Bài này, trước hết cái “dở nhất” vẫn là “dị bản” (cũng dở dang – đã dở dang; giết chết một người – giết chết một đời; màu hy vọng – màu kỷ niệm; bao nỡ – sao nỡmột cuộc đời – của cuộc đời…).

Xét toàn bài, ta dễ dàng thấy, bài này viết sau khi HSHTG được tung trên TTTB số 179 ngày 30/10/1937. Nó phải ra trước “Bài thơ thứ hai” tức BTTN  của T.T.Kh ngày 20/11/1937. Nếu, thật sự, “Màu máu Ti-Gôn” ra đời sau những bài T.T.Kh, ta dễ dàng khẳng định, bút hiệu Thâm Tâm này đã biết chỉ có một bút hiệu T.T.Kh thật và T.T.Kh này (không nhất thiết là nữ) làm chỉ một bài HSHTG mà thôi! Nếu không, bút hiệu Thâm Tâm kia phải ghi là “Gửi T.T.Kh, tác giả những bài thơ…”. Thế nhưng, bài này được coi là điểm mốc thời gian ra đời của bút hiệu Thâm Tâm nhưng lại không có tháng ngày? Bài có “khai sinh” như “Các anh” , “Dang dở” rớt vào năm 1940. Đây cũng là nghi vấn tại sao T.T.Kh “quăng” lên thi đàn 4 bài thơ từ 1937 đến 1938 mà tới 2, 3 năm sau, bút hiệu Thâm Tâm mới “nhập cuộc”? Từ đó, suy ra, bài thơ “Màu máu Ty-Gôn” nếu bút hiệu Thâm Tâm có làm, cũng chỉ làm cùng thời gian với hai bài kia.

Ta nhờ vật chứng và nhân chứng là nội dung bài thơ để khẳng định hay phủ định TT có làm bài thơ này hay không?

Nội dung:

Mở đầu bài thơ là những lời chua cay: “Người ta trả lại cánh hoa tàn. Thôi thế duyên tình cũng dở dang”. Lời cay đắng này hướng về tác giả “người ta” HSHTG là T.T.Kh. Thế nhưng, HSHTG 40 câu, 10 đoạn như NTL, hoặc 44 câu, 11 đoạn theo MGL cũng chẳng có câu nào ngụ ý cho sự “trả cánh hoa tàn” cả! Chỉ có người con gái “Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn…” và “vẫn giấu trong tim bóng một người”. Nàng hỏi cái “người ấy“: “có buồn không? Có còn nghĩ tới loài hoa vỡ. Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?”. Vậy mà,… thằng ôn vật này, hờn lẫy nói rằng “người ta trả lại cánh hoa tàn”! Thiệt là… vớ vẩn! Lời than thở, chua cay chẳng ăn nhập gì với nỗi nhớ thương, lo lắng bầm gan tím ruột của người trong cuộc cả!

Ngay cả lúc hắn nhắc “cánh ty gôn” cũng chỉ đủ hơi réo lên “màu máu ty gôn đà biến sắc” và “cánh hoa xưa màu hy vọng“. Cuối cùng, nàng phản bội ta, nàng trả lại ta “cánh hoa tàn” thì đây, ta chẳng thèm nhận. Ta trả lại nàng nè! (Bởi có một “cánh hoa tàn”, hắn giữ thì nàng không có). “Thôi em hãy giữ cành hoa úa”. Ta cho nàng giữ “cành hoa úa” làm kỷ niệm suốt đời, “ăn cho hết”! Nói xong, hắn… thăng!

Trong HSHTG, làm gì có chuyện “người ấy” nhìn cánh hoa Ti-Gôn mà có “màu hy  vọng” bao giờ! Thế, T.T.Kh mới viết:

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng

Dải đường xa vút bóng chiều phong

Và phương trời thẩm mờ sương, cát

Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.

 

Bảo rằng: “Hoa dáng như tim vỡ

Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

Tức là “người ấy” đã có giác quan thứ… 7 linh cảm được khối tình con sắp vỡ như hoa Ti-Gôn. Người có được giác quan này phải là kẻ tâm tĩnh mà, hồn động mới “ngắm lạnh lùng” với “dải đường xa vút” đầy “bóng chiều sương, mờ sương, cát” toàn những thứ hư vô xa xôi, không đếm được, chẳng nắm bắt chút gì cả! Nhưng trong cái lạnh lùng, “người ấy” vẫn có hồn người khi “vít cành hoa trắng” qua những tính từ chỉ tính chất đầy nội tâm: lạnh lùng >< chạnh lòng, thở dài. Giá trị nội tâm lạnh lùng này đã được tình yêu chi phối, cảm hóa đến đau đớn mà vẫn im lặng. Cái hồn ấy đã cất giữ một chỗ cho tình yêu. “Người ấy” cũng “lạnh” nhưng cái lạnh có chứa lạnh của thời gian xa cách, thời tiết thay đổi: “gió về lạnh lẽo chân mây vắng” để cuối cùng, cái lạnh thời tiết đã ngã về phía cái lạnh nội tâm: “người ấy sang sông đứng ngóng đò”. Nội tâm với giá trị ẩn dụ “Đưa người, ta không đưa qua sông” nằm trọn ở đây! Im lặng là nỗi đau đớn nhất khi chia tay tình yêu.

Vậy thì sao, “người ấy” trong “Màu máu Ti-Gôn” ăn nhầm… hột mắt mèo hay môn ngứa hay sao mà… ngứa miệng… phun ra những thán ngữ làm tan rã giá trị hình tượng một “người ấy” đầy hào khí, nồng nàn tình cảm trong HSHTG? Ở chợ, người ta “ăn hàng, ăn vặt, ăn hột vịt lộn”, không ai nói gì. Ở trong thơ, “thi nhân” cũng bắt chước cái “vặt”, cái “lộn” của “phàm nhân” mà lại là “than vặt”, “lộn vặt” mới khiến người cười chết!

Hào hoa phong nhã của “người ấy” trong HSHTG đã bị “Màu máu Ti- Gôn” cho thành kẻ “phàm phu tục tử”. Nàng kia gửi “cánh hoa tàn”. Chàng mang “hoa úa” trả nàng giữ chơi! Cao thượng thế đấy ư? 49 với 50 rồi còn gì! Trả qua, trả lại ấy, đâu phải tính cách của người quân tử khi chia tay tình yêu!

Còn đây là “huyệt hở” để cho chúng ta “nắm ót” tác giả “Màu máu Ti-Gôn“:

Anh biết làm sao được hỡi trời!
Dứt tình bao nỡ, nhớ không thôi!
Thôi em hãy giữ cành hoa úa
Kỷ niệm ngàn năm của cuộc đời!

Bốn câu cuối này với e thơ y chang 4 câu cuối của BTCC nhất là 2 câu trên:

Tôi biết làm sao được hỡi trời?

Giận anh, không nỡ nhớ không thôi

Mưa buồn, mưa hắt trong lòng ướt

Sợ quá đi anh… có một người…

Người này đã quen tay với cách gieo vần và luật bằng trắc. Chỉ nhìn qua hai đoạn này, chúng ta thấy hai tác giả gieo như nhau, nhất là vần cuối cùng ở các từ cuối 4 câu thơ: Trời. Thôi. Úa. Đời- BBTB//BBTB- Trời. Thôi. Ướt. Người.

Quay ngược lại những hờn trách vô lý trong BTCC là mình làm thơ rồi cho người khác làm. Mình bày tỏ tâm sự mình qua hai bài HSHTG và BTCC, sau đó, mình lại mắng người ta “viết tình em” rao bán? Những hờn trách, cay chua phi lý hai bài thơ này giống nhau: Nàng đổ thừa chàng làm “vỡ lở duyên thầm kín“. Chàng chua chát rằng nàng “trả lại cánh hoa tàn”. Ai có lỗi đây? Bút hiệu Thâm Tâm nào có thấy viết bài nào trước khi T.T.Kh xuất hiện “phơi ruột gan” cho toàn thế giới xem mà T.T.Kh trách TT? Không lẽ là trách Thanh Châu? Đã nói rằng Thanh Châu với truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn” chẳng ăn nhập gì với mối tình nàng T.T.Kh kể cho thiên hạ thóc mách ngoài hoa Ti-Gôn mọc đầy Hà Nội thời bấy giờ!

Từ những “nhân chứng” lẩn thẩn này, chúng ta thấy hai “cô hồn” tác giả hai bài thơ này là một. Họ là ai mà “Trống đánh xuôi. Kèn thổi ngược?”

Đề tài người yêu sang ngang đã trở thành “ăn khách” cho thi nhân. NB là một điển hình của cái than trời, than đất khi người yêu sang ngang này.

Thơ TT phảng phất khí phách người trai thời loạn có tình, có tính cách trong những từ hoang sơ: “mạng nhện tơ, ẩm trời mưa, rú trong trời, tầm hương, tro tàn, thầy khoá viết khom lưng, màu tóc lẫn màu sơ, muôn hồn đỏ, kiếp lệ thầm, vạn linh hồn, kiếp thương sinh, ly khách con đường nhỏ, chí lớn chưa về bàn tay không, canh gà heo hút, một cổ thanh bình, trừng lên dập hết mộng, khung cổ, tiếng kèn vang, hồn thi sĩ, rừng đời lạc lối, hoa gạo rụng nhiều, viễn ly, lòng quê, dăm đầu bạc, nhất ly bôi, xuất ải dài, thú phu, khâm sai, vương ý, huyết hận, kiếp vạn cô hồn, đoạn trường, quốc hận, huyết lệ, ngai vương, bạc mệnh hương thờ, gia vận, quan sơn, biệt ly tri kỷ, bóng lưu quang, ngậm ngùi cố sự, chuông đau, đá vàng, hận mang mang, chí lớn, già teo, ném bút, vần xoay, trường đình phá bỉ, thét roi, sức ngựa,  xống áo trùng tay, vượn kêu, cơm trấu, quăng tay chén khói, trống đình, mù u…”. Những từ ngữ này, chúng ta dễ tìm thấy trong toàn bộ các bài thơ không dính dấp tới T.T.Kh hay các bài ký Thâm Tâm: “Các anh, Màu máu Ty-Gôn, Dang dở” lời lẽ mây gió, trăng hoa, thực dụng.

                                  Sự thật con người TT

Chưa có ai cho TT là “kẻ khốn nạn, nhà thổ, sở khanh, ma cạo” như Hạc Bút Ông đã chửi như thế cả. “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” là đặc điểm của loài hoa sen trong trắng, thanh cao, hương thơm ngào ngạt đã át cái mùi bùn, mùi mắm Thái, mắm tôm! Thế nhưng, làm người, ai chẳng có phút giây bồng bột nhất là bồng bột chuyện tình trong lứa tuổi thanh thiếu niên. Thuận Hữu đã có:

Những phút xao lòng

Có thể vợ mình xưa cũng có một người yêu
(Người ấy gọi vợ mình là người yêu cũ)
Cũng như mình thôi, mình ngày xưa cũng thế
Yêu một cô, giờ cô ấy đã lấy chồng

Có thể vợ mình vì những phút mềm lòng
Nên giấu kín những suy tư, không kể về giấc mộng
Người yêu cũ vợ mình có những điều mình không có được
Cô ấy không nói ra vì sợ mình buồn

Mình cũng có những phút giây cảm thấy xao lòng
Khi gặp người yêu xưa với những điều vợ mình không có được
Nghĩ về cái đã qua nhiều khi nuối tiếc
Mình cũng chẳng nói ra vì sợ vợ buồn

Sau những lần nghĩ đâu đâu mình thương vợ mình hơn
Và cảm thấy mình như người có lỗi
(Chắc vợ mình hiểu điều mình không nói
Cô ấy cũng thương yêu và chăm chút mình hơn)

Mà có trách chi những phút xao lòng
Ai cũng có một thời để yêu và một thời để nhớ
Ai cũng có những phút giây ngoài chồng ngoài vợ
Đừng có trách chi những phút xao lòng.

                                               (Biển gọi, Nxb ĐN.comp.nus.edu.sg)

Với TT thì sao? Theo NTK (sđd) ghi lời TT tâm sự, TT: “yêu … bé Kh…, sùng kính, nâng cao như mối tình thần thánh”. TT không nói dóc vì trong ba bài thơ ký T.T.Kh, dù T.T.Kh hay TT hoặc tổ hợp thơ giả (người biết chuyện), cả ba, nếu là nhân vật thật hay nhân vật trong thơ, họ cũng đã thương nhớ từng kỷ niệm. Thương nhớ người yêu và hiểu lòng người ấy là hai  mặt của một tình yêu tri kỷ. Tình yêu chỉ mới là tình. Tri kỷ mới thật là nghĩa. Trong “Lưu biệt“, TT đã khẳng định điều đó: “Đau tình không xót bằng đau nghĩa“. TT từng là con người không muốn mất hai chữ này. Người ngoài cuộc không có tấm lòng chung, làm sao hiểu nổi!

Những bài thơ thật của TT làm với từng kỷ niệm đã đi vào máu thịt so với những bài thơ ký TT, T.T.Kh với những kỷ niệm không ăn nhập vào đâu! Ta cần xét để phân biệt đâu là tiếng lòng của TT và kẻ bên ngoài tiếng lòng đó là phải bắt đầu bằng:

Những kỷ niệm của TT và Kh

– Khái niệm: Kỷ niệm là những gì đã thuộc về quá khứ. Kỷ niệm luôn luôn là những buồn thương xa xôi, là tiếng đàn trầm bổng của cuộc đời với những yêu đương. Thù, ghét, oán, hờn… không phải là kỷ niệm mà chỉ là hồi ức phần đời, cuộc đời. Kỷ niệm vui buồn thường gắn với năm, tháng, tuổi thơ, gắn với sự vật, hiện tượng, từng mùa…

Những cái tạo thành kỷ niệm là miền trầm tích, là chất liệu của thơ văn được biểu hiện bằng ngôn ngữ theo mức độ cảm xúc, rung động khác nhau của người cầm bút.

Chúng ta đọc ”Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu qua câu: ”Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người”, chúng ta có thể liên tưởng đến Bạch Cư Dị khi bị thất chức ngang qua Tầm Dương giang (Trung Quốc) cảm nàng ca kỹ Trường An đánh đàn mà viết ”Tỳ Bà Hành” để tặng. “Trăng, nhạc, bến Tầm Dương” là kỷ niệm của nhà thơ họ Bạch.

Thanh Châu từng gặp gỡ họa sư Lê, cô gái gỡ hoa Ty-Gôn năm 1937 mà viết “Hoa Ty-Gôn“. Hoa Ty-Gôn, thiếu nữ Mai Hạnh, họa sư Lê Chất là kỷ niệm trong đời viết văn của Thanh Châu.

– Ứng dụng kỷ niệm này vào cuộc tình trong thơ T.T.Kh và bút hiệu Thâm Tâm:

Với TT và Kh, một trong những kỷ niệm chính của họ là ”một mùa thu”. Cả hai, ai nói, ai viết thì cũng chỉ một mùa thu mà thôi.

Có mười từ ‘‘thu” mang gió heo may và lá vàng rơi rụng trong HSHTG:

                              Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn

                              Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,

 

                              Từ đấy thu rồi thu lại thu,

                              Lòng tôi còn giá đến bao giờ?

                              Mà từng thu chết từng thu chết,

                              Vẫn giấu trong tim một bóng người.

  

                              Tôi nhớ lời người trước bảo tôi

                               Một mùa thu trước rất xa xôi…

  

                               Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,

                               Chiều thu hoa đỏ rụng. Chiều thu

Mùa thu của hai bút danh không phải chỉ là mùa thu lá rụng tiêu điều, gió lạnh rét mướt, mưa ngâu chung chung của thi ca mà nó có kèm theo hoàng hôn, bóng nắng mờ, những cái vuốt tóc, một lần tiễn đưa, một ngày pháo cưới, một cuốn tiểu thuyết qua tay, một người chồng hờ hững, một mùa thu đầy hoa đỏ rụng là mùa thu bắt đầu yêu thương và tan vỡ. Người trong cuộc làm sao mà có thể quên được?

Người nhắc đầy tiếc nhớ, thương yêu. Mùa thu trong họ là mùa thu tình yêu và cũng là mùa chia xa đầy ắp kỷ niệm.

 

Có hai từ ”thu” xưa đầy lá khô chết:

Một cho BTTN:

   Tôi run sợ viết, lặng im nghe

                                Tiếng lá thu khô siết mặt hè.

Một cho BTCC:

  Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ?

                                Một mùa thu cũ, một lòng đau…

Mùa thu cũng là nguồn cảm hứng sáng tác mạnh mẽ của thi nhân. Điển hình, với Kiều, Thúc Sinh, Nguyễn Du đã để cho họ chia tay trong mùa thu:

 Người lên ngựa kẻ chia bào

                               Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Nhà thơ bác sĩ Thái Can trong ”Chiều thu” đã nâng niu:

 Ta về nhặt lấy hoa thu rụng

                               Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ mong

Hồ Dzếnh cũng đã thắm thiết với ”Mùa thu năm ngoái”:

Dưới chân mỗi lối thu vàng

                               Tình xa xa lắm, tôi càng muốn yêu.

Nhưng thu của Vũ Hoàng Chương là kỷ niệm một mùa thu cay đắng hơn trong “Quên”:

Có lẽ đau tâm linh còn trọn lối

                               Để đi về cay đắng những thu xưa.

Mùa thu trong thi ca tràng giang đại hải. Từ người mới tập tò đến kẻ thành thi nhân không ai không có một bài về mùa thu! Mùa thu – kỷ niệm một cuộc tình thì ít ai có. Không ai yêu trong mùa thu mà đi nhớ mùa đông? Có một mùa thu gặp gỡ tình yêu không nhớ được thì đi nhớ cái gì? Mùa thu với TT và Kh đầy kỷ niệm nên dù cuộc tình đã lỡ, đã vỡ, vết thương sâu thì kỷ niệm càng đau, càng nhớ. TT sau đó như cố ý để một từ ‘‘thu’‘ duy nhất xuống bài ”Ngô Sơn vọng nguyệt” viết chung với Trúc Khê, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân (Nguyễn Hữu Đảng, Giai thoại Văn học,  Nxb VHDT – 2000):

 Mai này mãi mãi dù đi

                                Gió thu còn giục hồn về Ngô Sơn.

Trong “Ngậm ngùi cố sựTT cũng không quên:

Cuối thu mưa nát lòng dâu bể

                                Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.

Trong “Tráng ca”, TT se lạnh một tình khúc buồn tráng sĩ:

Từng nơi xống áo trùng tay

                                 Gió thu thổi bạc một người lòng son.

Trong “Can trường hành”, TT mượn rượu khi nỗi lòng khó nguôi nguây:

                                Thi với người chờ mong kẻ rượu

                                Lòng thênh thênh nhẹ gió thu sơ.

                        …    Lồng lộng Tây hồ xanh như thu

Trong TBHTT đã nhắc lại kỷ niệm đó trong nỗi buồn man mác:

                                Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay;

                                Giời chưa mùa thu tươi lắm thay.

Cuối đoạn phục hồi của thi phẩm TBH, TT đã từng có một từ ‘‘thu’‘ phong sương, lạnh lẽo nữa:

 Hơi thu đầu núi giá lên trăng.

                                 Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

Tình yêu có nhiều kỷ niệm nhưng kỷ niệm nào sâu sắc nhất thì người ta thường nhắc.

Với TT, mùa thu bắt đầu cuộc đời TT yêu thương Kh năm 1936. Mùa thu đi vào ký ức của nhau lại chính là cái mùa thu TT mất Kh và dòng thi ca mất TT cũng vào mùa thu ở núi rừng biên giới Việt – Trung ngày 18/8/1950. Trùng hợp và ngẫu nhiên đến lạ lùng! (Nam Cao hư cấu làng Vũ Đại nhưng lại nằm xuống tại cái làng có tên thật Vũ Đại, xã Gia Xuân – Hà Nam Ninh mà Nam Cao chưa hề biết bao giờ! Quách Thoại khi viết ”Sáng tạo” có câu:

Lỡ một mai tôi chết trần truồng không cơm áo

                     Thì hồn tôi xin phảng phất chốn trăng sao.

Hồn tác giả phảng phất ở đâu không rõ nhưng người ta rõ ràng, Quách Thoại đã ”chết trần truồng không cơm áo” trong một nhà thương thí ở Thị Nghè vào ngày 7/11/1957, Giai thoại văn học, sđd, vhvn.com).

Ðời cũng có những điều không thể dùng hiện thực mà cắt nghĩa mới còn nghi vấn hoài! Nghi vấn này đang tồn tại trong ”Dang dở” ký Thâm Tâm.

Chúng ta xét thơ TT với thể loại 8 chữ:

Tập Thơ Thâm Tâm do MGL tuyển chọn không có bài thơ nào 8 chữ. NTL tuyển chọn có bài “Dang dở” nhưng không ghi nguồn trích và thời gian sinh. Nhân vật trong bài thơ 8 chữ này đã:

* Xác định cõi lòng… trật lất :

 Khi biết lòng anh như đã chết,

                                Mây thôi hồng, và lá cũng thôi xanh.

                            … Anh cố giữ lòng anh không bối rối,

                                Để mơ màng tưởng nhớ giây phút xưa.

                                Em cùng anh sánh gót dưới bóng dừa,

                                Một đêm trăng sáng trên đường đá đỏ.

Trong khi kỷ niệm ba bài thơ kia của T.T.Kh đắp ắp mùa thu hoàng hôn tức ban ngày, biển chiều và thêm kỷ niệm trong HSHTG:

                                       Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn

                                       Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,

Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,

                              Tôi chờ người đến với yêu đương.

Bản MGL có thêm đoạn này:

                              Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng

                              Dải đường xa vút bóng chiều phong

                              Và phương trời thẳm mờ sương, cát

                              Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng

Làm gì có kỷ niệm ”dưới bóng dừa, đường đá đỏ, đêm trăng sáng”, bác Thâm Tâm? Nếu “Người ấy” trong ”Dang dở” có ”Mơ màng tưởng nhớ phút giây xưa” thì phải nhớ ”mùa thu” và ”mái tóc” người yêu mới đúng như HSHTG đã ghi lại:

 Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,

                                 Thở dài trong lúc thấy tôi vui,

Có ai đi ”vuốt tóc” người yêu trong hoàng hôn mùa thu rồi nhớ ra đã đi dạo ”sánh gót” với người khác trong đêm trăng sáng, dưới bóng dừa, trên con đường đá đỏ như vậy? Ở Hà Nội chẳng biết có con đường đá đỏ này hay không? Vườn Thanh Miện ở Hải Dương, hay Thanh Hóa hoặc vườn Thanh Giám ở Hà Nội có những thứ này không?

T.T.Kh nhắc ”người ấy” không phải là TT. TT nhắc đến ”em” nhưng cũng chẳng phải là T.T.Kh hay Kh! Hai cõi lòng xác định… trật lất hết cả! Vậy thì người yêu của họ là ai?

Một lần có thể quên nhưng kỷ niệm được lặp đi lặp lại ”Người ấy thường hay” thì sao người trong cuộc dễ dàng quên như vậy?

Ký hiệu là tín hiệu nhận ra  Ta – Địch, Bạn – Thù, người này, người kia với các mối liên hệ nhau. Thời Trần, giặc Mông khi bắt được ai có thích chữ “Sát Thát” đều bị chúng giết sạch vì là đó là “kẻ địch – giết Mông Cổ”. Trong phim Tàu, con vua chúa, anh em vợ chồng con kiến lạc nhau thì tìm nhau bằng nửa vòng ngọc thạch. Bao Công tra án Quách Hòe trong vụ “Lý Miêu hoán chúa” đã giúp Lý Tần Phi ở lò gạch nhận ra vua con nhờ gót chân có chấm son. Người anh trong “Sự tích Hòn Vọng Phu” nhận ra người vợ là em gái bởi vết thẹo trên đầu ngày xưa, anh lỡ tay chém em. Người hoạt động cách mạng, lính tráng, nhận đồng đội bằng những khẩu hiệu, mã số (code). Ví dụ trong kháng chiến chống Pháp toàn quốc ngày 19/12/1946, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra mật khẩu: “Chuyến hàng sẽ đến lúc 18 giờ ngày 21-12. Hàng mang mã hiệu A cộng hai, B trừ hai. Chú ý theo dõi đón hàng đúng giờ”. Theo đó, quy ước “chuyến hàng sẽ đến” có nghĩa là tổng giao chiến bắt đầu. A là giờ cộng thêm hai, B là ngày trừ đi hai. Có nghĩa là: “Cuộc tổng giao chiến bắt đầu lúc 20 giờ ngày 19 tháng 12“. (vi.wikipedia.org). Nếu quy định nhận nhau bằng khẩu hiệu “Đại Bàng – Ó Đen” mà khi kẻ hỏi “Đại Bàng”, người nọ trả lời… “Đại Bác” thì… cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng, sang năm… đám giỗ luôn!

Tình yêu lấy kỷ niệm làm ám thị. Không nói được ám thị, ký hiệu giữa hai người thì làm sao biết mà bảo rằng đó người tôi yêu để cho “vừng mè ơi, mở cửa ra?”. Truyện cười giễu: Có một anh say, gõ cửa nhà người lạ. Người đàn bà ra mở thì hắn lầm bầm: ”Nhà mình ai đổi chỗ, cả vợ mình cũng khác… nốt”. Độc giả lại một phen mất công… thọt lét cười!

* Thâm Tâm (giả) chỉ giỏi … đổ thừa:

Kỷ niệm không có mùa thu hoàng hôn, kỷ niệm không có vuốt tóc nên ”Dang dở” phải đổ thừa…

Mối tình TT và Kh là thật (theo Nguyễn Vỹ, Hoàng Tiến… ). Kh lẩn tránh TT vì ”nghe lời mẹ lấy chồng thương gia khá giả”. TT đã không trách Kh mà quay lại tự trách mình. Cái ”Tiên trách kỷ. Hậu trách nhân” này mới là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá đạo đức con người với bất kỳ hoàn cảnh, trường hợp nào. Một thái độ quân tử sau khi chia tay.

Hãy đọc lại những dòng thơ trong HSHTG:

Đến nay tôi hiểu thì tôi đã

                            Làm lỡ tình duyên lỡ mất rồi!

Nếu TT viết dùm cho Kh thì càng nói hộ tiếng lòng nhận lỗi này của Kh. Kh nhận mình làm lỡ tình duyên thì cũng như TT nhận mình làm duyên tình lỡ. Mượn lời Kh, TT khác đã cảm nhận mình là kẻ gây cho nàng nỗi đau xa cách trong BTTN:

Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại,

                             Êm ái trao tôi một vết thương.

Chính chàng là người ra đi trước gây ra một sự chia cách mà TT gọi là ”Tai ác”:

                              Tai ác ngờ đâu gió lạ qua,

                              Làm kinh giấc mộng những ngày hoa,

                              Thổi tan tâm điệu du dương trước

                              Và tiễn người đi bến cát xa.

Để rồi, chàng đi mãi  như những cánh chim giang hồ theo một lớp trai thời loạn. ”Cô lái đò” của NB đã than:

 Nhưng rồi người khách tình quân ấy

                              Đi biệt không về với núi sông…

                              Cô lái đò kia đi lấy chồng

                              Vắng bóng cô em từ dạo ấy

                              Để buồn cho những khách sang sông.

Còn Kh của TT khác, cũng thế thôi:

Ở lại vườn Thanh có một mình,

                               Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh,

                           … Tóc úa giết dần đời thiếu phụ…

                               Thì ai trông ngóng, chả nên chờ!

Chỉ có TT  thực mới cảm thông lý lẽ trên đành chấp nhận cho bước sang ngang của Kh ”trong một ngày vui pháo nhuộm đưng”. Đám cưới thì vui vẻ nhưng có một Xuân Tâm Phan Hạp coi như ”xa lạ”:

 Đám cưới người ta vui vẻ nhỉ

                              Pháo tràng gieo đỏ, tiệc liên miên.

                              Riêng tôi đi tránh, buồn và nghĩ

                              Cảnh ấy nào đâu phải cảnh tiên.

Vì đó chẳng phải đám cưới của mình và người mình yêu! TT trách mình, J. Lei Ba – Lê Văn Bái cũng công bằng trong ”Năm qua” thay người trách người:

 Anh ơi, anh mãi bước công danh

                              Để phụ cho nhau một mối tình.

Kh lấy chồng vì không thể chờ một gã nghệ sĩ rày đây mai đó. Trong thực tế, nàng là kẻ quay lưng nhưng trong văn thơ, TT là người quay gót. Còn trong ”Dang dở”, nhân vật ”Anh” đã không bắt đầu bằng sự cảm thông đó mà chỉ hỏi ngớ ngẩn, lẫy hờn, đẩy đưa ngu ngốc:

   Em nói những gì? Anh còn nhớ rõ

                                Nhưng làm sao! Ai hiểu tại làm sao?

                                Chim muốn bay cũng chẳng giữ được nào

                                Tình đã chết có mong gì sống lại?

“Nhưng làm sao! Ai hiểu tại làm sao?” là sao? Tác giả như viết cho có, cho đủ câu. Hắn tỏ ra cao thượng, cam chịu:

Anh không trách em chi điều ngang trái

                                Anh không buồn số kiếp quá mong manh!

Nhưng khi người đàn ông tỏ vẻ cao thượng bao nhiêu thì nặng hàm trách móc, mai mỉa bấy nhiêu:

 Có gì đâu bướm muốn xa cành,

                               Anh cứ tiếc cái gì xưa đã chết.

Cái trách ”con chim muốn bay, con bướm muốn xa” là cái trách không cội nguồn gốc rễ. Vậy mà thời nay, kẻ chưa là thi nhân cũng đã có những câu trách móc sao mà trau chuốt, điệu đàng cao cấp:

Nàng đi, cây cỏ cũng sầu

                               Tôi nâng phím nhạc gọi dâu, trách tầm.

(Lê Cẩm Thanh – Ðàn tôi)

Đấy mới thực là lời trách móc của thi ca.

* TT (giả) là người… khách sáo trong “Dang dở” (Tình yêu trong danh ngôn và thi ca, Khai Tri – 1993, CA):

         Dang Dở
Khi biết lòng anh như đã chết,
Mây thôi hồng mà lá cũng thôi xanh. 
Màu hoa tươi cũng héo ở trên cành.
Và vũ trụ thẩy một màu đen tối.

Anh cố giữ lòng anh không bối rối,
Để mơ màng tưởng nhớ phút giây xưa
Em cùng anh sánh gót dưới bóng dừa,
Một đêm trăng sáng trên đường đá đỏ.

Em nói những gì? Anh còn nhớ rõ,
Nhưng làm sao? Ai hiểu tại làm sao?
Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào,
Tình đã chết, có mong gì sống lại!

Anh không trách chi em điều ngang trái,
Anh không buồn số kiếp quá mong manh!
Có gì đâu bướm muốn xa cành, 
Anh cứ tiếc cái gì xưa đã chết.

Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,
Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ,
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ, 
Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

Và thành chúc đời em luôn tươi sáng,
Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh,
Như hương trinh bát ngát ý dịu lành, 
Hòa nhạc mới chiều dâng tơ hạnh phúc.

Cuộc ly biệt ngờ đâu vừa đúng lúc,
Lòng bâng khuâng, bối rối trước khúc quanh,
Đi không đành, mà ở cũng không đành, 
Muôn chim Việt hãy về thành Nam cũ.

Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá,
Nhưng lòng anh đã bình thản lại rồi
Hết đau buồn và cảm thấy sục sôi
Niềm uất hận của một thời lạc lối

Lấy nghệ thuật làm trò hề múa rối,
Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền.
Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên;
Nàng kiều nữ chốn lầu hoa thầm kín.

Trong khi đó, thanh niên không bịn rịn.
Giã gia đình, trường học để ra đi.
Họa xâm lăng đe dọa ở biên thùy,
Kêu gọi lính giục lòng trai cứu quốc.

Thôi em nhé! Từ đây anh cất bước,
Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui
Đừng buồn thương, nhớ, tiếc, hoặc ngậm ngùi,
Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp.

1940
Thâm Tâm

– Nguồn gốc bài thơ:

Nguyễn Vỹ (sđd tr 263-264) ghi rõ: “Thâm Tâm lấy gần hết chữ và nghĩa trong bức thư đoạn tuyệt tàn nhẫn của Trần-thị-Khánh làm bài thơ CUỐI CÙNG đó mà vẫn ký T.T.Kh.., một lần cuối cùng. Rồi, để đáp lại, chàng làm một bài ký tên THÂM TÂM và cũng là bài cuối cùng, mỉa mai, chua chát…

… Đây Bài Thơ Chót KÍNH DÂNG TẶNG BẠN

Và thành chúc đời em luôn tươi sáng,

Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh,

Như hương trinh bát ngát ý dịu dàng,

Hoa nhạc mới triều dâng tơ hạnh phúc…

Trên phương diện văn thơ cũng như tình cảm, ta chỉ thương hại Thâm Tâm, nhà thơ trẻ, hãy còn ngây thơ với tuổi 19, đầy thơ mộng, cứ tưởng rằng cô Khánh vẫn thành thật yêu chàng… “.

– Nhầm lẫn của Nguyễn Vỹ:

Thứ nhất: Nguyễn Vỹ tính từ lúc TT làm bài “Dang dở” tức năm 1940 mà chỉ mới 19 tuổi? Trong khi đó, chính Nguyễn Vỹ: “Năm 1936-1937, có xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà-Nội, một nhóm văn-sĩ trẻ với bút hiệu là Trần- huyền-Trân, Thâm Tâm… đều mới 18, 19 tuổi…” (sđd tr 250). Tuổi TT sau ba năm mà không tăng tí nào sao? Ít nhất, TT cũng đã 23 tuổi rồi! Thời gian nếu TT là tác giả T.T.Kh (thơ đăng 1937-1938) thì cũng 20, 21 chứ không vào tuổi 19. TT sinh năm 1917, đến năm 1940 vị chi đã 23 tuổi!

Thứ hai: TT đăng BTCC trên TTTB vào ngày 23 tháng 7 năm 1938, sau đó “đáp lại”, TT làm bài “Dang dở” như trên. Thế nhưng, làm rồi, TT lại không cho đăng cùng thời gian 1938 mà để 2 năm sau “cơm canh nguội nghiệt” hết mới đăng? Có phải đăng lai rai , đăng từ từ để “nhử” mồi cá là độc giả tò mò chuyện tình T.T.Kh chăng? Ta thấy càng về sau, các bài ký T.T.Kh hay ký Thâm Tâm đều “yếu hơi” dần, nếu không nói là “cạn nguồn” viết lách! Có… rặn ra nữa cũng chỉ là con cọt còi, èo uột, lớn không nổi mà thôi. Tín hiệu đành phải phát ra “Stop”!

– Bài thơ này có phải của TT làm không?

Bài thơ 8 chữ này có một câu chỉ 7 chữ: “Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ”.

T.T.Kh có BTCC,  TT có ”Dang dở” là ”bài thơ chót”:

    Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,

                              Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

                              Và thành chúc đời em luôn tươi sáng…

Từ người yêu xuống bạn, qua em, y như Kiều với Kim Trọng “đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ”! Bốn từ ”kính dâng tặng bạn” sao y như ”thành kính phân ưu”! Trang trọng như thế thì người nhận cũng… giảm thọ. Kính cha, kính mẹ, dâng bà… ai đi dùng từ ”kính” tặng cho người yêu mà gọi là ”bạn”? Hóa ra, ông bà, cha mẹ, người yêu, không phân lớn nhỏ hầm bà lằng ngồi vô một chiếu! Thi sĩ này quả ”non tay ấn”, thật là kẻ đầu môi chót lưỡi, không phân lớn nhỏ, chẳng biết tôn ti:

  Và thành chúc đời em luôn tươi sáng,

                               Như mộng kiều đầy ấm tuổi xuân sang,

                               Như hương trinh bát ngát dịu lành

                               Hòa nhạc mới chiều dâng tơ hạnh phúc.

Một thời đại thi ca đã qua vô tình không nhận ra được một TT trọng tình nghĩa và một Thâm Tâm ”mồm mép”. Nhưng, may hồn, câu cuối cùng của bài thơ ”Dang dở” kịp thời kéo áo người đàn ông mồm mép kia trở lại:

Thôi em nhé! Từ đây anh cất bước

                                Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui.

                                Đừng buồn, thương, nhớ, tiếc hoặc ngậm ngùi

                                Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp.

Con chim kia, con bướm nọ nghe hai chữ ”số kiếp” vội vàng… bay đi đầu thai cho sớm để mong làm người mà hưởng ”cuộc đời vui”! Chính “số kiếp”này đã cứu vãn những lỗi lầm nếu có của con người. ”Số kiếp” này cũng ngang ngửa với số phận ”chạy chẳng khỏi trời” mà Nguyễn Du đã để Kiều lận đận mười lăm năm gặp lại Kim Trọng là số kiếp có hậu. Với mối tình TT và Kh, cái số kiếp không có đuôi này đã bắt họ mãi mãi chia lìa!

Trong ”Dang dở”, sự hiểu biết về người phụ nữ thời loạn cũng chỉ dừng lại ở ”nàng Kiều nữ” và coi đó như ”trò hề múa rối” mà người đàn ông coi nhẹ tình nên hối hận vì đã ”đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền”. Lời bất nhẫn cũng đã nói ra. Thiết nghĩ, người trong cuộc sao nỡ lòng! Thơ như giễu cợt. Những từ “mộng kiều, hương trinh, hòa nhạc…” lơ lửng như kẻ say nàng tiên nâu mà chúng ta không bao giờ kiếm được trong thơ TT thật. Thi sĩ nào hay dùng những từ này? Loại thơ mang nội dung rời rạc, trên trời, dưới đất và thi pháp 8 chữ này, TT không hề có. Nhân vật thực tế trong đời là Khánh là cô nữ sinh lớp Nhất trường Tiểu học Sinh Từ – Hà Nội và nhân vật trong thơ của T.T.Kh đâu có phải là những “mộng kiều” hay “kiều nữ chốn lầu hoa thầm kín” gì? Tìm ra cái người chuyên viết đề tài kiểu bướm bay, bướm lượn này trong đám bạn bè của TT trong giai đoạn 1937 – 1940, chúng ta sẽ “tóm” được hắn là… “ốc mượn hồn” TT để TT bị “ném cà chua“, xơi… “trứng thối” chơi!

Ta loại bỏ bài “Dang dở” do TT làm vì xa nội dung, lạc thi pháp!

Độc giả phản hồi: Hạc Bút Ông (web đd): “Sau lớn tiếng xác nhận vị trí tình cảm trong thơ, trong lòng T.T. KH., chàng “nghệ sĩ” Thâm Tâm đã vội vã đóng cửa rút cầu. Phải chăng T.T. KH. vốn chỉ là một nhân vật tưởng tượng? Phải chăng Thâm Tâm sợ rơi mất chiếc mặt nạ hào hoa giả tạo của y? Ðâu là lý do để Thâm Tâm vội vàng dứt điểm ở Dang Dở, bài thơ thứ nhì gửi tặng người tình… Thâm Tâm thường không hiểu được những gì ông ta đã viết ra. Tình dang dở, đâu có nghĩa là “tình đã chết?”…  Thâm Tâm mà “Cuộc đời anh đã phong ba dập vùi” lại thiếu tự tin, lại buông tay tiêu cực vậy sao?…  Ở một ý nghiã khác, sự dấn thân cho lý tưởng, dầu được khơi nguồn từ bất cứ động lực nào cũng đều đáng quý. Nếu như anh thật lòng yêu lý tưởng, và không coi như một nguyên cớ của sự bỏ chạy, phủi tay với một người tình. Theo Vũ Bằng, (Bốn Mươi Năm Nói Láo, trang 121-123, Nam Chi Tùng Thư xb 9-7-69 ) thì: “Thâm Tâm là người đồng tình luyến ái”. Cũng trong thư liệu này,Vũ Bằng không nhắc gì đến tình cảm của Thâm Tâm và T.T. KH. Cũng vậy,(cuốn Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại của Trần Tuấn Kiệt, Ðại Nam xb, tr 303, quyển 1) cũng chỉ trích đăng bài Gửi T.T. KH của Thâm Tâm và phần tiểu sử. Do đấy, mối ẩn tình này chỉ đáng được coi như một giai thoại mà thôi.

… Qua hai bài thơ Gửi T.T.KH. cuả Thâm Tâm, người ta đã có cơ hội nhìn thấy rõ nhân cách và sở trường sở đoản của nhà thơ này. Nhân cách tệ mạt, nếu không nói là hèn mạt ở vị trí người tình, và cũng ở vị trí một người nghệ sĩ. Sở trường của Thâm Tâm là cố gắng, làm dáng cho tối tăm chữ nghĩa. Sở đoản của ông ta là dung nạp những từ ngữ mơ hồ, không nói được điều gì. Kể cả những từ, những ý hầu như vô nghĩa: “Vâng, tôi vẫn biết cánh đồng thời gian”, hoặc như “Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều”…Qua những nhận định và so sánh, giữa những bài thơ T.T KH. và Thâm Tâm có khá nhiều điểm tương đồng ở thể cách diễn ý và ngôn từ. Bỉ bút tạm đi đến một kết luận rằng: T.T. KH. chỉ là một mẫu người giả tưởng dưới bàn tay đạo diễn vụng về thô lậu của Thâm Tâm. Hay nói một cách khác thì những bài thơ của T T KH là do Thâm Tâm “gà” hay viết giùm cho người tình ba trợn của hắn… Thời đại nào cũng có những sự việc lố lăng và con người lố lăng. Tỉ như T.T. KH. là một nhà thơ nữ có thật, thì với bốn bài thơ tầm thường, đầy dục tính khác thường ấy phỏng có đáng để chúng ta quan tâm nhắc tới? Và Thâm Tâm nữa, cũng nên để ông ta ngủ yên ở dưới mồ quên.

Phê bình văn chương người vốn là một điều khó. Thời gian và không gian đã khác nhau trời biển. Ngôn ngữ cũng có nhiều biến thiên. Góc nhìn cũng vậy. Cái đúng ở hôm xưa, đã không ở bây giờ. Và ngược lại. Càng khó hơn nữa là chỉ căn cứ vào những chứng liệu vô tri để đào sới, dựng lại một giai thoại bí ẩn từ hơn nửa thế kỷ đã qua. Người viết chỉ bằng một tấm lòng thành khẩn với văn chương, không đố kỵ, định kiến. Nặng nhẹ, đúng sai thế nào, mong quý vị thức gỉa cao minh chỉ giáo”.

Tháng 7-1994

                                                                             Hạc Bút Ông

Lại một lời phê bình cần được… “thức giả cao minh chỉ giáo” thiệt!

Lời nhận định TT “gà” hay “viết dùm cho người tình ba trợn của hắn” cũng chính là ý của Ngân Giang mà Hoài Anh kể: “Nhà thơ nữ Ngân Giang, một người bạn thân của ông Đào Tiến Đạt, lại nói trái hẳn. Bà cho biết hồi trước có lần hỏi Thâm Tâm về T.T.Kh thì Thâm Tâm trả lời: Thâm Tâm làm thay cho một bạn”. Khớp với Đỗ Nhân Tâm kể lại: “khi hỏi về bốn bài thơ ký tên T.T.Kh, Thâm Tâm đã trả lời: ‘chính tôi làm những bài thơ đó’“.?!

Giá trị thực sự của “Dang dở”?:

”Dang dở” như một lời thức tỉnh trước mối tình bị chính người trong cuộc cho là tầm thường không đáng để người đàn ông hy sinh. Ngoài những ý nghĩ ”cao thượng” thiếu cân nhắc, nhân vật ”anh” còn được trang bị bởi một giọng điệu thơ ”gân guốc, rắn rỏi” (HT-HC) (dùng trong bài thơ này mới hợp) như được tiếp sức bởi một luồng tác động tư tưởng khác:

Trong khi đó, thanh niên không bịn rịn

                                 Giã gia đình, trường học để ra đi .

                                 Họa xâm lăng đe dọa ở biên thùy

                                 Kêu gọi lính giục lòng trai cứu quốc.

Hạc Bút Ông nói có lý khi cười bút hiệu Thâm Tâm về câu “họa xâm lăng đe dọa ở biên thùy”. Nước Việt Nam thời điểm 1938 – 1940, bài thơ ra lò, đã nằm trong bàn tay của thực dân Pháp rồi tới phát xít Nhật. Họa xâm lăng nỗi gì nữa ở biên thùy? Rõ ràng là tác giả này yếu lịch sử, mù mờ thời cuộc, con thiêu thân là đây! Đọc được những câu này, bao người vội liên hệ ngay tới ”hình tượng ly khách” (Người ra đi ) nhập nó vào TBH của TT và cho đó là hình ảnh người chiến sĩ cách mạng mà bài viết của MGL là điển hình. TT nào thì chưa thể ”nhập cuộc” nhanh như vậy. Khi TT có tư tưởng bỏ lối yêu đương tầm thường, cung phụng đàn bà để đi lính cứu quốc năm 1940 mà sao không chịu đi để chờ mãi tới 1946-477 mới gia nhập Vệ quốc quân? Con người TT ai cũng cho là ”múa kiếm” tài tử trên sông Hồng như ”Kinh Kha múa đao trên sông Dịch” kia thật dễ nhưng múa… “mép” thì phải đợi… dứt bỏ quá khứ đau buồn trước đã. Nếu TT đã đi trong thời gian 1940 thì làm sao còn cương quyết “xuất phát” trong “Lưu biệt” năm 1944:

Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa

Tôi quyết đi rồi, tôi phải đi.

Thời loạn lạc, hầu hết những thi nhân ”vai ba lô theo kháng chiến” không phải dễ dàng nếu không có một lý do nào đặc biệt. Lý do đi theo kháng chiến của TT thì đã nói ở phần trước. Vả lại, các nhà phê bình, nghiên cứu thuộc hàng Giáo sư, Tiến sĩ (đã nêu trên) đều cho cái ”khó hiểu”, cái ”bi phẫn” của TT ”do hoàn cảnh đất nước bị thống trị, ông không tự do bộc bạch tâm trạng mình” (Trần Hữu Tá, Tôn Thảo Miên, sđd) nhưng tại sao trong bài ”Dang dở” (nếu như đúng là do TT viết?) đoạn cuối bài thơ ký TT này, cái chí khí, cái khó hiểu, u uất lại hăng máu nói sạch bách? Ðó là: Thức tỉnh, không đem ”nghệ thuật, tài ba” phục vụ người đẹp lầu hoa nữa mà lên đường đi lính cứu quốc thì còn gì bí mật mà khó hiểu?

TT có làm thơ 8 chữ không?

Hoài Anh trong bài “Thơ T.T.KH Sự thật hay huyền thoại?” tháng 3/1994 (thanhtung.com) kể rằng: “Năm 1951, nhân làm công tác địch vận và quân báo của Liên khu III, tôi vào nội thành Nam Định hoạt động, ngẫu nhiên được đọc một bài báo của Anh Đào, đăng trên một tập san của Hà Nội tạm chiếm, tôi xiết bao kinh ngạc khi thấy trong đó có kể tường tận về mối tình giữa Thâm Tâm và T.T.Kh. (Ông Anh Đào bảo đó là tên viết tắt của Thâm Tâm và Khánh)… Hoài Anh cho ông Anh Đào nào đó đã “bịa ra”:  Những câu thơ “con cóc” như thế dám cả gan gán cho Thâm Tâm hay sao? Chưa hết, bài “Dang dở” còn có những câu: “Thôi em nhé, từ đây anh cất bước/ Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui/ Đừng buồn thương nhớ tiếc hoặc ngậm ngùi/ Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp’.

Nên nhớ: Thâm Tâm không hề làm thơ tám chữ bao giờ cả?”.

Có lẽ nào thơ 8 chữ của TT tự hủy hoặc đã bị chiến tranh tiêu hủy hay còn nằm đâu đấy trong lòng đất, trong núi đồi? Mà có hay chăng nữa, chúng ta tin chắc rằng TT khó có thể làm bằng giọng văn từ hào khí đầy tính cách nam tử hán, bỗng dưng… gân cốt, khách sáo, vớ vẩn, tầm thường như trong “Các anh, Màu máu Ty-Gôn” và nhất là trong “Dang dở” 8 chữ? Nếu phải, thật tiếc biết bao! “Tri giả, bất giả, tri thức, bất thức“! Chuyện đời trái phải, tốt xấu thật khó lường!

TT chống dỡ bằng cách nào khi “hồn thiêng nay đã về nơi suối vàng“?

– Nhưng ngôn ngữ thơ, thi pháp thơ lại là phương tiện duy nhất cứu vớt cho TT: Trong hàng ngũ bạn bè tốt xấu của TT, ai đã từng làm thơ bát cú nhuần nhuyễn?

Điểm qua một loạt các vương tôn, công tử thi ca thường tụ tập nơi ngõ Sầm Công, Chợ Hôm, Văn Điển, Phố Bạch Mai mà hội bàn văn chương, phi tiên nâu, chúng ta sẽ thấy nổi lên các “tình nghi viên” sau đây là chơi thân với TT: NB, THT, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương.

Chúng ta xét thi pháp từng người một để làm phép so sánh, đối chiếu và loại trừ.

              * NÉT ĐẶC SẮC TRONG THƠ THÂM TÂM*

+ Nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ TT: (Để phân biệt bài thơ ký TT, T.T.Kh giả).

Khái niệm: Thơ ca là loại tác phẩm trữ tình nhưng nó không thoát ly hẳn nét đẹp của tự sự, kịch tính (thuộc bộ phận tự sự và kịch). Khi người đọc phát hiện trong dòng trữ tình có ”bí ẩn, có uẩn khúc, khó hiểu, có mâu thuẫn…” thì đó chính là chỗ ”giao mùa” của ba thể loại văn học (Tự sự, Trữ tình và Kịch).

Thơ của TT nằm giữa ba thể loại đó.

Mỗi nhà văn, nhà thơ… đều có phong cách riêng của mình. Đó là chỗ đứng cho một tác phẩm và tác giả ”sống” được là nhờ tác phẩm.

Ca sĩ nổi nhờ chất giọng trước. Chất giọng có muôn hình muôn vẻ hợp với từng nhóm thích (fan). Chất giọng có thể đào luyện, bắt chước nhưng hấp dẫn, lôi cuốn vẫn là chất giọng thiên phú. Nét đẹp người phụ nữ qua bàn tay ”nhân tạo” với những ”viện giải phẩu thẩm mỹ” sẽ mất sự trung thực. Phong cách một tác giả qua sự bắt chước cũng thế. NB, Xuân Diệu… đã từng bắt chước một số câu lục bát trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Một số người làm thơ thất ngôn bát cú đã bắt chước giọng thơ của Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Ta đọc là thấy rõ ngay.

Riêng trong dòng trữ tình, một tác giả có thể viết theo nhiều thể thơ và thành công cũng khác nhau như: Đỗ Phủ, Lý Bạch, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Bạch Cư Dị… chiếm lĩnh ở thể ngũ ngôn nhưng sang thể thất ngôn ít nhiều để cho Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn, Thôi Hiệu… ngồi cùng bàn. Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng… chiếm thể lục bát. Các nhà ”Thơ Mới” chiếm lĩnh thất ngôn, tám chữ, năm chữ, tự do (độc giả có thể tìm hiểu thêm trong toàn bộ nền thi ca Việt Nam).

TT nổi bật với TBH thể thất ngôn. Thi nhân này chưa bao giờ thành công trong thể lục bát một cách xuất sắc và hầu như không đụng đũa vào loại thơ 8 chữ ngó dễ xơi mà khó chơi này. Bài “Đây cảnh cũ, đâu người xưa” ngoài 4 câu đầu 7 chữ còn lại là thể lục bát nếu là của TT thì càng chứng minh TT chẳng hợp với thể này. “Tráng ca” cũng không ngoại lệ là bài thơ lục bát có chữ “Tình” về nội dung chứ chưa có chữ “Tinh” về nghệ thuật. Có điều, thơ đích thực của TT thì bài nào cũng… trong vắt như sương lẫn ý nghĩa thật và ẩn dưới những bức tranh ẩn dụ.

Xét nghệ thuật, thơ TT mang âm hưởng cổ phong hay còn gọi là cổ thể với cách gieo vần không theo ”độc vận” mà là ”liên vận” so với thơ cận thể, nó khác ở chỗ cận thể đòi hỏi niêm luật chặt chẽ.

Một tác giả nếu đã quen tay với cách gieo vần từ trước thì ít khi có sự thay đổi đột ngột. Các nhà thơ Đường, các nhà thơ mới đều đi theo sự quen tay này.

Trường hợp thơ TT cách gieo vần tương đối thống nhất (có đoạn không theo nhưng gieo vần lưng) ở chỗ, cứ một đoạn bốn câu thì thường:

– Câu 1, 2, 4 liền vần:

                    Đưa người, ta không đưa qua sông,

                    Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng?

                    Bóng chiều không thẩm không vàng vọt,

                    Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

                                                                (TBH)

Trăm giàn lý đỏ đã lên hoa

                    Tâm sự như in cảnh ác tà  

                    Đạo nghĩa hoài đêm chơi bạn quý

                    Thân hình hậu gửi kết duyên ma.

                                                  (Can trường hành)

Thăng Long đất lớn chí tung hoành 
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh 
Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Hội nhau vầy một tiệc quần anh.

                           (Vọng nhân hành)

Tai hại bao nhiêu sự thực đời

Trừng lên, dập hết mộng! Như người

Tưởng yên tĩnh sống trong khung cổ

Vụt tiếng kèn vang nhắc … hiện thời.

(Giấc mơ thanh bình)

Mả lạnh không hoa, hết cả hương

Hành nhân lạnh nhạt thiếu lòng thương

Dăm người tuổi tác qua thăm viếng

Một buổi rồi quên mất độ đường.

                                   (Chết)

Chiều mưa đồng rạ trắng
Đất tề sông quạnh vắng
Ngồi kín dưới nhà gianh
Nghe lúa lùa ắng lặng

Chiều mưa đường số 5
Đôi mắt sao đăm đăm 
Chứa cả trời mây nặng

                       Miền Việt Bắc xa xăm? 

(Chiều mưa đường số 5)

 

– Câu 2, 4 liền vần :

Ngậm lời tráng khí, chim bằng ốm

                     Chuyện lúc thương tâm, gái điếm già,

                     Gió thốc hàng hiên, lười viễn mộng

                      Mưa rạt rào cát lợi ly ca.

                                                 (Can trường hành)

 

Chán ngắt gia tình, sầu ngất ngất,
Già teo thân thế hận mang mang…
Thẹn cùng trời đất mòn xuôi ngược,
Chí lớn không đầy nửa tấc ngang.

                                               (Ngậm ngùi cố sự)

– Nếu có chuyển vần thì câu 1 và 2 trùng vần hoặc 2 và 4 trùng vần cùng một bài:

Hiên vẩn vơ bay mạng nhện 

Hồn thương lững thững ẩm như sương

Ngoài xa đôi tiếng rao đêm vắng

Rung cả mây trời cả ý thơ.

 

Biết mấy đời trai trong góa bụa

Ðêm ròng đứng thắp mẩu tâm hương

Tro tàn có đốt không hồng nữa

Thắt lạnh bên lòng nỗi hận thương.

(Không đề)

Các nhà thơ khác nếu đã quen như vậy hoặc giả sử chọn cách gieo vần khác thì cũng giống như vậy và giữ cách gieo vần ấy trong toàn bộ sáng tác.

Trong khi đó, “Dang dở” là bài thơ:

– Nội dung đi ngược với tình yêu mà TT tôn thờ.

– Thể thơ 8 chữ không tìm thấy trong thơ TT.

– Nghệ thuật khác cách gieo vần của thơ TT: Câu 2, 3 trùng vần là thi pháp khác rõ nhất so với thơ TT trong toàn bài “Dang dở” với 11 đoạn thơ:

“xanh – cành; xưa – dừa; sao – nào; manh – cành; thơ – phờ; xanh – lành; quanh – đành; rồi – sôi; huyền – duyên; đi – thùy; vui – ngùi”. Ví dụ:

Khi biết lòng anh như đã chết,
Mây thôi hồng mà lá cũng thôi xanh. 
Màu hoa tươi cũng héo ở trên cành.
Và vũ trụ thẩy một màu đen tối…

Một điểm đặc biệt của TT trong cách sử dụng luật:

Ta lấy TBH làm tiêu điểm để so sánh vì TBH đích thực là thơ TT không ai phủ nhận. Trong TBH (lấy nguyên bản ngữ pháp trong TNVN của HT – HC Nxb VH – 2003):

– TBH có đoạn thơ sau:

Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước.

                    Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

                    Một chị, hai chị cùng như sen

                    Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta thấy TT gieo vần từ bằng/trắc từng cặp một toàn bài thì chuyển đột ngột trắc/trắc (trước/nốt) khiến câu thơ đưa hơi lên. Người đọc lần đầu chưa quen sẽ rất khó chịu với cách gieo này. TT quen tay như thế trong bài:

                          Vọng nhân hành

         Thăng Long đất lớn chí tung hoành, 
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh.
Một lứa chung tình từ tứ chiếng,
Hội nhau vầy một tiệc quần anh.

Mày gươm nét mác chữ nhân già,
Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa. 
Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt,
Chưa ngất men trời hả rượu cha.

Rau đất cá sông gào chẳng đủ
Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba, 
Rằng: “Đương gió bụi thì tơi tả. 
Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!”

 Thơ ngâm dở giọng, thời chưa thuận 
Tan tiệc quần anh, người nuốt giận, 
Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay,
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận.

Thằng thí cho nhàm sức võ sinh,
Thằng bó văn chương đôi gối hận

Thằng thư trói buộc, thằng giã quê. 
Thằng phấn son nhơ… chửa một về!
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”.

Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu,
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê, 
– Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt,
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.

(Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 3, 7-1944)

Trong năm 1944, nhằm Giáp Thân, các ngày thứ bảy của tháng 7 là: 1. 8. 15. 22. 29. Căn cứ vào cụm từ “xuân bốc rượu”, ta đoán ra, TT làm bài thơ này vào mùa xuân 1944 nhưng sao lại ghi tháng 7?

Bản MGL:            Can trường hành

Trăm giàn lý đỏ đã lên hoa
Tâm sự như in cảnh ác tà 
Đạo nghĩa hoài đêm chơi bạn quỷ
Thân hình hậu gửi kết duyên ma

Ngậm lời tráng khí chim bằng ốm
Chuyện lúc thương tâm, gái điếm già 
Gió thốc hàng hiên, lười viễn mộng
Mưa rào mặt cát gợi ly ca

Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta
Thà với mãng phu ngoài bến nước 
Uống dăm chén rượu quen tay thước

Cái sống ngang tàng quen bốc men 
Thù với hào hùng chí thiếu niên 
Vỗ vai sang sảng giọng Bình Nguyên 
Chàng là bậc trẻ không biết sợ

Đôi mắt hồng say sao Hoả lên
Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sĩ
Mềm môi nốc cạn một vò men
Mấy lần thù trả thân không chết

Khắp xóm giang hồ khét họ tên
Vợ con thí tất cho thiên hạ
Yêu rất ban ngày, ghét rất đêm
Thi với người nằm say bóng liễu

Thi với người chờ mong kẻ rượu
Lòng thênh thênh nhẹ gió thu 
Nghĩa khí ngàn năm gió chẳng mờ!
Hay đâu kẻ vũ đất Lương Yên

Một sớm nghe bùng cơn gió lên,
Xách gói sang Nam không hẹn lại
Chỉ hiềm chẳng đụng đến cung tên!
                          Ngươi chẳng thấy

Thao thao Hồng Hà vạn thuở chảy
Nước mạnh như thác, một con thuyền
Ta lênh đênh hoài sầu biết mấy!
Ngươi chẳng thấy

Lồng lộng Tây hồ xanh như thu
Giai nhân, danh sĩ đua ngao du 
Cùng ta tri kỷ không ai ở
Vì đời ta cũng không an 

                           Ngươi chẳng thấy
Vì đời ta buồn như thế đấy
Cho nên tri kỷ tếch phương trời 
Chén rượu ngồi suông vắng cả người!

Hôm nay lại nở hoa lý đỏ 
Trong rượu vân vân… bao vết 
Người chẳng thấy rằng hoa như tim 
Hoa nát lòng ta đau vạn thuở.

                                      (1944)

“Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành” cứ cho là hơi thơ cổ nên vậy nhưng trong thơ hiện đại của TT thì sao?

– TT vẫn cứ gieo như thế trong “Chiều mưa đường số 5″ (đường số 5 tức Quốc lộ 5. Đây là con đường huyết mạch nối liền Hà Nội – Hải Phòng trong thời khánh chiến chống Pháp. Nó được nâng cấp thành Quốc lộ 5A sau giải phóng, theo “Bách khoa toàn thư mở” vi.wikipedia.org/wiki):

Bản của MGL:

Chiều mưa đường số 5
Chiều mưa đồng rạ trắng
Đất tề sông quạnh vắng
Ngồi kín dưới nhà gianh
Nghe lúa lùa ắng lặng

Chiều mưa đường số 5
Đôi mắt sao đăm đăm
Chứa cả trời mây nặng
Miền Việt Bắc xa xăm?

Ôi núi rừng thương nhớ
Rét mướt đã hai năm!
Chiều mưa ngàn hoa nở
Hoa phới bay mùa xuân

 Bếp sàn gây ngọn lửa
Chén trà ngát tình dân 
Chiều mưa lùa các cửa
Ngày bộ đội hành quân

Mẹ già không nói nữa 
Nước mắt nhìn rân rân… 
Ôi đâu rồi sơn nhân
Đâu rồi anh du kích

Chiều mưa manh áo rách
Vác súng vượt lên đèo
Giao thông qua mũi địch
Đâu rồi “nhình” với “a”

Tiếng cười reo khúc khích
Đón chiến sĩ quay về
Sau trận đi phục kích
Chiều mưa giã gạo mau

Chầy tập đoàn thình thịch
Ôi núi thẳm rừng sâu
Trung đội cũ về đâu
Biết chăng chiều mưa mau

Nơi đây chăn giá ngắt 
Nhớ cái rét ban đầu 
Thắm mối tình Việt Bắc 
 1946

Bài thơ thất ngôn dùng vần trắc chủ yếu nhưng có lẽ người tuyển ghi thiếu ở đâu một câu. Hoặc TT có thói quen như thế chăng? Thành ra, thay vì 36 câu, 9 đoạn thì chỉ còn 35 câu. Việc tìm hiểu cách gieo vần theo câu mấy coi như gặp khó khăn.

Gieo trắc tréo như thế được TT sử dụng trong các thể thơ ngoại trừ lục bát.

TT gieo vần trắc tréo quen tay hay gieo từ như… say rượu: “lảo đảo năm canh” hay kiểu… ngang xương: “Thằng thí cho nhàm sức võ sinh, Thằng bó văn chương đôi gối hận. Thằng thư trói buộc, thằng giã quê”, “Trời hỡi! Mai này tôi phải đi. Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe” tức cành hông, ngang như cua ấy không thấy xuất hiện trong bốn bài ký T.T.Kh hay ba bài ký Thâm Thâm (tức là 7 bài thêm) nào cả?

Chúng ta loại trừ những bài thơ của thi sĩ khác không liên quan tới  TT và T.T.Kh. Ví dụ như câu thơ cũng gieo vần trắc/trắc sau đuôi như bài “Viếng bạn” của Hoàng Lộc có bốn câu: “Khóc anh không nước mắt. Mà lòng đau như thắt“. “Anh có nghe súng nổ. Là chúng tôi đang cố”
Ta có thể tình cờ thấy cách gieo này trong một bài thơ cùng tên (ký T.T.KH) “Bài thơ cuối cùng” của Hoàng Thi Thơ (HTT) trên dactrung.net:

Đây bài thơ cuối cùng anh viết cho em
Anh viết cho em bài ca mộng ước 
Vừa khi tàn úa, tựa như mùa 
Chết theo thu già, cũng như trăng tà
Chết theo đêm buồn dần qua

Thôi tình đã thế này, em đó anh đây
Em đó anh đây, mà đâu còn nữa 
Chiều trông chờ đón, buồn vui cũng úa
Những đêm trăng buồn, những khi dỗi hờn
Đón nhau bên đường tình mơ

Đọc kỹ, ta thấy hơi thơ trắc trắc như thế, TT đi theo cặp 3 từ “sen nở nốt“; HTT đi theo cặp 4 từ “mà đâu còn nữa“. Một điều nữa, thơ HTT là dùng cho nhạc nên vần trắc trắc như thế cũng chỉ tình cờ theo giai điệu mà thôi! Toàn bộ các sáng tác nhạc của HTT đều không thấy đi đều như thơ TT. HTT trắng án! Tất nhiên, HTT là một nhạc sĩ mà ai cũng quen thuộc những bản tình ca trắc trở như “Chuyện tình cô lái đò bến Hạ, Chuyện tình người trinh nữ tên Thi, Chuyện tình La Lan, Nỗi buồn Châu Pha…”. Nếu Thanh Hóa là nơi phát sinh huyền thoại “Cô gái vườn Thanh” 1937 – 1939 nổi đình, nổi đám thì sao người nhạc sĩ 19 tuổi này lại… bỏ quên khi ông ở trong lò giáo dục Thanh Hóa chui ra?

Lý do khác: Thêm vào đó, BTCC của T.T.Kh đăng trên TTTB số 217, ngày 23/07/1938. Bài “Các anh” ký Thâm Tâm đăng số 307 ngày 4/5/1940. Bài “Dang dở” bắt buộc đăng sau bài “Các anh” vì “Dang dở” là bài thơ cuối cùng của bút hiệu Thâm Tâm. Thời gian này, nếu như TT đã lấy Phạm Thị An trong khoảng thời gian 1937-1938 như Văn Giá viết trong: “Thâm Tâm – Một thời và mãi mãi”: “Gia cảnh Thâm Tâm rất cơ hàn, túng quẫn. Từ Hải Dương lên Hà Nội (1938), kéo theo cả nhà gồm cha mẹ già, hai người chị cùng bốn đứa em còn nhỏ và người vợ, có đến cả chục miệng ăn như tằm ăn rỗi. Ngần ấy người dồn ép vào sống trong một căn nhà thuê tháng rộng khoảng chừng hai chục mét vuông. Thâm Tâm nhận việc đóng sách cho Nhà in Mai Lĩnh rồi mang về cho cả gia đình làm, còn riêng mình thì đi vẽ tranh minh hoạ cho các báo, làm thơ, viết truyện, viết kịch, viết tạp văn… gửi đăng các báo vừa để sinh nhai, vừa thoả cái mộng văn chương hằng ấp ủ. Có nghĩa là ông viết cật lực, chẳng kén chọn gì lắm về đề tài, thể loại, nơi in… “. (thotre.com) càng không thể vẩn vơ như thế được.

Không thể cho là vì hoàn cảnh túng thiếu của gia đình hay vì chủ bút TTTB Vũ Đình Long “bật đèn xanh” vì hiện tượng T.T.Kh đang ăn khách thời đấy mà TT phải làm thơ “nắm ruốc” cho thỏa mãn những cái lưỡi thèm me như thế! Kêu tên người yêu cũ rồi giành giật với nhau trên văn đàn? Nếu TT lấy vợ năm đó, chắc TT phải lấy… keo dán sắt dán hai lỗ tai vì “ớt nào là ớt chẳng cay”? Chúng ta thử nghĩ coi?

Thế nhưng, Văn Giá thông tin cũng… nhầm. Năm 1938, TT chưa lập gia đình.

Thơ TT ngoài thi pháp gieo vần như trên, còn có thi bút đặc biệt của nhà hội họa bằng thơ. Những bài thơ tả bề nổi trần văn trụi đều không phải là bút pháp ẩn dụ giá trị tạo hình bằng những bức tranh thật tĩnh và có hồn.

Chốt: Trên đây chỉ là một vài ý kiến chủ quan nho nhỏ chưa chắc một trăm phần trăm vì TT làm thơ quá ít mà còn nhiều dị bản nữa. Nếu muốn chắc có thể rà hết những bạn bè của TT. Ai đã đi theo thể 6/8 với giọng thơ chả chớt và ai đi theo thất ngôn với vần 2-3 hay 2-3-4 hay thể 8 chữ với vần 2-3 để phát hiện ra ”vết lông ngỗng” của người ”tàng hình” ký TT hay T.T.Kh. Kho tàng ”Alibaba với bốn mươi tên tướng cướp” và ám hiệu “Mè vừng ơi mở cửa ra!” động thiên thai T.T.Kh còn nhiều điều lý thú chờ độc giả phát hiện thêm.

Chuyện tình TT với cô học sinh trường Tiểu học Sinh Từ là có thật chứ không huyền thoại gì cả. Nhóm bạn thân “áo bào gốc liễu” không thể “tai điếc, mắt ngơ“. Người thông cảm. Kẻ không. Người trân trọng. Kẻ phá. Cho nên, ta thấy rằng một “ê kíp” đội lốt TT và T.T.Kh với những tình cảm khác nhau kia, sẽ khác nhau trong từng bài. Văn là người. Văn không giống người thì văn giống ai? Những bạn bè này không ngờ cuộc vui thoáng chốc hóa thành cái họa văn chương! Song ca bài thơ lục bát đầy lẵng lơ “Màu máu Ty-Gôn“chính là tác giả “Các anh” với “e thơ” như vậy!
Khi đưa tác phẩm của TT vào sách, người chọn lọc cũng nên ghi chú những bài nào đang còn mơ hồ giữa hai bút hiệu thật giả nói trên và mở ra con đường cho các nghiên cứu sinh sau đại học nghiên cứu thêm. TT đã thành hai TT: Một TT nặng chữ ”tình”. Một TT cười cợt chữ ”nghiã”. Bởi vậy, TT có viết ”Ðau tình không xót bằng đau nghĩa” trong “Lưu biệt”.

Trả lại giá trị thật cho TT vẹn toàn hai chữ ”tình nghĩa” này thiết nghĩ người yêu văn học không thể nhắm mắt làm ngơ, không thể chờ phép nhiệm màu nào ban tới.

Không phải bài nào ký TT hay T.T.Kh cũng là thật. Loại trừ như thế nào? Những người sống thời TT cũng đã từng nghe hay nghe chính TT kể lại có lấy bút hiệu T.T.Kh như Nguyễn Vỹ, Ngân Giang, Nguyễn Tố, Hồ Thông, Đỗ Nhân Tâm, Lê Công Tâm, Hoàng Tấn, Hoài Anh… Ta không dựa vào lời kể “chết không đối chứng” để kết luận mà xem xét từ những bài thơ đó xem xét từng nội dung, giọng thơ có trùng hợp với một bối cảnh là một cuộc tình tan dưới sắc hoa ti-gôn hay không? Nếu khác, tức là người viết dùm (giả danh) chưa hiểu hết lòng của người ta vì không ở trong cùng một kỷ niệm, một nỗi nhớ nào sâu sắc dẫn tới ng̣òi bút hững hờ, lời văn nhạt tình, ý phát sinh lạt lẽo.

Tình nghi viên… ai ký Thâm Tâm làm bài “Dang dở” 8 chữ:

Trần Huyền Trân (THT): Người bạn “nối khố” của TT:

THT hầu như ít làm thơ 8 chữ. Trên các mạng cũng không thấy. Trong sách NTL chỉ độc nhất một bài thơ 8 chữ:

Một người đã sống

Có ai thấy ngang tàng trong Hà Nội

Sống một anh chàng biếng lười, biếng nói,

Bạn với loài người: một con chó bông,

Với chiếc mũ tàn, bộ áo mùa đông.

 

Có lẽ gia đình, bạn bè không hết,

Với các thứ tình, lòng anh đã chết!

Nên những chiều khi Hà Nội tro giăng,

Anh hiện ra đời, dắt chó tung tăng.

 

Đời đã cười anh một thằng ngu ngốc

Không biết đua chen, gian ngoan, luồn lọc.

Rồi đời gọi anh:

“- Ô một thằng điên

Đi sợ tiền tài, danh vọng, tình duyên”.

 

Anh đã nhìn qua những lời thiên hạ,

Anh càng thấy anh xa người ta quá.

Có phải vì chưng thất bại nhiều phen

Ở đời với anh chết cả niềm tin!

 

Rồi một chiều kia có người theo dõi

Bóng anh trở về nẻo đường tăm tối,

Vào một túp lều ẩn náu ngoại ô

Bồng chó mà cười sang sảng ngâm thơ

 (Tiều Thuyết Thứ bảy số 233, 12-11-1938)

Cách gieo vần đi theo: 1-2 và 3-4 không giống 2-3 như “Dang dở“. THT “được” loại.

* Nguyễn Bính (NB): Gần 200 bài thơ của NB, chỉ có 2 bài theo thể 8 chữ này: “Những người của ngày mai” không năm tháng. Cách gieo vần 2-3 giống y “Dang dở”:

              Những người của ngày mai

         Ở chòi hẹp nhưng hồn chìm vũ trụ
Trái tim đau vì thương cả loài người
Đã nhiều hôm họ không thấy bóng mặt trời
Bởi làm việc liên miên và bí mật

Này của riêng rút lại có bao nhiêu
Chiếc khăn tắm, bộ áo quần trong nóp
Hai năm rồi chưa xỏ chân vào guốc
Ăn cơm thiu vì ẩm ướt mưa đêm

Có những anh xưa bảy nổi ba chìm
Thay tên họ xông pha ngoài hải ngoại
Nhớ hận nước xăm xăm miền viễn tái
Dắt toàn dân làm cách mạng mùa Thu

Quê các anh ở miền Trung đá núi
Bãi cát vàng bờ biển uốn quanh co
Đêm trong xanh cao vút tiếng ai 
Trên bến vắng một dòng sông nổi bạc

Quê các anh ở miền Nam bát ngát
Trái dừa xiêm nước ngọt buổi trưa nồng
Đôi ba cô con gái bán hàng bông
Chèo yểu điệu một xuồng đầy vú sữa

Theo đường kinh đi sâu vào biển lúa
Quê các anh ở miền Bắc xa xôi
Bước chân đi không biết mấy năm rồi
Xa cha mẹ, anh em, xa tất cả …

Nương dâu xanh, chiếc cầu ao, mái rạ
Cô gái làng gội tóc nước hương nhu 
Nhưng hình riêng chỉ là những tấm hình lu
Họ là đất, họ vui lòng làm đất …

Nhưng “Bài thơ quê hương” năm 1966 không gieo theo 2-3 mà đi 2-4:

Trải nghìn dặm trời mây bạn tới 
Thăm quê tôi, tôi rất đỗi vui mừng.
Bạn nán lại cùng tôi thêm buổi nữa.
Để tôi xin kể nốt chuyện quê hương.


và đi theo 1-3:
Quê hương tôi có cây bầu cây nhị
Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang…
Có cô Tấm náu mình trong quả thị
Có người em may túi đúng ba gang.

Thơ 8 chữ của NB cũng “hiền lành” với đồng quê cày sâu cuốc bẫm. Cũng như TT, NB đứng ngoài bài “Dang dở”.

Nhóm “Tam Anh – Áo bào gốc liễu” này … bị loại từ đầu trong danh nghĩa ký Thâm Tâm cho bài “Dang dở“.

* Vũ Hoàng Chương (VHC): Tìm trong 135 bài thơ (dactrung.net) có 8 bài: “Động phòng hoa chúc, Chậm quá rồi, Vườn tâm sự, Chết nửa vời, Đào nguyên lạc lối, Gọi lòng kiêu, Lá thư ngày trước, Phương xa, Quên). Cách gieo vần chủ yếu đi theo 1-3, 2-4:

Gọi lòng kiêu
Tự nhủ sống là quên, anh vẫn muốn
Đem tháng ngày khâu kín vết chia ly
Nhưng mỗi phút Thời-gian đưa thép nhọn
Máu thầm rơi mỗi phút đáy tim si. 

Anh cũng muốn thiêu hồn trong lửa đỏ
Lượm tàn tro vang bóng gửi xa đem
Nhưng mỗi lúc buông tay liều mặc gió
Anh nhớ ngày thơ mộng sống bên em.

Anh lại muốn đằm trong đời trác táng
Giữa mê ly đầy xác thịt kiêu sa
Nhưng mỗi lúc đêm tan trời hửng sáng
Anh khóc mùa trinh bạch sớm tiêu ma.

Nên anh đến xin em lời hắt hủi
Để chiều nay khi gió gọi trăng lên
Anh sẽ với rừng khuya san nỗi tủi
Gọi lòng kiêu mau tới giúp anh quên.
                            (Hà Nội 1938)

Phương xa
Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc sóng
Xôi về Đông hay giạt tới phương Đoài
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng 
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi

Lũ chúng ta lạc loài dăm bẩy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa 
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ 
Một đôi người u uất nỗi chơ 
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang 

Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt
Treo buồm cao cùng cao tiếng hò khoan 
Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt 
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan


Động phòng hoa chúc

Lìa cõi Mộng, dong thuyền qua bến Tục,
Đoái hoài chi băng tuyết sẽ vùi chôn
Em khao khát dìu Anh tìm hạnh phúc,
Ở men nồng chăn ấm tối tân hôn.

Đuốc hoa toả, xiêm y càng rực rỡ
Khói trầm dâng, son phấn ngát lây hương.
Da thịt cháy, nhưng còn hơi bỡ ngỡ,
Nấp sau rèm tơ lụa mỏng hơn sương.

Vàng di gót, đầy tay chân với ngọc, 
Cổ long lanh loà chói những kim cương
Nhưng đã biến, trên mầu nâu mái tóc
Vong linh quang phơn phớt của Thiên Đường

Rượu hợp cẩn đem theo từ Nguyệt điệu
Mấy vò thơm chuốc mãi tận sông Ngân.
Nhưng đến lúc kề môi trên miệng chén,
Chỉ than ôi nồng cháy những men trần.

Kìa, nệm gối đường chờ ta xô lệch,
Thầm bên tai nhắc gọi phút điên say.
Và đương rụng, giữa luồng giăng chênh chếch,
Cánh hoa tàn sau chót của Thơ Ngây.

Thôi hết nhé! Thoả đi, niềm rạo rực!
Từ cung trăng rơi ngã, xuống trần gian.
Ta sắp uống bùn nhơ, và sự thực
Sẽ mai đây dầy xéo giấc mơ tàn.

 

Vườn tâm sự” (trích 2/10 đoạn):

Tặng N.H
Một dĩ vãng tràn thơ và đẫm lệ,
Những u hoài chôn kín tận thâm tâm
Anh dùng dắng, mãi chiều nay mới kể,
Mặc dầu em thúc giục đã bao năm.

Vườn tâm sự sắc hương nào có thiếu,
Nhưng hương tàn trong nhị, sắc trên hoa,
Đây đó, ngủ âm thầm muôn cánh héo,
Nụ cười tươi tan tác, phấn son nhoà

Hoặc theo 1- 4, 2-3:

Chậm quá rồi

Mãi hôm nay lá úa ngập lòng ta,
Lệ ngâu đã bắt đầu reo thánh thót,
Sen từng cánh với sương trinh từng giọt,
Bắt đầu rơi: thu đã tới lòng ta!

Mãi hôm nay, ôi nửa kiếp trông chờ!
Nàng mới đến, tay chèo khua nhẹ sóng,
Tóc trễ nải trên lưng còn bỏ thõng,
Vòng hoa đào ôm lệch trán ngây thơ

Mãi hôm nay một buổi sáng thu mờ,
Nắng đã tắt nơi lòng ta lạnh lẽo,
Hương đã nhạt mà hoa dần đã héo,
Còn chi đâu nồng thắm để yêu mơ!

Có ai đem xây đắp một ban thờ
Với những mảnh bình tan trâm gẫy nát?
Có ai tặng, để cho người đỡ khát,
Một vò không, hay một trái tim khô?

Bao nhiêu năm, tưởng đã phí công chờ,
Ta xé vụn ân tình reo rắc mãi, 
Nay dẫu muốn thu về khâu chắp lại, 
Cũng không sao toàn vẹn được như xưa!

Lòng ta ơi! Xin trở lại bên mồ, 
Để thương xót những đêm tàn lá rụng;
Và đôi cánh vô duyên, đừng mở rộng,
Đón đưa người Nhan Sắc đến lầu thơ,

Kìa đã thôi rún rẩy cặp vai ngà,
Nàng quăng mái chèo đi rồi đấy nhé,
Tay đương vẫy, miệng nhung đào sắp bé,
Bốn trời sương sắp vọng bốn tên ta.

Lánh đi thôi, Nàng đã bước lên bờ! 
Dấu đi nữa, cả không gian sầu muộn, 
Ta chẳng nỡ, trời ơi, ta chẳng muốn,
Của lòng ta Nàng đến lúc thu sơ.

VHC có bài thơ “Quên sau đây với âm điệu rất giống “Dang dở“:                   

Đã hẹn với em rồi không tưởng tiếc
Quãng đời xưa không than khóc gì đâu
Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc
Sát gần đây gần nữa cặp môi nâu

Đêm nay lạnh tìm em trên gác tối
Trong tay em dâng cả tháng năm thừa
Có lẽ đâu tâm linh còn chọn lối
Để đi về cay đắng những thu xưa

Trên nẻo ấy tơi bời em đã biết
Những tình phai duyên úa mộng tan tành
Trên nẻo ấy sẽ từ muôn đáy huyệt
Ái ân xưa vùng dậy níu chân anh

Không em ạ không còn can đảm nữa
Không nguồn yêu suối lệ cũng khô rồi
Em hãy đốt giùm anh trong mắt lửa
Chút ưu tư còn sót ở đôi môi

Hãy buông lại gần đây làn tóc rối
Sát gần đây gần nữa cặp môi điên
Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói
Đưa hồn say về tận cuối trời quên.

Thế nhưng, về thi pháp, cách gieo vần, bài thơ trên lại giống thơ… VHC hơn. Nghĩa là, thi sĩ quen tay thì gieo như cách mình gieo suốt toàn bộ sáng tác, ít khi thay đổi đột ngột, lạ quắc hết một bài. Bài thơ trên dù giống e thơ nhưng ta thấy VHC gieo đôi 1-3, 2-4 chứ không gieo 2-3 như “Dang dở”. Thêm nữa, những từ gieo cuối mỗi câu 4 trong một đoạn đều là vần bằng chứ không phải vần trắc như “Dang dởDo đó, VHC cũng được… loại.

* Bích Khê (BK):  

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 1]

    Chuyên luận Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình Văn học Lời giới thiệu Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có một tác giả tạo ra nhiều huyền hoặc, mâu thuẫn nghịch…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 2]

    B: T.T. KH LÀ AI?:     I. Sự liên quan giữa ''Người'' và ''Người ấy'' trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 3]

    b. Những bài thơ của T.T.Kh:                    + Bài số 1: HSHTG.                              Huyền thoại hoa Ti-Gôn Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 4]

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá? 1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình: Bùi Viết Tân kể trong "Thâm Tâm là T.T.Kh?" (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 5]

    Hai bài cùng thi pháp hay không? Điều đáng chú ý: Bài "Các anh" 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách: Hơi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 6]

    * Bích Khê (BK): Trong 74 bài thơ (thivien.net,dactrung.net), có 12 bài: "Mộng cầm ca, Nhạc, Tranh lõa thề, Sọ người, Đồ mi hoa, Bàn chân, Một cõi đời, Trái tim, Cô gái ngây thơ, Cặp mắt,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 7]

     3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính: Đây là "tình nghi viên" sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”. - HT-HC trong "Thi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 8]

    V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?            1. Vài suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 9]

    IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm "Tống biệt hành" (TBH) của Thâm Tâm (TT): Dựa trên bản cũ nhất của HT - HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 1]

    HUYỀN THOẠI HOA TI GÔN - PHẦN II A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất: Thời gian 1937 - 1938, do những va chạm mảng (họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 2]

    4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối... lãnh đủ:               a. "Tiền bối" Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình: Trên (newvietart.com): Về cuốn "T.T.KH - Nàng là ai?": "khen thì…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 3]

    DƯỚI GIÀN HOA MÁU Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là... mơ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 4]

    Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ? Danh từ "nghệ sĩ" chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại... Ví…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 5]

    VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI? * Độc giả: Thưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [PHẦN TÓM LƯỢC]

    HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN TÓM LƯỢC (*) Nhà thơ Thâm Tâm tức Nguyễn Tuấn Trình cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống 1936 bằng làm thơ và vẽ tranh… Tại Hà Nội, anh đã gặp…