III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá?

1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình:

Bùi Viết Tân kể trong “Thâm Tâm là T.T.Kh?” (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh, Trần Nhật Thu, tr 126-130): Cuối năm 1949, trong một chuyến công tác dài ngày từ Liên khu III lên Việt Bắc, tôi có dịp đồng hành với thi sĩ Thâm Tâm… Nhân vui câu chuyện, tôi có hỏi anh Thâm Tâm về những bài thơ ký tên T.T.Kh.

– Theo ý ông thì những bài thơ này của ai?

– Người ta nói của người tình Thâm Tâm. Phải vậy không anh?

– Ông có đọc bài thơ ký tên Thâm Tâm đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy số 307, ra ngày 4 tháng 5 năm 1940 chứ?

– Đã có đọc, có phải bài Các anh không nhỉ?

– Đúng thế, tất cả đều liên quan tới một chuyện tình, nhưng thật ra thì những bài thơ ký tên T.T.Kh, là do mình sáng tác cả thôi…

– Câu chuyện này có liên quan gì tới đất Thanh Hóa không anh?

         – Địa danh vườn Thanh trong thơ là nói tới Thanh Miện ở Hải Dương…

Nói dứt lời anh Thâm Tâm ngâm khẽ cho tôi nghe bài Các anh… Ngâm dứt bài thơ, Thâm Tâm quay ra hỏi tôi:

– Ông thấy bài này thế nào?

– Khác hẳn với hơi thơ Thâm Tâm trong ‘Tống biệt hành’ và những bài thơ khác anh đã đăng báo.

– Người làm thơ có quyền được làm nhiều loại thơ khác nhau chứ…

– Những bài thơ anh làm ký T.T.Kh có liên quan gì tới nhân vật tên Khánh không?

– Xin ông cho mình miễn trả lời câu hỏi này. Mình đã có gia đình và nhân vật trong thơ cũng vậy. Xin lỗi nhé!

… Tôi cười và đáp lại rằng con người ngoài khối óc còn có trái tim và anh có làm những bài thơ ký tên T.T.Kh cũng là chuyện bình thường của một nhà thơ, có gì xấu đâu. Tôi nhớ rõ mắt anh Thâm Tâm như sáng hơn sau khi nghe tôi nói”.

Lời kể này có những điểm cần xét như sau:

– Bùi Viết Tân cùng chuyến công tác với TT cuối năm 1949: Không ai xác minh nhưng có một:

Hồ Thông (H.Th) cũng kể mình cùng đơn vị TT năm 1947 trên đường đi biên giới: “Vào những ngày đầu của cuộc chiến chống thực dân Pháp năm 1947, tình cờ tôi được điều về đơn vị có nhà thơ Thâm Tâm hiện diện… Do đấy tôi đã ở chung với Thâm Tâm trong một thời gian và gạn hỏi chính Thâm Tâm về huyền thoại nàng T.T.Kh., với bài thơ ‘Hai sắc hoa Ty-gôn’ kia..Người tôi yêu tên là Kh. Khi viết, tôi định ký rõ dưới bài là Thâm Tâm, giản dị vậy thôi,  như những bài thơ tôi vẫn thường ký khi đăng báo. Tuy nhiên, cảm về chuyện Hoa Ty-Gôn, một tối, tôi lại làm bài ‘Hai sắc hoa Ty–gôn’ cực tả mối tình của ai kia, và … liều chọn một bí danh ký dưới bài thơ bằng ba chữ viết tắt T.T.Kh. Ba chữ viết tắt ấy chỉ có nàng và tôi hiểu” (VNKNQH, sđd tr 191).

Vậy, năm 1941, TT kể chuyện tình mình với cô Khánh cho ông Anh Đào nghe rồi từ năm 1947 tới cuối 1949, TT cứ đi mãi trong rừng gặp hết ông Thông rồi đến ông Tân để chỉ kể lể chuyện mình? TT “bệnh tâm thần” thích kể chuyện cổ tích thời hiện đại chăng?

– Cảm hứng TBH mà người ly khách trong thơ chính là Phạm Quang Hòa như Bùi Viết Tân kể thì đụng đầu NTK. NTK trong bài “Tống biệt hành” (Về những kỷ niệm quê hương, sđd tr 63-68) là không phải ông Hòa, ông Hóa nào hết mà là một người khác. Bài thơ đó trước không phải mang tên TBH như bây giờ. Chúng ta xét nó trong phần cuối phân tích thi phẩm TBH.

– TT làm sao mà đi tự nhận mình là T.T.Kh với ông Tân một cách sống sượng,”khoe khoang” không đúng chỗ, đúng người, đúng thời điểm như thế được. Mà lại “khoe” rất nhiều người nữa. Nếu TT tự nhận mình là T.T.Kh thì chỉ việc viết một bài hồi ức nho nhỏ (như Thanh Châu viết “Những cánh hoa tim” giải thích vì sao mình viết truyện ngắn “Hoa Ti-Gôn“) giải thích vì sao mình lấy bút hiệu T.T.Kh là được rồi.

– TT “lắm mồm” còn “lắm mép”… ngâm thơ bài “Các anh” cho ông Tân nghe nữa chứ? Điều này đụng hàng nghịch với Nguyễn Hữu Đảng trong “Thâm Tâm” với “Nỗi đau ngày trước” (Giai thoại văn học, Nxb VHDT – 2000), TT “tuyệt nhiên không nhắc đến thơ mình ngày trước“?!

– TT giải thích cho ông Tân về “vườn Thanh” là Thanh Miện chứ không phải Thanh Hóa. Lại chạm trán với Nguyễn Vỹ trong “Thâm Tâm và sự thật về T.T.Kh” (Văn thi sĩ tiền chiến, NXB Khai Trí-SàiGòn – 1969): “Thanh-giám là một thắng cảnh Hà-Nội, đã liệt vào cổ-tích Việt-Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ dưới đời nhà Lê, hình chữ nhật, chung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước. Đền thờ ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ có dựng nhiều tấm bia ghi tên các Tiến-sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh-giám, có cổng Tam-quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán ‘hạ mã’ và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ-thụ và các cây kiểng, nơi đây rất yên-tĩnh, và mát-mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn-hò, tâm-sự…”.

Thông tin này cũng “ngược toa xe lửa” với Thế Nhật khi Thế Nhật khẳng định “vườn Thanh” chính là Thanh Hóa của Thanh Châu và Trần Thị Vân Chung trong “T.T.KH nàng là ai?” hoặc là “vườn Thanh” mà Nguyễn Bính “ngờ ngợ” về “cô nàng năm ấy đang ngồi quay tơ” trong “Cô gái vườn Thanh”.

Còn NTK trong “T.T.Kh nàng là ai?” (Về những kỷ niệm quê hương, Nxb Phượng Hoàng – 1996) ngập ngừng: “Chúng tôi chỉ đưa những dữ kiện để bạn đọc tiện phán đoán, chứ không khẳng định ‘Vườn Thanh’ là khu Thanh Giám – Văn miếu thuộc Phường Bích Câu xưa…”.

Nhưng nhân chứng Nguyễn Tố (tự nhận là một trong năm thanh niên gồm Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can, Thâm Tâm, Nguyễn Tố và Bùi Huy Phồn) trong thiên hồi ký trên báo Sống, chắc nụi: “Cho nên, những lúc nhàn rỗi hay cần suy nghĩ, chúng tôi thường tản bộ vào vườn Thanh Giám. Nơi đây, quanh năm um tùm có bóng mát của hàng ngàn cây cổ thụ… Trong vườn Thanh Giám có chừng hai trăm tấm bia lớn, mỗi tấm đều đặt ngay ngắn trên lưng một con rùa đất… Giữa vườn Thanh Giám là nhà Thái Miếu lập ra từ đời nhà Lý… Bắt đầu Pháp thuộc thì vườn Thanh Giám bị đẩy lui vào cổ tích” (sđd tr 430).

– TT nhận mình là T.T.Kh, TT thật “anh hùng” nhưng, TT lại… né tránh “phi quân tử” chuyện khẳng định nhân vật tên Khánh với câu trả lời “lạy ông…”: “Xin ông cho mình miễn trả lời câu hỏi này. Mình đã có gia đình và nhân vật trong thơ cũng vậy. Xin lỗi nhé!”. Đạo đức như như cải lương! “Nhân vật trong thơ cũng vậy” nghĩa là TT tự khẳng định nhân vật trong thơ là cô Khánh rồi còn gì nữa!

– Điều cuối cùng, mắt TT “như sáng hơn” khi nghe Bùi Viết Tân tâng bốc nhận T.T.Kh “có gì xấu đâu“? Trời! Bao nhiêu hào khí trong “Tráng ca”, Vọng nhân hành”, “Tống biệt hành” với khí phách “ném chén cười cho đã mắt ta” của TT bị ba cái từ trần văn truồng đó chấp cánh bay mà bay xuống… bùn!

Các tác giả trên mặc sức húc đầu nhau, đụng hàng cứng tha hồ… chạm trán, đả kích nhau cho về chuyện này cho vui!

– Nguyên nhân nào TT phải lấy bút hiệu T.T.Kh?

Nguyễn Vỹ trong “Thâm Tâm và sự thật về T.T.Kh” (“Phổ Thông tạp chí”, số 63, ngày 15.8.1961, sđd) khẳng định: “Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ-sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ-trọng-Can. Vì một chút tự ái văn nghệ, đối với mấy người kia, Tuấn-Trình đã phải thức một đêm, theo lời anh, làm một bài thơ đề là ‘HAI SẮC HOA TI GÔN’ ký T.T.Kh. với thâm ý để Trần-huyền- Trân và Vũ-trọng-Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn-Trình dán kín bao thư rồi nhờ cô em họ, con gái của người cô ở phố Cửa-Nam, mang thư đến tòa báo. Cũng chính cô em họ đó đã chép dùm bài thơ với nét chữ con gái dịu dàng của cô, để khỏi bị nghi ngờ”.

Còn BTCC?

Nguyễn Vỹ ghi lại: “Thâm-Tâm lấy gần hết chữ và nghĩa trong bức thư đoạn tuyệt tàn nhẫn của Trần-thị-Khánh làm bài thơ CUỐI CÙNG đó mà vẫn ký T.T.Kh., một lần cuối cùng”.

Tư liệu này cũng chưa thể xác thực vì nó thiếu hẳn nguồn dù nguồn đó, Nguyễn Vỹ cho rằng chính TT đã kể. Tuy nhiên, Nguyễn Vỹ cũng là nhân chứng thời gian cho một cuộc tình gây tranh cãi trong văn học. Vấn đề chính ở chỗ: Những nội dung của bốn bài thơ trên là vật chứng trước công đường văn học.

Nguyễn Tố (sđd) ngược lại Nguyễn Vỹ: “T.T tức là Thâm Tâm hay Tuấn Trình cũng thế… và Kh là Khánh; T.T.Kh muốn đặt tên T.T để nhớ con người cũ: Thâm Tâm”.

Bài nào ký Thâm Tâm là thật?

Nguyễn Vỹ lại chắc nụi: “Rồi, để đáp lại, chàng làm một bài ký tên Thâm Tâm và cũng là bài cuối cùng, mỉa mai, chua chát”.

Có lẽ chính vì thế mà tất cả im hơi lặng tiếng, lặng lẽ rút lui. TT đã lên tiếng “đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn” trong “Dang dở” thì kẻ giả danh TT lẽ nào dám làm thêm một bài nữa ký TT? Hoặc ngược lại, TT thật kia thấy kẻ giả danh mình đã làm “bài thơ chót kính dâng tặng bạn” thì mình chui ra ngoài bằng bút hiệu T.T.Kh hay Thâm Tâm cũng đều “lạy ông, tôi ở bụi này”!

Ta sẽ đối chiếu các bài thơ TT với con người TT để xem mức độ giả thật tới đâu của những bút hiệu T.T.Kh và TT như một dạng“đồng thanh tương ứng”, “đồng khí tương cầu”, “đồng bệnh tương lân”, thiếu nghĩa “đồng cam cộng khổ”!

Đối chiếu:

Lời TT kể cho Nguyễn Vỹ nghe năm 1937 được Nguyễn Vỹ đăng báo năm 1961 này giống y chang nội dung TT đã kể cho Hồ Thông nghe trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp năm 1947, hai người cùng đơn vị mà trong VNKNQH của NTK ghi lại năm 1996: “Người viết tập sách này thâu nhập được những sự việc kể trên từ ngày đi tù cải tạo về (1986) qua một người bạn học rất xưa kể cho nghe. Anh ta hiện làm việc ở Hà-Nội, đã từng gia nhập Vệ Quốc Đoàn trong năm 1946, theo đoàn quân Tây Tiến cùng với Quang Dũng, Hồ Văn Thông v.v… trong những năm 1948, 1949” (sđd tr 198-199).

TT còn khẳng định những bài ký Thâm Tâm trong thời gian 1937 – 1939 có liên quan tới T.T.Kh trong lúc kể với Hồ Thông đầu năm 1947 “đều do các bạn tôi tự biên soạn ra cả…”

Với hiện tượng về HSHTG, TT kể: ”Ai cũng tưởng, cũng nghĩ chính mình là… người tình của nàng thơ T.T.Kh. Riêng chỉ có tôi là cười thầm. Nàng, chắc cũng vậy”.

TT lý giải: “Thấy T.T.K.h là đề tài bán được báo, nhiều nhà thơ cũng nhảy vào vòng chiến. Có người mạo cả tôi để ký tên dưới bài thơ. J. Leiba và Nguyễn Bính thì đàng hoàng thấy rõ. Các anh ấy chỉ cảm xúc xót thương thôi chứ không hề có ác ý hoặc bôi bác”.

Đúng hay sai?

Đề tài T.T.Kh quả là đề tài bán được là rất đúng với thị trường báo chí trong mọi thời đại, mọi thời gian. Vũ Đình Long của TTTB đã qua mặt “Ngày nay” của Nhất Linh – Khái Hưng về “thầu T.T.Kh” này như NTK ghi nhận: “Sự cạnh tranh muốn nổi bật giữa các tờ báo ở Hà Nội… đơn cử hai tờ: Hà-Nội Báo và Tiểu Thuyết Thứ Bảy với hy vọng  với một chủ đích: tìm cho bằng được T.T.KH. trong số các nhà văn, nhà thơ cộng tác để trình chánh trước công luận sau 57 năm tuyệt tích song hồ. Hà-Nội Báo do Lê Tràng Kiều chủ trương biên tập…” (sđd tr 35).

Sự cạnh tranh báo chí, nhà xuất bản về đề tài ăn khách vẫn nối tiếp “truyền thống cha ông” cho đến bây giờ! Cho nên, mới có câu “nhà văn nói láo, nhà báo nói thêm“. Nói láo hay nói thêm phía nào thì cũng có ngày… ngồi gỡ lịch tây, đếm lá mùa thu đầy ngoài… song sắt! Văn nghiệp cũng như Khẩu nghiệp. “Sinh nghề, tử nghiệp“!

Cuộc chạy đua sách dịch đang là vấn đề nóng hổi của các nhà xuất bản “chuộng ngoại bội thu”. Trường hợp cuốn “The Da Vnci Code” (mật mã Da Vin Ci) của nhà văn Mỹ Dan Brown năm 2003 và phần 2 của nó “Angels and Demons” (Thiên thần và Ác quỷ); hiện tượng 7 cuốn sách về cậu bé phù thủy “Harry Potter” của nữ văn sĩ người Anh J. K. Rowling mà các nhà xuất bản trên thế giới “nhào vô” kiếm ăn là một điển hình. Cuộc đua sách nhật ký ở Việt Nam như trường hợp “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” chẳng hạn. Hay còn có nạn chạy đua… hồi ký, tự truyện miễn là phơi đời tư, khơi dậy tò mò độc giả càng nhiều thì sách càng hốt bạc! Bởi vậy mà có cuốn “Thâm Tâm và T.T.KH” (Hoài Việt, Nxb HNV – 1991),“T.T.Kh. nàng là ai?” (Thế Nhật, Nxb VH-TT – 1994 – 2001), “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh” (Trần Đình Thu, Nxb VH-SG – 2007)… đã đưa độc giả đi vào… rừng mê lộ! Ta xét sau.

Bia miệng?

Tội nghiệp cho những người bạn ”kết nghĩa đào viên” của TT (Thâm Tâm – Nguyễn Bính – Trần Huyền Trân – Trúc Khê – Đinh Hùng – Vũ Hoàng Chương) chứ ít nghe nói tới Bùi Huy Phồn và Nguyễn Tố như NTL đã ghi trong VNTNTCTT) nhất là NB cả đời mang tiếng mê ”cô hàng xóm” không đủ mới tranh thủ luôn Trần Thị Khánh, Từ Thị Khánh của TT. Té ra, NB chỉ ”cảm xúc, xót thương thôi” chớ đâu yêu iếc gì Kh qua ”Dòng dư lệ” mà cũng không có ý ”bôi bác”. NB nếu không có ý đó thì người khác có. Vậy những người đó là ai? Cuộc tình TT và Kh tan vỡ từ năm 1937. TT đã đính chính: ”Suốt từ 1937 đến 1939, chỉ có ba bài thơ chính thức của T.T.Kh. do chính tôi sáng tác mà thôi:

     1. Hai sắc hoa Ty-Gôn.

     2. Bài thơ thứ nhất.

     3. Bài thơ cuối cùng.

Ngoài ra những bài như ”Đan áo cho chồng ký’ T.T.Kh, bài ”Các anh hãy uống cho say” ký Thâm Tâm… đều do các bạn tôi tự soạn ra cả. Nếu kể hết thì nhiều lắm…”  (Sđd tr 192).

TT liệt kê những người bạn: “Anh biết đấy… căn gác nhỏ ở ngõ Sầm Công – Quảng Lạc vốn là nơi quy tụ giới văn nghệ sĩ ở Thủ Đô phục vụ Nàng Tiên Nâu. Thôi thì đủ mọi đề tài anh em đem ra thi đua thảo luận. Nguyễn Bính, Vũ Trọng Can, Trần Huyền Trân, Tân Hiến, Lê Văn Trương, Đặng Đình Hồng… rồi sau có thêm Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… và những bạn khác nữa như Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng v.v…”. (sđd tr 206).

Thông tin thất thiệt hay thiệt không thất?

Bùng nổ thông tin về T.T.Kh những năm 1937 – 1939 đến bây giờ cũng như  đầu năm 2005 là sự ”bùng nổ” những thông tin văn học khá ly kỳ: Đó là hình tượng ”Cậu bé đuốc sống Lê Văn Tám” mà Gs.Trần Huy Liệu đã mang vào lịch sử. Theo Gs. Phan Huy Lê, trong một cuộc họp báo của hãng phim truyền hình Việt Nam tại Hà Nội cuối tháng 2/2005, cậu bé đuốc sống ấy là… không có thật. Chỉ có cậu bé đóng vai Lê Văn Tám năm 1980 của đạo diễn Lê Mộng Hoàng là cậu học sinh trường Phan Đăng Lưu – Bình Thạnh đó đang định cư ở Caliofornia là có thật mà thôi. Cũng tại thủ đô Hà Nội, cô học sinh Nguyễn Phi Thanh trong kỳ thi Học sinh giỏi văn ngày 18/03/05 bất bình với một đề thi nên đã dám viết vào bài làm là không thích tác phẩm ”Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của cụ Nguyễn Đình Chiểu?! Những nhật ký của những liệt sĩ  Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm, Hoàng Thượng Lân… được nhà xuất bản… tung ra thị trường tạo sự “bùng nổ nhật ký liệt sĩ”. Còn bây giờ, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học có nên mở lại những trang viết về sự “bùng nổ huyền thoại” TT và T.T. Kh không?

Những bạn của TT: NB, THT, Tân Hiến, Lê Văn Trương, Đặng Đình Hồng, Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng, Đinh Hùng, Trúc Khê, Vũ Trọng Phụng… ai đã góp phần diễn màn ”trộm lân tráo phụng”, “ốc mượn hồn” này dưới những bài thơ ký tên Thâm Tâm? T.T.Kh? Những bài thơ đó theo TT: ”Trở lại với T.T. Kh, những bài thơ mà các bạn tôi làm, duyệt xét một lượt, tôi đã phải lắc đầu. Nó có nhiều mâu thuẫn… Không đúng. Không đồng nhất mạch lạc như ba bài thơ chính”.

Ta thấy TT không nói sai. Bốn bài thơ trên, “mâu thuẫn” trong nội dung,không đồng nhất” trong quan điểm và “chẳng đúng” ý như ba bài thơ chính HSHTG, BBTN và BTCC. Ngay cả trong ba bài cùng ý tưởng thì cũng đã có mâu thuẫn ngây ngô đến không thể không tin có hai ba tác giả lấy bút danh T.T.Kh chỉ mục đích “bán báo chạy” do sự “bật đèn xanh” của chủ báo Vũ Đình Long mà NTK có “đá” qua trong sách của mình.

Ngày đó, các cộng tác viên ít được ăn lương khoán mà chỉ được trả bằng đồng lương sản phẩm kiểu “tiền trao, cháo múc”. Điển hình như khi Thế Lữ viết truyện “Tiếng hú hồn của Mệ Ké” gởi bán rẻ bèo cho “Tân Dân” của Vũ Đình Long hay trường hợp Vũ Trọng Can với truyện “Màu Hoàng Yến” gởi tới “Ngày Nay” (của Nhất Linh – Khái Hưng) nhận được nhuận bút thì đã… run bắn vì xúc động (“Huyền thoại về nàng thơ T.T.KH”. sđd tr 32-33). Từ đó, sinh ra hiện tượng con đẻ bị bỏ rơi thì ai là người nhận nhuận bút đó? Tất nhiên, T.T.Kh, hay cô Khánh hay bút hiệu giả không chường mặt ra nhận rồi. Thế thì tiền nhuận bút chạy vào túi ai? Còn TT? TT có nhận nhuận bút từ những bài ký Thâm Tâm dù… yếu ớt, bệnh hoạn nhưng lại “đắt như tôm tươi” không phải vì nghệ thuật mà vì độc giả tò mò?

Tình trạng một tác phẩm được độc giả “bu” đông đen chưa hẳn là vì tác phẩm đó hay, hấp dẫn mà phần lớn độc giả thích vào xem người ta “chửi nhau” cái gì? Dân Việt Nam chúng ta, hễ đâu có chửi lộn,… uýnh lộn, hoặc ai đó bị tung xe thì nhào vô… coi cho biết rồi về… kể cho hàng xóm nghe cho… vui!

Chất thật và xảo ngôn trong thơ TT và T.T.Kh?:

Có lẽ vậy mà những bài thơ thật của TT hay T.T.Kh hơi thơ đắng lòng đi một nơi trong khi có những bài ký thay, lời thơ mai mỉa đi một nẻo. Với Kh, TT đã dành cho cô bé một chữ ”yêu” thêm hai từ ”say mê” dù bỗng nhiên, nàng biến mất “đúng khi mối tình nở hoa hương ngào ngạt… Tôi hoàn toàn thất vọng, kiếm tìm nàng giữa Hà Nội băm sáu phố phường… Nàng lẩn tránh tôi vì nghe lời bà mẹ… Tôi đã đến trường xưa tôi theo học mong được gặp lại nàng nhưng chỉ gặp ông thầy dạy học cũ: Thầy Vũ văn Nhượng…”  (sđd 195).

Chao ôi! Tưởng rằng trên đời này chỉ có những người con gái yêu mới lụy, mới khổ, nào ngờ ”bèo dạt mây trôi” cũng có khối đàn ông ôm thuyền vỡ mộng! Một đêm tuyệt vọng bằng một đời đắng cay. Chuyện tình ”Trương Chi – Mỵ Nương” đáng thương cho người thổi sáo! “Mỵ Châu – Trọng Thuỷ” oan nghiệt thay mối nhân duyên bị cắt bởi chữ ”lừa” vì tình yêu đã bị chiến tranh hóa. ”Chuyện tình nàng trinh nữ tên Thi” đã buồn; chuyện ”Đồi thông hai mộ” cũng khá gì hơn! ”Lan và Điệp” kẻ cắt đứt dây chuông, người chôn cành lan, xác bướm! ”Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài” ngập máu hồng tiễn bước vu quy! “Ana Karénine – Vronsky” kết cục cũng có gì hơn! Huyền thoại T.T. Kh cũng ra đi trong nước mắt. Mưa buồn lặng. Nắng khóc thầm. Bốn mùa qua trong thương nhớ!

Sau một giấc dài, người trong cuộc sực tỉnh: ”Thú thật, chính cá nhân tôi rất xấu hổ. Vô tình tôi đã tạo ra ‘sì -căng-đan’ ấy. Trong tình yêu, người ta thường trẻ con thế đấy. Sau khi đóng trọn vở tuồng ‘một mình mình biết, một mình mình hay” tôi ngỡ ngàng khi ‘soi gương ngắm lại mình’, tôi nhận ra chính tôi đã lừa dối mình, phỉnh gạt độc giả quần chúng. Tôi rất hối hận, nhưng sự thể đã rồi. Không thể cứu gỡ được nữa. Đành để trôi xuôi. Với thời gian, nó đã trở thành huyền thoại”. (sđd tr 194).

Trong cuộc đời có những nấm mồ vô chủ thì trong văn học sao lại không có tác phẩm không tác giả? Chẳng qua, vì người đời ”thóc mách”, người đời ”bôi bác” nó. Chính TT cũng công nhận: ”Méo mó nghề nghiệp vẫn là sở trường của một thiểu số người”. Người ta dựng lên ”Nàng thơ T.T. Kh” chứ ai thấy mặt mũi T.T.Kh ra sao mà biết là… con gái! Tuy nhiên, TT hiền khô, chỉ biết ”lắc đầu” trước những bài viết bóp méo sự thật. TT đã ”đồng tình” im lặng suốt chục năm qua cho đến khi có người khuấy động mới dè dặt: ”Thông ơi, anh hãy hứa với tôi một điều… chỉ một điều thôi, là anh không nên hở ra cho bất cứ ai hay biết, ngoại trừ sau khi tôi không còn ở cõi đời này… chỉ khi nào thấy cần phải lên tiếng, anh hãy nói hãy viết ra. Còn không thì chỉ nên im lặng dùm tôi, như các bạn khác bấy lâu vẫn hằng im lặng vậy” (sđd tr 194-195). Có lẽ ”im lặng là vàng” nên khối người đã chọn phương án này, trung thành với nó đến độ không cần thiết và nhiều khi ”tàn nhẫn” nữa.

Lời kết thúc tâm sự của TT thật hay không, chúng ta cũng nên khởi đầu quay lại các sáng tác của TT bởi chúng bắt đầu bằng nỗi đau khổ vì tình yêu. Sự thành công của các tác giả phần lớn cũng chính là đề tài tình yêu. ”Không có tình yêu, thế giới này vô hồn”. TT thú nhận: ”Yêu một cô bé, đau khổ vì chuyện tình là chuyện không nên. Do đấy… cái lãng mạn, cái tưởng tượng của người nghệ sĩ đều dồn vào thơ, văn. Và tôi đã, trẻ con như thế, đã làm nổi một vở kịch… Khiến trở thành huyền thoại lúc nào với ba bài thơ đã kể. Thời gian 1937, 1939, 1940 tôi rất đau khổ: một mặc cảm tội lỗi ngự trị, và tôi đã cố bình tĩnh đóng trọn vai tuồng mình tự biên, tự diễn, chẳng một ai hay. Kể cả Thanh Châu, nhà văn, đã khơi mào viết ra truyện ngắn ‘Hoa Ty-Gôn’ kia. Và cả bọn Vũ Trọng Can, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân… nữa. Tất cả đều không một ai biết mặt T.T.Kh. Họ phỏng đoán, làm thơ, tranh giành một cái bóng. Để khỏa lấp, tôi cũng vờ phụ họa theo và cùng tìm đến căn gác nhỏ trong con hẽm Sầm Công – Quảng Lạc… để uống rượu và ‘phi’ ” (sđd tr 196).

Sau đó, có một ”hình tượng ly khách” trong TBH thoát kiếp ve sầu muốn làm con chim báo bão bay trong ”tiếng đời xô động” bỏ lại sau lưng buồn đau, huyền thoại với nỗi lòng rưng rưng, ngậm ngùi… ra đi như ”tống biệt” một quá khứ! Tin hay không  tin?

Chuyện Hồ Thông kể cũng chỉ là một trong những “Kể chuyện viên” đang dự thi cuộc thi “Kể chuyện về TT và T.T.Kh?” mà giải thưởng tự các kể chuyện viên tặng cho nhau… cà chua trứng thối cũng từ lâu có rồi!

 

            2Tìm hiểu sự thật về những lời kể trên:

Người ta thường cho rằng: ”Nhà văn nói láo, nhà báo nói thêm”. Cái nào cũng cần xét lại vì giá trị ”tương đối” của nó. Nhiều khi những nhà xuất bản có tiếng tăm, những cây bút có máu mặt  chưa hẳn đáng tin cậy cho lắm. Công lý nằm trong tay kẻ xấu, nỗi ”Oan Thị Kính” khó gỡ. Cây Thanh Long đao của Quan Công lợi hại nhưng miệng lưỡi Tào Tháo ghê gớm hơn. Cái trí dũng của Chu Du đốt tám mươi  vạn quân Tào tiêu tan nhưng cây bút trong tay Khổng Minh mới thần sầu quỷ khóc lấy mạng Chu Du tích tắc giây. Nhưng cây bút là vật vô tri. Cái chất xám kia mới là vô địch, là nguyên nhân của mọi thứ trên đời! Con người bập bênh lên xuống cũng vì nó đấy. Đúng sai cũng từ nó mà ra. Người ta được lợi lộc gì?

NTK là ai?  Ông viết “Về những kỷ niệm quê hương” hầu hết nói về ”Huyền thoại về nàng thơ T.T.Kh” như một màn kết thúc vở bi kịch TT – Kh từ sáu mươi  năm qua thật hay ”bịa” để dệt ra ”Huyền thoại sau huyền thoại”? Ích lợi gì cho ông đây?

– Nguyễn Thạch Kiên: (1926 – nay) và ”mức độ tin cậy?”:

Theo Huy Phương trong ”Ký sự nhân vật: Nguyễn Thạch Kiên, nhà văn tiền chiến, tám mươi chưa muốn buông bút” (perso.wanadoo.fr), người viết tóm tắt:

Nguyễn Thạch Kiên sinh năm 1926 tại  Hà Nội. Quê cha Ninh Bình. Quê mẹ Hưng Yên. Năm 1949, ông đạt giải nhất văn chương do Nhà xuất bản Tân Việt – Sài Gòn tổ chức với tập truyện ”Hương lan”. 1959, ông đạt giải nhất của Tinh Việt văn đoàn do Phạm Đình Tân và Phạm Đình Khiêm tổ chức với tiểu thuyết ”Mùa hoa phượng”. Ông học cải tạo mười một năm vì là đảng viên Quốc Dân đảng. Ông định cư tại Cali theo diện HO 18. Ông viết nhiều thể loại có tập thơ”Nắng hương cau” là những bài thơ tình mấy chục năm qua ở quê hương. Tập hồi ức ”Búp xuân đầu”,  công trình của ông ở cái tuổi tám mươi. Nguyễn Thạch Kiên được coi là nhà văn lão thành kỳ cựu và người hoạt động chính trị tại Hà Nội của thập niên 40 cùng thời với ”Tự lực văn đoàn” và rất được lòng thương của giới văn nghệ sĩ.

Hiện tại, Vũ Hoài Mỹ (chủ trương “Văn học thời nay”) là người lui tới giúp đỡ ông. Một con người sống già dặn qua hai thế hệ tám mươi tuổi chưa buông bút giống như Hoàng Cầm là một tấm gương cho chúng ta nhìn vào tự hỏi mình?

Riêng bài ”Huyền thoại về nàng thơ T.T. Kh”, (Nxb VHTN), ghi rõ là trích trong cuốn ”Về những kỷ niệm quê hương” cuả NTK (Đoạn trích có tên nguyên bản là ”Trong lửa đạn thù” như đã nói ở phần trên). Ta có thể tin cậy được về con người có một quá trình say mê văn chương và hơn nữa, nếu T.T. Kh thực sự là TT thì người ”được” là TT chứ không phải NTK. Việc làm của ông là vô tư. Viết để trả lại giá trị tác phẩm cho tác giả chứ không phải phanh phui vụ việc coi như mình đã giải được mã số văn học bằng những suy diễn vu vơ và áp đặt nhân vật này nọ theo dụng ý mình.

Những người khác cho TT là T.T.Kh như Lê Công Tâm, Anh Đào, Ngân Giang, Nguyễn Tố, Đỗ Nhân Tâm, Hoàng Tấn, Hoài Anh… đều là những người có tuổi, có tiếng tăm, có máu mặt trên thi văn đàn. “Không có lửa tại sao nên khói”. Ta cần kiểm tra thử “lửa” này phát sinh từ đâu ra mà “hun khói” mù trời văn học?

Nghiên cứu văn học là tìm tòi, phát hiện, so sánh, đối chiếu văn bản xưa nhất với hiện đại để thống nhất vấn đề hay giải mã ẩn số văn học bằng lý luận văn học. Nghiên cứu văn học là chấp nhận ôm bom cảm tử vì văn học như kiểu “Mang chất xám rãi lên từng câu chữ. Mượn hồn văn để thử óc hẹp hòi!”.

Trong những kỳ đại hội văn học trong và ngoài nước, chuyện ”giặc văn bút” không còn là bí mật khi người ta tranh nhau từng chức vị và hạ độc thủ nhau trên chiến trận văn bút nên hiện tượng những người làm cái việc mang T.T.Kh về với TT là một đóng góp văn học đáng cho chúng ta cám ơn.

Vấn đề thật hay không thật, sách đã dẫn. Nhà văn, nhà thơ bậc tiền bối đã viết kẻ còn sống, người đã khuất rồi. Bản thân tác phẩm đã, đang và sẽ ”tự bạch” phần nào. Tin hay không tin là tùy theo cách nhìn nhận của mỗi nguời. Người viết bài này chỉ làm một công việc mang lại cho người đọc yêu thích T.T.Kh và TT những ý kiến, những nhận định, những tin tức mới mẻ cho dù là cảm tính hay chủ quan.

Muốn biết được T.T. Kh có phải là TT hay người nào khác, ta cần tìm hiểu thêm về một số vấn đề khác xoay quanh.

  3. Tìm hiểu chất giọng thơ của TT và T.T.Kh:

Trước hết: Ông Hồ Thông trong bài viết của NTK có nêu rõ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp 1947, ông có gặp TT trong đơn vị. TT gia nhập bộ đội theo các nhà nghiên cứu là năm 1947. Thời gian đó, quân đội Pháp gây hấn nổ súng ở phố hàng Bún ngày 15-16 /12/1946 theo sách sử (đã nêu trên) và tháng 2/1947 có chỉ thị về việc gia nhập quân đội (sách sử đã dẫn) nên lời ông H Th không sai. Chuyện tham gia kháng chiến của TT là có thật. Chuyện tình TT – Kh cũng có thật. Chuyện TT là T.T.Kh có thật hay không hoặc TT giả còn dựa vào những sáng tác nhất là những sáng tác trước 1940 của TT

TT đến với ”Thơ Mới” muộn màng với làn hơi cổ điển đậm nét phóng khoáng giang hồ nhưng thoát thai ra khỏi bi phẫn để đến với cách mạng mang hơi thở của người chiến sĩ ”trên từng cây số” lại ngắn ngủi hơn chỉ vỏn vẹn ba năm. Như vậy, gần 10 năm sống đời nghệ sĩ (1936-1945) với mối tình như hoa như hương dù đã chia cách có cố quên gì thì cố, dư âm một cuộc tình vẫn chi phối hầu hết trong những sáng tác để đời của nhà thơ tài năng mạng yểu này. TT chỉ có tất cả khoảng hai mươi bài. Nếu làm phương pháp loại trừ hay cộng lại những bài thêm vào và loại ra thì cũng chỉ ngần ấy!

Người hay không phải nói nhiều. Thơ hay không ở dài ngắn nhưng đánh giá một tác giả, một tác phẩm đang có nhiều nghi vấn trong lịch sử văn học quả thật có chút đắn đo… Chép lại những gì người ta đã viết hoặc viết lại những gì người ta đã nói có khác nào ”nhai lại”! Thơ TT mang âm hưởng thơ cổ nhưng có giá trị sáng tạo  nhất định trong thi ca. TT đã không là người ”copy” văn học thì người nghiên cứu tìm vào thế giới thơ ca của TT càng không thể chỉ mỗi công việc ”sao y bản chánh”.

Về những bài thơ của T.T.Kh, muốn chắc, ta đi theo hơi thơ của TT qua những bài làm theo thể thất ngôn tự do và lục bát. Những bài thơ tiêu biểu trước khi nhập ngũ 1946 trở về trước theo Tôn Thảo Miên, Trần Hữu Tá, Nguyễn Hữu Đảng (sđd), TT có những bài thơ như: Can trường hành, Vọng nhân hành, Tráng ca, Tống biệt hành. (Trong ”Chọn 10 nhà thơ lớn và 10 bài thơ hay nhất thế kỷ trong văn học Việt Nam”, Phan Thư Soan có đưa ý kiến của nhà thơ Trinh Ðường và tổ bình chọn đã đưa bài ”Trường biệt hành” của Thâm Tâm bên cạnh ”Nhớ rừng” của Thế Lữ, ”Thề non nước” của Tản Ðà, ”Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu, “Tràng giang”  của Huy Cận, ”Tây tiến” của Quang Dũng… nhưng không biết sách có in lộn ”Tống biệt hành” thành ”Trường biệt hành” hay không?).

MGL (Thơ Thâm Tâm, Nxb VH – 1988), TT có: “Màu máu Ty Gôn, Các anh, Không đề, Bán hoa đào, TBH, Mơ thuở thanh bình, Các anh, Hoa gạo, Ngược gió, Vạn lý trường thành, Chết, Chào Hương Sơn, Ngậm ngùi cố sự, Tráng ca, Can trường hành, Vọng nhân hành, Lưu biệt, Căm thù, Chiều mưa đường số 5″.

Hoài Việt (Thâm Tâm và T.T.KH, Nxb HNV 1991) thêm bài “Đây cảnh cũ, đâu người xưa” do chị Oanh nhà thơ TT cung cấp.

Hồ Thông (Về những kỷ niệm quê hương, Nxb Phượng Hoàng – 1996) thêm: “Hai sắc hoa Ti-Gôn, Bài thơ thứ nhất và Bài thơ cuối cùng”.

Hoài Anh, Đỗ Nhân Tâm, Lê Công Tâm, Hoàng Tấn, Ngân Giang, Nguyễn Tố, Bùi Viết Tân… (VNTNTCTT, sđd) ngoài những bài đó ra, thêm “Đan áo cho chồng”.

NTL (Việt Nam thi nhân tiền chiến, Nxb VH – 2000) thêm “Một mảnh tình”.

Những bài vừa bổ sung, cũng như những bài đã in thành sách như “Các anh, Dang dở, Đây cảnh cũ, đâu người xưa, Máu máu ti-gôn” ký Thâm Tâm, ĐACC ký T.T.Kh còn nằm trong nghi vấn là chính TT là hoặc “ẩn sĩ” trong mớ thi sĩ Hà Nội làm, nên ta cần tìm cách nào đó tạm thời làm sáng tỏ đó là những bài ký TT hay T.T.Kh nhưng không phải họ làm qua nội dung, hình thức.

 a. Xem xét về nội dung:

Xét cái “Ta” mà giới nghiên cứu, phê bình gọi văn hoa là “chủ thể”. Khi đã nói đến cái “ta” thường rơi vào ba trường hợp:

Trường hợp mộtTa là Tôi (Ta=Tôi) tức là “thất vọng tình đời” sinh cái “Tôi” dễ ghét vì thời cuộc, số phận (ngóc đầu không nổi, buồn, chán, thương tâm,  muốn bỏ hết…).

Dạng này ”Thơ Mới ” chiếm đa số. “Đau vì nỗi đời vất vả. Đau vì kiếp làm dân một nước nô lệ. Đau vì tủi nhục, nghèo hèn cứ gắn hoài với thân phận” (HT- HC, TNVN). Còn một nỗi đau nữa chính là sự bạc đãi của quê hương mà Vũ Hoàng Chương trong “Phương xa” chua chát:

  Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa

                                    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.

                                … Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ

                                    Một đôi người u uất nỗi trơ vơ.

                                    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị

                                    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

Bến hoang sơ đứng đợi đó đã đưa con thuyền họ rẽ vào hoang vắng khác.

Trường hợp haiTa là Ta (Ta=Ta): Cái tôi và ta nhập lại thành cái “Ta” ngạo nghễ đời. Tức là “Thất vọng danh trường” mà ra (con người rơi vào bất đắc chí của văn chương, đèn sách, khoa bảng… không hài lòng với thực tại, chán ghét chế độ…).

Dạng này của Nguyễn Trãi, Chu văn An, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Duyên Anh… với chán đời của Nguyễn Khuyến:

 Sách vở ích gì thời buổi ấy

                             Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già!

Nó còn là thất vọng của một lớp trai thời loạn chưa tìm ra một phương hướng đi cho mình mà Nguyễn Bính đã từng bỏ mặc:

 Ðời có còn gì tươi đẹp nữa

                              Buồn thì đến khóc, chết thì chôn.

Trường hợp ba: Ta – Danh vọng –  Em (Ta+Danh vọng+Em): Chủ thể này bị chi phối bởi chủ thể khác. Tức là “Thất vọng tình trường”. Dạng này chi phối hầu hết quá trình sáng tác của con người là cái “nền” cho dòng thơ buồn man mác xuyên suốt từng thời đại, băng qua ngàn thế kỷ. Nó ngang tàng và đầy khí phách như trong ”Tình trai” của Xuân Diệu:

  Thây  mặc kệ thiên đường hay địa ngục

                           Không hề mặc cả, họ yêu nhau .

                       … Say thơ xa lạ, mê tình bạn

                           Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.

Ba dạng thất vọng, tuốt luốt với “Nhất công thành, nhì danh toại” này cùng chảy qua thời đại. TT nằm ở loại nào?

Ta có thể xếp cho thơ TT nằm ở cả ba dạng:

Thất vọng tình đời của TT: (Nằm chung với một kiếp người cùng khổ).

Thời buổi loạn ly, chiến tranh khốc liệt, di tản liên miên dẫn đến cuộc sống không ổn định trái với các lẽ “An cư lập nghiệp”. TT phải làm đủ thứ nghề trái với điều “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” nên than thở trong “Không đề”:

   Hôm qua không có, hôm nay mất

                     Ai rú trong đời tám hướng sương 

và buồn thân phận trong “Can trường hành”:

Cùng ta tri kỷ không ai ở

Vì đời ta cũng không an cư.

Mượn rượu giải sầu là phương cách mà hèn sĩ thời nào cũng “Nhất túy vạn giải sầu” như thế cả. Nhưng hỡi ơi! “Tửu nhập sầu trường, sầu càng sầu”. Dân gian có câu: “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”. Tất nhiên, TT trong cảnh hèn, cùng khổ đã không là… “đạo tặc“.

+ Thất vọng danh trường của TT: (Nằm chung với một lớp người cùng hèn)

Ảnh hưởng thời đại (tình đời) làm cho TT không học hành đến nơi đến chốn. Thêm vào đó, TT xuất thân thành phần tiểu tư sản trí thức nghèo (cha là nhà nho dạy học) mà thời “sĩ, nông, công, thương” đã đến hồi tàn mạt. Tiểu tư sản trí thức nghèo rớt mồng tơi này lại nằm trong chủ trương “đào tận gốc, trốc tận rễ” của một thời sai lầm đường lối. Cảnh nghèo khổ được TT ghi lại trong “Tráng ca“:

Nuôi ta, mẹ héo từng năm,
Vắt bầu sữa cạn tê chân máu gầy.
Dạy ta, ba bẩy ông thầy
Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi
Nhà ta cầm đợ tay người,
Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?

Lớn lên, lăn lộn với bạn bè chẳng phải tầng lớp cao sang gì trong xã hội:

               Bọn ta một lớp lìa nhà
Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng
… Bốn phương tản mát bạn bè
Ôi thương đau cho “Giấc mơ anh lái đò” của NB năm nao: ”Tưng bừng vua mở khoa thi. Tôi đỗ quan trạng vinh quy về làng” bay tuốt luốt theo những chế độ thi cử bị thực dân Pháp bỏ (1864, 1915, 1918). TT có gì hơn đâu mà không ngao ngán trong những bài ”Vọng nhân hành”:

Vuốt cọp chân voi còn lận đận

                     Thằng thí cho nhàm sức võ sinh

                     Thằng bó văn chương đôi gối hận

                     Thằng thư trói buộc, thằng giã quê

                     Thằng phấn son nhơ… chửa một về!

                     Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

                     Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”.

Tài năng không đất dụng võ thì cũng như… ”ngựa chạy cùng đường” mới “rú trong trời tám hướng sương“, mới ngoa một chút trong “Can trường hành”:                        

                             Ném chén cười cho đã mắt ta…

 Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sĩ

                      Mềm môi nốc cạn một vò men.

Sự say mèm với thất vọng có một Vũ Hoàng Chương ngã nghiêng, ngã ngửa: “Còn chưa say hồn khát vẫn thèm em”.

+ Thất vọng tình trường của TT: (Nằm chung với lớp người cùng yêu mà đau)

Dòng ”Thơ Mới” đã ”Yêu như trăm năm chưa biết đến bao giờ. Nhớ như tự nghìn năm chưa biết nhớ”. Lớp người cùng yêu mà đau đó đã mang về cho thi ca không biết bao nhiêu thi phẩm về một mơ ước cũ mèm của tình yêu mà cả đến bây giờ, dư âm của dòng thơ mới còn tiếp tục:

  Cho anh gom hết ngàn thương nhớ

                       Chôn cả lòng yêu nát rượu mềm.

(Quách Xuân Sơn – Lời cô phụ).

Nỗi buồn ”vắng anh” chỉ một nhưng đau khổ ”vắng em” chiếm mười trong thi ca. Bởi lẽ không có em:

   Chiều đơn côi hoang vắng tâm hồn

                        Không có em khóc thầm bịn rịn

                        Ngồi một mình sầu với hoàng hôn.

                        Không có em đường dài vấp ngã

                        Không có em cây lá đổi màu.

                        Không có em biển thôi xào xạc.

                        Sóng ơ thờ gió cũng thôi bay.

(Thùy Lam – Không có em)

Tình yêu là đỉnh điểm của loài người. Tình yêu không ngại chiến tranh. Tình yêu không cầu danh lợi mà hỡi ơi! Con người bèo bọt, ly tan cũng vì hai chữ này. Xuân Diệu yêu cuồng. Hoàng Cầm miệng chưa ráo sữa đã yêu. TT mới nứt mắt cũng yêu khi còn đi học. Tình yêu là nguồn cảm xúc của thi ca nhưng lạ quá, thơ TT chẳng có bài thơ tình yêu nào ra hồn!

Trong “Can trường hành” năm 1944,  TT có nhắc qua bóng sắc “giai nhân” nhưng giọng thật chua cay, đau xót một ẩn dụ “hoa như tim” vỡ năm nao:

Thi với người nằm say bóng liễu

… Giai nhân, danh sĩ đua ngao du
Cùng ta tri kỷ không ai ở

… Hôm nay lại nở hoa lý đỏ

Trong rượu vân vân… bao vết cũ

Người chẳng thấy rằng hoa như tim

                         Hoa nát lòng ta đau vạn thuở.
Trong “Ngậm ngùi cố sự“, TT chỉ “phớt” qua hai câu một vết thương lòng:

           Cuối thu mưa nát lòng dâu bể
Ngày muộn, chuông đau, chuyện đá vàng
.

Chuyện đá vàng” tức là hôn nhân. “Tri kỷ” là bạn bè thân thiết, là người yêu chân tình. “Không ai ở”! Bỏ mất hết! Vì lẽ gì? Vì sự “nghèo”, “cho nên tri kỷ tếch phương trời“. TT bị vấp nó với mối tình đầu năm 1936 mới “đau”. Bài thơ này chỉ thấy cái “Phẫn”, cái “Bi” chứ chưa thấy cái “Ái” rõ ràng. Vậy cái hồn này thật ra ở đâu? Tình yêu là nguồn cảm xúc bất tận của thi ca. Biết bao người thơ đã thành thi nhân nhờ nguồn cảm xúc này. TT đã từng yêu, được yêu và đau khổ sao chàng nghệ sĩ tài hoa này không có lấy một bài thơ tình yêu nào? Không lẽ trong anh, chất cảm xúc thiêng liêng này đã mang hội chứng ”lãnh cảm”?

Bài thơ “Một mảnh tình” trích trong truyện “Lá quạt hoa qùy” đăng trên TTTB số 416 ngày 6-6-1942 (NTL, sđd tr 422):

Đôi lứa phương tâm, một mảnh tình

Như trăng vàng mở vẹn gương trinh

Chén sen ráo miệng, thề pha lụy,

Quạt trúc trao tay, ước lỗi hình.

 

Gió trải luống gào duyên cựu mộng,

Dây oan chỉ riết chí kim sinh!

Say ngùi, ta đốt tương tư thảo

Bóng khói qua mây, lại nhớ mình…

Thơ viết cho truyện nên cái ý tình âm u, ý thơ ướt lệ điển tích “chén sen, mảnh tình, dây oan” trong “tu là cõi phúc, tình là dây oan“! Nhá lên một đóm tình rồi tắt ngủm! Chỉ còn những bài ký tên T.T.Kh là có hơi thở tình yêu. Vậy ta chỉ cần tìm cho ra chỗ: Không phải Kh làm thì ba trong bốn bài thơ đó là của TT. Rồi trong những bài của TT, ta coi thử có mâu thuẫn gì không để loại bỏ bút hiệu Thâm Tâm giả.

Từ nội dung 4 bài ký T.T.Kh và 3 bài ký Thâm Tâm, chúng ta lần tìm ra “những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ” để tìm tình yêu TT với “hồn thơ” “tếch” ở phương nào?

                b. Những bài thơ không phải Khánh làm:

Một: Theo TT và những người từng biết như Nguyễn Vỹ: Kh yêu thơ thích thơ nhưng không biết làm thơ. Nghĩa là “rung cảm” nhưng không khả năng.

Hai:  Nội dung từng bài chứng tỏ Kh không thể tự mình dám ghi rõ ràng tình yêu của mình lên giấy khi đã lấy chồng. Nghĩa là dù có khả năng nhưng hoàn cảnh không cho phép.

Xét lại những câu thơ bộc lộ rõ tâm sự để đối chiếu với hoàn cảnh thực tại của Kh có thể thấy Kh không thể tự làm:

HSHTGNhững câu “ngoại tình tư tưởng” đáng “bỏ lồng, dìm sông” trong thời đại cũ:

 Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…

                          Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Kh tự bỏ TT đi lấy chồng. Kh chẳng thể liên lạc với TT bằng thư từ, điện thoại nên chồng Kh làm sao có thể biết trong ruột người khác khi người ta không muốn nói ra? Không lẽ, chồng Kh cũng đoán mò như Xuân Diệu: “Cùng giường khác mộng sao em”? Theo tâm lý, thằng chồng biết được, nó không “hững hờ” đâu! “Nó… dần cho nát cái xương. Nó ”thương” đến hết kiếm đường… đầu thai!”. Chết chắc!

Nguyễn Vỹ trong bài“Thâm Tâm và sự thật về T.T.KH.” (sđd), khẳng định cô nữ sinh tên Kh muời bảy kia không hề có chút gì luyến lưu với TT khi lấy một thương gia goá vợ, ba mươi tám tuổi: “… Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ -sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ-trọng-Can. Vì một chút tự ái văn nghệ, đối với mấy người kia, Tuấn-Trình đã phải thức một đêm, theo lời anh, làm một bài thơ đề là “Hai sắc hoa TiGôn” ký T.T.Kh. với thâm ý để Trần-huyền-Trân và Vũ-trọng-Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn-Trình dán kín bao thư rồi nhờ cô em họ, con gái của người cô ở góc Cửa-Nam, mang thư đến toà báo. Cũng chính cô em họ đó đã chép giùm bài thơ với nét chữ con gái dịu dàng của cô, để khỏi bị nghi ngờ… Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả! Và cô ghét những bài thơ Thâm Tâm nữa là khác. Tuấn-Trình đã nói quả quyết với tôi như vậy, sau khi nhận được một bức thư của Khánh, bức thư cuối cùng, tỏ ý KHÔNG BẰNG LÒNG anh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong thư phản đối đó, Khánh xưng TÔI, chứ không phải xưng EM như những thư trước, để chấm dứt trò chơi vô ích ấy. Thâm Tâm lấy những lời nghiêm khắc giận dữ của người yêu cũ để làm ra BÀI THƠ CUỐI CÙNG”.

TT trở thành kẻ yêu đơn phương theo lời Nguyễn Vỹ? TT làm HSHTG vì muốn THT và Vũ Trọng Can không cười mình? Chỉ thế thôi sao?

      Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

                          Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,

                          Mà từng thu chết, từng thu chết

                          Vẫn giấu trong tim một bóng người.

Nếu bài này do cô Kh làm thì đây là bản nhận tội không ai cứu nổi. Bản thân Kh có học, biết lễ nghĩa gia giáo. Nghe mẹ, bỏ TT, nàng được coi là hiếu nữ. Lấy chồng, nàng sẽ giữ chữ “xuất giá tòng phu”. Có than, nàng cũng than trong lòng̣. Có nhớ, nàng cũng chỉ được phép nhớ trong mơ. Kh can đảm cỡ nào mà đem chuyện “phòng the” lên báo? Tự mình mang thơ lên tận tòa soạn để đưa?! Vô lý và vô ích! Tòa soạn TTTB đăng ba bài thơ ký T.T.KH chính là nơi TT làm việc. Nếu TT biết rõ ba bài thơ đó là Kh làm, TT không thể trâng tráo đi kể hết người này tới người khác về việc nhận mình là T.T.Kh? TT không biết thẹn lòng sao? Bạn bè của anh ai cũng biết chuyện này cả. Họ không cười vào mũi cho à? Chúng ta đừng nghĩ là THT, NB “như không hề biết chuyện này”. Chỉ có điều, thiên hạ không chịu tin một sự thật phũ phàng như thế. Ai cũng muốn nó mãi mãi là huyền thoại là cũng vì yêu thương TT. Với người con gái tên Khánh kia, nàng không còn xứng đáng với anh chứ đừng nói có tâm hồn làm ra những bài thơ đầy sóng gió như thế! TT đã một lần bị sỉ nhục vì cái nghèo, anh không thể nào để cho T.T.Kh coi thường anh trong tư cách là một người từng yêu hết lòng và một nhà thơ chân chính! Trái tim bồng bột của tuổi hai mươi đã làm ra hỗn loạn văn học mà bây giờ, chúng ta cần tránh những trường hợp “ốc mượn hồn”. Ta chắc bây giờ cũng không ai gan mà đọc những câu thơ như thế ngay trong gia đình riêng của mình chứ đừng nói cách đây 2/3 thế kỷ! Câu thơ hay nằm trong ngữ cảnh trái sẽ thành: Bạc bẽo, bẽ bàng cho hai phía. Chắc chưa có “bà xã” không biết ghen nên TT chưa nếm mùi cái “ghen” của người  ”giơ cao, đánh… thật” nên người viết mới đi xa thêm:

    Nếu biết rằng tôi đã có chồng

                          Trời ơi! Người ấy có buồn không?

                          Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ

                          Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

Nghe tê tái lắm nhưng người vì hiếu nghĩa mà “lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công bác mẹ sinh thành ra em” tức là tự mình quyết định ”lìa” cội rễ tình yêu. Có chồng là bao nhiêu vướng víu, bận rộn, lu bu 24/ 24 khiến cho quay mòng mòng đầu bù, tóc rối hơi sức nào mà nói đến thơ mà thơ câu nào cũng “đốt lòng”, đốt luôn nhà người ta nữa.

Không thương người ta mà lấy người ta, than thở như vậy hỏi người làm chồng có ê mặt hay không? “Người ấy có buồn không?” té ra, chính là kẻ “sang sông đứng ngóng đò” đưa tiễn chim sáo ngày xưa sang sông. Kẻ đó nếu không chính là TT chẳng lẽ là NB là THT, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương hay Võ Trọng Can? Nỗi lòng đau khổ đó đã được lập đi, lập lại nếu không là TT thì Kh chẳng thể nào dám viết một tiếng lòng rên xiết như thế cả. Nhưng nhân vật trong thơ do tác giả hư cấu từ hiện thực thì có sao đâu!

Bây giờ, ta xem nội dung bài có ứng với con người TT hay không? Cứ coi như TT viết hết bốn bài trên. Không ai hiểu lòng Kh bằng TT. Sự ra đi không báo trước của Kh làm TT hụt hẫng về tinh thần. Chới với trong tình huống bất ngờ chẳng được báo trước, người ta  phản ứng… chụp cây viết, viết cho thỏa, cho xong một tấm lòng như khi người đàn ông nổi cục tự ái bự. Không biết tác giả nào đã cho ra đời những câu thơ vui vui nhưng chua chát như sau:

 Nếu biết rằng em đã có chồng

                        Anh về cưới vợ thế là xong.

                        Vợ anh không đẹp bằng em lắm

                        Nhưng đẹp hơn em ở tấm lòng.

Bốn câu vô tác giả trên hay hơn nhiều cả nội dung và nghệ thuật bài thơ dưới đây của Hồ Drếnh:

Rồi một ngày mai em lấy chồng,
Anh về lấy vợ thế là xong,
Vợ anh không giống em là mấy,
Anh lấy cho anh đỡ lạnh lùng.

Vợ anh và em chẳng biết ai đẹp hơn ai nhưng “đẹp hơn em ở tấm lòng” chứ không phải là kẻ không cơm, thế cháo “anh lấy cho anh đỡ lạnh lùng”. Người ấy chính là vợ TT. Bà đã không chê TT khổ, chịu lấy chàng nghệ sĩ nghèo, đồng chia nỗi đau thất tình của TT và tôn trọng quá khứ của chồng đến khi nhắm mắt! Đó là trường hợp hiếm có. Đàn ông nói chung “cả thèm, chóng chán“. Đàn bà không ai riêng, lặng lẽ ngược ngang. Nhưng TT lại là loại đàn ông lặng lẽ như Trần Quốc Sỹ “Khóc tình” :

Ta thắp nến khóc tình yêu vừa chết

                Hấp hối sau cơn sốt bỗng vật vờ.

                Tình yêu nào, ai biết đâu đoạn cuối

                Cứ ngỡ rằng tình vẫn mãi là thơ.

Bài thơ 4 câu cho là của Hồ Drếnh chẳng biết có thật hay không nhưng bài “Nàng đi lấy chồng” là thật vì nó là của… NB:

Hôm nay ăn hỏi tưng bừng
Ngày mai thì cưới, độ chừng ngày kia.
Nàng cùng chồng mới nàng về
Rồi cùng chồng mới nàng đi theo chồng.
Tôi về dạm vợ là xong
Vợ người làng, vợ xóm Đông quê mùa
Vợ tôi không đợi, không chờ

Không nhan sắc lắm, không thơ mộng gì.
Lấy tôi bởi đã đến thì
Lấy tôi không phải bởi vì yêu tôi.
Hôm nay tôi lấy vợ rồi
Từ đây tôi sẽ là người bỏ đi.
Pháo ơi, mày nổ làm gì?
Biến ra tất cả pháo xì cho tao!

Ta thấy, NB “trẻ con” theo cách NB: Khi nàng có chồng thì… trù ẻo”pháo xì”! Đám cưới ngày xưa rôm rả nhờ pháo nổ dòn. Xì hết là xui xẻo tận cùng!

TT “trẻ con” theo kiểu TT: Dệt nên một vở kịch, tạo nên một huyền thoại mà TT tự cho là “trẻ con”.

Trong thi ca đâu mỗi chỉ mình TT mang tình mình vào huyền thoại mà còn có một Tâm Thư với ”Trẩy hội đan tay”:

Cũng đành đem dấu vết xưa

                        Vào trang cổ tích cho vừa nhánh thương.

                         Cũng đành chia nửa con đường

                         Cho trăm năm vỡ cho hờn đánh rơi.

Kh đã không thể viết những dòng cổ tích để dệt quanh mình một huyền thoại vô tư. TT viết cho nàng nhưng cái chính là viết cho mình. Mai mốt, cô vợ đẹp ở “tấm lòng kia” có đọc lại dòng thơ của chồng viết cho ai đó thì cũng chỉ nghĩ là: Tâm trạng của một nhân vật cô gái mà chồng đã dựng lên mà thôi. Nàng… thở dài cho qua.

Dòng trữ tình thường mang đôi cánh lãng mạn. Tâm trạng bao giờ cũng được che chắn bởi hàng hàng, lớp lớp từ ngữ, hình tượng từ hiện thực đến tưởng tượng. Ði sâu quá vào ngữ cảnh thật của thi ca là chẳng đúng với cách phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Nếu với mỗi một thi phẩm ta cứ tìm cho bằng được: Họ là ai?  Ai yêu ai?  Nam là ai?  Nữ là ai?… thì dung tục quá! Bởi vì có những thi phẩm chỉ là sản phẩm của trí tuệ. Ví dụ Lưu Trọng Lư đã tưởng tượng một “con nai vàng ngơ ngác dẫm trên lá vàng khô” thì làm sao mà kiếm cho được con nai vàng ngơ ngác kia, làm sao mà… moi cho ra được cái  rừng nào có con nai vàng ấy xuất hiện tại thời điểm đó?

* Bài thơ thứ nhất:  Có những câu sau đây:

 Biết đâu… tôi một tâm hồn héo,

                           Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!

Có bài đăng chữ Nghiêm viết hoa, có chỗ viết thường chẳng ai hiểu gì cả. Nguyễn Vỹ (sđd) có đề cập vô tư đến chữ này: “Trần-thị-Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: ‘Thầy mẹ em NGHIÊM  lắm, gia đình em NGHIÊM lắm’. Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ NGHIÊM gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu”.

Nếu hay dùng chữ đó, chỉ có Kh làm nhưng Kh làm như thế chẳng khác gì Kh chê chồng già quắc, già quéo mới hững hờ, mới lạnh nhạt. Tâm lý người đàn ông trong chuyện gối chăn mà bị chê thì coi như… tàn phế! Vả lại, giả như có ai đó lấy trúng loại chồng “nghiêm” như thế suốt ngày lăm lăm cái… roi cá đuối, cô vợ trẻ kia có mà ngồi yên viết với lách, có trốn trong hốc nào thì nó cũng… moi ra… hành cho cái tội chê chồng cho biết cái thân!

Ông nói gà. Bà nói vịt. Chỉ có gia đình TT là im lặng. Người không nổi ghen vì cái tên Kh và những bàn luận về cuộc tình duyên tréo cẳng ngỗng này chỉ có bà TT Phạm Thị An. Tất nhiên, nếu biết cái tên Kh là giả, những bài thơ ký T.T.Kh không phải “tình địch cũ”, tất nhiên, bà ghen làm quái gì! Thái độ của bà An chính là câu trả lời trong bóng tối mà rõ nhất đó thôi! “Ớt nào là ớt chẳng cay?”! Nghĩa là bà chẳng biết, chẳng hay, chẳng để ý chuyện riêng của chồng. TT cũng không: Không nói. Không kể. Không bàn chuyện Kh sau khi kết nghĩa “đá vàng” với bà Phạm Thị An năm 1945.

Ta hiểu chữ “nghiêm” theo cách hiểu “nghiêm” như TT đã áp dụng nó cho gia đình mình. Kết quả là: Gia đình TT không có tư liệu gì chính xác hơn những dư luận huyền hoặc 2/3 thế kỷ trôi qua ngoài một bài báo “Cha tôi trong nỗi nhớ” của Nguyễn Tuấn Khoa đăng trong báo Văn nghệ mà Hoài Việt có dẫn trong sách mình.

Có lẽ vì nói về người chồng của Kh hơi quá nên mười năm sau, vỡ lẽ ra, TT mới tự kiểm điểm trong đêm kể chuyện này cho một người bạn tên Hồ Thông“Trong lửa đạn thù” (sđd tr 189-203): “Chồng Kh là một thương gia mới 38 tuổi có luống tuổi gì đâu”. Thật ra, làm một phép tính nhẩm: Chồng Kh ít nhiều cũng hơn Kh một con giáp rưỡi. Lấy chồng tuổi ấy gọi cha là vừa!

Xót người nên nghĩ tới người, viết cho ”người” nếu không TT thì cũng chẳng có ai “thương dùm phận gái thuyền quyên như nàng” bằng TT. Có đau thương gì thì người trong cuộc cũng phải tìm cách đi vào đoạn kết.

Chúng ta cũng thấy sự không thống nhất của cùng một tác giả T.T.Kh khi viết bài thơ thứ nhất HSHTG. Sau đó, thêm bài thứ nhì mà gọi là… BTTN. Vậy, bài HSHTG không phải chính mình làm thì ai làm lại ký cùng bút hiệu đó?

Thập niên giữ thế kỷ XX, báo muốn ăn khách toàn chơi cái chiêu “ốc mượn hồn” cả. Nghĩa là lấy tên người có danh để tiếp tục viết như trường hợp đàn em của Lê Văn Trương:“Lê Văn Trương lại được ông Vũ Đình Long com-măng nhiều cuốn khác và hối thúc liên tục. Lê Văn Trương đành phải ‘lập ê kíp’ viết. Ê kíp Lê Văn Trương gồm có Đặng Đình Hồng, Tân Hiến và vài ba người khác dấu tên… người đọc tinh ý sẽ thấy cuốn nào văn phong Lê Văn Trương, và cuốn nào do các đàn em Lê Văn Trương viết” (Huyền thoại về nàng thơ T.T.KH. NTK, sđd tr 35).

Điều này, chúng ta sẽ thấy rõ sự “xuống sức” của T.T.Kh trong BTCC.

 * BTCC: Bài thơ có những câu như sau thật ”nguy hiểm”:

  Và người vỡ lở duyên thầm kín,

                     Lại chính là anh, anh của em!

 

                     Tôi biết làm sao được hỡi trời?

                     Giận anh, không nỡ nhớ không thôi!

Nghĩa là người trong cuộc vẫn còn thương nhớ mối duyên “thầm kín” và “nhớ không thôi”. Nhưng từ ”Anh anh, em em” ngọt sớt kiểu này gặp thằng chồng hung dữ vì ghen… nó cắt lưỡi. Từ đây, ta thấy có người đã đứng bên lề với bút hiệu T.T.Kh. Xuân Diệu từng tự trách: ”Em ác quá lòng anh như tự xé” theo cách yêu của Xuân Diệu. Mạc Phương Ðình trong bài ”Ðành” có cách trách của riêng mình:

Mắt ta bé mà tình em lớn quá

                    Ta ngu ngơ nhìn ngó nhận không ra.

                    Vòng tay hẹp không đủ ôm biển cả

                    Lòng đu đưa trong cõi ta bà….

                    Chắc tiền kiếp ta mang đời kẻ chợ

                    Ðem tình yêu thả gió lang thang.

                    Em qua đó vô tình mắc nợ

                    Ðể cùng ta rơi xuống chốn địa đàng.

TT và Kh ai đã mắc nợ ai mà:

Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt…

                    Sợ quá đi, anh …”có một người”…

Hai câu thơ như… vô nghĩa! Viết đến đây, T.T.Kh coi như… đuối sức, viết… bậy rồi… bỏ chạy! Cái người này là ai ngoài “anh của em?”. Tiếc thay, sự yêu thương đó sang bài thơ dưới đây có những lời thở than ngằn ngặt, mệt mỏi lạ lùng:

* ĐACC: Bài thơ này có những câu ”thêm dầu vào lửa”:

Đáng thương những kẻ có chồng như em,

                       Vẫn còn thấy lạnh trong tim,

                       Đan đi đan lại áo len cho chồng.

                   … Tháng ngày miễn cưỡng em đan,

                       Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.

                       Như con chim nhốt trong lồng,

                       Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!

Người lấy chồng chẳng những không hưởng được vòng tay ấm áp mà chỉ thấy cảm giác lạnh lùng. Nét tâm lý này có thể âm thầm chịu đựng thì thật là một sự hy sinh cao cả. Thật ra, nét đẹp của người phụ nữ ”phu xướng, phụ tùy”, thờ cha, kính mẹ bên chồng còn thể hiện theo từng đường kim mũi chỉ. Không yêu nhưng sống trong một mái nhà buồn vui ấm lạnh đủ cả, chẳng lẽ người trong cuộc nào mà không có chút tình dù chỉ là tình người? Ví dù người chồng kia có ”hững hờ” gì đi nữa nhưng mặc cái áo mà vợ chăm chút đan cho có lý nào chẳng chút động lòng? Nhưng bây giờ thì ”lửa bỏng hỏng xôi” hết trơn. Đan cho chồng cái áo mà than ngắn thở dài, lòng tưởng nhớ ai thì thằng chồng mặc vào còn hơn gai chích hơn kim châm? ”Nàng than nàng lạnh nhưng ta có chiếc áo nàng đan cho, mặc rồi, ta còn cảm giác lạnh lẽo hơn nàng”. Kh có dám nhùng nhằng như thế đâu nếu nói không nỡ lòng?

Nhưng nghĩ cũng vui: Bỏ thì không dám, vương thì phải cam. Một chiếc áo đan hết mùa đông cũng chưa xong. Gặp bà già chồng khó chịu sẽ mắng con dâu thêu thùa vá may dở ẹt! Bà ta nóng ruột sẽ giật phắt cuộn len mà tự mình đan giùm cho con trai là nàng… khỏe re. Còn thằng chồng chờ mãi chờ hoài không có áo, lạnh quá chịu hết xiết… ra tiệm mua quách. Sướng! Nàng giam mình đan mỗi cái áo lâu lơ, lâu lắc như cố ý kéo dài thời gian khỏi… đi chợ? Thật ra, con chim hót, chim nhốt trong lồng mới an toàn, ra ngoài đứng hót không bị mèo chụp cũng vướng ná bắn chim, kêu than cái gì nữa ?!! Rên la ầm ĩ, thằng chồng vớ được tờ báo đọc hay có kẻ nào thóc mách khẽ… rỉ tai. Thế là chàng nếu mà không xửng cồ, thì cha chả cũng bừng gan trào lửa hận cho con vợ: ”Lấy chồng vẫn tưởng trai tơ”. Nó… vặt cho con chim hót trong lồng kia không còn… một cọng lông để mà trông mà ngóng?!! Thử hỏi một thời T.T.Kh nổi lên, báo chí Hà Nội ầm ĩ đưa tin mà chồng cô chẳng hề đọc nổi một tờ báo để “biết thêm chi tiết”?! Thương gia chứ không thương… báo là thế! Vì thế. T.T.Kh mới trang bị hệ thống thông tin cho chồng nhân vật:

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…

Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Như đã nói trên, Kh là cô gái có học dù theo Nguyễn Vỹ: “Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp Nhất trường Tiểu học Sinh-Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ… là một thiếu nữ đẹp, nét đẹp mơn mởn của cô gái dậy thì, thùy mị, nết na, nhưng không có gì đặc biệt”. Ít ra, cô ta cũng biết lễ nghĩa, hiếu đạo, không có thì giờ ngu ngốc “mổ bụng”, phơi ruột gan cho thiên hạ xem. Cái tinh thần võ sĩ đạo này hãy để cho đàn ông Nhật làm đi. Cái tinh thần này, Kh có nằm mơ cũng không dám thấy. Giả sử Kh làm thơ, đăng báo. Đăng để làm gì? Cho TT biết được tin tức về nàng chăng? Càng vô nghĩa vì khi người ta đã lẩn trốn tức là xác định cho mình một con đường đi tức là những mối dây liên hệ quá khứ sẽ bị thời gian và bổn phận cắt đứt! Kh không thể viết một bài thơ tự treo cổ con chim trong lồng như bài ”Đan áo cho chồng” như thế cả .

Nhưng nếu TT hay ai đó viết dùm tâm sự cho Kh có được không?

Nhưng với những bài thơ của TT, của T.T.Kh thì đây cần hiểu là một trường hợp đặc biệt. Nếu người ta đừng cho T.T.Kh là Kh – cô bé Khánh của TT, chúng ta không cần mất công tìm ”người ấy” trong bài thơ làm gì. Nếu T.T.Kh là Kh thì cũng đâu có mắc mớ gì cần đi chứng minh có phải Kh viết hay không?

Bốn bài trên, cô Khánh không thể làm. Chúng ta xét tới TT.

            c. Những bài không phải TT làm:

Chúng ta cũng loại trừ khả năng yêu quý TT mà nhập nhằng trong suy xét. Bởi lẽ, không nhà thơ, văn nào mà chẳng có vài bài thơ, truyện dở xen lẫn những bài hay. Có một điều khiến ta cảm thấy như là một sự không bình thường như đã nêu ở trên là TT không có một bài thơ tình yêu nào ra hồn ngoài thi phẩm TBH chưa ngã ngũ giữa đôi bờ đưa tiễn người bạn hay tiễn đưa lòng?

TT làm nhiều thể loại: Thất ngôn bát cú, Thất ngôn tự do, Lục bát, Ngũ ngôn và Tự do.

+ Thể lục bátĐan áo cho chồng, Đây cảnh cũ, đâu người xưa, Màu máu Ty-Gôn, Các anh (2 bài 16 câu hay 64 câu):

Trước hết, ta hãy đọc “e thơ” lục bát của TT trong các bài thơ đã được MGL và NTL tuyển vào sách mình. Chúng ta để những bài thơ lục bát có dính dấp tới T.T.Kh sau.

Bài thứ nhất: Bản của NTL (VNTNTCTT, Nxb VH – 2000):

Chào Hương Sơn

Thôi chào tất cả non Hương

Thôi chào, ôi tiếng tầm thường mà đau!

Một phen tri kỷ cùng nhau,

Khói sương trời đã nhuốm màu thời gian.

Rượu khuây giấc tỉnh canh tàn,

Sóng sông như đội vô vàn nhớ thương…

Thôi chào tất cả non Hương!

Thôi chào, ôi tiếng tầm thường mà đau!

Chia tay còn vẩn bóng sầu,

Mắt xanh ai giữ được màu thời gian?

Sóng sông róc rách khuya tan,

Lạnh nghe thổn thức hơi đàn biệt li.

Ngày xuân đẹp lắm làm chi

Quan sơn ngơ ngẩn đường về cho ai!

(Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 416, 6-6-1942)

So sánh bản của MGL, có khác từ: Khuya tan/khuya tàn chắc do lỗi đánh máy trong bản của NTL. Bài thơ này, MGL ghi năm 1942, NTL ghi đầy đủ hơn như trên. Ngày 6 tháng 6 năm 1942 đúng là ngày thứ bảy (tiêu chí để khẳng định đúng ngày TTTB phát hành) tức ngày 23 tháng 4 năm Nhâm Ngọ 1942.

TT chia tay Hương Sơn năm 1942 để trở về. Về đâu chẳng ai biết được? Hương Sơn có hai điểm: Hương Sơn thuộc Ngũ Hành Hương của Đà Nẵng và Hương Sơn là một huyện. TT đi địa điểm nào?

Huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh – nơi tạm trú quân của Lê Lợi – Nguyễn Trãi năm 1418-1424 và nơi Khởi nghĩa Hương Khê của Cao Thắng – Phan Đình Phùng đánh Pháp những năm 1885 – 1895 ở núi Vũ Quang. Hương Sơn là thiên đường của những người đi săn và nơi hoa quả phồn vinh bậc nhất xứ Nghệ. Hương Sơn là nơi có hàng trăm cử nhân, tiến sĩ “vinh tông diệu tổ” một thời chưa biết đến “đạo văn” luận án văn chương. Hương Sơn tựa lưng Trường Sơn, nhìn ra Sông Lam, núi Hồng Lĩnh. “Sóng sông như đội (như dội) vô vàn nhớ thương” trong TT chính là những con sông Lam, sông Ngàn Sâu, sông Phố, sông La và non Hương chính là núi Hồng Lĩnh (đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh, nhớ núi Hồng Lĩnh, nhớ dòng sông La…) tựa lưng Trường Sơn “đông nắng tây mưa”, giáp vùng Thiên Nhẫn bao la, điệp trùng xanh núi. TT đến Hương Sơn để làm gì? Săn bắn? Không! Để vẽ. Có thể. Để nghe hát chèo trên sông nước sông Phố vốn hiền dịu và mê ly một thời rác rưởi chưa đổ vẩn dòng sông hiền? Người dân Hương Sơn chăm làm, mến khách và tiếng hát nỉ non với “hơi đàn biệt ly” trên dòng sông ngã ba Phủ đã níu bước chân lữ khách giang hồ, dọc đường gió bụi, TT “một phen tri kỷ cùng nhau” làm lữ khách quay gót còn “ngơ ngẩn đường về”. Giọng thơ “tức cảnh sinh tình” của TT vẫn có cái gì đó man mác của thời cuộc (màu thời gian, quan san, thôi chào, ôi tiếng tầm thường mà đau…), ngậm ngùi của cuộc đời ô trọc (rượu khuây, ngày xuân đẹp làm chi…) và áng thơ bàng bạc một nỗi buồn như hờn lẫy thế tình (khói sương, sóng dội, mắt xanh ai giữ được màu thời gian...).

Tiếng lòng TT chính là ở chỗ tình người – tình cảnh gắn bó nhau để bật ra tiếng thơ TT tha thiết, ngậm ngùi, man mác…

Bài thứ hai: NTL (sđd):

Tráng ca
Sinh ta, cha ném bút rồi,
rừng nho tàn rụng, cho đời sang xuân,
Nuôi ta, mẹ héo từng năm,
vắt bầu sữa cạn tê chân máu gầy.
Dạy ta, ba bẩy ông thầy,
gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi.
Nhà ta cầm đợ tay người,
kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?
Chông gai đổi dại làm khôn,
ba vòng, mòng sếu liệng tròn lại bay…
Bông hoa chu giáp vần xoay
cánh vàng non nửa đài gầy tả tơi…
Chữ Nhân sáng rực sao trời,
đường xe mở rộng chân người bước xa…
Bọn ta một lớp lìa nhà ,
cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng,
Hây hây tóc óng từng vòng,
gió nào là gió chẳng mong thổi lùa!
Trường đình phá bỏ từ xưa ,
đất này sạch khí tiễn đưa cay sè.
Bốn phương tản mát bạn bè,
nhớ nhau hẹn quả mùa hè gặp nhau.
…Rầm trời chớp giật mưa mau,
lửa đèn chấp chới, khói tàu mù u,
Bốn phương đây bạn đó thù
hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu
– A, cơn thảo muội bắt đầu,
tuổi xanh theo gió ngậm câu dặm dài.
Thét roi lượng sức ngựa tài,
coi trong cuộc rối tìm người chờ mong…
Trai lận đận, gái long đong
chờ mong khắc khoải nản lòng dăm ba;
Nẻo về gốc mẹ cỗi cha
thuyền ai nặng chở món quà đắng cay!
Từng nơi xống áo trùng tay,
gió thu thổi bạc một ngày lòng son;
Từng nơi cơm trấu, áo rơm,
mưa xuân nhuốm tái mấy cơn mặt vàng.
Vượn kêu ruột buốt trên ngàn…
Nhưng thôi! Sao việc dã tràng lầm theo?
Nện cho vang tiếng chuông chiều,
thà đem sức sớm đánh kêu trống đình;
Thở phù hơi rượu đua tranh,
quăng bay chén khói tan thành trời mưa.
Dặm dài bến đón bờ đưa,
thuyền ai buồm lái giúp vùa vào nhau,
Kia kìa lũ trước dòng sau,
trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương
(Tiếu Thuyết Thứ Bảy, số 6, 11-1944)

So với bản của Hoài Việt trong “Thâm Tâm và T.T.KH” (Nxb HNV – 1991) và bản của MGL trong “Thơ Thâm Tâm” (Nxb VH – 1988) có khác (không tính dấu câu): Chữ Nhân không viết hoa, toàn câu thứ 8 trong lục bát viết hoa đầu câu, khác từ thà đem/thù đem, quăng bay/ quăng tay. Bản của NTL khác hơn hai bản này và có ghi số báo, ngày đăng trên TTTB như trên. Rất tiếc, không ghi ngày cụ thể. Trong tháng 11/1944 (Giáp Thân) có 4 ngày thứ bảy rơi vào các ngày: 4. 11.18 và 25. TT có nhắc tới mùa thu (gió thu thổi bạc) nhưng cũng có nhắc tới mùa xuân (mưa xuân nhuốm tái) nên chịu!

Với “Tráng ca“, TT đã hồi ức bằng thơ hoàn cảnh nhà mình, bạn bè, thời cuộc, đất nước. Chúng ta có thể tìm thấy trong bài 48 câu lục bát này nỗi lòng của tác giả vào cái tuổi 27 chưa lập gia đình. Thời tác giả ra đời thì cha đã “ném bút” thất nghiệp với nghề dạy chữ Nho. Người mẹ héo tàn cuộc đời để “vắt bầu sữa cạn” nuôi con. TT dù trong hoàn cảnh túng thiếu vì nghèo khổ, không học hành đến nơi, nhưng cha mẹ vẫn dạy một “Chữ Nhân sáng rực sao trời”. Bạn bè toàn những đứa “lìa nhà” như THT, NB, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… vì nghèo khổ, thuộc loại bỏ đi của “cháo hàng cơm chợ” trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm “đây bạn đó thù” tức từ thực dân Pháp đến phát xít Nhật đang thống trị Đông Dương trong thế chiến thứ hai (1939-1945). Thanh niên thời loạn với chí khí “thét roi, nện chuông, đánh trống, quăng chén…” cho hả hê được TT thể hiện rất khí phách dù lời thơ thống thiết một nỗi buồn trong một thời “đua tranh“. Nó đánh thức những công việc “dã tràng” để quy về một mối “chờ người tìm mong” với câu thơ kết thúc bài “Tráng ca” rất hay, đầy ẩn dụ: “trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương” có thể mở ra một đề thi đại học, một luận án văn chương…

Đây đúng là giọng thơ trầm hùng, buồn vời vợi đầy tình người, trong vắt như gương của TT. Giọng thơ của TBH năm 1940 âm vang…

Bài thứ ba:

 + “Đây cảnh cũ, đâu người xưa, chị Oanh nhà thơ đọc cho Hoài Việt chép là bài thơ vừa 6 chữ, 7 chữ, vừa lục bát của TT làm năm 1941. Người chị này còn cho là “bài thơ đầu tiên” của TT?! Nhưng lạ kỳ thay, TT thấy cảnh cũ, chàng ta không những không nhớ tới Khánh mà lại nhớ cô Trinh nào đó:

Đây cảnh cũ, đâu người xưa

Đây cảnh cũ, đâu người xưa
Tình cũ năm qua để hững hờ
Hoa dẫu mỉm cười nhưng có ý
Phảng buồn mặt phấn nét tương tư
Giận thời gian, tiếc ngây thơ
Lòng xuân tình cảm bây giờ gửi ai?
Trinh xuân mộng cũ đi rồi
Cảnh sinh xa vắng ngậm ngùi ly tao
Gặp Trinh trong bóng xuân đào
Đang khi quãng gió dạt dào chim ca
Má hồng, hồng đượm hương hoa
Rung rinh đọng giọt phấn nhòa sương rơi
Hoa xuân thắm, nụ xuân tươi
Quyện hoa hơn hớn, lòng ơi mộng lòng
Trinh tay nâng giấc cánh hồng
Với vần thơ hái mơ mòng tôi yêu…
Cảm nhau từ đấy xuân chiều
Cành thơ, lá gió dập dìu ngân nga
Tìm Trinh trong nắng tôi ra
Lời oanh ríu rít vuốt hoa Trinh cười 
Nhưng đây nắng liễu buồn ơi !
Ba xuân nẩy nét chia phôi chim ngừng….

1941

Bài thơ lại do người chị tên Oanh của TT đọc lại cũng trật vài từ như từ “chiêm bao” trên với từ “chim ca” trong “Thâm Tâm, cuộc đời ngắn, tiếng thơ dài” (Hoài Việt, Nxb Trẻ – 2003). Bài này mà cho là “bài thơ đầu tiên” của TT? Vậy thì TBH được TT làm năm 1940 thì là bài thơ… “thứ nhất”?

TT hồi ức một hình ảnh của một cô Trinh ngày cũ vào một mùa xuân tươi roi rói với “bóng xuân đào, dạt dào chim ca…” với những ấn tượng cũ của bút pháp lãng mạn tự nhiên dung tục “hoa hơn hớn, ơi mộng lòng, mơ mòng tôi yêu…” và sáo ngữ: “rung rinh động giọt phấn nhòa sương rơi, quyện hoa hơn hớn, nâng giấc cánh hồng, ríu rít vuốt hoa, ba xuân nẩy nét...” là từ gợi tả nổi. Trong “Chào Hương Sơn”, “Tráng ca“, TT không có nhắc tới chữ buồn mà chúng ta cũng thấy man mác một nỗi buồn. Bài này, ngược lại, TT nhắc chữ “buồn ơi” mà chúng ta chẳng thấy rung động xí xi nào! Vì sao? Lời thật mới động lòng ta. Lời ba hoa ngữ thì là dửng dưng! Lướt qua, đã thấy chẳng phải “e-hơi” thơ TT. TT không làm thơ tả cảnh, tả tình phơi phới bao giờ. TT là một họa sĩ. Những nhà điêu khắc, họa sĩ thường tạo cảnh bằng đường nét, màu sắc với ẩn dụ chìm. Cho nên, thơ TT thiên về cái “tôi – ta” tâm sự trùng trùng bằng những bức họa bằng thơ. TT chưa gì đã chào hàng bằng thứ hàng lục bát khó nuốt và nhắc nhở về một cô Trinh nào với lời lẽ chả chớt, vô hồn, sáo ngữ. Đừng nói chi trong khi TT đã đau khổ vì tình xưa với Kh? TT còn trâng tráo mơ mộng cô nào?

Ta rất tiếc là không có ai trong MGL, NTL, Thế Phong, Hoài Việt hay những ai từng tự khẳng định mình đã đọc TTTB hay “Tiếu Thuyết Ba Xu” mà lại không đọc được bài này! Bỏ sót hay cố tình cũng là một thiếu sót của giới nghiên cứu khi nghiên cứu về TT và T.T.Kh.

Sự nghi ngờ Hoài Việt “úm ba la” ra bài thơ này là không có. Chú Nguyễn Tuấn Khoa khẳng định, cô Oanh – em ruột bố TT – đã đọc bài thơ này ngay trước mắt chú. Còn chỉ mỗi bà Oanh nhưng bà cũng đi về nơi xa… Bà nhớ bài của ai? Hoặc bút hiệu Trăm Năm khi đăng trên “Tiểu Thuyết Ba Xu” của Trường Xuân như theo lời Hoài Việt ghi lại là ai chứ không phải TT? Bài thơ này, đã “giết” chết chữ “Nhân” mà cha mẹ TT đã dạy từ nhỏ, “bứng” trốc rễ luôn chữ Tình mà TT trân trọng khi nếm được lúc thanh niên và bay tuốt luốt mầm mống thi ca của TT chứ đừng nói là mở đầu cho một tài năng như Hoài Việt ghi nhận: “Đây là một bài thơ tình phảng phất nỗi buồn man mác nhưng cũng báo hiệu nhiều nét tài hoa của một thi sĩ tương lai”.

Bài thơ này, được loại bỏ tại đây khi mang danh nghĩa “Bài thơ đầu tiên” của TT.

Bài thứ tư: Bản của MGL (Thơ Thâm Tâm, sđd):

                                 Các anh

Các anh hãy chuốc thật say,
Cho tôi những cốc rượu đầy, rồi im
Giờ hình như quá nửa đêm,
Lòng đau, đau lại cái tim cuối mùa


Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi!
Giờ hình như ở ngoài trời
Tiếng xe đã nghiến, đã rời rã đi

Tâm tình lạnh nhạt, đâu nghe
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều?
Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài hoa máu đã giao nốt đời

 

Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi,
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh.
Sá chi những truyện tâm tình
Lòng đau đem chữa trong bình rượu cay…

                                                                        1940
Nguồn:

MGL: Ghi thêm về Thâm Tâm và T.T.KH.” (T.T.KH nàng là ai?, Thế Nhật, 1994, sđd tr 118-123; T.T.KH nàng là ai?-  2000 tr 78-81 – Văn nghệ, số 13/3/1990): “Bài Các anh trong tập Thơ Thâm Tâm chỉ có 16 câu (4 khổ) lấy trọn vẹn từ báo Tiểu thuyết thứ bảy ngày 4-5-1940. Hoàng Tiến nghe đâu mà bảo đó chỉ là trích đoạn. Chắc anh tin vào ai đó đã đưa in trên Văn nghệ và nói rằng đây là bài thơ của Thâm Tâm, không có đề, mà ở đây thực ra mở đầu là 8 câu trên và kết thúc là 8 câu sau của bài Các anh, còn ở giữa là 56 câu khác không ăn nhập gì với kết cấu toàn bài. Vẫn bài thơ dài này cộng cả 64 câu, ông Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến in ở Sài Gòn năm 1968 lại đặt tên là Gửi T.T.Kh. Có lẽ cũng nghe ai nói rồi ghi lại…”

Trong lần tái bản cuốn VNTNTC, NTL đã đổi bài này thành “Các anh” như chúng ta đã đọc ở trên. Tác giả nào cũng lấy “nguồn nghe” và “nguồn sao chép” đúng hơn “nguồn gốc”!

Hoài Anh: “Thơ T.T.KH Sự Thật Hay Huyền Thoại?” (thanhtung.com) bổ sung thêm: Số báo là 307 như NTL đã cung cấp. Hoài Anh cũng lấy từ nguồn nào trong 3 nguồn nói trên khi ghi: “Lòng đau đau lại cái tin cuối mùa”?

Thế Nhật với cuốn “T.T.KH nàng là ai?”, khác: “Lòng đau đau lại cái tim cuối mùa”. Nguồn ở đâu?

NTK với “Về những kỷ niệm quê hương” dẫn bài Thanh Châu “Nói thêm về T.T.KH” đều ghi không khớp bài thơ này: “Lòng đau đưa lại cái tin cuối mùa”.

Lựa chọn?

Bốn câu thơ này đứng về góc độ phân tích sẽ khác nghĩa: Câu thứ nhất đau vì nỗi đau tự phát. Câu thứ nhì đau vì nỗi đau từ tin ngoài đưa vào nhưng từ ngữ chưa trong sáng với nghĩa đau, rồi cái đau đó “đưa lại cái tin” chứ không phải cái tin đó đưa lại cái đau. Câu thứ ba đau thêm vì nỗi đau bị xé ra vì cái tin cuối mùaTin cuối mùa cũng vô nghĩa vì chẳng hiểu ám chỉ mùa nào? Ý nghĩa gì? (có lẽ cuối mùa thu qua câu “tiếng mùa lá chết” chăng?). Câu thứ tư càng không rõ. Ta chọn cách nào cho bài thơ hợp với hoàn cảnh thực tế lúc bấy giờ? Chọn câu thứ nhất vì nỗi đau này đã âm ĩ trong tim từ lâu. Người trong cuộc chẳng thể vì cái tin đồn nào mới đau lại. “Lòng đau, đau lại” hàm ý đau tới hai lần: Đau vì tình duyên vỡ lở hôm trước. Đau vì tình duyên được nhắc lại hôm nay. “Tim cuối mùa” chính là trái tim đã sắp chết. Dù TT hay người nào đó làm, chọn câu thứ nhất là câu có ý nghĩa cao nhất đưa nội dung bài thơ có ý nghĩa hơn. Trừ trường hợp bài này đã đăng trên TTTB  thật sự, chúng ta nên giữ nguyên văn từng dấu chấm phẩy cũng như từ địa phương hay ngữ pháp.

Hoài Anh, NTL ghi: “Tiếng xe đã nghiến đường rời rã đi“.

Thế Nhật và NTK chép: “Tiếng xe đã nghiến, đã rời rã đi” như bản của MGL. Lẽ ra, câu đúng phải là “bánh xe đã nghiến” chứ chẳng thể nào “tiếng xe nghiến”. Nghiến răng thì họa may. Tiếng xe phát ra âm thanh sao nghiến được chứ? Thôi cứ tạm chấp nhận thơ có lúc mù mờ như từng chấp nhận bỗng không có “con nai vàng ngơ ngác đạp đám lá vàng khô” chạy ra cho Lưu Trọng Lư làm thơ! Mà nghiến cái gì? Tất nhiên, phải nghiến xuống đường. Câu Hoài Anh, NTL ghi đầy đủ ý nghĩa hơn và cần cho thêm dấu phẩy tách động từ “nghiến” với  cụm động tính từ “rời rã đi“, thành: “Tiếng xe đã nghiến đường, rời rã đi”.Thế nhưng, theo giá trị biểu cảm của thơ, “Tiếng xe đã nghiến, đã rời rã đi” hay hơn.

“Các anh trút nốt âm thừa đi thôi” (Thế Nhật giống NTL) so với: “Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi” của các bản còn lại nói trên, ta dễ dàng không chọn câu trong sách Thế Nhật và NTL. Âm thanh phát ra không có dạng thể chất (đặc, lỏng) mà là thể khí (hơi, âm) nên không dùng động từ “trút” như trút lúa, thóc giống được. Nhưng ta có thể nói “trút nỗi buồn thương vào giấy mực” hay “trút nỗi niềm riêng xuống đáy mồ“. Ví dụ trong văn: “Hội nghị sẽ họp trong 4 ngày, bàn về các giải pháp để tìm chỗ “trút nỗi buồn” cho gần nửa dân số thế giới” (hanoimoi.com.vn). Trong thơ: “Chọn ghế qùy trong bóng tối ngập tràn. Mở lòng trút mọi nỗi niềm cay đắng” (Mai Qùy, members.cox.net). Ta có thể thấy trong nhạc hình ảnh “cây trút lá” trong “Rừng cây trút lá” của Trịnh Công Sơn hay “Cây trút lá cuốn theo chiều mây” trong “Đêm đông” của  Nguyễn Văn Thương.

Bởi vì, nỗi buồn, niềm riêng không thuộc dạng thể chất hay thể khí được ẩn dụ tu từ hóa thành khối lượng lỏng, còn lá cây thuộc hình thể có dung lượng, cân nặng… tha hồ trút đâu cũng hợp lý, hợp tình, hợp khoa học.

Hoài Anh ghi: “Tâm tình anh lạnh đâu nghe“, các vị trên chép: “Tâm tình lạnh nhạt đâu nghe”. Bản của MGL có dấu tách câu như bài trên.

NTL lại khác: “Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe”. Ta chọn câu Hoài Anh để cho dư vị một cuộc tình đã vỡ lở không bị cái từ “lạnh nhạt” thiếu… quân tử kia… đào huyệt. Nhưng bài thơ tự nhiên nổi lên đại từ ngôi thứ hai “anh” như thể nhân vật đang nói với người con gái hay người nào nhỏ tuổi hơn mà toàn bài thì rõ ràng, nhân vật này đang nói với “các anh“! Từ “anh” trong bản Hoài Anh đâm ra dư thừa, không hợp nghĩa. Từ “anh” này, bỏ xuống cho bài thơ chắp vá dài 64 câu nói với nhân vật Khánh thì hợp hơn. Vậy thì, ta buộc phải lấy câu “Tâm tình lạnh nhạt, đâu nghe” với nghĩa: Lòng tôi lạnh nhạt, không cần nghe những “âm thừa” của các anh nữa!

MGL ghi: “Những loài hoa máu đã giao nốt đời” lại đụng các bản khác: “gieo nốt đời“. Từ “gieo nốt” có tính nhân hóa rất hay. Gieo nỗi buồn thành nốt nhạc! So với “giao nốt” nghĩa các nốt nhạc buồn giao lại với nhau? Nghĩa thứ nhất. Tạo ra nghĩa gì đây? “Các loài hoa máu đã giao” hết trọi cho đời? Nghĩa thứ hai. Từ “nốt‘ có hai nghĩa: Nốt nhạc và Hết, Không còn gì!

Thế Nhật ghi theo MGL,

NTL qua bài Thanh Châu: “Lòng đau đem chữa trong bình rượu cay”. Sách NTK cũng ghi từ Thanh Châu chép theo MGL giống Hoài Anh: “Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay”. Nhiều bản khác copy chung: “Lòng đau đem giấu trong bình rượu cay”. Chọn câu nào? Theo giá trị thẩm mỹ câu thơ, câu hai nghe êm tai hơn. Nhưng giá trị nội dung thì câu một sâu sắc hơn. Lòng đau mới đem chữa. Giống như có bệnh thì đi bác sĩ. Lòng đau còn đem đi chỗ khác chứa đựng thì bệnh không thể thuyên, đau không thể giảm. Câu thứ ba hợp cách hơn. Đau thì nén. Nén thì phải giấu. “Nam vô tửu như kỳ vô phong“. Thế nhưng, “Nhất túy giải vạn sầu” mà sầu vẫn sầu theo Lý Bạch là đây! Xưa nay, “nhi nữ thường tìnhanh hùng khí đoản“! Ai mà không giấu nỗi sầu vào “ba chung lếu láo“? Vậy, câu “Lòng đau đem giấu trong bình rượu cay” hay hơn với thêm ba chấm lửng(…) kéo dài lòng đau như… toa xe lửa đến cùng trời cuối đất!

Cùng một tác giả, hai bài viết khác nhau, đăng bài “Các anh” cũng… khác luôn. Thế Nhật trong “T.T.KH nàng là ai” trích bài thơ này của TT: “CÁC ANH” trong khi cũng trong sách mình, cuốn “Lược sử văn nghệ Việt Nam- Nhà văn tiền chiến 1930-1945, Nxb Vàng Son Sài Gòn – 1974 (newvietart.com), Thế Phong ghi: “CÁC ANH HÃY UỐNG THẬT SAY” với 8 câu đầu đã khác nhau như thế này: thực say/thật say; đau lại/đem lại; trút nốt/tắt nốt; nghiến đường/nghiến, rời; im đi/ vui lên; xê dịch chiều/ xê dịch nhiều; gió thổi nhiều/ gió thổi đều; vội gieo/ đã gieo; bao nhiêu nghệ sĩ/ tâm hồn nghệ sĩ; mong manh, mỏng manh;  đem chữa/ đem chứa… ghi năm 1938/ không ghi năm. Độc giả sẽ bỏ dấu hỏi là Thế Phong lấy 2 bài thơ này từ nguồn nào mà từ ngữ khác nhau như thế? Lỗi từ người đánh máy chăng? Tại sao không hiệu đính lại để văn bản thống nhất?

Thời gian ghi cũng chênh lệch 2 năm so với bản MGL (1940) và NTL (TTTB số 307, 4-5-1940). Vậy, ít nhất, các tác giả đã đọc từ rất nhiều “nguồn ma” khác nhau. Không lẽ, nguồn tư liệu từ TTTB của mỗi tác giả trên lại khác? Độc giả chưa tới ngày Halloween mà cũng bị… nhát ma!

Trường hợp nếu các tác giả tìm được nguồn TTTB, chính mắt đọc được những bài thơ đã in này thì hãy cho độc giả rõ. Bằng như ghi chép lại của người khác, sách khác, chúng ta buộc phải ghi nguồn từ người đó, sách đó. Nếu không, thông tin của chúng ta sẽ không có “bảo chứng” giá trị văn học. Trường hợp MGL, Hoài Anh hay Thanh Châu, hoặc người ghi lại như Thế Nhật, NTK thiếu hẳn nguồn tư liệu chính xác. Ngay cả HT – HC khi lấy TBH của TT cũng chỉ ghi là “rút ở tập Thơ Thâm Tâm chưa xuất bản“. Tập thơ này do ai chọn lựa và người đó căn cứ vào tư liệu nào? Ở đâu? Những bài thơ đó của TT dĩ nhiên là bản viết tay, hoặc đăng báo thì cũng phải cho thiên hạ được “thanh thiên bạch nhật” chứ?

Vậy, với những người thích nghiên cứu, việc tưởng đơn giản nhưng rất quan trọng, đó là “nguồn tư liệu“. Chúng phải được ghi rõ ràng, chính xác vì chúng là xâu chìa khóa để mở tất cả các cánh cửa văn học thông ra thế giới bên ngoài khi không còn nhân chứng sống trên đời. Khi đã trích nguồn từ người nào, sách nào thì người đó, sách đó chịu trách nhiệm pháp lý. Trường hợp, “nguồn ma” ví dụ như ta cứ nói trích từ TTTB, Số? Ngày? thì ta cũng phải ghi rõ mình lấy từ web nào, sách nào, bài nào ghi “nguồn ma” này!

– Nội dung: Theo âm điệu của bài thơ, chúng ta thấy rõ rằng, TT rất bực mình về “các anh” – những người bạn. Vì sao TT có thái độ cáu lên như thế trong ngữ “tắt nốt âm thừa đi thôi“? Chính những “âm thừa” (nhiều chuyện, bẻm mép, bịa đặt… ) đã từ một Thâm Tâm giả với những ngôn từ tầm thường “K hỡi! Người yêu của tôi ơi” trong “Màu máu Tigôn“, “Khánh ơi! Khánh hỡi!” trong “Các anh” (chỉ 48 câu). TT làm thì sao TT nổi điên với chính TT khi bắt “các anh” cũng chính là TT “câm miệng” lại? Không làm mà bị oan mới nổi điên lên chứ? “Các anh hãy uống cho đã đời đi. Hãy chuốc rượu cho tôi thật nhiều rồi câm miệng lại hết dùm tôi được không? Đã quá khuya rồi còn lắm chuyện! Khơi lại niềm đau trong tim héo của tôi để làm chi? Lòng tôi đã đau lắm, đã lạnh nhạt rồi, tôi chẳng thể nào nghe được chuyện loài hoa máu nữa. Bao nhiêu nghệ sĩ đau khổ, há riêng gì mình tôi. Sá chi những chuyện buồn phiền ấy. Tôi đã mượn rượu giải sầu không thấy hay sao hả?”. TT quát lên bằng giọng… Thơ! Nhưng có phải TT làm không? Ta thấy rằng, ngôn ngữ thơ chính là chìa khóa giải mã một thi pháp của một tác giả. Vì sao, ta nói NB là chân quê, gã thi sĩ lãng mạn? Vì sao ta cho Xuân Diệu là gã si tình? Vì sao khi nhận xét về thơ THT, HT – HC cảm thấy: “Thơ Trần Huyền Trân không xuất sắc lắm. Nhưng sau khi đọc hoài những câu rặt anh anh, em em, tôi đã tìm thấy cái thú của người đi đổi gió” (sđd, tr 363). Ngôn ngữ, ngôn từ đã nói đấy! Vậy, bài thơ này, có gì đặc biệt trong ngôn ngữ? Ta thấy những từ được dùng “im” trong “Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im” bài này giống như câu “Tôi run sợ viết, lặng im nghe” hay “Nếu không im được thì tôi chết” của thơ T.T.Kh. Cả bài dài 64 câu thì lại có thêm: “Lặng im tôi viết bài thơ trả lời”. Bản khác cũng chép “Hãy im đi các anh ơi“.

Một từ khác: “âm thừa” trong câu “Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi“. Giống như “giọt lệ thừa” (dòng dư lệ) trong: “Giận anh, em viết dòng dư lệ”, “Cho tôi ép nốt dòng dư lệ” của T.T.Kh. Cả hai bài thơ đều cùng tâm trạng đau lại vết thương lòng đã cũ. Nhưng việc sử dụng ngôn từ chung như vậy, ít thấy đối với hai tác giả khác nhau. Hai bài thơ này, nếu không có bản gốc để đối chiếu, thì cũng vẫn nghi vấn là từ một tác giả mà thôi! Vậy trong ba bản, bản nào là bản thật? Có ai dám khẳng định không? Không ai dám lên tiếng, ta sẽ phải chọn bản cũ nhất, tức là bản của Thế Phong năm 1974 trong sách đã dẫn trên. Thế Phong lại có 2 bản khác nhau (1974 và 1994) nên nguồn tư liệu chưa được tính nghiêm túc (chưa nói chính xác) bằng bản MGL năm 1988. Thế nhưng, bản của NTL dài hơn và chú thích đã đăng trên TTTB:

Các anh

                         Gửi T.T.Kh
Các anh hãy uống thật say,
Cho tôi uống những cốc đầy rồi im
Giờ hình như quá nửa đêm,
Lòng đau mang lại cái tin cuối mùa.
Hơi đàn buồn như trời mưa,
Các anh trút nốt âm thừa đi thôi.
Giờ hình như ở ngoài trời,
Tiếng xe đã nghiến đường rời rã đi.
*
Hồn tôi lơ mờ sương khuya,
Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời.
Vâng, tôi biết có một người,
Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng.
Để hôm sau khóc trong lòng,
Vâng, tôi biết lắm cánh đồng thời gian.
Hôm qua gặt hết lúa vàng,
Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.
Vết xe trong vệt bụi hồng,
Tôi đi rồi lại nhúng trong khói mờ.
Vết xe trong xác pháo xưa,
Nàng đi có mấy bài thơ trở về,
Tiếng xe mở lối vu qui
Hay là tiếng cắt nàng chia cuộc đời!
Miệng chồng Khánh gắn trên môi,
Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ,
Đàn xưa từ chia đường tơ,
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.
Kéo dài một chiếc áo lam,
Vì dây đã dứt nàng càng nối dây.
Nàng còn cởi mãi trên tay,
Vì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
Góp hai thứ tóc trên đầu,
Bao giờ đan nổi những câu tâm tình?
Khánh ơi! Còn hỏi gì anh?
Lá rơi đã hết mùa xanh mùa vàng.
Chỉ kêu những tiếng thu tàn,
Tình ta đã hết anh càng muốn xa.
Chiều tàn chiều tắt chiều tà,
Ngày mai ngày mốt đều là ngày nay,
Em quên mất lối chim bay,
Và em sẽ chán trông mây trông mù.
Đoàn viên từng phút, từng giờ,
Đời yên lặng thế em chờ gì hơn,
Từng năm từng đứa con son,
Mím môi vá kín vết thương lại lành.
Khánh ơi! Còn đợi gì anh?
Xưa tình đã lỡ nay tình lại nguyên.
Em về đan nốt tơ duyên,
Vào tà áo mới đừng tìm mối xưa.
Bao nhiêu hạt lệ còn thừa,

Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.
Bao nhiêu nương cánh hoa lòng
Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng hồn cha.
Nhắc làm chi chuyện đời ta
Bản thân anh đã phong ba dập vùi…
*
Hãy im đi, các anh ơi
Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về.
Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe,
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều.
Giờ hình như gió thổi nhiều,
Những loài hoa máu vội gieo nốt đời.
Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi,
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh,
Sá chi những truyện tâm tình,
Lòng đau đem chữa trong bình rượu cay!

(Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 307, 4-5-1940)

Nghi hoặc: Cắt đầu 8 câu và đuôi 8 câu thì thành bài thơ “Các anh” như MGL tuyển vào sách. Để nguyên 64 câu trên thì thành bài “Các anh”, “Gửi T.T.Kh”, “Trả lời của người yêu” như trên hay “Các anh hãy uống thật say” bản của Thế Phong còn 54 câu. Lại không biết các vị “thánh thủ thần thâu” này “chôm” từ đâu ra các bài chẳng thống nhất về từ ngữ đã đành, mà chẳng ăn khớp số câu đã chỉ ra ở trên?

Nếu TT làm bài này, anh “nổi điên” với chính anh hay sao? “Gậy ông đập lưng ông”?. Có điều, nếu MGL cho rằng bài “Các anh” chỉ có 16 câu, 4 đoạn, còn 48 câu giữa là của bài “Trả lời của người yêu” hay “Gửi T.T.Kh” thì ta thấy có hai câu sau đây “nghẽn đường”:

Hãy vui lên các anh ơi

Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về.

Bỏ nó vào “Gửi T.T.KH” thì nó… hú lên “các anh ơi!”. Nó nói rằng nó phải nằm trong bài “Các anh” mới đúng! Nếu bỏ nó trong “Các anh” thì “Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về” rú lên phàn nàn rằng phải bỏ nó trong “Gửi T.T.KH” mới trúng… chuồng! Hai câu thơ này nối nội dung hai bài “Các anh” và “Trả lời của người yêu” tức “Gửi T.T.KH” lại với nhau. Cho nên, muốn tách ra khỏi nàng Khánh như MGL cũng không xong.

Điều này không khó hiểu khi Thanh Châu lên tiếng trong “Nói thêm về T.T.KH.” khi thành phần xuất thân của đứa con TT không mấy rõ ràng từ MGL “Cũng may, với sự nghi ngờ: “Có thể hai bài thơ trên là ‘thơ dỏm’ lời thơ thô vụng, không chắc của Thâm Tâm, tôi đã tìm đến ông Phạm Quang Hòa, nghe nói ông trước kia có làm thơ, và quen thân với Thâm Tâm, còn giữ được nhiều thơ cũ. Ông Phạm Quang Hòa đã chép cho tôi một bài giống như bài ‘Các anh’ nói trên. Nhưng theo ông Phạm Quang Hòa thì đây là bài thơ Thâm Tâm trả lời T.T.Kh. sau khi có ‘Bài thơ cuối cùng’ của T.T.Kh. đăng báo Tiểu thuyết thứ bảy (?). Bây giờ xem lại thì bài này dài gấp mấy lần bài ‘Các anh’. Chỉ đúng có 8 câu đầu là của bài ‘Các anh’ tiếp theo còn 47 câu thì bỏ, để lại bắt vào đoạn cuối của bài ‘Các anh’ với 7 câu kết (như trong bài Các anh). Vậy thì Mã Giang Lân đã lấy ở đâu ra bài ‘Các anh’ (đã in ở sách “Thơ Thâm Tâm” nhà xuất bản Văn Học – 1988)? Với vẻn vẹn có 16 câu? Nếu trích ở đâu sao không nói rõ?

Về ông Phạm Quang Hòa, ta có thể tin ông là bạn thân của Thâm Tâm, nên mới có ‘Bài thơ trả lời T.T.Kh.’ của Thâm Tâm mà ông giữ được đến nay… “. (Về những kỷ niệm quê hương, sđd tr 174 – 175).

Phạm Quang Hòa hay Lương Trúc đều cung cấp thông tin chưa có bảo chứng. Ông thuộc chăng? Không tin. Ông chép lại? Chép ở đâu? Thanh Châu chỉ trích MGL hơi gay gắt nhưng bản thân Phạm Quang Hòa cung cấp thông tin bài thơ từ “nguồn miệng” thì sao bằng nguồn TTTB của MGL?

Thắc mắc này, MGL trên báo “Văn nghệ, số 13 tháng 3-90” (Thế Nhật, sđd tr 121) đã trả lời cùng với thắc mắc của Hoàng Tiến: “Vẫn bài thơ dài này cộng cả 64 câu, ông Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến in ở Sài Gòn năm 1968 lại đặt tên là Gửi T.T.Kh. Có lẽ cũng nghe ai nói rồi ghi lại”.

Thanh Châu có nhầm không, chứ 8 câu đầu cộng 7 câu sau (bỏ 47 câu) thì sao ra 16 câu mà bài “Các anh” đang có? 8+7= 16???

Nhưng, MGL cũng… lẫn nốt khi khẳng định: “Thực ra mở đầu là 8 câu trên và kết thúc là 8 câu sau của bài ‘Các anh’, còn ở giữa là 56 câu khác không ăn nhập gì với kết cấu toàn bài…”. Theo MGL: 8+56+8 = 72. Thế nhưng, bài thơ dài này đếm tới, đếm lui tối thui cả mắt cũng chỉ có 64 câu chứ đâu tới 72 câu? Hai câu “nghẽn bản họng” đó, bỏ ra không được mà lấy vào cũng không xong. Nếu muốn mỗi bài mỗi vẻ, mười phân… khác mười, thì hai câu này phải được… rứt ra chia đôi:

Câu “Hãy vui lên các anh ơi!” hoặc “Hãy im đi các anh ơi” trả về cho “Các anh” thì bài thơ “Các anh” thành 17 câu. Câu “Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về”giữ nguyên trong “Gửi T.T.KH” thì bài đó còn 47 câu. Hai bài thơ “què cụt” ở mỗi câu lục bát: “Các anh” thì thiếu câu 8. “Gửi T.T.KH” hay “Trả lời của người yêu” thì thiếu câu 6. Thơ lục bát gì kỳ cục vậy? Chắc là ném vào thơ lục… cơm nguội thời hậu hiện đại quá! Bác sĩ mổ tách ca song sinh khác trứng, cũng nên cẩn thận hiện tượng dính lồng ngực này!

Bài thơ có mấy câu?

– Theo NTL bài thơ này có 64 câu.

– Nhưng trong hai cuốn sách của Thế Nhật cũng khác luôn:

+ “Lược sử văn nghệ” (sđd) chỉ có 54 câu.

“T.T.KH nàng là ai?” (Nxb VH-TT – 1994) tr 89-90-91 còn 62 câu. Những câu khác xa cơ bản đáng sợ trong 2 bản một tác giả Thế Phong như: “Hôm qua rụng hết lá vàng/ Hôm qua gặt hết lúa vàng“. Câu quan trọng nối kết hai bài thơ đã bị biến dạng:

Hãy vui lên các anh ơi!
Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về.
Tâm hồn lạnh nhạt đê mê,

Câu: “Hãy vui lên các anh ơi” (từ “Lược sử văn nghệ“) được đổi thành: “Hãy im đi, các anh ơi“. Chắc ai đó sửa lại cho phù hợp… ý mình??! Hai câu tiếp bị cắt bỏ không lý do. Nhưng đã chọn thì chọn luôn “Hãy im đi, các anh ơi” mới hợp nỗi bực mình từ đầu của tác giả: “Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi“! Nhưng thơ người khác chứ đâu phải thơ mình mà cứ chọn đi, chọn lại? Thơ cần bản gốc là vậy.

Bản Thế Phong còn mất một đoạn 10 câu sau:

Khánh ơi, còn hỏi gì anh?
Lá rơi đã hết màu xanh màu vàng.
Chỉ kêu những tiếng thu tàn,
Tình ta đã chết anh càng muốn xa.
Chiều tan, chiều tắt, chiều tà,
Ngày mai, ngày mốt vẫn là ngày nay.
Em quên mất lối chim bay,
Và em sẽ chán trông mây trông mờ.
Đoàn viên từng phút từng giờ,
Sóng yên lặng thế em chờ gì hơn?

– Kết luận sơ bộ:

Hai đứa con song sinh dính lồng ngực này, TT… không thể làm, chẳng thể… đẻ. Đoạn trên bảo các anh im hết đi! Đoạn cuối đốc thúc các anh vui lên đi! Mâu thuẫn nội tâm điên rồ có khác? Bảo người ta im xong thì mình lại lôi ra một lô, một lốc về cô Khánh mà réo ầm ĩ, kể lể đủ điều, rên xiết muôn lối. Khi xưng tôi với các anh, khi xưng anh với Khánh. Khủng hoảng tinh thần! Khác với một bút pháp rất trầm tĩnh nhưng rất tình cảm trong các bài thơ của TT cùng thời gian, cùng tâm trạng. Thế nhưng… “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã. Lâm nguy vô cứu mạc anh hùng”!

Có người khác đứng cùng tuyến của TT làm ra… đẻ ra được không? Người này là ai? Nội một trời “dị bản” từ ngữ trong 16 câu thôi: (thật – thực; cho tôi uống – cho tôi những; lòng đau đau lại – lòng đau đem lại; tựa trời mưa – như trời mưa; giờ hình như đã tối rồi – giờ hình như ở ngoài trời; tâm tình lạnh nhạt đâu nghe – tâm tình lạnh nhạt đê mê; sá chi – sái chi, đem chứa – đem chữa- đem giấu… ) cũng đủ… choáng váng mặt mày người nghiên cứu huống chi dị bản cả bài!

Bài này được ai đó làm (sau khi ĐACC ký T.T.Kh ra đời) có những câu… thật chẳng là đàn ông tốt:

                    Vâng, tôi biết có một người,

                     Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng.

                     Để hôm sau khóc trong lòng̣,

                     Vâng, tôi biết lắm cánh đồng thời gian.

 

                     Miệng chồng Khánh gắn lên môi,

                     Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ,

                     Đàn xưa từng chia đường tơ

                     Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.

 

                     Khánh ơi! Còn đợi gì anh

                     Xưa tình đã lỡ nay tình lại nguyên

T.T.Kh là cô Khánh? (theo Hoàng Tiến với bài “T.T.KH là ai? và Anh Đào với thiên hồi ký trên báo Nhân Loại của ông, thanhtung.com, in trong sách Hoài Việt và NTL, sđd).

Bởi chính vì bài thơ này đã nêu đích danh cái tên ”Khánh” nên đây chẳng phải là bài thơ ”tưởng tượng” và nó không ”đụng hàng” với một cuộc tình chung chung nào. Nhưng khi đã cho T.T.Kh là Khánh thì ta cần xem xét ngôn ngữ, ý tứ mà người ký TT này dùng cho ”người yêu” có mặn mòi  như T.T.Kh đã viết cho ”người ấy” TT không? Ráp bài này lại với những bài T.T.Kh ký, thằng chồng nào ngu mà không biết họ đang nói về mình là một kẻ thừa bên lề yêu đương?

Trong lịch sử văn học ngoại trừ những tác phẩm văn xuôi, dòng thơ trữ tình chưa có câu thơ nào đầy “lục dục thất tình” như câu:

  Miệng chồng Khánh gắn lên môi,

                     Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ

Người đọc nào có một chút tự trọng mà không thấy ghê ghê. Lại những câu miêu tả bề nổi. TT làm đấy sao? Cười tình cũ đã cạn ngày, cạn tháng!

Thơ lãng mạn, ”Thơ Mới” thời ấy mang bi kịch cả thực và mộng đều lẫn lộn mênh mông, miêu tả ngoại cảnh là chính để bày tỏ nỗi lòng. Kẻ này đi miêu tả cái thực “lột da”.  Xem ra, đó cũng là sự “đột phá” của kẻ “phá giới”. Chỉ tội nghiệp cho hai kẻ trong cuộc, dẫu biết tỏng tòng tong thiên thiên hạ “chơi xỏ” mình nhưng đành ngậm bồn hòn làm thinh. Phản ứng có mà chết chùm! Kẻ ngoài cuộc mỉa mai hả hê. Người thơ ở trong giang hồ nửa đường đã thấy bất bình nên tức giận dùm như Xuân Tâm Phan Hạp:

Ôi khốn nạn! Ôi điên rồ! Giận tức

                       Đuổi mau đi xác thịt, đuổi đi. 

Vậy mà người ta chấp nhận được cái tả “da thịt” của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương…

TT làm gì mà tệ đến cực ác vậy khi đã viết những câu phơi con cá trên còn bồi thêm những câu… phanh thây con cá ra nữa:

Bao nhiêu hạt lệ còn thừa

                            Dành ngày sau khóc những giờ vị vong.

                            Bao nhiêu những cánh hoa lòng

                            Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng hồn cha.

 

                            Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh

                            Sá chi những chuyện tâm tình …

Trả lời cuả người yêu” tức “Các anh” là tảng nước đá đập vào trái tim ấm áp yêu thương của ai kia, là cái quay gót 180 độ với người yêu cũ, là bản án tử hình cho hạnh phúc người yêu của mình.

Thử hỏi con người như TT sống trên đường đời mới qua có một nửa chưa đủ ”thâm niên” để dùng thủ đoạn hại người. TT đã từng lăn lộn giữa cuộc đời cùng khổ, kiếm miếng cơm manh áo đã cực, được một chút tình thì càng ôm ấp, nâng niu với từng kỷ niệm sao có thể là một kẻ hai mặt, hai lòng?

Tổ hợp thơ TT và T.TKh không biết chính xác bao nhiêu dị bản nhưng những nhà nghiên cứu tên tuổi đã “góp phần” làm cho “dị bản” thơ TT càng ngày “phong phú” đáng “nể”!

Nhận xét: Bản của NTL so với các bản khác của Thế Phong trong “Lược sử văn nghệ” (sđd, web đd), hay các bản khác đều khác nhau xa về từ, về câu: cho tôi những cốc/ cho tôi uống những; uống/chuốc; buồn tựa/buồn như; lơ mờ/lờ mờ; bởi chưng tôi viết/hờ rung tôi viết; có một người/biết có người; ở ngoài trời/đã tối rồi; biết lắm/ gặt hết lúa vàng/rụng hết lá vàng; tiếng xe/vết xe; tôi đi rồi lại nhúng trong khói mờ/ nàng đi rồi lại nhúng trong khói mờ; vì dây đã dứt và càng nối dây/ tơ càng đứt mối, nàng càng kéo giay; cởi mãi trên tay, gỡ mãi trên tay; thay đổi màu/thay hẳn màu; góp hai thứ tóc/chung hai thứ tóc; hôm nay/hôm qua, tiếng khóc/tiếng cắt, từ ngày đàn chia/ đàn xưa từ chia, áo len/áo lam, nối dây/kéo giay, trên đầu/đôi đầu, sao còn chắp nối/bao giờ đan nổi; câu tâm tình/câu ân tình; đều là/vẫn là; mùa xanh mùa vàng/màu xanh màu vàng; sẽ ngán trông mây trong mù/ sẽ chán trong mây trông mờ; Khánh ơi! Còn đợi gì anh/ Khánh ơi còn hỏi gì anh; xưa tình đã vỡ/ ái tình đã vỡ; hãy dành mà khóc/dành ngày sau khóc; nương cánh/những cánh; bản thân/bản năng; hãy im đi/hãy vui lên; lạnh nhạt đêm nghe/lạnh nhạt đê mê; vội gieo/vội giao; lòng đau đem chữa/lòng đau đem chứa; con non/con son; mỉm cười/mím môi; dù vỡ/đã vỡ; đan mối/đan nốt; duyên xưa/mối xưa; hy vọng/hạt lệ; hương cánh hoa/những cánh hoa; đêm nghe/đê mê; tiếng mưa/tiếng mùa; xê dịch nhiều/xê dịch chiều;  gió thổi đều/gió thổi nhiều; mỏng manh/mong manh, xá chi/sái chi; đem chứa/đau chứa…

Một bài thơ ngần ấy dị bản “kinh dị” (như bài “Giải triều” đầy dị bản được cho là của Nguyễn Văn Tường) phải là một tác phẩm văn học chăng?

Bố cục bài thơ được NTL cung cấp gồm 3 đoạn rõ. Hai đoạn đầu và giữa không nhắc tới tên Khánh.

Đoạn đầu 8 câu nổi điên: uống rồi im đi, trút hết âm thừa rồi câm đi.

Đoạn giữa chơi… trội hơn réo cúng cơm tên Khánh 4 lần cùng khẳng định T.T.Kh là “nàng” chứ không phải “đực rựa”. Bài thơ dài này có gọi đích danh tên Khánh và nói rõ là T.T.Kh chính là Khánh “nàng đi có bốn bài thơ trở về”. Giọng thơ của một kẻ “trên cơ” chứ không phải bị…bồ đá như bò báng bể bụng: “vâng, cố tưởng tôi là chồng, khóc trong lòng, miệng chồng Khánh gắn môi Khánh hay miệng chồng, Khánh… “hiếp dâm” gắn môi mình? vì không bỏ dấu, hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ, sao tôi không biết, còn hỏi gì anh, anh càng muốn xa, đợi gì anh, đan nốt tơ duyên, bao nhiêu hạt lệ còn thừa/ hãy dành mà khóc những giờ vị vong… bao nhiêu nương cánh hoa lòng, hãy dâng cho trọn nghĩa chồng hồn cha, nhắc làm chi… như “chửi cha” đứa nào bỏ tao rồi kêu réo tao, muốn quay lại phải không? Xưa rồi… Diễm!

Tiếp theo, TT lại chì chiết người yêu cũ: “Góp hai thứ tóc trên đầu. Bao giờ đan nổi những câu ân tình” có khác nào mắng Khánh “già hai thứ tóc còn ngu“? TT “mỉa mai”: “đoàn viên” với chồng rồi “chờ gì hơn“, “từng năm từng đứa con son” khác nào hắn bảo nàng là dòng họ “gà” còn gì hơn? “Mỉm cười vá kín vết thương lại lành, xưa tình đã lỡ nay tình lại nguyên” là sao? Y như Mã Giám Sinh nghĩ cách “hớt tay trơn” Tú Bà khi lừa hái hoa Thúy Kiều mà chẳng “thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương” với những ngón làng chơi lừa lọc:

Dưới trần mấy mặt làng chơi,
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa .
Nước vỏ lựu máu mào gà,
Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.
Mập mờ đánh lận con đen

TT đay nghiến: “Bao nhiêu hạt lệ còn thừa, để dành mà khóc những giờ vị vong… “. “Dòng dư lệ” này ai hay dùng? T.T.Kh từng dùng: “Cho tôi ép nốt dòng dư lệ. Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên” trong BTTN. NB dùng nó với nghĩa “nước mắt thừa, nước mắt cạn” trong “Dòng dư lệ“:

Tặng người gọi một vần thơ

Hay là dòng nước mắt thừa đêm qua.

Hay:

Cạn dòng nước mắt còn đâu khóc người.

Đoạn cuối: Yêu cầu “các anh” “im đi” tiếp. Rồi TT nào có chịu “im” như “các anh”. Rượu vào lời ra. Kể lể linh tinh: Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về! Khác hẳn Kim Trọng lập đàn “chiêu hồn” sống Kiều bên sông Tiền Đường!

Người thuộc Kiều và vận dụng Kiều nhuyễn như vậy không thể nào là TT mà phải là… Nguyễn Bính?

TT cay cú, phớt tình: “sá gì cái đẹp, sá gì những chuyện tâm tình” tức là chẳng đáng giá gì khi níu kéo lại một tình xưa. Thất bại trong trường tình và khinh mạn người đẹp, nội dung này chỉ có trong thơ Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương. Thơ “bợm nhậu” lại bật ra từ đoạn đầu: “hãy uống thực say” và đoạn kết thúc “lòng đau đem chữa trong bình ruợu cay”. NB ít khi “chế rượu” tưới thơ mình như vậy cả. Trong những tình nghi viên, THT, Vũ Hoàng Chương dùng rượu tưới thơ mình. TT cũng mượn rượu nhưng là chén rượu “lưu biệt” cùng bạn“xin cạn chén rượu để tôi đi”. Chí khí uống rượu “bốc men” ngang tàng “ném chén cười cho đã mắt ta” nhưng là chén rượu “cực kỳ trong sạch cực sây mê”. Cái say mê của người trai thời loạn muốn bức phá khỏi dòng sông chỉ“cắm chặt sông đây một chiếc bè”. Tức là muốn làm thuyền lớn ra khơi chứ không phải “uống rượu tiêu sầu” như Nguyễn Công Trứ hay vì lòng đau tình mà đem tình“chứa/chữa trong bình rượu cay” như Thâm Tâm giả ở trên.

Hai bài cùng thi pháp hay không?

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 1]

    Chuyên luận Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình Văn học Lời giới thiệu Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm có một tác giả tạo ra nhiều huyền hoặc, mâu thuẫn nghịch…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 2]

    B: T.T. KH LÀ AI?:     I. Sự liên quan giữa ''Người'' và ''Người ấy'' trong TBH của TT và “Người” với “Người ấy” trong bốn bài thơ của T.T. Kh (trích trong VNTNTCTT của Nguyễn Tấn Long, Nxb…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 3]

    b. Những bài thơ của T.T.Kh:                    + Bài số 1: HSHTG.                              Huyền thoại hoa Ti-Gôn Hoa Ti-Gôn trong tiếng Anh là Coral vine nghĩa là cây dây. Tên thứ hai là Chain-of-love tức ám chỉ hoa tình yêu. Hoa…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 4]

    III. Những ứng cử viên bút hiệu T.T.Kh sáng giá? 1. TT khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình: Bùi Viết Tân kể trong "Thâm Tâm là T.T.Kh?" (Giải mã nghi án văn học T.T.Kh,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 5]

    Hai bài cùng thi pháp hay không? Điều đáng chú ý: Bài "Các anh" 16 câu lục bát mà MGL khăng khăng cho là của TT. Chúng ta thấy có câu lục bát phá cách: Hơi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 6]

    * Bích Khê (BK): Trong 74 bài thơ (thivien.net,dactrung.net), có 12 bài: "Mộng cầm ca, Nhạc, Tranh lõa thề, Sọ người, Đồ mi hoa, Bàn chân, Một cõi đời, Trái tim, Cô gái ngây thơ, Cặp mắt,…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 7]

     3. Tình nghi viên T.T.Kh là… Nguyễn Bính: Đây là "tình nghi viên" sáng giá cả hai bút hiệu T.T.Kh và Thâm Tâm cùng với tin giựt gân “người yêu của T.T.Kh”. - HT-HC trong "Thi…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 8]

    V. Có nên trả HSHTG về với về TT hay không?            1. Vài suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền (copyright laws) được luật pháp công nhận (ngoại…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 1 - 9]

    IV. Loại đề tổng hợp: Phân tích tác phẩm "Tống biệt hành" (TBH) của Thâm Tâm (TT): Dựa trên bản cũ nhất của HT - HC trong TNVN, người viết đưa vào bốn câu cuối…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 1]

    HUYỀN THOẠI HOA TI GÔN - PHẦN II A. Những vấn đề tồn động chưa thống nhất: Thời gian 1937 - 1938, do những va chạm mảng (họa sĩ họ Lê và cô gái gỡ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 2]

    4. Dàn dựng xong thì cả hai tiền bối và hậu bối... lãnh đủ:               a. "Tiền bối" Thế Phong nhớ lại trong tùy bút của mình: Trên (newvietart.com): Về cuốn "T.T.KH - Nàng là ai?": "khen thì…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 3]

    DƯỚI GIÀN HOA MÁU Nhiều người nói chàng có năng khiếu về văn nghệ, vì tâm hồn chàng ưa sầu tủi, hay thương vay khóc mướn, lại lạc quan yêu đời và nhất là... mơ…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 4]

    Thanh Châu là văn sĩ hay nghệ sĩ? Danh từ "nghệ sĩ" chỉ dùng cho những người làm công tác văn hóa nghê thuật như: Ca sĩ, Họa sĩ, Diễn viên các thể loại... Ví…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [Phần 2 - 5]

    VÌ SAO TRẦN THỊ VÂN CHUNG PHẢN ĐỐI? * Độc giả: Thưa anh, có một thắc mắc rất phổ biến cuả nhiều người, tồn tại từ khi có hiện tượng T.T. Kh cho đến nay. Đó là…

  • HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN [PHẦN TÓM LƯỢC]

    HUYỀN THOẠI HOA TI-GÔN TÓM LƯỢC (*) Nhà thơ Thâm Tâm tức Nguyễn Tuấn Trình cùng gia đình từ Hải Dương lên Hà Nội kiếm sống 1936 bằng làm thơ và vẽ tranh… Tại Hà Nội, anh đã gặp…