2. Tham luận và tranh luận:

Nguyễn Hòa với bài Hội nghị lý luận – phê bình văn học lần thứ hai và một số vấn đề đặt ra” (nhandan.com.vn) chọn “Hai mươi năm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học – thành tựu và suy ngẫm” của Trần Đình Sử, “Sáng tạo là vượt qua các giới hạn” của Lê Thành Nghị, “Đối tượng của phê bình văn học” của Đỗ Lai Thúy, “Lý luận – phê bình văn học, nhìn lại 20 năm đổi mới” của Nguyễn Văn Dân, “Tác động của đổi mới với lý luận và phê bình văn học trong giai đoạn hiện nay” của Hữu Đạt, “Rất cần các nhà phê bình” của Ngô Thảo, “Phê bình văn nghệ và đời sống xã hội” của Lại Nguyên Ân, “Giới hạn của sự đọc và phê bình thơ hôm nay” của Lưu Khánh Thơ…” .

Mọi thứ tổng hợp trở lại với cây phê bình Nguyễn Hòa (có hai luồng đánh giá: Sáng giá ở Việt Nam và “không mấy sáng giá” ở hải ngoại) đã đăng bài trên: “Văn nghệ Quân độiThế giới mớiThể thao & Văn hoáVăn nghệVăn nghệ TrẻGiáo dục & Thời đạiCông an Nhân dân, An ninh thế giới Cuối thángTiếp thị và Gia đìnhVăn hóa – Thông tin (Thế giới Văn hoá), Thị trường và tiêu dùngLao động – Xã hội… ” (viet-studies,Trần Hữu Dũng).

Nguyễn Hòa – thùng thuốc nổ của đại hội võ lâm – theo Trần Ngọc Linh (vietnam.net) là “dè dặt” với hai chữ tự do. Nguyễn đại ca này được Trần Ngọc Linh tập hợp những gì mà giới văn học ca ngợi: “Với những bài phê bình quyết liệt trong 5 năm trở lại đây, ông Nguyễn Hoà đã làm cho những người cẩu thả trong chuyện viết văn phải dè chừng. Trong nhà ông trên bàn máy tính mỗi khi để chế độ ngủ đông vẫn chạy ra hàng chữ: Công Ty vệ sinh môi trường văn chương. Lần này, với hàng loạt dẫn chứng về những chuyện đạo văn trong giới vừa qua mà ông Nguyễn Hoà đưa ra đã làm cho anh em, bạn bè nảy ý tưởng thành lập Trung tâm chống trộm văn chương”.

Vậy mà những tên trộm văn chương vẫn cứ trộm chẳng để Hòa đại ca trong mắt! Những web site “đạo văn” (không ghi tác giả dưới bài đã “đạo” nhan nhản…

Cặp đối thủ Trần Mạnh Hảo và Phạm Xuân Nguyên đã rời võ đài tranh luận ở Tam Đảo – Ba Vì năm 2003 thì đôi phê bình Trịnh Thanh Sơn và Nguyễn Hòa lên thượng đài trước khi hội nghị lý luận lần II ở Đồ Sơn. Cuộc chiến đã không xảy ra. Nguyễn Hòa trong tư thế ung dung bước lên võ đài… một mình nhưng Nguyễn Hòa đã làm người hâm mộ thất vọng. Trịnh Thanh Sơn (người đã đối mặt với Bảo Ninh khi công phá vào lô cốt bênh vực Lê Vân) và Bùi Việt Thắng cũng chẳng làm nên kỳ tích ở đại hội võ lâm lần thứ hai này trước đối thủ. Đôi bên như ”ngã ngựa”. Tiếng nói hòa bình xưa này vẫn đi sau bom đạn. Nguyễn đại ca phát biểu những câu thật là… xanh lè như trong bài: “Lý luận, phê bình văn học – Những ý kiến từ thực tế” mà Thanh Vân (PV Tổ quốc từ Hải Phòng-toquoc.gov.vn) trích: ”Đội ngũ phê bình hiện nay có thể nói là phong phú (không chỉ có các nhà phê bình chuyên nghiệp mà còn có các nhà thơ, nhà văn, nhà giáo, cả sinh viên…). Nhưng chính thực trạng đó đã dẫn đến những ngộ nhận: Có một số nhà giáo nhầm lẫn giảng đường với đời sống văn chương, nhầm lẫn người đọc với học trò của mìnhMột số giáo sư tiến sĩ nhầm lẫn bài soạn, các giáo trình giáo án với các bài nghiên cứu khoa học. Điều đó đã lý giải vì sao sách giáo khoa văn chương hiện nay lại bị phê phán nhiều đến thế. Có những tác giả 10 năm không viết lý luận phê bình mà vẫn nói được phê bình. Có lẽ đó cũng là một sự ngộ nhận…”.

Đoạn trích này của Nguyễn Hoà cũng giống ý như bản tham luận đọc tại đại hội: “khoa bảng thì nhiều mà công trình xứng đáng là khoa học thì ít. Tôi coi sự có mặt của “phê bình kiểu giáo sư” trong lý luận – phê bình văn học là hết sức cần thiết, song mấy chục năm qua ở Việt Nam, sự nhầm lẫn người học với người đọc, giữa giảng đường với sinh hoạt văn học của xã hội, giữa việc biên soạn giáo án với nghiên cứu khoa học… chính là rào cản đồng thời cũng là một nguyên nhân đẩy tới tình trạng tuyệt đối hoá vai trò của một số nhà khoa bảng cùng một số tác phẩm lý luận – nghiên cứu – phê bình của họ”.

Tức là phê phán những kẻ Tiến sĩ giấy ăn hại. Nguyễn Hòa cắt nghĩa sự nhầm lẫn cũng giống bài Thanh Vân trích đăng chỗ khác: “Nhầm lẫn giữa người học với người đọc sẽ đi tới chỗ coi người đọc như học trò cần được dạy dỗ. Nhầm lẫn giữa giảng đường với sinh hoạt văn học của xã hội sẽ đi tới chỗ không biết lắng nghe, không biết kiểm tra lại chính mình mà giãy nảy lên khi bị phê phán. Nhầm lẫn giữa biên soạn giáo án với nghiên cứu khoa học sẽ đi tới chỗ không phân biệt được sự khác nhau giữa tiếp thu, kế thừa trong biên soạn giáo án với yêu cầu về tính phát hiện và đề xuất ý tưởng mới trong nghiên cứu khoa học. Và đây cũng là nguyên nhân lý giải tại sao nhiều cuốn sách giáo khoa văn chương – văn học lại trở thành tiêu điểm phê phán của dư luận rộng rãi”.

Hai đoạn trích gần giống nhau. Vậy đoạn Thanh Vân trích, đoạn trích từ tham luận vừa khác vừa giống? Có phải trích theo ý?

Ta có nên đưa ra một tiêu điểm nữa cho người thảo luận về khâu trích dẫn, trích đăng như thế nào cho khỏi lẫn lộn giữa ngôn ngữ viết và văn từ trích đoạn không? Một tác giả có nên lập lại nhiều ý, nhiều đoạn trùng nội dung trong hai bài viết đăng hai nơi khác nhau hay không? Vậy là vi phạm tính sáng tạo của tác phẩm, tính trùng lặp của tác giả? Đây cũng là ý “gậy ông đập lưng ông” mà Nguyễn Hòa từng phê phán: “Dăm năm trở lại đây, cuộc khủng hoảng về lý thuyết văn học, sự lười nhác của một số nhà lý luận – phê bình, sự ra đời của một số tác phẩm văn chương “lạ” về tư tưởng – nghệ thuật… cùng với sự lên ngôi của báo chí đã đưa tới sự có mặt tràn lan của vô số bài lý luận – phê bình mà ở đó yếu tố cảm luận chủ quan đã lấn át, làm biến dạng sự nghiêm cẩn cần thiết của lý luận – phê bình”.

Chẳng có nhà giáo, nhà lý luận-phê bình nào nhầm lẫn cái gì cả mà vì họ “lười đọc”, “lười suy nghĩ” (ngay cả những sách được ký tặng cho các thầy với những câu trân trọng cũng leo lên ký lô giấy, thảy ra chợ nhôm nhựa, giấy vụn!) như các báo than phiền, chê bai nghĩa là người phê bình cấp Giáo sư, Tiến sĩ chỉ viết lại, lấy ý những sách giáo khoa đã “hết hạn” sử dụng và viết chạy theo chương trình không cần tới chất lượng.

Những trí thức cao cấp được phê phán trên, họ chẳng có sự tôn trọng sách tặng thì làm gì mà biết trân quý sáng tác. Họ – những người viết sách dạy học trò cứ tưởng họ là thần thánh. Sách họ viết ra là pháp lệnh. Giáo trình họ in sẵn là chỉ thị. Bởi thế, sách giao khoa bị phanh phui là “có vấn đề” qua tiếng… súng đại bác của Trần Mạnh Hảo trước đây với cuốn “Văn học phê bình và nhận diện” còn gọi là “Hầu chuyện các Giáo sư” được Chế Lan Viên, Trần Đăng Khoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hữu Đạt, Đoàn Thạch Hãn, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Khắc Tường, Đặng Hấn, Chu Lai, Lê Đình Mai, Lê Quý Kỳ, Phương Lựu, Nguyễn Đức Mạnh… ủng hộ bằng các bài viết. Nối tiếp đại bác thì có những tràn liên thanh từ những người bây giờ nhắm vào sách giáo khoa vì họ là người trực tiếp bỏ tiền ra mua sách cho con em mà những web site: chungta.com, tạp chí khám phá, edu.net, evnEpress.net, kyoto-svvn.org, opera.com… tải đăng. Những người viết sách sai như “đĩa phải vôi“. Họ tìm mọi cách hạ thấp nhân cách, học vị, trình độ chuyên môn, kiến thức học vấn… của người phê phán để… chữa lửa cho rằng người phê bình, chê bai đó là đồ vô học, không có kiến thức, chẳng đủ chuyên môn, khố rách áo ôm, đầu làng cuối chợ!

Thiên tài không phải hầu hết may mắn qua cầu giáo dục hoàn mỹ đâu! Nhà khoa học gia, bác học Nga Tsiolkovsky không qua ngưỡng cửa trung học nhưng đã trở thành cha đẻ của ngành tên lửa hiện đại. Nhà phát minh vĩ đại (chế tạo bóng đèn điện, máy đếm phiếu, máy đĩa… ) Thomas Edison thưở nhỏ bị thầy chê là “điếc, học dở”. Bộ “chóp bu” guồng máy chính trị Việt Nam từ thời trước 1945 đến nay thử có người nào được đào tạo từ lò luyện đơn giáo dục chính thống? Sau năm 1975, việc tuyển chọn đầu vào, đầu ở, đâu đi của mọi ngành nhất là ngành giáo dục hầu hết là “học dốt mà tốt lý lịch” cả! Ai mà chẳng biết đó là thể chế, là chính sách, là nhu cầu, là đường lối…!!! Một minh chứng hùng hồn rằng sách giáo khoa ngày xưa ít người được may mắn bị “tấn công” như hiện nay? Không gì chân xác bằng hệ thống lý luận về giáo dục qua sách giáo khoa viết sai tai hại dẫn đến kết quả là: Sách giáo khoa bị tấn công mọi mặt mà bộ môn văn học là bị tanh bành nhất! Người ta chỉ trích người viết chỉ vì… Tiền. Sách viết càng sai, viết lại thì càng bợ khẳm! Tiền lời sách giáo khoa, người ta thống kê nhiều gấp mấy lần loại hình kinh tế khác! Lương tâm không bằng lương tháng, lương tháng không bằng lương đồ, lương đồ – đồ đệ lương… sách! Họ nói “phóng đại” đấy. Tiền tham nhũng mới ghê gớm hơn tiền thù lao từ sách! Vậy thì ”những người mười năm không viết lý luận phê bình mà vẫn nói được tiếng phê bình” mà Nguyễn Hòa mỉa đúng phốc. Họ viết vì… chịu hết nổi thực tế là vậy! Họ im lặng mới là tiêu cực mà cách mạng là phải đấu tranh. Tích cực luôn là thế động! Lý luận – Phê bình nếu không kham nổi chức năng phê bình thì người ngoài cuộc nhảy vào… phê phán! Tích cực là thế! Lương tâm là thế! Tất nhiên, ngứa mắt mà viết cũng thế!

Sách giáo khoa văn chương, người viết toàn là Thạc sĩ (Master Degree, Master of Philosonhy) trở lên! Nguyễn Hòa đã nói chưa rõ sách Giáo khoa với sách văn chương. Sách văn chương bao gồm mọi hình thể với nhiều thể loại. Sách này không yêu cầu tác giả phải có bằng cấp. Giáo khoa là sách viết dạy học trò. Sách giáo khoa đòi hỏi người viết phải có bằng cấp. Sách giáo khoa văn học không thể nhầm với sách văn chương. Những người viết sai sách giáo khoa họ không bao gồm hết là những nhà lý luận – phê bình giỏi mà ở dạng mày mò, nghiên cứu nhiều hơn. Đối tượng của họ là các giáo viên đứng lớp từ cấp ba trở xuống và đối tượng giáo dục của họ là học sinh! Họ viết sai vì họ có bằng cấp lấp trình độ. Đơn giản hơn là “lười đọc”, “lười suy nghĩ“, suy ra nữa là vì “ăn gì mà đọc nhiều thế” như Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nửa đùa, nửa thật. Cũng không lạ khi bài thơ trào phúng “Tiến sĩ giấy” của Tú Xương đã cười cợt từ xưa:

Ông đổ khoa nào, ở xứ nào?

Thế mà hoa hốt với trâm bào.

Năm năm cứ Tết Trung Thu đến,

Tôi vẫn quen ông, chẳng muốn chào!

Tiến sĩ giấy xuống cấp cũng… giấy trong “Ông Nghè giấy” của Nguyễn Khuyến:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông Nghè có kém ai.

Mảnh giấy làm nên khoa giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,

Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi.

Nếu cho rằng Tú Xương (Trần Tế Xương – Trần Duy Uyên) này trượt vỏ chuối hoài nên đâm… ganh tị mà… dèm Tiến sĩ thì cũng coi là được nhưng ngay Nguyễn Khuyến “Tam Nguyên Yên Đổ” đổ đầu ba khoa Hương, Hội, Đình, có ai học giỏi hơn ông mà ông cũng nhìn thấy bọn Tiến sĩ giấy ăn hại như thế? Chất lượng chỉ đáng bộ vàng mã! Khiếp! Ông cha ta quả có cặp mắt thần Dương Tiễn nhìn thấu đến thế kỷ cách xa thế kỷ ông mấy trăm năm!

Hiện tượng Tiến sĩ, Thạc sĩ “đạo luận án”, “đạo văn” cũng đâu phải là hiếm? Nó đã được truyền thông tin rộng rãi khắp thế giới đến nổi mà các quan chức có liên quan như Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm nhận xét: “Đầu vào thì chặt, đầu ra thì lỏng”. Lỏng hay chặc thì cũng là tiêu cực ráo! Còn hiệu trưởng ĐH Cần Thơ thì kêu trời: “những người bảo vệ luận án tiến sĩ ở Việt Nam hiếm khi dưới điểm 9” (Việt Anh: “Tìm thuốc giải cho bệnh Tiến sĩ giấy“, vnexpress.net). Chưa bao giờ điểm luận án lại cao như thế? Chẳng có luận án nào dưới con 9? Hệ thống đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ của các trường Đại học nước ngoài nhìn vào nước ta cũng… nằm mơ! Nhân tài nước người điểm thấp lè tè như thế còn nhân tài nước mình điểm tối ưu. Vậy mà sao nước người mỗi ngày mỗi mạnh mà nước ta mỗi ngày cứ đi… vay, đi xin… ? “Cái nước mình nó như thế”, Hoàng Ngọc Hiến cười cợt trong “Hiện thực phải đạo”. Đạo văn. Đạo nhạc. Đạo tranh. Đạo nào cũng có những ba bảy đường! Còn các nhà tri thức lý lịch của ta thì… đạo mạo đến… phát ghét!

Bây giờ, Tiến sĩ giấy không là “hiện tượng” nữa mà trở thành “ung thư Tiến sĩ” thì các trường lo mà tìm thuốc chống di căn như trong bài “Tiến sĩ giấy? Chặt như thế nào?” mà Lan Hương (vnexpress.net) ghi lại: Theo ngài Hiệu trưởng ĐH Sư phạm Hà Nội Nguyễn Viết Thịnh thì “chặt tùy trường”; ngài Hiệu trường ĐH Hà Nội (cái nôi đào tạo nhân tài của đất nước) Nguyễn Xuân Vang thì “chặt từ bậc đại học“; ngài Hiệu trưởng ĐH Giao thông – Vận tải Trần Đắc Sử thì “chặt cả trong cả quá trình“; ngài Giám đốc học viện Bưu chính viễn thông Phùng Văn Vận thì “chặt bằng cách đăng bài lên các tạp chí Khoa học nước ngoài”. TOEFL, IELTS hay SAT bây giờ mới có dịp ”thử tay nghề, kiểm tra trình độ ngoại ngữ” của chính ông bà Nghè đây. Không phải những Tiến sĩ, Thạc sĩ phải có một trình độ ngoại ngữ bằng C trở lên hay sao? Ngoại ngữ bây giờ cũng… giấy! Còn nói về cái dao phay để chặt? Dao sắc hay dao cùn? Dao rèn hay dao giấy nốt? Ai là kẻ đưa ném thẻ lệnh và ai là dao phủ? Tất cả chỉ nói cho có, hệt như “Đem con bỏ chợ”!

Tham luận của Nguyễn Hòa về phần này, đáng tiếc là không có người đồng hành. Vụ “Tiến sĩ giấy” chưa qua, vụ “sách giáo khoa viết sai” trở lại khi ngài Phó tổng Thanh tra sách giáo khoa Mai Quốc Bình và ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân, cả Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đặng Huỳnh Mai cũng hâm hở hứa hẹn giải quyết vụ có nên để mấy ông giáo dục “độc quyền sách giáo khoa” nữa hay không và khi thanh tra sách, “ai viết sai, người đó chịu trách nhiệm”? Vậy thì Nguyễn Hòa đại ca chắc cũng không cần lo lắng cho những người “10 năm không viết phê bình mà vẫn nói được phê bình” vì con số ấy sẽ… tăng chóng mặt khi có lệnh “thầu” sách giáo khoa ban ra. Luật thầu thì chúng ta biết rồi, ai giỏi hơn, cao tay ấn hơn, có xã giao không tệ thì người nấy trúng thầu. Liệu nhà nước Việt Nam có nên thôi chế độ cấp giấy phép xuất bản hay không khi con số thầu “viết sách giáo khoa” lan tràn? Nhập cuộc với WTO thì ít ra, ta cũng phải… vắt giò chạy theo người ta chứ!

Còn người không biết phê lại viết phê thì khối! Người không biết hát cũng biết chê, khen ca sĩ. Kẻ không viết được nhạc cũng biết nói hay dở cho một bản nhạc (khác nhau ở chỗ có người không rành nốt nhưng cầm đàn đánh ngon ơ, có kẻ không qua khóa nhạc lý mà cũng viết được bản nhạc??). Có nghĩa là: Quần chúng là những người thưởng thức. Độc giả là những kẻ… tiêu thụ. Quyền tự do duy nhất của họ là phê phán đúng sai, chê khen hay dở, bình phẩm xấu tốt theo cảm nhận của họ. Cảm nhận của từng người không nhất thiết người khác phải theo. Không có quần chúng bình dân, độc giả cơ hèn này thì chẳng có nền văn học nghệ thuật và chẳng có thứ gì!

Bởi vậy, chẳng khi không mà Nguyễn Trãi nói: “Làm lật thuyền mới biết sức dân như nước”. Nguyễn Hòa đã có lý nhưng thiếu đơn cử ví dụ khi cho rằng “Thật đáng sợ khi người ta phê bình một điều mình chưa hiểu. Thật đáng sợ khi mang danh là nhà phê bình nhưng vẫn có người còn thiếu vắng khả năng hiểu cho thật thấu đáo các tri thức tối thiểu của chuyên ngành khoa học mà họ tham gia”.

Học giả Trung Quốc Vương Dương Minh có chỉ rõ 3 thứ ngu dốt:

– Không hiểu biết những gì mình đáng biết.

– Hiểu biết không rành những gì mình biết

– Hiểu biết những gì mình không cần biết.

Có nhà phê bình nào chịu nhận mình dốt như thế và người này chỉ trích người kia đến bao giờ mới cùng nhau chén thù chén tạc?

“Và tôi càng không ngạc nhiên khi gần đây tác giả này còn đề xuất ý kiến: đã có văn học trẻ thì phải có phê bình trẻ – một ý kiến theo tôi thì… quả là không biết nói thế nào!”.

Có phải Hòa đại ca muốn ám chỉ Nguyễn Tý với bài: “Nhân hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ II: Đào tạo lực lượng trẻ về lý luận phê bình: cần thiết và cấp bách” đã yêu cầu: “Để cho nền văn học phát triển không gì bằng đào tạo một lực lượng kế thừa (điều này có lẽ đã có ở Trường viết văn Nguyễn Du nhưng rất hiếm lực lượng trẻ theo ngành này vì… sợ mang tai tiếng), đòi hỏi Hội Nhà văn cần bồi dưỡng và phát hiện những cây bút trẻ viết phê bình để đào tạo” (văn nghệ trẻ 41 ngày 8/10/06). Nguyễn Tý nói có lý của Nguyễn Tý kiểu “nồi nào vung nấy” nhưng bản thân Hội Nhà văn “ăn chưa no, lo chưa tới” thì làm sao mà “bồi dưỡng và phát hiện những cây bút trẻ viết phê bình để đào tạo”?. Tiền bồi dưỡng mỗi năm cho cái việc vớ vẩn là “trại sáng tác” và hội họp này nọ cũng đã đủ thâm thủng ngân sách quốc dân! Mối mọt từ đấy!

Nguyễn Hòa phê phán những kẻ coi ý kiến mình là đúng nhưng không biết “ý kiến” của Hòa đại ca đang nói đây có phải là “duy nhất đúng” hay không?: “Nhưng trong thực tế, và như một quy ước không thành văn, thường thì nhiều người đã hiểu ngược lại, nhất là ở những người viết lý luận – phê bình với tâm thế chủ quan, tự coi ý kiến của mình là duy nhất đúng. Về lý thuyết, theo tôi, tiêu biểu cho xu hướng này là ý kiến của một vị giáo sư tiến sĩ trình bày trong công trình nghiên cứu về văn học thế kỷ XX xuất bản năm 2004”. Lần này, Nguyễn Hòa đã… văng miểng bom đến cả Giáo sư Phan Cự Đệ, người chủ biên cho tập sách được coi là “một trong bốn công trình khoa học xuất sắc của năm 2005″.

Câu phê phán của Hòa đại ca về những người mười năm không biết phê bình nay cũng phê bình vô tình đẩy Hòa về với những người ỷ mình có chút trí thức (có trí thức chưa hẳn là biết xử sự văn minh), có chỗ đứng trên giảng đường hay thương trường chính trị, không để những người vô cấp trong mắt thì “mục hạ vô nhân” rồi còn gì!

Quỳnh Thi (talawas) đã nhận xét về nhân vật Nguyễn Hòa như sau: “tham luận của Nguyễn Hoà dù được coi là một trong những tham luận chắc tay, có tính chuyên nghiệp nhất của hội nghị lại bộc lộ một thiếu sót lớn. Theo tôi, với một nhà nghiên cứu thì cơ sở của nghiên cứu là tính khoa học của vấn đề chứ không phải là vị trí của anh ta trong đội ngũ. Nếu không thì còn đâu là khoa học nữa, và nhất định sẽ rơi vào bè phái, cục bộ..”

Những biểu hiện của đại biểu dự hôm ấy qua những ống kính phóng viên (nói thêm hay cắt bớt), Nguyễn Hòa chưa thể mang lại cho hội nghị một sự mới mẻ của chủ nhân “công ty vệ sinh môi trường văn chương”. Tiếc thay! Những bài phê bình của ông chủ môi trường vệ sinh văn chương này cũng cần có thuốc tẩy để tẩy trắng sản phẩm của mình qua một loạt bài trên viet-studies.org (viet-studies.org hay vuhong.com là những web site thu nhặt những bài vở từ các trang web khác đã được đăng mà chủ nhân cho là hợp gu, “lọt mắt”) dưới dạng “hoa trinh nữ” đáng cho chúng ta đọc và suy ngẫm…

Thùng thuốc nổ Nguyễn Hòa tóm lại có 4 ngòi nổ như sau:

– Ngòi thứ nhất: Nguyễn Hòa nhắc lại những cái mốc lịch sử văn học thời mở cửa của Nguyễn Văn Linh từ 1986 với các tác giả cắm cọc như: Lê Lựu (Thời xa vắng), Trần Văn Thuỷ – đạo diễn phim ”Hà Nội trong mắt ai“, Lưu Quang Vũ (Tôi và chúng ta). Bên cạnh đó, Nguyễn Huy Thiệp có chỗ đứng nhờ cách viết chẳng giống ai và Đỗ Chu là “hòn đá thử vàng” (Hòa đại ca chơi chữ lộn ngược, “lửa thử vàng, gian nan thử sức” chứ ai nói “đá thử vàng”?, đá… thử chân người trong “trông cho chân cứng đá mềm” may ra)Từ đó, Nguyễn Hòa nghiền ngẫm về hiện thực mà theo Thái Bá Anh (mỹ thuật): “hiện thực là cái không nhìn thấy được” dẫn tới công trình nghiên cứu lý luận của Giáo sư Lê Ngọc Trà cắm mốc cho ngành lý luận.

– Ngòi thứ hai: Đổi mới về lý luận. Theo Nguyễn Hòa, đổi mới lý luận không chỉ có một kiểu phê phán mà cần phê phán những gì gọi là văn chương với văn học khác nhau như thế nào. Từ đó, tiếp nhận hay chưa thể tiếp nhận lực lượng phê bình trẻ?

– Ngòi thứ ba: Phản đối những ai cho phê bình không theo kịp sáng tác, coi phê bình chỉ là cái đuôi của sáng tác và cũng là nguyên nhân của sự khủng hoảng lý luận, làm cho văn chương chậm phê bình.

– Ngòi thứ tư: Nguyễn đại ca nêu ra những nghịch lý trong “hệ thống mở” với “phê bình lạc hậu về lý thuyết“.

Điều này tin chắc các Thạc sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư tại các trường Đại học có bài đăng trên các web site vienvanhoc.org.vn, vanchuongviet.org… thể nghiệm hư thực, giả chân?

Người nghe đang chờ Nguyễn Hòa đấu chưởng với Trịnh Thanh Sơn và Bùi Đình Tấn nên bài tham luận này dù có nhiều điểm để thảo luận hấp dẫn đến thế nào chăng nữa thì họ cũng… cho qua! Chắc có lẽ nghe nhiều lý thuyết quá cũng… lùng bùng lỗ nhĩ! Đi dự tham luận là để nghe người và trình bày ý mình chứ có phải coi “gà chọi” hay xem hội “chọi trâu” đâu?

Nguyễn Hòa nhắc nhở: “Phấn đấu để có tác phẩm chất lượng cao – tất nhiên phải là công việc của nhà văn nhà thơ, song trong mối quan hệ hữu cơ, lý luận – phê bình cũng có một vai trò quan trọng trong khi thẩm định các sản phẩm, đưa ra gợi ý về sáng tác và tiếp nhận..” tức là cũng như Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Văn Dân, Lại Nguyên Ân đều khẳng định phê bình – lý luận có một vai trò tiên phong quan trọng trong việc thẩm định một tác phẩmLại Nguyên Ân thì không thể đòi hỏi người phê bình tự “túm tóc mình lên” còn Nguyễn Hòa: “Muốn làm được điều đó, các nhà lý luận – phê bình cũng phải tự nâng mình lên, không phải để theo kịp với sáng tác mà trước hết là để nâng cao trình độ, hiện đại hoá nghề nghiệp của mình… khuyến nghị với các toà soạn và cơ quan xuất bản cần chú trọng hơn nữa đối với việc công bố các sản phẩm có liên quan tới lý luận – phê bình, bởi sự chọn lọc nghiêm khắc ở các cơ quan này cũng là thành tố quan trọng trong việc lập lại trật tự và phát triển nền lý luận – phê bình của chúng ta”.

Tức là Hòa đại ca đã kêu gọi các tòa soạn, cơ quan xuất bản “xiết chặt” lưới cho những bài nào thuộc lĩnh vực phê bình – lý luận? Ý kiến hay nhưng nhìn kỹ lại, những bài phê bình của anh được đăng chỗ này thì chưa chắc chỗ khác họ ưng chịu? Vậy thì theo tiêu chuẩn nào để phân loại những bài viết có chất lượng và không khi cả những nhà xuất bản và tòa soạn cũng chẳng xuất thân từ lý luận – phê bình mà ra? Một điểm đáng lưu ý nữa là người ta “nhìn mặt đặt tên”. Không danh hiệu. Không học vị. Không bằng cấp. Đi chỗ khác chơi mày! Đừng lo lắng những sản phẩm này lọt lưới!

Đây là vấn đề cần tham luận trực tiếp tại đại hội nhưng những đại biểu đã chẳng ai thèm để ý? Trách nhiệm này quy về đâu? Tức là khâu thiếu MC, thư ký giỏi để tóm ý các bài tham luận rồi đưa ra những vấn đề cần hội thảo ngay. Những cái cần làm lại không ai để mắt. Những cái tưởng đâu đơn giản, tầm thường hóa ra là những cái quan trọng mà người ta thường chủ quan, khinh địch, cho qua! Đáng tiếc quá!

Châu Diên trong bản tham luận không được đọc “Vài ý kiến về lý luận phê bình” cho rằng: “Công việc nghiên cứu vào tâm lý sáng tác cần được các nhà lý luận quan tâm hơn, chứ không phải công việc chúi mũi nghiên cứu các sản phẩm văn đã ra đời”. Bác này phát biểu hơi… chủ quan với yêu cầu: Nghiên cứu vào tâm lý sáng tác là trách nhiệm của những nhà phê bình chứ không nên chúi đầu vào nghiên cứu các tác phẩm ra đời? Thế thì chết toi! Đầu vào đã rối tung mà đầu ra không kiểm soát nổi cái vé ra cửa khẩu? Vậy thì ai là người đánh giá tác phẩm? Nhân dân ư? Họ có cái quyền bỏ phiếu chọn tác phẩm họ thích không vậy? Hay chỉ là hội đồng giám khảo nếu năng lực yếu lại thiếu chuyên môn (nếu có thì cũng là bằng chuyên tu, bằng tại chức) thì cho ra những tác phẩm như trái cây, như rau cải, như cá tôm được bơm “thuốc công nghiệp” tức là người ăn vào trúng độc tố!

Tâm lý người sáng tác thì muôn trùng khẩu vị! Thế hệ từ 1X đến 9X trở lên đều khác nhau về tâm lý. Họ viết cái gì là quyền của họ. Họ xây dựng nhân vật như thế nào, thẩm mỹ ra sao là quyền của họ. Đất nước tự do không thể khóa mồm người. Nhưng lý luận lại lý luận rằng: Nếu nghiên cứu tâm lý sáng tác là công việc của các nhà phê bình thì hiện tượng cầu thủ đá lộn sân sẽ có kết quả gì khi môn “Tâm lý học” và “Phê bình – Lý luận học” chung sân cỏ? Còn cái gọi là “nghiên cứu tâm lý sáng tác”, nó chẳng mang lại một ý nghĩa tích cực nào trong vai trò người soát vé ra cổng sân bay khi gã soát cổng này “ăn hối lộ”?

Nguyễn Thanh Sơn (với tác phẩm lý luận năm 2002 “Phê bình văn học của tôi”… được giới phê bình gạo cội “hội đồng” đánh dập) phát biểu trong một cuộc phỏng vấn về lý luận văn học: “khi nghiên cứu một vấn đề, người ta phải trình bày, thứ nhất, tôi đứng trên quan điểm nào để nghiên cứu vấn đề này. Thứ hai, vấn đề này đã được những người khác đánh giá ra sao, bằng phương pháp nào, thứ ba, cái quan trọng nhất, nghiên cứu của tôi đem lại cái gì mới cho vấn đề, và do đó, có thể mở rộng vấn đề ra ở đâu?”. Cái thứ ba của Nguyễn Thanh Sơn chính là cái đích cho người phê bình vươn tới. Tức là người phê bình không cần biết vấn đề nào quan trọng hơn cái nào mà chỉ chú trọng vào cách viết một bài phê bình: Nó có mới mẻ gì so với những bài khác? Ích lợi gì cho người đọc? Đọc một bài viết hay phê bình mà người đọc thấy được mình như mở mang thêm kiến thức, như nhận thấu thêm vấn đề hoặc bị chê bai, chỉ trích mà không thấy giận là người viết thành công. Sự dẫn dắt hướng đi cho độc giả của người viết là một công đoạn vô cùng quan trọng. Nó không như người hướng dẫn viên mà chẳng rành đường đưa người tham quan…“lạc rừng”!

Hội nghị Đồ Sơn cũng nên kết thúc bằng Nguyễn Văn Dân (người đã phản bác lại lời đánh giá của ông Đào Duy Quát, Phó trưởng Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương và Lại Nguyên Ân hay những ai cho rằng phê bình đang khủng hoảng – trong “Lý luận văn học trước yêu cầu hợp tác nghiên cứu” (nhandan.com): “ việc phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa ít được nhắc đến đã chứng tỏ nó chỉ là một trong những phương pháp bình đẳng với mọi phương pháp khác và không phải là một “tấm bùa hộ mệnh” cho nền văn học của chúng ta? Đó là những thay đổi rất quan trọng và kịp thời. Cho nên không thể nói lý luận văn học hiện nay là đang hoàn toàn lúng túng, không theo kịp thời đại”.

Trong bản tham luận tại hội nghị: “Lý luận phê bình văn học – Nhìn lại 20 năm”, Nguyễn Văn Dân chốt: “ Nếu không có một hệ thống lý luận mạch lạc và khoa học, thì nó có nguy cơ dẫn đến mâu thuẫn giữa lý luận và phê bình. Sau đó là nguy cơ dẫn đến phê bình và sáng tác. Và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến công việc sáng tạo văn học. Một hệ thống lý luận khoa học chặt chẽ sẽ soi đường cho một nền phê bình có sức thuyết phục. Một nền phê bình có sức thuyết phục sẽ tạo ra một bầu không khí tin cậy và hợp tác giữa phê bình và sáng tác. Phê bình không dựa vào lý luận sẽ không có sức thuyết phục, từ đó có nguy cơ làm cho sáng tác quay lưng với phê bình. Chỉ có tài năng nhạy cảm phê bình dựa trên lý luận khoa học chặt chẽ thì chúng ta mới có được những đòn bẩy làm xuất hiện những tác phẩm văn học chất lượng cao”.

Thiết nghĩ đây mới chính là kim chỉ nam cho những người thích thú với công việc phê và… bình thiên hạ. Phê bình (thực tiễn) thoát ra ngoài ảnh hưởng của lý luận (lý thuyết) thì cũng như lý luận mà không có phê bình. Nghĩa là lý thuyết và thực tiễn hai đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau (trong toán học thì nó gặp nhau đấy!). Không phải như không có cá, nước trong hơn mà như trái đất thiếu trăng, những ngày rằm chẳng có, ngày cũng như đêm buồn chán biết bao giờ!

Tranh luận hay tranh cãi trong hội nghị lần này đã nhập cục!

3. Phê bình theo chuẩn mực nào?

Theo PV (health.vnn.vn) trong bài: “Phải tạo ra nhiều đẳng cấp cao hơn” góp ý: “Cái mới trong văn học chỉ thực sự có hình thù cụ thể khi xuất hiện những kiệt tác. Khi những kiệt tác này chưa ra đời thì phê bình khó có ý niệm chuẩn xác để phê bình đánh giá, trong khi đó do điều kiện xuất bản dễ dàng, số sách xuất bản với con số vượt mọi giai đoạn trước đó, nhất là thơ, người phê bình tâm huyết nhất cũng không sao bao quát được”.

“Kiệt tác” là những công trình vĩ đại của con người. Kiệt tác thế giới qua 8 kỳ quan thế giới là một bằng chứng bất di, bất dịch dù có những kiệt tác đó đã bị đổ sập vì thiên tai, bị phá hủy vì chiến tranh hoặc có nguy cơ xóa sổ vì ngập nước. Kiệt tác trong văn học là do phê bình mà có. Không có phê bình thì tác phẩm kia làm sao trở thành kiệt tác? Xuất bản nhiều cũng chưa chắc có kiệt tác. Nếu có kiệt tác thì sao Hội Nhà văn từ những năm 2003 trở lại đây đã không chấp nhận một giải A nào? Hết nhân tài rồi ư? Nếu mà đem tất cả những tác phẩm được giải đồng loạt chấm một lần thì coi chừng lại chẳng có tác phẩm nào nhận được giải B! Hoa hậu của năm này chưa chắc đã đẹp và giỏi như hoa hậu năm trước và ngược lại. Đó là vướng mắc lớn nhất của Hội Nhà văn khi thẩm định giá trị một tác phẩm chứng nhận nó trở thành một tác phẩm văn học. Vì sao? Những tay phê bình cấp Giáo sư, Tiến sĩ thì bị coi là… lười đọc tác phẩm? Những cây phê bình chuyên nghiệp thì phê theo đơn đặt hàng? Những người mười năm không phê thì phê chẳng nên hồn, nên vía! Không thiếu đội ngũ phê bình mà thiếu phê bình có năng lực, bản lĩnh và lương tâm!

Dù cho Hội Nhà văn “đóng dấu” chứng nhận nhưng sách giáo khoa văn học chưa chắc đã tiếp nhận. Cái gì nữa đây khi một tác phẩm được gọi là tác phẩm văn học mà học sinh lại không được học? Tác phẩm chỉ viết giải tỏa tâm lý hay chạy theo thị hiếu thị trường thì sao gọi là tác phẩm văn học? Nghĩa là tác phẩm đó không có tính giáo dục. Tác phẩm không tính giáo dục thì sao mà gọi là tác phẩm văn học để trao giải này, bày ra giải nọ? Rồi những tác phẩm được thưởng thí coi như chấm dứt vai trò tạo ra lịch sử văn chương cho mình. Khi tác phẩm này chuyền đến tay độc giả thật (phân biệt với độc giả là những tay phê bình… thuê mướn, xu phụ kiếm ăn mang tai tiếng mà Lại Nguyên Ân chỉ trích) thì có tác phẩm người ta đọc say mê, có tác phẩm, mới lật mấy trang hôm nay, hôm sau đã mua bánh mì ăn đã thấy nó… bọc lót, người ta đã… vứt tọt như Nguyễn Hòa mỉa.

Vậy thì tác giả tạo ra sản phẩm chỉ cho những nhà phê bình xếp hạng, ban giám khảo Hội Nhà văn chấm mà không cần gì độc giả? Chẳng hạn những tác phẩm mà trong nước gọi là “hiện tượng” là “best seller” từ Nhật ký đến Tự truyện thì ở ngay trong nước, những thầy cô giáo cấp ba lắc đầu huống chi ngoài nước, người ta kêu “dẹp mẹ mấy cái cuốn bá láp này”!

Đấy là thông tin hai chiều trung thực mà những nhà lý luận – phê bình sách cần chú ý nếu không“bao quát hết được” số lượng xuất bản nhất là thơ và hiện tượng bỏ quên, bỏ sót vào lãnh cung những tác phẩm có giá trị. Quần chúng lại tiếp nhận những đứa con bị chối từ này, chỉ có điều, chúng không được Hội Nhà văn vinh danh, không được sách giáo khoa nhắc tới. Từ đó, chúng sẽ tạo nên những làn sóng bất mãn, chống đối, uất ức và chửi bới vào những cái gì gọi là quyền lực mà các bài tham luận đã nêu ra những bức xúc đó. Ai cũng thừa hiểu đó mà! Vậy thì Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học có cần đưa ra thêm tiêu chí: Những nhà phê bình cần đọc lại chúng và thẩm định lại chúng không? Những ai có tác phẩm bị bỏ quên thì gởi về đâu để công tư minh bạch, hay, dở, có giá trị hay không được kiểm nghiệm rõ ràng?

Những ý kiếm tham luận tiếc rằng chẳng có ai tổng hợp nên đã mau chìm vào quên lãng. Thật là đáng phí tiền của, công sức nhân dân như Quỳnh Thi đã làm con thằn lằn tắc lưỡi trên talawas.org!

Hội nghị chẳng thành công trọn vẹn “rất chi là mỹ mãn” như Trường Nhân, chẳng thành công vì chỉ một chuyện “đổi gió” như Ngô Thảo rối rít cám ơn, như Chu Văn Sơn tự an ủi lấy mình!

Sau hội nghị Tam Đảo – Ba Vì tháng 8/ 2003, hội nghị lần này đã làm được công việc gì? Còn sau hội nghị Đồ Sơn tháng 10/2006 thì hội nghị tới sẽ có thành tích gì từ hội nghị này đưa ra? Không thấy bản tổng kết của Hội Nhà văn? Hội nghị không tổng kết, không đánh giá, không rút tỉa kinh nghiệm thì hội để mà làm cái chi khi chỉ toàn kiến nghị mà chẳng thấy giải quyết đơn từ trừ chỉ có cái việc là nơi “đổi gió” mà thiên hạ chê cười trong lúc bão lụt hoàn hành thì những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình – lý luận của chúng ta rung đùi mát mẻ thưởng ngoạn thiên nhiên! Lãng phí có gì khác với tham nhũng? Tất cả cũng gom về một mối lá tiêu tiền hoang phí của nhân dân lao động mà thôi! Hưởng xong, vỏ đạn cũng đầy khán trường.
4. Những vỏ đạn:

Những vấn đề (vỏ đạn) mà đại hội sau khi… bắn ra:

1. Tự do sáng tác. Tự do tư tưởng. Dân chủ (tự do xuất bản, tự do viết lách… ).

2. Hội Nhà văn phải trả lại công đạo cho những người vì văn học mà chịu thiệt thòi.

3. Không có lực lượng phê bình chuyên nghiệp. (Ai cũng viết được).

4. Phê bình còn nhiều bè cánh, xu phụ, a dua. Phê bình kiểu Giáo sư cũ kỹ.

5. Cách tân (bằng sex, câu chữ khó hiểu, cầu kỳ với tiểu thuyết, thơ trẻ). Cần khuyến khích hay giảm bớt tốc độ?

6. Giải thưởng có, chất luợng không.

7. Rà soát và hạn chế những bài phê bình khi cho… xuất cảnh.

8. Nhà phê bình phải trang bị kiến thức chuyên môn về lý luận.

9. Khuyến khích lực luợng sáng tác trẻ.

10. Đặt vị trí đúng cho người phê bình.

Chúng ta có thể hiểu nguyên nhân như sau:

Một: Tự do quá trớn: Đẻ ra đủ thứ trên đời: Sex trong văn học mỗi ngày tăng trưởng vì nhà văn không viết sex thì bị coi như ”lỗi thời”, ”lạc hậu”, ”cỗ lỗ sĩ”…

Hai: Hội Nhà văn có hiện tượng: Bè phái và những kẻ phục vụ trong nhóm ấy thì sợ mất nồi cơm, cúc cung phục vụ cái gọi là ”văn học-chính trị”, ít có bản lĩnh tự đột phá, phát hiện…

Ba: Không có lực lượng phê bình văn học: Vì:

– Người có bề dày phê bình (chưa chắc là sâu sắc, bản lĩnh), có địa vị, bằng cấp thường coi thường những người viết phê bình không có những thứ trên.

– Không coi trọng, khuyến khích người viết phê bình dù là trong nước hay ngoài nước như một kiểu ”độc quyền”.

– Các Giáo sư, Tiến sĩ lý luận – phê bình trước những tác phẩm gọi là “hiện tượng” hay “nổi đình nổ đám” thường cố tình né tránh hay “giả mù sa mưa” vì có lẽ sợ mất tiếng, mất danh, sợ liên luỵ. Quan niệm sai lầm khi nghĩ chỉ có người với bằng cấp, học vị, tiếng tăm mới có thể làm công việc Nghiên cứu, Lý luận, Phê bình

– Thái độ ganh ghét nhau sẵn có và không chịu nhận mình sai, mình dở nên luôn luôn sẵn sàng “nghênh chiến”!

– Phê bình theo cảm tính: Thích thì tâng lên mây, không ưa thì dìm xuống nước cho chết ngộp!

– Các báo chí, tạp chí văn nghệ hay trang web site của nhóm nào thì đăng theo nhóm nấy và chỉ có đăng một chiều chứ không chấp nhận ý kiến phản ngược những bài mình ca ngợi.

Những ông chủ thầu khoán phê bình ”lăng xê” tác giả này là kẻ đã tiếp tay cho những sáng tác bất chấp dư luận, chẳng đếm xỉa đến độc giả và coi thường chức năng giáo dục, thẩm mỹ của văn học. Có nghĩa là những người phê bình chưa trang bị cho mình cái áo giáp lý luận chuyên môn, nghiệp vụ.

Bốn: Không có tác phẩm xuất sắc :

– Nhà lý luận không phải là nhà chấm giải thưởng văn học nên chất lượng lý luận soi sáng vào tác phẩm lu mờ.

– Những người chấm giải thưởng hay phê bình thường ít đọc và lười chất suy nghĩ để phân tích tác phẩm trọn vẹn mà chỉ chấm theo những bài phê bình ăn theo, xu phụ hoặc được thuê bao.

– Những tác phẩm được giải hay những tác phẩm được đề cao nhưng không có sự đồng thông của người đọc bình dân là những người không sử dụng được vi tính nên tiếng nói ”không đồng tình” của họ khác nào “có miệng ăn mà không miệng nói” khi hoàn toàn hệ thống phát thanh, truyền tin ở trong tay những quan nha.

– Người chấm hay người phê bình chưa đủ năng lực trong khi chấm câu cú, giá trị lôgích của tác phẩm hoặc mù tịt về những thông tin liên quan đến những tác phẩm khác mà tác phẩm này ”copy” bằng những kiểu cách.

– Nói chung, chỉ quanh đi, quẩn lại có bấy nhiêu người viết phê bình để lăngxê tác giả, tác phẩm nên văn học đẻ ra những đứa con cọt còi, liên tưởng man rợ, xã hội đồi trụy, thối nát và dáy dơ, nhân phẩm con người bị chà đạp một cách vô tư lự.

– Quan niệm thiếu chiều sâu khi cho rằng những tác phẩm tầm thế giới là những tác phẩm viết về các tác giả nước ngoài.

Những người có quyền lực trong văn học hay trong các ngành có liên quan cũng thả chìm những gì gọi là phi văn hóa. Văn học đang cạnh tranh với thị trường phim ảnh cởi áo. Giáo dục đang “thị trường hóa trí tuệ” lấy “đào tạo Rôbô” làm mục tiêu.

Thêm vài ý kiến:

Một: Nên đưa những tác phẩm có giải thưởng vào chương trình giảng dạy cho học sinh. Điều này sẽ giúp Hội Nhà văn thẩm định lại giá trị thật sự của những tác phẩm có giải thưởng có hay không có chức năng thẩm mỹ và giáo dục trong tác phẩm đó hay chỉ là thoả mãn thị hiếu thị trường? Các Giáo sư, Tiến sĩ có dịp nhìn lại thành tích viết sách dạy học trò của mình đã đào tạo ra thế hệ tiếp cận như thế nào trong công tác giáo dục mầm xanh? Dĩ nhiên, nó sẽ có hai chiều: Tác phẩm văn học thật sự sẽ được đăng quang đúng vị trí và tầm cỡ của công sức đóng góp vào nền văn học có tính giáo dục. Những tác phẩm lọt lưới không thuộc loại này, tự thân bị hủy diệt. Lúc ấy, các ngòi bút mới ý thức được mình: Viết cái gì? Cho ai? Giá trị và sự tồn tại? Trên sách giáo khoa hay ra giấy bán bánh mì? Sự chọn lọc tự nhiên, nhân tạo đi chung đó thôi!

Hai: Để cho đội ngũ trẻ tự do viết lách theo ý mình. Ai có bản lĩnh gì thì cứ giở hết sở trường ra. Cuộc chiến nào cũng có những thử nghiệm vũ khí! Biết đâu sau một thời gian thử nghiệm, họ “đụng hàng” thì tự nhiên ngòi bút họ sẽ tự động chuyển hướng sáng tác. Không ai đi coi mãi một bộ phim chi sex, chẳng ai đọc mãi một loại thơ, văn dị hình, dị dạng có một kiểu gọi là trẻ? Quần ống loa từ mấy chục năm về trước vắng bóng nay trở lại làm bá chủ thị trường? Nhạc cấm từ những năm não năm nào nay cũng trở về từng sân khấu ca nhạc. Những nhạc Rap, nhạc Rốc hay những vũ điệu hở đít, hở mông rồi đã lần lần được những điệu múa dân tộc, đậm sắc quê hương từ từ thay thế. Mới có nghĩa là chỉ xoay tròn cái cũ mà thôi! “Thơ Mới” chỉ còn cái tên! “Cách tân” chỉ là cái vỏ. Bình mới nhưng rượu cũ! Ngay cả những trường tiểu học ngày xưa bị thay bằng phổ thông cơ sở cũng trở về với tên tiểu học như thời cũ! Biết đâu thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ có một ngày trở thành tên Sài Gòn bất di, bất dịch? Xu thế thời đại cũng xoay tròn theo thời cuộc. Văn học với lý luận – phê bình tránh khỏi sao? Nhưng thời củ mì, củ chuối, chiến tranh thì xin một lần vẫy tay chào nhau, đừng bao giờ theo “cái mới, cái trẻ, cái cách tân” mà quay lại!

Ba: Nên hay không nên với những bài phê bình, phân tích để đánh giá tác phẩm có mực chuẩn là tính Giáo dục và Thẩm mỹ? Với những bài tổng kết văn học một thời đại, tác giả cần hệ thống nhân vật trong từng tác phẩm mình nêu chứ không phải chỉ nhắc đến tên tác phẩm để tránh bớt tình trạng “lười đọc tác phẩm” nhưng giỏi chép lại những tên tác phẩm mà người khác đã nhắc. Thậm chí có tác giả phê bình, nghiên cứu, phân tích thời kỳ văn học đã chắc gì đọc hết ngần ấy tác phẩm mình đã nêu với cái gọi là thuộc nhân vật từng tác phẩm và nội dung? Ví dụ cuốn “Văn học Việt Nam sau 1975” do Nguyễn Văn Long và Lã Nhâm Thìn đồng chủ biên năm 2006 có những tác giả kê khai hàng chục tới hàng trăm tác phẩm mà chẳng nêu được tên nhân vật, không biết những vị viết sách này có đọc qua những tác phẩm đó chưa hay mới chỉ nghe “kỳ thanh, bất kỳ hình?”. Tiền mua chừng ấy sách đọc, e rằng… cần tính lại tháng lương của mình?

Bốn: Nên hay không nên định kiến người viết phê bình – lý luận phải có học vị (bằng cấp, trình độ)? Trình độ nào mới được viết phê bình? Muốn hạn chế người phê bình xu phụ, tâng bốc, ăn theo thì chỉ thế. Nhưng như thế sẽ nảy sinh ra sự “độc quyền” phê bình, không khác gì Hội Nhà văn độc quyền cấp giấy phép xuất bản sách!

Năm: Nên hay không nên bãi bỏ chế độ cấp giấy phép độc quyền xuất bản? Những tác phẩm sẽ lan tràn. Thị trường càng nhiều thể loại càng phong phú nề văn chương chứ sao! Tha hồ chọn lựa tác phẩm mình thích. Độc giả là quần chúng nhân dân (người nuôi sống từ trên xuống dưới) đâu phải chỉ thích mua những tác phẩm viết để chửi bới, công kích nhau, dạy hảo cho nhau? Những tác phẩm có tính chất chính trị, mấy người đã đọc?

Sáu: Nên hay không nên quy định lại một cách viết văn nhất định theo ngữ pháp? Ngay cả chữ “Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học”, có người viết hoa, kẻ không, vô tội vạ thì thử hỏi sáng tác mang tính thẩm mỹ (bao gồm chức năng câu cú) được bao nhiêu cuốn cho học sinh bắt chước?

Người viết cho rằng ai đó thật chưa minh mẫn khi tự đề ra quy luật chính tả chữ “y” dài thay cho “i” ngắn (Thúy thành Thúi đã đành mà những từ như: hủy hoại, tủy sống, huy hiệu, Quy Nhơn sao không thành hủi hoại, tủi sống, hui hiệu, Qui Nhơn luôn cho tiện? Từ kỷ nguyên đẹp đẽ bỗng thành kỉ nguyênlý luận đang y dài nghiêm túc thành lí luận cộc lóc. Nguyễn Duy thành Nguyễn Dui thấy… đui luôn! Chữ Y dài cũng có nguy cơ… tuyệt chủng như thú vật, lâm ngư sản quý hiếm trên thế giới! “hiện ở Việt Nam có gần 700 loài động thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp quốc gia, trong đó có 300 loài bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp toàn cầu, 49 loài thuộc dạng cực kỳ nguy cấp” (vietnamgreen.net). Đã vậy, hổn xược từ bao đời nay tự nhiên thành hỗn xược có dấu ngã theo sách ngữ pháp mới. Tiếng Việt u ám đến nơi! Người xưa thường nói “dốt hay nói chữ”. Kẻ dốt chữ thời nay thì tìm cách nghĩ rối rấm để che lấp sự thiếu chuyên môn của mình. Giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt đâu có nghĩa là đổi từ, thay dấu tào lao rồi bắt người ta… ngu theo mình! Tàu bắt ta học Hán để “đồng hóa” dân tộc cho dễ bề cai trị. Ta bắt ta học đổi âm, thay chữ không hiểu để “đồng hóa” cái gì nếu không là “đồng hóa” sự ngu dốt mà “nhân chi sơ tính bản thiện” không nói tới! Âm Y trong từ này đổi, âm Y trong từ kia không đổi. Vô lý đến thế!

Bảy: Nên hay không nên hòa đồng văn chương của người Việt ngoài nước với văn chương người Việt trong nước? Hòa đồng như thế nào? Tiêu chuẩn của một tác giả được xét là người viết văn Việt Nam thì phải là người viết bằng chữ Việt Nam (dù trước đây nó là vay mượn Tàu hay theo tiếng La tinh hay Anh ngữ hóa) thì tiếng nào đang gọi là tiếng chuẩn của người Việt nói, đọc và viết tiếng Việt hiện mới gọi là văn chương Việt Nam? Người Việt Nam nhưng viết văn không bằng tiếng Việt mà là tiếng nước ngoài thì có thể gọi là người viết văn Việt Nam? (Đừng nhầm lẫn với tác phẩm chữ Hán ngày xưa của cha ông. Ngày xưa, ngôn ngữ của chúng ta bị Tàu đô hộ bắt sử dụng là Hán văn nên văn thơ thi phú không thể trái luật “thái thú”).

Tám: Cần hay không cần xét lại những cuốn sách đã, đang và sẽ bị bỏ quên? Ai sẽ đọc để đánh giá lại? Tìm chúng ở nơi đâu? Bằng phương tiện phát thanh, thông tin? Những việc ấy cần nên làm vì những tác phẩm hiện hành được giải này, giải nọ, chung quy lại cũng chỉ chừng ấy người, nhóm, hội đoàn.

Chín: Những hội nghị thảo luận về văn học có nên hay không nên để những người Việt viết văn bằng tiếng Việt ở nước ngoài tham gia góp phần thông tin, giao lưu tự do văn hóa? Chấp nhận giải pháp hòa bình thì cũng nên bình thường hóa việc chia tách, phân biệt văn học chính gốc và văn học… phi tổ quốc!

Mười: Quy định một tác phẩm phải có hai bài viết “lăngxê” mới được cho vào xét duyệt là tiếp tay cho chủ nghĩa lũng đoạn “thừa nước đục thả câu”. Trao đổi hai chiều xấu xa từ đó là ra. Tạo cơ hội cho những người viết văn có quyền được “vào kinh ứng thí”. Tạo điều kiện cho những sáng tác văn chương trở thành sáng tác văn học một cách minh bạch, đúng tầm chứ không theo mốt chấm giải đầy tai tiếng gần đây của hội đồng giám khảo Hội Nhà văn. Điều này đòi hỏi về cung cách làm việc của Hội Nhà văn “ăn cơm nhân dân” thì phải “đỡ dần” nhân dân chứ không phải là “ăn cơm chúa” mới phải “múa suốt ngày”.

Mười một: Phê bình – Lý luận văn học cũng cần “cách tân” về cách viết để biến phê bình – lý luận thành sáng tác trên sáng tác chứ không phải chỉ là những bài bình khô khan giai điệu, lý luận thiếu màu sắc hương hoa, ánh sáng mặt trời!

Mười hai: Tẩy chay quan niệm thiếu chiều sâu khi cho rằng những tác phẩm tầm thế giới là những tác phẩm viết về các tác giả nước ngoài hay viết pha nửa tây, nửa ta mới là “giá trị”! Tác phẩm lớn là tác phẩm giải quyết được những vấn đề lớn. Tầm nhìn xa, trí thấu rộng, lòng nhân bản vượt qua quốc nội là yêu cầu cơ bản của một tác phẩm lớn. Vậy thì sao không thảo luận: Vấn đề nào hiện nay là vấn đề cơ bản cần giải quyết và vấn đề ấy có phải là vấn đề xuyến suốt quá trình hình thành nhân cách và nhân phẩm con người để thành Người? Chính là “Tiền”! Chính là “Đa kim ngân phá luật lệ” từ cổ chí kim! Xây dựng nhân vật “Người” chứ không phải là “con người”!

Từ những ý kiến trên, ta thấy khâu chuẩn bị cho một hội nghị nào cũng nên thực hiện cho đàng hoàng nghiêm túc trọng chiều sâu chứ không phải là “đổi gió”!

IV. CHUẨN BỊ CHO MỘT HỘI NGHỊ VÕ LÂM LÝ LUẬN?:

1. Khâu tổ chức:

– Ban tổ chức: Phải là những người giỏi về văn học, lý luận, thừa kinh nghiệm chuyên môn điều hành, được anh em tôn trọng kính nễ.

– Cần một MC: Người này phải chuyên nghiệp về “chữa cháy”, biết cách ăn nói và dẫn dắt chương trình khéo léo, duyên dáng. (Hội nghị cũng là một sân khấu văn học mà những bản tham luận là mỗi diễn viên và đại biểu là khán giả. Sân khấu ca nhạc phòng kín cũng chưa có một khán giả nào la ó, đòi ca sĩ xuống sân khấu dù cũng không ít ca sĩ diễn, hát dở).

– Yêu cầu tư cách đại biểu: Quần áo (quy định ăn mặc như thế nào cho đúng tác phong của những người đại diện bộ mặt tri thức Việt Nam?)

– Yêu cầu gì trong lúc dự hội nghị (nói lung tung, nói linh tinh, nói với, nói leo? Bỏ ra ngoài trong khi vẫn còn hội nghị? Làm việc riêng? Có cho tự do như vậy không? Những đại biểu cố tình coi thường hội nghị thì nên có biện pháp nhất định nào đó?).

– Nên xen kẻ phần giải lao bằng văn nghệ (hát, ngâm) vì không thiếu những văn nhân kiêm ca sĩ và nhạc sĩ để giảm bớt tình hình căng thẳng bao giờ cũng có trong một hội nghị… lý luận thì ít mà lý sự thì nhiều.

2. Nội dung hội nghị:

– Khuyến khích lực lượng văn nghệ sĩ ở nước ngoài tham gia bằng cách gởi tham luận.

– Yêu cầu các bản tham luận theo đúng nội dung hội nghị. Phải có một ban đọc bài trước khi chọn. Ban duyệt bài đó không phải là những kẻ giống như Trương Sĩ Qúy cướp công “Tiết Lễ – Tiết Nhân Qúy” thời Đường Thái Tông Lý Thế Dân!

– Cho những người tham dự được quyền tham luận ở nhóm mình thích trước một ngày thảo luận để có bản tham luận tổng hợp của nhóm. Sau đó, các nhóm chọn người trình bày bản tổng kết này.

– Ban thư ký có nhiệm vụ ghi lại những ý kiến đóng góp để thành một bản cho hoạt động của hội. Lần sau, đem bản đó đối chiếu, so sánh thử coi những người đại diện đó đã tổ chức cơ sở thực hiện những điều đó như thế nào? Tránh trường hợp nói cho có, sang năm bỏ xó. Yêu cầu năm này cho hung, nhìn chung năm sau… vẫn thế!

– Tránh bớt kiểu “lấy lòng thời cuộc” bằng cách đưa lý luận – phê bình chính trị vào văn học

– Những bài tham luận đã được tổng hợp theo nhóm nên dành khoảng thời gian nửa tiếng đến một tiếng.

– Nên “nói vo” để diễn giả được tự nhiên và điều khiển được chính mình.

3. Những bản tham luận: Viết và thảo luận về những điều mà hiện thực bức xúc:

– Lý luận là gì? Phê bình là gì?

– Phân biệt sáng tác với sáng tác văn học? (tác phẩm của trí tuệ có phải là sáng tác văn học? Phải hay không phải cũng đều có tác phẩm minh họa).

– Tiêu chuẩn của một người được coi là nhà lý luận – phê bình văn học? (bằng cấp? trình độ học vị, chức vụ có quan trọng và cần thiết không? Có chấp nhận một đội ngũ thân trần, mình trụi viết phê bình?)

– Tiêu chí của một tác phẩm phê bình văn học? Phê bình có nên dựa trên cơ sở của lý luận với các chức năng của văn học? Thêm chức năng nào? Loại bỏ chức năng nào trong hệ thống lý luận văn học cũ và mới? Vì sao?

– Sáng tác và nhà phê bình. Ai cần ai?

– Sáng tác có nên thoát ly những lý luận, những hệ thống chủ nghĩa ảnh hưởng từ nước ngoài như trường phái lãng mạn, hiện thực, những trào lưu… ?

– Tác phẩm nào cần được đưa vào chương trình giáo dục thay những bài cũ? Vì sao? Nếu cứ theo cương lĩnh này: “Lý luận văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới cần được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tích hợp với những tư tưởng của thời đại mới, với thực tiễn của đời sống văn nghệ.” (z12.invisionfree.com), coi bộ nền Lý luận – Phê bình Việt Nam “move” tới “Triết học Mac – Le”.

Hiện nay, những vấn đề mà văn học Việt Nam đang nhức nhối là: “Công tác phê bình văn học” (thiếu học thức như Phạm Xuân Nguyên thẳng thắn trên vannghesongcuulong.org, rfa.org: “Văn học ta không thể nào lớn được, vì nó không được sống trong môi trường văn học đúng nghĩa. Môi trường văn học đó phải là của một xã hội dân sự, khi sáng tác và phê bình được hành nghề tự do, dân chủ một cách chuyên nghiệp và được hành xử tự do, dân chủ một cách chuyên nghiệp”. Tiếp theo là “Hậu giải thưởng văn học” (không thống nhất giá trị giải thưởng, thiếu nghiêm túc): “Thực chất biên tập của các nhà xuất bản VN” (kiếm tiền là chủ yếu), Những chuyện “cười ra nước mắt” trong hội đồng xét giải thưởng (thiên vị, nễ nang), Vấn đề kiểm duyệt tác phẩm (cắt xén, cấm, cho tùy tiện).

V. NGÀNH LÝ LUẬN-PHÊ BÌNH CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI:

1. Ngoại đề:

Dù có lý giải đến đâu thì Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học lần thứ hai ở Đồ Sơn này cũng đã… tẩy chay những nhà Lý luận – Phê bình Văn học Việt Nam ở nước ngoài.

Trên phương diện thơ cách tân hay đổi mới mọi thể hình tự sự hoặc đổi mới toàn diện, những nhà tri thức ở Việt Nam không để những người Việt hải ngoại trong mắt. Ngay cả nhà thơ Nguyễn Duy cũng tuyên bố xám mặt: “Nhà thơ Việt nam ở ngoài nước có thể là một cầu nối giữa thi ca Việt nam và thi ca thế giới. Đó là một đóng góp phù hợp với hoàn cảnh hiện nay. Nhưng chỉ có những nhà thơ hiện sống trong nước mới có thể quyết định một hướng đi mới cho thơ Việt nam đương đại.” (nguyen du thư gởi babt.damau.org).

Nguyễn Duy có lên tiếng phủ phản bác về vụ này nhưng từ ngữ của Nguyễn Duy quả thật như… chén nước lạnh như sau: “Nhà thơ Việt nam ở ngoài nước có thể làm một nhịp cầu giữa thi ca Việt nam và thi ca thế giới. Đó là một đóng góp phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Nhưng việc có hay không một hướng đi mới cho nền thi ca đương đại Việt nam sẽ được quyết định bởi các nhà thơ trong nước.” (Two Rivers, tr. 102 – 103)

Nguyên văn: “Vietnamese poets living abroad can act as a bridge between Vietnamese poetry and world poetry. It’s a contribution befitting the circumstance of the time. But whether contemporary Vietnamese poetry can create a new departure is something that will be determined by poets living in the homeland. I can sense that this departure has already begun. It will neither stop nor be stopped.” (damau.org đăng lại phần câu hỏi của Nguyễn Bá Chung (NC) và phần trả lời đầy đủ của Nguyễn Duy (ND) trong bài phỏng vấn Coming Full Circle: A Conversation with Nguyen Duy từ đặc san “Manoa 14:1: Two Rivers, New Vietnamese Writing” thể theo đề nghị của nhà thơ Nguyễn Duy).

Lời phát biểu của nhà thơ có bài thơ “Cây tre” dễ thương được chọn học trong sách giáo khoa đã làm phẩn nộ giới phê bình văn học hải ngoại và trên dưới mười bốn nhà phê bình đã nhảy vào vòng chiến như Mai Ninh, Nguyễn Quốc Chánh, Trần Doãn Nho, Đỗ Kh, Thanh Thuỷ, Nguyễn Lộc, Trịnh Cung, Trần Mộng Tú, Phan Hạo Nhiên, Kinh Dương Vương, Bùi Bích Hà, Thế Uyên, Thuận Nhiên, Nguyễn Viện trên damau.org. Một số vì lời phát biểu mang tính chất “phủ định người, khẳng định ta” không mấy thông minh đã làm tự ái dân tộc bừng dậy khi Nguyễn Duy đẩy người Việt hải ngoại ra khỏi sự đóng góp công sức vào lĩnh vực văn học. Ngôn ngữ của Nguyễn Duy quả thật làm người ta nghĩ có khí chất của một nhà… độc tài hơn là nhà thơ.

Hiểu lầm từ đó và những bài viết của các vị trên đã có khá nhiều đi xa đề, tranh luận về ngôn ngữ, về sắc màu, về trình độ, về kẻ chiến thắng chiến bại đã làm nên một thương trường tranh luận mang màu sắc đả kích nhau hơn là tìm ra một cách giải quyết vấn đề có tiếng nói chung của cộng đồng Việt Nam dù ở đâu cũng cùng nguồn cội! Tiếc quá!

Nhận xét về văn chương người Việt nước ngoài, Nguyễn Thanh Sơn trong phỏng vấn của Tuổi trẻ chủ nhật sau khi kết thúc chuyến đi hai tháng nghiên cứu văn học ở Mỹ: “Với riêng tôi, nét thú vị của văn học VN ở hải ngoại là những tương đồng của nó với văn học trong nước. Nó cung cấp một lăng kính để tìm hiểu những vấn đề của văn học VN hiện nay. Câu hỏi được đặt ra là: vì sao ngay cả khi được đặt trong một môi trường hoàn toàn khác, có điều kiện để tiếp xúc hằng ngày với tất cả những gì được coi là ưu tú của văn học thế giới, văn học VN cũng vẫn rất khó thay đổi? Vậy thì vai trò của môi trường sáng tác đối với nhà văn quan trọng đến đâu, và phải chăng có những vấn đề nằm trong ngôn ngữ và văn hóa của chúng ta?”

Nguyễn Thanh Sơn đã đi từ đâu tới đâu để tìm hiểu văn học hải ngoại? Dăm ba chục tác giả, vài trăm tác phẩm trên mạng hay trên các giá sách khiêm tốn nép mình bên CD, DVD nhạc đang choáng hết diện tích các tiệm buôn bán lẻ? Không gì vô lý và buồn cười rằng văn học hải ngoại không đủ sức tổng kết cho mình qua ba mươi mấy năm thử nghiệm dòng văn học tiếng mẹ đẻ tại nước người! Người trong nước nhận xét văn học người Việt ở ngoài nước không mới? Chẳng biết tiêu chí này lấy từ đâu mà ra? Qua từng tác phẩm ư? Văn chương hải ngoại vì sáng tác, in ấn tự do đâu cần cái giấy phép gì nên không ai có thể kiểm tra, thống kê hết bao nhiêu cuốn sách hiện nay mà người Việt hải ngoại có vì phần lớn tác giả như chỉ viết lách, in ấn cho mình hay chuyển ra vài trang web dăm ba trăm người đọc là hết. Họ không công bố, chẳng buồn cái gọi là “lễ ra mắt sách” nên thử hỏi người trong nước ra ngoài hải ngoại mà chỉ coi dăm ba cái web site, đọc những bài báo cũng thuộc phe phái thì làm sao dám tuyên bố một điều mới hay không mới mẻ trong văn học cái gọi là “văn học miền Nam nối dài”? Nếu đi tìm thêm như đi “sưu tầm văn học dân gian” ở Việt Nam, thì những hàn sĩ:

Ngày vật lộn vì chén cơm manh áo

Đêm lao tâm kiếp nhện nhả tơ tằm.

sẽ lên con số không biết là bao nhiêu! Chất lượng chưa ai dám khẳng định (có ai tự khen mình bao giờ?) nhưng nhìn vào số lượng chắc cũng không phải xoàng!

Họ chỉ tự nhận mình là “kiếp nhện” nhưng là loài nhện nhả ra “tơ tằm” chứ không phài thứ tằm mà Phan Khôi, Huệ Chi mỉa mai ăn dâu chỉ… ị ra dâu!

Chỉ đọc vài chục bài viết trên các báo mà đủ sức đánh giá hết giới hàn sĩ ở nước ngoài thì hơi… chủ quan. Báo chí ở nước ngoài ít có độc giả vì quảng cáo chiếm tràn ra, văn học chẳng có bao nhiêu, chính trị nhiều hơn chính nhân! Người viết văn xứ người hầu như tự thân độc lập, vui thì chui vào những trang web hiền lành bỏ vài bài thơ, đẩy lên dăm bài truyện, tùy bút chơi, buồn thì thôi.

Văn chương ở hải ngoại chẳng đẻ ra tiền, hái ra bạc, khạc ra vàng như ở Việt Nam nên chẳng mấy ai để mắt. Vài ba giải thưởng cũng xoay quanh đề tài chống đối nhau, miêu tả hiện thực tàn tạ ở VN để lên án chế độ hiện hành và khơi lại quá khứ thương tâm ngày 30/4/75 là chính. Phe nhóm văn chương người Việt mỗi tiểu bang đã mỗi khác mà mỗi quốc gia càng khác hơn và hoạt động độc lập, không chịu sự quản lý của bất cứ hội đoàn nào! Hội văn bút Việt Nam hải ngoại với những cuộc bút chiến bao nhiêu năm là một chứng minh sự mất đoàn kết nhưng cũng là “tự phát” mà có. Nội cái hiệu“Hội viên hội văn bút VN hải ngoại” cũng chẳng “oai” hơn “Hội viên Hội Nhà văn VN”. Ngán ngẫm!

2. Nhà phê bình hải ngoại:

Người ta thấy nổi bật trong giới phê bình có điều kiện có chức danh, có sân chơi (khác với những người phê bình không điều kiện – những hàn sĩ ẩn danh): Nguyễn Hưng Quốc (“Sống với chữ”, “Những nhà phê bình mù”, “Chủ nghĩa ‘hậu’ hiện đại và văn học Việt Nam”, “Nhà văn… không là ai”, “Ba chức năng chính của nhà phê bình”, Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản”, “Võ Phiến”, “Văn học Việt Nam từ điểm nhìn hậu hiện đại”, “Văn hóa văn chương Việt Nam”), Trần Nghi Hoàng “Nguyễn Hưng Quốc: “râu ông không thể mọc cằm bà”); Nguyễn Mộng Giác (“Đọc ‘Con nữ’- tập truyện của Đỗ Quỳnh Dao, “Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử“); Lê Thị Huệ (“Thơ ơi”, “Cảm giác sau khi đọc những bài bình thơ Vi Thùy Linh“), Phan Thị TT (“Đọc người Trung Quốc xấu xí“), Thụy Khê (với một loạt bài về “Nhân văn – Giai phẩm”, “Phỏng vấn Hoàng Cầm…”)… trên các mạng tienve.org, gio-0, danchimviet.com, hopluu.net… Thêm mười bốn nhà phê bình đấu với Nguyễn Duy, những võ sĩ đấu với Nguyễn Hòa đã nêu trên với những tên tuổi như Đặng Tiến, Nguyễn Lương Ba (damau.org). Người ta chẳng biết phải xếp họ vào loại phê bình văn học hay phê bình tranh luận? Có thể nói Thụy Khê (Vũ Thị Tuệ) là một nhà phê bình có ấn tượng, đã suy nghĩ: “Trong thời kỳ trước tức là thời của Nguyễn Ngọc Phan thì ngừơi phê bình như một ông thầy giáo chỉ ra những cái hay cái dỡ của người viết và nếu một cây viết phê bình trẻ tuổi dám phê bình môt người lớn tuổi vả nổi tiếng trong giới văn học thì sẽ bị trù dập suốt đời” nhưng theo chị thì “Những va chạm này đều đã lỗi thời” và hướng đi của chị: “Khi phê bình một tác phẩm tôi luôn tìm cách trình bày ngay thẳng cái ý hướng của mình ngoài ra tôi không có ý gì khác nữa. Thứ nhất tôi không viết cho chính tác giả đọc, mà tôi viết để cho độc giả đọc, còn cái bài viết mình có ảnh hưởng đến ai hay không thì tôi cũng không biết nữa nhưng sau một bài viết nếu tôi phân tích đứng những gì tác giả ấp ủ thì cái hồi âm của tác giả đến với tôi thường thường là cái tình bạn, nhiều khi là vong niên nhưng rất lâu dài (rfa.org).

Tuyên ngôn cho cách viết phê bình là đây! Còn biết bao nhiêu ẩn sĩ phê bình như thế này mà người viết này chưa biết hết!

Những nơi có nhiều người Việt thì văn chương thi phú cũng nẩy nở nhưng nó cũng chẳng đại diện hết những “thâm sơn cư sĩ” cùng cốc ẩn mình viết lách với một hướng đi mới mẻ mà có đọc mới thấy hết giá trị của cái gì là mới và cũ! Thơ văn gượng ép câu chữ, thiếu giá trị thẩm mỹ thì chúng chẳng có độc giả. Vậy thôi! Lý luận – phê bình theo đó mà cứ phán tới! Cái mới cũng quay lại cái cũ. Thơ hay chẳng ngại vì thể thức cũ. Người hay là kẻ sáng mắt biết… nhìn! Rượu ngon hay dở phải tầm cỡ “Lưu Linh” mới biết. Thưởng thức đồ ăn thì phải ăn thử mới nói dở hay ngon.

Ở hải ngoại vì chẳng có cái gì gọi là Hội đồng giáo khảo chấm tác phẩm hàng năm để trao giải thưởng nên cũng chẳng ai công nhận ai. Có chăng chỉ là ở một nhóm người tự bầu, tự phong như đã nói trên. Những người làm công việc nghiên cứu văn học người Việt hải ngoại cần lưu ý điều này, nếu không, sẽ rơi vào tình trạng chủ quan, thiếu cách nhìn tổng quát kiểu giới phê bình thường dùng “thầy bói xem voi”! Những tác giả có trên giá sách hiếm hoi ở bên này hay xuất hiện trên mạng chưa đủ tư cách đại diện cho tiếng nói chung của văn học Việt Nam hải ngoại! Lý luận – Phê bình Văn học ở đây chỉ là những bài tranh luận văn chương, chính trị, đập nhau đau hơn là phê bình học thuật. Lời nhận xét “ếch ngồi đáy giếng” nhưng ít ra, nó cũng là nhận xét của một người bình dân! Những cuốn sách gọi là tổng kết văn học người Việt hải ngoại 20 năm, 30 năm là một điển hình cho sự thiếu tính phổ quát này.

Phê bình văn học của người Việt hải ngoại trước 1975 có hay không có? Trần Hoài Anh trong bài “Quan niệm về thơ trong Lý luận Phê bình văn học đô thị miền Nam 1954-1975” (vienvanhoc.org) đã nêu ra được là những người nào?

Phê bình hải ngoại có một cái giống ở trong nước mà Thanh Sơn… bỏ quên, Đó là tính chống nhau đến trần văn truồng. Trần Nghi Hoàng châm chích Nguyễn Hưng Quốc. Hoàng Xuyên chê cả hai người này và chê luôn những phê bình Thụy Khê, Đăng Tiến, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Vy Khanh… “dốt như ma”(danchimviet.com) chỉ mang ngoại ngữ chữ Tây, chữ U hù những người Việt trong nước dốt ngoại ngữ! Họ cũng chỉ là những người được “lăngxê” lên như ở Việt Nam. Nhiều lắm. Kể làm sao cho hết nỗi đau văn học Việt Nam!
Không thể không có lý do khi có một số người viết lách nhìn về nền văn học trong nước như đang tìm lại những gì gọi là nguồn cội và họ… chấp nhận hy sinh thầm lặng nơi xứ người cho một chút gì gọi là văn chương và số phận! Đất đai xứ người mênh mông. Không khí văn học theo đó mà loãng. Một ngày không xa, thế hệ những người còn viết tiếng Việt ra đi theo diện… ông bà thì văn học người Việt hải ngoại tiến lùi chẳng rõ. Nguyễn Duy trở nên có lý.

VI: KẾT:

Nhìn chung, ngành Lý luận – Phê bình Văn học ở Việt Nam tuy còn nhiều vấn đề phàn nàn về chất lượng nhưng dù sao nó cũng là một ngành có định hướng rõ ràng vì đã xoay theo một quỹ đạo hơn kiểu lý luận – phê bình tự phát của người Việt ở nước ngoài. Ngành Lý luận – Phê bình Văn học ở Việt Nam cần có người hướng đạo xuất sắc, biết tập trung lực lượng viết phê bình vào vai trò, vị trí xứng đáng để họ phát triển sáng tạo của họ hơn là đi phí chất xám vào những tranh luận nối cầu tranh luận không biết đến bao giờ mới có được tiếng nói chung! Ngành phê bình không thể “Quân trung vô thủ”. Tại sao hai bên không có một hội nghị bàn tròn ở ngay quê nhà hay trên đất khách? Đó là tại vì thời cuộc. Thân cộng và chống cộng là sự tương phản trên bình diện xã hội Á – Âu dẫn tới sự tương phản trong văn học khi văn học đóng trọn vai trò phản ánh xã hội. Cả hai phía “đạo bất đồng, bất tường duy minh”. Không thể đi chung đường là vậy.

Lại Nguyên Ân đặt dấu hỏi: “Phê bình văn học hay là vương quốc của cái tranh luận?’‘. Tranh luận để gặp nhau trong hòa bình có ích hơn là tranh luận chỉ đưa đến ghét nhau câu xấu bửa ba! Phải coi khả năng chỉ đạo của người làm công tác này có đủ chuyên môn, thừa kinh nghiệm biết đặt quyền lợi của nền văn học quốc gia lên trên những mưu cầu danh lợi, tiền bạc, thù hằn cá nhân hay không? Văn học, bản thân nó có tính “tự vấn và chức năng tự nhận thức, tự phê phán” như Trần Thanh Đạm khẳng định hay không và tự vấn đến đâu, tự nhận thức đến mức nào, tự phê phán tốt/xấu, đúng/sai ra sao còn tùy thuộc vào tài năng, lương tâm nghề nghiệp của lực lượng sáng tác, người phê bình và người lãnh đạo!

Khi bộ ba này chẳng chịu ngồi chung một cổ bàn và khuynh hướng tách bộ phận văn học Việt Nam hải ngoại (chia tách? điều mà Vương Trí Nhàn và Hoàng Ngọc Hiến không bao giờ muốn nhưng chưa biết có dám nhập cả dòng văn chương mang sắc áo đấu tranh chính trị vào Việt Nam?) thì đừng mong đòi hỏi nền văn học nghệ thuật nước ta nói chung và ngành Lý luận – Phê bình Văn học nói riêng theo kịp bước chân của nền văn học thế giới!

Cười cho vui cùng thông cảm để mà còn đãi cát tìm vàng cho ngành Lý luận – Phê bình Văn học Việt Nam nói chung trong thế kỷ “đa kim ngân phá luật lệ” để cùng thông cảm cho ngành Lý luận – Phê bình Văn học của người Việt ở nước ngoài trong điều kiện không cha, chẳng mẹ. Đã đến lúc những người yêu thương văn học nên tìm cách xích lại gần nhau hơn đi hơn thua thắng bại trên từng câu chữ, xỉa xói nhau trong cách hành văn để cuối cùng “nai dạt móng thì chó cũng le lưỡi”!

“Ăn cơm nhà, vác tù và hàng xóm” ôm khổ vào thân là cái văn nghiệp chẳng ai muốn gánh mà phải gánh!

Tháng11/18/06

Ngọc Thiên Hoa

TƯ LIỆU THAM KHẢO CÓ SỬ DỤNG:

I. Những bài viết:

1. Bùi Công Thuấn “Vườn hoang cỏ mọc” (talawas.org).

2. Trần Ngọc Linh “Hội nghị Đồ Sơn và những ‘thùng thuốc nổ’?” (vietnam.net).

3. Người quan sát “Chưa đi chưa biết Đồ Sơn” (213.215.176.152:8080/diendan/vietnam.net).

4. Trường Nhân “Nhà văn dụng võ” (ykien.net).

5. “Phê bình vẫn còn nhiều bức xúc” (cinet.gov.vn).

6.Minh Quân-Ngọc Linh “Thấy gì qua Hội nghị Lý luận Phê bình VN lần II?” (vietnamnet.vn).

7. Trần Anh Thái “Hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ hai: Tiếp tục đổi mới và sáng tạo” (qdnd.vn).

8. “Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ II” (nld.com.vn).

9. Thúy Quỳnh ”Hội nghị phê bình văn học lần II” (gio-o.com).

10. Quỳnh Thi “Vài nét ở Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ II” (talawas.org).

11. Hữu Việt “Không tránh né những vấn đề nhạy cảm” (tienphongonline.com).

12. Thanh Vân “Lý luận, phê bình văn học-Những ý kiến từ thực tế” (toquoc.gov.vn).

13. Nguyễn Hòa “Hội nghị lý luận – phê bình văn học lần thứ hai và một số vấn đề đặt ra” (nhandan.com.vn).

14. Trần Ninh Hòa “Bình và luận” (toquoc.gov.vn).

15. Nguyễn Thị Minh Thái “Vẫn phải đốt đuốc đi tìm nhà phê bình văn học” (Lao động số 278, nld.com.vn).

16. Minh Quân-Ngọc Linh “Lý luận như sao buổi sớm, phê bình như lá mùa thu” (vietnam.net).

17. “Nhiều tham luận, nhưng thiếu tranh luận” (tienphong, thơi tre.com).

18. Mã Pí Lèng “Ôi! Phê bình” (qdnd.vn).

19. Hà Lan với bài: ”Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ II. Phê bình vẫn còn nhiều bức xúc’‘ (nld.com.vn).

20. QT “Phê bình vẫn còn nhiều bức xúc” (Người lao động, cinet.gov.vn).

21. PV “Phải tạo ra nhiều đẳng cấp phê bình hơn” (health.vnn.vn).

22. Nguyễn Văn Dân: “Lý luận văn học trước yêu cầu hợp tác nghiên cứu” (nhandan.vn).

23. Châu Diên: “Một số ý kiến về lý luận văn học” (talawas.org).

24. Nguyễn Tý: “Nhân hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ II: Đào tạo lực lượng trẻ về lý luận phê bình: cần thiết và cấp bách” (văn nghệ trẻ 41 ngày 8/10/06).

II. Những bản tham luận (toàn bài) tại hội nghị:

1. Nguyễn Huệ Chi “Tự do sáng tác và lý luận phê bình” (talawas.org).

2. Nguyễn Văn Dân ”Lý luận phê bình văn học, nhìn lại 20 năm” (nhandan.com).

3. Hoàng Hưng “Tự do sáng tạo và điều chỉnh xã hội” (talawas.org).

4. Lại Nguyên Ân “Phê bình văn nghệ và đời sống xã hội” (talawas.org).

5. Hoàng Quốc Hải: “Những vướng mắc thường gặp trong sáng tác” (talawas.org).

6. Nguyễn Khắc Phê “Đừng lệ thuộc, đừng tự trói mình vào bất cứ ‘chủ nghĩa’ và phương pháp nào” (talawas.org).

7. Nguyễn Hòa: “20 năm lý luận – phê bình, ngày rất gần và chuyện chưa xa” (nhandan.com)

8. Irasara: “Thơ hậu đổi mới, và… đang khủng hoảng” (vannghesongcuulong.org).

9. Hoàng Vũ Thuật: “Thơ đa đoan và thân phận” (talawas.org).

III. Những bản tham luận chỉ trích đoạn dài:

1. Vân Long: “Nhà thơ và công chúng” (qdnd.vn).

2. Phong Lê: “Nhìn từ lực lượng viết trẻ” (qdnd.vn).

3. Chu Văn Sơn: ”Cách tân” (qdnd.vn, nhandan.com).

4. Chu Thị Thơm (cinet.gov.vn).

5. Thúy Toàn: “Dịch thuật bây giờ” (qdnd.vn).

6. Nguyễn Văn Dân: (cinet.gov.vn).

7. Nguyễn Văn Hạnh: (cinet.gov.vn).

IV. Những bài viết khác:

1. Phan Huy Dũng: “Phê bình Thơ với vấn đề đánh giá những hành động cách tân thơ hiện nay” (Văn học Việt Nam sau 1975, Nxb Giáo dục-2006)

2. Nguyễn Bích Thu: “Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975” (“Văn học Việt Nam sau 1975”, Nxb Giáo dục-2996)

3. Nguyễn Xuân Hoàng:“Vài hiện tượng văn học” (vannghemagarin.saigon.online.com).

4. Nguyễn Thanh Sơn trả lời phỏng vấn TTCN: “Văn học Việt Nam ở hải ngoại cần một cách nhìn thiện cảm hơn” (vuhong.com).

5. “Phê bình văn học hải ngoại” (thoivan.net), (tienve.org)

6. Trần Đình Sử: “30 năm lý luận và nghiên cứu văn học-Thành tựu và ngẫm nghĩ” (Văn học Việt Nam sau 1975, Nxb Giáo dục-2006).

7. Cao Tự Thanh: “Từ sách giáo khoa nói chuyện dạy văn” (Tạp chí khám phá, chungta.com).

8. Việt Anh: “Tìm thuốc giải cho bệnh Tiến sĩ giấy” (vnexpress.net).

9. Lan Hương“Tiến sĩ giấy. Chặt như thế nào” (vnexpress.net).

10. BBT da màu trả lời Nguyễn Duy (damau.org).

V. Các web site khác có trích: rfa.org, vienvanhoc.org.vn, vi.wikipedia.org, tapchiktnn.no-ip.info, binhthuan.gov.vn, thndc.org, Lao động số 294…

Xin chân thành cám ơn