Từ Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học Đồ Sơn đến hiện thực Lý luận – Phê bình Văn học Việt Nam và Lý luận – Phê bình Văn học của người Việt hải ngoại.

I. MẶT TRÁI CỦA HỘI NGHỊ: (chuyện vui)

1. Học mẫu giáo, cô… chết:

Đồ Sơn là cái… đồ gì

Mà người ta tới thực thi muốn… quằm?

Đồ Sơn họp mấy võ lâm

Ba trăm hay chỉ hai trăm? Hỡi trời!

Người hào phóng thì cho ”hơn ba trăm” (blog.360com, vietnam.net, nhandan.com.vn). Người… khiêm tốn thì cho “gần ba trăm” (vnmedia.vn, home.netnam, vnn.vn). Kẻ “kẹo” nên cho hai trăm rưỡi” (tiền phong, cifpen.org) hoặc “có tới 200” (health.vnn.vn) hay”Hơn 200 đại biểu” (thotre.com), (cinet.gov.vn, tienphongonline.vnn.vn) tụt xuống con số trên dưới hai trăm. Như vậy, khoảng cách giữa hai và ba trăm chỉ là chữ ”gần” hoặc ”hơn”: Mất toi cả trăm!

Quỳnh Thi trong ”Vài nét ở Hội nghị lý luận… ” (talawas.org) có ghi: ”Trên 300 giấy mời được gửi tới các thành phần tham dự trong cả nước, con số thực dự trên 200 người”. Thì ra là như vậy, con số mời hay có mặt cũng chỉ là phỏng đoán, ước lệ. Những người không tới dự, biết đâu đã… tiên đoán được đôi điều. Vậy thì mất đi ngần ấy gần một trăm người tức là gần 1/3 đại biểu… tẩy chay đại hội võ lâm thì làm gì có cái hội nghị được công nhận là ”thành công rất chi là mỹ mãn”!! như Trường Nhân trong bài ”Nhà văn dụng võ” (voy.com) đã… ”rất chi” là ca ngợi?

Trước đó, một thông cáo rộng rãi đã tung ra: ”Hội Nhà văn Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học lần thứ 2 tại Đồ Sơn (Hải Phòng) từ 8-10/10/2006 với sự tham dự của 200 – 250 đại biểu và khách mời đại diện cho các Hội Văn học Nghệ thuật trong toàn quốc’’ (Tiền Phong, cifpen.org). Hèn chi mà người viết lấy đó làm căn cứ viết theo kiểu phỏng đoán.

Rồi trong ”hơn” hay ”gần” hoặc “khoảng” hai hay ba trăm đó thì cũng lắm chuyện trời cười trời ơi, lắm cái… rơi nước mắt:

Một hội nghị được ”Bộ Văn hóa – Thông tin, Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Liên hiệp VHNT thành phố Hải Phòng” phối hợp tổ chức nhưng lại có người nhìn ra: “song thực sự chỉ Hội Nhà văn là chịu trách nhiệm về nội dung hội nghị” (Người quan sát, diendan.vn). Chẳng biết những tổ chức kia làm cái nhiệm vụ nào của loài ong đực, ong thợ cho con ong chúa đẻ con?

Thế là Hội Nhà văn… lãnh đủ trọn cú “cố đấm ăn xôi” với ngần ấy đại biểu về dự Hội nghị bàn đào với đầy đủ tư cách ra vô, lên xuống, lời qua, tiếng lại thoải mái hết ý!

Họ là ai? Là nhà văn? Nhà thơ? Nhà phê bình? Nhà lý luận? Nhà nghiên cứu? Nhà dịch thuật? Có bài viết trên mạng chỉ ghi: Nhà văn. Chắc có lẽ vì họ nghĩ nhà văn nào rồi cũng thành nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình… hết trọi nên nói tắt cho lẹ. Ngó tới, ngó lui: Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học mà chừng ấy đại biểu thuộc các ngành thì gọi là ”Hội nghị lý luận các vấn đề ngoài lý luận” mới phải!

Nam bộ có đặc thù của Nam bộ là chiếc áo bà ba, vành che nón lá, cái lò cải luơng. Miền Bắc thì áo tứ thân, cái nôi quan họ. Thế thì lý luận văn học có cái áo đặc thù nào khoát lên cho ra vẻ lý luận văn học không? Hằm bà lằng với đầu chiếc nón lá, giữa áo tứ thân, chân mang giày cao gót! Thôi cũng tạm cho là đặc thù tổng hợp của bộ môn lý luận văn học là như thế cho đa đạng, đa năng và… đa hệ!

Hình thức không cứu nổi nội dung. “Cái nết đánh chết cái đẹp” làm xuất hiện “cái đẹp đè bẹp cái nết“. Cho nên, ta im lặng, nhắm mắt mà… thưởng thức những ”cái đẹp” của tư cách đại biểu và ”cái nết” nội dung của những tham luận được vinh dự đọc trong khán trường Đồ Sơn. Có bao nhiêu tham luận? Bao nhiêu tham luận được phát thanh? Bao nhiêu tham luận nằm làm cảnh chơi? Vì sao bài được, bài không như con chồng, con ghẻ chẳng bằng con chung? Cái sàn nhặt thóc ”Tấm Cám” của Hội Nhà văn đã… nhặt được bao nhiêu ”hạt thóc” sau khi những hạt tấm lọt sàn? Những con chim nào đã xơi tái , xơi lụi, xơi bớt những hạt thóc trên sàn của Tấm?

2. Ráng qua tiểu học, đọc mắt mờ:

Tham luận cũng đếm chẳng ra

Người cho sáu chục, kẻ là… sáu lăm?

Tham luận người đọc cũng nhầm

Người không được đọc cũng… lâm trận tiền!

Tham luận là những ý kiến đóng góp xoay quanh nội dung mà một hội nghị đã gợi ý. Những ý kiến đó của cá nhân được ghi thành văn bản cho đẹp mắt, đẹp tay để người đọc tham luận khỏi bỏ quên những ý lớn, chẳng để sót những ý nhỏ. Ngày nay, phương tiện hiện đại, con người “thông thái kiến thức văn học” chỉ được phép… mười lăm phút đồng hồ mà còn phải cầm giấy để đọc y tờ như thời xưa lơ, xưa lắc! Mười lăm phút? Diễn giả đi lên bục, chào… khán giả, mở giấy, tằng hắng lấy giọng trịnh trọng “khủng bố” khán trường bằng ”tia nhìn xéo”, hết giờ thì còn nói được cái chi? Chi phí uống ăn, đãi đằng không tằn tiện thì sao diễn giả nói năng phun ra văn, khạc ra võ cũng quá tiện tằn? Tranh luận mười lăm phút? Tranh luận cái gì?

Chuyện không cười vẫn cứ phải nhếch môi, lời chẳng định nói mà miệng không khép lại! Thế mới khổ! Khổ nhất là những người phóng viên hay những kẻ không chuyên viết báo cáo. Người ta thường nói: ”Nhà văn nói láo. Nhà báo nói thêm” xem ra, thêm, bớt gì cũng thuộc loại văn… báo cả!

a. Từ câu chuyện có bao nhiêu bài tham luận?

Với con số… hóa gió gần trăm trưởng lão thì tham luận cũng… xịt khói chục hay dăm bảy bài.

”Hơn 60 tham luận’’ (mattran.org.vn, gio-0.com). Lại có kẻ cho: “gần sáu mươi tham luận” (vietnam.net) hay chắc chắn: ”sáu mươi tham luận” (tiền phong, thotre.com, mattran.org, health.vnn.vn). Người quả quyết có “sáu mươi mốt bản” (home.netnam.vn) hay ”sáu mươi lăm bản tham luận” (cinet.gov.vn)Một con số nhỏ nhoi cũng không được tính cho tròn! Ban tổ chức không có ai tổng kết bao nhiêu người tham dự thì coi như… cho qua nhưng bài tham luận có bao nhiêu đâu mà đếm không xuể thì… tệ hơn vợ thằng Đậu! Người ta được vinh hạnh đi dự đại hội thì tên tuổi phải đi kèm với bản tham luận cho có là, vậy mà cũng… xảy! Thấy tính xác thật của báo chí mà ớn luôn!

Trong khi đó, Hữu Việt trên tienphongonline.com.vn còn ghi như thế này: ”65 tham luận (gồm bài viết sẵn và tranh luận trực tiếp trên hội trường) trong vòng một ngày rưỡi”. Nghĩa là sáu mươi lăm bài đã được… làm thịt sạch sẽ trong một ngày rưỡi! Hèn chi mà những người có tham luận không được đọc lại được đọc! Trời ơi là trời! Chữ với nghĩa của thiên hạ quá thâm sâu hay là cái đầu Ngọc Thiên… Tai tới thời bị bom chữ nghĩa phá banh cái óc, hiểu không hết những gì mà các văn sĩ viết? Phải bắt chước Nguyễn Tất Nhiên mà rên như vầy: ”Cũng vì em mà thiên tài chán sống! Ta không thiên tài mà cũng bị sét dớt… banh tai!”.

Rồi ai hát, ai hò, ai vỗ tay, ai ngồi chuẩn bị… cây gậy… đập ai? “Cái ná…bắn chim. Cây kim may áo. Trái táo ai ăn. Cái khăn ai mượn” lau nước mắt… tức cười!

Lại cũng bằng phương pháp tính thời học mẫu giáo, cô chết: Người cho hơn ba mươi bài được đọc hoặc chính xác ba mươi bài. Kẻ cho hai mươi lăm bài được ca. Có vị khẳng định hai mươi mốt? Vậy thì tính từ sáu mươi bài đến sáu mươi lăm và hai mươi lăm bài tới ba mươi thì… mất tiêu năm tới mười bài bay hơi vào không khí sau ngày ”Hội chọi trâu” Đồ Sơn!

Đã vậy, người ta còn úm ba la một cái thì tham luận của Chu Văn Sơn mà Trần Ngọc Linh trong bài ”Hội nghị Đồ Sơn và những thùng thuốc nổ” (vietnam.net) viết rõ: ”Người ta trông chờ vào tham luận của các nhà nghiên cứu và phê bình như Văn Giá, TS Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp… Tham luận của TS Chu Văn Sơn không được đọc tại hội nghị” nhưng không hiểu sao Chu Văn Sơn lại đọc bài tham luận của mình trên… qdnd.com mà Nguyễn Hòa trong bài ”Hội nghị lý luận – phê bình văn học lần thứ hai và một số vấn đề đặt ra” có ghi: ”Trả lời câu hỏi ‘Cách tân: đi tìm cái mới hay cái tôi?’ trong tác phẩm văn chương, tham luận của Chu Văn Sơn, với một cách nhìn khoa học khá chân xác đã khẳng định: ‘Một thành phẩm cách tân được xem là giá trị mới bao giờ cũng là một nội dung mới đi liền với một hình thức mới!’”.

Đi kèm là những tham luận của Trần Đình Sử, Lê Thành Nghị, Đỗ Lai Thúy, Lưu Khánh Thơ, Hữu Đạt nhưng Lưu và Đỗ tiên sinh thì… dạo mát đâu đó không dự hội nghị? Trần Anh Thái (qdnd.vn) cũng đăng một đoạn dài tham luận của Chu Văn Sơn và thêm Vân Long là người từ chối đọc tham luận? Quỳnh Thi trên cinet.gov.vn thêm Chu Thị Thơm (thư ký hội nghị) và Hoàng Vũ Thuật với bản tham luận của họ? Vậy những bài tham luận được đọc trích đăng thì không nói gì nhưng tham luận không được đọc cũng đăng trích thì không biết tác giả lấy từ tư liệu nào? Đây là ý kiến hay tham luận tại hội nghị hoặc viết lấy ý lại từ bài tham luận đã đăng trên báo?

Một câu trích, đoạn trích, lời trích nếu không cho người ta thấy rõ nó nằm ở đâu thì coi như tác giả đã chưa thể hiện tính chính xác của văn bản. Rồi võ lâm đồng đạo kiểm điểm tướng tá ba năm trước (Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học Tam Đảo 2003) nay đi về đâu?

b. Những tiếc nhớ… bóng dáng xưa:

Trong Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học lần thứ hai này, người ta lại ghi nhận sự thiếu vắng của những cây bút phê bình cổ thụ“Ngành lý luận, phê bình thiếu những đại biểu như Phạm Vĩnh Cư, Trương Đăng Dung, Phan Ngọc, Trần Ngọc Vương… Ông Phan Cự Đệ ở nhà, ông Hà Minh Đức chỉ đóng góp ý kiến qua báo Văn nghệ Trẻ, cũng không thấy ông Đỗ Văn Khang, tiến sĩ mĩ học kiêm văn học, “ngọn roi” của ngành lý luận trong những ngày đầu đổi mới… Trong số những người sáng tác cũng không thấy nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương và Phạm Thị Hoài thì đang ở bên trời Tây xa xôi. Vậy là: Có cháo dùng cháo, có cơm dùng cơm” (Trần Ngọc Linh, vietnam.net).

Có gì dùng nấy, rau cháo qua ngày! Buồn thay! Một đại hội chớ đâu phải là hội chợ Tết mà hết mặt hàng hột dưa, dùng đỡ hột… é? Thúy Quỳnh công nương và chàng Linh công tử này chắc là lính chưa đi Irag nên nghe bom là sợ mới… né đi một cây bút ho ra lửa, mửa ra tro khét tiếng mà các Giáo sư, Tiến sĩ viết sách giáo khoa hay có bài bị phê bình… ghét muốn… lột da là Trần Mạnh Hảo! Chê ”nó” nhưng tội nghiệp và e dè mấy năm trời cầm súng làm bộ đội cụ Hồ của “nó” nên giữ lại cái tước “Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam” nhưng miễn mời “nó” dự cho khỏi… nổ banh Hội văn nhà? Có một nhà phê bình nói rằng gặp cao thủ võ lâm như Trần Mạnh Hảo thì chỉ… vái mà… chạy! Hắn làm gì mà dữ thế? Thế là cái gì vây cánh kiểu ”bướm bay theo bướm”, ”diều bay theo diều” tung tăng, dung dăng, dung dẽ khi không ai… moi cái mụt ghẻ mình ra! Ở đời:“tránh vỏ dưa thì gặp võ dừa”!

Có lẽ vậy mà hội nghị… bàn dài lần này ở Đồ Sơn ”thừa tham luận, thiếu tranh luận” (viet-studies.org) vì vắng khá nhiều bóng… cây KơNia thời Tam Đảo – Ba Vì? Vậy thì sao mà có thể ”tạo ra đẵng cấp cao hơn” như chàng phóng viên không tên trên mà health.vnn.vn đưa tin mong muốn? Tiền nào của đó. Thời buổi nào, người ta đó. Quyền lực nào, êkíp đó. Đó cũng là một dạng ”lý luận văn học” mà chúng ta không thể nào không trang bị cho mình phòng khi ”hết thời, xuống ngựa, lấy dây thung… bắn ruồi”!

Thế là có một số bài được coi là có giá thì không được chọn đọc như bài của Trần Đình Sử? Theo Thúy Quỳnh ”Đọc tiêu đề bài viết của GS Trần Đình Sử “20 năm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học- Thành tựu và suy ngẫm” tôi nhận xét có cùng chủ đề, tuy nhiên tính chất khái quát và học thuật hơn tiêu đề của ông Nguyễn văn Dân “Lý luận văn học, nhìn lại 20 năm đổi mới”. Chị đã tiếc: “không hiểu tại sao một bài viết quan trọng như vậy lại không được đọc trang trọng tại hội nghị, đăng lên báo văn Nghệ Trẻ hoặc tạp chí Cửa Biển, 2 tờ báo đã phát cho mọi người “trong hội nghị” hôm đó cùng được biết”. Thúy Quỳnh đâu có biết những bài viết có giá trị, có chất trí tuệ là những bài được… cất giấu trong… thùng rác!

Không biết Thúy Quỳnh có tiếc… nhầm hay không chứ tham luận của Trần Đình Sử nếu được đọc tại hội nghị thì nó sẽ bị… mất đi những… mười năm vì bài “30 năm lý luận và phê bình nghiên cứu văn học – Thành tựu và ngẫm nghĩ” của vị Giáo sư Tiến sĩ này đã được đăng trong “Văn học Việt Nam sau 1975. Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy”, Nxb Giáo dục – 2006, trang 38-44. Đây là bài nhận xét về tình hình lý luận từ 1945 đến 1975 hay 1975 đến 2005 chưa rõ ràng lắm. Nếu cắt đi mười năm thì chẳng biết tính từ mốc nào đến mốc nào đây? Hoặc hai bài khác nhau thời điểm nhưng giống nhau cách viết chăng?!

Trong bài viết trong sách đã dẫn, Trần Đình Sử đã ghi nhận ba thành tựu của ngành lý luận văn học:

– Một: ”Phê phán các giáo điều lý luận xơ cứng”.

– Hai: ”Giới thiệu, phiên dịch những lý luận trước đây bị xem như là vùng cấm. Đó là giới thiệu chủ nghĩa cấu trúc, lý thuyết, ký hiệu học, thi pháp học, lý thuyết tiểu thuyết và đối thoại của M.Bakhơtin, văn học so sánh, lý thuyết của chủ nghĩa hình thức Nga, lý thuyết tiếp nhận, giải thích học, chủ nghĩa hậu hiện đại”.

– Ba: ”Vận dụng và sáng tạo những lý thuyết mới trong nghiên cứu và phê bình văn học”.

Nhà lý luận này đưa ra những phàn nàn về những người cũ xưa “ôm lấy quan điểm chính thống năm nào” và một trời hiểu không thấu khi Trần lão gia nâng địa vị lý luận: “Chưa bao giờ thời đại đòi hỏi nhiều về lý luận văn học nghệ thuật như bây giờ. Cái bầu chân không lý luận văn nghệ trên cái nền lý luận cũ vẫn chưa lấp đầy…Yêu cầu thời đại đặt ra cho nhà lý luận một trách nhiệm nặng nề. Anh ta phải vượt qua cái đại dương bao la của tri thức mà hoàn cảnh lịch sử đã làm anh tụt hậu… 

Sau đó, chưa rõ ba mươi năm này là ba mươi năm nào và thành tựu trên lý thuyết nhưng chẳng thấy minh chứng ba cái thành tựu trên, Trần lão gia đã vội vào kết luận: “Lý luận bây giờ chính là con voi mà hầu hết các nhà lý luận Việt Nam hiện đại thường chỉ mới là anh thầy bói đang bắt đầu sờ soạng, kỵ nhất là cái họa đánh nhau toạc đầu chảy máu trong chuyện ngụ ngôn… Lý luận văn học là một ngành khoa học nhân văn. Tính nhân văn không chỉ thể hiện trong đối tượng, phương pháp nghiên cứu, mà còn trong thái độ ứng xử nghề nghiệp. Đây là ngành khoa học đòi hỏi tinh thần tự trọng, tự tôn, tinh thần đối thoại, sáng tạo rất cao”.

Như vậy, theo Trần lão gia thì người viết lý luận hiện nay chỉ là những thầy bói sờ voi. Người này chê người kia. Người kia công kích kẻ nọ. Nhìn chung, các bài tham luận lý luận đều khô queo sợi tóc, héo tàn cỏ cây vì lý thuyết chằng chịt những chủ nghĩa này nọ, mệt óc. Tác phẩm văn học nào trong vòng ba mươi năm nay (chẳng biết mốc thời gian nào!) đã được soi sáng bằng lý luận với ba cái thành tựu trên? Lý thuyết bao giờ cũng là hoa nở trên đường quê hương. Thực nghiệm trên mình những tác phẩm chưa có bao nhiêu thì hoa đã vội tàn! Chưa vui đã sầu chia phôi!

Quay ngược với ý Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phê trong tham luận của mình đã kêu gọi đừng trói mình vào ba cái chủ nghĩa, phương pháp luận, trường phái cứ viết tới. Viết cho ai? Để làm gì? Nếu viết cho mình thưởng thức thì save vào my documents để dành đọc (nếu đánh máy), cất vào tủ (nếu viết tay) cần chi in sách để đụng đầu với Hội nhà văn và dập đầu chảy máu với cái giấy phép xuất bản nằm dài chờ mỏi mệt! Nếu viết cho người ta “thưởng thức” thì “sex” cứ tới tấp là nổi lềnh bềnh như bèo trôi trên sông lũ ngay! Bảo đảm! Tài năng ăn cái… đức đó mà!

“Tài năng mới là quan trọng” như Nguyễn Đăng Mạnh nói nhưng tài năng chẳng chạy khỏi trời như Nguyễn Du đã tóm cái… trúng phốc! Trời cha không ngán chỉ ngán Trời con. Tài năng phải đi với thời thế và coi vào bản lĩnh sinh tồn của đứa con bị bỏ rơi. Không có những cái đó, tài năng chỉ còn:

Gác kiếm, treo gươm ngồi… hận lịch

Quăng nghiên, ném mực đứng… thù trăng!

Chắc Thúy Quỳnh hết chắt lưỡi hít hà vì hội nghị đã bỏ qua một bài mà cô thấy “sáng giá”?

c. Những gương mặt sáng giá hay tối thui lên sân khấu:

Thế thì có tất cả bao nhiêu bài tham luận được đọc hay nói vo tại hội nghị? Đọc và nói vo, phương tiện nào thắng cuộc?

Theo Quỳnh Thi (talawas.org) thì có hai mươi lăm vị được ”ra mắt” công chúng trên hơn hai trăm đại biểu trên hơn ba trăm giấy mời. Còn tổng hợp lại thì có tất cả là ba mươi hai vị. Hai người từ chối đọc tham luận là Ngô Thảo và Nguyễn Gia Nùng. Nhà văn Nguyễn Gia Nùng có bài tham luận ”Thơ mới bắt đầu từ đâu” nhưng nhường mười lăm phút thưởng thí cho người khác. Nguyễn Gia đại lão huynh này (qua phone) nói rằng có hai mươi mốt bản tham luận đã được đọc. Theo Thuý Quỳnh (gio-0.com) cô đọc trên bản đăng ký có năm mươi bảy bài chỉ ghi tên không ghi học vị, chức danh và nơi làm việc. Sau đó, Hữu Thỉnh tổng kết thì lại thòi ra… tám bài nữa thành ra có sáu mươi lăm bài tham luận chẳng chòi!.

Sau đây là danh sách của hai mươi bảy vị theo Quỳnh Thi (talawas.org) mà người viết thêm chút hành tiêu:

1. Nguyễn Văn Hạnh (Nhà lý luận, nguyên Phó ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Đảng, thành viên Hội đồng lý luận văn học nghệ thuật Trung ương): ”Tự do tư tưởng – Tự do sáng tạo và hoạt động văn học nghệ thuật”.

2. Vũ Tú Nam (Nhà văn): ”Coi trọng dòng văn học tư liệu”.

3. Phong Lê (Nhà lý luận, thành viên Hội đồng lý luận văn học nghệ thuật Trung ương): ”Hai mươi năm đổi mới nhìn từ lực lượng viết”.

4. Lâm Tiến: (Phê bình): ”Văn học các dân tộc thiểu số, thành tựu và tồn tại”.

5. Ngô Thảo (Nhà thơ): ”Rất cần các nhà phê bình”.

6. Văn Giá (Nhà lý luận, Giảng viên Đại học Khoa báo chí): ”Sex với những xúc cảm thiêng liêng”.

7. Thuý Toàn (Dịch giả): ”Giới nghiên cứu lý luận phê bình cũng nên quan tâm đến mảng sách văn học dịch”.

8. Nguyễn Văn Dân (Nhà lý luận văn học, PGS.TS – Phó viện trưởng Viện Thông tin khoa học xã hội): ”Lý luận phê bình văn học, nhìn lại 20 năm đổi mới”.

9. Nguyễn Hữu Nhàn (Phê bình): ”Nói thật hay… ”.

10. Lại Nguyên Ân (Nhà lý luận, Giáo sư): ”Phê bình văn nghệ trong đời sống xã hội”. (nguyên văn là ”Phê bình văn nghệ và đời sống xã hội”)

11. Vân Long (Nhà thơ): ”Nhà thơ và công chúng”.

12. Nguyễn Xuân Khánh (Nhà lý luận): ”Tâm sự của một nhà văn với lý luận, phê bình”.

13. Lê Đạt (Nhà thơ): ”Một văn hoá mới”.

14. Nguyễn Khắc Phê (Nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương, Chủ tịch Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên-Huế) ”Đừng lệ thuộc, đừng tự trói mình vào bất cứ ‘chủ nghĩa’ và ‘phương pháp sáng tác’ nào”.

15. Nguyễn Đăng Mạnh (Giáo sư, giảng dạy Khoa Văn Trường Đại học sư phạm Hà Nội1): ”Mấy nhận xét về tình hình phê bình văn học hiện nay”.

16. Inrasara (Nhà thơ ): ”Thơ hậu đổi mới, đã và đang… khủng hoảng”.

17. Thi Hoàng (Nhà thơ): ”Hai mươi năm đổi mới thơ bây giờ… ”.

18. Hoàng Quốc Hải (Phê bình-Nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng bình): ‘‘Những vướng mắc thường gặp trong sáng tác”

19. Hoàng Hưng (Nhà thơ): ”Tự do sáng tạo và tự điều chỉnh của xã hội”.

20. Huệ Chi (Giáo sư) “Tự do sáng tác và lý luận phê bình” (nói vo).

21. Từ Sơn (Nguyên Vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Đảng): Nói vo.

22. Nguyễn Hoà (Phê bình-Quan chức của báo Nhân Dân – cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam): ”20 năm lý luận phê bình, ngày rất gần và chuyện chưa xa”.

23. Bùi Ngọc Tấn (Nhà văn): Không rõ.

24. Phạm Quang Trung (Nhà lý luận): “Rất cần một hệ thống lý luận văn chương dành cho nhà văn

25. Vũ Hạnh (Nhà phê bình): Không rõ.

26. Hoàng Vũ Thuật (Nhà thơ, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình): “Thơ đa đoan và thân phận”.

Hoàng Vũ Thuật và Chu Thị Thơm do Q.T (cinet.gov.vn theo CPT) bổ sung nhưng Chu Thị Thơm không đọc.

27. Phạm Tiến Duật (Nhà thơ): “Ngoại giao quốc gia và đối thoại văn học”.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật do Trần Ngọc Linh (vietnam.net) bổ sung.

Những vị dưới đây do Nguyễn Hoà (nhandan.vn) bổ sung nhưng tham luận không đọc trong hội nghị:

– Trần Đình Sử (Giáo sư) “Hai mươi năm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học-thành tựu và suy ngẫm”.

– Lê Thành Nghi: (Phê bình): “Sáng tạo là vượt qua các giới hạn”.

– Đỗ Lai Thúy: (Giáo sư) “Đối tượng của phê bình văn học”.

– Lưu Khánh Thơ: (Giáo sư)“Giới hạn của sự đọc và phê bình hôm nay”.

– Hữu Đạt (Nhà thơ, phê bình): “Tác động của đổi mới với lý luận và phê bình văn học trong giai đoạn hiện nay”.

– Chu Văn Sơn: (Tiến sĩ) “Cách tân: đi tìm cái mới hay cái tôi?”.

– Trần Nhuận Minh (Nhà thơ): “Tìm con đường mới để đến với bạn đọc”.

– Nguyễn Đăng Điệp: (Giáo sư) “Văn trẻ có gì mới”.

– Hoàng Quảng Uyên: (Nhà thơ) “Nỗi niềm thơ dân tộc”.

– Chu Thị Thơm: (Nhà phê bình văn học, biên tập viên Báo Giáo dục & Thời đại): “Nhà phê bình chưa đặt đúng vị trí”

– Nguyễn Gia Nùng: (Nhà văn) “Thơ mới bắt đầu từ đâu?” (người viết bổ sung).

Người ta chờ đợi một hội nghị đổi mới có chất lượng với những cách nhìn khác nhau về những gương mặt đăng quang trong hội nghị hay đăng đàn trên báo chí, các trang web site. Hình thức nói vo có thể chiếm lợi thế trên văn đàn.

3. Hội nghị lý luận hay hội… gà đá nhau?:

Mời lên, lôi xuống mà… điên

Tham luận, bàn thảo… huyên thuyên lắm điều.

Lý luận thừa thải chữ ”kiêu”

Phê bình thiếu ngữ ”mỹ miều” văn hoa.

Người ta lại vì những từ điên, huyên thuyên, kiêu, mỹ miều dư thừa, thiếu thốn trong hội nghị văng… tức ấy mà… cười!

a. Cười ra… nước mắt vì những thùng thuốc…lép:

Trần Ngọc Linh trong bài ”Hội nghị Đồ Sơn… ” (vietnam.net) cho rằng những bài tham luận là những thùng thuốc nổ” . Ví von cho vui hay mỉa mai khôi hài cũng làm người đọc… giật thót! Những thùng thuốc nồ ấy là ai? Vì sao gọi họ là những thùng thuốc nổ? Thuốc nổ này có làm chết hay bị thương cho ai?

Thùng thuốc nổ thứ nhất là: Lại Nguyên Ân. Phóng viên ghi nhận có tiếng xầm xì nổi lên: “Lại Nguyên Ân cũng được đọc báo cáo, khá quá” và xì xào: “Lại Nguyên Ân mà được lên đọc thì chắc Hoàng Hưng cũng được đọc”. Lời bàn tán này ”chết người”! Lại Nguyên Ân mà ”được lên đọc?” nghĩa là, ông ngoại này có gì ngon trong óc mà được bê lên? Tức là chê! Cái sự chê này lan sang Hoàng Hưng dù Hoàng Hưng được… nâng một cấp ”chắc Hoàng Hưng cũng được đọc”. Như vậy, Hoàng Hưng không được đọc thì Lại Nguyên Ân sao có thể đọc?

Thùng thuốc nổ Hoàng Hưng nổ chưa hết mùi thì thùng thuốc nổ Bùi Ngọc Tấn đã… ì xèo bụp… ”cướp diễn đàn”. Không biết Trần Ngọc Linh quan sát như thế nào với cặp mắt Dương Tiễn mà nhận xét… kinh thế? Từ “cướp” làm người ta nhớ thời 1945 “Việt Minh cướp chính quyền”!? Người lên đọc tham luận hay nói vo thì chỉ được mười lăm phút thưởng thí. Họ có mời mới được lên chứ, sao lại “cướp“? Té ra, vì quan Thái sư họ Bùi này chỉ tranh thủ trút phẩn nộ về cái việc Bộ Văn hoá – Thông tin tàn nhẫn khi mang cuốn tiểu thuyết: “Chuyện kể năm 2000” của mình (qua hóa thân nhân vật Tuấn ở tù năm năm) ”thu hồi và nghiền thành bột ngay sau khi in ra” nhưng Hội Nhà văn không “cứu bồ” mà “Người quan sát” trong bài ”Chưa đi chưa biết Đồ Sơn” (diendanvietnam.net) đã ghi lại. Chẳng khác nào bà mụ đỡ đẻ… nghiền nát em bé mới sinh. Ác gì ác bằng đó mà! Đấy mà nói không ”thù”, không ”hận”, không ”giận”, không ”nổ bom nghìn tấn” vào Hội Nhà văn thì nổ vào đâu? Bùi Ngọc Tấn tranh thủ… xén vài phút để phanh thây, mổ bụng mình cho thiên hạ cùng xem cho hả cơn hận người cùng hội, đội cùng mũ lại đi… giết mất đứa con! Tức là nhắc lại vụ việc ngày 16/03/2000, cuốn sách ấy bị tịch thu và nhà xuất bản Thanh Niên bị kiểm điểm. Trước đấy, năm 2005, tại hội nghị văn học Hải Phòng, Bùi Ngọc Tấn cũng “kiến nghị” như thế nhưng chẳng ăn nhằm gì! Hội Nhà văn quả thật đã không biết cái gì gọi là “can trường thốn đoạn?”. Người không đau đớn thì làm sao gọi là Người? Cha không nóng mặt vì con thì sao gọi là cha?

Thùng thuốc nổ mà người ta chờ đợi… nổ cho tan tành cái khán trường là Nguyễn Hòa thì thùng thuốc nổ Nguyễn Hòa chắc bị rớt xuống biển Đồ Sơn nên chỉ… nổ lách chách thay vì nổ… đùng đùng! Vậy mà miểng đạn cũng văng tới Huệ Chi là cũ ”tư tưởng”, văng tới Hoàng Hưng ”tự do sáng tác cũng chỉ là vài ba tác giả” nghĩa là “biết rồi, khổ lắm, nói mãi“, dai như… cao su” và văng tới Bùi Ngọc Tấn ”Chuyện kể năm 2000” mà in ra thì tới nay sẽ ”có rất ít người đọc”.Thế nhưng Nguyễn Hòa đâu có biết, những nhà phê bình ở hải ngoại lại “ca ngợi” tác phẩm này tới bến như Thụy Khê, Lê Minh Hà (chimviet. Fee.if, dactrung.net) và được đăng nhiều web site. Trong văn học, những gì trong nước cấm, lên án, tịch thu… thì ở hải ngoại rất “hoan nghênh”. Do đó, tác giả, tác phẩm muốn nổi tiếng ở hải ngoại thì cứ tìm cách “chọc giận” nhà nước Việt Nam! Chiêu thức ấy mà!

Nguyễn Huệ Chi trong tham luận ”Tự do sáng tác và lý luận phê bình” đã công nhận giá trị của đứa con bị nghiền thành bột của Bùi huynh đệ: ”Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải và rất nhiều tác phẩm khác, hầu như người nào trong chúng ta cũng đều đã đọc và thấy rõ giá trị”. Câu khẳng định chắc như bắp này đã… đá giò lái câu của Nguyễn Hòa rồi còn gì? Ai cũng đọc đấy, vậy mà Nguyễn Hòa nói “rất ít người đọc”? Khi người ta bị nghiền thành bột thì coi như… tan xương nát thịt hết đường đầu thai luôn! Còn văn chương, càng ”nghiền thành bột” hay xây ra cốt, hốt ra hơi thì càng bất tử! Tức là tự sống dậy theo bài ”Quốc tế ca” ba que xỏ lá: ”Vùng lên! Hỡi những cái gì bị cấm hay de. Vùng lên! Những ai trong thế bị đè! Vùng lên!… 

Uí chào! Rồi miểng đạn Nguyễn Hòa hình như… chém chưa đủ số nên… power còn mạnh quá, mảnh văng luôn vào các nhà phê bình, nghiên cứu văn học với cái câu ”Tiên trách kỷ. Hậu trách nhân” để mang tiếng ”háo danh, vụ lợi”! Thế là thùng thuốc… nước này đã làm… ướt mẹp bộ comlê của các vị bô lão nên Trần Ngọc Linh… dếnh cho một câu bình: ”Trong và sau khi ông Nguyễn Hoà phát biểu, một số đại biểu ở dưới ngạc nhiên, từ ngạc nhiên đến thất vọng, thậm chí bất bình” nhưng không thấy các trưởng lão các bang phái văn sử dụng… võ mà… nện Nguyễn Hòa như trường hợp Bùi Bình Thi thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với Đào Thái Tôn sau hội nghị! Chắc là ngán Nguyễn Hòa có bà con với… Nguyễn Tấn Dũng?! Hay vì Nguyễn Hòa bỏ đao để thành Phật nên súng ống gì cũng quăng ở nhà hết trơn chỉ đem một… súng lục nhưng hai trái đạn… lép!

Trần Ngọc Linh sau đó, hứng chí, tung ra mấy dòng đẹp mắt người dưng, rưng rưng mắt ta: ”Thay vì không khí họp “chợ” như buổi sáng hôm trước, ban tổ chức đã khéo léo phát không báo Văn nghệ Trẻ cho các đại biểu, nhiều người biết trước và chỉ cho nhau trang 14–15, có hai bài trao đổi giữa ông Nguyễn Hoà và ông Trịnh Thanh Sơn… ”. Hô hô hô… ! Đúng là cú gỡ gạt ngoạn mục của Hội chợ văn buổi sáng. Ngọc Thiên… Tai bỗng nhiên… ôm bụng…

Trúng miểng đạn chăng? Không! Trúng mìn cóc chăng? Không! Trúng mìn cóc thì ôm chân chớ sao ôm bụng! Trúng gió chăng? Không! Hay đau ruột thừa? Ruột thừa mổ… đầu năm rồi! Vậy sao ôm bụng? Ngọc Thiên… Tai bị hỏi mãi, tức quá, hét:

– Tại vì bần tăng đang… cười bể bụng nèèèèèè!: ”Vậy là gần 300 đại biểu cúi đầu xuống đọc, và cả khán phòng biến thành một thư viện”Giọng văn Trần Ngọc Linh tỉnh khô. Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học bắt đầu… mặc niệm từ đó!

Chao ôi! Quang cảnh… thiêng liêng

Khán trường không Phật mà… ”thiền” mới linh!

Người trên bục, nổi lôi đình:

– ”Trời sao không đánh cầm tinh, lũ mày!”!.

Ngoài kia, biển Đồ Sơn sau vụ tai tiếng động trời, dậy đất ”tham nhũng chia chát đất đai” lớn nhất nhì Hải Phòng, lại êm đềm vỗ sóng… Không biết có ai ở hội nghị Đồ Sơn ”ăn chay” để mà cầu phước cho bá tánh miền Trung thoát khỏi thiên tai, bão lụt hay không mà cơn bão Xangsane vừa đi khỏi thì cơn bão Cimaron cấp 14 đội trời mà đến. Còn ngày ấy, các trưởng lão trong khán trường Đồ Sơn – Hải Phòng thì đang có… bão lòng!

b. Cười ra… máu, đấu ra… bia:

Hai cao thủ boxing ở hạng cân nặng và nhẹ không chuyên là Bùi Bình Thi và Đào Thái Tôn đã thượng đài ở trên chiếc xe 16 chỗ ngồi không cần trọng tài chính hay phụ gì ráo! Kết quả: Hạng cân nhẹ:

Thái Tôn… kỵ Bình Thi

Bình Thi… mã song phi

Trọng tài bất đắc dĩ có mặt tại trận chiến không cân sức từ boxing chuyển sang đô vật này là Hoàng Quốc Hải, người đã phát giác túi xách của Bùi thái sư mở toách với… Ngọc Thiên… Tai lại… ôm cái bụng… khi trong túi xách của Bùi thái sư mở toách có…”5 chai bia Hà Nội” mà Huệ Chi thấp người, to họng đã hét lớn: ”Bia ăn cắp ở hội nghị”. Trời! Thánh thủ thần thâu ”Sở Lưu Hương đạo soái” hay Thần thâu Lôi Nhị trong ”Thất thập ma kiếm” hiện hình tại hội nghị Đồ Sơn? Nhưng những chai bia Hà Nội trong giỏ xách của Bùi Phó Giám đốc Trung tâm Quốc học đâu khơi khơi chỉ chứng Bùi gia… chôm chĩa bia hội nghị? Biết đâu, cơ thể Bùi thái sư ấm lạnh khác thường nên mang theo nhiên liệu để đốt bầu nhiệt huyết mà đọc tham luận như người thợ uống mắm khi lặn ấy mà! Huệ Chi sư phụ chớ có hét ầm như thế mà bà Nguyễn Thị Thanh Hương, chủ Công ty cổ phần bia Hà Nội – Hải Phòng… trước cười tí te vì ”thứ ngon mới chôm, ai đơm thứ thúi”, sau đó, long lanh nước mắt! Ai cũng ”chôm bia” như thế thì bà có mà… khai phá sản!

Kể chuyện đó xong, Trường Nhân trong ”Nhà văn dụng võ” (voy.com, thongluan.org) thêm rằng ”ông Tôn và ông Mai Quốc Liên mấy tháng nay kiện nhau và lôi nhau ra toà vì chuyện đạo văn… Ông Bùi Bình Thi lại mới tái hồi làm phó giám đốc Trung tâm Quốc học cho ông Mai Quốc Liên. Trước đây ông Thi đã là phó cho ông Liên nhưng cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt nên ông Thi bảo không thèm làm với thằng lưu manh. Nay vì ông Tôn kiện nên ông Liên cần có cái thân hình hộ pháp ấy hộ vệ cho mình; bèn lại mời ông Thi làm phó. Ông vệ sĩ to đùng không ngờ đã bị Tôn tiên sinh tí hon cho nốc ao ngay từ trận đầu”.

Ngọc Thiên… Tai… ôm bụng tiếp vì: ”Ông Tôn còn đánh rụng cái Giải thưởng Nhà nước về Văn học của ông Mai Quốc Liên. Cho nên cuộc ẩu đả này không phải ngẫu nhiên mà có”. Vì cái giải thưởng văn học mà Bùi thái sư chịu đòn dùm cho Mai tiên sinh thì sự hy sinh này ”ý nghĩa” quá. Mới nói: Giám… đốc chứ không giám làm. Bùi thái sư dám làm, không cần dám… đốc. Thật dũng cảm! Nhưng mà xét lại, nếu giải thưởng to tác thế mà Chu Văn Sơn đã không… ”song kiếm hợp bích” cùng Văn Giá… uýnh cho chết cha Trần Mạnh Hảo vì Trần… phá đám này cũng đã dùng chiêu ”song cước”… đá bay cuốn ”Ba đỉnh cao Thơ Mới” của họ Chu ra khỏi vòng chung kết giải thưởng lý luận văn học năm 2003? Xem ra, cùng một nguyên nhân mà hai bên kẻ động, người thủ. Họ Chu kia không mang tiếng hèn, họ Trần nọ được thơm danh dũng. Người liêm chính không lấy văn trường làm tham trường xưa này đều không thể động tay động chân như thế cả!

Tài sắc tương đố. Văn chương có số. Người xưa nói đâu có sai! ”No mất ngon. Giận mất khôn” lời khuyên này đâu chỉ dành cho con nít! Than ui! Cái người may mắn hôm ấy chính là… Ngô Thảo. Lẽ ra, Bùi Bình Thi… nện Ngô Thảo mới đúng vì cái tội ”mày dám chơi khăm tao biểu tao đi xuống trong lúc tao đang nói… say sưa. Khi mày lên đọc, tao có réo mày cút đâu?”.

Cười xong, đau cuống họng! Cười với những câu chữ dí dỏm, cười những mẩu chuyện về nhà thơ dân tộc Inrasara không chịu đi thang máy, bắt phóng viên chạy theo đến tầng thứ sáu của khách sạn mệt lè lưỡi là vui. Cười nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hết giờ cho phép, được ban tổ chức nhắc nhở, lại hỏi đại biểu có hai trang nên đọc nữa không rồi mất luôn bản copy nên thấy cô nào phóng viên, Trần bá bá cũng chạy theo đòi… là cái cười thông cảm.

Người ta cũng cười… trong đau đáu con tim vì chút gì đó mất mát nhân cách khi những nhà văn lại đi xếp hàng để phóng viên… chụp hình! Cần phô mặt trong ống kính đến mức vậy sao? Trong những cái cười… ra nước mắt ấy, người ta lại thấy những đại biểu tại hội nghị Đồ Sơn đã đánh mất chính mình mà Ngọc Linh (web đã dẫn) phê phán: “Một hiện tượng dễ thấy ở hội nghị lần này là thái độ trưởng giả và thiếu nghiêm túc của một số đại biểu. Ông Phạm Quang Trung sau khi đọc tham luận của mình đã “chê” ông Nguyễn Văn Dân là đã đọc chính bản tham luận đăng báo Văn nghệ mấy số trước đó”.
Hình ảnh Ngô Thảo la ó trong hội trường kêu réo Bùi Bình Thi xuống với những lời nặng tính coi thường, thiếu hàm tế nhị qua lăng kính phóng viên của Trần Ngọc Linh: ”ông Bùi Bình Thi đang phát biểu dở thì ở dưới nhà thơ Ngô Thảo nói vọng lên: “Thế thôi! ông mà còn phát biểu nữa là chúng tôi về đấy!” ông Bùi Bình Thi nói vọng xuống: “thế lúc các ông lên nói thì tôi có cản đâu?”, cử toạ ồn ào: “Thôi, về thôi”. Người đọc… lắc đầu!

Người ta thường đánh giá con người qua tư cách mình biểu hiện hay tỏ thái độ trước một vấn đề gì. Ví dụ, cười hể hả cũng nhớ nhìn chung quanh, phát ngôn linh tinh cũng dòm chừng người bên cạnh và tiêu chí đánh giá chính xác nhất là mình đã có thái độ, cử chỉ nào với đối tượng mình… không ưa? Trong khán trường lúc ấy, giá như Ngô Thảo không đánh mất chính mình và cử tọa không hùa theo có lẽ người bị chí trích là Bùi Bình Thi vì đã có bài tham khảo có lẽ khó hợp với hội nghị, ít chui lọt vào tai người nghe. Bây giờ thì ngược lại, người mẹ tát con ngay trước mặt người ta khi con hư thì người ta sẽ nhìn vào mặt người mẹ?! Cá nhân anh hùng không đúng chỗ làm khổ thanh danh! Thế mới nói: Chiến thắng bản thân mình mới là chiến thắng vĩ đại nhất, vinh quang nhất!

Ngoài hội trường tức là dù ra ngoài sự kiểm soát của hội nghị nhưng còn có công an, cảnh sát mà nhà văn còn dụng võ thì thử hỏi trong sân nhà, mấy trưởng lão đã thể hiện một tinh thần ”rất chi là”… tự do muôn năm dưới bất cứ hình thức nào! Tư cách đại biểu của những người đi dự hội nghị có những biểu hiện sau đây:

– “Bài tham luận của ông Hạnh… Mới đến nửa chừng của bản tham luận đã bắt đầu mất trật tự. Có ai đó nói: “Về hưu rồi ông mới bàn đến tự do. Nếu trước đây biết nghệ sĩ không có tự do thì không đẻ được thì ông thôi nhiệm Phó ban Tư tưởng Văn hoá Thành phố mới phải”. Lại có người bảo: “Con người ta là tiến hoá hàng ngày. Cổ nhân từng nói ‘kẻ sĩ ba ngày không gặp, đã khác’ đấy thôi”. Tức là vi phạm tư cách “phát biểu linh tinh”, đánh mất chính mình là thế!
– Không thèm vào ngồi nghe tham luận“Tôi cũng phải nhắc đến không khí hội nghị trong bài phát biểu tham luận của Phạm Quang Trung: “Rất cần một hệ thống lý luận văn chương dành cho nhà văn”. Ban đầu, cũng chuyện ai người ấy nói với bạn ngồi bên, ồn ào và phân tán. Nhưng khi Phạm Quang Trung nói được nửa chừng… thì đã 6 lần bị hội trường vỗ tay kèm theo tiếng hô “Thôi!”, “Thôi, xuống đi. Dưới này không phải là học sinh của ông ở Đà Lạt đâu!” (Quỳnh Thi ”Vài nét ở Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ II”, (talawas.org). Sao không có ai rao bán kẹo cao su trong khán trường nhỉ?

Người quan sát cũng “chộp” được cảnh này: ”Rõ ràng là những vấn đề đưa ra quá rộng, quá tản mác, quá lý thuyết, không đánh trúng sự quan tâm thực sự của giới cầm bút hoặc không có gì mới đã làm cho những người tham dự bỏ ra ngoài hội trường khá nhiều”. Trần Ngọc Linh ghi nhận bằng giọng văn miêu tả… tỉnh khô: ”Để làm dịu không khí hội thảo, nhà thơ Phạm Tiến Duật lên đọc một bài tham luận có tiêu đề: Ngoại giao quốc gia và đối thoại văn học. Lại thêm một số cử toạ nữa bỏ ra ngoài.”. Cặp mắt của nam giới khi nhận xét vấn đề còn vô tư nhưng nữ giới Quỳnh Chi ”Vài nét ở Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ II” (talawas.org) cũng nhận thấy y sì: ”Nhà văn Bùi Bình Thi khiêu khích “20 năm đổi mới chúng ta khinh tiếng Việt, văn trẻ, ví dụ như bóng đè là chối bỏ lịch sử, chối bỏ truyền thống ..” Một số đại biểu phía dưới nói vọng lên: “Ông mà nói nữa.. chúng tôi về”Quỳnh Chi dùng từ “khiêu khích” có thỏa đáng chăng?

Trần Ngọc Linh trong bài: ”Thấy gì qua Hội nghị Lý luận Phê bình VH lần II? (vietnamnet.vn) thêm: Các cử tọa ở trong thì ai cũng chọn cho mình một người bạn để trò chuyện. Báo cáo viên cứ đọc, đoàn chủ tọa cứ nghe và cử tọa cứ trò chuyện… Vẫn là những bài tham luận được các tác giả đọc, nhưng buổi chiều là một không khí mới, dẫu trong khán phòng của hội nghị chỉ còn khoảng một nửa số đại biểu có tại hội nghị, còn nửa số đại biểu người ta không biết … đi đâu (?)”.

Tức là chẳng ai thiết tha gì tới diễn giả, không thèm quan tâm đến diễn đàn?! Đi “hóng gió” biển chứ đi đâu?

Trần Anh Thái trong bài ”Hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ hai: Tiếp tục đổi mới và sáng tạo” (qdnd.vn) nhận xét tương tự: ”do phải làm những thủ tục về công tác tổ chức và lễ nghi xã giao kéo dài nên thời gian thảo luận rất ít. Một số ý kiến phát biểu khá mờ nhạt, đơn điệu, lối tư duy chưa thật phù hợp với sự phát triển chung của nền văn học nên không tạo được ấn tượng. Không ít đại biểu tỏ ra thất vọng, bỏ ra ngoài bờ biển đi dạo vì không khí thảo luận chùng nhạt”. Dù Trần Anh Thái đã “tốt bụng” cho một lý do khiến người ta bỏ ra ngoài nhưng cũng không thể nào biện minh cho những đại biểu đó là ”có tư cách” bỏ ra ngoài vì lý do chính đáng!

Đấy! Hễ nói chưa hay vừa lòng mình một tí là… dãy nãy lên, đòi tẩy chay ngay hay bỏ ra ngoài kiểu:

Ngồi chi nghe nó,

Bỏ ra hóng gió.

Có nó không ta

Ra ngoài ngâm nga

Có ta không nó!

Phe phái rồi còn gì! Cục bộ rồi còn chi! Cho nên, Quỳnh Thi bất bình: “cũng xin những ai không muốn nghe, không muốn thấy những gì diễn ra trong hội nghị (vì nó chưa hoàn chỉnh, chưa hấp dẫn) thì đừng đến. Đến như thế vừa mất thời giờ của bản thân lại tốn tiền của nhà nước. Và tôi cũng muốn nhắc đến những người đã không đến, dù được mời nhưng đã gửi tham luận, đã đóng góp ý kiến trên các trang báo. Có lẽ họ bận một công việc nào đó quan trọng hơn… Đọc những tham luận, những ý kiến đó tôi nghĩ, có thể họ đã đoán ra cái không khí tôi vừa kể, cho rằng ở nhà còn hiệu quả hơn lại không mang tiếng tiêu tiền của dân. Vâng, kinh phí hội nghị do nhà nước cấp. Tiền nhà nước là do dân đóng thuế mà có, chứ ở đâu nữa nào?”

Một sự bất bình có lương tâm của người cầm bút. Có mấy ai đã lên tiếng nói thật lòng được như cô? Người tiêu tiền của nhân dân cần nên tự hỏi mình đã đánh mất gì là của mình ở Đồ Sơn? Lời phê bình của Quỳnh Thi rất xác đáng dù phải cho người ta uống thuốc đắng, dù phải mất lòng! Nếu lời phê này mà… xạ vào các ông to hơn, có lẽ, Quỳnh Thi “jopless”!

Những phản kháng của người trong cuộc như thế buộc người ta phải nhìn lại khâu tổ chức và nội dung những bản tham luận bị coi là chưa đạt yêu cầu. Tìm hiểu vì sao người ta thích hay không muốn nghe tham luận là việc làm cần thiết để hội nghị lần sau có kết quả hơn: Chính là cách viết bài như thế nào khỏi khô khan? Tức là phong cách viết! Phong cách nói chuyện cần cải cách, cần “cách tân”!

Còn nụ cười nào cho một hội nghị lý luận văn học ở Đồ Sơn được gọi là ”thành công rất chi là mỹ mãn”? Đây mới là phần chính của cái cười ra nước mắt, chắt ra nước gừng. “Gừng cay, muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Nghĩa là làm gì thì làm, nói gì thì nói, hễ có hội nghị về văn học là có ”nhóm” chúng ta. Từ đó, ”Lý luận thừa thải chữ ‘kiêu’. Phê bình thiếu ngữ ‘mỹ miều’ văn hoa” của Ngọc Thiên… Tai mới xuất hiện.

II. MẶT PHẢI CỦA HỘI NGHỊ:

Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học Đồ Sơn: Thành công hay… thành gió?

1. Lý luận văn học và chức năng:

Sáng tác là công trình, là sản phẩm của trí tuệ. Sản phẩm, công trình này khi được thảy ra chợ trời cá cược thì thành ra đấu trí văn chương, thương trường chính trị. Một tác phẩm được coi là sản phẩm của trí tuệ chưa chắc đã là sản phẩm của văn học. Tác phẩm chỉ có thể trở thành tác phẩm văn học đích thực khi nó được cơ sở lý luận văn học soi sáng như không có mặt trời, trăng không thể sáng, trăng ơi!

Vậy thì những thuộc tính nào của lý luận mà tác phẩm văn học được soi sáng?

a. Tính dân tộc, tính nhân dân: (Gồm các tính khuynh hướng, tính tư tưởng, tính hiện thực, tính nhân văn… )

Con người là một phần tử của xã hội. Con người sống không thể xa rời tập thể. Tập thể tạo thành một cộng đồng, một quần thể có những sắc tộc, nhiều tiếng nói, chữ viết khác nhau nhưng phải có một tiếng nói, chữ viết chung. Ở nước Mỹ, hợp chủng quốc tới hàng trăm ngôn ngữ khác nhau nhưng tiếng Mỹ, chữ Mỹ là tiếng bắt buộc chung. Việt Nam có hơn 60 dân tộc thiểu số nhưng tiếng Việt, chữ người Kinh bắt buộc phải chung. Không có một sản phẩm trí tuệ nào mà thoát ly khỏi hệ thống những thuộc tính văn học này nhưng cách phản ánh có trung thực và thẩm mỹ hay không còn tùy vào tài năng và sự nhạy cảm có bản lĩnh của người cầm bút.

Dân tộc nào, con người đó. Một tác phẩm không phản ánh được bản sắc dân tộc mình với ba thời kỳ quá khứ, hiện tại và tương lai hay phản ánh một cách không trực diện, tô hồng hay bôi đen thì chưa thể coi là tác phẩm văn học.

Bản sắc dân tộc là gì?

– Là những truyền thống của chính dân tộc mình đã có. Với dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước, yêu quê hương, là những hy sinh âm thầm để có đất nước nghìn năm. Bản sắc này mang tính chất truyền thống qua từng trang lịch sử chống ngoại xâm không phải nước nào cũng có.

– Con người Việt Nam chịu thương, chịu khó: Đàn ông giữ nước kiên cường. Đàn bà đánh giặc, đảm đương việc nhà. Sự thông minh và lòng nhẫn nại vượt khó, vượt khổ là những đức tính cần có khi tạo ra một sản phẩm văn học.

Một tác phẩm không phản ánh được những bản chất chung đó, coi như tác phẩm chỉ là sản phẩm trí tuệ của riêng mình. Một tác phẩm là sản phẩm của văn học khi nó thực hiện đúng chức năng giáo dục của nó.

b. Tính giáo dục: (Giáo dục bằng các tính thẩm mỹ, tính hình tượng, ngôn từ, ngôn ngữ văn học…):

Đây là thuộc tính văn học có giá trị lớn nhất và đầy đủ chức năng, tư cách để soi vào một sản phẩm của trí tuệ mà đánh giá sản phẩm ấy có phải là sản phẩm của văn học hay không?

Nhận thức giáo dục bao giờ cũng đi chung với giá trị thẩm mỹ. Cái đẹp của một tác phẩm văn học là cái đẹp của sự nhận thức có tính giáo dục. Xa rời thuộc tính giáo dục, sản phẩm của trí tuệ chỉ như con cá chép mới mọc hai râu chưa thể hóa rồng.

Vì sao phải đặt nặng tính giáo dục?

Dạy con từ thưở còn thơ. Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”. Xã hội nào, con người nấy. Giáo dục nào, sản phẩm trí tuệ nấy. Cái hay, cái đẹp trong tâm hồn của con người chỉ được phát sáng khi được hun đúc bằng tình yêu nhân loại: ”Một miếng khi đói bằng một gói khi no”.

Giáo dục trong tác phẩm là nhân vật mà tác giả đã xây dựng, là tình huống mà nhân vật sinh sống, là lời văn mà tác giả cân nhắc khi cầm bút. Văn phong dung tục, nhân vật thoát y, tình tiết hoang tưởng, chi tiết hoang đường không có cội nguồn, không tường gốc rễ là thuốc độc cho mình và cho người. Đọc một sản phẩm của trí tuệ mà người ta chỉ muốn đi… giết người, muốn đi… hiếp dâm hay hoang mang tư tưởng, không thấy cái tốt mà vịn tay vào để bước tới, chẳng thấy cái đẹp để nâng bỗng ước mơ bay lên mà chỉ thấy sương mù hiện tại và tương lai âm u với “cái tôi” nhỏ bé thì làm sao gọi sản phẩm đấy là tác phẩm văn học?

Một tác phẩm có tính giáo dục khi nào người ta đọc vào với hai chiều liên tưởng tốt và xấu đi cùng nhau nhưng người ta thấy được niềm hy vọng dù đó chỉ là một tiếng mưa rơi, dù đó chỉ là một vầng mây ấm, là tia nắng hé giữa trời đông, là một nụ hồng sau cơn giông sót lại. Nghĩa là hướng được con người về với chính mình với những cảm xúc không phải là những thèm muốn chém giết hoặc phỉ báng quê hương, chà nát lương tâm con người, bôi nhọ hay đưa con người trở về thời ăn lông, ở lỗ. Hướng xây dựng nhân vật phản diện cũng là một cách giáo dục nếu tác giả biết quay mũi giáo ngắm vào mục tiêu của mình: Muốn gởi gấm ước mơ gì qua hình tượng nhân vật phản diện này?

Một tác phẩm chỉ được gọi là văn học khi nào nó làm được những chức năng trên. Chệch ra ngoài quỹ đạo của chức năng văn học thì coi như tác phẩm tự tách lìa tính dân tộc, tính nhân dân và tính giáo dục thì làm sao mà có được tác phẩm “lớn”?

Ngoài ra, những chức năng khác của lý luận văn học để soi sáng tác phẩm như tính quần chúng, tính tư tưởng, tính người, tính nhân đạo thì cũng nằm trong hai thuộc tính trên mà thôi. Trong “Từ điển văn học, bộ mới”, Nxb Thế giới – 2005, các nhà nghiên cứu, Giáo sư, Tiến sĩ lý luận văn học như Lại Nguyên Ân, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân Nam, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Hữu Tá… đã phân tích rất rõ về hệ thống lý luận văn học này dù có nhiều điều mang nặng “tầm chương trích cú”.

Nguyễn Văn Dân trong bài tham luận của mình có một đoạn đã nhận xét tương đối có tính lý luận văn học về mối liên quan giữa sáng tác và phê bình “Nếu không có một hệ thống lý luận mạch lạc và khoa học, thì nó có nguy cơ dẫn đến mâu thuẫn giữa lý luận và phê bình. Sau đó là nguy cơ dẫn đến phê bình và sáng tác. Và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến công việc sáng tạo văn học. Một hệ thống lý luận khoa học chặt chẽ sẽ soi đường cho một nền phê bình có sức thuyết phục. Một nền phê bình có sức thuyết phục sẽ tạo ra một bầu không khí tin cậy và hợp tác giữa phê bình và sáng tác. Phê bình không dựa vào lý luận sẽ không có sức thuyết phục, từ đó có nguy cơ làm cho sáng tác quay lưng với phê bình. Chỉ có tài năng nhạy cảm phê bình dựa trên lý luận khoa học chặt chẽ thì chúng ta mới có được những đòn bẩy làm xuất hiện những tác phẩm văn học chất lượng cao”. (QT, cinet.gov.vn).

Vậy thì Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học Đồ Sơn đã xác định nội dung cho các bản tham luận xoáy quanh về nó chưa? Nếu một Hội nghị Lý luận – Phê bình Văn học nhưng chỉ có lèo tèo dăm bài lý luận mà cũng chẳng có tác phẩm trí tuệ nào được mang ra để mặt trời lý luận soi sáng thì hội nghị này nên gọi là hội nghị văn học ngoài lý luận mới đúng.

2. Áp dụng vào Hội nghị… lý sự:

a. Khí thế áp đảo hay tham luận ngược ngạo:

Người ta nhận thấy bóng dáng của những khuôn mặt lý luận văn học trong hội nghị này ở thế ”bị áp đảo” bởi các bộ phận khác nên dù chiếm 1/3 đại biểu mà tham luận lý luận văn học thì chỉ… lèo tèo dăm bài đá qua lý luận một tí rồi còn lại nói đâu đâu!

Chuyện áp đảo với số người không gì lạ bằng hội nghị lý luận của lý luận mà lại vỏn vẹn sáu bài mang sắc áo lý luận trong đó lại có hai bài… mồ côi vì cha mang con… bỏ chợ là Hoàng Ngọc Hiến và Đỗ Lai Thúy.

Như vậy, chỉ còn lại những cây bút lý luận văn học như Nguyễn Đăng Điệp nhưng tham luận của Nguyễn Đăng lão trượng bị chê là không gì mới” tức là cổ lỗ sĩ. Chỉ còn lại bốn tham luận của Nguyễn Đăng Mạnh, Hữu Đạt, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Văn Dân nhưng theo Trần Ngọc Linh thì Phạm Quang Trung chê bài Nguyễn Văn Dân ”đọc lại bản tham luận cũ”. Trong khi đó, theo Quỳnh Thi tường thuật thì Phạm Quang Trung đã… được cử tọa ngứa gan… mời xuống đúng ”sáu lần”! Một bài tham luận mười lăm phút mà chừng ấy la ó thì coi như… vứt! Ta cần xét lại có đúng như thế không?

“Những cây bút lý luận văn học mà người ta chờ đợi mà Ngọc Linh phản ánh như Văn Giá nhưng Văn Giá hiền lành còn Chu Văn Sơn với ”Cách tân… ” thì Chu Tiến sĩ này không được mời đọc.

Thật ra, đề tài “cách tân” thử nghiệm đã có từ lâu. Chu Văn Sơn đã viết một đề tài về nó trên Tạp chí văn học Hội Nhà văn số 12 – 2004: “Thanh Thảo, nghĩa khí và cách tân” (in lại trong “Văn học Việt Nam sau 1975”, Nxb Giáo dục-2006) về cách tân trong thơ. Còn Nguyễn Bích Thu thì tìm hiểu nó trong tiểu thuyết “Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975” (“Văn học Việt Nam sau 1975”, Nxb Giáo dục-2006) với sự ca ngợi cách tân về cái gọi là “không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình yêu nhục thể là một lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân. Miêu tả những con người tự nhiên, khai thác yếu tố tích cực của con người tự nhiên cũng là một khía cạnh nhân bản của văn học”.

Chẳng hiểu khái niệm “con người tự nhiên”, hay “yếu tố tích cực của con người tự nhiên” là gì? Chẳng lẽ là con người thời tiền sử? Khía cạnh nhân bản của văn học đã được hiểu trần trụi và hiểu sai. Cách tân hay không cách tân? Cái mới cũng sẽ theo thời gian mà thành cũ. Chỉ có cái hay và cái không hay mới tồn tại. “Thơ Mới” từ những năm 30-45 cũng chẳng còn là mới mẻ mà chỉ còn cái tên. Điều này nhà phê bình Thụy Khê đã nói rõ trong cuộc phỏng vấn trên rfa.org. “Thơ Mới” có nhiều bài hay, ít bài dở thời ấy nhưng ngược lại, thời bây giờ, “thơ hậu hiện đại” dở nhiều hơn hay. Thị hiếu và khả năng thưởng thức của quần chúng theo thời cuộc mà chuyển hướng. Người già chê nhạc trẻ. Trẻ chẳng ưa cải lương. Những lối mới trong loại hình tự sự thời xã hội chủ nghĩa khởi sắc cũng đã không còn hấp dẫn với thời nay và những người ngày xưa tù mọt gông vì văn chương muốn thoát chính trị như nhóm “Nhân văn – Giai phẩm” cũng trở thành có công văn học. Ai cũng biết họ là ai đó mà. Còn những con chim được gọi là đầu đàn, những công thần thời cách mạng thì kẻ bị bắn bia, người thiếu chút nữa làm lễ “hiến phù”! Ai cũng biết là ai đó mà!

Đổi mới không có nghĩa là thay cái cũ. Thay sạch bách. Thay cũng không thay được. Gốc rễ cái cũ cũng không phải là không còn ích lợi. Cái mới không thể không phát sinh từ cái nền cũ. Nhà đổ kềnh nếu thiếu móng xi măng. Không có cái cũ thì làm sao nhận biết đâu là cái mới? “Đả cựu nghinh tân” cũng không vì thế mà chê bai “hữu cựu bài tân”. Cái hay mới là giá trị. Cái mới chỉ là tức thời của một xu thế thời đại. Cởi áo trong văn chương thì cũng nên ngoái đầu xem thời người ta mặc áo tại sao bây giờ mình không muốn mặc nó? Áo xấu hay thân hình mình không được đẹp? “Người đẹp vì lụa. Lúa tốt vì phân”. Thân hình không đẹp mà còn cởi áo thì chỉ xấu chất chồng xấu nữa mà thôi! Thời đại nào, con người ấy. Điều đó, thể hiện rất rõ trong các sản phẩm trí tuệ hiện nay ở các loại hình không riêng gì lĩnh vực văn học. Thẩm mỹ con người không dừng lại. Nội dung đổi mới, mới là quan trọng trong loại hình văn hóa hiện nay. Những áo kiểu thời trang chỉ dành cho những người cao như cây sào. Người “bụ bẫm” quá tải, chẳng làm gì có thời trang cho họ. Đâu đó phân định hẳn hoi!

Theo tiêu chí này đánh giá tác phẩm thì trong hệ thống lý luận văn học chả thấy bóng dáng nó ở đâu? Nếu cứ thế mà tiến tới thì những tác phẩm nào cứ miêu tả tình yêu nhục dục, miêu tả thân thể con người ta tự nhiên như thời thượng cổ thì chẳng mấy chốc, sách khiêu dục sẽ… “knock out” sách văn học chỉ bằng hiệp một! Vậy thì đi miêu tả những bộ phận thân thể con người chi li hơn những bác sĩ chuyên khoa và miêu tả sinh hoạt tình dục đụng đâu, xâu đó một cách… tỉ mỉ như vậy để làm gì? Thỏa mãn nhu cầu sinh lý, giải trí hay nhu cầu giáo dục thẩm mỹ? Toàn bộ độc giả lớn bé sẽ trở thành những kẻ… thị dâm! Nếu ta cho đấy là một cách giáo dục hay thì những nhà nghiên cứu phê bình lý luận nên làm… chiến sĩ tiên phong trên mặt trận này hơn là núp bóng từ bi chờ thiên hạ viết rồi nghe ngóng ý kiến chỉ vài ba cây bút khen ngợi, tâng bốc như ta đây là “đổi mới”, tiếp nhận văn hóa phương Tây! (họ lấy tiêu chuẩn gì để có thể đủ tư cách đại diện cho tám mươi mấy triệu dân Việt Nam?). Họ chờ dăm trang web site, vài trang báo chợ lăngxê rồi mới nhảy ra… lý luận chụp con ếch ì ộp! Thời mở cửa “ăn theo” phát huy khả năng trí tuệ hết cỡ!

Phan Huy Dũng trong “Phê bình Thơ với vấn đề đánh giá những hành động cách tân thơ hiện nay” (“Văn học Việt Nam sau 1975”, Nxb Giáo dục-2006) đã đưa ra quan niệm: “phủ định các quy phạm cũ, xây dựng quy phạm mới” (lại chữ với nghĩa!) với dòng thơ mới “Sinh dục hóa thơ ca” nghe qua… khiếp vía, đậm mùi tình dục. Đây có phải là chức năng của văn học? Ngay cả khi trong y học, người ta cũng không sinh dục hóa y học một cách vô thẩm mỹ như thế! Những bài viết sinh dục hay sinh lý mà các bác sĩ viết để mở mang kiến thức y học trên các web site y học như ykhoa.net, ykhoa.com sao mà hay đến thế? Vì đó là chức năng của y học. Những gì trái với chức năng con người thì thành quái dị hết cả vì sự “lạm dụng” trên. Kinh tế vì “lạm phát” mà tụt dốc. Tình người vì “lợi nhuận” mà mất nghĩa. Y học vì “lạm thuốc” mà chết oan. Ăn uống vì “ham ăn” mà trúng thực. Văn hóa vì “lạm dục” mà phi văn hóa. Xét ra, dính vào hai từ “lạm dụng”, người ta… ngắt nga, ngắt ngẻo! Xấu đẹp bất phân. Nghĩa nhân, bội bạc cũng chẳng biết! Over dose đấy thôi!

Tham luận của Ngô Văn Giá về ”sex… ” được coi ”hiền lành” như sóng Đồ Sơn nhẹ nhàng vỗ nơi bờ êm ả… mà những người có máu mặt thì sóng êm đềm không cho họ ”cảm giác mạnh”. Do vậy, họ chỉ mong có… bão. Những cơn bão mang tên ”nói vo” xuất hiện.

Trên mạng gio-0.com, Quỳnh Thi đã chấm hai tác giả ”nói vo” là Nguyễn Huệ Chi và Từ Sơn. Trong khi đó, theo thotre.com (Tiền Phong), nhà văn Nguyễn Văn Hạnh, nhà thơ Lê Đạt, nhà phê bình Hữu Đạt, nhà văn Bùi Bình Thi, Ngô Thảo và Lại Nguyên Ân (hai vị này không thấy nhắc đến… nhà gì?) coi là ”đáng chú ý” nhưng hội nghị khi ấy “Ngoài một vài trận đụng độ cá nhân thì không khí hội nghị và hòa nhã, nhưng hơi thiếu những tràng vỗ tay và những nét châu mày”. Câu sau… làm người đọc… ”châu mày” y như nội quy của hội nghị Không đả kích cá nhân. Không phát tán tài liệu ngoài nội dung hội nghị” (Thúy Quỳnh, talawas.org) chẳng mấy ai theo như phim chiếu cấm trẻ em dưới mười sáu tuổi thì thấy toàn trẻ em bu coi, như đống rác thật to dưới bảng hiệu ”cấm đổ rác” thời hiện đại, như mùi nước tiểu còn nồng nực khai ngấy bốc lên trên tường vôi đang chình ình hai chữ “cấm đái”, nhìn… cười nát ruột!

Như đã nói, tham luận của Trần Đình Sử và Đỗ Lai Thúy chỉ là ”kỳ thanh, bất kỳ hình” không được đọc. Tham luận của Nguyễn Văn Dân thì đọc lại bài cũ, tham luận của Lê Thành Nghị cũng không được đọc và bài tham luận này chịu chung số phận ”nhạt nhẽo” với Lê Quang Trang, Hà Minh Đức khi đăng trên ”Cửa biển” (cùng với báo Văn nghệ phát không tại hội nghị) mà Quỳnh Thi ghi nhận trên gio-0.com.

Q.T (cinet.gov.vn) chỉ trích đăng ”một số ý kiến của các đại biểu trình bày tại Hội nghị” của Nguyễn Văn Dân, Hoàng Vũ Thuật, Chu Thị Thơm, Nguyễn Văn Hạnh và Phong Lê coi đó là những bài điển hình. Chín người mười ý!
Trần Anh Thái trong bài “Hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ hai: Tiếp tục đổi mới và sáng tạo” (qdnd.vncho rằng: ”Thời gian cuối cùng của buổi sáng 5-10 sôi động hẳn lên bởi các tham luận của các nhà văn, nhà phê bình văn học Huệ Chi, Nguyễn Hoà, Bùi Ngọc Tấn, Từ Sơn, Vũ Hạnh, Văn Giá, Nguyễn Đăng Mạnh”. Lại mười ý cho chín người!

Trái lại, Bùi Ngọc Tấn người hùng vào tù ra khám thời nản chí, ghét “những người bội bạc” nên tranh thủ kêu ca về cuốn tiểu thuyết ”Chuyện kể năm 2000” của mình. Vũ Hạnh chưa mấy hấp dẫn và Nguyễn Hòa thì làm thất vọng bao nhiêu cổ động viên chờ Nguyễn đại hiệp… rút súng hay… tung lựu đạn lý luận vào… địch thủ!

Những tham luận này tiếng được, tiếng mất nhưng chịu khó đọc kỹ thì chúng có giá trị lý luận chứ không phải không có. Ta chỉ cần tóm lấy ý nào có giá trong muôn vàn cái vòng vo Tây Du Ký để “góp gió thành bão” là sẽ có “tiếng nói chung” quay mũi giáo vào những người cầm cân, nẩy mực.

b. Hội nghị đi đâu, về đâu?:

Cho qua những cử chỉ phạm quy chế hội nghị, bỏ hết những thái độ khiếm nhã, những định kiến cá nhân, những đấm đá thô tục, người ta chờ đợi ở hội nghị Đồ Sơn một thông báo về: Sự thành công của hội nghị là hội nghị đã đặt ra những vấn đề gì và chúng đã được tập thể gần ấy tinh hoa xã hội, ngần ấy chất xám và ngần ấy hưởng ơn… mưa móc của ”Đảng, Nhà nước” đã có những giải quyết đáng ghi vào lịch sử văn học, lý luận?

Ta hãy lần lượt xem thử những thùng thuốc nổ và những trái lựu đạn… lép, những khẩu súng… ướt nhẹp… làm ăn gì được trong hội nghị lý luận văn học lần II này” vì đây là: “một hội nghị lớn mang nhiều ý nghĩa quan trọng, quy tập gần 300 đại biểu trong đó có quá nửa là nhà văn, nhà thơ; non nửa là các nhà Lý luận Phê Bình… thay vì đụng chạm tới các nguyên lý nghệ thuật học, các hệ thống thi pháp học, các cách tiếp cận tác phẩm v.v thì các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình lại tập trung chỉ trích Hội Nhà văn chỉ vì Hội đã không bảo lãnh và ấn chứng cho những tác phẩm ra đời như măng mọc mùa xuân”.

Đó là nhận xét về chất lượng của Mã Pí Lèng trong “Ôi phê bình” (qdnd.vn). Tức là tham luận đòi quyền lợi cá nhân nhiều hơn là quyền lợi tập thể. Số lượng đại biểu tham dự được coi như thành phần “ăn theo” nhiều hơn đại biểu lý luận – phê bình: “Chuyện ngoài lề hội nghị thì nhiều, bàn dài dài mãi vẫn chưa hết. Nhưng có một chuyện không thể bỏ qua, ấy là thành phần dự hội nghị. Nếu tính đầu người thì số đại biểu dễ gấp hai lần hội nghị lần trước. Chỉ riêng những chủ tịch hoặc phó chủ tịch của các Hội Văn học – nghệ thuật địa phương đã chiếm tới một phần ba, hơn một phần ba nữa là dân sáng tác (nhà thơ, nhà văn… ) còn lại ít hơn một phần ba là nhà lý luận, phê bình. Thói thường, cứ hội nghị bàn chuyên đề về lĩnh vực nào, thì đại biểu phần đông phải thuộc về người hoạt động ở lĩnh vực ấy. Đằng này ngược lại, lý luận, phê bình ít mà các lĩnh vực khác áp đảo đông người’’. Không phải dân chuyên nghiệp cho lĩnh vực phê bình thì viết gì mà nghe, hiểu gì mà nói?

Thúy Quỳnh (gio-0.com) ghi lại lời của thư ký hội nghị là Chu Thị Thơm phân vân: “Hội nghị lần này đưa ra được vấn đề, có sự so sánh, khái quát, tổng kết gai góc. Tuy nhiên mới đưa ra được như vậy chứ không biết làm như thế nào và vấn đề đi đến đâu. Sự đổi mới này phải đến từ cơ chế và phương pháp, chứ một mình nhà văn thì không làm được”. Nhà văn Trần Thị Trường – người sẽ chấp bút cho tự truyện của ca sĩ Thanh Hoa, thở dài: “Nhà phê bình dẫn dắt chúng tôi đi đến nơi nào đó… chúng tôi cũng không biết”. Những nhà phê bình, lý luận văn học đưa chị Thơm và chị Trường đi… cưỡi sóng Đồ Sơn rồi trở về với góc phố bình yên chớ còn đi đằng đâu nữa? Tức là người từ đâu tới sẽ về nơi đó mà thôi!

Qua chất lượng những bản tham luận, chúng ta “gạn dục khơi trong” mà “đãi cát tìm vàng”. Tai nghe không bằng mắt thấy. Mắt thấy không bằng… lòng thấy! Lòng có hai con mắt cũng như người theo các nhà lý luận mà đi về nơi xa…

III. CHẦT LƯỢNG:

1.Về những bài tham luận mang chút ít sắc màu lý luận văn học:

a. Nguyên nhân yếu phê bình, giàu tính ăn theo?:

Khẩu hiệu cũng như phương hướng chỉ đạo mà hội nghị đã đề ra: Nâng cao chất lượng lý luận phê bình, góp phần sáng tạo nhiều tác phẩm văn học chất lượng cao”. Nâng cao bằng cách nào đây và góp phần sáng tạo như thế nào khi mà cục diện xã hội hằm bà lằng đã làm ảnh hưởng đến chất lượng phê bình?

Đây là một câu hỏi lớn. Người nào đưa ra được nguyên nhân và có hướng giải quyết thì coi như… thí sinh làm ”đúng đề”. Người lái thuyền dạn dày kinh nghiệm là những người biết lèo lái con thuyền mình lượn theo con sóng (sóng vừa chứ sóng lớn chắc… gặp hà bá sớm) để đưa thuyền về bến bãi. Những… thí sinh thuộc loại thông minh với trước bất kỳ một đề thi hóc búa nào cũng phải biết… lái đề thi theo hướng đi của mình chứ không phải ngồi giãy nãy, la ó với cái đề thi mình không thích (hay là không làm nổi?) như cô bé Nguyễn Phi Thanh trong bài thi về “Cái đẹp trong bài ‘Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc’ Nguyễn Đình Chiểu” năm 2005?

Nhưng, thông minh chưa đủ, người viềt còn phải có một… bản lĩnh! Tức là dám nói và dám viết hết mình với những gì mình tâm đắc. Không có một bản lãnh chuyên môn, dạn dày kinh nghiệm với kiến thức đầy mình đừng hòng nói thông, đừng mong viết thạo!

Tham luận mà người ta bàn tán, coi là một trong những hiện tượng đáng chú ý là tham luận của nhà lý luận, phê bình gạo cội Lại Nguyên Ân với đề tài: ”Phê bình văn nghệ và đời sống xã hội”.

Trần Ngọc Linh (vietnam.net) nhận xét: ‘Lại Nguyên Ân nói về sự độc quyền và sự xuống cấp trong hoạt động của các tổ chức văn hoá nghệ thuật, đòi hỏi phải có sự cải tổ ở lĩnh vực này. Mấy đại biểu ở dưới xì xào, một số người ngước nhìn đoàn chủ tịch, ông Hữu Thỉnh vẫn bình thản, gần mười sáu năm làm Tổng biên tập báo Văn nghệ và kinh qua hai nhiệm kỳ làm Tổng thư ký Hội Nhà văn thì những lời nói kia làm sao khiến ông biến sắc mặt được!…”

Trần Ngọc Linh đã nắm được ý cơ bản của Lại sư phụ. Trần công tử này còn nhấn mạnh cái ghế ngồi khá chắc của Hữu nguyên soái ròng rã mười sáu năm trời. Chắc nguyên soái Hội Nhà văn mượn… “keo dán sắt” của Nguyễn Ngọc Tư (chôm từ phim Mỹ) dán ghế ngồi nên mới lâu như thế! Thảo nào mà không thưởng thí giải thưởng của Hội Nhà văn cho kẻ gây ra “hiện tượng” chẳng biết là hiện tượng đó có giá trị văn học lớn lao gì mà phát thưởng. Trong khi đó, “Bóng đè” của Đỗ Hoằng Diệu cũng gây ra “hiện tượng” trời gầm không nhả mà sao Hội Nhà văn chẳng coi đó là “hiện tượng” như nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên bực mình trả lời phỏng vấn trên rfa.org? Khi nguyên soái nhà văn mình đăng đàn, ủm luôn giải cho tập thơ “Thương lượng với thời gian” năm 2006 thì với “nội lực thâm hậu” ông đã có chất… keo dán sắt “làm sao biến sắc mặt được” và Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo hay những người bất bình trong hội đồng chấm cho ngài đã “thương lượng” với hội đồng chấm giải! Đúng hay sai? Bí mật của ai người nấy biết! “Thâm cung bí sử” sẽ được vén màn khi vài người trong đó… thất sủng!

Nguyên văn nội dung này của Lại Nguyên Ân: ”Sự tồn tại của kiểu hội độc quyền đang trở thành vấn đề cũng không chỉ bởi chỗ khá nhiều hội đã trở nên bất lực và bất cập trước thực tế phát triển của lĩnh vực mà nó vốn được độc quyền quản lý… như dư luận trong các giới thường rỉ tai nhau, các vị trí đứng đầu hoặc các vị trí thành viên ban lãnh đạo các hội, cơ quan văn hoá, khoa học… , đã và đang là đối tượng chạy chọt, mặc cả, thương lượng, xin xỏ, thậm chí mua bán tại mỗi thời điểm thay đổi nhân sự (nhất là các kỳ đại hội, một ví dụ cả nước biết khá gần đây là văn nghệ sĩ Nam Định bỏ qua việc kỷ niệm 40 năm mất Nguyễn Bính để đánh nhau giành chiếc ghế hội trưởng). Tức là “mãi lo tranh chấp quyền lực” như Trần công tử đã phê phán trên vietnam.net.

“Người quan sát” nhận xét ngay: “Đáng lưu ý là ý kiến chỉ trích khá mạnh này đã không có phản hồi trong hội nghị, có thể vì diễn giả đọc lướt không ai kịp chú tâm, có thể là ông vạch đúng quá đi mất không ai nói vào đâu được, chỉ có ông Tổng thư ký Hội Nhà văn khi tổng kết hội nghị thì có phản bác rằng “nhận định như thế là không thoả đáng” trong thực tế phê bình hiện nay”. Khi không ai tự chịu nhận mình là cha ăn cướp? Nhưng bài tham luận của Lại Nguyên Ân đâu chỉ thế?

Hà Lan với bài: ”Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ II. Phê bình vẫn còn nhiều bức xúc” (nld.com.vn) viết: ” Nhà phê bình Lại Nguyên Ân cho rằng, phê bình cần can dự tích cực vào việc chuẩn bị vốn tri thức cần thiết cho tác giả và công chúng chứ đừng bằng lòng với việc “buôn chuyện” từ đầu chợ đến cuối chợ, cung cấp “quà vặt” cho công chúng. Ông đưa ra ý kiến, gần đây, vai trò của “đầu nậu”, “đầu gấu” trên trường phê bình thường tập trung rõ rệt vào một số cây bút, họ làm việc hăng hái chẳng khác gì kẻ trúng thầu. Và vì vậy phê bình của chúng ta đang đi vào bế tắc và không có đường hướng giải quyết”.

Vai trò tác hại “đầu nậu” ở đây chỉ mới là một trong bốn nội dung của bài tham luận mà Lại Nguyên Ân đưa ra khi đi tìm chỗ lý giải vì sao phê bình văn học chưa có lối thoát.

– Thứ nhất là tính nghiệp dư tăng lên do có không ít cây bút còn thiếu những trang bị cần thiết về tri thức. Tức là “nhảy nghề”.

– Thứ hai, việc không ít người sáng tác (vốn chỉ được biết đến như người viết truyện, làm thơ… ) tham gia báo chí bằng hoạt động phê bình và thông tin văn nghệ, tuy cũng có lúc làm giàu cho công chúng của phê bình những nét diễn tả duyên dáng, sinh động, nhưng không ít khi cũng bộc lộ những non yếu về kiến thức, những suy diễn chủ quan lệch hẳn khỏi tiềm năng hàm nghĩa của các tác phẩm văn nghệ. Nghĩa là người sáng tác muốn “đa tài, đa năng, đa hệ” như TiVi.

– Thứ ba, văn phong quy phạm trường ốc (ít ra là lối kiểu cách rởm, tệ hơn là các loại xào xáo rút tỉa của người khác mạo nhận là của mình). Ý muốn mỉa những kẻ “đạo văn”.

– Thứ tư, sự đứt gãy trong tiếp nhận thông tin học thuật từ sau sự kiện Liên Xô tan rã, trong đó có phần thông tin khoa học văn học, khiến ngành nghiên cứu văn học trong nước có lúc dường như tồn tại ở trạng thái chân không về lý luận.

Là phê bình không bằng cấp! Là người sáng tác đá lộn sân! Là những ông Nghè “thiến sót” (TS) giấy chuyên đạo văn, đạo luận án! Là Liên Xô gãy, phê bình Việt Nam ngã theo!

Trong bốn nguyên nhân thì nguyên nhân thứ tư yếu tính thuyết phục khi vô tình Lại tiên sinh ca ngợi thành trì cách mạng đã đổ sụp là Liên Xô. Không có Liên Xô nên thông tin học thuật nước nhà yếu kém. Vậy, muốn phê bình mạnh lên lấp lỗ “chân không lý luận” thì phải… vực Liên Xô chết đi sống dậy? Văn học lý luận ôm chân người ta thì là nô lệ văn chương còn gì mà đòi tự do sáng tác như Hoàng Hưng, độc lập phê bình sáng tạo như Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Khắc Phê?

Trong các bài báo về bài tham luận của Lại Nguyên Ân, bài của Thúy Quỳnh Những mâu thuẫn và những đề xuất bỏ ngỏ” (gio-0.com) tóm tắt được ý của nhà lý luận này: Ông Lại Nguyên Ân gọi tên hết sức sắc nét và ấn tượng 2 loại phê bình chủ yếu trong đời sống văn nghệ là “phê bình sư phụ”, “phê bình quyền uy”… Ông Ân khẳng định, thời gian phê bình văn nghệ phát triển mạnh nhất là vào năm 1987-1988 trong thời kỳ mở cửa… đó là “ phê bình hỗ trợ”, “phê bình nhảy đại” với điều kiện sống “ cốt không làm mất lòng cấp trên” của văn hoá văn nghệ không hề thay đổi trước sự bảo hộ độc quyền của nhà nước sinh ra những sản phẩm văn hoá “bị công chúng thờ ơ”.

Chốt lại, Lại Nguyên Ân cho rằng: ”phê bình văn nghệ không thể tự ý túm tóc mình mà nâng được mình lên trên cái nền đất lầy thụt cũ; nó phải được tạo những điều kiện căn bản nào đấy, được cấp cho những “quyền được ăn nói” nào đấy, từ đó nó mới có thể phát triển lành mạnh”.

Chúng ta thấy Lại Nguyên Ân dùng từ ”phê bình văn nghệ” chứ không là ”phê bình văn học”. Do đó, thay vì đi vào lĩnh vực chính của văn học và lý luận văn học thì… sa vào nói văn nghệ chung chung với quyền đòi hỏi “được ăn nói nào đấy” cũng chung chung và tham luận này dù được coi như một bài có tính học thuật nhưng chỉ là học thuật văn nghệ nên những chứng minh của bài chưa soi sáng hết những gì người viết muốn trình bày. Cho nên, khi tóm lại ý, Lại Nguyên Ân đã làm phần học thuật chạy sang lĩnh vực đòi quyền tự do cho phê bình như những bài tham luận khác. Vì vậy, nội dung chỉ nặng nghĩa chỉ trích, yếu lối thoát nên nó chưa mới là thế. Phần chỉ trích, phê phán này có nhiều điểm tương đồng với bản tham luận của Nguyễn Hòa.

Nếu khi được hỏi: Giả tỷ như phê bình văn học được trả lại cái quyền tự do thì phê bình có bảo đảm sẽ là Bao Thanh Thiên khi soi sáng sản phẩm trí tuệ bằng lý luận văn học hay cũng chỉ là tiêu diệt ”phê bình sư phụ” này thì lại nảy sinh ”phê bình quyền uy” khác cũng như thay thanh tra tham nhũng này bằng thanh tra tham nhũng khác? Thay độc quyền này bằng độc quyền khác? Quyền uy hay sư phụ cũng chính là các Giáo sư, Tiến sĩ nắm giữ “sinh – tử” cho các tác phẩm văn chương mà thôi!

Thử hỏi: Phê bình văn học là làm công việc mang lý luận văn học soi sáng tác phẩm nhưng từ trước đến nay, có bao nhiêu tác phẩm được tuyển chọn, công nhận qua con đường này? Rất ít, đến nổi Phạm Xuân Nguyên hoặc những nhà phê bình khác cho rằng: “Phê bình chỉ mới là điểm sách”! Những gì các nhà phê bình ca ngợi tác giả cũng chỉ mới là ”điểm danh”! Nguyên Ngọc sau cú bị ”lay off” mất chức nguyên soái Hội Nhà văn thì lặng lẽ tiếc thương văn học Việt Nam “mất dần độc giả”. Phê bình hiện nay đúng là lá khóc thu tàn nên không ai nỡ đưa mùa xuân về trước tháng hẹn!

Lý luận cứ đi một đàng. Tác phẩm đi một nẻo. Nhóm theo đằng nhóm và cái chính mà Trần Đình Sử cho là “thầy bói sờ voi”, còn Lại Nguyên Ân nói chính xác nhất là người viết phê bình đã “bịt mắt bắt dê” hay Nguyễn Hưng Quốc gọi là “những nhà phê bình mù” khi các nhà lý luận tâng bốc tác phẩm theo kiểu đơn đặt hàng mà không mang chiếc áo bào lý luận văn học khi xung trận. Đó là một kiểu:

Cưỡi ngọn bút thế thời mà lý luận

Leo thang dây kinh tế để phê bình!

Ngọc Linh-Minh Quân trong bài ”Thấy gì qua hội nghị lý luận, phê bình văn học lần II” (vietnam.net) nhận thấy: ”Nhà phê bình Lại Nguyên Ân cũng chỉ trích Hội Nhà văn khi ông nói về sự độc quyền và xuống cấp trong hoạt động nghề nghiệp của các tổ chức nghệ thuật. Ông đòi hỏi phải có sự cải tổ trong các tổ chức văn nghệ nhưng cải tổ như thế nào thì ông vẫn bỏ ngỏ”. Thiết nghĩ không sai lắm bởi vì cải tổ không nằm trong phạm vi của Lại tiên sinh được phép với tới!

Người ta lại mong chờ ánh sáng của tự do – ngọn hải đăng trong lý luận – phê bình.

b. Tự do? Phải chăng là “Ngọn đèn Hải đăng” trên biển phê bình nói riêng, văn học nói chung?: