Sân bay Quốc tế Đà Nẵng

Tân đưa ông ngoại, chú Năm, cậu Bảo về Mỹ. Họ đáp máy bay từ Đà Nẵng thẳng Sài Gòn. Phi trường Đà Nẵng ồn ào với hàng trăm lượt người đi, người về và người tiễn. Đám trẻ con chờ chuyến bay múa tay múa chân làm Tân nhớ lại vụ tay thiếu úy công an CSGT Đỗ Hoàng Phương Minh… luyện kiếm tại đây thách thức nhân viên an ninh sân bay khiến hành khách một phen tá hỏa và nhân dân phẩn nộ. Mới là thiếu úy mà múa kiếm gớm thế, lên thiếu tướng chắc múa… bom. Không dù che nắng sao dám thế? Tân nghĩ thầm rồi anh cười một mình bảo mình sao qúa ”dở hơi”. Trong khi đó, ông ngoại đưa mắt thu lấy tổng quan sân bay. Sân bay Quốc tế Đà Nẵng lớn thứ ba của Việt Nam sau 1975 hiện ra trước mắt ông hoàng tráng. Không ai nhận ra những đường bay từ Sài Gòn chuyển quân hay tháo chạy trước năm 1975 nay đã được phủ lấp bằng thời gian và kỹ thuật hiện đại. Những chiếc Airbus A380 của Châu Âu, Boeing 747 của British Airways, Japan Airlines của Nhật, Cathay Pacific của Thái, Korean Air của Hàn Quốc, 777 của United Airlines, Airbus A340 của Lufthansa, A330 của Northwest Airlines, Qatar Airways, Cathay Pacific với Antonow 124 của Russia đều có thể dễ dàng xuống lên. “Tuyệt vời!”. Nguyễn Thành Bang buột miệng. “Cuộc sống đã khác trước rất nhiều. Những em bé ăn xin hay những người thương phế binh ăn mày cũng không thấy trên đường phố. Họ đã có cuộc sống cơm no, áo ấm hơn chăng?”. Khi máy bay cất cánh an toàn, Nguyễn Thành Bang nhìn Đà Nẵng thu nhỏ từ trên không và đôi mắt ông bỗng đờ đẫn khi nhìn màu xanh mênh mông phía dưới một km. Những từ văn vẻ mà Bộ Tư Lệnh Sài Gòn cách đây ba mươi sáu năm về trước đã ban ra là “cuộc rút binh thay đổi tình thế” từ Cao Nguyên về Sài Gòn, thật ra, chỉ là một sự “tháo chạy trong hỗn loạn” mà người nào đã từng là người trong cuộc cũng hãi hùng. Người chân chính thì thẹn lòng. Kẻ hư danh thì chửi bới. Nếu ai đó từng đọc “Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Ra Khơi” với “Cuộc rút quân tại Đà Nẵng” của bà Điệp Mỹ Linh, vợ một cựu sĩ quan Cộng Hòa đều phải thốt lên rằng đó là một sự tháo chạy đầy “nhục nhã”. Không biết bà phu nhân Linh có trong tay tư liệu nào mà tên tuổi các nhân vật từ thượng vàng đến hạ cám đều liệt kê gần như chẳng thiếu một ai trừ… ông. Ông từng được tập huấn từ Central Intelligence Agency tức CIA có chi nhánh ở Sài Gòn bởi Stephen Kappes – người được ông Thomas L. Ahern, Jr coi như tình… huynh đệ. Thomas cũng chính là tác giả của tài liệu “CIA and the house of Ngo” (CIA và gia đình họ Ngô), “CIA and rural pacification in South Vietnam (u)” (CIA và cuộc bình định nông thôn miền nam Việt Nam”). Đặc biệt là cuốn: “CIA and the Generals: Covert Support to Military Goverment in South Vietnam” (CIA và các tướng lĩnh: Cuộc hổ trợ ngầm cho Chính phủ Quân sự miền Nam Việt Nam) kể lại những giây phút “hấp hối” của VNCH và Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đang được tung lên mạng và phát hành. Những tài liệu của CIA được cho là “tài liệu mật” đã được giải gần đây cũng bị cho là “không giá trị” khi nói tới cái được và cái mất hầu như ai cũng biết tổng thể đó là kết qủa và hậu qủa của một cuộc chiến tranh không tránh khỏi tai tiếng nhưng có bàn tay xếp đặt đâu đó hết sức khôn khéo chia đôi kẻ bại, người thắng từ phía Hoa Kỳ. Nguyễn Thành Bang – một nhân viên CIA di tản sau cùng của hai cuộc rút chạy từ Đà Nẵng về Cam Ranh, từ Cam Ranh về Sài Gòn và từ Tòa Đại sứ Sài Gòn, 22 Gia Long bay thục mạng đến đảo Grande trên Vịnh Subic của Philippines. Trong mắt Thomas, Đà Nẵng năm 1975 là “The fall of DaNang” (Sự sụp đổ của Đà Nẵng) chứ không phải “tạm rời” khỏi Vùng I chiến thuật để tiến chiếm lại như miền Nam đã làm năm 1972 đối với Quảng Trị. Thomas Polgar hồi ức: “The last day in Saigon and the days that followed were the sađest – most traumatic days of my life.” (Những ngày cuối cùng ở Sài Gòn và những ngày tiếp đến là những ngày buồn nhất và thương tâm nhất trong cuộc đời tôi). Không! Trong hết thảy mọi người chứ chẳng riêng gì ông. Ông là người ngoại bang. Ông đại diện cho một nước tự do xâm lược nước người. Nỗi thương tâm của ông là nỗi thương tâm về một thất bại đã được báo trước. Nói đúng hơn, chính phủ Hoa Kỳ sau năm 1973 đã ”bán đứng” sứ giả của mình cho miền Bắc. Nỗi thương đau của người thất bại là mất sạch sẽ. Đó cũng là một bài học khi chúng ta ăn lương ngoại bang. Đời chẳng còn gì khi nhớ lại. Trịnh Công Sơn đã viết trong “Tình xa”: “Nhìn lại mình đời đã xanh rêu” là đấy! Hồi ký với hồi ức cũng ba trật, ba giuộc. Biết tin ai? Muốn viết lại lịch sử ư? Người nào có lương tâm, tư cách và trí tuệ để viết? Ai cũng cho rằng ngụy sử mới viết lại còn chính sử thì không. Vậy, chỗ nào là chính sử, chỗ sử nào là ngụy sử trong Lịch Sử Việt Nam? Nguyễn Thành Bang ngao ngán khi chỉ có một sự kiện ai là người chấp nhận đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh mà chỗ này ghi thượng tá Bùi Tín, chỗ kia chép trung tá Nguyễn Trần Thiết hay trung tá Bùi Văn Tùng. Ai đưa ông Minh ra Đài Phát Thanh đọc thư đầu hàng? Bùi Tín ghi là trung tá Bùi Văn Tùng. Chỗ khác cho rằng đại úy Phạm Xuân Thệ. Đồn ác cho rằng ông Thiệu bỏ nước chạy lấy người còn mang 16 tấn vàng theo. Bùi Tín lại kể rằng chính ông Nguyễn Văn Hảo, giáo sư, phó thủ tướng đặc cách phụ trách kinh tế gọi nhỏ cho ông Bùi Tín biết 16 tấn vàng hôm đó, còn ở trong kho. Hà Nội liền cho chuyên cơ IL 18 chở ngày 2 tháng 5 1975. Nguyễn Thành Bang cười mũi. Ông chửi thầm đứa nịnh ngu. Có công giữ 16 tấn vàng ư? “bọn này đã giữ lại trong kho Ngân khố quốc gia hơn 16 tấn vàng, không cho họ mang ra khỏi nước, mong quý ông báo ra Hà Nội cho người vô nhận”. Không cần báo, Hà Nội cũng mò ra. Trong lúc sinh tử, người ta bỏ của chạy lấy người chứ ai vác cả 16 tấn vàng theo? Phi cơ nào có chỗ chứa ngần ấy vàng cho ông Thiệu trong khi nhân viên CIA còn bị bỏ lại. Dân chúng thì bu nghẹt tàu? Ngay cả ông Thiệu cũng phải trốn chui, trốn nhũi ra máy bay C – 118 nhỏ như con kiến để bay qua Taipei – Taiwan. Mỗi người di tản, theo lệnh của CIA chỉ được mang một xách hành lý đủ chứa… con chuột nhắt. Vàng đâu mà mang 16 tấn? Nếu chọn 16 tấn vàng hay chọn Lý Hai Thơ, Nguyễn Thành Bang chắc chắc sẽ chọn tình yêu của ông. Cho tới bây giờ, Nguyễn Thành Bang càng ngậm ngùi khi nhớ lại những bài hát về lính thời Cộng Hòa của nhóm Lê Minh Bằng , Trúc Phương, Trần Thiện Thanh, Duy Khánh… Bài “24 giờ phép” của Trúc Phương với giọng ca bất hủ của Chế Linh như nói hộ tấm lòng người lính chiến xa người yêu mà ông tin chắc ngay cả bộ đội miền Bắc thời bấy giờ cũng… lén nghe. Ông từng nhớ Lý Hai Thơ da diết như thế:

Từ xa tôi về phép hai mươi bốn giờ.

Tìm người thương trong người thương.
Chân nghe quen từng viên sỏi đường nhà.

Chiều nghiêng nghiêng nắng đổ
Và người yêu đứng chờ ngoài đầu ngõ bao giờ.

Cửa tâm tư là mắt nên khi đối mặt.

Chuyện buồn dương gian lẩn mất.

Đưa ta đi về nguyên thủy loài người.
Lời yêu khi muốn ngỏ vụng về.

Ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay.
Bốn giờ đi dài thêm bốn giờ về
Thời gian còn lại anh cho em tất cả em ơi!
Ta đưa ta đến đỉnh tuyệt vời.
Đêm lạc loài giấc ngủ mồ côi.
Người đi chưa đợi sáng
Đưa nhau cuối đường sợ làm đêm vui rủ xuống.
Thương quê hương và bé nhỏ tình này.
Ngừng trong đôi mắt đỏ
Vì mình mười sáu giờ bỏ trời đất bơ vơ.

“Người đi chưa đợi sáng” sao mà giống tâm trạng mình ba mươi lăm năm về trước qúa! Bất giác, ông quay sang Tân hỏi nhỏ:

– Thằng cháu ngoại, mi có bao giờ hát nhạc lính miền Nam không?

Tân giật mình nhưng anh trả lời thật lòng:

– Cháu thích nghe chứ nào đã được hát.

Như đoán được nghĩa ẩn của Tân, ông gật gù:

– Ờ nhỉ!

Rồi ông nói thầm:

– Nghe thì OK rồi. Máy bay sẽ bay qua Vùng I và II chiến thuật của qúa khứ!

– Ông ngoại nói vùng gì đó?

– Không có gì. Đà Nẵng qua Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên rồi tới Khánh Hòa… Ta nhắc tới vùng trời “Tuyết trắng” của Trần Thiện Thanh. Có lẽ chú mày đang “Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm” của Quang Dũng?

– Ông ngoại thiệt sành nhạc sĩ và tâm lý qúa đấy!

– Nghe ca sĩ mà không nghĩ tới nhạc sĩ và nhóm hòa âm, phối khí là một sự bất công cho một bản nhạc. Nhìn mặt người đối diện mà không biết người ta đang nghĩ gì là một sự ngu si ngây thơ nếu không nói là nguy hiểm cho mình.

– Cháu bị ông cho đi trong mây thật rồi ông ngoại.

– Vậy thằng mi đang nghĩ gì?

– Cháu nghĩ về mẹ cháu và dì Bình.

– A…

– Còn ông?

– Ta đang nghĩ về danh ngôn của Khổng Tử?

– Khổng Tử?

– “Càng lên cao, chân trời càng xa, tầm mắt càng rộng”.

– Đối với nó là ”Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung” của Việt Nam. Câu thành ngữ này của nhân dân chứ không cần của một bậc trí giả nào! Thế mới tự hào cha ông ta không thua gì Khổng Tử chứ!

– Ha… Nỗi nhớ người thân len dần vào óc hả?

– Cháu thương mẹ. Mẹ cháu và dì Bình thân thiện với nhau hơn mọi người. Bà ngoại cháu hình như cũng có phần cưng dì Bình hơn. Bà nói vì dì Bình ốm yếu. Dì là luật sư nhưng chuyên bênh vực cho người nông dân thưa kiện mất đất, mất nhà và những phụ nữ thuộc dạng bị bạo hành nên dì không giàu như những luật sư khác. Bên Mỹ luật sư đắc giá lắm phải không ông ngoại?

– Bên Mỹ, hầu như ai cũng sợ đụng vào luật sư như đụng máy chém! Thế nhưng, xứ Mỹ là xứ tự do. Hễ một chút là họ kiện. Vào uống nước bị trượt chân cũng kiện. Ăn uống thấy sợi tóc, sợi lông cũng kiện. Lớ quớ nói năng không cẩn thận là rớt vào vụ kiện “phân biệt chủng tộc” có mà toi! Luật sư giàu to vì thế!

– Cậu Bảo giàu lắm hả cậu?

Nguyễn Thành Bang bật cười:

– Vậy dì Bình của chú mày có giàu không?

Tân ú ớ… Anh chống chế:

– Dì Bình không giàu nhưng luật sư khác giàu. Tùy người ông ơi! Việt Nam mình bên ấy có kiện nhau không?

– Không đáng kể vì người Việt mình nhát kiện lắm. Thỉnh thoảng có vài vụ kiện “chụp mũ” là “VC”. Cuối cùng, kẻ thắng là những người bị chụp mũ…

– Wào! Tùm lum củ hủ hả bác?

– Ừa! Không đáng vào đâu cả.

Ông lim dim… Thời kỳ khói lửa chia đôi núi sông phút chốc ba mươi lăm năm. Khi ông mới sinh ra, tình báo CS làm việc cho Pháp là Phạm Xuân Ẩn đã vào Sở Thuế Quan của Sài Gòn. Mười bốn ngàn điệp viên CS dưới sự chỉ đạo một phần của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch rải đều khắp miền Nam như kiểu “chuột vờn mèo” nhưng con mèo đã “nâng niu” những con chuột cho tới ngày chuốt hóa cáo đã nuốt sống những con mèo mang hia nhưng thiếu hai con mắt. Ông nhớ tới trước khi chuyển về Đà Nẵng, ông từng theo Thomas Polgar – người thay thế Shackley bay thị sát 4 vùng chiến thuật. Ông nhắm mắt để nghe lòng rung lên vì câu “Đồng Tháp vắng bóng hồng, hỏi rằng tôi yêu ai” trong “Trên 4 vùng chiến thuật” của Trúc Phương:

Tôi thường đi đó đây.

Bùn đen in dấu giày. Lửa thù no đôi mắt.
Chân nghe lạ từng khu chiến thuật.

Áo đường xa không ấm gió phương xa, nhiều đêm vắng nhà.
Mây mù che núi cao.

Rừng sương che lối vào.Đồng ruộng mênh mông nước.

Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù.

Áo nhà binh thương lính lính thương quê.

Vì đời mà đi.

Gio Linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá.
Pleime gió mưa mùa.
Tây Ninh nắng nung người, mà trận địa còn loang máu tươi
Đồng Tháp vắng bóng hồng, hỏi rằng tôi yêu ai.
Ân tình theo gót chân, bọn đi xa đánh trận
Gặp gỡ trong cơn lốc.
Xưng tao gọi mày thương quá gần.
Bốn vùng mang lưu luyến bước bâng khuâng của vạn người thân.

Bỗng nhiên, ông nhớ Lý Hai Thơ kinh khủng… Lý Hai Thơ của ngày xưa chứ không phải Lý Hai Thơ bây giờ! Trong khi đó, Nguyễn Thành Tân cũng đang nghĩ về Nguyễn Hoàng Liên và Nguyễn Thành Bảo đang lo lắng cho Lê Ngọc Bình. Chỉ có chú Năm, ông ta vô tư giữa hai cuộc chiến. Ông chỉ là một cậu bé lạc mất cha mẹ lúc người của Shakley tìm cách vượt tường tòa đại sứ chạy tới khách sạn Lee để giúp nhân viên CIA còn kẹt ở đó, lên trực thăng. Cậu bé lạc cha mẹ gặp Nguyễn Thành Bang cùng với… người vợ có mang. Nguyễn Thành Bang đã nhận cậu làm cháu và cùng nhau di tản. Không có “ông chú” này, chú bé Trần Văn Năm cũng bị Phi tặc cắt mất đầu trong một đêm cướp bóc nơi tạm trú của người Việt. Ông cũng là người duy nhất biết được 90% bí mật về con cái của Nguyễn Thành Bang. Vốn là một người cùng quê Cần Thơ với Nguyễn Thành Bang và sự nể vì với kính trọng vị “ân nhân” đã cưu mang mình trong thời kỳ lưu lạc, Trần Văn Năm tự nhiên trở thành người kín miệng hơn bao giờ hết. Ông chúi đầu đọc hoài tờ báo Công An trên máy bay và thiêm thiếp theo nhịp lắc lư nhẹ nhàng như đưa võng của nó cho đến khi cơ trưởng thông báo chuẩn bị hạ cánh.

Sân bay Tân Sơn Nhất hoàng tráng hiện ra. Hội Trường Thống Nhất cao 26 mét rợp bóng cây xanh ngát cũng thấy rõ từ trên không. Nguyễn Thành Bang sau này mới biết câu chuyện của bác đạp xích lô có người anh vợ cũng cùng nghề gặp thẻ bạc T84 cứu được cái mạng chành là có ý nghĩa. Người ta tìm ra T84 là ký hiệu mật của điệp viên CS Nguyễn Thành Trung tức Đinh Khắc Chung, một người được Mỹ đào tạo thành sĩ quan không quân tài giỏi đã dùng máy bay FSE 10271 ném 4 qủa bom MIC – 82 xuống dinh Độc Lập ngày 8 tháng 4 và ngày 28 tháng 4 để miền Bắc bước vào chung cuộc không có đối thủ. T84 là Trung, ngày 8 tháng 4 năm 1975 lĩnh nhiệm vụ bỏ bom! Chín năm sau, ngày 28 tháng 4 năm 1984 cũng là ngày lính Trung Quốc cắm cờ xâm lược lên đỉnh 1509 tức Lão Sơn và bị Việt Nam bắn gục. Cũng như điệp viên CS Phạm Xuân Ẩn hay những người khác từng “ăn cơm QG thờ ma CS”, tay không quân tài giỏi Nguyễn Thành Trung này từng được tụng là “anh hùng” và cũng từng bị gán là “gian hùng” phải nằm trong vòng quản thúc một thời gian dài nghe nỗi buồn “tàn phế”! Phải chăng xưa nay “Công danh là án phù vân. Trời mưa đất chịu, hờn thân sớm tàn!”. Người ta bỗng tin có thế giới thứ ba hiện hữu khi hàng loạt câu hỏi đặt ra trong những ngày cuối cùng của “Tháng Tư đen”: Vì sao Nguyễn Thành Trung mang bom dội xuống Dinh Độc Lập mà nó không sập? Tại sao Trần Quang Thận dùng pháo hai lần phá cổng mà không thực hiện được? Người ta lý giải rằng nơi đó, trước đây là đất của vương triều Chân Lạp. Thế kỷ thứ XV – XVI, chúa Nguyễn Phúc Nguyên (con thứ sáu của Nguyễn Hòang – chúa Tiên) đã mượn đất Prey Nokov từ Chân Lạp. Sau đó, chúa Nguyễn Phúc Tần (con thứ hai của Nguyễn Phúc Lan và là cháu nội của Nguyễn Phúc Nguyên) được vua Chân Lạp cống nạp luôn phần đất này tức Sài Gòn ngày nay. Đất thiêng cứu người. Bổn mạng của Ngô Đình Diệm gắn liền với Dinh Độc Lập cũng là Dinh Tổng Thống do ông đặt tên. Qủa bom nặng 2250 kg tương đương 500lb của hai phi công VNCH Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc trên máy bay cường kích Douglas A-1 tức A-1 Skyraiden thuộc Không quân Hoa Kỳ rơi đúng vào phòng đọc sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm rồi… nằm nghe ông Diệm… đọc Kinh Thánh luôn chứ không chịu làm nhiệm vụ ám sát ông. Dưới lòng đất của Dinh Tổng Thống chắc chắn là có vàng thiêng của thánh thần. Mỗi khi vàng thiêng tỉnh giấc đi ăn, nó sẽ thu hút tất cả kim loại như súng đạn, bom mất tác dụng công phá. Không tin, thử quật cả 12 hecta đất mà xem! Xe tăng của Trần Văn Thận khi hăng say chiến thắng đã húc vào cổng phụ thì cũng bị kẹt cứng vào đấy. Hai pháo thủ của Thận cũng hai lần không khai pháo phá cổng được vì đạn chịu… nghe Kinh Thánh chứ không chịu nổ. Nguyễn Thành Trung – phi đoàn 540Thần Hổ, người được cho là phi công xuất sắc của trường Không Quân Texas, Louisiana và Mississippi nhưng đã ném bom không chính xác với tọa độ quen thuộc như lòng bàn tay? Khi ném chính xác, bom lại không nổ. Khi bom nổ được một trái thì nổ chơi cho… có là chứ chẳng làm rát da Dinh Độc Lập. Phải chăng có bàn tay vô hình nào đó xòe ra hay vì đất thiêng không muốn người ta lấy máu đồng loại để tế thần?

Nguyễn Thành Bang nhìn đường băng Tân Sơn Nhất, ông chạnh lòng khi nhớ ngày phải rời bỏ đất nước, bỏ lại người yêu! Trên các đường phố Sài Gòn, hàng chục nghìn quân phục, quân trang và giày nhà binh được ném tứ tung. Bài hát “Một mai giã từ vũ khí” của Nhật Ngân từ chinh chiến với ước mơ không còn chiến tranh của đời lính chiến đã không thành hiện thực sáng tươi nhưng lại là hiện thực với một nửa đen tối, ngậm ngùi…

Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn
Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi ngoài con tim héo em ơi!
Xin trả lại đây, bỏ lại đây thép gai giăng với lũy hào sâu, lỗ châu mai với những địa lôi
Đã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ!

Trả súng đạn này, ôi sạch nợ sông núi rồi
Anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao
Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu với cây đa khóm trúc hàng cau
Với con đê có chiếc cầu tre
Đã bao năm vắng chân anh

Nên trở thành hoang phế rong rêu.
Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa
Rồi anh sẽ đón cha mẹ về
Rồi anh sẽ sang thăm nhà em
Với miếng cau, với miếng trầu, ta làm lại từ đầu.
Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm
Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn
Bạn anh đó đang say ngủ yên
Xin cám ơn! Xin cám ơn! Người nằm xuống
Để có một ngày, có một ngày cho chúng mình
Ta lại gặp ta, còn vòng tay
Mở rộng thương mến bao lạ
Chuông chùa làng xa, chiều lại vang
Bếp ai lên khói ấm tình thương
Bát cơm rau thắm mối tình quê
Có con trâu, có nương dâu
Thiên đường này mơ ước bao lâu!

“Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm. Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa, rồi anh sẽ đón cha mẹ về”. Nguyễn Thành Bang quay mặt vào cánh tay áo. Ông nhớ lại cuộc di tản cuối cùng bằng sân bay cũng bị tê liệt vì các hãng máy bay Mỹ bị pháo kích. Dù không bị pháo kích, cũng chẳng có ai còn gan ruột nào ở lại chỉ huy sân bay. Cuộc di tản trên nóc tòa đại sứ khi ấy, trong mắt Nguyễn Thành Bang bây giờ vẫn là một cuộc tháo chạy mất hết thể diện và tác phong của các tướng lĩnh trên chiến trường! Nguyễn Thành Bang với người… vợ có mang cùng một cậu bé đi cùng đã được Jim Delany trưởng CIA ở Cần Thơ thúc ép lên trực thăng. Không còn thân nhân ở Cần Thơ, người sĩ quan VNCH trong chiếc vỏ CIA rơi nước mắt, nắm tay người con gái mà định mệnh đã an bài ký thác cho anh làm vợ từ đêm 28 tháng 3 tại Đà Nẵng, bước lên chiến hạm USS Barbour County.

Sài Gòn thu nhỏ từ từ và mất hút trong tầm mắt. Những ngọn sóng lăn tăn rồi hóa lớn phủ lên thân tàu và để lại bèo bọt. Nguyễn Thành Bang cắn môi mình đến chảy máu khi buộc phải ôm chặc thân hình người con gái có mang vào lòng để tránh sóng nhồi. Anh đã nhớ Lý Hai Thơ cũng bằng cách này. Nước mắt anh ràn rụa trong tay mình.

Anh bây giờ đang cách xa em

Nỗi nhớ về em, sóng nhồi đau quặn.

Khi con tàu khuất xa Đà Nẵng

Môi anh khô thèm một tiếng cười.

Trong tay anh đang có một người

Sao chẳng là em, đừng hờn anh nhé.

Ta tha thiết tình yêu thời thơ trẻ

Nên nghe thương cánh phượng với nắng hè.

Em bây giờ khoắc khoải với tiếng ve

Anh da diết nhớ con sông Hàn nọ.

Sóng sẽ nghe, sẽ chuyền lời cùng gió

Em là sông, là sóng ngóng con đò…

Anh nhớ mãi…

Một vết thương nằm lại

Lòng anh thôi đau đớn bởi vì em.

Anh nhớ mãi ánh mắt em ngây dại

Tiễn người đi, ai biết có quay về!

Anh muốn khóc giữa trời non gió bể

Nhờ hoàng hôn hóa giải một lời nguyền.

“Anh trở lại tìm em”, anh không thể

Chuyến đi này, anh có nỗi niềm riêng!

– Tới rồi chú!

Tiếng thằng Năm gọi khẽ làm ông tỉnh giấc. Ông lẵng lặng xách túi xách đi xuống bằng cửa trước máy bay. Những người tiếp viên gật đầu chào hành khách nhưng nụ cười chẳng nở trên môi họ. Mọi người vào Terminal 2chờ chuyển tiếp quốc tế. Nguyễn Thành Bang bịn rịn với Tân:
– Thôi cháu ở lại mạnh giỏi nghen, ông đi.

Tân nghẹn ngào. Lần đầu tiên, ông gọi anh bằng cháu chứ không bằng thằng mi, thằng nhỏ. Chú Năm vỗ vai Tân:

– Cháu là người chân thật, chơi được lắm. Ở lại mạnh giỏi he!

Bảo khều tay Tân, khẽ giọng như không muốn cho ba và chú Năm nghe:

– Cháu nhớ coi sóc dì Bình cẩn thận dùm chú nghen. Chú về thu xếp công việc rồi qua lại.

– Dạ! Ui! Bữa nay, chú mới chịu “ví bằng thú thật cùng ta” rồi đấy à!

– Suỵt!

– Suỵt cái gì, thằng ba que! Anh Năm mày liếc qua đã biết con ruồi nào đực, cái. Giấu hả… bử?

– Suỵt! Ông ngoại có điện thoại.

– Chắc chia tay, chia chân cuối cùng với bà ngoại đa!

Nguyễn Thành Bang nhét điện thoại vào túi áo. Ông xoa đầu Tân một cái rồi lầm lũi đi vào cổng. Bảo và chú Năm cố vẫy vẫy Tân lần cuối. Giờ check in đã hết. Tân đứng nhìn ba người lần lượt biến mất trên cầu thang máy. Anh quay về khách sạn mà nghe lòng lâng lâng. Đèn thành phố Sài Gòn vẫn sáng trưng. Thành phố không ngủ bao giờ! Một lát sau, điện thoại Tân bật lên nháy nháy. Tân bắt máy… rồi anh hối hả gọi taxi nhanh chóng trở lại phi trường.

Ba cha con, chú cháu ngồi trong phòng chờ. Nguyễn Thành Bang nghe cú điện thoại của ai đó mà mặt mày tái ngắt. Ông hấp tấp đứng dậy. Bảo và chú Năm chỉ kịp nghe ông nói ngắn:

– Năm! Con và Bảo về trước! Chú ở lại vài ngày. Giải quyết công việc xong, chú về ngay!

Rồi ông lao ra khỏi phòng đợi không kịp để Bảo hé miệng. Ông vừa chạy vừa bấm điện thoại. Chuyến máy bay của hãng hàng không JAJ 747 – 400 từ thành phố Hồ Chí Minh tới Narita cất cánh đúng giờ nhưng nó đã thiếu một người khách.

*

Bệnh viện Đà Nẵng

Bác sĩ nhìn bà dì út đầy thương cảm:

– Ung thư máu hiện giờ cũng chưa có điều trị nào gọi là khả quan 70% nhưng cũng đến nổi bi đát 100% bà ạ.

Dì út sao không biết loại ung thư bạch cầu – bệnh ung thư máu này thuộc loại ung thư ác tính. Nó phát sinh khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Duyên thở dài. Chị lo cho đứa em gái biết chừng nào nhưng hai chân chị còn nhấc lên chưa được thì giúp em bằng lời:

– Con nghĩ dì cho em nhập viện ở Sài Gòn hay Hà Nội. Hai nơi đó chữa trị ung thư máu có hiệu qủa hơn.

Dì út khóc như mưa:

– Làm sao mà con bé phải cái bệnh quái ác này chứ!

Duyên nghẹn:

– Y học cũng bó tay gì à! Nguyên nhân của bệnh ung thư máu tới nay vẫn chưa được xác định nhưng có thể là do các tác động của môi trường ô nhiễm hóa học hay nhiễm chất phóng xạ hoặc cũng có thể là do di truyền.

– Bà ngoại và ông ngoại trước có ai bị ung thư máu đâu mà di truyền, con!

– Con cũng không rõ. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng lắm hung hăng dì nợ. Đặc biệt hơn khi loại tế bào bạch cầu tăng số lượng một cách đột ngột như đất ít, dân nhiều khiến chúng thiếu “thức ăn” và chúng “ăn thịt” đồng loại tức hiện tượng ăn hồng cầu. Máu người bệnh sẽ bị phá hủy dần dần. Chính vì lẽ ấy mà người bệnh sẽ thiếu máu trầm trọng dẫn đến chết. Căn bệnh này là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra khối u. Hiện nay, căn bệnh này đã có một số biện pháp điều trị nhưng hiệu quả không cao.

– Hèn chi con Bình hay cảm thấy mệt mỏi. Hôm nào đi kiện dùm người ta về đất đai, nó về nhà nằm dài ra kêu mệt mỏi. Mới hôm trước, thấy nó mập mạp cũng mừng mừng. Hôm nay, nó xuống ký hồi nào chẳng hay. Ban đêm lại cứ đổ mồ hôi suốt. Hôm qua, nhiều người tới hỏi thăm em và nhờ nó làm luật sư cho vụ kiện giải tỏa mặt bằng đền bù chưa đúng chính sách.

– Hãy để em nó nghỉ ngơi. Chuyện đâu còn có đó thôi dì nợ. Ban đêm mà nó hay đổ mồi hôi, vậy thì gần đúng là em Bình bị bệnh ung thư máu rồi! Tội nghiệp! Hình như nó mới vừa có cảm tình với Bảo.

Nghe nhắc tới tên Bảo, dì út kiên quyết:

– Con đừng nên ủng hộ em chuyện này. Nó và Bảo không thể nào!

– Dì út!

Duyên kêu lên. Chị không nghĩ rằng dì út lại có thể đi phản đối một mối tình mà chị cho là đẹp đẽ và xứng đôi. Nếu phải phản đối, tại sao dì không phản đối đám cưới của mẹ? Tuy nhiên, chị gát chuyện cất vấn dì út chuyện Bảo và Bình. Chị đang lo cho căn bệnh của Bình. Nếu thật, nó cũng không thể nào cùng Bảo đi đến kết qủa cuối cùng. Chị cũng nhớ hôm nào chị về thăm mẹ, em Bình cũng kêu đau đầu nhưng chị tưởng nó lo cãi với tòa cho thân chủ của nó chứ đâu có biết nó mệt vì bạch cầu ăn gần hết hồng cầu của nó. Chị là bác sĩ mà chị lại không biết tới những triệu chứng cơ bản của em. Chị thở dài tự trách mình. Bà mẹ buồn rầu:

– Mẹ biết bệnh ung thư máu khó mà điều trị được. Nó có bề nào, mẹ không làm sao ăn nói… Chúng ta phải làm thế nào? Nếu không trị sớm, e rằng Bình khó qua khỏi. Mẹ nhớ khi nó 4 tuổi, nó đã từng xỉu một lần…

Bà mẹ nghẹn nghào rồi bỏ lỡ câu nói. Duyên nghẹn ngào:

– Nhà mình khi không lại gặp không may.

– Họa vô đơn chí mà con! Theo ý con, em Bình phải chữa bằng cách nào đây? Nó ốm yếu, kéo dài thời gian, nó theo không nổi.

– Dì đừng lo lắng qúa. Con biết hiện tại các phương pháp điều trị bệnh ung thư máu chủ yếu vẫn là thay tủy xương của người bệnh. Tức là phải có người cho tủy xương phù hợp. Ví dụ như người hiến hay nhận phải có chung huyết thống để thay thế phần tủy xương đã bị hư hỏng và kích thích sinh ra hồng cầu cũng như kìm hãm sự gia tăng đột biến của bạch cầu. Tuy nhiên, dù có điều trị bằng phương pháp nào thì khả năng thành công cũng rất thấp, chỉ khoảng 10% và dù cho có thành công thì khả năng bệnh tái phát cũng rất lớn trong vài năm trở lại mẹ nợ.

Nghe tới đây, bà mẹ và dì út nhìn nhau. Bà mẹ hỏi:

– Còn cách nào khác hơn không con?

– Có mẹ nhưng không hay hơn. Ví dụ như ghép tủy từ cuống rốn, cấy tế bào gốc hay dùng hóa trị liệu. Hóa trị vẫn có triển vọng rất tốt cho các bệnh nhân nhưng cũng hủy hoại nhiều tế bào máu tốt. Ngoài ra đối với dòng Lympho còn có thể xạ trị màng não, ngăn ngừa tế bào phát triển lên não. Đối với những bệnh nhân có quá trình điều trị bệnh tốt, sức đề kháng tốt, thích nghi với môi trường tốt và nằm trong khoảng thời gian điều trị từ 3 tới 5 năm có thể bình phục hoàn toàn.

– Điều trị 3 tới 5 năm? Dài như thế, mẹ e rằng em con chịu không nổi.

– Vậy thì chúng ta chọn cách ghép tủy cho nhanh. Em Bắc tới kìa!

Lê Vương Bắc dẫn cô con gái mười tám tuổi tới. Họ đi với ông ngoại. Cả ba gặp nhau ở ngoài cổng bệnh viện. Con bé chạy lại:

– Cháu chào dì hai! Dì có còn đau nhiều không?

– Chào con! Dì thấy đỡ hơn trước.

– Bố con bé đâu?

– Bố nó bận biên tập. Anh ấy nói tối sẽ tới thăm chị và em Bình. Chị hai bao giờ tháo băng bột?

– Hai tuần nữa em ạ.

– Anh hai chưa tới hả chị?

– Chưa!

– Dạo này người ta chết nhiều ghê. Chết đâm, chết chém, bắn lộn rầm rầm. Anh Nam nói anh ấy bận rộn với nhiều nghi án về những cái chết kiểu “trúng gió” nhưng hễ cái chết nào có “vấn đề” buổi sáng là buổi chiều “êm đẹp” hết.

– Thời buổi này mà em! May mà chúng nó không cố cán cho chị chết chứ chúng tông thêm phát nữa chắc xong đời!

– Con khỏe không?

– Cám ơn bố. Con đỡ nhiều.

Duyên quên mất không hỏi bố máy bay chưa bay hay sao mà bố còn ở đây. Dì út đứng dậy:

– Bắc ngồi đây chơi với chị hai. Dì út về nhà nói chuyện với bố một lát.

*

Bà dì út cùng Nguyễn Thành Bang trở về nhà. Bà mời ông vào phòng khách. Lê Ngọc Duyên đã bình phục ít nhiều nhưng ca của Lê Ngọc Bình trở nên thành ca sinh tử. Bà không muốn mất đứa cháu gái yêu qúy nên phải cầu cứu ông. Biết ông đang ở phi trường chuẩn bị lên máy bay nhưng bà vẫn gọi và bà tin chắc rằng, ông sẽ quay trở lại. Những người nhân nghĩa xưa nay đều biết phân nặng nhẹ. Nguyễn Thành Bang đã phân nặng nhẹ nên ông cùng Tân lấy vé máy bay trở về Đà Nẵng ngay sáng hôm sau. Thấy ông không nói gì, dì út chậm nước mắt:

– Tôi đã từng thề là không nói ra một điều gì vì các cháu. Anh hai cũng nên thông cảm. Tôi biết anh một tháng nay đã dò tìm tông tích của chị. Việc bác Hai Ngựa chết bất ngờ đủ để thấy rằng tình hình càng tồi tệ hơn nếu anh cứ một hai tìm cho ra lẽ. Tôi không tiếc thân tôi mà chỉ thương cho cháu…

– Út cứ nói!

– Lý Hai Thơ còn sống!

– Tôi vẫn hồ nghi cô ấy còn sống.

– Nhưng sống nơi đâu chỉ có Lê Tâm mới biết.

– Ông ấy giờ ở đâu?

– Lê Tâm cũng đã đi nước ngoài chữa bệnh chứng tâm thần phân liệt. Hậu qủa của chiến tranh và cũng để tránh mặt một sự thật ba mươi lăm năm qua.

– Ngày đó như thế nào?

– Buồn và đau thương. Mẹ tôi chết vì Lê Tâm vô tình bắn nhầm. Chị hai bị thương ở đầu vì cái bàn sinh nhật cho cháu Định đè xuống khi chị ấy nhào tới mẹ tôi. Tôi lúc đó cũng đang kinh hồn khi nghe tiếng nổ.

– Tại sao?

– Tôi không tài nào biết được bí mật câu chuyện cho tới bây giờ.

– Lý Hai Thơ bây giờ là ai?

– Vương Quỳnh! Người đã có với anh Đoàn hai đứa con sinh đôi.

– Tôi thật sự mù mờ út à! Tôi không thể hình dung câu chuyện như thế nào?

Dì út chùi nước mắt:

– Khi anh đi tản cư khỏi Đà Nẵng, thành phố thay chủ. Cuộc sống sau 1975 anh cũng biết là nghèo khổ và phân biệt. Không có anh Đoàn, mẹ không sáng mắt anh nợ. Không có ảnh, nhà cửa đã bị tịch thu. Chị đành lấy anh Đoàn. Anh ấy là sĩ quan miền Bắc nhưng tư cách con người không chê được ở điểm nào? Anh ấy và chị hai đang sống hạnh phúc thì ảnh bỏ đi Hà Nội nói là đi công tác. Mẹ biết được anh Đoàn đã ghen với anh.

– ?! Tôi thật không hiểu!

– Cái áo lính hôm anh bị thương và cái quạt anh tặng cho chị!

– Ô!

– Mẹ tôi bắt gặp anh ấy thẩn thờ trước hai món đồ anh để lại nhưng anh ấy không nói gì rồi giận lẫy bỏ đi!

– Chúng giờ ở đâu?

– Tôi cho hết vào cái rương của chị và vẫn còn cất. Khi nào anh về, tôi sẽ giao nó cho anh.

Nguyễn Thành Bang đờ đẫn. Mắt ông mờ dần và những giọt nước mắt ngăn không nổi đã rơi xuống bàn. Ông nghẹn giọng:

– Vậy, Đinh Ngọc Đoàn đâu?

– Anh ấy cũng chết rồi anh nợ! Người bắn anh ấy là Lê Tâm.

– Tôi cũng mê muội qúa!

– Anh ta không phải cố ý. Chính Đinh Ngọc Đoàn muốn tự tử. Trong tình trạng bị tình nghi là gián điệp Trung Quốc trong khi cái ghen Lý Hai Thơ chưa giải được thì xuất hiện Vương Quỳnh cùng hai đứa con. Anh nghĩ anh phải làm gì cho công bằng? Hai người nói chuyện gì rất lâu rồi nghe cái đùng. Mẹ tôi nằm xuống. Nghe tiếp cái nữa, anh Đoàn ngã lăn.

Thấy Nguyễn Thành Bang như chới với trong không khí, dì út hỏi:

– Anh uống một chút nước nhé?

Nguyễn Thành Bang chưa kịp trả lời, Quyên ở đâu xuất hiện. Cô mang hai ly nước:

– Bà và ông ngoại uống trà!

– Ủa? Cháu đến lâu chưa?

– Con mới tới. Bố dặn con nên tới nấu cơm cho ai về thăm ngoại thì ăn.

– Ừ. Đừng nấu nhiều qúa vì ai cũng mệt mỏi hết rồi.

– Dạ, bà.

– Cám ơn cháu dâu.

Đợi Quyên đi ra ngoài khép cửa, bà tiếp:

– Anh hai! Tôi đã thề không hé miệng nhưng giờ này tôi không nói không được. Không tiện nói thêm gì nữa. Khi nào con Bình khỏi bệnh, tôi nói thêm cho anh những gì tôi biết. Anh uống trà đi!

– Tôi chưa khát lắm.

Dì út bưng ly trà âm ấm uống một hơi. Dì tiếp:

– Bác sĩ quyết định chuyển viện vào Sài Gòn cho Lê Ngọc Bình.

– Bệnh gì mà chuyển viện cô ba?

– Ung thư máu!

– Trời! Thằng Bảo biết thế nào cũng về lại đây sớm hơn.

– Nó và cậu Bảo không thể nào mà!

– Tôi không có ý kiến cô ba à! Chúng nó không còn con nít. Tôi ít khi can thiệp vào chuyện tình cảm nếu như không qúa cần thiết.

– Chuyện đó nói sau đi!

– Lý Hai Thơ sự thật như thế nào?

– Anh thật sự không quan tâm tới Lê Ngọc Bình?

– Tôi coi nó như con rồi còn gì?

– Chúng tôi chọn phương án hai cho nó là cấy tủy. Nhưng…

– Cô cứ nói.

– Cấy tủy, không phải ai cũng cho nó được ngoại trừ người thích hợp nhất là huyết thống. Tôi là dì ruột nhưng mẩu tủy của tôi chưa thích hợp với nó.

– Bình nó còn một số người ruột thịt mà cô! Nếu cần tới tôi, tôi cũng cho nó miễn cứu sống được mạng người. Tôi cứu nó cũng như cứu thằng Bảo. Nó sẽ phát điên nếu con Bình có chuyện gì!

– Anh đã hứa cho nó tủy phải không?

– Tôi không nuốt lời.

– Không ai có thể cứu nó ngoài anh…

Bà chưa dứt câu đã ngã xuống thềm khiến Nguyễn Thành Bang chới với…

*

Tân gọi mãi không thấy Hoàng Liên trả lời. Anh mượn cớ mang sổ đỏ cho Lưu Đan để dò coi cô bị chuyện gì. Căn nhà chỉ còn có bà mẹ. Bà mẹ ương ương dở dở, Tân biết có hỏi cũng bằng thừa. Ngày chủ nhật không lẹ họ đi dạy cua kéo ở đâu? Tân còn đang mơ hồ thì con chó thấy người lạ sủa um lên. Một người hàng xóm quen biết giơ tay ra hiệu:

– Cô Hoàng Liên… bị công an… mời đi sáng nay rồi!

Tân rụng rời tay chân. Anh hàng xóm nói xong cũng vội rút vô nhà. Tân cố nhấc chân ra cổng. Trên cây cảnh bên hông nhà, bức tranh bị gió cuốn dính vào cây hoa giấy. Nó tơi tớt, nhàu nhò nhưng vẫn còn thấy cảnh hoàng hôn. Hoàng hôn màu tím lan tận chân trời! Tân bần thần. Anh biết ai đã vẽ bức tranh ấy. Anh gỡ hai mảnh rách một cách cẩn thận rồi cuốn lại cho vào túi áo. Điện thoại reo. Tân khụy xuống lần nữa khi ông ngoại báo đang cấp cứu bà dì út ở bệnh viện. Tân chạy tới bệnh viện nhưng đã trễ. Băng ca trắng khiêng ra một xác người. Lẽ ra, xác chết phải được chuyển vào phòng ướp lạnh chờ giải phẫu tử thi nhưng bệnh viện lại cho mang về chôn cất liền. Đứng bên xác bà dì út, Tân bất động. Quyên có mặt ngay tại lúc này. Cô không nói một lời với Tân nhưng lo mọi việc ma chay chu đáo chưa từng thấy. Những đồ đạc của bà dì út được bàn tay Quyên thu góp. Bà ngoại Tân như già thêm mười tuổi. Nước mắt bà không chảy ra được. Bà lo sợ nhiều hơn khi nhìn ra chung quanh đàng con cháu. Chúng sẽ thiếu đi một bàn tay săn sóc của bà dì út suốt mấy chục năm nay. Dì út không chồng con nên bao nhiêu tình thương, bà dồn hết vào con cháu. Đám cháu con cúi đầu nhưng đứa nào cũng mắt cũng sưng húp và đỏ chét. Đám tang bà Hai Ngựa đầu đường chưa mở cửa mả thì đám tang bà dì út bên này diễn ra. Không ai còn tinh thần để nghĩ ngợi gì nữa ngoài Nguyễn Thành Bang. Ông chấp nối tình tiết và giật mình với những điều linh tính. Trong bệnh viện, hai chị em Lê Ngọc Duyên và Lê Ngọc Bình không được báo tin. Duyên đang hồi sức còn Bình đang chờ người nhà ký giấy chuyển viện. Duyên lo gợi ý mẹ cho em đi viện Huyết Học và Truyền Máu TW gấp vì Bình đã được chẩn đoán là máu bị T-PLL tức T- cell prolymphocytic leukemia – một trong bốn dòng Leulemia ung thư máu ác tính. Loại bệnh rất hiếm hoi xảy ra hơn ba dòng trên và khó có thể cứu sống nếu cứu chập trễ. Không chờ được, bà ngoại nhờ ông ngoại ký giấy đưa Bình đi Bắc. Tân lấy ngày nghỉ đi cùng với ông ngoại. Không muốn bỏ chị, vợ chồng Lê Ngọc Định xin phép đi cùng. Sau đám tang dì út, ba người đàn ông mua vé tàu đi ngay vì Bình không thể đi máy bay. Chuyến tàu chút xíu nữa thì mang bốn người chạy ngược vào Nam vì Tân mua nhầm vé tàu SE1. Cậu Định hớt hơ, hớt hãi gọi đổi vé SE2 đi Hà Nội. Tàu SE2 khởi hành lúc 12 giờ 30 trưa. Bình nhận tin nhắn của Bảo trên tàu “Anh đã về đến nhà. Em có khỏe không? Mọi người bình yên hết phải không em? Hẹn gặp lại. Hôn em”. Cô bồi hồi với một đêm chia tay… Nước mắt Bình lăn dài. Người em dâu nắm tay chị chồng. Cô tưởng Bình sợ bệnh mà buồn. Cô ngồi một chút với chị rồi cũng thiu thiu… Đằng khoan kia, Định và Tân đang đau đáu con tim vì nhớ dì út nên chẳng ai nói với ai tiếng nào. Ông ngoại vừa chợp mắt vì mệt. Không biết ông mơ gì mà ú ớ… gọi Lý Hai Thơ!

*

Tàu chạy xình xịch từ chiều đến tối. Nó chạy qua Huế, Quảng Trị, Đồng Hới, Hà Tĩnh để sáng mai, nó sẽ tới Vinh rồi Nam Định và ngừng lại ở 120 Lê Duẩn: Ga Hà Nội. Bình mở tin nhắn lần nữa. Ba từ “anh yêu em” làm cho cô bần thần. Anh không giống những người đàn ông có địa vị dóc phách. Anh hiền lành và thu hút cô ngay từ lúc đầu. Sự thông minh và nhân ái trong nghề nghiệp của anh theo lời kể của chú Năm khiến cô càng vị nể. Trong tình yêu, nếu lấy tiền bạc làm thước đo, tình yêu ấy sẽ sớm thành tình mua bán. Khi đã mua bán, ai chẳng muốn có lời. Khi lời một, người ta tham lam muốn tới mười. Khi sự ham muốn không có đáy, tình yêu là ván bài lật ngửa. Bình hy vọng đừng ai báo cho anh ta hay rằng cô bị ung thư máu trong lúc này. Nhưng đã ung thư máu rồi thì yêu anh ấy làm gì nữa mà hủy hoại cuộc đời sau của người ta! Nghĩ đến đây, Bình thèm được khóc qúa!

– Đến Hà Nội rồi chị!

Cô em dâu đập tay Bình tưởng chị ngủ. Tân và cậu Định chờ thuê taxi lớn nhưng chưa có. Nguyễn Thành Bang lo lắng:

– Sao taxi hiếm vậy con?

– Không hiếm đâu bố. Hà Nội có cả trăm doanh nghiệp taxi và xe hàng chục nghìn chiếc. Để con gọi taxi VIC 38.230.230. Chưa có xe lớn à? Anh bấm 38.53.53.53. Chiếc taxi 8 chỗ ngồi chạy tới ngay. Tân nói địa chỉ. Tài xế gật đầu. Anh ta chạy lòng vòng. Thành phố nghẹt xe và ồn ào tiếng còi khiến Nguyễn Thành Bang nhức đầu. Ông lắc đầu:

– Bên kia nếu nghe ai đó bóp còi đó là trường hợp lái xe tỏ thái độ bực bội hay ra hiệu chi đó. Đường xe chạy ngay thẳng, ít tai nạn hơn ở ta nhiều.

– Không bóp còi thì chừng nào mới ra khỏi chỗ này bác. Chúng cháu quen rồi. Không bóp còi tức còi hư. Công an phạt chết!

Xe chạy qua Âu Cơ, Yên Phụ, Cửa Bắc hồi nào chẳng ai hay. Nó len vào Quán Thích, Nguyễn Biểu, Hoàng Diệu tới Điện Biên Phủ cũng chẳng ai biết. Cho tới khi nó nhập vào Lê Duẩn, Ngọc Hồi và tài xế thắng lại ở 78, mọi người mới biết đó là đường Giải Phóng. Bệnh viện Huyết Học và Truyền Máu trước mặt. Định bàn:

– Kiếm khách sạn cho Bình nghỉ rồi mai chúng ta vào viện, bố nhé!

– Ông ngoại cũng mệt. Cháu cũng muốn chết đây.

Nguyễn Thành Bang nhìn Tân rồi quay qua Bình. Cô cố gắng mỉm cười:

– Con không sao. Chỉ sợ bố có việc gì, bà ngoại buồn.

Nguyễn Thành Bang nghe lòng chảy ra. Ông gật đầu:

– Vậy chúng ta cùng nghỉ một chút.

*

Bệnh viện Huyết Học

Cầm kết qủa thử máu, người bác sĩ hỏi:

– Ai là Nguyễn Thành Biên?

– Tôi.

– Bác là gì của bệnh nhân?

– Là… bố.

– Còn những người kia?

– Họ là em trai và cháu trai.

– Vợ chồng cậu em của bệnh nhân và cháu của bệnh nhân chưa đủ độ tương thích.

– Vậy là không còn hy vọng?

– Bác chuẩn bị tinh thần năm ngày nhé?

– Năm ngày?

– Vâng! Năm ngày mới đủ số lượng tủy cần dùng cho con gái bác.

– Tôi?

– Vâng!

Bác sĩ nói xong, ông ta quay vào phòng họp khẩn. Nguyễn Thành Bang tần ngần. Ông chỉ có thể ở đây hai ngày là tối đa vì gia hạn máy bay cũng tới ngày. Không lẽ phải hoãn lại vì con gái Lý Hai Thơ? Ông đang cất một nỗi buồn về những người đã chết không nói được. Còn người còn sống thì chẳng biết ở phương trời nào? Ông trở về phòng mình suy nghĩ. Sau cùng, ông cũng quyết định bỏ vé máy bay lần nữa và chịu tiền phạt. Ông trở về phòng nằm trằn trọc. Ông kêu thầm: “Lý Hai Thơ. Điều anh làm được cho em, anh cũng đã, đang và sẽ tận hết sức mình. Nếu cứu được con gái em thì tốt, không cứu được, âu cũng là mệnh trời. Em đừng giận anh, em ơi!”. Không mê tín nhưng ông thầm van vái cho những người đã ra đi phù hộ cho con gái của Lý Hai Thơ. Năm ngày liên tiếp, ông được bác sĩ tiêm thuốc kích thích hoạt động tạo tủy từ máu ngoại vi. Như một phép màu, ba ngày sau, bác sĩ thông báo an toàn của sự truyền máu và ghép tủy. Vợ chồng Định và Tân mừng rơi nước mắt. Nỗi thất vọng và buồn tang như vơi đi từ ngày dì út đột ngột mất.

– Xây mười cấp phù đồ cũng không bằng cứu một người như dì Bình con đó ông ngoại.

– Lạ nhỉ? Không thể nào tin được có sự phù hợp lạ lùng. Nhưng nếu tủy con phù hợp cho chị Bình thì hay hơn vì bố có tuổi rồi, con còn trẻ.

Nguyễn Thành Bang mỉm cười:

– May mắn của Bình thôi, con ạ. Bác sĩ nói Bình phải ở thêm tháng nữa để kiểm tra lại đó.

Tân nhận ngay:

– Để cháu ở lại với dì.

Cậu Định gạt đi:

– Cháu về trước lo công việc. Một mình Quyên lo không kham đâu cháu. Vợ chồng cậu ở lại với dì Bình mười hôm rồi vợ chồng anh chị Bắc ra thay.

Nghe họ bàn nhau, Nguyễn Thành Bang thấy lòng ấm áp. Không biết Lý Hai Thơ lấy được người chồng như thế nào mà các con, ai cũng có lòng nhân ái. Lòng ông như chảy ra lần nữa. Ruột thịt cần sự quan tâm. Ở đời cần một tấm lòng là thế! Ông cũng biết bây giờ, anh chị em ruột thịt trong các gia đình khác cũng đang… làm thịt nhau vì gia tài, vì tất cả những gì có thể “lột” được thì họ cứ lột nhau cho đến khi trần văn trụi.

*

Đêm khuya nào bà ngoại cũng gọi ông hỏi thăm. Bà báo rằng Duyên đã biết tin dì út mất đột ngột mà ngỡ ngàng. Nó khóc cả ngày khiến chồng nó hoảng. Bà chuyển giọng: “Anh dặn tụi nhỏ đừng cho Bình biết tin. Cám ơn anh”. “Ơn gì cô?” “Ơn thay tôi trả nợ cho đời. Anh đã cứu cháu Bình. Anh yêu cầu chuyện gì, tôi làm được, sẽ làm cho anh?”. “Tôi đã năn nỉ cô bao nhiêu lần nhưng cô có nói đâu”. “Đó là yêu cầu nói, tôi nói không được nhưng tôi đã làm cho anh một chuyện rồi”. “Chuyện gì cô nói thử xem?”. “Nếu anh thật là Nguyễn Thành Bang chứ không phải Nguyễn Thành Biên, anh là người yêu của Lý Hai Thơ ba mươi lăm năm trước, anh phải biết hiện giờ anh đang cứu ai?”. “Dĩ nhiên là con gái Lý Hai Thơ”. “Phải, nhưng phải mới một nửa”. “Tôi chẳng hiểu cho lắm”. “Nửa kia là của anh. Anh không nên để Bình và Bảo lấy nhau”. “Nói rõ chút được không?”. “Nó là phân nửa của anh”. “Sao?Ai?”.

Bà không nói nữa. Bà buông phôn rồi. Ông lẩm nhẩm: “Nó là phân nửa của anh?”.

– Trời!

Một đêm tháng 3 năm 1975 “… Nhìn chị hoảng hốt, anh quá đổi đau lòng, đành nuốt nghẹn:

– Vậy tôi đi nha! Chị hãy hứa chờ tôi trở về bằng mọi giá. Đừng quên tôi nha!

Chị nhìn anh đau xót. Như ước lượng thời gian xa cách sẽ muôn trùng cách xa. Anh biết, nếu anh đi rồi, anh sẽ chẳng còn những ngày ngồi bên nhau trên ghế đá công viên bên bờ sông Bạch Đằng Tây. Chỉ sống với chừng ấy nỗi nhớ, anh nghe cũng lịm người. Hiện tại, anh đang đau thắt lòng. Chị cắn môi, đầu cúi nhìn đôi chân mình như ước lượng ngày mai, chị sẽ phải bước đi đâu? Chị lấy hết can đảm nhìn anh như muốn thu lấy hình ảnh của anh lần cuối cùng. Anh dấn tới chị. Chị chưa kịp định thần, anh ôm lấy chị bằng vòng tay người thanh niên rắn chắc. Chị ràn rụa nước mắt ngập ngừng và nhắm mắt… Lời thì thầm của anh bật ra:

– Một ngày nào đó, anh sẽ mang hoàng hôn màu tím về cho em. Hoàng hôn không bao giờ có tuổi như tình yêu. Đồng ý không?”.

– Ôi trời ơi!

Nguyễn Thành Bang rên lên và ông ngã vật ra giường: “Trời ơi! Sao mà ta ngu ngốc đến không đoán được ngụ ý của dì út và bà mẹ. Họ cùng ngăn chận hai đứa Bình và Bảo là vì cái gì! Trời ơi! Tôi không phải là người. Thiếu chút nữa, nếu tôi bỏ về Mỹ, tôi đã đi sai một nước cờ và hết đường gỡ. Lý Hai Thơ! Anh cám ơn em vô vàn! Mất em, anh đớn đau ba mươi lăm năm qua nhưng được đền bù bằng một đứa con ruột thịt, anh hạnh phúc không biết dường nào! Thế nhưng, trên đời này, ruột thịt cách xa không qua đứa con thân cận. Anh đã nuôi nấng Nguyễn Thành Bảo. Trời đã cho nó làm con của anh trong ngày 28 tháng 3 năm 1975 khi nó còn nằm trong bụng mẹ di tản theo anh thì làm sao anh có thể nào đi khẳng định một sự thật qúa bất ngờ cho nó? Anh sẽ mãi mãi im lặng để mối tình cảm thiêng liêng này không bao giờ rạn nứt. Anh đành phải chấp nhận hy sinh như em đã chấp nhận làm vợ người để nuôi con anh khôn lớn. Chúng nó có thể lấy nhau và anh yêu thương con gái anh trong hóa thân đứa con dâu. Điều này tốt ngàn lần hơn nhận đứa con ruột để biến đứa con nuôi kia thành con rể. Cám ơn cả những ai đã nuôi nấng nó. Trời ơi! Sao tôi ngu ngốc không nhận ra đôi mắt u buồn của nó chính là của tôi! A… đau… “. Ông nghe nhói nơi ngực một cái…

  • Lời mở

    Hiệp định Genève (Accords de Genève - Geneva Conference) ngày 21tháng 7 năm 1954 đã cắt Việt Nam làm hai mảnh. Hiệp định Paris (Accords de Paix de Paris - Paris Peace Accords) ngày 27…

  • CHƯƠNG 1: ĐÁM CƯỚI VIỆT KIỀU

    Mặt trời vừa đứng cây sào. Lượng xe trên cầu sông Hàn bắt đầu giảm sau giờ người dân thành phố đi làm. Từ xa, một đoàn xe hơi năm chiếc toàn màu đen của…

  • CHƯƠNG 2: SỢI DÂY VÔ HÌNH THẮT CỔ

    Tại khu biệt thự sang trọng ở Trần Phú, ông Lê Chấn vặn thằng con: - Tại sao đám hỏi cả năm rồi mà chẳng thấy anh cả nói gì tới đám cưới với họ…

  • CHƯƠNG 3: TÌNH TRONG CHIẾN LOẠN

    Tháng 3/1975. Những đợt pháo kích của quân Bắc Việt đã nã vào thành phố Đà Nẵng. Dân chúng chạy theo lính ùn tắc các ngã đường nhất là các con đường chạy xuống cảng…

  • CHƯƠNG 4: LÝ HAI THƠ

    Khoa Sản Bệnh viện Đà Nẵng cuối năm 1975 có hai người đang nhấp nha, nhấp nhỏm chờ bên ngoài. Khi cửa phòng sản hé mở, một y tá gọi tên người nhà sản phụ,…

  • CHƯƠNG 5: CÁI CHẾT BÍ ẨN

      Bà mẹ nhìn tờ lịch. Thời gian chẳng bao giờ chịu dừng lại. Bà thấy ngộp thở. Cái ngộp thở sức khỏe đuối theo thời gian không làm bà ngán ngao bằng cái ngộp…

  • CHƯƠNG 6: HÔN NHÂN ĐỊA NGỤC

    Quyên nghiễm nhiên trở thành vị hôn thê của Tân. Cô biết Tân bây giờ ghét cô tận xương tủy nhưng mục đích của cô đã sắp đi tới kết quả cuối cùng: Cái gia…

  • CHƯƠNG 7: HOÀNG HÔN MÀU TÍM

    Ba mươi năm trước. Mùa hè 1973. Quán vá xe đạp bên kia trường Phan Chu Trinh có hai người khách. Anh vào trước. Chị vào sau. Chủ nhật, đường phố Phan Chu Trinh vắng…

  • CHƯƠNG 8: CHA CON

    Ngồi luôn trong phòng làm việc vì ngao ngán trở về nhà, Tân đang nghĩ về những giây phút êm dịu khi ngồi với Hoàng Liên, điện thoại reo. Tân nghe giọng run run của…

  • CHƯƠNG 8: CHA CON (2)

    Sân bay Quốc tế Đà Nẵng Tân đưa ông ngoại, chú Năm, cậu Bảo về Mỹ. Họ đáp máy bay từ Đà Nẵng thẳng Sài Gòn. Phi trường Đà Nẵng ồn ào với hàng trăm…

  • CHƯƠNG 9: KẺ GIẤU MẶT

    Phòng Cảnh sát Điều tra. Khi Bảo từ Trúc Lâm Viên về lại Bệnh viện Đà Nẵng, hai cậu thanh niên đi chung với vợ Lê Thành Tân đã bị chận lại khi vượt đèn…

  • CHƯƠNG 10: MẢNH VỤN LỊCH SỬ

    Bà ngoại nghe chuyện chiếc rương được chôn theo dì Lý Thu Thủy bị Thái Thị Quyên cho người đào lên mà bủn rủn tay chân. Bà đã hiểu vì sao con cháu ngoại dâu…

  • CHƯƠNG 11: GIẢI ÁN

    Nhận điện thoại từ Hà Nội báo là người bệnh nhân chung phòng của cô đã chết, Bình thẩn thờ... Bệnh viện Huyết Học - Truyền máu TW. Khoa Ung Thư Máu Chiều xuống. Mặt…

  • CHƯƠNG 12: VĨNH BIỆT HOÀNG HÔN

    Nghĩa trang thành phố Lê Ngọc Bình thất thểu đến nghĩa trang lúc trời chập choạng. Cô không biết mẹ con dì Cúc đã đến đây lúc chiều. Trăng rằm chiếu sáng cả khu nghĩa…