Bà mẹ nhìn tờ lịch. Thời gian chẳng bao giờ chịu dừng lại. Bà thấy ngộp thở. Cái ngộp thở sức khỏe đuối theo thời gian không làm bà ngán ngao bằng cái ngộp thở của thời cuộc. Con gái bà sau 1975 đã bị ngưng dạy cho đến khi lấy chồng cán bộ, nó đã được trở lại ngôi trường cũ Phan Chu Trinh. Để rồi có một ngày cuối năm 1975 nó “sinh non” cho bà đứa cháu gái kháu khỉnh. Còn bây giờ, nó mang thêm cái bụng nữa mà chưa biết trai hay gái. Bà không biết. Vậy mà thời gian biết hết. Nó vòng một vòng hết ba mươi lăm năm để kết thúc bằng một đám cưới Việt Kiều. Ba mươi lăm năm quay ngược lại điểm nó xuất phát về cái chết bí ẩn của họ Đinh và dọn đường cho một thế hệ trẻ lao vào trận chiến khác: Trận chiến “Tuổi trẻ với Lý tưởng và Tình yêu” giữa thời trước và sau chiến tranh mà bốn dòng họ Lý – Nguyễn – Đinh – Lê đại diện.

                             1979

          Nghe tiếng con gái hét lên thất thanh, Đoàn vội vàng đặt đứa con trai xuống rồi chạy vào. Con gái anh đang cố giật bàn tay kẹt giữa nắp rương. Mặt Đoàn tái xanh. Anh lật đật gỡ tay con mà trong lòng giận dữ vì sự lơ đễnh của vợ sáng nay. Ôm con gái vào lòng dỗ cho nó bớt sợ xong, anh nhảy bổ đi lấy muối sát lên bàn tay sưng tím của nó và hỏi:

– Con còn đau không?

Con bé gật đầu mà nước mắt nước mũi ràn rụa. Hai tay nó ôm chặt cổ bố. Chặp sau, coi bộ không đến nổi phải đi trạm xá, anh dỗ con ngủ và đặt cái rương vào chỗ cũ cho vợ. Anh bắt đầu càm ràm: “Thường thường, cô ta hay bỏ đồ trang điểm vào đó và cô ấy chỉ dùng khi lên lớp. Sáng nay, có chuyện gì mà cô ta lại vất cái rương xuống đất và chẳng chịu đậy nắp? Chắc hẳn có cái gì quan trọng ở trong?”. Ràm xong, anh nhặt cái gương, cây son, bút chì kẽ mắt… bỏ vào trong rương. Đứa con gái anh đã làm đồ đạc trong rương lộn tùng phèo. Tay anh ngứa ngáy nên chịu khó ngồi xếp mọi thứ ngăn nắp dùm vợ. Bàn tay anh như có điện khi chạm vào một vật dưới cái hộp gỗ. Anh bàng hoàng không tin ở mắt mình: cây quạt giấy bốn năm về trước?! Người anh như có kiến, có rận. Không nghĩ ra một điều gì đó lý giải để cho lòng nhẹ nhàng, anh lục lọi coi thử vợ còn cất cái gì “qúy” hơn cây quạt này? Tay anh đụng một bộc nhựa. Anh giở ra và… nóng máu. Bà mẹ vợ đứng sau lưng thằng con rể tự hồi nào, anh cũng không biết. Bà đi chợ về lúc nào, anh cũng không hay. Bà thấy thằng rể như chết trân ra đó, bà nhẹ bước quay ra. Tiếng xoang nồi “loảng xoảng” khua dưới bếp làm Đoàn giật mình. Anh vội bỏ hết mọi thứ vào rương rồi làm như chẳng có việc gì, anh xuống nhà bếp nhẹ giọng với mẹ vợ:

– Bà trông cháu hộ con, bà nhé. Con đi đây có tí việc rồi con về ngay. Nhà con có hỏi, bà nói như thế nhé.

– Ờ. Nhớ ghé qua mua bột gạo lứt cho thằng bé. Vợ mi chiều ni mới về.

Rồi bà lẩm bẩm một mình như nói với ông Táo:

– Gạo càng ngày lên giá đến nổi mì sợi Trung Quốc đen thùi lùi cũng mắc theo!

Đoàn không có tâm trí nào để nghe mẹ vợ ràm. Anh rồ ga. Chiếc xe cánh én – gia tài sau bốn năm dành dụm – quằn quèo như chẳng biết chủ nhân muốn đi hướng nào, rồi vọt thằng ra lộ. Xe anh suýt tông vào hai đứa bé đang dẫn nhau bán vé số trên đường. “Con cái nhà ai đẻ ra rồi bỏ đi ngoài đường lang thang”. Anh bực bội trong lòng hơn bao giờ hết. Tay anh cứ rồ ga. Cái xe chìu ý chủ nên chạy vô hướng. Ông Hai Ngựa đang ngồi làm dép cao su nghe tiếng xe rú, ông nhìn theo rồi nhíu mày nói với vợ:

– Thằng rể bà Thành hôm ni chạy xe như rượt cướp!

– Chắc nó vội chuyện chi đó ông nợ.

Chờ thằng con rể mất hút, bà mẹ mới bước vào phòng con gái. Bà không mở nắp rương, bà cũng dư biết con gái bà cất cái gì trong ấy. “Thật dại dột! Đã bảo bỏ đi mà còn luyến tiếc làm chi? Chuyện rắc rối tới rồi!”. Bà than mà lòng như muối xát. Đôi mắt bà ngân ngấn nước. Hai đứa con gái của bà: Một đứa đã đi theo dòng tu thật. Nó đã là người của Chúa. Nó vuột khỏi tầm tay yêu thương của mẹ. Nó đến cô nhi viện nhiều hơn về nhà với mẹ. Bà hiểu lòng nó quằn quại với nỗi đau mất người yêu chưa nguôi. Một đứa con gái lấy chồng mà còn nặng tình xưa nên giờ sắp phải chịu điều không hay sẽ phải đến. Lòng bà đau nhói. Thằng bé lững chững đi về phía bà ngoại. Bước sấp, bước ngữa của nó cũng mở đầu cho một kiếp con người bắt đầu thay cho bước chân người lần lượt… xuống lỗ! Bà ôm cháu vào lòng như che bớt nỗi cô đơn góa chồng giữa một thời khói lửa. Trong khi đó, Đoàn cưỡi xe máy chạy lòng vòng khắp phố như thằng điên. Anh cảm giác đầu đang nhói đau. Viên đạn chắc đến thời kỳ cựa quậy hành hạ đây. Qúa mệt mỏi vì không phương hướng, anh quay xe trở về. Thấy thằng con rể đi vào với cái mặt mất sổ gạo mà cố vui với con, bà mẹ vợ đau lòng. Bà không hỏi về bột gạo lứt cho thằng bé. Bà biết nó chẳng còn hồn vía nào bởi cơn khủng hoảng “kỷ vật” của vợ sáng nay. Đoàn chơi với hai đứa con một chặp, anh hỏi:

– Bé Bình có muốn đi chơi với bố không?

Con bé nhìn bố. Nó thơ ngây gật đầu. Đoàn bảo con:

– Con ạ bà rồi bố chở đi nhé!

– Ạ, bà!

Bà ngoại muốn ứa nước mắt nhưng bà ghìm được. Bà cười:

– Hai bố con đi đường cẩn thận.

Bà linh tính có chuyện gì đó sẽ xảy ra nhưng bà mong cái thằng rể đang có hỏa diệm sơn trong người mà chưa đốt ai được kia đừng ngu dại mà làm chuyện gì tổn hại đến con bé. Nhìn hai bố con bước ra sân, Bà ôm ngực lạy trời.

                                  *

Đoàn chở con gái đến bệnh viện. Vừa tới chân cầu thang, anh thấy bạn anh tay dắt hai đứa nhỏ hối hả đi xuống. Anh chặn lại:

– Kìa Quang! Con ốm à?

– Cậu đấy ư? Chào. Mình dẫn hai cháu đi chích thuốc ngừa sài uốn ván. Chúng nó dẫm phải dây thép khi chạy chơi ngồi vườn.

– Vậy phải chích ngừa rồi.

– Ừ. Con gái cậu à. Xinh qúa nhỉ. Cháu ốm gì thế?

Đoàn lúng túng. Anh nói dối:

– Không! Mình dẫn cháu đi thăm dì út nằm viện. Chích ngừa đâu phải ở đây?

– Ừ, mình lo qúa nên nhầm. Cậu đi đi! Chào nhé. Hẹn gặp sau. Chào bác đi con!

Hai đứa bé ngoan ngoãn vòng tay, cúi đầu:

– Chào bác!

– Chào bác!

– Ngoan! Chào cháu.

Đoàn nhìn theo ba bố con dìu nhau đi xuống cầu thang. Không có mệnh lệnh quân đội ở đây mà anh như dậm chân tại chỗ. Anh ngẩn người. Anh thật ngưỡng mộ thằng bạn này qúa. Quang mới cưới vợ một năm nay. Vợ chồng Quang là công an biên phòng. Trong chuyến chặn bắt người vượt biển năm ngoái, anh thấy hai đứa bé này chắc bị bố mẹ hay bà con nào đó bỏ quên bên bờ biển nên mang về. Hai đứa bé không thân nhân nhận về nên anh bàn với vợ nuôi luôn làm phước. Chuyện này, trên đã biết nhưng chưa thấy ý kiến cảnh báo, cảnh cáo gì. Nuôi con dùm cho những người “phản quốc”, Quang chẳng sợ rơi quân hàm. Đoàn nuôi con của… vợ cũng có gì mà xấu. “Thử máu ư? Nếu kết qủa nó không phải con mình, mình còn có nước ăn nói. Nếu đúng là con mình, mình mất luôn vợ con là cái chắc vì cái tính nhỏ mọn của mình. Thử cái gì mà thử chứ. Mày là thằng hèn. Bao nhiêu người nuôi con thiên hạ làm phước, bao nhiêu người cầu tự nơi chùa, cầu con nơi chúa mà chưa có mụn con. Còn mày, con gái có, con trai có. Mày còn định đi chối bỏ đứa con. Con vợ thì sao? Nhưng… thằng sĩ quan Ngụy nào đó chỉ có chiếc quạt giấy mà nó đã ‘phổng tay trên’ của mình. Mình bị mẹ con họ cắm sừng bốn năm nay mà còn ngu. Lý Hai Thơ! Lý Hai Thơ! Tại sao cô lại gạt tôi. Tại sao? Nhưng mình đâu có bao giờ hỏi vợ chuyện qúa khứ của cô ta. Có trách thì trách mình trước chứ. Không khát ai cho uống?”. Đoàn ừ à. Thấy bố dừng lâu, con gái lay tay bố:

– Bố à! Bố à bố!

– Ờ ờ? Ừ. Mình… về con!

Đoàn không bụng dạ nào bước lên tâng cấp nữa. Anh thở ra một tiếng rồi cầm tay dắt con gái quay trở ra khiến con bé ngơ ngác. Ra đường, anh thở phào cái nữa. Anh ghé vào chợ Hàn mua cho thằng con mấy bịch bột gạo lứt. Ngang qua quán nước mía bà Hai Ngựa, anh mua hai bịch nước mía cho bà ngoại. Hai đứa trẻ khoảng chừng bảy – tám tuổi trong quán nước mía mời anh mua vé số. Đoàn mở ví nhưng rồi anh vò đầu:

– Mai chú mua. Hôm nay, chú quên mang tiền.

Anh rồ máy. Lúc chạy một đoạn, anh lại mắng mình ngốc. Tại sao không nói bác Hai lấy dùm hai đứa bé vài tờ vé số rồi chút chiều mình ra trả. Chỗ quen biết mà! Tới nhà, anh thở hắt. Hú vía! Chút nữa thành ra to chuyện nếu thằng bạn bác sĩ nó hỏi vì sao anh phải đi thử máu đứa con gái thì hỏng bét. Tuy nhiên, nỗi ám ảnh về cây quạt và chiếc áo lính tay trái có vết đạn bắn thủng tay trái khiến anh nhói đầu. Rồi anh thắc mắc“Hai đứa nhỏ bán vé số, hình như mình đã gặp ở đâu nhỉ? A! Hồi sáng này”. Tiếng bà mẹ vợ cười đùa với cháu làm anh giật mình. Cả buổi chiều, khi vợ họp công nhân viên chức về, Đoàn vẫn nằm dài trên gường. Tay anh cầm hết cuốn sách chính trị này tới cuốn văn học miền Bắc khác, hết tờ báo công an tới quân đội mà chẳng có nội dung nào in vô óc. “Khi xảy ra chuyện gì, hay tôi chết đi, cậu cũng đừng làm khổ con gái tôi. Cậu có dám hứa răng?”. Đoàn nhớ lại lời mẹ vợ trước ngày đám cưới. Lời bà như đã rào đón trước sau khiến Đoàn giật mình: “Không còn nghi ngờ gì nữa rồi nhưng mình đã hứa chắc một lời. Bây giờ khó mà lật ngược”. Tội nghiệp cho bà mẹ vợ. Bà không muốn quấy rầy thằng rể nên hai người hai thế giới với hai nỗi niềm riêng không ai mở khóa. Đêm đến. Vợ gọi chồng ăn cơm. Đoàn không ngồi chung mâm cơm. Anh lấy cớ đau đầu rồi đi vào nhà trong. Lát sau, chị ngạc nhiên khi thấy chồng thu xếp áo quần vào vali. Chị nhẹ nhàng ngồi xuống cạnh giường nhưng không hỏi chồng đi đâu:

– Cần em giúp anh không?

– Không em! Em đi nghỉ cho khỏe. Anh một mình làm được.

Chị không hay biết chuyện hồi sáng này. Khuya lắm, Đoàn mới vào gường. Anh cố co mình không để tay hay chân đụng vào người vợ. Chị cũng cố không chạm vào anh. Hai thế giới trên một chiếc gường. Trăng qua rằm Tết Nguyên Tiêu sáng bảnh trên bầu trời nhưng trong lòng anh lại tối thui như đêm ba mươi. Sáng sớm, Đoàn hôn hai đứa con đang ngủ say rồi nói vào khoảng không:

– Anh đi công tác ngoài Bắc hai tuần mới về. Em ở nhà săn sóc con và mẹ dùm anh nhé.

– Không lo anh nợ. Anh yên tâm.

Chị đưa anh ra tới cửa. Anh không hôn nhẹ vào má chị như mọi ngày. Chị cười buồn rồi quay vào. Tiện tay, chị xếp cái mền cho chồng. “Bộp”. Có cái gì rơi xuống “Cái bóp? Chắc là anh bỏ quên”. Chị lật ra coi thử cái bóp có giấy tờ gì không? Nếu có, anh bỏ quên. Nếu không, chắc anh không cần đến nó. Chị thấy thẻ chứng minh của anh và giấy tờ có cả công lệnh kiêm giấy đi đường còn nguyên. Tận cùng bên trong bóp còn có thêm một tấm hình người con gái chèn đằng sau thẻ chứng minh thư. Ánh đèn dầu hỏa mờ mờ nên chị không thấy rõ mặt. Chị ngồi dậy định vặn tim đèn thì nghe tiếng giày. Nhanh như cắt, chị trùm mền và không quên luồn cái bóp qua cái mền của anh. Đoàn thấy vợ nằm mở mắt nhìn, anh thanh minh:

– Anh quên cái ví. Em ngủ thêm tí đi nhé!

Chờ anh đi ra, chị ngồi bật dậy chạy qua phòng bên hỏi mẹ:

– Mẹ à mẹ! Vậy chớ ở nhà có chuyện mô?

Thấy con gái có vẻ hoảng, bà giấu biến chuyện hồi sáng. Bà an ủi con:

– Mẹ không biết mi nợ. Hẳn nó có chuyện buồn ở cơ quan chi đó. Sao cả đêm, mi không hỏi nó cho ra lẽ?

– Con cũng không biết mô! Ảnh không muốn nói, con hỏi cũng có được chi!

– Nó đi hai tuần, nó về thôi mi nợ. Không việc gì phải lo.

– Có phải anh ấy đi tìm…

Chị đang nói nửa chừng, vụt im. Bà mẹ gạn:

– Mi nói cái chi mà đi tìm? Tìm ai?

– Con lỡ lời thôi mà!

Câu hỏi đầu của con gái, bà rõ mồn một nhưng câu hỏi sau của nó, bà thật sự mù mờ. Giữa hai mẹ con bà cũng có khoảng cách huống hồ người khác. Bà nghĩ rằng chưa đến lúc phải nói thật cùng con là chồng mi nó đã biết chuyện mi rồi. Bà sợ nước mắt của hai đứa con gái hơn sợ ngày góa bụa. Mất chồng thì còn con. Mất con, còn cái chi mà vui vẻ hè? Vậy là bà im luôn. Thực tế, bà cũng là người đã đứng ra gả con gái cho thằng Đoàn. Thằng rể của bà đã gián tiếp giúp bà sáng mắt nhưng sao bà chẳng chút “sáng lòng” để giúp chúng nó? Bà cảm giác bà cũng phần nào có lỗi đã lừa dối thằng con rể tốt bụng này. Bù lại, bà cũng tự thanh minh rằng nó chẳng hỏi, bà tội gì phải khai? Mỗi người trong cuộc đều đang là công tố viên và trạng sư cho mình. Cuộc đời vì thế mà bớt dậy sóng chăng?

                                  *

Đoàn tới bưu điện. Anh cần gọi điện gấp cho thằng bạn nối khố. Ngày anh cưới Thơ, nó bận rộn với chiến trường Tây Nam nên không đến dự. Nó đang phục vụ ở Cục Bảo vệ an ninh quân đội thuộc Tổng Cục Chính trị nên bận việc liên miên. Thường ngày, anh liên lạc nó bằng điện thoại cơ quan. Hôm nay, anh không muốn gọi ké điện thoại cơ quan vì ngại chuyện riêng tư hóa ra “tư tưởng” rườm rà không đáng có. Nữ nhân viên điện thoại nối liên lạc rồi gọi anh vào phòng số 2. Anh quay số:

– A lô! Tâm hả? Hôm nay, tớ ra Hà Nội. Cậu không bận đi Tây Nam chứ?

– Tâm đây! Khi không cậu lại đi đột xuất thế. Có chuyện à? Không! Chiến trường Campuchia tạm ổn. Cậu ra, tớ lấy ngày nghỉ chơi với cậu. Bà xã tớ dẫn hai con về Cao Bằng thăm ngoại mấy hôm nay. Tớ đang gọi nhà tớ về gấp đây này!

– Sợ ăn lương khô và mì sợi Trung Quốc mệt nghỉ phải không?

Đầu dây bên kia, tiếng Tâm cười dòn. Đoàn nhếch miệng. Anh kết thúc cuộc nói chuyện vì sợ tốn tiền:

– Mình gặp sau nhé!

– Ừ!

Đoàn đi xích lô tới nhà ga. Anh mua vé chợ đen và lên tàu ngay. Sáng hôm sau, ra ga đón anh là Tâm. Anh chở Đoàn về nhà tắm rửa đâu đó rồi đưa Đoàn đi ăn sáng:

– Ăn bát phở Vuông cho ấm bụng. Trưa về ăn… mì tôm nhé. Có bà xã mình, thế nào cậu cũng được thưởng thức món canh rau đay cua và thịt luộc mắm nêm.

Đoàn phì cười:

– Tớ ăn gì mà chả được. Trong ấy, tớ ăn mì quảng đã quen.

Ăn sáng xong, về nhà, Tâm ngồi nghe Đoàn nói sơ sơ ý định nên anh khuyên ngay:

– Lẽ ra, cậu không nên đi Lạng Sơn vào thời điểm này. Tình hình bốn nước khá căng thẳng.

– Cậu muốn nói tới Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan và Campuchia?

– Đúng vậy. Pol Pot đã cố tình quấy rối chúng ta ở Phú Quốc – Kiên Giang. Bọn diệt chủng chúng nó tàn sát 500 ngàn dân ở Thổ Châu ngay trong ngày 1 tháng 5 ngày Quốc tế lao động. Không có bàn tay Trung Cộng nhúng vào và Thái Lan tiếp ứng, Pol Pot có ăn gan hùm cũng không dám đụng tới cây cỏ Việt Nam.

– Cậu đúng là có mồm mép chính trị viên hơn sĩ quan bảo vệ an ninh. Nhưng chuyện tớ đi Lạng Sơn đâu có ăn nhập gì tới chuyện cậu nói chứ?

Tâm hừ. Anh đưa cho Đoàn một tờ giấy toàn ký hiệu “mooc-xơ”:

– Cậu rành về giải mã nhất đấy mà. Ngày xưa cậu không là Đoàn viên xuất sắc của Hà Nội về đánh mooc-xơ hay sao. Nhìn mặt cậu, tớ hiểu là cậu đang ngạc nhiên là vì sao tớ có mật mã này phải không? Chỗ bạn bè thân tình, tớ chẳng giấu gì cậu nếu cậu chịu nói cho tớ biết lý do vì sao cậu bỏ nhà đi đột ngột? Tổ chức tiếng ra, tiếng vào hay cơm không lành, canh không ngọt?

Đoàn chần chừ nhưng Tâm nhìn anh chằm chằm khiến anh phải phun ra lý do. Nghe xong, Tâm cau mày:

– Thế thì chết thật. Trên mà biết cậu léng phéng với cái lý lịch vợ như thế, cầu vai 2 lon vàng, 1 sao vàng trên vai cũng bay chứ nói gì tới 9 năm tuổi Đảng .

– Tớ bây giờ chẳng biết mình làm gì?

– Đã hy sinh, ta hy sinh nốt cậu ạ!

– Cậu nói thế là thế nào? Không lẽ cậu bảo mình cứ cắc ké thế nào cũng kỳ nhông, kỳ nhông rồi kỳ đà…

– Việc gì phải mang cả thế giới bò sát vào đây. Cậu cứ im lặng như chẳng có chuyện gì như thế không tốt hơn ư?

– Tớ làm không nổi. Cả ngày hôm qua, tớ như nằm trên chông diệt Mỹ. Nếu như tớ đừng thấy cái gì của cô ấy cất, chắc dễ chịu hơn.

Tâm phì cười:

– Sao cậu không hỏi thẳng cô ấy về chuyện đó. Nhiều khi phải mở lòng cậu ạ. Chúng ta ở vào thời này khác với thời 1945 – 1954; 1954 khác với 1975; 1975 khác với 1979 và 1975 sẽ khác nữa. Nghi ngờ với người nhà là tự đào hố ngăn cách đấy.

– Tớ ngại làm cô ấy buồn.

– Cậu yêu cô ấy đến thế à? Vậy mà trước đây, tớ nghĩ rằng cậu chỉ yêu mỗi mình Quyên – Quỳnh Như.

– Tình yêu có trăm nẻo đui, có vạn đường mù nên khó mà lý giải mình yêu ai nhất cậu ạ. Cậu cũng đã không từng yêu Quỳnh là gì?

– Ừ nhỉ? Bây giờ, tớ cũng thấy nhơ nhớ. Cô ấy xinh đáo để đã đành mà học hành giỏi khiếp!

– Tớ không phải vì bực chuyện vợ mới đi tìm Quỳnh mà là vì đây cũng là cơ hội cho tớ có thêm lá gan tìm ra lý do mất tích của Quỳnh đó thôi. Đánh giặc, tớ cũng đã đánh tới nơi. Bị thương, tớ cũng ăn miểng bom tới chốn rồi. Không lẽ, chút tình này, tớ không làm cho ra lẽ thì tớ đi giải phóng cái chi cho có ý nghĩa?

Tâm bật cười:

– Lại… khoe cả thương tật à? Tớ cũng có vết sẹo đạn suýt cắt mất gân tay đây này.

Nói xong, Tâm đưa cánh tay phải cho Đoàn xem. Đoàn lườm:

– Tớ đang rầu thúi ruột. Cậu còn đùa được? Nếu bây giờ có lệnh tổng động viên những thằng lính năm 75, tớ xung phong ngay!

– ???

Thấy tình hình càng đi vào u ám, để bạn yên một chặp, Tâm hỏi:

– Thế cậu có tin tức gì về Quỳnh không?

Đoàn chống cằm:

– Tớ không biết cậu ạ. Sau vụ Mỹ ném bom ở Khâm Thiên ngày 26 tháng 12 năm 72, bố mẹ tớ bị bom vùi, cậu cũng biết rồi. Nghe nói Quỳnh đang trực ca ở Bệnh viện Bạch Mai cũng bị bom. Tớ chỉ nghe có thế rồi đi B. Quỳnh và Thơ giống nhau lắm. Nếu cậu gặp một lần, chắc cậu phải sửng sốt.

– Thật à! Người giống người cũng có mà. Vợ cậu có biết cậu quen Quỳnh không?

Đoàn định nói “không” nhưng anh chợt nhớ:

– Có một lần, tớ gặp cô ấy ở một quán sửa xe đạp và tớ đã gọi cô ấy là “Quyên” – tớ gọi ngay cái tên mà Quỳnh thích dùng khi tớ quen Quỳnh nhưng tớ nghĩ chắc Thơ chẳng để ý gì. Vả lại, chúng tớ đã là vợ chồng. Tớ đâu có nghĩ gì khác nữa dù trong lòng tớ cũng rất mong tin Quỳnh. Gia đình cô ấy trước đây ở Lạng Sơn, cậu cũng biết rồi đấy mà.

– A…

– A á ớ gì nữa?

Tâm nghiêm mặt:

– Tuy thế, cậu vẫn phải thận trọng. Ba mẹ cô ấy là người gốc Hoa đấy.

– Tớ không hiểu. Trước đây, tớ không hề nghe cậu “cảnh giác” điều này?

– Tớ đã nói là mỗi thời điểm, chúng ta có nhận định, đánh giá và kết luận khác nhau. Cậu cái gì cũng thông minh nhưng thật ra đụng chuyện thì u mê…

– Nói rõ chút được không vậy?

– Chuyện người Hoa ở Sài Gòn cũ thời Ngô Đình Diệm năm 1960, cậu không nghe à? Nó giống như tình hình năm ngoái và hiện nay, người Hoa phải chọn một nhập tịch hoặc đi về nước, cậu cũng không hay sao?

– Ô! Nghe chứ nhưng sau vụ người Hoa năm ngoái, không biết ông bà chọn ở lại hay hồi hương không? Nếu có, chắc là Quỳnh và cô em gái phải theo ba mẹ rồi. Nhưng ăn nhậu gì đến Quỳnh và chuyến đi Lạng Sơn của tớ?

– Cậu dốt đặc cán mai! Thôi, nếu cậu muốn đi, không ai cản được cũng như thời cậu lấy cô Thơ, trên cũng chẳng muốn biến cậu thành Trần Dần thứ hai. Lần này khác đấy. Nếu cậu không khéo léo và cực kỳ bình tĩnh, trên sẽ “dần” cho cậu bay tuốt luốt mọi thứ mà cậu đổ máu, đổ mủ mới có đấy!

Đoàn nhớ tới năm 1971, anh báo cáo trên xin cưới nữ ý tá người Việt gốc Hoa, anh đã bị cảnh cáo một trận là nên để tâm trên chiến trường khiến anh buồn bực qúa đổi. Anh đi B mà lòng chưa bao giờ biết vui vẻ khi nhớ tới chuyện ấy. Bỗng nhiên, Đoàn cười một tràng dài khô khốc khiến Tâm mất lửa:

– Cậu nghĩ rằng tớ thiết tha mấy cái quân hàm này chăng? Đúng là xương máu của tớ thật nhưng gia đình không quan trọng hơn à? Nếu không, sao tớ lại phải đau điếng vì “kỷ vật” của vợ tớ chứ? Tớ muốn… giết hắn!

– Ơ? Giết ai?

– Ồ! Tớ lỗ mãng thật. Xin lỗi. Cậu nhận truyền tin từ ai thế?

– Suýt nữa tớ quên béng. Thằng em út tớ đánh về đấy. Tớ chẳng nói. Cậu tự giải mật đọc đi!

Đoàn ngẩn người rồi chợt nhớ ra cậu em út của Tâm đang là sĩ quan tình báo. Nó giỏi bốn tiếng ngoại ngữ. Hẳn nó có tin từ bên Trung Cộng cũng nên. Tin mật mà nó dám đánh về cho ông anh chắc cũng chẳng là tin mật gì nữa. Không đọc vội, tiện tay, anh nhét tờ giấy vào ví. Anh ẩm nhẩm rồi tươi mặt:

– May là tớ quất luôn 15 ngày phép khỏi lấy lẻ tẻ. Nếu cậu đi công tác ở thành phố, qua Đà Nẵng, cậu nhớ ghé nhà tớ và cứ nói tớ đã tới Hà Nội. Dù sao, tớ cũng qúy cụ bà và thương cô ấy với… hai đứa con tớ.

Tâm bắt chẹn:

– Bây giờ, cậu sáng suốt nhận “con tớ” rồi à?

Đoàn cười buồn và nén giọng nghèn nghẹn:

– Con đã nuôi từ bé lẽ nào không thương chứ?

– Vậy, cậu nên trở về Đà Nẵng là hay nhất.

– Tớ đâu có nói bỏ nhà đi luôn đâu nhưng không thể về ngay bây giờ! Tớ phải đi Lạng Sơn càng sớm càng tốt cậu ạ. Để mãi cái gì chưa giải quyết được trong đầu, có khác chi tự mình nhét thêm miểng bom vô đầu mình không?

Thấy chẳng thể nào can nổi thằng bạn đang là con ngựa chứng bất kham, Tâm đổi giọng đùa:

– Thận trọng nhé! Nếu cậu có bề nào, tớ chẳng… kham nổi vợ con cậu.

Đoàn cười giòn:

– Tớ bổn mệnh vững lắm. Cậu không nghe tử vi bói toán à? Này nhé:

        Kỷ Mão mạng Thổ số này,

        Đất ở trên vách thế mà chẳng khô.

        Mùa Hạ sanh gái an nhàn,

        Có danh có vị giàu sang muôn đời.

        Đặng sinh tiếp đãi dạ thưa,

        Hiển vinh một cách có thừa chẳng sai.

        Mùa Xuân lỗi số đắng cay,

        Mồ hôi nước mắt chảy ngay ròng ròng.

        Tuổi Mão tài trí có thừa,

        Không học cũng biết ít người giỏi hơn.

        Anh em cha mẹ hai dòng,

        Không thì chồng vợ lòng dòng đôi ba.

        Tiền vận có của có nhà,

        Nhưng mà tuổi nhỏ khó an phải tàn.

        Hậu vận mới đặng vinh quang,

        Lập nên nhà cửa vững vàng hậu lai.

Đoàn đọc vanh vách như người lên đồng khiến Tâm ôm bụng:

– Đào đâu ra đấy?

– Bói toán chứ đào đâu ra? Tớ hãi nhất là câu này: “Tuổi Mão tài trí có thừa. Không học cũng biết ít người giỏi hơn”. Cha mẹ ơi! Không học mà giỏi. Tớ chịu thật đấy.

Cả hai cùng cười khan. Sáng mai, Tâm đưa Đoàn ra bến xe ngoại tỉnh bằng vé cán bộ nhưng hết vé. Tâm chở Đoàn đi thêm một đoạn rồi bỏ Đoàn xuống. Ngã giá đâu đó xong, anh bảo Đoàn:

– Cậu phải đi “xe dù” bến cóc Cửa Đông mới có tuyến Hà Nội – Lạng Sơn. Chào nhé! Chúc cậu may mắn. Coi chừng móc túi.

Chờ Đoàn leo lên xe dù, Tâm mới quay xe về nhà. Chuyện riêng của Đoàn làm cho Tâm mất ngủ luôn. Ngẫm đi, nghĩ lại, Tâm thấy thương thằng bạn qúa mà mình chẳng cách nào giúp nó lúc nó gặp cảnh rối như tơ vò. Tâm cũng muốn nhìn mặt Thơ xem cô ta giống người yêu tên Quỳnh của hai thằng sĩ quan si gái ngày trước như thế nào? Sáng mai, anh lấy luôn vé tàu đi thành phố. Hai thằng bạn đời vừa bước vào tuổi tóc muối tiêu lại đi ngược hướng người Bắc, kẻ Nam. Không biết đến bao giờ, họ mới cùng chung chuyến tàu đêm? Tâm quyết định lượt về thong thả hơn sẽ ghé Đà Nẵng một chuyến thăm người, thăm xứ sở “Ngũ Hành Sơn” tuyệt vời của đất Quảng.

                                    *

Tất cả các tuyến đường sắt đi Bắc – Nam đều dừng lại ở Ga Nha Trang. Mang tiếng là một trạm ga lớn nhưng mọi thứ cũng đều cũ kỹ. Tất cả các ga xe lửa ở đâu cũng mang chung thứ bệnh: Lỗi thời và lộn xộn. Người ta thấy con buôn đông nhất rồi tới những người bán cơm, bán nước kiếm ăn qua ngày. Xen lẫn giữa dòng người lương thiện là những “cô hồn các đẵng” chuyên cướp giật khách nào ngơ ngác giữa đêm đen. Đêm buông xuống, ga còn là chỗ trọ của những người thương phế binh, những người già không nơi nương tựa, những em bé mồ côi, những người đàn bà cưu mang những đứa con lai hai dòng máu… Họ sống chen chúc kiếm ăn bằng nửa lương thiện nửa… lương đồ. Người ta kháo nhau “lương tâm không bằng lương tháng, lương tháng không bằng lương đồ”. Những câu ca dao nhái cũng được lan truyền như “con ơi nhớ lấy câu này, một đêm ăn trộm bằng ba năm làm” hay “Lao động là vinh quang, lang thang là chết đói, nói dối là ở tù, lù khù đi kinh tế mới”! Nghe vui vui. Thêm vào đó, nạn cướp giật hoành hành sau 1975, nhất là sau vụ đổi tiền ngày 2 tháng 9 năm 1975 càng dữ dội. 1 đồng tiền Cộng Sản ăn tới 500 đồng tiền Cộng Hòa với mức đổi rất hạn chế đã làm giới tư sản phá sản luôn. Thành phần trung nông cũng sạt nghiệp theo đó. Nhiều hộ nghèo lúc bấy giờ đã “ăn chia” khi nhận đổi dùm tiền cho người có tiền. Rồi dân nghèo cũng chẳng khá hơn và nhà giàu không giàu lên nổi. Mục tiêu của chế độ mới là “xóa bỏ giai cấp” nên sau vụ đổi tiền, có thêm “giai cấp cùng đinh”, dân cư bất hợp pháp từ tứ phương “nhập khẩu” vào các ga xe lửa, bến xe các tuyến đường. Những chiếc vé tàu “chợ đen” được gạ bán công khai. Ai cũng muốn nhanh chóng có một chỗ đứng, chỗ ngồi trên các chuyến tàu nên mắc mấy cũng giành lấy cho bằng được. Đâu đấy, người ta cũng thấy những nhân viên bảo vệ đường sắt mang băng đỏ rượt đuổi đám đệ tử của “Thánh Thủ Thần Thâu” và “Cái Bang” chạy té khói nhưng mà cũng chẳng “xi nhơ” gì. Thế giới chịu xin, không chịu làm, thế giới “nhàn cư vi bất thiện“, thế giới muốn làm mà thân tàn phế cứ như từng đợt sóng cứ hết lớp này đến lớp khác tràn bờ. Nhiều lúc các chuyến tàu phải ngưng hoạt động vì đâu đó, tệ nạn các thanh tà vẹt của đường sắt bị mất trộm. Ở nông thôn, người ta ăn cắp xà beng, cuốc xẻng để bán đồng đen. Thậm chí, trẻ con, người lớn nhổ luôn trụ sắt hàng rào nhà mình và cả nhà hàng xóm để cho con nạp trường. Làng xã không khuyến khích nhưng nhà trường mở “chỉ tiêu”. Lớp nào nộp thiếu ký, giáo viên chủ nhiệm lớp ấy bì “giũa” tới bờ, bị “đì” tới bến. Đó cũng là một trong tiêu điểm xét giáo viên “Lao động tiên tiến”. Cái gì là đồng, là sắt hay kẽm, nhôm và nhựa cũng không chóng thì chày chảy ra… nước mắt người mất. Người đi tàu hãi hùng nhất là nạn trật đường rày kiểu này. Tàu TN1 từ Ga Hà Nội đi Thành phố Hồ Chí Minh qua Nha Trang của Tâm đã may mắn không bị hoãn lại như các tàu TN3, SE1 cách đây hai ngày. Tâm không ăn nổi cơm khô cứng trên tàu. Hai bên cửa sổ, đông nghịt người bán với tiếng rao hàng đủ các giọng ba miền: Nào cơm gà, cơm tấm, chè, nước đá chanh, nước sâm lạnh, nước mía, phở, nem chua, chả lụa, bánh ú, bánh chưng… Tâm cảm thấy khát nước. Anh nghe giọng rao nước sâm lạnh sát bên cửa sổ anh ngồi. Anh gọi:

– Nước sâm!

Người đàn bà đội nón che mặt gần nhất chạy tới. Tâm móc tiền. Người đàn bà ngước mặt lên nhận tiền và trao bịch nước sâm lạnh cho khách bằng bàn tay trái. Tâm ngờ ngợ một giây rồi hét lên:

– Quỳnh!

Chợt nhớ cái tên “tín hiệu” tình yêu quen thuộc của Đoàn, Tâm kêu to:

– Quyên!

Tiếng hét của anh chìm vào tiếng tàu xình xịch. Anh dợm chân định đứng dậy nhưng tàu bắt đầu lăn bánh. Nghĩ rằng người đàn bà ấy nhất định nghe tiếng mình gọi, anh thò đầu ra cửa sổ ngoái theo. Bóng người và ánh đèn mờ từ sân ga hòa nhập vào bóng đêm ghi vào lòng anh một dấu hỏi to tướng. Tâm nghe cổ họng nghẹn đắng. Nếu cô ấy thật là Quỳnh thì trời hỡi, cuộc đời không công bằng chút nào? Tâm vò đầu. Vô lý thật. Không lẽ nào Quỳnh từ nữ ý tá ở miền Bắc lại trôi vào miền Nam bán nước sâm lạnh dạo? Tàu vẫn cứ xình xịch như không thèm đếm xỉa tới nỗi lòng tò vò của Tâm. Gió mát thổi vào cửa sổ khiến anh nhắm mắt hồi               nào chẳng biết. Bịch nước sâm lạnh đang tan hết cục nước đá cuối cùng.

                                       *

Lạng Sơn, tháng 2 năm 1979.

Chiếc xe dù quằn quèo theo Quốc lộ 1 A chạy ngược Hà Nội lên Đông Bắc. Nếu đi thêm 250 km hơn sẽ tới Sùng Tả – khu tự trị của dân tộc Tráng – Quảng Tây – Trung Quốc. Hà Nội lùi xa và khuất trong núi rừng Đông Bắc. Bắc Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Cao Bằng hiện dần trên từng km. Đỉnh Phia Po cao hơn 1500 m của Hòn Mẫu Sơn mịt mờ sương mù. Thị trấn Đồng Đăng như giăng trước mặt. Đoàn nghe lòng lâng lâng khi trở lại xứ Lạng sau 7 năm xa cách. Người lái xe cao hứng đọc thơ:

     Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

     Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.

     Ai lên xứ Lạng cùng anh

     Bỏ công bác mẹ sinh thành ra em.

     Tay cầm bầu rượu nắm nem

     Mãi vui quên hết lời em dặn dò.

Một thanh niên cao hứng gõ vào cửa xe bằng cái muỗng inốc rồi cất giọng nức nở: “Nhìn chân trời xanh biếc bao la, người mong chờ vẫn nhớ nơi xa. Bao nhiêu năm bng con đng đợi chồng về, bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề, ngưi tung hoành bên núi xa xăm, người mong chồng còn đng muôn năm. Người vọng phu trong lúc gió mưa, Bế con đã hoài công đđứng chờ. Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về. Đá mòn nhưng hn chưa mòn giấc mơ. Có đám cây trên đi gióng trông trong mơ hồ. Ngày nào tròn trăng lại nhớ đến tích xưa. Khi tưng quân qua đồi, kéo quân, quân theo cờ. Đoàn cỏ cây hãy còn trẻ thơ cho đến bây giờ đã thành đoàn cổ thụ già. Mà chờ ngưi đi mất từ ngàn xưa. Nàng đứng ôm con, xem chàng về hay chưa? V hay chưa?“.

– Thằng này ngó si cò que vậy mà giọng hùng hồn ác thiệt!

– Hát thì hát hết luôn 3 bài “Hòn Vọng Phu“. Người ta hát liên khúc còn chú mày hát “đứt khúc” nghe tức chết! Ông Lê Thương mà nghe mày hát nhạc của ông chắc là… chảy nước mắt!

– Hì hì… Hát in ít mới làm người ta thèm thòm.

Đoàn nghe câu hát “Nàng đứng ôm con, xem chàng về hay chưa? V hay chưa? anh nghe lòng tan nát. Xe dù thả Đoàn xuống bến. Anh lần mò tới thị xã Lạng Sơn rồi vào huyện Cao Lộc để thăm hỏi nhà cô Quỳnh người Minh Hương, y tá. Đúng là địa chỉ trên miệng. Người làng tốt bụng đưa anh tới một căn nhà mái lá cong giản dị và rất đơn sơ. Anh nhìn thấy những chiếc lồng đèn đón Tết Nguyên Tiêu còn rực rỡ. Câu thơ “Nguyên tiêu chi dạ hoa lộng nguyệt” màu đỏ rực còn treo trên vách. Anh nhận ra bố mẹ Quỳnh ngay. Ông bà già đi so với lứa tuổi sáu lăm. Họ cũng nhận ra người rể hụt. Nhìn người nhớ con. Người cha mặt sầm buồn. Hình như ông cố giấu nỗi đau mất đứa con gái vào lòng. Người mẹ mềm yếu hơn khi anh nhắc tới chuyện cũ. Bà lau nước mắt rồi nói với Đoàn bằng giọng không chút gì… Ba Tàu:

– Trận bom Mỹ ở bệnh viện Bạch Mai đã làm nó hư mất mấy ngón tay phải. Nó dắt hai đứa con sinh đôi đi Nam nói là đi tìm con. Nó tìm mãi đến bây giờ. Con ở đây mà nó đâu? Chắc nó có chuyện chi rồi. Nếu không, sao nó không dẫn hai đứa cháu sinh đôi về với ba mẹ? Con dạo này như thế nào? Vợ con gì chưa?

– Dạ rồi bác. Cháu có hai cháu một trai và một gái. Bác nói Quỳnh dẫn hai đứa con sinh đôi à? Quỳnh lấy ai thế bác?

Người mẹ ngạc nhiên:

– Vậy không phải… con của con và Quỳnh à?

– Ơ…

Đến lượt Đoàn như trời trồng. Anh nghe tim mình đập trên cả trăm nhịp một phút. Cái tin Quỳnh mang con của anh đi B tìm anh đến thật qúa bất ngờ khiến anh choáng váng. Cố gắng cắn chặt môi để không bật ra một tiếng kêu trời, anh rên rỉ:

– Vậy mà Quỳnh không nói gì cho con biết trong ngày chia tay kia chứ?

Người cha ngậm ngùi:

– Áo mặc đã qua khỏi đầu rồi! Nó làm sao mà biết nó có mang. Vả lại, nó không muốn con bị phân tâm khi con phải cầm súng ra chiến trường. Chiến trường vô tình mà súng bom cũng không có mắt con ạ.

Người mẹ lau nước mắt:

– Phần con Quỳnh thật tội nghiệp. Khi biết trên không cho phép con lấy nó, rồi con đi B, nó về đây không khóc với ba mẹ thì khóc với núi, với rừng chứ khóc với ai!

Đoàn kêu trời liên tục. Anh như hụt hẩng giữa trời Lạng Sơn mùa xuân đang còn bám trên từng cành đào và hơi sương chưa tan trên đỉnh Mẫu Sơn. Nửa tiếng sau, thấy rằng nếu nói nữa cũng chỉ khơi dậy nỗi niềm của nhau nên anh xin phép đi về:

– Con nhất định sẽ kiếm Quỳnh và hai cháu về cho ông bà ngoại. Con phải đi ngay bây giờ.

Hai ông bà nhất định giữ anh ở lại:

– Không có con Quỳnh nhưng con cứ ở chơi với hai bác và em Quy một ngày. Đường núi xa xôi, một lần đi là khó. Bố mẹ con khỏe không?

Đoàn nghẹn giọng:

– Hai cụ mất trong trận bom Khâm Thiên bác ạ.

Ba mẹ Quyên nín lặng một lát rồi thở dài:

– Sớm muộn gì rồi từng loại người cũng sẽ gặp nhau ở bên kia thế giới!

Bà chỉ vào một hàng lồng đèn như chìm vào qúa khứ:

– Ba nó làm bảy cái lồng đèn Hoa Đăng để nhớ bảy năm nó không ở với ba mẹ. Thuở nhỏ, nó và bạn bè mỗi năm đến Tết Nguyên Tiêu là mang lồng đèn chạy khắp làng. Nó thích nhất là thả đèn bay lên trời. Tội nghiệp cho con em. Em nó lớn vậy mà mỗi lần ôm lồng đèn là hỏi mẹ chừng nào chị hai về. Bác nói nay mai, vậy mà em nó cũng tin.

Đoàn nghẹn ngào. Anh chẳng nói thêm được câu nào. Ba Quỳnh đưa cho Đoàn cái áo gấm hoa bảo loại áo này ngủ đêm ấm hơn. Anh thay áo cho ông bà vui. Đêm nay, anh chẳng tài nào chợp mắt. Trời tháng 2 mới qua Tết Nguyên Tiêu một tuần nên trăng cũng còn tròn lắm. Trăng qua rằm vẫn tròn mà anh mới qua 40 đã thấy lòng méo mó. Tiếng con chim bạc má cứ “chíp chip” ngoài vườn khiến anh nhớ tới tờ giấy “mooc-xơ” của Tâm đưa. Anh mở ví lấy tờ giấy và bật diêm quẹt đọc thử. Bản tin toàn mã số dài: “.//// /…. .//// //… ///// ../// ../// ///// ../// .//// ///// .//// //. …… …”. Anh sắp thứ tự 16 17 02 20 21 01 G 5 S. Anh bó tay vì những con số cứ chạy qua, chạy lại mà chẳng có ý nghĩa gì. Anh vắt óc lẩm nhẩm rồi thuộc lòng. Ông bà già hình như cũng khó ngủ hay sao mà mới 4 giờ sáng gọi anh dạy uống trà. Anh thử hỏi:

– Bác hiểu những con số này không bác? Chúng giống vé số độc đắc qúa.

Anh đọc một hơi. Ông già bảo anh đọc lại vài lần rồi cười:

– Chỉ là những con số chỉ âm dương ngày tháng thôi mà. Hôm nay là ngày 17 tháng 2 dương lịch tức là ngày 21 tháng 1 âm lịch. Chỉ G 5 S thì bác chịu rồi.

– Ồ! Thì ra thế!

Anh phì cười. Anh em nhà thằng Tâm chắc đang hành nghề chuyển ngày dương thành âm hay sao ấy. Tưởng mã tin chi mật, ai hay chỉ là ngày tháng. Đang cười, Đoàn giật mình. “Không lẽ nào những hàng chữ chỉ là ngày âm dương?”. Anh so sánh ký hiệu tương đương như “Alpha – Mike – Golf – Hotel – Tango / Bravo – Tango – Papa – Lima – Kilo / Mike – Victor – Whiskey – Charlie – Juliet / Papa – Lima – Hotel – Oscar – Bravo / November – Quebec – Charlie – Hotel – Lima” cũng chẳng lóe ra tia sáng nào. Anh nhớ mới hôm kia, Tâm đã khuyên anh “Lẽ ra, cậu không nên đi Lạng Sơn vào thời điểm này. Tình hình bốn nước khá căng thẳng“. Không lẽ Tâm biết trước chuyện gì chăng? Nếu biết trước sao Tâm còn để vợ con đi Cao Bằng? “Tớ đang gọi nhà tớ về gấp đây này“. Không phải Tâm đang lo lắng sao? Đêm Cao Lộc nói riêng và Lạng Sơn nói chung hình như im lặng một cách đáng sợ. Anh sựt nhớ em gái Quỳnh đã không có mặt trong nhà. Anh hỏi:

– Em Quy đâu bác?

– Ạ! Nó đi trực. Nó là dân quân du kích mà.

– Dân quân à? Hay thật đấy! Ai nói chính quyền phân biệt, đối xử tệ bạc với người Hoa. Quỳnh làm y tá. Quy nữ dân quân.

– Ô! Cũng khó mà nói. Khi cần, người ta quên đi gốc gác. Thế nhưng cả hai chúng nó, có đứa nào là Đảng viên đâu!

– Ồ! Ra vậy. Không phải mà tốt đấy bác. Mấy hôm nay, tình hình Lạng Sơn có gì thay đổi không bác?

– Không! Chỉ là bộ đội, dân quân du kích thao diễn như thường.

– Thế thì lạ thật. G 5 S?

– Ờ mà có. Tháng trước nghe đồn Trung Quốc đánh xuống đây nhưng cả tháng rồi không có chuyện gì nên tin đồn thất thiệt. Con Quy cùng nhóm du kích của nó đi Đồng Đăng nhìn thấy bên kia Sùng Tả, lính Trung Quốc tập trung đông đen, có cả xe tăng, đại bác nhưng hình như họ cũng chẳng có ý vượt qua biên giới. Em Quy hôm qua có kể rằng nó chính mắt thấy nhiều người mình đã lên rừng không biết làm chi vì chẳng thấy họ vác cái gì từ rừng về cả. Còn chiều hôm qua, ở Hữu Nghị Quan, lính Trung Quốc đã sang đá bóng với đội công nhân đường sắt ở đấy.

– Vậy à? Mấy giờ em Quy về bác?

– Cứ 5 giờ sáng, nó mãn trực.

– Bây giờ là gần 5 giờ sáng rồi.

– Chắc em cũng gần về.

– 5 giờ sáng? Không lẽ, không lẽ… A……..

Đoàn bật dậy hoảng hốt:

– Bác à! 5 G S hình như là 5 giờ sáng hôm nay 17 tháng 2.

– Thì làm sao? Liên quan tới em Quy hả con?

– Con cũng không rõ nhưng con linh tính sẽ có chuyện gì xảy ra liên quan với thời gian hôm nay.

– ???

Ba Quỳnh nhìn ra cửa:

– Có gì thì cũng chờ em về rồi tính sau.

Đoàn nhìn đồng hồ, lòng nghi hoặc:

– 5 giờ sáng rồi sao vẫn không thấy động tịnh gì?

– Con muốn nói cái chuyện chi?

Đoàn chưa kịp trả lời thì “Đùng, đùng, đùng… “. Đạn pháo nghe rất gần nổ điếc tai. Chén trà trong tay ba mẹ Quỳnh rớt xuống đất bể tan tành. Mặt hai ông bà tái ngắt. Cả hai chân quờ quạng tìm đôi dép. Đôi dép dưới chân mà hai ông bà xỏ vào cứ trượt. Bà run rẫy. Ông lập cập ngóng ra cửa trông con. Hàng loạt chuỗi pháo vang trời cùng tiếng súng đủ loại đùng tạch liên thanh gần lắm lận. Đoàn cho tờ giấy vào túi áo anh vắt trên thành ghế rồi chạy ra trước cùng hai ông bà nghe ngóng. Bên ngoài, không ai bảo ai, người dân các xã trong huyện Cao Lộc ù té chạy ngược từ chợ về nhà. Tiếng đại bác từ phía Mẫu Sơn đã xuống tới Hữu Lũng. Người dân lại bồng bế nhau ùa chạy khỏi làng, khỏi xã. Họ chạy về thị xã Lạng Sơn xa tới 14 km mà gương mặt ai cũng đều hoảng hốt đến ngơ ngác chẳng hiểu vì sao có chuyện súng nổ như giã gạo như vầy? Ba mẹ Quỳnh nôn nóng vì chưa thấy con gái út về nên cứ quẩn quanh trong nhà. Do đó, Đoàn không nỡ rời khỏi. Anh lạ lùng vì sao loa phóng thanh không một thông báo, không một nhân viên nào hướng dẫn nhân dân làm gì trong lúc này. Anh không tìm ra một nơi để liên lạc. Điện thoại công cộng cũng tắt mạch. Hình như ai đó đã cố tình cắt đứt để phụ họa cho sự tấn công. Anh đứng ngoài cửa ngóng nhìn. Khói súng đã đưa mùi khét nghẹt. Một bóng người từ xa chạy bổ vô nhà. Bà mẹ nhận ra con gái. Quần áo nó đặc mùi thuốc súng. Quy xà xuống mẹ thở dốc. Cô không kịp hỏi thăm anh rể hụt, chỉ kịp tiếng mất, tiếng còn với ba má:

– Chúng ta chạy ngay ba má ạ! Lính Trung Quốc. Xe tăng T62 ngược dốc xuống sát đây rồi. Chúng con cản không lại. Chết hết rồi… Chết… A! Hai ba ngày nữa, chị Quỳnh dẫn cháu về…

– ???

Quy chưa dứt lời, tiếng giày nhựa đồm độp vang tới. Ông già nhanh như cắt, kéo đứa con gái đẩy vào sau bàn thờ có vách kín. Đoàn đang ngơ ngác, anh bị ông già xô vào bên trong. Giọng ông rít lên:

– Không được mở miệng!

Dứt lời, tiếng xì xồ đã tới trước cửa. “Đùng!” Cánh cửa bị năm tên lính Trung Quốc không mang phù hiệp, cấp bậc xuất hiện, đạp gãy đôi. Mình chúng đầy máu me và đằng đằng sát khí. Nhìn mấy cái lồng đèn, một tên có vẻ thủ lĩnh, hất mặt:

– Người của ta à? Có thấy con nhỏ khoảng 20, 25 tuổi, vác AR15 chạy qua đây không?

Ông lắc đầu. Bà run lẩy bẩy, khoát tay. Một tên gầm lên:

– Người nhà mà bao che bọn côn đồ à? Nó dám bắn lái xe tăng của bọn tao! Tao đã cán nát con bạn nó như cám. Nó chạy nhanh như sóc rừng nên bọn tao bắt sống không kịp. May cho nó. Tao quăng lựu đạn trúng người nó nhưng lựu đạn không nổ. Nếu không, nó banh xác ra rồi. Tao nghĩ hai ông bà chúng mày chắc là người nhà nó. Bọn côn đồ vô ơn chúng mày ai cũng chạy trối chết mà sao hai vợ chồng già không chịu chạy? Ạ! Bọn bây phản lại Trung Quốc, phản bội chủ tịch Mao mới chọn ở lại Việt Nam phải không?

Nói xong, tên thủ lĩnh chúng dùng súng uy hiếp hai ông bà già. Bốn tên còn lại chia nhau tìm chung quanh. Thấy gì, chúng đập nấy. Những thùng làm tàu hủ bán kiếm ăn của hai vợ chồng già cũng bị chúng dầm nát bấy. Không thấy người, thằng thủ lĩnh gầm lên:

– Không tóm được con nhỏ Cộng Sản Việt Nam để trả thù cho đồng bọn tao, chúng tao… xẻ thịt hai ông bà phản bội này. Tao cho hai vợ chồng mày một cơ hội. Nói! Có thấy nó chạy qua đây không? Tao đếm một.

Hai ông bà lại lắc đầu. Thằng thủ lĩnh hét:

– Nói láo!

– Giết họ đi!

– Tả tả!

Dứt lời, ba tên xông lại trói thúc ké ông bà. Một tên vung cái cuốc nghe tiếng gió rít theo. Quy đứng sau lưng bàn thờ mà như dẫm ổ kiến lửa. Người cô run lên vì giận dữ. Đoàn quên cả ý tứ. Anh nắm chặt tay cô. Quy vùng ra. Mắt trợn ngược tròng.

– Hai…

Không chờ cho chúng đếm tới tiếng thứ ba, Quy xô cánh cửa lao thẳng vào tên vô lại:

– Tao đâyyyy!

“Bịch”! “Rầm”! Thằng thủ lĩnh đổ vật ra cửa. Cái cuốc văng đạp lên cái bàn. Ấm trà và cái bàn lật úp gãy bể. Lập tức, Quy bị hai tên kia tóm chặt. Tên thủ lĩnh lồm cồm ngồi dậy. Nó cười sằng sặc:

– Đồng chí… chị đẹp như tiên nhưng dữ như cọp cái. Hùm! Mày mà còn vùng vẫy, tao khoét mắt con mụ già này rồi xẻo hai… núi đôi của mày.

Nói xong, nó dí mũi dao vào đôi mắt bà mẹ. Quy chết điếng. Người cha cố vùng vẫy. Thằng cầm cây cuốc dọa:

– Mày mà nhút nhít chút nữa, tao đập banh óc! Nhìn chúng bây lo cho nhau như vậy, chắc là cùng gia đình rồi. Tao cho chúng mày cùng coi kịch nha.

Nó xoay lưng lại để giúp đồng bọn lột trần Quy. Đoàn không hiểu tiếng Trung Quốc nhưng anh nghe bằng tai. Nghe tiếng xé áo khô lạnh, anh nghiến răng rồi không dằn được nữa, anh nhào ra chụp cây súng từ tay tên thủ lĩnh. Nó không giật lại mà cười khan:

– Úi! Thêm một thằng phản phúc. Cho mày luôn! Súng không có đạn. Đạn vãi theo con hổ cái này hết rồi nhưng tao còn cái này này…

Đoàn biến sắc khi súng anh vừa cướp không nổ. Anh thấy thằng nọ rút thêm con dao. Nó dí vào ngực trần trắng bóc của Quy, gằn giọng:

– Mày bước tới! Tao thịt con hổ cái này ngay!

Đoàn chôn chân. Thằng thủ lĩnh chỉ vào Đoàn rồi hất hàm hỏi Quy:

– Nó là ai? Nói cho thật! Chúng mày là vợ chồng, tao tha cho nếu chúng mày chịu bỏ lũ côn đồ mà đi theo chúng tao.

– Không phải chồng tao! Không việc gì theo lũ phi nhân chúng mày!

– A! Giọng lưỡi ghê gớm! Thêm một trò chơi thích thú. Thằng kia! Mày không phải chồng nó phải không? Mày tới đây, tao giúp mày thành chồng nó. Mày thực hiện chuyện vợ chồng cho chúng tao thưởng thức, chúng tao tha. Nếu không, tao thịt hết cả lũ.

Đoàn ngớ người. Quy thông dịch bằng giọng đầy căm thù cho Đoàn. Anh toát mồ hôi, chết điếng. Ba Quy vùng dậy, ông gầm:

– Quân chó! Bọn chúng mày toàn lũ dốt cầm súng nên chỉ biết chúi đầu xâm lược mà không hiểu gì đến đạo nghĩa thánh hiền.

– Ha ha ha… đạo nghĩa cái đinh gì! Trung Quốc muôn năm! Mao Trạch Đông vĩ đại! Thằng kia! Mày không vật con Cộng Sản Việt Nam này ra mà hưởng thì để bọn tao… hưởng!

Hai tên xô Quy ra nền. Chúng xé rách bộ đồ dân quân không thương tiếc. Đoàn nghiến răng. Mắt anh như nổ lửa. Quy cựa quậy, vùng vẫy và cấu xé. Càng bị đau, bọn lính Trung Quốc càng hăng máu. Tên thủ lĩnh thô bạo kéo díp quần hắn xuống. Hai tên khác cản hai ông bà cố vùng vẫy để cứu con gái. Hai thằng lính Trung Quốc cố giữ hai tay Quy đang giật ra cho thằng thủ lĩnh thực hiện ý đồ. Tay bị giữ, Quy đá vào tên thủ lĩnh bằng hai chân. Nó đập vào chân Quy một báng súng và giở trò. Quy cắn lưỡi. Thằng lính đứng cạnh nhanh mắt trông thấy. Nhanh như chớp, nó tọng nguyên mảnh áo rách xé từ áo Quy vào miệng. Quy gần nghẹt họng. Đoàn không chờ thắng khốn nhào xuống mình Quy, anh bất chấp mũi súng của thằng thứ ba đang chĩa vào anh, nhảy bổ vào tên đang sắp giở trò tồi bại.

– Quân chó má!

Nhân lúc thằng nọ chĩa súng vào Đoàn, bà mẹ thu hết tàn lực vùng dậy lao về phía trước Đoàn để xô thằng thủ lĩnh ngã sấp. “Đoành đoành đoànhhhhh”!

– Má aaá!

Quy hét thất thanh . Người mẹ lảo đảo. Máu bà trào ra ngực. Bà đưa tay về phía con gái út ú ớ và gục ngay tức khắc. Ba Quy rú lên. Ông kịp chụp báng súng không có đạn từ tay Đoàn phang vào tên thủ lĩnh. “Chát”. “Bụp”. Tên nọ vừa đứng lên đã đổ “thịch” xuống nền. Tên thứ hai nã loạt súng về ông. Ông ngã chúi lên mình vợ. Quy gào to nhưng tiếng gào thét của cô đã bị mảnh vải áo làm cho tắt tiếng. Đoàn nghe máu nóng dâng tận đỉnh đầu. Anh quật tên lính thứ tư đang giữ tay Quyên ngã sấp và cướp súng. Anh khóa tay hắn. Quy bật dậy bằng cái chân bị đánh gần gãy. Cô quên mình đang không mảnh áo che thân. Mắt Quy đỏ lừ máu hận. Cô giật cây súng từ tay Đoàn và xả luôn loạt đạn còn sót lại vào tên thứ ba. Trước khi tên thứ ba ăn đạn, tên thứ năm đã đâm cô một dao trúng tim. Đoàn kịp ấn một phát vào đầu hắn. Máu đỏ từ các xác người trộn vào nhau không phân biệt đâu là máu kẻ ác và người hiền hay giặc với ta? Quy qụy xuống. Đoàn nhào tới đỡ lấy thân hình mềm nhũn của người con gái xứ Lạng vừa gởi lại hai mươi lăm mùa xuân trên quê nhà. Đoàn đau đớn. Anh gào rát họng:

– Đừng! Đừng chết em! Đừng!

Anh thấy căn nhà quay mòng mòng và trước mặt tối sầm nhanh chóng. Anh không nghe tiếng pháo M46 130 ly của lữ đoàn pháo binh 675 phản công. Cái áo sơ mi trắng của Đoàn dưới đất từ từ thấm máu. Máu thấm vào tờ giấy “mooc-xơ”. Ngoài kia, cánh quân 18 sư đoàn hướng Đông Bắc của Trung Quốc do Xu Shiyou – tư lệnh quân khu Quảng Châu chỉ huy đang ồ ạt tấn công vào Lạng Sơn, Cao Bằng và Quảng Ninh. Cánh quân 10 sư đoàn hướng Tây Bắc do Yang Dezhi – tư lệnh quân khu Côn Minh làm tư lệnh cũng đang hùng hổ tiến vào Lào Cai, Lai Châu và Hà Giang. Trên 26 cứ điểm 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, hàng chục nghìn thây người đã, đang và sẽ đổ xuống cho một cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ một khi tình bạn láng giềng “môi hở răng lạnh” đã “cơm canh nguội nghiệt”.

                                      *

Người đàn bà bán nước sâm chiều nay đánh đổ cả thùng sâm lạnh. Chị thấy lạnh người. Hai mắt cứ giật giật liên tục. Bà bán mía lạnh nhặt cái thùng sâm lên cho chị. Bà kêu to:

– Con nhỏ sâm lạnh trúng gió rồi Tư ơi! Đánh gió cho nó cái.

Chị bán cơm tấm vội vàng lôi chai dầu gió Nhị Thiên Đường:

– Ngồi xuống! Mày trúng gió rồi.

Chị Tư cơm tấm cạo lưng chị sâm lạnh bằng cái muổng khiến chị sâm lạnh uốn mình. Chị cười hà hà:

– Tao không có đồng hai ngàn thời ông Thiệu cạo nên cô em mày chịu khó chút nghe. Xong rồi, gió máyt thì ít mà mày chóng mặt không ăn chắc nhiều. Nhớ con phải không? Biết mà. Mày nên nghỉ bán ít hôm rồi đi tàu chui khỏi tốn tiền. Ở phố bảy năm chắc nhớ rừng rồi?

– Dạ. Nhớ chứ chị! Em cũng định vài ba hôm nữa, bán nước kiếm thêm tiền rồi dẫn cháu về thăm ba má em nhưng mai em đi chị ạ. Em thấy ruột gan như có lửa đốt!

– Lửa gì mà đốt? Sấp nhỏ thế nào? Ổn không?

Chi sâm lạnh cười buồn:

– Gởi cho nhà nghèo thì hưởng cái sự nghèo mà chị. Mai chiều, em đón cháu về ở với bà ngoại.

– Ờ. Bỏ con một mình tội nghiệp. Mẹ con thì đói nghèo có nhau mới ấm tình em ơi!

– Dạ.

Tối đó, bà bán mía lạnh không chợp mắt vì thấy con sâm lạnh cứ rú lên từng chập. Bà đập vào đít nó cái “bập”:

– Thấy ma hay sao mà rú mà thét không cho tao ngủ, con sâm?

Chị sâm tỉnh giấc. Mồ hôi ướt cả áo. Chị thì thào:

– Con thấy ai đổ máu vào mình con dì ơi! Con sợ kinh khủng!

– Bậy bạ. Chắc mày đang yếu trong người. Để tao nấu cho chút cháo gừng hành, ăn rồi sáng đi con ạ.

Bà mía lạnh mở lò sô. Căn chòi xóm ga bừng ấm tình người. Sáng sớm, mọi người bến ga có mặt đầy đủ. Bà mía lạnh bỏ vào giỏ chị sâm lạnh mấy bịch mía:

– Của thảo. Mang về cho mấy cháu.

– Đây phần cơm tấm của chị. Mày lên tàu ăn trưa.

– Bánh ú nè. Cho mày hai cái.

– Em gởi chị bịch bánh bơ cho cháu.

– Còn lạng trà và hai phong lương khô, tui gởi tặng ba má em. Nhớ nói với ổng bả rằng tui đạp xích lô chớ mà cũng đủ nuôi em suốt đời đó nhen.

– Ui! Cái thằng!

Chị nước sâm nghẹn lời. Chị lí nhí:

– Cám ơn hết a.

Còi tàu hú lên thông báo hành khách chuẩn bị. Chị sâm lạnh bước lên tàu. Mắt chị đỏ hoe. Bà mía lạnh với theo:

– Coi chừng móc túi nghe con sâm!

– Tàu chợ Nha Trang chạy tới ga Quy Nhơn thôi. Chị nhớ xuống mà chuyển tàu đi “chui” tiếp nha.

– Nhớ mà em.Nhưng có tiền thì đi chui làm gì! Ở lại mạnh giỏi nha bà con cô bác! Không thấy con sâm lạnh này về là coi như nó… chết rồi nha!

– Bậy bạ! Vạ khẩu nghen con!

– Miệng mồm muối mắm! Con nhỏ khờ!

Chị sâm lạnh cười. Túi xách của chị nằng nặng những tấm lòng vàng phố biển. Tàu chợ Nha Trang – Quy Nhơn chuyển bánh. Những người bán hàng rong xóm ga chờ chuyến tàu TN 3 Bắc – Nam cuối cùng của đêm sẽ đổ về trong nửa tiếng nữa.

                                     *

Bà ngoại dẫn cháu ra quán nước mía. Bà Hai Ngựa ngạc nhiên:

– Mấy hôm nay tui chẳng thấy bố lũ mô?

– Nó đi công tác xa.

Hai đứa bé đang ngồi đằng trước thấy khách vào, chúng vội nhanh nhẩu chạy tới chìa xấp vé số:

– Bà mua dùm cháu vài tờ vé số đi bà?

– Ủa? Hai đứa nhỏ ni ở mô tới đây?

– Ở bên kia Bạc Đằng Tây. Chúng nó là anh em sinh đôi đó chị nợ. Con nhà ai khéo đẻ ghê nơi!

– Ừ. Dễ thương kinh. Ông bà quen biết chúng hồi mô?

– Giữa trưa hai tuần trước. Thì trước lạ, sau quen bà nợ. Thằng con rể cán bộ của bà chạy xe suýt tông vào chúng. Thằng anh vào quán gọi một ly nước mía cho hai anh em uống chung vì không có tiền. Tui hỏi chúng là con cái nhà ai, có ba mẹ chi không? Chúng nói chúng đang ở với dì. Dì cũng bán vé số. Mẹ ở xa, ba không biết. Tui bảo hai anh em mi cứ lại đây mỗi ngày bà cho uống không tính tiền chi mô. Vậy là tui có thêm hai bạn hàng. Khi tui bận, chúng phụ làm cái này cái kia thấy thương!

Bà Thành chắc lưỡi. Hai đứa cháu bà như nhìn thấy… bạn. Chúng chùi khỏi tay bà và chạy tới hai anh em nhà nọ. Quên cả bán vé số, hai anh em cũng xúm vào ngắm nghía đồ chơi lục lạc reng keng của cậu em. Bà Thành trông thấy cảnh bốn đứa nhỏ chụm đầu vào nhau tíu tít mà nghe lòng rộn lên niềm vui. Nắng lên, bà dẫn cháu về không quên mua xấp vé số dùm hai đứa nhỏ và đùa:

– Tối nay trúng số, bà cho lũ mi một nửa.

Con chị nắm tay thằng em. Hai chị em chẳng muốn theo bà ngoại khiến bà ngoại phải dỗ dành mãi mới chịu đi. Chiếc lục lạc leng keng còn ở trong tay hai anh em bán vé số. Bên kia đường, một người đàn ông được người bán thuốc lá chỉ qua chỗ quán nước mía kiêm sửa xe của ông bà Hai Ngựa.

– Nhà Đinh Ngọc Đoàn? A. Nhà bà Hai Thành phải không?

– Dạ không! Nhà cô Thơ. Lý Hai Thơ.

– Tội qúa! Thơ với Thành là hai mẹ con. Kia kìa! Chú đi theo sau bà đang dẫn hai đứa nhỏ tê.

Người đàn ông ngoài bốn mươi cám ơn rồi xách cặp da nhanh nhẹn bước theo bà Thành. Đầu đường, hai người phụ nữ khác bương bã bước về quán nước mía bà Hai Ngựa. Người đàn ông dừng lại trước căn nhà màu xanh đọt chuối non xinh xắn. Đắn đo mấy giây, anh bước vào nhà. Trong nhà đang có không khí sinh nhật của trẻ con. Trên bàn có sẵn những gói qùa xinh xắn và chiếc máy ảnh. Trên tường gắn chiếc gương thật sáng làm tăng giá trị căn nhà. Người khách thầm khen chủ nhân khéo trang trí. Anh đứng lại. Một già, một trẻ ngạc nhiên nhìn vị khách không mời. Người khách giở chiếc mũ cối:

– Cháu là Tâm, bạn của Đoàn. Cháu đi công tác, tiện thể ghé thăm nhà ta. Chị đây là vợ Đoàn phải không?

Người con gái khoảng hăm lăm, hăm bảy lắc đầu:

– Không phải. Tôi là em gái.

– Chị ở chung nhà với vợ chồng Đoàn à?

Người con gái lại lắc đầu:

– Hôm nay sinh nhật hai tuổi của cháu Định nên tôi về chơi.

Bà mẹ cởi mở:

– Vợ Đoàn đi dạy cậu nợ. Mười một rưỡi nó mới về nơi. Cậu ngồi chơi đi. Cậu bạn bè cùng quê với chồng con Thơ à?

– Vâng! Cháu cùng quê và cùng quân ngũ. Cháu…

Tâm chưa dứt lời, mọi người cùng nghe tiếng gõ cửa bên ngoài. Em gái Thơ đứng dậy đi ra coi ai. Một người đàn bà dắt hai đứa trẻ đang ngập ngừng bên thềm. Chị cầm chiếc lục cục lạc cạc bằng tay trái:

– Chào… Tôi mang trả đồ chơi này lại cho hai cháu. Cám ơn cô nhiều. Còn đây là hai cái bong bóng mà thằng con tôi mới thổi cho hai cháu.

Em gái Thơ trố mắt:

– Trời! Răng mà chị giống… Mời chị vào nhà chơi.

– Thôi được rồi cô. Tôi đưa cháu về kẻo nắng.

Bà Thành vừa ra tới. Nhìn thấy người đàn bà, mặt bà Thành biến sắc:

– Ui!!! Cô ni đi với cậu chăng? Răng mà cô ni giống con Thơ nhà tui dữ rứa?

Tâm bật dậy. Anh nghe giọng nói quen lắm. Anh bước theo ra và nhận ngay người đàn bà bán sâm lạnh ở Ga Nha Trang. Anh thảng thốt:

– Quỳnh a? Quyên…?

Người đàn bà thất sắc khi nhận ra người đàn ông. Chị đưa cái lục lạc cho bà Thành:

– Con trả lại đồ chơi. Con chào bác. Chào anh. Chào cả nhà.

– Ơ?

Tâm quên mất đang có mặt vợ Đoàn, anh gọi giật:

– Quỳnh! Em khoan đi vội. Đoàn nó đi Lạng Sơn tìm em đấy.

Người đàn bà tên Quỳnh dẫn hai con bước ra chợt khựng lại. Người đàn bà tên Thơ bước lại cứng đôi chân. Hai người phụ nữ cùng chạm mặt ở ngưỡng cửa. Thêm một người đàn ông mặt mày bơ phờ đang bước tới. Họ cùng nghe trọn lọn câu nói rất to của Tâm. Họ nhìn nhau sững sờ. Bà Thành ôm chặt hai đứa cháu ngoại. Bà không thốt lên được một tiếng nào. Cô em đứng như trời trồng. Tâm há hốc…

                                    *

Ông bà Hai Ngựa không trông thấy những người khách nhà bà Thành trở ra. Chiều tối, người đàn ông hỏi thăm nhà lúc sáng hối hả ra đường. Chặp sau, chiếc xe UAZ và xe cứu thương quân đội đậu trước căn nhà màu xanh đọt chuối non làm xôn xao cả xóm. Chiếc băng ca phủ khăn trắng được đưa vào sau xe. Thiên hạ bu quanh nghe ngóng nhưng không ai được vào. Sáng mai, bà Hai Ngựa thấy một chiếc bò chở hai cái quan tài vào trong nhà đó. Không còn hồn vía, hai vợ chồng bà Hai Ngựa cùng con gái bỏ quán chạy u vào xem sự thể. Chẳng biết trong nhà màu xanh đọt chuối non đã xảy ra chuyệngì mà vợ chồng bà Hai Ngựa… câm cho tới bây giờ. Hồ sơ quân đội của Đinh Ngọc Đoàn ghi vắn tắt: “Đinh Ngọc Đoàn sinh năm 1939. Quê quán Hà Nội. Sĩ quan Quân đội Việt Nam. Cấp bậc: Thiếu tá. Tử: 10 -03- 1979. Lý do: Đương sự được tình nghi là tình báo Trung Cộng, bị bắt tại Đồng Đăng – Cao Lộc – Lạng Sơn.Quản thúc tại nhà riêng. Đương sự sợ tội tự tử. Kỷ luật: Khai trừ Đảng và tước chức vụ lẫn cấp bậc”. Hai đứa con không được hưởng chế độ cán bộ. Căn nhà màu xanh đọt chuối non bị nhà nước tịch thu. Nó được đem bán đấu giá. Lê Tâm – trung tá Cục Bảo vệ an ninh thuộc Tổng cục Chính trị mua được. Hai mươi năm trôi qua. Cái chết bí ẩn của những người trong căn nhà màu xanh đọt chuối đã chìm vào quên lãng… lại bùng lên sau đám cưới cưỡng ép đã tan rã của Lê Thanh Tân và Thái Thị Quyên.

  • CHƯƠNG 1: ĐÁM CƯỚI VIỆT KIỀU

    Hiệp định Genève (Accords de Genève - Geneva Conference) ngày 21tháng 7 năm 1954 đã cắt Việt Nam làm hai mảnh. Hiệp định Paris (Accords de Paix de Paris - Paris Peace Accords) ngày 27…

  • CHƯƠNG 2: SỢI DÂY VÔ HÌNH THẮT CỔ

    Tại khu biệt thự sang trọng ở Trần Phú, ông Lê Chấn vặn thằng con: - Tại sao đám hỏi cả năm rồi mà chẳng thấy anh cả nói gì tới đám cưới với họ…

  • CHƯƠNG 3: TÌNH TRONG CHIẾN LOẠN

    Tháng 3/1975. Những đợt pháo kích của quân Bắc Việt đã nã vào thành phố Đà Nẵng. Dân chúng chạy theo lính ùn tắc các ngã đường nhất là các con đường chạy xuống cảng…

  • CHƯƠNG 4: LÝ HAI THƠ

    Khoa Sản Bệnh viện Đà Nẵng cuối năm 1975 có hai người đang nhấp nha, nhấp nhỏm chờ bên ngoài. Khi cửa phòng sản hé mở, một y tá gọi tên người nhà sản phụ,…

  • CHƯƠNG 5: CÁI CHẾT BÍ ẨN

      Bà mẹ nhìn tờ lịch. Thời gian chẳng bao giờ chịu dừng lại. Bà thấy ngộp thở. Cái ngộp thở sức khỏe đuối theo thời gian không làm bà ngán ngao bằng cái ngộp…

  • CHƯƠNG 6: HÔN NHÂN ĐỊA NGỤC

    Quyên nghiễm nhiên trở thành vị hôn thê của Tân. Cô biết Tân bây giờ ghét cô tận xương tủy nhưng mục đích của cô đã sắp đi tới kết quả cuối cùng: Cái gia…

  • CHƯƠNG 7: HOÀNG HÔN MÀU TÍM

    Ba mươi năm trước. Mùa hè 1973. Quán vá xe đạp bên kia trường Phan Chu Trinh có hai người khách. Anh vào trước. Chị vào sau. Chủ nhật, đường phố Phan Chu Trinh vắng…

  • CHƯƠNG 8: CHA CON

    Ngồi luôn trong phòng làm việc vì ngao ngán trở về nhà, Tân đang nghĩ về những giây phút êm dịu khi ngồi với Hoàng Liên, điện thoại reo. Tân nghe giọng run run của…

  • CHƯƠNG 9: KẺ GIẤU MẶT

    Phòng Cảnh sát Điều tra. Khi Bảo từ Trúc Lâm Viên về lại Bệnh viện Đà Nẵng, hai cậu thanh niên đi chung với vợ Lê Thành Tân đã bị chận lại khi vượt đèn…

  • CHƯƠNG 10: MẢNH VỤN LỊCH SỬ

    Bà ngoại nghe chuyện chiếc rương được chôn theo dì Lý Thu Thủy bị Thái Thị Quyên cho người đào lên mà bủn rủn tay chân. Bà đã hiểu vì sao con cháu ngoại dâu…

  • CHƯƠNG 11: GIẢI ÁN

    Nhận điện thoại từ Hà Nội báo là người bệnh nhân chung phòng của cô đã chết, Bình thẩn thờ... Bệnh viện Huyết Học - Truyền máu TW. Khoa Ung Thư Máu Chiều xuống. Mặt…

  • CHƯƠNG 12: VĨNH BIỆT HOÀNG HÔN

    Nghĩa trang thành phố Lê Ngọc Bình thất thểu đến nghĩa trang lúc trời chập choạng. Cô không biết mẹ con dì Cúc đã đến đây lúc chiều. Trăng rằm chiếu sáng cả khu nghĩa…