Khoa Sản Bệnh viện Đà Nẵng cuối năm 1975 có hai người đang nhấp nha, nhấp nhỏm chờ bên ngoài. Khi cửa phòng sản hé mở, một y tá gọi tên người nhà sản phụ, họ cùng bật dậy như lò xo và nhanh chóng theo chân người y tá. Vừa thấy em bé quấn trong cái khăn nằm trên ngực mẹ, người đàn ông bồng lấy ngay. Quay sang người phụ nữ bên cạnh, anh ta nói bằng giọng rất đổi vui mừng:

– Cháu thật xinh, giống mẹ như đúc phải không cô út?

Không chờ cô út trả lời, anh nhìn mái tóc lơ thơ của đứa bé rồi sung sướng nói với vợ:

– Con gái đúng như anh đoán đấy nhé! Con gái hay qúa rồi! Em có mệt không?

Người sản phụ lắc đầu. Cô út nắm bàn tay chị, mỉm cười và ra dấu thánh giá như cám ơn mọi sự bình yên. Cô ra hiệu cho người đàn ông trao đứa bé cho mình. Cô nhìn cháu gái bằng ánh mắt trìu mến. Sau đó, cô khẽ khàng trong giọng nói xa xôi, thì thầm với chị:

– Nếu anh ấy còn sống, giờ này chắc em cũng có một công chúa dễ thương như chị đây.

Người chị động lòng. Chị nhìn em bằng cái nhìn thông cảm. Chị muốn nói một lời nhưng lại thôi. Chị nắm chặt tay cô em gái. Hai chị em nói cười với nhau vài phút rồi cô em quay lại người đàn ông:

– Có anh săn sóc chị, em yên tâm. Chiều mai, em ghé lại thăm hai mẹ con chị. Bây giờ, em về báo cho mẹ mừng chị và cháu đã “mẹ tròn con vuông” kẻo mẹ nóng lòng, anh chị nợ.

Đặt một cái hôn nhẹ lên má cháu, cô út quay ra. Bước chân cô em không để lại một vết nào trên thềm bệnh viện nhưng người chị tưởng như chúng đang hằn in từng dấu một trong lòng. Người đàn ông vuốt những cọng tóc lòa xòa trên trán vợ. Lúc này, chị chẳng biết mình phải cười trong nỗi vui mừng vì được làm mẹ hay phải khóc vì xúc động trước tấm chân tình của người đàn ông bên cạnh? Anh ta đang chăm chắm nhìn vào mặt cô vợ như cố chia xẻ nỗi niềm nào đó trong ánh mắt u buồn ấy. Chẳng nói chẳng rằng, ông cũng nắm tay vợ. Cái nắm tay đầy ý nghĩa mà chỉ có hai người trong cuộc mới hiểu nổi. Nhưng mà cả hai cũng đâu biết rằng có một người thứ ba cũng là người trong cuộc hiểu được nếu người đó có ở đây. Chị bác sĩ chúc mừng vợ chồng chị rồi ân cần dặn dò:

– Em cho con bú sữa mẹ thì nên cố gắng ăn uống nhiều lên em nợ. Cũng may, em sinh nở mà không phải mổ. Muốn có thêm bé nữa, hãy chờ vài năm sau đợi cháu lớn và cơ thể trở lại bình thường hẳn có.

Quay lại người đàn ông, chị bác sĩ nhắc khẽ:

– Anh nên chăm sóc cô ấy cẩn thận anh nợ. Thấy vậy chứ sức khỏe cô ấy yếu lắm. Đau bụng quằn quại mà cô ấy rên không thành tiếng. Có con mừng ghê nơi mà cô ấy cười cũng không cười nổi.

– Vâng! Tôi biết. Cám ơn bác sĩ.

Người sản phụ hình như nghe được, chị nhắm mắt lại và cảm nhận có bàn tay rất ấm đang xóa đi những giọt nước mắt lưng tròng. Chị bàng hoàng mở mắt. Người đàn ông cuối đầu thấp xuống:

– Lại khóc! Làm mẹ rồi mà khóc như thế này, người ta nghĩ rằng anh… đánh em. Anh nào có ác thế?

Nghe câu bông đùa của chồng, chị bật cười. Lần này, chị cười thật. Đứa con gái bé nhỏ đỏ hon đỏ hỏn ngoan ngoãn nằm im bên cạnh mẹ. Nó ngủ say như chưa từng biết một ngày tháng ba. Tháng ngày ấy sao mà nhiều đổi thay. Có những đổi thay làm người ta luyến tiếc một đời. Có những đổi thay làm thay đổi số phận một con người. Tóm lại, đổi thay là hai chiều của kẻ cười, người khóc. Chị muốn quên hết mọi thứ đang ấp ủ trong lòng cả năm nay. Con gái sinh năm 1975 cầm tinh con mèo Ất Mẹo có hạp với bố nó không? Bỗng nhiên, chị bần thần. Anh hỏi chị mệt không lần nữa. Chị lắc đầu nhưng cơn buồn ngủ kéo đến díp cả mắt nên chị nhanh chóng chìm vào giấc ngủ ngon lành.

                                                         *

Nằm trong bệnh viện ba ngày, người đàn ông đó rước hai mẹ con về nhà. Căn nhà màu xanh chuối non đã được sơn sửa lại nên khang trang hơn trước. Người đàn ông trao con cho mẹ vợ rồi dìu vợ vào phòng riêng tránh gió. Bà ngoài vui mừng sờ soạng đứa cháu ngoại. Mắt bà giật giật như cố nén giọt nước mắt chực rơi. Trong lòng bà hình như có nỗi niềm nào đó nghẹn ngào mà bà khó chia xẻ với ai. Lát sau, người đàn ông nói khẽ:

– Bà để cháu con bế cho vào nôi kẻo mỏi tay bà ạ. Bé ngủ ngoan, nhà con mới ngủ được. Cơm canh con nấu cho bà và nhà con rồi đấy. Bà ăn đi cho nóng. Để con đi giặt tã cho cháu và đun nồi nước cho nhà con xông rồi con ăn sau, bà nhé!

Bà ừ nhưng bà chẳng cảm thấy đói đâu mà ăn cơm. Bà quờ quạng vào trong phòng con gái. Thấy mẹ, chị vội nhỏm mình chực ngồi dậy nhưng bà đưa tay ngăn lại. Bà vuốt mái tóc dài của con và nói bằng giọng nghẹn ngào, xa xôi:

– Giữ gìn sức khỏe mi nợ. Không có đứa mô mà tốt như thằng ri. Con bé giống ai hả mi?

– Giống bố nó mẹ nợ!

– Ừ. “Con gái giống cha giàu ba họ“. Mi đặt tên nó là chi?

 Con chờ mẹ đặt cho cháu.

– Không! Mi chọn cái tên nào có ý nghĩa mà mi thích, đặt cho nó.

– Để vài ngày nữa hẳn tính. Em lại đi rồi hả mẹ?

– Nó đi rồi. Thật tội. Mi còn có nơi nương tựa đàng hoàng, em thì không!

– Có đấy mẹ nợ. Em có Chúa và Đức Mẹ trong nhà thờ. Nó học đủ đức tính trong đó. Mẹ không thấy các nữ tu, ai cũng thánh thiện cả sao? Còn như con cả đời có được vào cửa ấy đâu. Ước gì…

– Hùm. Mi nói “ước gì” bậy bạ cái chi đó?

Bà gắt giọng rồi rờ rẩm đứa cháu ngoại từ đầu tới chân như kiểm nghiệm nó có đầy đủ chân tay như những đứa bé thường hay không? Đếm đủ ngón tay và ngón chân của cháu xong, bà thở phào và lẩm bẩm một mình:

– Ơn trời!

Hai chữ “ơn trời”, chỉ có bà mới hiểu. Thấy bà lò dò ra khỏi phòng, người con gái đau lòng nhưng chị làm sao bước ra dìu mẹ được nên chỉ biết nhắc:

– Mẹ đi cẩn thận mẹ nợ!

– Ừ. Mi yên tâm. Nhà này ngõ ngách nào ta cũng quen thuộc hết trơn.

Chừng như quên điều gì, bà mẹ quay lại:

– Vợ chồng nhà bác Hai Ngựa hỏi thăm mẹ con mi.

– Dạ mẹ. Mẹ nói con cảm ơn bác.

Bà lò dò quay ra. Tay bà đụng một vật từ trên đầu giường con gái rớt xuống chân, bà quờ quạng và nhặt lên. Thì ra là một cây quạt giấy. Chạm trúng đuôi cây quạt sợi dây nhựa mềm, bà nói vừa đủ cho con gái nghe:

– Cây quạt này cũ rồi mi nợ! Đã đến lúc cần cho nó ở một nơi khác hay bỏ nó đi!

Bà không thấy con gái bà cắn môi. Hình như cô ta nén tiếng thở dài khi nghe tiếng chân chồng bước nặng chình chịch vào phòng. Anh ta đang bưng cả một nồi nước xông bốc khói:

– Chịu khó cưng nhá. Chả ai qúy vợ bằng người Bắc. Coi chừng phỏng!

 Anh đặt nồi xuống, chưa dứt lời thì… “chủm”. Cây quạt rớt vào nồi nước xông. Mùi sả, gừng, vỏ bưởi, lá dứa và lá chanh thơm ngào ngạt khắp phòng nhưng chị không còn tâm trí để định mùi thơm bằng khứu giác. Chị vội vã thò luôn tay phải vào nồi nước xôi để lấy cái quạt trước ánh mắt thất kinh của chồng. Chị cầm cây quạt ướt nhẹp với năm ngón tay đỏ chét vừa thổi thổi như xót của. Người chồng đau lòng. Anh hờn:

– Em thật trẻ con. Có cái quạt mà cũng làm hỏng bàn tay. Đưa nó cho anh nào!

Không chờ chị đồng ý hay không, anh lấy nó dễ dàng từ bàn tay chị. Chị thả cây quạt ướt ra mà không chút kháng cự. Như chẳng muốn chồng lo lắng, chị chui vào cái mền, trùm kín đầu. Nồi nước xông vẫn còn hơi nóng phủ trên bộ đồ. Anh thấy vậy, kêu lên:

– Giời à! Xông thế là thế nào? Em phải cởi đồ ra chứ ? Để anh giúp.

Anh sấn vào chị. Chị đẩy anh ra:

– Không mà!

Chị gượng gạo. Anh càu nhàu:

– Vợ chồng mà như đám trẻ mới tập tò yêu đương ấy! Em lạ thật đấy.

Cho đồ vợ vào thau giặt đồ xong, anh nhìn cây quạt giấy. Lúc này, anh nhận thấy nó khá xinh nhưng ướt sũng nước, ắt cũng sắp rã bèn nên tiện tay, anh vứt luôn vào sọt rác. Chị không trông thấy gì khi đám khói nước bốc phả toàn thân. Ai lại cho sản phụ xông nước? Chỉ có anh. Anh ngược đời. Anh bảo rằng hồi trước, bố anh cũng từng làm vậy cho mẹ sau khi sinh anh. Bố anh bảo rằng người sản phụ sau khi sinh, máu huyết chưa lưu thông, máu xương, máu xóc còn trong người. Xông nước vừa thơm mình, vừa tránh cảm mạo và đồng thời giúp máu huyết lưu thông. Tấm lòng chân chất của anh đã làm mềm lòng chị như sự gan lỳ trước đây của anh đã làm hai mẹ con chị xiêu tâm. Khi anh đi đổ rác, cây quạt không cánh mà bay. Anh đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: “Lạ nhỉ? Một cây quạt cũ kỹ mà cô ấy qúy như thế, ắt hẳn nó phải là vật kỷ niệm gì của ai tặng cho cô ấy đây”. Bỗng nhiên, tim anh “nhói” lên một cái. “Tớ mà ghen ư? Không đời nào! Cô ấy thơ ngây, thật thà và hiền hậu, tất nhiên, thiếu gì những anh tán tỉnh cơ! Nhưng mà sao tớ cứ thấy phổi như ứ hơi thế này? Hỏi cô ấy ư? Hỏi mẹ vợ ư? Tầm thường. Nhưng tớ không hỏi, tớ bực chịu không nổi“. Anh lùng sục khắp nhà để tìm cây quạt nhưng chẳng thấy. Mấy lần nghe tiếng động lục cục, lạc cạc, bà mẹ hỏi anh đang làm gì, anh trả lời “con đuổi con chuột thôi, bà đừng lo”. Rồi anh lại lục lọi. “Tủ sách? Ừ nhỉ! Tủ sách của cô ấy“. Anh chờ vợ ngủ, lại mò mẩm vào hộc tủ đựng sách vở dạy học của vợ. Chẳng thấy vợ giấu nó ở đây! “Hay là cô ấy quăng đi rồi? Nhưng cô ấy đâu có ra khỏi phòng mà không có mình?”. Lúc anh đang mãi mê trầm ngâm, con bé cựa mình trong nôi “nga…a oa…a…”. Tiếng khóc con gái khiến anh vội vã bỏ lại mọi thứ của vợ vào chỗ cũ rồi quay trở lại chiếc nôi. Anh vừa bồng con lên, vừa đùa:

– Ừ bố đây con. Thèm sữa mẹ ư? Ứ ừ, để mẹ ngủ một tí nhá rồi mẹ mới đủ sữa cho con gái cưng của bố bú nào!

Nhìn mắt con gái sáng long lanh, lòng anh như ấm lại. Sự ứ hơi vì chút “ghen” vớ vẩn như được thoát ra ngoài. Anh hôn con. Con bé thèm sữa mẹ hay thói quen sơ sinh mà bú lấy ngón cái ngon lành. Con bú tay cái là biểu hiện của sự thương cha mẹ như ông bà thường nói. Anh cười với con mà thầm cám ơn ý nghĩa ấy. Nằm trong tay bố ấm áp, con bé thôi nga với nghệ. Anh quên bén chuyện cây quạt. Một tháng cũng qua nhanh.

                                                 *

Tuần sau, chờ thằng con rễ đi khỏi nhà, bà mẹ kêu con gái bồng cháu lại cho bà bế rồi khẽ khàng:

– Cả tháng nay, chồng mi nó như có gì là lạ mi nợ.

Đang lau mặt cho con, chị rùng mình:

– Con không hiểu mô tê?

– Nó đuổi chuột mỗi ngày.

– Chuột? Nhà mình có chuột ư?

– Răng không? Nhà nào có gạo, có thóc mà chẳng có chuột! Chuột cũng thích củ mì, củ lang ghê nơi. Thôi mi ngủ nghỉ đi.

– Con còn năm tháng nữa mà mẹ.

– Chế độ cho nghỉ sản sáu tháng lận à?

– Dạ!

Bà mẹ trầm ngâm một chút rồi nói:

– Không có thằng Đoàn, ba mẹ con mình chẳng còn nhà cửa mà ngồi đây. Mi đừng phụ chồng mi hỉ! Nếu sau này có chuyện gì làm nó thất vọng, mi cũng biết mà giải bày mi nợ. Nó thương mi thật lòng đó mờ.

– Con biết. Tháng tới, anh ấy đưa mẹ ra ngoài kia mổ mắt phải không?

– Nó năn nỉ mẹ đi nhưng mà mổ cái chi? Mắt mẹ bị cườm khô lại thêm bị lựu đạn cay thời ba mi còn sống kia. Mổ ra có mà mù luôn. Nó đi rồi, ai ở nhà chăm sóc mẹ con mi?

– Mẹ à! Đừng lo cho con. Con còn đủ hai tay, hai chân mà. Mẹ cứ thử một lần xem. Mẹ nhỏ mật gấu hoài mà không hết là bệnh nặng rồi. Anh ấy có suất cán bộ mới được ưu tiên. Con đi cùng mẹ cho mẹ yên tâm chịu không? Chẳng lẽ, mẹ không muốn thấy cháu ngoại à?

Bà mẹ chép miệng “chật chật” nghĩa gì chẳng biết, chặp sau bà nói:

– Hùm! Có người bà chẳng muốn nhìn mặt cháu nội, cháu ngoại của mình? Mi nói năng lạ rứa? Thằng Đoàn nó làm cán gì, mẹ không cần quan tâm, mẹ lo là nó có ở với mi suốt đời hay không đó mờ? Mẹ lo cho mi nhất.

– Răng mà con?

– Em gái mi ngó vậy mà nó có bản lĩnh hơn mi. Ta không lo nhiều. Mi ủy mị hơn nó. Lòng mi quấy sóng bất tử. Mi… cất cây quạt làm gì cho nó đi tìm?

Người con gái hoảng hốt. Chị bấn loạn vì câu hỏi bất thình lình của mẹ. Mẹ lòa mắt nhưng thính tai, tinh tường gan ruột. Chị nhớ tháng trước, mẹ từng nhắc mình: “Cây quạt này cũ rồi mi nợ! Đã đến lúc cần cho nó ở một nơi khác hay bỏ nó đi”. Chị chống chế:

– Anh Đoàn quăng nó vào sọt rác rồi rồi mẹ nợ.

– Vậy sao? Nó quăng răng mà nó đi tìm tứ tung lung tàng trong nhà?

– Thì con quăng rồi. Chắc anh ấy dọn dẹp nhà cửa đó mờ.

– Ờ. Cho là vậy. Quăng rồi thì tốt. Có những kỷ niệm là hiện vật nên cất nhưng không phải lúc nào giữ hiện vật mà hay ho.

Như không muốn nhắc chuyện cây quạt, bà quờ quạng tới cháu ngoại:

– Cháu ngoại của bà ngủ rồi ư? Sao bà không nghe o ô ơ, a á ớ gì nữa hỉ? Mi bồng nó cho vào nôi đi con.

Chờ có thế, chị bồng con từ tay mẹ đặt vào chiếc nôi xinh xắn. Tiếng guốc “lốp cốp” trên nhà báo hiệu cô út về thăm nhà. Thấy mẹ, cô út sà ngay vào. Ba mẹ con lại cùng nhắc tới, nhắc lui tháng ngày qua. Họ khi cười, khi ràn rụa nước mắt. Cô út khen anh rễ không hết lời:

– Anh Đoàn ngó vậy mà cưng chị ghê mẹ hỉ? Ai nói mấy ông ngoài ấy chẳng có tình. Không tình mà… rình chị hai mỗi ngày hai lần sáng chiều đứng trước cửa nhà màu xanh lá dứa.

– Mi nhớ bậy không! Nhà mình màu xanh đọt chuối chứ xanh lá dứa, lá dúi cái chi. Hắn tới nhà mình đàng hoàng chứ rình gì?

– Thì cứ cho như vậy. Nếu không biết lấy lòng chị, dễ gì chị lấy ảnh?

– Con ni chỉ nhắc vớ vẩn. Khi nào mi về đây ở với mẹ và chị? Mẹ ngày càng già đi. Hai đứa mi cũng nên ráng nghe lời mẹ kẻo mẹ đi rồi thì khóc chù hụ, mẹ không nghe đâu nà.

Cô út ôm ngang hông mẹ:

– Mẹ chờ khi nào chính quyền dẹp cái nhà thờ thì con về. Các mẹ sơ cũng nói con chẳng có số tu hành gì.

– Răng mà dẹp nhà thờ? Chứ mi làm răng ở trỏng?

– Các sơ bắt gặp con đánh piano toàn nhạc buồn chứ không phải thánh ca.

– Em đánh bản gì mà buồn?

– Hận tình: “Nếu mai anh chết, em có buồn không. Sao em không đến khi anh còn sống. Anh đi âm thầm giữa chiều lồng lộng phố vui có người qua đây mà anh một bóng trăng gầy… Lỡ mai anh chết em khóc nhiều không? Sao không âu yếm khi anh còn sống? Cho anh không còn nghĩ đời tuyệt vọng. Những đêm đứng nhìn qua sông tình anh như bến ngập lòng …”
– Ui!

Người chị ôm ngực. Bà mẹ lắc đầu:

– Trời! Đi dòng tu mà Thánh ca không đánh chứ mi muốn đánh cái chi?

– Phải chi con có chồng, con sẽ… đánh chồng!

Cô út nói xong, lăn ra nền xi măng bóng loáng. Cô úp cái gối mẹ nằm vào mặt. Người chị thở dài trách em cứ nhắc chuyện buồn hoài. Bao chàng trai ngấp nghé mà chẳng lấy cứ ôm mãi bóng hình người đã chết. Bà mẹ vuốt tóc con gái út rồi khen “tóc con dài, đẹp, đừng cắt uổng” để cho nó nguôi ngoai. Cả ba chìm vào im lặng cho đến khi tiếng dép râu lẹp xẹp rõ dần, rõ dần…

                                                   *

Mắt bà ngoại sau khi mổ màng thủy tinh đã sáng ra phần nào nhưng bác sĩ chưa dám chắc bà khỏi 100%. Tuy nhiên, bà bớt thấy chói khi ra nắng và bà cũng ít lòa màu sắc như trước. Ngày bà mở băng mắt, người mà bà nhìn thấy trước tiên không phải hai đứa con gái mà là chàng rể. Bà nghe giọng nó quen lắm nhưng nhìn hình dáng nó, bà chỉ thấy hôm ấy là lần đầu tiên. Bà nhìn thấy mặt đứa cháu gái mà ràn rụa nước mắt. Một năm sau, cháu ngoại bi bô tập nói. Niềm vui trong lòng bà như được nhân lên.  Một lần, như không nén nỗi tâm sự trùng trùng khi con bé ôm bà bập bẹ gọi “bà bà”, bà ngoại ôm cháu vào lòng như nói với chính mình:

– Con bé ni chẳng biết khi mi lớn lên nói giọng chi? Giọng miền Bắc chắc là phải nói rồi nhưng giọng miền Nam nghe cũng ngồ ngộ lắm mi nợ.

Người mẹ buông cái mâm cơm xuống đất cái “xoảng!”. Người chồng bỏ tờ báo “Quân đội nhân dân” vội đỡ lấy vợ ngồi lên ghế và dọn những bát chén đã bể. Anh tưởng chị chóng mặt vì đã mang đứa con thứ hai nên nhắc nhở:

– Cẩn thận em chứ em!

– Em không sao!

Chị đứng dậy làm như không có việc gì. Bà ngoại vẫn đùa với cháu gái. Con bé chạy bổ sấp, bổ ngữa hết tới bà rồi tới bố cho đến khi nó ngã “ạch” xuống nền. Bố chạy vội đỡ con lên nhưng bà ra tay ngăn lại:

– Đừng! Hãy tập cho cháu tự đứng dậy một mình sau khi ngã con nợ. Con cứ đọc báo, để cháu mẹ dòm chừng cho.

– Vâng! Nhờ bà.

Anh nhìn vợ đang cặm cụi với quyển sách dày cui nên yên tâm. Anh cắm cúi vào tờ báo. Tờ báo chuẩn bị mừng ngày thành lập quân đội vào tháng 12 nên có khối chuyện chiến trường được ghi lại. Những cái tên với sắc phong “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” được nhắc tới như Phạm Tuân, Nguyễn Thị Định, Bế Văn Đàn, Đinh Núp, Nguyễn Văn Kịp, Kan Lịch, Mạc Thị Bưởi, Tạ Thị Kiều… khiến anh rờ đầu. Trong ấy, một miểng bom còn nằm yên. Anh nhớ có một lần hơi say trong tiệc mừng cháu thôi nôi, bạn bè chiến trường cũ vui miệng hỏi anh trong hai vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh và Nguyễn Văn Khương, người nào tài ba hơn, anh lắc đầu rồi cười nói: “Chẳng có ai tài ba hơn ai nhưng miểng bom ẩn núp trong đầu tôi là tài  nhất”. Chẳng ai hiểu mô tê chi cả nhưng có vài người đem chuyện ấy báo cáo lên cấp trên. Chưa thấy cấp trên chỉ thị gì. Chỉ biết ngày Đà Nẵng thất thủ, anh là đại đội trưởng đại đội DKZ chống tăng của Tiểu đoàn 1 (310), thuộc Trung đoàn 95 của Sư đoàn 325, được lệnh tấn công thẳng vào Đà Nẵng. Trước ngày nhận lệnh đánh, anh được nghe tiếng tăm của tay tướng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Quang Trưởng. Ông ta là Tư lệnh Quân đoàn I và II và từng chỉ huy  tái chiếm Quảng Trị năm 1972 – mùa hè đỏ lửa. Lần họp cán bộ ban chỉ đạo “Giải phóng Đà Nẵng”, anh nghe các ông ấy hồ hởi về tin báo: Sư Đoàn 23 của Việt Nam Cộng Hòa, gồm 3 trung đoàn 44, 45 và 53 sau khi triệt thoái từ Pleiku theo đường 14 đã bị ùn tắc ở đường số 7 phía Nam, chỉ còn vài chục quân. Thế là lời cảnh giác của cấp trên “hãy thận trọng khi gặp chủ lực Quân đoàn 1” đã không hiệu nghiệm. Bộ đội nghe tin quân miền Nam rút lui, ai cũng tràn trề quyết tâm “ta nhất định thắng, địch nhất địch thua“. Sư đoàn 325 của anh thuộc Quân đoàn 2 do tướng Hoàng Văn Thái và Hoàng Đan làm Trưởng, Phó Tư lệnh đã ồ ạt tiến vào Đà Nẵng theo hướng Bắc mà chẳng gặp sự kháng cự đáng kể nào. Toàn thể bộ đội, chiến sĩ tham dự trận đều nghe thượng cấp “phát sóng” ngay trong giờ xuất phát “Tiến về Sài Gòn”:

– Cuộc rút chạy ở Tây Nguyên theo lệnh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã thất bại thảm hại. Địch quân đã không còn tinh thần tác chiến. Bộ Tổng tham mưu của chúng từ Sài Gòn bay ra Cam Ranh đã vội vã ra lệnh bỏ vùng 1 và vùng 2 chiến thuật. Chúng ta đã có 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Sắp tới, chúng ta sẽ có thêm 14 tỉnh và 2 thị xã Đà Nẵng và Cam Ranh. Trong thời gian tới, chúng ta sẽ có thêm 25 tỉnh ở vùng chiến thuật 3 và 4 của địch. Địch quân đã rút lui. Đó là điểm mở đầu cho sự thất bại không tránh khỏi của chúng và công cuộc “Giải phóng miền Nam” của chúng ta cũng gần tới đích. Thời cơ của chúng ta đã chín mùi. Nhân dân trên dưới 20 triệu ở miền Nam chờ đợi chúng ta giải phóng khỏi cảnh đói nghèo. “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”!

– Tiến lên! Tiến lên!

Tiếng thét và hàng vạn cánh tay bộ đội giơ cao hạ quyết tâm tiến vào Sài Gòn. Ngược lại, những cánh tay đưa lên “quyết tử thủ” của sĩ quan và lính Cộng Hòa ở 2 vùng chiến thuật đã không được Tổng Tư lệnh Nguyễn Văn Thiệu phê chuẩn. Bài “Giải phóng miền Nam” của Lưu Hữu Phước được bắt nhịp. Đoàn hát. Anh hát say sưa. Hình như những anh chị em bộ đội và thanh niên xung phong, ai cũng đều thích hát. Họ hát vang trời:

               “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước.
Diệt Đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước.
Ôi xương tan máu rơi, long hân thù ngất trời.
Sông núi bao nhiêu năm cắt rời.
Đây Cửu Long hùng tráng

                Đây Trường Sơn vinh quang.
Thúc giục đoàn ta xung phong đi giết thù.
Vai sát vai chung một bóng cờ.
Vùng lên! Nhân dân miền Nam anh hùng!
Vùng lên! Xông pha vượt qua bão bùng.
Thề cứu lấy nước nhà! Thề hy sinh đến cùng!
                Cầm gươm, ôm súng xông tới
                Vận nước đã đến rồi, bình minh chiếu khắp nơi
               Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời”

Ai nấy đều hồ hởi. Riêng Đoàn ngạc nhiên từ lâu: Vì sao nhạc sĩ Lưu Hữu Phước là nhạc sĩ miền Bắc Việt Cộng mà Việt Nam Cộng Hòa vẫn chọn “Tiếng gọi công dân” của ông ta làm “Quốc ca” ? Bộ đội ai mà chẳng biết bài này là của Lưu Hữu Phước.

Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng

Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.

Vì tương lai Quốc Dân, cùng xông pha khói tên,

Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.

Dù cho thây phơi trên gươm giáo,

Thù nước, lấy máu đào đem báo.

Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,

Người Công Dân luôn vững bền tâm trí.

Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi

Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!

Công Dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!

Công Dân ơi! Mau làm cho cõi bờ

Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống

Xứng danh nghìn năm dòng giống Lạc Hồng!

Đoàn là sĩ quan chính quy Tiểu đoàn 10 tức Trường Sĩ quan Tăng – Thiết Giáp nhưng anh cũng từng học Khoa Thanh nhạc từ Trường Đại học Văn hóa – Nghệ thuật Quân đội nên anh tìm hiểu kỹ các bài hát từ hai miền. Lời nhạc từ bản chính bằng tiếng Pháp của Lưu Hữu Phước “La Marche des Étudiants” (Học sinh hành khúc) đã được sửa lại nhiều lần nên xa dần bản gốc. Ngay cả đầu đề cũng đổi thành “Sinh viên hành khúc” hay “Tiếng gọi công dân”...  Anh nghĩ: “Phải chăng Việt Nam Cộng Hòa đã không có nhạc sĩ tài ba sáng tác ‘Quốc ca’ “? Anh mang thắc mắc vu vơ ấy đổ lên đầu súng. Ngày tiến công, chẳng ai hơi đâu đi nhớ quốc ca của ai mà chỉ biết họ đang ở quân đoàn, sư đoàn binh đoàn, đại đội và tiểu đội nào, cầm súng vì mục đích gì? Sư đoàn Bộ Binh 325 của anh là quân đội chủ lực của các trận Huế, Hải Vân và Quảng Trị. Vì thế, lần này thêm tin chiến bại của Việt Nam Cộng Hòa với chiến thắng của quân miền Bắc liên tục dội về; nó như hổ thêm cánh, như rồng gặp mây. Các cánh quân hướng Tây và Tây Nam có Trung đoàn 9 và Sư đoàn 304 cùng lực lượng Quân khu 5, mới thành lập do tướng Lê Trọng Tấn và Chu Huy Mân làm Tư lệnh và Chính ủy cùng tiến chiếm Đà Nẵng, được phối hợp rất ăn ý giữa tăng – pháo – bộ binh nên ít hao binh tổn tướng. Nhân dân thành phố Đà Nẵng những đêm 27 – 29 như ngồi trên đống lửa. Ngay cả lúc Tư lệnh Quân đoàn 1 Ngô Quang Trưởng hội các quan chức cấp tướng bỏ Đà Nẵng, tỉnh trưởng và tiểu khu trưởng Quảng Nam – Đà Nẵng mang hàm cấp tá hình như chẳng được thông báo chính thức là bỏ Đà Nẵng hay tử thủ? Sự kháng cự không đồng bộ và tháo chạy là chủ yếu không hẳn là quân miền Nam yếu bóng vía mà vì họ mất hết tinh thần. Bởi lẽ, họ cầm súng mà chẳng có mục tiêu nào rõ ràng? Họ có đánh đấm gì ra trò đâu! Ra chiến trường mà không “thọ tiễn”, không “thọ thương” thì còn chi tư cách một chiến binh dưới “làn tên, mũi đạn”? Chỉ nghe lệnh rút chạy. Vì vậy, trong sự hỗn loạn, sĩ quan, lính và thường dân, ai cũng lo đưa gia đình di tản nhanh chừng nào tốt chừng ấy. Trước ngày Đà Nẵng được quân miền Bắc chiếm, cảnh hỗn loạn, cướp bócc, hiếm dâm và chết chóc đã xảy ra kinh hoàng trên mọi  xa lộ. Đoàn không thể nghe hết những lời kêu than nhưng anh cảm nhận được người dân Đà Nẵng sẽ kêu la như thế này khi anh nhìn thấy cảnh hoang tàn của một thành phố được coi là lớn thứ hai của Việt Nam Cộng Hòa:

– Đường Lê Lợi, Gia Long hay Duy Tân cũng chẳng đi được mô. Chắc chết hết đến nơi rồi!

– Kinh qúa! Đường Thống Nhất, Nguyễn Hoàng và Phan Đình Phùng cũng rứa. Toàn vợ con lính đi trước cả.

– Đường Trần Cao Vân, Pasteur, Yersin hay Đông Kinh Nghĩa Thục cũng súng pháo liên tù tì bà con nợ! Pháo của “mấy ổng”.

– Đường Nguyễn Du, Tự Đức, Nguyễn Công Trứ, Quang Trung cũng xe nhà binh chạy chiếm hết lòng đường.

– Đường Độc Lập, Lê Thánh Tôn và Phan Chu Trinh chẳng chen chân lọt! Xác chết nhà ai nằm đây, có ai nhặt mô?

– Sau ngày 28 tháng 3, lực lượng thanh niên xung kích thành phố từ đâu bỗng xuất hiện đông như kiến cỏ. Có trời mới biết. Hàng xóm nhà tôi treo cờ nửa đỏ, nửa xanh hồi nào…

Đoàn xe “bộ đội cụ Hồ” qua Đà Nẵng giữa thành phố nhà cao cửa rộng. Đoàn có cảm giác là lạ. Tại sao các thành phố miền Trung và Nam phần đều phồn vinh và tràn đầy sức sống chứ không như nghèo đói, mất tự do như anh từng học trên sách vở và trong những ngày huấn luyện quân sự? Quân đội miền Bắc chỉ mang toàn “đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ” trong khi quân lính miền Nam giày nhà binh bóng loáng. Những chiến lợi phẩm như xe tăng, xe bọc thép, máy bay và súng các loại được địch quân bỏ lại với những xác chết còn đầy đủ quần áo quân phục, cấp bậc, huy hiệu oai phong mà đồng bọn chưa kịp lấy xác đã là bằng chứng cho sự đầu tư, trang bị tận chân lông kẻ tóc từng nguời lính. Nếu miền Bắc chưa đủ cơm trắng cá tươi thì miền Trung và Nam đều có cá tươi, gạo trắng. Bộ đội từng đơn vị giải phóng, không ai không ngỡ ngàng khi Huế thắm da, Đà Nẵng mát thịt. Chúng chỉ là thị xã, là thành phố của miền Nam thôi mà đã vậy. Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa hẳn khác thường về sự phồn vinh. Người ta đánh chiếm sự phồn vinh chứ không ai giành lấy cái nghèo khổ. Giải phóng miền Nam là giải phóng cái gì đây? Hẳn nhiên là “thống nhất đất nước, là độc lập, tự do và là cơm no áo ấm” như anh và đồng đội đã được giảng dạy kỹ càng tới từng chân lông, kẽ tóc! Anh thấy có sự mâu thuẫn trong từng mục tiêu nhưng anh không thể nào lý giải nổi. Trước mắt, quân địch đã tháo chạy. Cờ tới tay ai, người ấy phất. Sư đoàn 325 của anh cũng phất phơ ngọn cờ nửa đỏ, nửa xanh mà tiến công trong niềm tự hào của đoàn quân chiến thắng từ Bắc vô Nam. Thế mà, anh không thấy bản nhạc “Tiểu đoàn 310” của Trí Trọng được tiểu đoàn hát… mòn răng từ thời 1950 làm anh nức lòng nữa. Lòng anh chao đảo từ những xác người ngỗn ngang trên 2 vùng chiến thuật. Họng súng như chùn lại trong tay anh.

                                                     *

Sau chiến thắng 1975, Đoàn được thăng quân hàm thiếu tá và lĩnh… miểng bom vào đầu trong trận giao tranh ở chiến trường B2 tại Xuân Lộc (Đồng Nai). Trận đánh cuối cùng của đơn vị anh – Trung đoàn 95B thuộc Sư đoàn 325, do tướng Hoàng Cầm làm tư lệnh và tướng Hoàng Thế Thiện làm chính ủy, đã kết thúc bằng thắng nhanh, thắng vững chắc dù có đổ “ba lít rưỡi máu” trong thân thể. Anh có kể cho vợ nghe chuyện anh suýt chết vì đụng độ với Trung đoàn 18 BB, do tướng Lê Minh Đảo và Lê Xuân Mai làm Tư lệnh và Phó Tư lệnh, kháng cự khá dữ dội. Thế nhưng khi tướng Trần Văn Trà thay tướng Hoàng Cầm với chiến thuật “đông áp đảo” nghĩa là một chọi mười, quân Cộng Hòa như “mãnh hổ nan địch quần hồ”. Quân bên anh có Sư đoàn 341 Tổng trừ bị Hà Nội từ Thanh Hóa bổ sung vào quân số mất. Ngược lại địch quân, họ chẳng còn quân để bổ sung nên chiến thuật của tướng Trà hóa ra “hiệu nghiệm” lắm. Anh chốt lại:

– Hình như họ muốn tử thủ đó em. Nếu không có lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh kêu đầu hàng, ít ra cũng thêm hàng chục vạn quân hai bên chết nữa. Đấy là anh chưa nói tới thường dân bị vạ lây bởi vũ khí hai bên xạ vào nhau chẳng thương tiếc. Bom phát quang BLU-82 nặng sơ sơ… gần 7.000 ký  với bom chùm CBU-55 gần 350 ký và bom tiểu nguyên tử con heo Dausy Cutter nặng… 7.000 ký là vũ khí hủy diệt gớm nhất của Mỹ cũng được quân Cộng Hòa đem sử dụng. Anh ngạc nhiên là tại sao Mỹ cuốn cờ năm 1973 mà vẫn còn có chuyện Mỹ rải bom chùm? Té ra, Mỹ rút lui nhưng vũ khí quân sự vẫn tồn kho và quân miền Nam. Phút chót, quân Cộng Hòa đành phải giở “lá bùa hộ mệnh” cuối cùng bằng vũ khí tối tân. Lá bùa không thiêng, nếu thiêng, miếng mẻ từ bom chùm này chẻ lủng sọ anh ra từ hồi nào!

Thấy vợ rùng mình, anh vỗ về:

– Chiến tranh mà em. Từ xưa đến nay, chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa nào cũng là sự hủy diệt con người và hủy diệt thế giới. Anh em bắn giết lẫn nhau, người người chĩa súng vào nhau, ai đau lòng em nhỉ? Nếu sau này sinh con dù trai hay gái, anh chỉ ước mong đừng có chiến tranh xảy ra để các con chúng ta và con cái mọi người đều không chịu cảnh máu đổ thịt rơi. Đồng ý không… đồng chí… vợ? Nếu không nhờ miểng bom này, anh đâu được đưa về Đà Nẵng gặp em và… được em “hành hạ” trước nhà.

Vợ anh cười mà mắt rưng rưng. Hình ảnh người đàn ông mang đôi dép lốp và chiếc mũ cối cỡi xe đạp đằng dông năm trước hiện về…

                                                          *

Anh gặp chị ở quán sửa xe của bác Hai Ngựa. Anh gọi chị bằng cái tên lạ hoắc: “Quyên! Quyên phải không?”. Tiếng gọi giật ngược của anh lớn đến nổi xung quanh có bao nhiêu con mắt đều chiếu vào mặt chị. Chị gượng chín người. Sau khi trả lời “không phải Quyên” bằng giọng Đà Nẵng chính thống, anh mới ngớ người ra nhưng còn chưa tin. Chị đạp xe về, anh cũng đi theo. Kẻ trước, người sau đi mãi thành quen. Có kẻ xấu mồm chỉ điểm nhà chị là “sĩ quan Nguỵ”. Khốn khổ thay! Những người có chút chức quyền hiên ngang tới đòi thu nhà. “Lấy nhà ư? Chúng ta đi đâu bây giờ?” Hai chị em sống những giờ căng thẳng. Người mẹ chỉ cười xòa, bảo:

– Người ta không cho mình ở nhà của mình, mình ra bụi bờ ở cũng chết chi mô!

Nghe mẹ nói cứng, hai chị em càng sụt sùi. “Mẹ mù mà ở bụi ư?”. Vợ chồng bà Hai Ngựa bán nước mía và vá xe trước đây, giờ vẫn vá xe đạp. Thêm vào đó, nhờ có bộ đội mang dép râu có nhu cầu dép mới nên ông có thêm nghề làm dép cao su từ bánh xe hơi vứt bỏ mà sống qua ngày. Nghe tin ba mẹ con sắp bị chính quyền lấy nhà, ông bà bảo qua nhà ông bà ở tạm hẳn tính sau. Vậy mà ngày hôm sau, đúng ngày cán bộ tới lấy nhà nhưng họ đã không tới. Người đàn ông mang dép lốp lại tới. Anh bảo rằng chẳng việc gì phải dọn đi. Mấy mẹ con như trên trời rớt xuống, dưới đất chui lên. Một ngày, chị buộc phải lên ủy ban để đổi “Sổ Gia Đình” ra “Sổ Hộ Khẩu”,có người tươi cười với chị:

– Chị Đoàn đưa sổ của chị đây!

– ???

Chị ú ớ. Ai là “chị Đoàn?” Nhưng chung quanh chị chỉ có bà già và đàn ông; hắn không ám chỉ “chị Đoàn” là chị, hắn ám chỉ ai? Vậy là chị đỏ mặt. Chị hỏi:

– Sao cậu kêu tôi là chị Đoàn?

Người cán bộ cười:

– Anh Đoàn báo qua lãnh đạo rồi chị ạ.

– ???

Chị vừa tức cười vừa giận. Ngày đó, vừa thấy anh tới nhà, chị bỏ nhà trong mà qua quán vá xe của nhà bác Hai Ngựa. Hình như anh biết chị giận anh về chuyện “không dựng có” này nên vội vàng chạy theo thanh minh:

– Anh xin lỗi! Anh phải đưa giấy tờ ra bảo lãnh cho mẹ con em, họ mới không thu nhà đấy. Nhà của sĩ quan Ngụy, hầu hết phải tịch thu. Làm cán bộ, quan chức ăn lương không thể giàu to mà có biệt thự, nhà lớn như các sĩ quan Nguỵ này. Họ nhờ “bóc lột, tham nhũng” mới có đấy em. Cho là thế nên cấp trên, người ta quyết định thu nhà, thu đất để chính quyền phân phối cho người không có nhà hay lấy làm cơ quan tập thể. Anh phải nói dối em là vợ chưa cưới của anh và mẹ em chẳng phải là vợ sĩ quan Nguỵ, họ mới để yên. Ít ra, có chút hơi hám cán bộ cũng dễ thở em ạ. Nhưng anh hy vọng rằng những ngày tới, anh không phải nói dối nữa.

Chị giận anh cả tuần. Làm sao có thể nói cho mẹ biết có chuyện ơn nghĩa như thế này? Đuổi “ân nhân” thì không được mà bỏ ra phố cũng chẳng xong. Phố xá Đà Nẵng ngày đầu giải phóng thật hoang vắng. Các chợ lớn như chợ Hàn, chợ Cồn, chợ Mới thiếu vắng người bán mua vì lệnh trên đưa xuống: Không chợ búa, không hội họp, không hàng hóa mua bán từ nơi này sang nơi khác. Tô phở Đà Nẵng 5 đồng cũng không còn mà mua ăn. Đồng lương giáo viên lớp Đệ Nhất (12) hơn 5 ngàn của chị dư nuôi mẹ, nay vì “giáo viên dưới chế độ Mỹ – Ngụy” mà tiêu tùng! Các chức vụ Hiệu trưởng đều về tay những người đi dép lốp. Chị từng nghe hệ giáo dục miền Bắc cấp trung học chỉ có lớp 10 tức chỉ bằng lớp Đệ tam của Cộng Hòa là hết. Học lên nữa là 10 +2 hoặc 10+3 tùy trường. Tên đường thay đổi. Các trường cũng thay tên đổi họ. Chẳng đào ra đâu Giám học hay Tổng giám thị như xưa. May sao Trường Trung học Đệ nhị cấp Phan Chu Trinh của chị vẫn còn giữ được tên. Anh tới nhà chị ngày hai lần nhưng lần nào, anh cũng phải đứng ngoài cửa. Người của chính quyền cứ theo dõi coi thử anh có phải là “chồng chưa cưới” của cô giáo con nhà “nguỵ quân, nguỵ quyền” hay không? Những lần thế, anh cứ lum khum vờ sửa chiếc xe đạp để đánh lừa họ. Hóa ra, những người gây phiền phức đó lại là đồng đội của anh. Cô em thông minh, nó nhận ra cử chỉ lạ lùng của anh nên nói với mẹ:

– Cái anh cán bộ bộ đội kia ngày nào cũng sửa xe trước nhà mình mẹ nợ?

Bà mẹ tinh ý. Bà vặn hỏi con gái lớn:

– Răng mà thằng bộ đội nào đó đứng trước nhà mình hoài vậy mi? Hổm rày cũng không thấy ai kêu mình đi ra? Mi nói thật cho mẹ biết anh ta muốn gì ở nhà mình vậy mi?

 Cực chẳng đã, chị phải kể lại mọi chuyện với mẹ và em. Nghe xong, bà lặng im. Tuần sau, bà nghe con gái buông đũa cái “xoảng” trên mâm và bỏ chạy. Bà nghe cả tiếng con gái ậm oẹ ngoài vườn. Hai tay bà nắm vạt áo. Bà chậm nước mắt. Hôm sau, bà kêu con út gọi anh chàng “sửa xe” đó vào nhà. Mặc cho chị trốn trong buồng, bà nói chuyện hệ trọng xong, dặn anh chàng si tình:

– Khi xảy ra chuyện gì, hay tôi chết đi, cậu cũng đừng làm khổ con gái tôi. Cậu có dám hứa răng?

Anh mừng run cả mình và “vâng ạ” liên tục. Người con rể vui như trúng độc đắc, làm hết công việc đàn ông trong nhà. Sáng đi, chiều tối anh về như thế suốt nửa tháng. Ngày anh ở lại đêm cũng là ngày họ đám cưới. Một đám cưới đơn giản theo yêu cầu của bà mẹ. Chị nghe lời mẹ, thương em và có nỗi lòng riêng đành chấp nhận anh trong cuộc đời ở cái tuổi 30. Lúc vui, anh kể chuyện 30 tháng 4. Ngay khi ấy, chị muốn hỏi thăm tới Quân đoàn 1 nhưng lại thôi. Tướng chạy, tá cũng thăng, úy chắc cũng tàn tro với bom hủy diệt. Đêm chiến thắng năm 1975, không còn tia hy vọng có một người còn sống giữa hàng vạn người, chị vùi đầu vào gối mà khóc nghẹn ngào một mình. Người mẹ nghe tiếng con gái khóc, bà mò tới guờng con. Lòng mẹ cũng muối xát từ lâu. Trước đó, con gái út cũng mang nước mắt tưới ướt căn nhà. Người yêu của nó không chịu buông súng. Vậy là anh ta phải nhận viên đạn “ân huệ” vào đầu cho kẻ “theo đuôi Mỹ – Ngụy bán nước”. Ngày nó bỏ vào ở với sơ, bà cũng đổ thêm nước mắt rửa nhà nữa. Vậy mà, ngày ba chúng nó mất tích trong trận Mậu Thân ở Huế 1968, sao bà chẳng có giọt nước mắt nào? Ôm hai đứa con gái trong tay với đôi mắt ngày càng mờ dần, bà nuốt nước mắt vào lòng và cứng trong lời nói tới ngày hôm nay. Chị hiểu mẹ hơn ai hết. Gia đình chị chẳng có được hưởng “Quốc Gia Nghĩa Tử” cái chi mô? Hẳn họ đã quên người mất tích như quên biết bao người nằm xuống giữa hai cuộc chiến đã bị lịch sử vùi sâu. Không hưởng được chính sách “Quân tiếp vụ” vì mẹ chị bị tra cái tội “có chồng sĩ quan Cộng Hòa mà đào binh theo Việt Cộng”. Chính chị cũng chao đảo trên bục giảng Phan Chu Trinh dạo nào còn ông Huỳnh Mai Trác làm hiệu trưởng. Vậy cũng hay. Khi chị đang trầm tư, mẹ chị cũng muôn vàn ký ức đan chéo. Chẳng ai còn nhớ bà một thời là vợ một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Nay, con gái sĩ quan Cộng Hòa lại có chồng là sĩ quan Cộng Sản! Nghiệt ngã thay! Nỗi chờ mong người mất tích có thể trở về từ chiến trường Cộng Sản hay Cộng Hòa cũng đã theo thời gian trôi đi. Bà vừa hy vọng vừa tuyệt vọng. Bà cũng chẳng biết trong đống mồ tập thể của “vụ thảm sát Huế”, xương nào là xương của chồng bà? Níu áo bên nào mà mắc đền đây? Mắt bà mờ mãi cho đến bây giờ, chúng được sáng ra cũng chỉ thấy một màu đen của tang tóc, sáng làm chi! Cái tang lòng này, bà cất giữ lâu ghê, lâu gớm. Bà cũng muốn như các con, khóc một lần cho hả dạ, cho trôi hết nỗi niềm thầm kín trong lòng. Vậy mà bà không khóc được một lần cho tới một ngày giữa tháng 5 năm 1975, người cán bộ Cộng Sản năn nỉ được lấy con gái bà. Giấy đăng ký kết hôn ghi rõ: Đinh Ngọc Đoàn (thiếu tá) và Lý Hai Thơ (giáo viên).

  • CHƯƠNG 1: ĐÁM CƯỚI VIỆT KIỀU

    Hiệp định Genève (Accords de Genève - Geneva Conference) ngày 21tháng 7 năm 1954 đã cắt Việt Nam làm hai mảnh. Hiệp định Paris (Accords de Paix de Paris - Paris Peace Accords) ngày 27…

  • CHƯƠNG 2: SỢI DÂY VÔ HÌNH THẮT CỔ

    Tại khu biệt thự sang trọng ở Trần Phú, ông Lê Chấn vặn thằng con: - Tại sao đám hỏi cả năm rồi mà chẳng thấy anh cả nói gì tới đám cưới với họ…

  • CHƯƠNG 3: TÌNH TRONG CHIẾN LOẠN

    Tháng 3/1975. Những đợt pháo kích của quân Bắc Việt đã nã vào thành phố Đà Nẵng. Dân chúng chạy theo lính ùn tắc các ngã đường nhất là các con đường chạy xuống cảng…

  • CHƯƠNG 4: LÝ HAI THƠ

    Khoa Sản Bệnh viện Đà Nẵng cuối năm 1975 có hai người đang nhấp nha, nhấp nhỏm chờ bên ngoài. Khi cửa phòng sản hé mở, một y tá gọi tên người nhà sản phụ,…

  • CHƯƠNG 5: CÁI CHẾT BÍ ẨN

      Bà mẹ nhìn tờ lịch. Thời gian chẳng bao giờ chịu dừng lại. Bà thấy ngộp thở. Cái ngộp thở sức khỏe đuối theo thời gian không làm bà ngán ngao bằng cái ngộp…

  • CHƯƠNG 6: HÔN NHÂN ĐỊA NGỤC

    Quyên nghiễm nhiên trở thành vị hôn thê của Tân. Cô biết Tân bây giờ ghét cô tận xương tủy nhưng mục đích của cô đã sắp đi tới kết quả cuối cùng: Cái gia…

  • CHƯƠNG 7: HOÀNG HÔN MÀU TÍM

    Ba mươi năm trước. Mùa hè 1973. Quán vá xe đạp bên kia trường Phan Chu Trinh có hai người khách. Anh vào trước. Chị vào sau. Chủ nhật, đường phố Phan Chu Trinh vắng…

  • CHƯƠNG 8: CHA CON

    Ngồi luôn trong phòng làm việc vì ngao ngán trở về nhà, Tân đang nghĩ về những giây phút êm dịu khi ngồi với Hoàng Liên, điện thoại reo. Tân nghe giọng run run của…

  • CHƯƠNG 9: KẺ GIẤU MẶT

    Phòng Cảnh sát Điều tra. Khi Bảo từ Trúc Lâm Viên về lại Bệnh viện Đà Nẵng, hai cậu thanh niên đi chung với vợ Lê Thành Tân đã bị chận lại khi vượt đèn…

  • CHƯƠNG 10: MẢNH VỤN LỊCH SỬ

    Bà ngoại nghe chuyện chiếc rương được chôn theo dì Lý Thu Thủy bị Thái Thị Quyên cho người đào lên mà bủn rủn tay chân. Bà đã hiểu vì sao con cháu ngoại dâu…

  • CHƯƠNG 11: GIẢI ÁN

    Nhận điện thoại từ Hà Nội báo là người bệnh nhân chung phòng của cô đã chết, Bình thẩn thờ... Bệnh viện Huyết Học - Truyền máu TW. Khoa Ung Thư Máu Chiều xuống. Mặt…

  • CHƯƠNG 12: VĨNH BIỆT HOÀNG HÔN

    Nghĩa trang thành phố Lê Ngọc Bình thất thểu đến nghĩa trang lúc trời chập choạng. Cô không biết mẹ con dì Cúc đã đến đây lúc chiều. Trăng rằm chiếu sáng cả khu nghĩa…