Bà ngoại nghe chuyện chiếc rương được chôn theo dì Lý Thu Thủy bị Thái Thị Quyên cho người đào lên mà bủn rủn tay chân. Bà đã hiểu vì sao con cháu ngoại dâu cứ theo hỏi bà về chiếc rương. Trong chiếc rương cũng chỉ có hai món đồ của Nguyễn Thành Bang chứ có là thứ chi mà Thái Thị Quyên phải đổi mạng để lấy? Nó muốn chiếm hữu vật kỷ niệm để buộc Nguyễn Thành Bang phải thòi tiên chuộc? Bà vỡ lẽ ra vì sao Lê Ngọc Duyên năn nỉ bà và bắt Tân phải đưa bà tới bệnh viện xét nghiệm máu. Bà tự than: “Thật là ‘nuôi ong tay áo’. Lý Hai Thơ ơi Lý Hai Thơ!”. Bà soi mặt rầu rầu của bà trong gương. Hai khuôn mặt như chặp lại một người. “Xoảng!”. Bà thất kinh hồn vía đánh rơi cái gương xuống đất. Khuôn mặt thứ hai cũng tan tành nhưng nó biến thành hàng chục khuôn mặt không nguyên vẹn của Lý Hai Thơ khác. Trong những mảnh vỡ của chiếc gương có cả khuôn mặt Đinh Ngọc Đoàn, Lê Tâm, Lý Hai Thành và thời gian quay ngược cũng vỡ từng mảnh vụn từ năm 1979 – năm bà gặp Đinh Ngọc Đoàn và Lê Tâm trong căn nhà màu xanh đọt chuối non năm 1979…

Nghe tin dữ, Lê Tâm đã vội vã đi Cao Bằng ngay trong ngày Đinh Ngọc Đoàn về nhà có xe quân đội áp tải. Cao Bằng sau “16 ngày lịch sử” chỉ còn là đống gạch vụn. Ngày 5 tháng 3, sau khi hoàn thành mục tiêu đã hình thành từ tháng 12 năm 1978 vì “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”, Đặng Tiểu Bình ra lệnh rút binh. Con đường km 3 từ Cao Bằng đi qua đèo Tài Hồ Sìn là “khe núi đẫm máu”. Nơi đây, chính là nơi Quân đoàn 41, 42, 50 của Trung Quốc do Thượng tướng Xu Shiyou chỉ huy (hai cánh Lạng Sơn – Cao Bằng) trước đây đã gặp Tiểu đoàn Đặc công 45, Đại đội 74 pháo binh, Sư đoàn 346 và 852 giao tranh ác liệt. Người ta hát lại những dòng đau buồn từ thời tiền chuyến:

“Xác người nằm quanh đây trong mưa lạnh này
Bên xác người già yếu, có xác còn thơ ngây.
Xác nào là em tôi, dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy, bên những vồng ngô khoai”.

Những “vồng ngô khoai” trong nhạc Trịnh Công Sơn cũng đã hóa thành lửa khi Cao Bằng thất thủ ngày 24 tháng 2 năm 1979. Sau ngày 5 tháng 3, Cao Bằng được Trung Quốc trả về cho Việt Nam mà không cần quân đội Việt Nam tái chiếm. Quân giải phóng Trung Quốc đã “hoàn thành nhiệm vụ” theo lệnh Tổng Bí Thư Đặng Tiểu Bình và “ủng hộ viên” là Tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ Jimmy Carter. Tại cuộc họp Liên Hiệp Quốc vào tháng 2 năm 1979, khối ủng hộ Việt Nam với Liên Xô, Cu Ba và Tiệp Khắc đã đòi Trung Quốc rút quân xâm lược khỏi Việt Nam. Ngược lại, Trung Quốc bắt buộc Việt Nam phải rút quân xâm lược khỏi Campuchia. Hoa Kỳ đứng về phía khối Asian có nghĩa là muốn cả hai nước Trung Quốc và Việt Nam đồng rút binh. Một lần nữa, Liên Hiệp Quốc thể hiện nhược điểm của mình trong đường lối: “Giữ gìn hòa bình thế giới” bằng… bất lực. Cuối cùng, Trung Quốc tuyên bố anh hùng là không thèm… giành những mõm núi đá chỉ có gai xương của Việt Nam. Lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng ban ra cùng ngày Trung Quốc rút khiến những chiến sĩ thời 45-54 nhớ lại ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cũng đã ban lệnh Tổng động viên toàn quốc chống Pháp. “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Lịch sử một lần nữa cho thấy dân tộc Việt Nam có tinh thần quật cường chống xâm lược mạnh mẽ như tự ngàn xưa. Dù không có “Hội Nghị Diên Hồng” như thời nhà Trần chống quân Nguyên – Mông nhưng hàng nghìn nam nữ thanh niên hôm nay đã ghi tên nhập ngũ. Hàng vạn người dân 6 tỉnh miền núi đã trở thành dân quân, du kích không chuyên. Những khẩu súng trường, súng kíp, súng tự chế hay bẫy, hầm chông để họ tự vệ hay chống thú dữ phá nương đã trở thành vũ khí tiêu diệt giặc Trung Quốc. Cùng lúc ấy, Quân đoàn 2 của Thượng tướng Nguyễn Hữu An từ chiến trường Campuchia được lệnh rút về chiến đấu cùng Quân đoàn 14. Trung Quốc rút nhanh như lũ rút cạn ngày khiến cho Quân đoàn 2 về tới nơi thì cũng chỉ làm những người nhặt đóng xương tàn. Cuộc rút binh của binh lính nhà Nguyên – Mông thế kỷ XII từ Thăng Long ôm đầu chạy mà về nước là cuộc tháo chạy của “giặc Phật”. Trái lại, từ “giặc Phật”, lính Trung Quốc hôm nay đã thành “giặc thật” bởi vì chúng đã san bằng thành phố, cầu cống, trường học, bệnh viện, trạm xá, nhà cửa, ruộng nương, cây cối. Chúng tàn phá những gì gọi là sinh tồn của dân 6 tỉnh phía Bắc nhất là ở Lạng Sơn và Cao Bằng. Hàng trăm chuyến xe tải Trung Quốc chở chiến lợi phẩm như súc vật, gia cầm chạy tới tấp trên đường biên giới mới xây dã chiến suốt 45 ngày mà không gặp bất kỳ phản kháng đáng kể nào từ phía Việt Nam.

Lê Tâm thẩn thờ như người điên trên miệng giếng và chết lặng khi nhìn hai bên bờ suối. Ở đó 43 người dân làng Tổng Chúp, xã Hưng Ðạo (Hòa An – Cao Bằng) gồm 21 phụ nữ với 7 người mang thai và 20 trẻ đã bị bọn “giặc thật” giết. Người đàn ông làng Tổng Chúp vẫn chưa hết kinh hoàng khi kể về ngày ấy:

– Người dân thị xã có lệnh sơ tán riêng chúng tôi không hay biết vì mọi liên lạc bị đứt hết. Tuy nhiên, có nhận tin thì cũng chẳng biết chạy đâu khi lính Trung Quốc bao vây bốn phía? Chúng tôi may mắn chạy thoát được bằng con đường tắt. Khi chúng rút hết, chúng tôi về làng thì thấy cảnh tượng kinh hoàng: Đàn bà bị chặt đầu, trẻ em bị đập bể sọ rồi bị quăng xuống giếng. Đàn ông chúng bủa bằng dao, rựa rồi chặt làm hai khúc thảy quanh bờ suối. Máu vãi từ giếng nhà ra tới bờ suối đỏ ngầu cả dòng. Cả làng sau những ngày ấy không ai nuốt vô một hạt ngô, hạt cơm. Hình dung lại, tôi còn chợn óc tới bây giờ. Quân khát máu từ đời tổ chúng tới đời con. Dân nó nhiều qúa nên muốn chiếm đất mình để di dân mà thôi.

Lê Tâm gần như đông đá. Nếu ngày thường, ông sẽ nói rằng đó là do bọn cầm đầu dí súng sau lưng thanh thiếu niên Trung Quốc bắt họ giết người như bọn Léopold II, Hitle, Pol Pot thôi chứ thực ra, họ cũng thèm khát cuộc sống hòa bình lắm. Còn bây giờ, đôi tay ông đốt hương mà bật diêm quẹt mãi không cháy được. Mắt ông đỏ ngầu khi cúi xuống khấn vái hồn oan của những người dân lương thiện vô tội mà lòng trào dâng căm hận chưa biết trút vào đâu! Trong những oan hồn đó, có gia đình vợ người Tày và con trai ông theo mẹ về thăm ngoại một tháng trước. Nuốt nước mắt vào lòng, hôm sau, ông về Hà Nội. Thằng em ông ở Quân đoàn 2 từ chiến trường Campuchia về và đang làm nhiệm vụ bảo vệ thủ đô kể cho ông nghe cảnh “Cánh đồng chết” của tập đoàn Pol Pot – Tà Mok thuộc Khme Đỏ:

– Bọn diệt chủng ấy đã giết gần 2 triệu dân trên 8 triệu tổng số dân của họ bằng những dụng cụ man rợ như cuốc, xẻng, đóng đinh, quật đầu vào gốc cây, mổ bụng moi thai nhi, rút móng chân – tay, rạch vết thương rồi cho rết cắn, khoan vào sọ cho lủng ra chơi.

Lê Tâm rùng mình. Người em sĩ quan tình báo chiến trường biên giới Tây Nam nghẹn giọng:

– May mà bộ đội Việt Nam kịp thời tiến vào giải phóng Phnom Penh dù cho nhiều nước cho Việt Nam là quân xâm lược. Bây giờ, Trung Quốc giết dân Việt Nam so với những vụ thảm sát Mỹ Lai năm 1965, thảm sát Tết Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972 cũng man rợ như nhau. Tội nghiệp hai mẹ con chị cả hiền lành và dân làng biên giới chết thảm qúa!

Lê Tâm nói như khóc:

– Chiến tranh thật là tàn khốc! Chúng ta đi dẹp chiến tranh để sống cuộc sống hòa bình nhưng nằm trên hòa bình này chưa ấm lưng đã thấy chiến tranh khác kéo tới! Ngày sau, có ai đủ bản lĩnh nhận lấy trách nhiệm này đâu? Ai là người kể lại, viết lại những sự thật này cho cháu con chúng ta nghe và hiểu chiến tranh là gì?

Hai anh em ông không hay rằng sau 1979, cuốn hồi ký “When Broken Glass Floats: Growing Up Under the Khmer Rouge” (Hành trình qua cánh đồng chết) của Chenrithy Him, nữ nạn nhân Campuchia di tản qua Mỹ học thành bác sĩ, được tung ra và cô nhận giải thưởng Oregon Book Award. Thế nhưng câu chuyện năm 1979 ở 6 tỉnh phía Bắc, sử sách không dám chép còn những hồi ký từ Trung Quốc và cựu chiến binh cũng chẳng có ai ghi lại trọn vẹn đúng những gì đã xảy ra tại cùng thời điểm. Nhìn anh cả như ngây, như dại, người em trai xót lòng qúa. Anh an ủi:

– Thôi anh! Thế hệ sau sẽ biết làm gì để lấy lại món nợ máu này. Em có móng cọp đã đánh bùa Miên. Anh cả lấy đeo vào người cầu bình an. Dân Miên nói móng cọp mun linh lắm. Mang nó vào đạn bắn chẳng trúng mà ma qủy cũng không dám sờ. Bộ đội và cán bộ mình từ chiến trường Campuchia hình như cũng khối người có đấy, anh cả ạ.

Lê Tâm ngồi yên không chút phản đối khi thằng em tròng sợi dây móng cọp vào cổ cho anh trai. Con người đôi khi cũng cần có một niềm tin về thế giới vô hình. Cả nhà nội tang tóc và từ ngày đó trở đi, không ai có nụ cười. Lê Tâm bấn loạn tâm thần vì những sự kiện dồn dập nên ông gần như điên điên, dại dại. Khi nghe con trai đòi dẫn thằng cháu nội duy nhất về nhà riêng, bà nội lo sợ triền miên nên giữ riệt thằng cháu. Bà khóc lóc, trách móc:

– Anh thật không nên cho vợ con đi về ngoại trong lúc tình hình căng thẳng. May mẹ không cho nó mang hết hai đứa đi. Nếu không, mẹ đây mất cháu, anh chả còn gì là con! Bây giờ, anh còn muốn dẫn cháu mẹ về nhà anh. Khi anh đi công tác, ai săn sóc cho nó?

Lê Tâm nghẹn ngào. Ông đang nghĩ tới một điểm dừng tạm ở Đà Nẵng. Cô em gái khuyên giải:

– Anh cả đi đâu thì đi nhưng để cháu lại cho mẹ và em chăm sóc hộ. Ở thủ đô nguy hiểm vậy mà an toàn hơn anh cả ạ! Anh không thấy thành phố được bảo vệ cẩn mật bởi Quân đoàn 1 và 2 hay sao? Trung Quốc dội pháo về tới Lạng Sơn là bị pháo ta nã trả dữ dội. Ngày xưa, nhà Trần 3 lần bỏ kinh thành Thăng Long mà chạy nhưng nhà Nguyên – Mông cũng có chiếm được đâu!

Nghe cô em nói có lý và cậu con cũng không chịu theo bố, Lê Tâm bỏ ý định đưa cậu con trai vô Nam. Vả lại, ông vô Nam vì ông còn những việc phải làm mà chỉ có ông mới biết nó quan trọng như thế nào! Sau khi tỉnh hồn, ông còn có nhiệm vụ phải làm nữa là đi Lạng Sơn. Ông cần phải thực hiện lời hứa cho một người.

Bà ngoại lấy tay chùi nước mắt khi nhắc tới hai từ Lạng Sơn. Bà lẩm bẩm: “Rồi chẳng thấy người trở lại!”.

*

Lạng Sơn

Khi Trung Quốc tiến chiếm Lạng Sơn, bộ đội địa phương Việt Nam cũng đã phát hiện trong chiếc áo sơ mi trắng trên nền nhà Vương Nhất có tờ giấy ghi tính hiệu Moocxơ với chứng minh thư có tên Đinh Ngọc Đoàn. Tờ giấy được giải mật. Đinh Ngọc Đoàn không thoát khỏi thoát tội danh “Tình báo Trung Quốc”. Đây là loại hoạt động gián điệp được Trung Quốc cài đặt ở các tỉnh Tuyên Quang, Hải Phòng. Họ giỏi tiếng Anh và Trung Giản thể cả Phồn thể. Các máy phát sóng của đài chỉ huy Việt Nam ở biên giới đôi khi bắt được đài Trung Quốc có phát tiếng các cô gái “xác Việt, hồn Trung”. Hoạt động gián điệp, tình báo cùng với chiến thuật “thả bè lương thực” trên sông là hai độc chiêu mà Tư lệnh Quân khu Côn Minh Trung Quốc thường dùng để chiêu hồi dân làng, dân quân, du kích và bộ đội Việt Nam ở biên giới. Nhưng “tên tình báo” Đinh Ngọc Đoàn này thì một tiếng chữ Trung bẻ đôi cũng không biết! Thật là “Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”! cho viên thiếu tá chưa gặp thời!

Lê Tâm gặp người đàn ông họ Nùng như Đinh Ngọc Đoàn đã kể. Người đàn ông họ Nùng buồn rầu. Ông vừa châm đèn dầu vừa nói:

– Chúng tôi chạy ngang qua nhà ông Vương Nhất đã thấy nhà cửa bị đập phá. Trên thềm nhà, máu me bê bếch. Tôi chạy vào trong nhìn thấy xác người ngang dọc. Tôi hồn vía nào còn mà không bỏ chạy. Nhưng lúc đó, tôi thấy một cái xác đang cựa. Tôi quay lại và nhận ra ông ta là người đã nhờ tôi dẫn đường tới nhà ông bà Vương Nhất. Ông ấy chỉ xúc động mà ngất thôi thôi chứ không bị thương gì. Hai chúng tôi hì hục kéo ba xác nhà ông Vương ra vườn đấp chiếu rồi cùng nhau chạy. Vợ tôi lúc này bị vọp bẻ nên chạy nhanh không được. Bà bắt tôi phải dẫn con gái chạy trước. Con bé cứ quấn lấy mẹ nên chúng tôi nhì nhùng chậm chân. Lính Trung Quốc kéo tới đợt hai bị dân quân địa phương bắn chận nên chạy tản khắp nơi đụng ai giết đó. Không có ông Đoàn, cha con tôi cũng tiêu rồi vì hai tên lính tàu lạc đường. Ông Đoàn dùng súng trường của tôi cản chúng để chúng tôi chạy trước. Không hiểu sao, bà nhà tôi trúng đạn còn ông Đoàn chạy hướng nào chẳng rõ!

Ông im lặng một chặp rồi ngậm ngùi:

– Tôi chỉ có mụn con gái. Tôi đã định dẫn con gái theo ông ấy xuống đồng bằng. Tôi lo sợ Trung Quốc còn quay lại nữa nhưng tôi chẳng biết ông Đoàn bây giờ thế nào?

Tâm nhớ tới vẻ mặt thất thểu của Đoàn năm 1979 khi trở về nhà. Anh biết được kết qủa của một chuyến đi Lạng Sơn. Nghe Đoàn kể vắn tắt đến đâu, Tâm kinh hãi đến đó:

– Tớ không hình dung ra được cậu phải chịu oan ức ngần đấy. Tớ đã hại cậu. Một tờ giấy moóc-xơ thôi mà trên ghép cậu vào tội ‘gián điệp Trung Cộng’? Cậu mà khai ra, tớ cũng dính một chùm hai luôn. Nhưng không được, thông tin Trung Quốc đánh mình, trên cũng biết. Thậm chí biết từ 1978 kia. Nếu không, sao lại có Nghị Quyết TW 4 ‘xây dựng kinh tế và sẵn sàng chiến đấu’ chứ? Phát thanh viên Mạnh Hùng lúc 10 giờ 30 ngày 17 tháng 2 năm 1979 cũng báo tin này mà. Để tớ thanh minh cho cậu. Mất luôn cái cầu vai, tớ cũng chịu.

Đoàn lắc đầu, thở dài:

– Khi người ta đã nghi ngờ, cậu là con của Chủ tịch nước hay Tổng bí thư thì may làm ra có thể thay đổi tình thế. Chỉ biết lòng tớ trong sạch, đủ rồi. Mọi thứ đều có cái giá phải trả của nó. Tớ căm ghét bọn Tàu nhưng tớ lại ưa ngôn ngữ kinh điển học làm người quân tử trong Tam Quốc Chí của họ cơ.

– Lại đùa! Xác của ba người, cậu làm sao an táng?

– Tớ không có cái phúc cuối cùng đó đâu! Khi tớ tỉnh dậy đã nhìn thấy Nùng Trí Dũng. Tớ và anh ta chỉ kịp mặc đồ cho Quy, vuốt mắt cho ba người, mang họ ra sau giấu xác rồi phải chạy. Tớ nghĩ mình cũng là thằng hèn qúa vì đã không chôn cất nổi những ân nhân của mình!

– Cậu làm đúng đấy mà! Cậu không chạy kịp, chúng nó thịt cậu nhừ. Người chết không thể sống lại. Ơn nghĩa trả sau. Cậu còn có một gia đình đấy. Đáng tiếc, giá như cậu đừng bỏ cái áo lại…

– Tớ đâu thông minh mà nghĩ tới hậu qủa chứ. Tớ mặc cái áo của ông già Vương Nhất cho và chạy luôn. Mạng sống mới qúy chứ. Ai đâu nghĩ tới cái áo còn vắt trên ghế?

– Cậu xui xẻo thật. Tình hình biên giới phía Tây Nam căng thẳng không kém gì 6 tỉnh biên giới phía Bắc đâu. Thằng em tớ đang ở Quân đoàn 2 của tướng Nguyễn Hữu An. Thằng em con cô cậu thì ở Quân đoàn 4 của tướng Hoàng Cầm. Khmer Cộng Sản đỏ đúng là bọn diệt chủng. Chúng giết người Việt như đã giết người Khmer của chúng. Cậu được ba mẹ Quyên cứu thoát so với nhiều thường dân bị lính Trung Quốc giết oan ức là phước đức mấy đời. Năm 78, 79 là năm ngựa, dê. Đúng là bọn chúng ‘đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ’ như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã viết trong ‘Hịch Tướng Sĩ’ thời nhà Trần đánh quân Nguyên – Mông.

Đoàn đang buồn đỏ mắt nhưng cũng ráng cười:

– Cậu cứ nhắc lịch sử như học thuộc lòng dùm bọn trẻ con vậy! Tớ mắc nợ gia đình Quyên nhiều qúa mà không làm sao trả nợ được!

– Ở đời, sống tốt cũng là một cách trả nợ cậu ạ.

– Làm sao tớ có thể mở miệng để nói rằng ba mẹ và em gái cô ấy đã bị lính Trung Quốc giết chết tại nhà chứ? Tớ bây giờ coi như xong rồi. Khi nào cậu về Hà Nội có dịp đi Lạng Sơn nhớ tới nhà Nùng Trí Dũng mà đón họ về dùm tớ. Nghe nói, Cao Bằng bị tiêu hủy như Lạng Sơn. Cậu liên lạc xem.”.

Cuộc đối thoại của hai người đã có người thứ ba nghe được. Không dám nhớ lại chuyện buồn lịch sử, “tôi bây giờ đang thay anh trả ơn cho người đây”, giọng Lê Tâm như lạc đi khi nói với Nùng Trí Dũng:

– Đinh Ngọc Đoàn có nhờ tôi lên đây đón hai cha con anh về Đà Nẵng ở tạm khi nào thật yên bình hẳn quay về đây.

Người đàn ông nhìn chung quanh nhà trụi lũi và nhìn đứa con gái mười bốn tuổi ngây thơ đang ngồi buồn nhớ mẹ rồi gật đầu. Gia tài ông mang theo cho hai cha con là hai bộ đồ chàm và cái chén sứ Hải Dương. Ông rầu rầu giải thích:

– Cái chén sứ này là gia tài của vợ chồng tôi. Anh cán bộ bà con phía mẹ con Hậu dưới đồng bằng quen bắt thăm mua được nhưng hôm lên đây, mẹ con Hậu thấy đẹp nên vòi mua. Anh ta cũng túng tiền mới đem bán. Bà nhà tôi mua một đồng rưỡi là hết gia tài luôn. Tôi mang nó theo như mang bà nhà tôi bên mình. Mai mốt con gái Nùng Nhân Hậu này lấy chồng, tôi cho nó làm của hồi môn. Nó thấy chén này như thấy mẹ nó!

Lê Tâm nghẹn. Ông không nói được một lời. Ông cắn môi mình để nghe đau nhói. Ông biết rằng từ đây, ông còn phải nói dối dài dài dù không làm chết ai. Hai cha con họ Nùng theo Lê Tâm về Nam. Hộ khẩu gia đình Lý Hai Thơ – Lê Tâm có thêm người: Lê Ngọc Duyên. Con bé dòng tộc Nùng Trí Cao thông minh tột đỉnh và đẹp người, đẹp nết nên cả nhà nhất là mẹ nuôi Lý Hai Thơ – Vương Quỳnh yêu qúy. Người cha Nùng Trí Dũng một năm sau qua đời vì cơn sốt rét cấp tính. Thứ bệnh mà những người lính rừng, ai cũng từng mắc phải: Sốt rét vàng da. Xác ông được Lê Tâm hỏa táng đem về chùa như ý nguyện của ông. Cái chén sành Hải Dương được chưng trên tủ nhà họ Lý – Lê để khi Nùng Nhân Hậu có chồng, nó sẽ theo cô xuất giá. Không ai còn nhớ đến cái tên Đinh Ngọc Đoàn ngoại trừ nhà ông bà Hai Ngựa. Tháng 3 năm 1979, “Tạp chí Cộng Sản” số 3 đã đăng bài: “Nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi. Giặc Trung Quốc xâm lược nhất định thắng lợi” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt nguồn từ ý chí “Ta nhất định thắng. Địch nhất định thua” của Đảng Cộng Sản Việt Nam:

“Cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh chống giặc Trung Quốc xâm lược, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang diễn ra quyết liệt ở các tỉnh biên giới phía bắc của nước ta. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, bọn cầm quyền phản động Bắc Kinh đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn chống nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ những ngày đầu, quân và dân ta ở các tỉnh biên giới, từ Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, đến Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu cực kỳ anh dũng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc, gây cho quân giặc những tổn thất nặng nề. Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta từ Bắc chí Nam, ức triệu người như một, nhất tề đứng lên, chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Cả nước ta đang hướng về tiền tuyến phía bắc, sôi sục căm thù, tăng cường sẵn sàng chiến đấu, ra sức lao động quên mình, quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Trung Quốc xâm lược. Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã công bố lệnh tổng động viên trong cả nước, để bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: chủ trương quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân đang được khẩn trương thực hiện để đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc.

Cuộc chiến tranh xâm lược do bọn cầm quyền phản động Trung Quốc gây ra đã ngang nhiên xâm phạm độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt-nam, chà đạp lên mọi tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế và những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước độc lập có chủ quyền. Tập đoàn phản động Băc Kinh đã phát hành một cuộc chiến tranh xâm lược không tuyên bố, mở những cuộc tiến công quy mô lớn vào các tỉnh biên giới ở phía Bắc nước ta. Trong lúc đó, chúng rêu rao là đang tiến hành cái gọi là “một cuộc phản công tự vệ”. Chúng đã tuôn ra trên chiến trường một lực lượng quân sự trên nửa triệu quân gồm nhiều quân đoàn và sư đoàn với nhiều đơn vị xe tăng, pháo binh và không quân, ồ ạt đánh sang nước ta trên toàn tuyến biên giới. Chúng đã bị tiêu diệt hàng vạn sinh lực, hàng trăm xe tăng và nhiều phương tiện chiến tranh khác; mặc dù đã bị tổn thất nặng nề, chúng vẫn hung hăng tiếp tục chiến tranh. Trong lúc đó, chúng lại rêu rao là đang tiến hành cái gọi là “những hành động quân sự có tính chất hạn chế về không gian và thời gian” với những lực lượng được gọi là bộ đội biên phòng. Chúng đốt phá làng bản, cướp bóc của cải, giết người già, trẻ em, hãm hiếp phụ nữ, gây ra những tội ác trời không dung, đất không tha. Chúng đến đâu cũng bị đồng bào, chiến sĩ ta đánh trả mãnh liệt. Thế mà, chúng lại rêu rao về cái gọi là thái độ “hữu nghị” với nhân dân địa phương. Tại sao bọn giặc Trung Quốc xâm lược lại phải bưng bít giấu giếm, hành động xâm lược bỉ ổi của chúng như vậy? Đó là về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do chúng gây ra là một trong những cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo nhất trong lịch sử. Cuộc chiến tranh ấy là cuộc chiến tranh bẩn thỉu và hèn hạ chống lại nhân dân một nước xã hội chủ nghĩa, một nước từ lâu đã từng là người bạn chiến đấu của nhân dân cách mạng Trung Quốc. Cuộc chiến tranh ấy đã xâm phạm độc lập và chủ quyền của một nước đã được thế giới coi là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một nước đã từng hy sinh tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc mình, vì sự nghiệp cách mạng và hòa bình của nhân dân các dân tộc trên thế giới, trong đó có nhân dân Trung Quốc. Đó là vì, cuộc chiến tranh xâm lược nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là biểu hiện tập trung bản chất phản bội, độc ác và nham hiểm của bọn cầm quyền phản động Trung Quốc. Cuộc chiến tranh ấy chính là sản phẩm của sự câu kết giữa tập đoàn phản bội Trung Quốc với các giới chống cộng khét tiếng ở Mỹ và các giới quân phiệt phản động ở Nhật….Chính vì vậy, mà bọn cầm quyền phản động Trung Quốc là bọn phản bội lớn nhất của thời đại. Chúng là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của nhân dân ta, đồng thời là kẻ thù nguy hiểm của cả toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa, của phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình ở châu Á và trên thế giới. Đối với nước Việt Nam ta, thì chính sách xâm lược tàn bạo của chúng chính là sự kế tục ở một thời kỳ mới của chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc đã từng ngự trị trong lịch sử lâu đời của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Chính sách ấy là sự biểu hiện tập trung của tất cả những gì là phản động nhất, độc ác và nham hiểm nhất trong quốc sách thôn tính nước ta mà bọn hoàng đế Trung Quốc đã từng theo đuổi qua mấy ngàn năm. Trước chí khí quật cường của dân tộc ta, quốc sách ấy đã bị đập nát tan tành… “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”… Cả nước lên đường ra trận.

Bọn phản động Trung Quốc xâm lược nhất định sẽ thất bại!
Nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi! Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa muôn năm!”.

Cùng ngủ với lịch sử, 30 năm sau, bài viết tiên đoán của vị Đại tướng này được in lại trong cuốn sách “Đại Tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp Vị Tướng Của Hòa Bình” do Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn tuyển chọn (Nxb – VHSG – 5/2009) nhưng những bài ông viết về cuối đời 80 tuổi để cảnh tỉnh Đảng về chuyện Bauxít – quặng nhôm ở Tây Nguyên, không ai “to gan” để đem vào sách riêng dành cho “vị tướng của hòa bình”! Bà ngoại đọc cuốn sách to đùng nặng cả 5 -7 ký của Võ Nguyên Giáp do Lê Ngọc Duyên mua tặng mà khiếp. Bà thấy bài báo có viết về giai đoạn 1979 nhưng giai đoạn 1984 thì không. Bà muốn biết Lê Tâm thật sự đã hy sinh hay mất tích như thế nào nhưng chẳng hỏi dò ai được cả. Thời điểm 2006 – 2009, người ta đổ xô vào các vụ tiêu cực hàng đầu như vụ PMU 18 của Bùi Tiến Dũng và vụ Bauxit có thể tách alumina để luyện nhôm do Thủ tướng Phan Tấn Dũng ký cho phéo tập đoàn luyện nhôm China Aluminum International Engineering Co được tự do khai thác. Ngày 26 tháng 7 năm 2008, “Tổ hợp bauxít-nhôm Lâm Đồng” tại Tân Rai được khởi công và tiếp theo là dự án “khai thác bauxít sản xuất alumina Nhân Cơ” (Đắk Nông) trong 3 tháng đầu năm 2009. Vụ các nhà máy chiết xuất Đắk Nông 1, 2 và 3 trở thành đề tài “Lợi và Hại” khiến vị đại tướng người hùng Điện Biên Phủ 80 tuổi và các thành phần trí thức, sĩ phu, hòa thượng đứng đầu là Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, thầy Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng phải vào cuộc để trở thành “trung ngôn nghịch nhĩ”. Giới khoa học cho rằng cái lợi chưa thấy ló cái hại đã tó ra từ việc khai thác Bauxít dài tới 50 năm sẽ ảnh hưởng rất dữ dội tới môi trường nước, đất và cảnh quan. Đồng thời, chúng lây nhiễm tới văn hóa, xã hội và nhất là an ninh quốc phòng. Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bỏ Tây Nguyên tức tự cắt cổ mình nên chịu thua cho Cộng Sản năm 1975. Bài học này sẽ lập lại cho những người cầm quyền Việt Nam khi bỏ Tây Nguyên cho Trung Quốc tha hồ xâm thực khác nào cũng tự đưa yết hầu cho ngoại bang làm tiết canh! Trong những lá tâm thư gởi lên trên phản đối, bà cho rằng thư của một Thiếu tướng Đại sứ Nguyễn Trọng Vinh ngắn gọn, sâu và đau đáu con tim nhất:

“Kính gửi: Các đồng chí uỷ viên Bộ Chính Trị

Đồng kính gửi: Thủ Tướng và các Phó Thủ Tướng Chính Phủ

Kính thưa các đồng chí,

Lâu nay tôi không có thông tin, mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc – Trung – Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên.

Nguy hiểm quá! Tôi cũng thấy những nguy hại như mọi người đã phát biểu: tàn phá môi trường sinh thái, xâm hại rừng nguyên sinh, nguy hại cho đời sống của đồng bào dân tộc người Thượng, lưu độc cho các dòng sông phát nguyên hoặc chảy qua Tây Nguyên, ảnh hưởng rất xấu cho đời sống của người dân Nam Bộ sống dọc hai bờ sông Đồng Nai, có thể ảnh hưởng đến các công trình thuỷ điện phía Nam.

Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc gia. Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe doạ Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn.

Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta có đầy đủ căn cứ lịch sử và pháp lý, còn Trung Quốc thì không. Vậy mà báo chí Trung Quốc dựng ra chứng cứ, luôn công khai xí hai quần đảo đó là của họ. Quốc vụ viện Trung Quốc (chính phủ) công khai công bố quyết định lập huyện Tam Sa. Trung Quốc có nhiều hành động rất công khai mà lại dỗ chúng ta im lặng không đưa vấn đề ra công khai, thật là vô lý. Chúng ta muốn sống hoà bình hữu nghị với Trung Quốc, tôi cũng muốn thế. Nhưng hữu nghị cũng phải đấu tranh thích hợp để bảo vệ lợi ích chính đáng của Tổ Quốc ta. Nếu lãnh đạo chưa tiện lên tiếng công khai thì cứ để báo chí, các nhà khoa học lịch sử đưa ra chứng lý, cứ để cho quần chúng biểu tình hoà bình, phản đối khi lãnh thổ Quốc gia bị xâm phạm, không nên dập đi tinh thần yêu nước của họ.

Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, “vua cũng nhất thời, dân vạn đại”.

Thưa các đồng chí,

Trên đây là những lời nói thẳng, tâm huyết của một đảng viên già 70 tuổi Đảng, đã gần đất xa trời, mong được các đồng chí xem xét.

Kính chào,

Nguyễn Trọng Vĩnh

Số nhà 23, Ngõ 5, Phố Hoàng Tích Trí,
Phường Kim Liên, Quận Đống Đa,
Hà Nội”.

Bà từng nói với các con cháu của bà: “Khi những kẻ hết thời cưỡi ngựa phải xuống, người cầm cương mới sẽ làm tình, làm tội những… con ruồi!”. Đâu đó, người ta hát bài “Sa mạc đất đỏ nỗi buồn Châu Pha” khiến bà chạnh lòng. Nguyễn Thành Bang từng có nhận xét xác đáng với bà: “Ở nước Mỹ, người ta chú trọng phát triển màu xanh tức là bảo vệ môi trường cây xanh với những cáng đồng lúa thênh thang, cánh đồng bắp dài hàng trăm hécta để giữ giảm độ nóng của mặt trời. Ở Việt Nam ngược lại, người ta biến đồng lúa, đồng ngô thành đồng khô cỏ cháy và biến rừng xanh thành đất khô sa mạc.”. Còn vợ chồng con gái bà là Lê Vương Bắc và Trần Chấn Song làm công tác biên tập thường than với mẹ: “Văn học Việt Nam sau 1975 đến nay hầu như trắng kho thóc chắc mà đầy thóc lép. Những cuốn sách nghiêm túc tấn công vào đường lối sai lầm hay tin nóng như trên đừng hòng sống sót. Nhưng cũng chẳng lấy đâu ra nguyên lý chung để mà biết cuốn này được hay không được? Sách cấm hầu như bán chạy hơn tôm tươi và tác giả bỗng dưng trở thành nổi tiếng một cách kinh dị. Sau đó là sàn lọc thời gian. Không có sự đánh giá nào gọi là đúng đắn vì vài chục năm sau, người ta lại đánh giá lại, xét lại. Dù có luật xuất bản nhưng chẳng đi tới đâu. Nếu người viết mà cứ viết như thời chống Pháp, chống Mỹ, thời hợp tác xã thì kho tàng văn học Việt Nam toàn màu hồng nhưng hiện thực thì màu đen.”.

Bà mẹ nhìn con: “Con muốn nói đến ‘Cát bụi chân ai’ của Tô Hoài, ‘Thời của thánh thần’ của Hoàng Minh Tường, ‘Đi tìm nhân vật’ của Tạ Duy Anh, ‘Trần Dần – Thơ’ của Trần Dần, ‘Miền hoang tưởng’ của Nguyễn Xuân Khánh, ‘Rồng đá’ của Vũ Ngọc Tiến, ‘Truyện kể năm 2000’ của Bùi Ngọc Tấn, ‘Hậu Chí Phèo’ của Phạm Thành, ‘Trăng nguyên sơ’ của Nam Dao, ‘Dự báo phi thời tiết’ của nhóm Ngựa Trời, “I am đàn bà” của Y Ban, “Sợi xích” của Lê Kiều Như… “.

Trần Chấn Song trả lời thế cho vợ: “Phải, mẹ. Nhưng có những cuốn xuất bản ở nước ngoài chứ ở trong nước, cũng bị cấm luôn là cuốn ‘Hồi ký của một thằng hèn’ của nhạc sĩ Tô Hải, hay cuốn hồi ký của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh chưa in cũng bị đả kích dữ dội’. Sách bị cấm phần lớn là sách viết sex không lành mạnh và sách có nội dung phơi bày mặt trái của xã hội làm ảnh hưởng đến chính trị hay phản ánh méo mó sự thật. Ở Trung Quốc, Ví dụ như ‘Hồi ký Lý Bằng” cựu thủ tướng họ Lý này thanh minh về vụ Thiên An Môn, cũng bị cấm vào giờ chót vì lý do chính trị.”. Bà mẹ khuyên con: “Vàng thau lẫn lộn khó mà biết được. Nếu cảm thấy mình đã chán ngán với công việc, các con nên xin thôi việc và ra ngoài buôn bán.”. Con gái bà cười: “Buôn bán nhỏ cũng đâu cần đầu tư trí thức 4 – 5 năm trời mài lủng ghế giảng đường, mẹ? Bỏ thì thương, vương thì tội. Một ngày nào đó, người đời sau sẽ lôi cổ những tay biên tập ăn lương chính phủ bán mạng cho cô hồn để kết tội ‘hèn đại nhân’ mà thực ra, ai có biết lũ hèn đại nhân nào phải chỉ ở trong bọn biên tập như chúng con đây! Không có cơ chế này, chúng con cũng đói meo!”. Bà mẹ cười thông cảm với con như muốn tâm sự: “Không có thể chế này, mẹ cũng không từ một y tá thành con bán nước sâm và từ con bán nước sâm trở thành người bán thuốc tây.” Bà chỉ nhắc chừng: “Biên tập cũng làm một cái nghề cao qúy như thầy thuốc, thầy giáo. Thầy giáo nhiều khi giảng sai nội dung bài. Thầy thuốc nhiều khi kê nhầm đơn thuốc. Nếu như có ai đó can đảm và trung thực viết lại những gì lịch sử từng bị hắt hủi, bị lãng quên, hãy trân trọng lấy coi như bù lại những gì con làm trái lương tâm mình còn không, hãy coi đó như một vết son trong nghề biên tập.”. Vợ chồng con gái bà cười như không tin có ai còn ngồi viết lại lịch sử. Người ta lo viết những gì mì ăn liền mới phải. Chuyện bực buồn hay vui vẻ nào cũng qua đi cho đến khi ông bố dượng xuất hiện. Bà biết ông không muốn nhắc lại chuyện lịch sử nhưng bà định khi nào cả nhà vui vẻ, bà mời ông về thăm Cao Bằng và Lạng Sơn một chuyến nhưng Nguyễn Thành Bang chẳng có giây phút nghỉ ngơi còn hơi đâu để mà đi chơi với bà! Chuyện buồn lịch sử cũng đi qua như một giấc mơ chưa có đoạn kết. Một “Khúc tưởng niệm bên dòng suối” của Nguyễn Anh Nông được mở ra:

I

Bạn nằm lại khoảng rừng sương khói phủ
Nắm xương tàn đồng đội gói mang về
Tôi kịp đến chiều nghĩ trang đón bạn
Nén hương trầm nghi ngút, vân vi.
II
Tôi chợt nhớ đêm tuần tra biên giới
Mưa lai rai rét mướt nổi ra gà
Cơn sốt đến, bạn không rời cây súng
Lũ giặc còn lẩn khuất ở gần, xa
Tiếng nai giác? Ánh lân tinh gỗ mục?
Mùi thuốc thơm hay bâng khuâng hương hoa?
Giữa tịch mịch đâu là thù là bạn?
Đêm âm u rừng núi mưa nhợt nhoà.

Cái đêm ấy trăng sao đào ngũ hết
Lửa bập bùng mà buốt nhói tim tôi
Đồng đội thức quây quần trong hang lạnh
Cánh dơi hoang nhập nhoạng rợn ghê người
Bạn thoi thóp đôi mắt đờ đẫn quá
“Viên thuốc nhường những đứa ốm sau thôi”

Rồi bạn khoẻ, nhưng da thì mãi mãi
Đôi môi chì, thưa tóc với vàng răng
Bạn đi đứng thân hình vẹo cọ
(Như hình nhân di động đuổi xua chim)

Bạn nhìn tôi đôi mắt lim dim:
“-Tớ đã xin đơn vị về cưới vợ…”
Tôi nhìn bạn bồn chồn, bỡ ngỡ
Tin bạn mình mai mốt sẽ lên ngôi.
III
Bàng hoàng… tiếng thét nổ ven đồi
Mìn giặc gài khuất chìm trong cỏ
Buổi đi phép – bạn về cưới vợ
Thành ngày tang –
trời sậm sịch
– mưa buồn.
IV
Đồng đội tôi đứa mất, đứa còn
Có đứa trở thành kỹ sư, bác sỹ
Có đứa trở thành lái xe, người thợ
Có đứa hiền lành chất phác- Bác nông dân…
Đời bạn tôi dừng lại tuổi thanh xuân
“Nơi Tổ quốc cần bạn tôi có mặt”
Dẫu đồng đội có người quay quắt…
Bạn tôi như mạch suối nhỏ trong lành.

Bạn tôi như mạch suối nhỏ trong lành
Cứ rì rầm, ngọt mát, long lanh.
V
Có một chiều tôi đứng bên bờ suối
Vục bàn tay… xao xuyến, tần ngần
Tôi vuốt mặt mùi hương gì lạ lắm
Kẽ tay còn vương vít cánh hoa xuân
Suối róc rách, thì thầm, thủ thỉ
Tôi hoà theo một giai điệu trong ngần
Cái giai điệu trẻ trung, bốc lửa
Say con tim và giậm giật đôi chân
Ôi, đôi mắt khi nhìn vào đôi mắt
Ta gặp ta: lữ khách phong trần?
Ta gặp bạn: cỏ hoa thơm ngát?
Ta găp em: đôi gót nhỏ thiên thần
Suối róc rách thì thầm, như thể:
Thuở bọn mình còn phơi phới thanh tân.
Cao Bằng, 1984
Thái Bình, 24-8-1993

Đến 30 năm sau, những người phóng viên Báo Sài Gòn Tiếp Thị tìm về bãi chiến trường phía Bắc. Tất cả những gì có dính líu tới chiến tranh năm 1979 đều bị xóa mất vết tích. Riêng tấm bia có những dòng bằng chữ in: “VỤ THẢM SÁT TẠI TỔNG CHÚP XÃ HƯNG ĐẠO HUYỆN HÒA AN QUÂN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC DÙNG CỌC TRE, BÚA BỔ CỦI ĐẬP CHẾT 43 PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM QUĂNG XUỐNG GIẾNG NƯỚC” nằm trong lau lách còn sót lại. Nó may mắn đã được nhà báo Huy Đức – phóng viên Báo Sài Gòn Tiếp Thị chụp và người này đã đau lòng khi tận mắt thấy, tận tai nghe, tận tay ghi lại những sự kiện lịch sử được kể lại ấy trong bài báo “Biên giới tháng Hai (2009-1979): “Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.”. Sau đó, bài báo này đã được… xóa trắng để giữ lời cam kết từ hai phía ViệtNam và Trung Quốc “không ghi sự kiện 1979 – 1990 vào sách giáo khoa”. Trong khi phía bên kia, một bia tượng đài kỷ niệm quân Trung Quốc hy sinh ở biên giới năm 1979 được chính phủ Trung Quốc dựng lên đỏ chét. 10 năm sau, tại nơi bị Trung Quốc xâm lược tàn hại, HĐND, UBND, Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Xã Đề Thám” của huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, đã đặt vòng hoa có 9 chữ:“Đời Đời Nhớ Ơn Các Liệt Sĩ Trung Quốc”. Những người văn sĩ tội nghiệp cho ông cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ văn chương nào đã thành… mù sĩ khi không phân biệt được “liệt sĩ” và “tử trận”? Giới “quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách” thì quy bia đó về tội “phản quốc” khi có những kẻ mờ ớ công nhận kẻ thù mình là “liệt sĩ” bằng điều 78, chương XI – Bộ Luật Hình Sự: “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia”. Điều 78: Phản bội tổ quốc:

1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.”.

Bà mẹ vợ lý giải điều này cho cha con Lê Chấn: “Nếu những cán bộ nhà nước có tội, họ sẽ bị lọt vào điều 78. Do đó, con phải hiểu là họ phải lập tức cải chính và chứng minh cho được là những việc làm của họ nhằm ích nước lợi dân?”. Bà cũng làm một phép so sánh: Ở Sài Gòn, chiếc xe tăng thuộc Lữ đoàn 203 của Quân đoàn 2 do Đại úy Bùi Quang Thận, người đã cắm lá cờ đỏ sao vàng lên nóc Dinh Độc Lập lúc 11’30” ngày 30 tháng 04 năm, húc vào cổng Dinh còn trưng bày trước cổng như nhắc nhở một chiến thắng có tính chất lịch sử thì những chiếc xe tăng T54/59, T72 hoặc xe bọc thép BMP của Trung Quốc bị dân quân bắn cháy ở bờ sông Kỳ Cùng – Lạng Sơn đã trở thành phế liệu và nằm trong… lò luyện kim. “Đây không phải là chuyện đùa lịch sử.”. Bà nói đúng. Tấm ảnh “Giải giặc lái Mỹ” năm 1965 của Phan Khoan trở thành biểu tượng về chiến tích bắn máy bay Mỹ nổi tiếng trên thế giới trong thơ Tố Hữu:

“O du kích nhỏ giương cao súng.
Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu.
Ra thế! To gan hơn béo bụng.
Anh hùng đâu cứ phải mày râu!”

Nữ du kích người Hà Tĩnh – Phạm Thị Kim Lai và tù binh Mỹ William Andrew Robinson trong ảnh đã lên tem. Ngược lại, tấm hình cô du kích dân tộc Tày – Mường áp giải một đoàn tù binh Trung Quốc hai ba chục tên và tấm hình 2 nữ dân quân vùng biên bắt gián điệp Tàu chỉ được đăng tải trên những mạng… không chính thức! Chiến công của họ cũng bị kẻ viết lịch sử phản bội xóa nhòa. Thế mới cất tiếng cười ra nước mắt:

Mười lăm năm trước, chị cầm súng

Áp giải giặc bay Mỹ về đồn.

Tem in ảnh chị bay muôn chốn

Rằng “ta nhỏ vóc, lớn trí khôn!”.

Mỹ đi. Tàu đến phá cô thôn

Tàn sát sinh linh tạo oan hồn.

Súng em đuổi giặc, xua nguy khốn

Đường về Anh – Liệt, đất vùi chôn!

Lê Tâm đem những sự so sánh “đường về” của những Anh hùng – Liệt sĩ 2 cuộc chiến này vào những cuộc họp đồng đội, đồng hương nhưng không cùng tư tưởng và chịu trách nhiệm về tội “phát ngôn bừa bãi” của mình về “đi và thấy” ở Cao Bằng và Hà Tuyên của ông. Thế nhưng, ông không biết rằng những người lính đã đổ xương máu để cho thế hệ sau tha hồ rút ruột nhân dân để “đại cáo công thành” trong tất cả các ngành, các cấp. Đến nỗi, người ta nói rằng ở đâu có cán bộ, ở đó có tiêu cực. Ở đâu có công trình, dự án, ở đó có bò ăn cỏ khô và hang ổ xì ke, trộm cắp. Tham nhũng ở Việt Nam được xếp là 107/159. Từ tiêu cực tỉnh Kiên Giang đi buôn lậu thời đổi mới năm 1990 đến nay, tiêu cực đã tăng cấp chóng mặt như tiêu cực từ vụ PMU 18 qua Công trình Đô Thị Mỹ Tho đến đất đai Hồ Tây, tới Tập đoàn Công nghiệp Vinashin cũng ôm vào lòng hàng trăm tỉ bạc. Trong 58 tỉnh và 5 thành phố cả nước, không tỉnh, thành phố nào không có sự lãng phí đất nông dân, lãng phí hàng trăm đến hàng triệu tỉ tỉ đồng như thành phố Vạn Tường ở Quảng Ngãi, khu công nghiệp Điện Nam – Điện Ngọc ở Quảng Nam, 50 ha đô thị Quảng Bình, khu tái định cư Hòa Lạc, Thạch Thất ở Hà Tây, 145, 8 ha khu du lịch Phong Nha – Kẽ Bàng ở Quảng Bình, đường hoang ở đường Phạm Văn Đồng, Nguyễn Tất Thành, An Đồn, Hòa Xuân, Sơn Trà, Điện Ngọc ở Đà Nẵng, 400 ha cho Công ty TNHH Hoàn Cầu, đô thị Vân Phong, 44 ha khu du lịch Rusalka – Nàng Tiên Cá ở Khánh Hòa, biệt thự Mễ Trì, Việt Hương, Pháp Vân ở Hà Nội… Lê Tâm không hề biết. Ông chỉ biết những mảnh vụ lịch sử chắp vá trên đường ông đi trải thảm bằng máu trên quê hương Cao Bằng – quê hương người vợ thứ nhất của ông.

*

Cao Bằng 6 tháng sau ngày 17 tháng 2 năm 1979, biên giới phía Bắc của 2 huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm giáp giới Quảng Tây – Trung Quốc lại hưởng hàng loạt đạn pháo từ Trung Quốc. Đạn pháo vu vơ bắn không trúng đích. Nó không trúng đích vì chợ phiên 5 ngày một phiên của vùng cao biên giới thưa thớt bản làng vẫn họp đúng ngày âm lịch. Các chợ phiên Hòa An, Nguyên Bình, Hà Quảng Thông Nông, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Bảo Lạc, Bảo Lâm… với dư âm ngày 17 tháng 2 vẫn còn nhưng các bản làng không bỏ tục lệ của họ. Những thiếu nữ Tày, Thái, Mông… trong những y phục rực rỡ hoa văn vẫn cùng những chàng trao tới chợ trao đổi tâm tình và tìm nhân duyên tiền định. Những người đàn bà lớn tuổi quấn khăn xanh, đỏ ngồi dưới đất bày bán những mặt hàng cần dùng như gùi, cuốc, xẻng, dép, quần áo, hoa qủa… Pháo Trung Quốc không rớt đúng họ nhưng đúng vào lúc bộ đội Việt Nam đang tiến vào lãnh thổ Thái Lan để truy đuổi tàn dư Khmer Đỏ như một tín hiệu đèn vàng cảnh báo bộ đội Việt Nam “chuẩn bị” để “stop”! Cao Bằng được giải phóng năm 1950 và Cao Bằng được giải phóng năm 1979. Sau 1954, đây là 2 mốc thời gian đáng tự hào của lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam nói riêng và của Cao Bằng nói chung. Thế nhưng, lịch sử Cao Bằng tự hào là địa chí từ thời Thục Phán – An Dương Vương mở nước và dừng hẳn lại ở giai đoạn 1950 tức là Cao Bằng được giải phóng khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp ngày 3 tháng 10 năm 1950 bằng trận Đông Khê – Thạch An chứ không phải tiếp tục tới năm 1979 – 1984 hay về sau. Tại lúc này, bộ Tổng Tham Mưu Trung Quốc ở Bắc Kinh đã triệu hồi hai tướng Xu Shiyou và Yang Dezhi về Côn Minh để rút kinh nghiệm sau khi Trung Quốc và Việt Nam cùng tuyên bố “chiến thắng” năm 1979. Zhang Zhen, Phó Giám đốc PLA (People’s Liberation Army – Quân đội Nhân dân Giải phóng) thành viên trong Bộ Tổng Tham Mưu nhận xét:

– Thứ nhất: Chúng ta bổ nhiệm 2 thượng tướng Xu Shiyou và Yang Dezhi làm Tổng chỉ huy đánh Việt Nam mà không nói tới kinh nghiệm chiến trường của tướng Tư lệnh Quân khu Côn Minh là một sai lầm. Chiến thuật “rừng người” của Yang Dezhi ở tuyến Đông (Cao Bằng – Lạng Sơn – Quảng Ninh) đã bị chiến thuật “du kích” của Việt Nam phá sản dẫn đến con số thương vong cho quân ta trong 2 ngày đầu tới 4000 quân. Lực lượng dân quân của địch ở 6 tỉnh biên giới đông hơn ta tưởng lúc đầu chỉ là 8/2 nhưng bây giờ là 4/2. Họ có thể chống trả mà không cần tới quân đoàn chính quy từ Campuchia được lệnh triệt thoái. Bằng chứng họ đã thừa cơ chúng ta rút quân mà tấn công vào lãnh thổ của ta như Bằng Trường, Hà Khẩu, Đông Hưng, Ninh Minh, Ma Lât Pha… Năm 181 TCN, Triệu Vũ Đế – Triệu Đà của Nam Việt cũng từng đánh qua Quế Lâm và Trường Sa. Năm 1075 – 1076, Lý Thường Kiệt nhà Lý cũng từng đánh chiếm hai châu Khâm Châu và Khâm Liêm của nhà Tống ta. Ngay cả một vua nhỏ được nhà Lý khoan hồng như Nùng Trí Cao cũng từng đánh chiếm 8 châu của hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của ta vào năm 1052.

Thứ hai: Khả năng tình báo và chi tiết hành quân theo bản đồ của chúng ta đã không hợp thời. Địch phản kích đúng vào các vị trí hành binh của ta.

Thứ ba: Sự phối hợp giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng do hai tuyến Đông và Tây không đồng bộ khiến hai tuyến khó hổ trợ lẫn nhau khi bị địch phản công. Sĩ quan và binh lính hai tuyến chẳng đồng thông. Sự tắt nghẽn giao thông vì hai lộ không nhường nhau, các sĩ quan cãi cọ nhau dẫn đến địch thừa cơ phản pháo.

Thứ tư: Chúng ta đánh giá qúa thấp khả năng chiến lược và chiến thuật của Việt Nam. Dù không có Liên Xô chi viện, họ cũng chẳng dễ dàng bị ta áp đảo và không mắc mưu khi chúng ta đánh họ là vì muốn cứu Khme Đỏ chứ không phải hẳn chỉ vì trả thù món nợ máu Lý Thường Kiệt đã tàn sát gần 60 vạn dân trong 3 châu ở biên giới ta vì không đầu hàng nhà Tống Việt Nam.

Thứ năm: Công tác hậu cần chúng ta chưa đạt yêu cầu khi vận chuyển lương thực, vũ khí với quãng đường dài 50 km trực tiếp từ Côn Minh tới đỉnh Lão Sơn thật là bất tiện khi địch đã có thể từ các nơi hiểm yếu tấn công ta bất ngờ.

Bộ Tham Mưu của Trung Quốc hội họp kiểm thảo nhưng không giáng chức Yang Dezhi vì họ rút kinh nghiệm vụ Hoàng Văn Hoan. Khi bị bạc đãi bởi vây cánh trong triều mới, những người “đại công thần” thường chọn đồng minh. Cựu Phó Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Hoàng Văn Hoan đã chọn Trung Quốc chứ không chọn Liên Xô, Đức hay Mỹ vào thời điểm “Chiến tranh Đông Dương lần thứ 3” nổ ra giữa Việt Nam – Campuchia, Việt Nam – Thái Lan và Lào, Việt Nam – Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình để cho các tướng lĩnh tha hồ rút kinh nghiệm. Ông ta kết luận sau cùng:

– Quốc phòng chúng ta lạc hậu, yếu ớt qua một trận chiến 16 ngày năm 1979 đã chứng minh. Việt Nam sử dụng chiến lợi phẩm quân sự từ Mỹ đánh quân đội chúng ta tan tành như các đồng chí đã thấy. Đầu tư quốc phòng là việc làm trước mắt nếu chúng ta không muốn thấy Trung Hoa bị xé lẻ bởi Liên Xô, Việt Nam và Thái Lan.

Lời cảnh báo của vị lãnh tụ tối cao khiến ngân sách nhà nước Trung Hoa được dự kiến đổ vào quốc phòng liên tục trong 15 năm. Ai cũng biết, khi ngành nào được đầu tư, ngành đó sẽ mạnh lên khủng khiếp với ưu khuyết không lường! Sau khi hai cánh quân Trung Quốc rút, những người có cầu vai gắn bông mai vàng hai gạch từ chiến trường Campuchia về. Họ đã tới thị sát 6 tỉnh phía Bắc. Sân vận động Thái Nguyên đầy ắp tù binh độ tuổi học trò của Trung Quốc. Nhìn những khuôn mặt ngơ ngác và gầy guộc của họ, không ai nghĩ rằng họ vừa thi hành tội ác đẫm máu trên đất anh em. Những người lên biên giới thị sát thật sự kinh hoàng khi bước chân vào mảnh đất Lạng Sơn và Cao Bằng. Hai mảnh đất này đã hoàn toàn bị lính Trung Quốc đặt mìn san bằng thành… bình địa! Có người nhận ra đại tá Bùi Tín trong đoàn người thị sát. Ông ta từng có mặt ở Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 1975 với tư cách phóng viên. Ông lên đây quan sát “hậu chiến” cũng với tư cách phóng viên. Trên Báo Nhân Dân, Nhân Dân Chủ Nhật do ông làm Phó, Tổng Biên tập đã ưu tiên hàng loạt bài cho ngày 30 tháng 4 năm 1975 và ngày 5 tháng 1 năm 1979 nhưng lại… khiêm tốn và dè dặt khi nói về chiến thắng vĩ đại chống xâm lược bành trướng này. Việt Nam không thể nào biết rõ những con số thương vong vì chẳng nước nào dám công khai con số thật đến mức không tưởng tượng. Kết qủa của Việt Nam: Tham chiến 27 vạn. 6000 tử, 21.000 bị thương với 2 ngày 17 và 18, tử vong đã là 1700 cũng chỉ là con số được trừ đi. Không ai tính đến hàng ngàn liệt sĩ đã được lính phóng hỏa Trung Quốc… hỏa thiêu! Xưa nay, chiến lược vận động, tuyên truyền đã được các nước nhất là khối Cộng Sản như Trung Quốc và Việt Nam đã tận dụng triệt để. Đó cũng là một trong những nguyên nhân thắng lợi dẫn đến thành lập nhà nước Cộng Sản chuyên chính vô sản! Con số tử thương vượt qúa mức cho phép là không thể được. Họ rút kinh nghiệm từ Mỹ. Con số thương vong của quân đội Mỹ ở chiến trường Nam – Việt Nam lên qúa 400 ngàn đã tạo luồng sóng thần biểu tình. Richard Milhous Nixon, tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ bật đèn xanh vụ Watergate khi dùng quyền tổng thống đàn áp phong trào phản chiến năm 1974 của nhân dân Mỹ, phải từ chức. Phép trừ bắt buộc được triệt để sử dụng ở hai bên Việt Nam và Trung Quốc nếu họ không muốn thấy một Norman Morrison thứ hai tự thiêu để phản đối chiến tranh như ở Mỹ. Những bài hát từ thời Việt Nam – Trung Hoa môi hở răng lạnh của Đỗ Nhuận:

“Việt Nam – Trung Hoa. Núi liền núi. Sông liền sông.
Chung một biển Đông mối tình hữu nghị sáng như rạng đông.
Bên sông tắm cùng một dòng
Tôi nhìn sang đấy. Anh nhìn sang đây!
Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng.
A á! Chung một ý chung một lòng!
Đường ta đi hồng màu cờ cách mạng.
A á! Nhân dân ta ca muôn năm! Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông!”

đã bị khai tử. Những người Việt gốc Hoa trong quân đội được “chiếu tướng” từ trong ra ngoài. Lê Tâm bắt đầu nghiên về phía giải án cho Hoàng Công Hoan và được Tổng Cục Chính trị “cảnh cáo”. Lê Tâm khẳng định ý kiến riêng của mình với bạn bè và ông không cần biết họ thân Liên Xô hay thân Trung Quốc:

– Vua Lê Chiêu Thống hèn yếu mới bị phủ Chúa Trịnh Bồng ép bức. Ông ta đã “cõng rắn cắn gà nhà” cầu cứu nhà Thanh đem 20 vạn quân đánh Việt Nam vào tháng 1năm 1789. Năm 1783, Nguyễn Ánh cũng từng nhờ Giám mục Pigneau de Behaine Bá Đa Lộc mang Hoàng tử Cảnh làm con tin để vua Louis XVI cho quân tiếp viện nhưng quốc hội Pháp bác bỏ. Nguyễn Ánh đi cầu cứu 5 vạn quân Xiêm La của Chất Tri vào cướp bóc và đánh Việt Nam vào ngày 20 tháng 1 năm 1785 ở Rạch Gầm – Xoài Mút. Những tên vua này mới chính là kẻ phản bội. Lê Chiêu Thống tội nghiệt rành rành nhưng Nguyễn Ánh còn xuống chiếu truy phong “Mẫn Đế”! Gia Long phản nòi, phản giống, bất nhân với người cùng một nước rành rành nhưng người ta cũng lấy công “thống nhất” mà xí xóa cho. Hai ông này chẳng có ông nào bị một roi có là của lịch sử và Điều 78 đối với hai ông vua phản quốc này là vô hiệu nghiệm. Ông Hoàng Công Hoan có cầu cứu Trung Quốc mang binh về đánh Việt Nam đâu? Việc ông trốn qua Tàu không giống như Tôn Thất Thuyết bỏ vua Hàm Nghi cho hai con Tôn Thất Tiệp và Tôn Thất Đàm mà chạy tìm con đường cầu giặc. Nếu không có sự “bạc đãi công thần” khi thay triều đổi chúa, nếu không có nghi kỵ nhau và chèn nhau quyền lực chính trường thì không quan chức nào chịu từ bỏ chốn vàng để đến chốn bạc, chẳng ai từ bỏ nơi chôn nhau cắt rún để tha phương cầu thực. Nếu tội bỏ trốn ra nước ngoài là “phản quốc” đáng bị bắn bỏ thì từ 1975 đến nay, hàng triệu người vượt biển chắc phải bị tử hình theo Điều 78.

Một sĩ quan “thân Liên Xô” chỉnh huấn:

– Đồng chí Lê Tâm không rõ là tên phản bội Hoàng Văn Hoan đã tố cáo chính sách của chính phủ ta ngược đãi Hoa Kiều còn hơn Hitle đối với người Do Thái à?

– So sánh hơi qúa! Nhưng sự phá sản của Hoa Kiều vì chủ trương “Xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản” sau 1975 đến nay bằng hai lần đổi tiền và chính sách “Kinh Tế Mới” đó có nghĩa là đuổi khéo họ về nước rồi còn gì? Người Ba Tàu – Chợ Lớn là dân giỏi kinh tế chứ không giỏi ruộng đồng, nương sắn. Tịch thu con trâu, cái cày, người nông dân chết. Tước bỏ cơ sở khinh doanh, đôi tay bán buôn, người Tàu – Chợ Lớn đi… ăn mày! Ông Hoàng Văn Hoan không nói sai nhưng biện pháp phóng đại, ông cũng thuộc loại có học và có… hành. Nhưng thử hỏi, khi đụng chuyện, ai mà không nói thêm, nói bớt có lợi cho mình chứ? Các anh cái gì cũng biết nhưng các anh lại không dám nói nên tôi nói. Tóm lại, Hoàng Văn Hoan cũng là người được chủ nghĩa “Macxit – Leninit” đào tạo nên. Chủ nghĩa nào có lỗ hổng là có mọt chui ra hoặc mối ăn luồn. Con người cần sống nhưng sống như thế nào cho ra Người mới là qúy. Cùng một chế độ, một trường đào tạo nhưng xuất thân khác nhau, lý tưởng khác nhau, mỗi người chọn một cách sống cuối đời khác nhau. Cùng học chung thầy Qủy Cốc Tiên Sinh nhưng Bàng Quyên không thể nào so bằng Tôn Tẩn về tài và đức. Cùng một họ Nguyễn khởi nghiệp nhưng Nguyễn Ánh chẳng thể nào so sánh ngang với Nguyễn Huệ về đức và tài. Những công thần, nghĩa sĩ chọn cuộc sống thanh bạch về vườn ẩn dật như Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm khi chán ngán triều đình. Cũng có kẻ khom lưng chịu làm quan sai cho ngoại bang như Nguyễn Văn Tường, Hoàng Cao Khải, Lê Khâm và các quan lại, tướng lĩnh 13 đời nhà Nguyễn bù nhìn hay thời Cộng Hòa ăn lương Hoa Kỳ. Cũng có người thấy nguy hiểm tính mạng liền vội phản ứng tự vệ bằng cách đào tẩu như những người vượt biển hay tìm cách chạy trốn như Hoàng Văn Hoan. “Đất lành chim đậu” thể hiện rõ trong Tam Quốc Chí. Nếu cao tay hơn, quyền uy hơn, người ta thủ tiêu nhau bằng một liều thuốc độc tiêm vào tĩnh mạch, một viên đạn vào đầu hay dựng một hiện trường tai nạn giả bằng một mệnh lệnh như tai nạn máy bay, tai nạn xe cộ chẳng hạn. Các anh cũng vậy thôi. Sau này, đụng chuyện, các anh không được trọng dụng, các anh sẽ phản ứng như thế nào? Làm thân tắc kè cũng phải có lúc biết màu sẽ hết vì xài nhiều qúa chứ? Chúng ta qua chiếc cầu nào cũng đừng nên rút ván. “Ăn cây nào rào cây nấy” không hay hơn là vặt trụi lá, đốn trơ cành sao?

Người đồng đội chung chiến trường Nam trong Quân đoàn 2 Binh đoàn Hương Giang nhắc nhở:

– Đồng chí không sợ mọi thứ trên người đồng chí sẽ mất sạch vì lời biện minh cho tên phản quốc và nói xấu chế độ ta à?

Lê Tâm cười buồn:

– Tôi nói ý kiến chủ quan cá nhân của riêng tôi thôi. Ai cũng có quyền tự do ngôn luận được ăn, được nói mà. Nói để xây dựng tình người, tình đồng đội chứ có nói để đạp đổ đâu chứ! Chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta tốt đẹp thì sợ gì người ta nói xấu? Cũng như chúng ta không ngán dư luận cho ta “xâm lược Campuchia” vì chúng ta thấy đó là việc cần phải giúp nước người. Giúp người cũng là tự giúp mình thôi! “Vàng thật sợ gì lửa”. Tôi cũng chẳng còn gì để mất thêm. Có mất, tôi mất cái lưỡi nhưng được, cả xã hội được. Nhưng tôi nói thẳng, dù ham sống đến đâu, dù bị dồn đuổi tận cùng, tôi cũng không thèm chạy qua Trung Quốc cầu an. Nếu cần, tôi cũng có thể cầm súng ra biên giới được vậy hơn là “ngồi mát ăn bát vàng” chỉ tay năm ngón.

Sự kinh hoàng lộ trên những nét mặt của những người “phun ra lửa, mửa ra khói” khi nghe Lê Tâm nói một hơi. Có kẻ đã đem câu chuyện hôm nay hặc tấu lên Tổng cục Chính trị. Ai cũng biết số phận Lê Tâm đã được định đoạt từ giây phút này nhưng định đoạt như thế nào, chưa ai rõ và cũng vì anh ta vừa mất hết vợ con. Trong khi đó, trong hành trình tìm lẽ sống trong tự do, có nhiều gia đình đã nằm trong… thiên đường lao tù hay trong… bụng cá!

*

Hải Phòng năm 1983

Chiếc thuyền đánh cá bốn máy rời bến sau khi không thể chờ thêm phút nào nữa. Nó chạy theo địa bàn ra hướng Hải Nam mà chưa bị một trở ngại nào. Một chiếc thuyền nhỏ hơn đuổi sát gần 2 tiếng. Người tài công không vội tăng tốc. Ông coi thử họ muốn gì. Thuyền lạ gần mạn thuyền, ông mới thấy những người trên tàu đều mang AK. Ông khẽ báo:

– Gặp cướp biển rồi!

Người thuyền trưởng ra lệnh:

– Tất cả đàn bà, trẻ em của tài công và chủ thuyền xuống hầm. Đàn ông chúng ta cởi hết áo ra và cứ coi như không có việc gì nhé!

Những tên cướp biển đen thui, râu ria xồm xàm từ thuyền chúng giơ cây hất tấm bạt phủ thuyền Việt Nam. Mắt họ trợn trừng và bối rối khi thấy… 50 người đàn ông trần trùng trục đang bình chân như vại ở trên boong. Người nào cũng đen thui sau nửa tháng trên biển không khác gì bọn chúng. Thấy gặp “thứ thiệt”, tên đầu đảng hất hàm ngụ ý:

– Rút!

Chiếc thuyền cướp vội vã chạy xa. Bởi chúng nghĩ rằng dù 10 tên cướp có nã súng lên thuyền Việt Nam để cướp thì cũng ăn đạn của tới 50 tay súng đang lăm lăm AK trong tay. Họ chẳng có vẻ gì sợ hãi chứng tỏ họ đã chuẩn bị kỹ càng. Ăn cướp là cướp thuyền không có vũ khí chứ. Đợi chúng chạy xa, thuyền trưởng bảo tài công:

– Khi gần đồn công an biên phòng Trung Quốc, anh nhớ chạy cho nhanh! Bây giờ, anh cứ chạy chầm chậm chờ hai thuyền bạn như chúng ta đi đánh cá vậy.

Hai chiếc thuyền sau cũng tới kịp. Chẳng bao lâu, chiếc thuyền nhỏ hơn vọt lên trước. Chiếc trung bình chạy sau cùng. Hai luồng nước xé tung trắng bọt dài như hỏa tiễn bám theo đuôi.

Thuyền trưởng nhìn qua ống dòm. Ông ta kêu lên:

– Chết mẹ! Ca nô công an Trung Quốc!

– Sợ quái gì bọn chúng chứ? Ủi cho chúng rớt xuống biển chơi với thủy tề đi!

– Dại dột! Chú tài công chạy mau lên!

Hai chiếc ca nô xé nước bắn bọt trắng xóa từ Hải Nam phóng hết cỡ đuổi theo 3 chiếc thuyền đánh cá trá hình. Chiếc thuyền nhỏ đằng trước lao như tên bắn. Nó vượt qua hải phận Trung Quốc. Chiếc thứ ba chần chừ… Tài công chiếc thuyền lớn nhất mở bốn máy. Chiếc thuyền to sủi bọt, bắn sóng vọt nhanh như phản lực khiến hai chiếc ca nô Trung Quốc… đứng nhìn theo. Cuối cùng, họ quay lại chiếc thứ ba. Biển hôm ấy êm dịu. Sóng xanh một màu mênh mông vô cùng tận cuối chân trời. Chiếc thuyền bốn máy lao ra giữa biển khơi thì bắt đầu hãm tốc độ. Khối người đàn ông nôn tới mật vàng. Chợt có người phát hiện:

– Cái gì từng mảng trước mặt thuyền mình kìa?

Mọi người nhìn theo và tất cả cùng bủn rủn: Đó là những mảng thuyền bị sóng đánh vỡ nhầu từ bốn phía thành hàng chục mảnh vụn trôi nổi bập bềnh theo sóng… Một người nào đó bật khóc:

– Xong hết 30 người rồi!

Chiếc thuyền bốn máy lặng lẽ vượt qua những mảng gỗ. Họ bắt buộc phải tới điểm đích của họ. Hai tháng lênh đênh. Thức ăn cạn cùng. Không gặp cướp biển. Không gặp bão giông. Gặp tàu Úc cứu hộ. Với họ, đó là những điều may mắn nhất trong cuộc đời vượt biển. Họ phải làm gì để trả ơn đất trời ban cho họ sự may mắn này khi được đến một nơi như họ mong đợi? Đa số bắt đầu con đường cần cù làm ăn. Thiểu số lao vào con đường chính trị chống Cộng Sản vì họ cho đó chính là nguyên nhân! Giáo sư Sử học Trần Nhu vượt biển từ Hải Phòng năm 1981 đã đi theo con đường này và chuyện “thâm cung bí sử” mang tính chất mafia từ thời Lê Đức Thọ đã ngược hướng bay về Việt Nam.

*

Lê Tâm đang trên đường về nhà, cậu em con ông bác gọi. Anh ta là Công an Biên phòng Hải Phòng. Danh sách 30 người vượt biên tại Hải Phòng được anh chuyển cho Lê Tâm:

– Người Đà Nẵng mà cũng ra ngoài này vượt biển ghê thật!

Lê Tâm lướt qua từng tên người. Ông dừng lại ở những người Đà Nẵng: Ngô Văn Hai, Bùi Thị Ngựa và Ngô Kim Cúc. Ông nói gì với thằng em không biết. Lát sau, gia đình bà Hai Ngựa được trả tự do vì: “Ông Ngô Văn Hai chỉ vì giỏi Anh văn nên bị những người chủ tàu thúc ép vượt biên”. Ngô Kim Cúc 23 tuổi nhờ Lê Tâm bảo lãnh mà được trở lại trường Đại học Dược Hà Nội. Tại Hà Nội, sau này, Lê Chấn – sĩ quan Học Viện Cảnh Sát đã gặp Lê Ngọc Duyên với tư cách “anh cả nuôi”. Họ kết hôn năm 1985 cũng là năm Lê Tâm được “khai tử”. Lê Thành Tân ra đời sau đó hai năm vì những năm đầu kết hôn, Lê Ngọc Duyên còn bận thi tốt nghiệp. Ngô Kim Cúc cũng gặp Ngô Phong – sinh viên ngành dược Nha Trang. Cô theo chồng về xứ biển. Cuộc sống những đôi vợ chồng thời trước 1986 nghèo nàn về mọi phương diện. Ngày ngày, họ phải xếp bộ hàng dài cả cây số để chỉ mua được mét vải hay cân thịt mỡ nửa chừng hết hàng phải cuốc bộ về không. Căn nhà xóm Cồn của ông bà Ngô Phúc và con trai Ngô Phong cũng phải chia hai nuôi heo, gà như các gia đình tập thể cán bộ công nhân viên khác. Nhà nào có chiếc xe đạp gióng ngang – đàng dông coi như tài sản. Những bà mẹ già yếu chỉ còn nếu răng nên một khi nấu cơm, con cái dành riêng cho chút cơm độn in ít mì. Nếu độn nhiều mì, lang, tối đó, bà nằm rên đau răng, đau bụng. Nhà Ngô Phong có cô bé tóc vàng. Năm 1979, một lần đi đánh cá, ông Phong lại mang lưới về với… nàng tiên cá: Một cô bé lai mới bốn tuổi có tóc vàng ói như sóng lượn. Không biết người mẹ nào lại bỏ con trên biển giữa xóm Cồn nghèo khổ? Nhưng xóm Cồn có nghèo từ đời này qua đời khác nhưng tình người vẫn như thủy triều lúc đầy lúc vơi, họ thu nhận một con người. Con lai những năm tháng ấy chỉ là món nợ đời mà “đế quốc Mỹ” để lại. Xuất thân từ dòng máu… quân xâm lược, con lai chẳng được học hành đến đâu. Vậy mà, chừng vài năm sau, người ta ùn ùn đi tìm con lai tới tấp. Lúc đầu là con lai trắng. Sau đó, trắng đen gì, họ cũng mua cũng lượm ráo trọi. Nhà nào có con lai trở nên giàu có do mua bán. Con lai không có giá trên học đường nhưng vô giá trong thương mại. Thời gian lạnh lùng trôi qua. Không ai còn nhớ đến Lê Tâm, người từng là “cha nuôi, là ân nhân” của những dòng họ Nùng – Ngô – Lý – Đinh. Ông biến mất từ năm 1985 cũng như qua hai cuộc đổi tiền để “xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản” năm 1975 và 1978, thành phần giàu có nhất là người Hoa – Ba Tàu – Chợ Lớn với hơn 30 nghìn cửa hàng thương mại trù phú đã bị xóa sổ. Sau chiến dịch bài trừ tư sản này, những con lợn, con gà thay cho những thỏi vàng 9999 Kim Định, xuất hiện trong chuồng ngay trong nhà. Cộng vào đó, hàng triệu người đã bước vào “Vùng Kinh Tế Mới” để sau đó bước khỏi vùng thành người… vô sản chân chính và bước vào trang sách thành “con người mới” của chế độ “xã hội chủ nghĩa” – một chế độ tiên tiến nhất trong mọi chế độ!

Bà ngoại không biết ông Lê Tâm – từng có một thời là chồng bà đi đâu nhưng có những mảnh vụn lịch sử biết. Một lần nữa, nó chắp vá cho bà…

*

Thần kinh căng thẳng, Lê Tâm xin phép về Đà Nẵng. Việc làm đầu tiên của ông là bàn với Lý Hai Thơ tức Vương Quỳnh làm giấy ly hôn nhường tài sản cho bà và các con để ngăn ngừa họ bị ảnh hưởng bởi ông. Thật ngạc nhiên, ông không bị kết tội gì cả và được điều lên Bộ Tham Mưu Quân Khu 2 dưới trướng Thượng tướng Tư lệnh Vũ Lập rồi tới Thượng tướng Nguyễn Đức Huy – Quyền Tư lệnh. Chủ tịch Quân uỷ Trung ương Dèng Xiǎopíng – Đặng Tiểu Bình (kẻ thù của “Tứ Nhân Bang” Giang Thanh , Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều và Diệu Văn Nguyên, cũng là “sát thủ” vụ Thiên An Môn đẫm máu) đã dám hy sinh hàng chục nghìn mạng binh lính để yêu cầu một việc đầu tư quốc phòng. Bộ Chính trị há không hy sinh một Thượng tá Lê Tâm để chứng minh một thành ngữ “cháy nhà ra mặt chuột” hay sao? Khi Lê Tâm nhận lệnh chuyển công tác lên miền núi, ở Vân Nam, hơn 500 người H’mông gần biên giới Trung – Lào – Việt được huấn luyện quân sự để đánh khu vực biên giới Vân Nam và Tây Bắc Lào. Cuối tháng 5 năm 1981, Trung Quốc và quân đội Việt Nam ở biên giới lại đụng nhau ở đỉnh đồi 400 Fakashan ở huyện Cao Lộc – Lạng Sơn – nơi pháo đài Đồng Đăng chứng kiến 200 công an C1 đã hy sinh và chỉ còn 6 người thoát chết vào năm 1979. Hội Chùa Tà Và tháng 4 âm lịch hằng năm ở xã Chi Lăng bị ảnh hưởng chiến trang nên lễ cầu mưa, cúng tế vì thế cũng bớt vui. Các nhà báo chiến trường hỏi Lê Tâm đã nghĩ gì khi lính Trung Quốc lại kéo sang, Lê Tâm thành thật:

– Không bất ngờ như năm 1979. Quân đoàn 2 chủ lực ở Campuchia đã rút về kịp thời để bảo vệ vùng biên và thủ đô. Bộ đội và dân quân địa phương mình đã trả đũa bằng cách tấn công qua biên giới huyện Malipo của Vân Nam hay các khu tự trị Koulin, Bằng Tường, Ninh Minh, Hà Khẩu và Đông Hưng. Trả đũa xong rồi rút về như thời Lý Thường Kiệt đánh chiến Châu Ung và Châu Liêm nhà Tống chứ mình dám chiếm đất nó sao? Giỏi quân sự và mưu lược như Quang Trung cũng phải chờ thời cơ khi cưới được công chúa nhà Thanh rồi mới nói chuyện tiến đánh lại chiếm hai châu Lưỡng – Quảng. Trung Quốc không chịu thua, họ tấn công lại ở Hữu Nghị Quan vào các đồi 820, 636 bằng hàng chục ngàn qủa pháo các loại. Quân địch đông, chết nhiều, bị thương lắm nhưng cũng không chiếm được chi. Chỉ thương lớp lính trẻ, cứ mỗi một trận tấn công nhỏ hay lớn, thật hay quấy nhiễu cũng đều nằm xuống hàng trăm. Có khi nhìn thấy cả đoàn 450 xe tải đạn của Trung Quốc chạy quanh sườn núi mà ta có chận được đâu! Khi gần nhau 500 m hay chỉ 5-6 mét mới biết là ta và địch đang đối diện với tử thần. Hai Tiểu đoàn trưởng của hai Trung đoàn 313 và 345 hy sinh tại chỗ vì giao chiến qúa gần.

Ông có kể bao nhiêu nhưng các nhà báo ghi chép chăm chỉ nhưng sau đó, vẫn chẳng có tờ nào dám phát sóng về những trận chiến sau 1979 đến 1984.

*

Mùa xuân Giáp Tý về với đồng bào Tây Bắc vào cuối tháng Giêng, đầu tháng Chạp với mùa hoa đào, hoa mận bắt đầu hé nụ và nở trắng tươi khắp một dải trời phía Bắc. Bên này sông Lô đang vào mùa nước xanh trong tận đáy. Đèo Mã Pí Lèng cao trên 2000 mét hùng vĩ uốn lượn cùng dòng sông Nho Quế hiền hòa như sợi chỉ kéo qua lòng người một khoảng khắc nhớ mãi không quên. Người H’mông đang sống trên tận đỉnh trời chót vót giữa một vùng bát ngát núi cao chập chùng. Những người con gái H’mông đầu đội những chiếc mũ như dũng sĩ núi Vạc đầy những sắc màu quyến rũ đang lắng nghe những chàng trai làng thổi những điệu sáo H’mông trong trẻo như chim hót, hào hùng như suối chảy và rền rè như giọng những con ngỗng trời tỏ tình. Mùa xuân là mùa hẹn hò của những người con trai trên nương và những người con gái dưới rẫy. Cô gái núi rừng Tây Bắc – Phìn Síu xinh đẹp đã chọn tiếng sáo H’mông của chàng trai tuấn tú mắt xếch họ Khìn và họ có những cuộc hẹn hò trên núi đá cheo leo. Đêm đến, chàng Khìn Rịn lần mò đến nhà mái rong được che khuất bởi cây hoa đào nở trắng. Anh thổi một điệu sáo H’mông mà nàng thích. Âm thanh ngây ngất từ tiếng sáo gởi tình chàng đến lòng thiếp khiến cô gái đẹp nhất bản làng ngồi dậy. Nàng mở cửa sổ và… cánh tay lực lưỡng của chàng đã kéo nàng xuống. Chàng đưa nàng về nhà mình cho bố mẹ làm lễ quét phép. Người hàng xóm Vàng Châu làm chứng lễ cướp vợ và họ ở với nhau đến 3 ngày sau. Chàng thổi sáo. Nàng hát Then. Những ước mơ lứa đôi vững bền như người H’mông sống chết nơi núi đá. Những khát khao đôi lứa như dòng sông Gâm, sông Lô và Nho Quế muôn đời chuyền nước cho nhau. Những lời cầu xin con gái đẹp như hoa đào, xinh như hoa mận; con trai hùng khí như Tây Côn Lĩnh, Quản Bạ ngất trời. Họ mong mỏi cuộc sống ấm no với xanh trên nương ngô, đồng sắn. Họ hôn nhau và đưa nhau về nhà. Hai họ Phìn – Khìn bắt đầu tổ chức lễ ăn hỏi với con gà trống báo thức ra nương, sợi chỉ màu nối duyên tiền định và chai rượu ra mắt tổ tiên. Lễ cưới rềnh rang với 60 ký thịt gà, 60 ký thịt lợn, 60 bát rượu cần, con gà trống mập ú. Cô dâu đầu quấn khăn xanh màu núi, mặc áo đỏ, váy xòe hoa lóng lánh kim tuyến rực sáng dưới mặt trời. Mùa xuân đang cười trong gió xôn xao trong hai tháng đầu năm trên trời Hà Giang lộng gió ngàn. Họ đã ở với nhau hai tháng hạnh phúc và mầm sống tí hon đã bắt đầu hình thành trong bụng Phìn Síu. Đêm nay, cuối tháng 4, trời không có trăng, không sao như báo hiệu điều gì ghê gớm sắp xảy ra. Hai vợ chồng trẻ Khìn Rịn và Phìn Xíu không ngủ được. Những tiếng pháo dai dẵng qua hai tháng ròng đã đánh động những ước mơ bình yên trỗi dậy. Trời lờ mờ sáng. Núi rừng Tây Bắc sương còn giăng trắng núi. Bản làng chưa ai dậy để đi nương. “Đùng đùng…”. Tiếng pháo từ đỉnh Pha Hàn vang dội. Những đạn pháo 85 ly, 100 ly, 130 ly, 152 ly cùng cối 60 ly, 160 ly rớt về bản làng người H’mông. Chúng đốn gục những cây đào cổ thụ và vùi chôn một số nhà mái rong. Khìn Rịn choàng tỉnh khi nghe đợt pháo đầu tiên. Anh vùng dậy với cây súng kíp cùng vợ chạy ra nhìn chung quanh: Khói bao phủ cả khu rừng xanh lá bạt ngàn. Khói lẫn với màn sương mờ bao quanh triền núi. Bản làng H’mông chìm trong hỗn loạn. Du kích bản vội vã tập kết nhanh chóng trước khi Sư đoàn 313 đến, họ phải tự cứu lấy mình bằng mọi giá.

*

Cao điểm 1509 – Lão Sơn – Núi Đất năm 1984

Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo binh Trung Quốc đang cầm tấm địa đồ vùng Tây Bắc của Việt Nam. Hắn nhận lệnh chiếm Lão Sơn sau khi Sư đoàn 31 thuộc Quân đoàn 2 đánh chiếm đồi 1200 tức Zheyin Shan từ bờ tây sông Lô. Sư đoàn 40, 41 thuộc Quân đoàn 14 và Sư đoàn 49 thuộc Quân đoàn 16 của Quân khu Nam Kinh và Côn Minh lần lượt tiến chiếm các đỉnh 468, 685, 233, 226 từ bờ đông sông Lô. Các đỉnh núi buộc phải chiếm nằm san sát nhau trên một dải núi xanh um nửa tà tà, nửa thẳng đứng. Chang – Yo- Hop chỉ vào bản đồ hành quân tác chiến diễn giải cho với lính của y:

– Đây là mục tiêu chính của trung đoàn chúng ta: Núi Lão Sơn hình chữ U cao 1442 mét so với mực nước biển ở xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Tuyên. Nó có các đồi núi con nằm rãi rác ở bình độ 1800. Nơi này là trung tâm chiến lược phòng ngự của biên phòng Việt Nam khi họ muốn tiến vào biên cương Trung Quốc. Chúng ta chiếm được nó, chúng ta sẽ uy hiếp được thị xã Hà Tuyên. Thế nhưng, muốn lên đỉnh 1800, chúng ta phải qua Ei-Liang và Ma-Sho. Vượt qua bờ lau, cây cối um tùm này và vượt qua hàng rào kẽm gai của Việt Nam ở cột mốc 13 cũng phải mất hơn tháng chuẩn bị. Chúng ta hy vọng lần này không phải chịu tổn thất nặng như năm 1979 vì chúng ta được trang bị áo giáp chống đạn, súng hiện đại 81, pháo lửa H12 và radar liên lạc hiện đại của Mỹ. Nhưng chúng ta hiện nay chưa rõ thực lực của địch nằm ở đâu giữa núi rừng bao la này? Đại đội 1 phải bắn đại pháo mọi nơi để dò xét và rút thật nhanh. Nếu địch phản pháo, radar sẽ nhận tín hiệu trong vòng 3 phút cho ta kết quả địch ở đâu? Cứ thế mà chúng ta… giã chúng như giã gạo! Chiếm được 1509 và 772, chúng ta sẽ chiếm được Hà Tuyên. Rõ chưa?

– Rõ!

Quân Trung Quốc chuẩn bị đâu đó từ ngày 18 tháng 2 năm 1984 tới gần cuối tháng 4. Lúc này, Lực Lượng Đặc Nhiệm Pháo Binh 119 được thành lập ngay trong tháng 4. Họ được tuyển chọn từ đội pháo tinh nhuệ nhất của Đại Quân khu Côn Minh. Họ tin rằng quân đội Trung Quốc hôm nay, sau 5 năm được quốc phòng nâng niu, khác với quân đội Trung Quốc lạc hậu năm 1979 mà quân đội Việt Nam không bao giờ ngờ tới. Gần 6 giờ sáng ngày 28 tháng 4 năm 1984, núi Lão Sơn – Núi Đất nằm dọc theo hướng Tây Bắc với đỉnh nằm ngay đường biên đang tranh chấp địa đồ hai nước Việt – Trung hiện ra trước mặt. Lực lượng Đặc nhiệm Pháo binh Trung Quốc 119 tiến qua Hữu Nghị Quan vào ban đêm mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Đồi 685 và 468 được Bộ tham mưu Vân Nam đánh chéo chỉ cách biên giới 2 km. Vài ngày sau, tiểu đội trinh sát Trung Quốc báo cáo lên cấp trên đầy đủ lộ trình cũng như con số đơn vị tham gia trận núi Lão Sơn của Việt Nam:

– Địch quân có tổng cộng 9 trung đoàn tương đương 3 sư đoàn bao gồm 1 trung đoàn thuộc Sư đoàn 316 – Quân khu 2, 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 356 – Quân khu 1 và 6 trung đoàn độc lập như Trung đoàn Cao xạ 297, Trung đoàn Xe tăng 406, Trung đoàn Pháo 168, Trung đoàn Vận tải 652, Trung đoàn Thông tin 604 và Trung đoàn Pháo binh 754 từ Sơn La.

– Như vậy, tổng số quân địch trên 2.556 nếu tính theo 1 tiểu đội bằng tam tam tam chưa tính tới số quân khác bổ sung.

– Tương quan lực lượng giữa địch và ta coi như tương đương. Chúng ta đã tính sai số. Hèn nào đại pháo của ta diệt chúng không hết. Địch hy sinh hết lớp này lại xung phong đến lớp khác. Nếu lấy tỉ lệ 1 chọi 1, chúng ta e rằng không thắng nổi sự gan lỳ của quân địch.

– Không thể 1 chọi 1. Chúng ta triệt để sử dụng pháo.

Được thủ trưởng Xi An Lưu bật đèn xanh, Chang – Yo- Hop hạ lệnh bắn pháo 10 độ bờ đông sang bờ tây liên tục cho đến viên pháo cuối cùng. Từ 5 giờ 30 sáng đến 3 giờ chiều cùng ngày, Lão Sơn và 20 cứ điểm ở bình độ 662 đã về tay Trung Quốc. Cho Yung Moo không có số phận may mắn như Bùi Quang Thận cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập năm 1975, tên Cho vừa cắm cờ Trung Quốc lên đỉnh 1509, nháy mắt, lá cờ và hắn đổ ập xuống vì bị tay bắn tỉa Việt Nam bắn rụng. Thế mà cờ Trung Quốc sau đó vẫn tiếp tục bay phất phơ trên nóc Lão Sơn hơn 1 tháng rưỡi cho tới ngày 11 tháng 6 thì núi Lão Sơn về tay quân Việt Nam. Nửa tiếng sau, cờ Trung Quốc lại bay trên đỉnh 1509. Lê Tâm nhìn qua óng nhòm. Ông thấy xác bộ đội, dân quân du kích Việt Nam lại nằm lớp lớp trên trận địa còn xác và thương binh Trung Quốc đang được tải ra sau tuyến. Bên kia, pháo 100 ly của Trung Quốc được chôn sâu để chuẩn bị trận mới. Xe vận chuyển pháo Trung Quốc càng lúc càng đông khiến Lê Tâm thất kinh. Ông điện về Quyền Tư lệnh Quân khu 2:

– Có một mõm núi mà bọn Trung Quốc điều động tới 4 sư đoàn. Chúng dùng hỏa lực, ta cũng dùng hỏa lực, e rằng chúng ta tái chiếm không được. Địch đang ở trên cao điểm 152 với 3 trung đội tên lửa. Họ pháo xuống đường tiến quân của ta lên, chúng ta thành thịt băm không cần đóng hộp. Thêm 4 trung đội xe tăng nữa vị chi cũng tới 2500 quân. Ta không có sư đoàn pháo viện trợ e rằng không xong rồi!

– Phải! Đại tá nói đúng. Chúng ta phải chờ viện binh. Lực lượng còn lại chỉ có thể chống chọi trong vòng 1 tháng nếu địch không tấn công dữ dội như lúc đầu.

Viên thượng tướng tập hợp các chỉ huy. Ông phác thảo một tận tấn công mới vào ngày 12 tháng 7:

– Chúng ta theo hướng đông bờ sông đánh tới. Địch sẽ bắn pháo để chúng ta lộ tông tích. Do đó, các đồng chí chỉ huy không được bắn trả lời mà phí đạn. Khi nào tới gần mục tiêu, chúng ta mới nổ súng. Các đồng chí chỉ huy cũng nhớ động viên thương binh cố chịu đau đừng phát tiếng. Chúng ta đánh địch bất ngờ với khoảng cách gần thì xác xuất thắng trận cao hơn là chọi ngang bằng pháo.

Nhận lệnh xong, các chỉ huy về địa điểm ẩn nấp của mình. Họ đã không nhớ là Bộ Tham Mưu đã quên phương tiện liên lạc. Phía Trung Quốc nã pháo hàng loạt nhưng không gặp kháng cự nào, họ yên tâm lăn ra ngủ. Giấc ngủ của họ bị đánh thức bởi tiếng súng M79 và AK và những tân binh với kinh nghiệm chiến trường còn non nớt đã ngủ luôn bằng giấc ngủ ngàn thu. Trong gió, một lá thư từ túi áo một tân binh Trung Quốc vừa bị trúng đạn của bộ đội Việt Nam, bay xuống núi. Có người đọc được vài dòng trước khi nó bị lửa pháo thiêu rụi: ” Ni hao mà ma! Wo men ying le. Wo hen kuài jiu húi qù le!”- ” Mẹ ơi! Chúng con thắng trận rồi. Con sẽ về nhà sớm”. Bên Việt Nam, xác 2 tiểu đoàn trưởng bộ binh và pháo binh còn chưa lấy kịp, họ đã bị đánh bật ra bởi các đại đội pháo 100 ly và súng phóng lửa. Cao điểm 164 từ Việt Nam chiếm lại cũng đã rơi vào Trung Quốc. Các trung đoàn đơn lẻ thuộc các Sư đoàn 316, 312, 356 và Lữ đoàn pháo 168 của Việt Nam tham gia trong trận phòng ngự này đã bị tổn thất khá nặng nề sau gần 3 tháng đụng trận. Trung đoàn 118 của Trung Quốc hơn 200 quân hầu như chỉ còn vài tên. Trung đoàn 96 bị thương gần hết. Phía Việt Nam, Sư đoàn 356 có lệnh giải tán. Sư đoàn chủ lực 313, bộ đội đào ngũ khá nhiều. Tiểu đoàn Tỉnh đội buộc rút lui. Những lá thư từ trong túi các bộ đội Việt Nam cũng qua tay lính Trung Quốc: “Em yêu! Xong trận này, anh sẽ về với em mãi mãi. Chờ anh nhé!”. Xác bạn, xác thù chồng chất vào nhau từ hầm tới hào, từ sườn núi tới chân núi và họ chẳng biết gọi nhau là đồng thù hay đồng chí? Chiến trường không còn chốn chen chân vì xác chết. Trên mỗi xác của bộ đội Việt Nam chỉ còn bộ đồ bội đội và đôi giày. Súng đạn và dây thắt thắt lưng không làm bạn với họ đến phút cuối. Trung Quốc ăn mừng lớn. Hai ngày sau, ngày 14 tháng 7 phía Vân Nam ra thông cáo:

Thông cáo đặc biệt

Bộ chỉ huy Quân khu 2 bộ đội Việt Nam:

Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc xuất phát từ tinh thần chủ nghĩa nhân đạo, cho phép các anh đến tiền duyên trận địa chúng tôi chuyển về những thi hài sĩ quan và binh lính, để an ủi người thân của họ.

Nhân viên sang chuyển thi hài, mỗi lần không được qúa 50 người, thời gian sang chuyển thi hài phải vào ban ngày trong sáng và phải giương cờ chữ thập đỏ, không mang theo vũ khí. Nếu các anh làm đúng theo quy định nói trên, thì Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc quyết không nổ súng, không bắn pháo, và bảo đảm an toàn tính mạng của nhân viên chuyển thi hài.

Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng Vân Nam

Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc

Ngày 16 tháng 7 năm 1984

Tờ thông cáo không chữ ký được truyền đi. Nhận thông cáo, Bộ tham mưu Quân khu 2 truyền lệnh xuống cấp dưới. Chỉ huy trưởng cử 1 đại đội cán binh đi ngay. Không bộ phận nào có được cây cờ chữ thập đỏ, họ đành phải đi tay không với hy vọng “lòng nhân ái” của địch quân không đến nổi hẹp hòi. Đội cán binh đi nhặt xác có hai du kích H’mông. Họ rành địa điểm, hiểu tiếng Trung Quốc và sẽ giải thích vì sao họ thiếu cây cờ chữ thập đỏ. Phìn Síu hồi hộp nhìn theo 60 cán binh đi nhận xác theo cáo thị của Quân khu Côn Minh. Nàng linh tính có điều không may xảy ra nên nói với bố chồng:

– Để con chạy kêu Khìn Rịn quay lại. Không mang theo cờ chữ thập đỏ, chúng nó bắn đó. Coi chừng chúng ta bị mắc lừa!

Nói xong, nàng vụt chạy nhanh như sóc khiến ông bố chồng không kịp ngăn cản con dâu đang mang trong mình đứa cháu nội của ông. Nàng vừa chạy, vừa kêu to:

– Khìn Rịn! Khìn Rịn! Quay lại đi! Quay lạiii..!

Khìn Rịn nghe tiếng vợ gọi. Anh hoảng hốt định kêu vợ quay về nhưng không còn kịp. “Tạch tạch tạch… “. Bọn Trung Quốc đã nã súng vào đoàn người tay không đi nhận xác khiến họ hoảng hốt chạy táo tác. “Rít rít rít… Đùng. Đùng. Đùng”. Hàng loạt pháo lửa từ bên kia đã nã tới tấp vào họ. Lửa áp thật nhanh và thiêu cháy rụi 60 người đang tiến tới trước. Súng lửa khạc qua tràn qua hàng ngàn xác chết vắt từ phía bên kia dốc đến bên này bằng. Không ai còn nghe thấy tiếng hét thất thanh của người con gái H’mông gọi chồng giữa rừng sâu. Không ai có thể đếm được bao nhiêu người đã chết ở nơi đây. Tiếng kèn H’mong trỗi lên ai oán giữa bản làng vào một đêm tháng 7 ngày 12 năm 1984:

Núi rừng bao la có người con gái
Ngồi kết hoa Mua để chờ để đợi ….
Một người thương đang nơi xa vời vợi
Gởi gió mây ngàn cùng suối hát ca
Hơ hờ hớ…
Mùa xuân em chờ
Mùa đông em nhớ…
Từng ánh sao rơi trên suối, trên ngàn
Mặt trời dệt nên muôn vàn câu hát
Hớ hờ hơ…
Người yêu em hỡi! Người ở nơi nao
Núi rừng xôn xao nỗi nhớ vô bờ!
Tháng ngày qua đi tới rừng lá úa
Từng cánh hoa Mua đã tàn đã rụng
Mà người em thương vẫn chưa trở lại
Con tim đợi chờ
Tim hỡi!
Khóc thương ai!

*

Lê Tâm không ở lại Bộ Chỉ Huy với Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Nguyễn Đức Huy mà theo chân các trung đoàn 266, 122 của Sư đoàn 313 – Quân khu 2 chận hướng đông sông Lô và 2 trung đoàn này đã chạm trán với Sư đoàn 40 của Trung Quốc. Lệnh phản công ban xuống cho 3 cấp trung đoàn 141, 174 và 786 tái chiếm cao điểm 1030, Si Cà Lá, đỉnh 233 nhất là 772 và 685 từ Tư lệnh Quân khu 2. Lê Tâm hỏi Phó Tư lệnh vì sao cao điểm 1509 không có lệnh tái chiếm? Vị Tham mưu trưởng không trả lời được. Đang quan sát đỉnh 1509 vì tình báo báo cáo rằng Tiểu đội 190 Trung Quốc ôm đàn ca hát trên đỉnh, tai ông ghe tiếng rít gió trước khi nghe “đùng đùng”, Lê Tâm kêu thất thanh:

– Nó bắn H12! Hướng pháo trúng đâu vậy?

– Báo cáo! Trung Quốc đã thiêu cháy hết 60 cán binh đi lấy xác của ta và đốt cháy hàng ngàn xác liệt sĩ lẫn thương binh.

Lê Tâm và những người thoát được trận nướng thịt từ hỏa diệm sơn 152mmm howitzer của bọn quân khu Côn Minh không khỏi rùng mình. Sư đoàn 313 kịp gặp những bộ đội vừa thoát chết của Sư đoàn 301 Quân khu thủ đô vừa tăng cường. Trung đoàn 692 với những tân binh tuổi vừa đôi chín và thậm chí, có người chỉ vừa mới 17 miệng còn chưa ráo sữa mà vẫn xung phong lên chiến trường Tây Bắc. Màu xanh của núi rừng Tây Bắc trùng điệp đã trở nên màu vàng cháy khô đầy mùi khét của pháo, của súng và của xác người chết hai lần. Những cành cây khô trụi lá giơ nhưng cánh tay khẳng khiu đầy thương tích khắc giữa bầu trời sự tráo trở và thủ đoạn tàn ác của con người – bọn xâm lược dã man! Tiếng Khèn Mèo trỗi lên giữa bản không phải là tiếng kèn đi chợ, hay vui mừng xum họp mà là tiếng kèn tang ma.

Trước đó, trung đoàn trưởng Chang Yo-Hop (Zhang – Yue Zhou), vui mừng báo cáo lên Sư đoàn trưởng là đã tiêu diệt 3700 tên địch. Tư lệnh Xi An Lưu ống nhòm quan sát trận địa rất lâu. Toàn một vùng núi đầy xác chết bộ đội Việt Nam trong các tư thế đứng, ngồi, nằm úp, ngửa, sấp, vắt vẻo, cong queo, gãy tay, cụt giò, đứt đầu, banh ruột. Ông khẽ khàng:

– Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ thấy cảnh mà địch quân chỉ trong vòng mấy chục tiếng đồng hồ đã chết nhiều như vậy mà họ vẫn chưa có dấu hiệu bỏ cuộc!

Quay sang Trung đoàn trưởng Zhang – Yue Zhou, ông ra lệnh:

– Hãy cho bọn Việt Nam đến nhặt xác đồng đội họ về đi!

– Rõ!

Zhang – Yue Zhou nói với Li Hai Ren, Trung đội trưởng Pháo binh:

– Nếu họ tuân theo các điều khoản của chúng ta yêu cầu, đồng chí đừng khai hỏa.

Hắn nói nhỏ hơn như để mình nghe:

– Họ sẽ không tìm đâu ra cờ chữ thập đỏ và thế nào cũng có thằng mang súng kè bên.

Qủa đúng như hắn dự đoán một nửa, đoàn cán binh Việt Nam với 60 bộ đội, dân binh và 2 du kích địa phương bản làng H’mong đã không tìm ra cờ chữ thập nhưng họ không mang vũ khí. Giả như họ có vũ khí, bao nhiêu người đó có thể làm tình thế lật ngược được hay chăng? Không cần suy nghĩ nhiều như vậy, Li Hai Ren đã cho lệnh khai hỏa.

*

Lê Tâm hỏi Trung đoàn trưởng 174 thuộc Sư đoàn 313:

– Tin tức các đơn vị Việt Nam và ngày giờ hành quân cũng như chuẩn bị tấn công đã bị Trung Quốc biết hết. Chúng ta “nuôi ong tay áo” hay “nuôi khỉ dòm nhà” bao giờ vậy?

– Báo cáo, cả ong ngựa cái và khỉ độc đười ươi đực được ta nuôi đã lâu. Chúng ta có gián điệp Trung Quốc nằm vùng lâu lắm rồi. Người H’mông và người Hoa đáng ngờ nhất vì họ rành tiếng Trung Quốc.

Lê Tâm không nói gì. Ông đang nghĩ tới tiếng Khèn H’mông tang tóc trỗi lên bên trên triền núi cao. Bất giác, ông thấy mắt mình cay và ông quay mặt đi như không dám nhìn thấy Núi Đất đang giãy chết! Lát sau, ông điện hỏi Trung đoàn trưởng Bộ binh 982 là đơn vị đã trực tiếp chiến đấu ở đây:

– Lệnh bỏ 1509 do ai ban ra? Tại sao phải bỏ nó khi chúng ta đã hy sinh cà ngàn binh sĩ ở đây để chiếm lại nó từ tay quân Trung Cộng?

Trung đoàn trưởng bối rối. Hình như, anh cũng cùng một câu hỏi như vị Đại tá Tổng cục Chính trị đang trong vai trò “Phó Tư lệnh không quyền kiêm Phóng viên chiến trường Núi Đất” với những câu hỏi không có ai đủ trách nhiệm trả lời trước lịch sử. Anh ta chép miệng than:

– Lữ đoàn pháo 168 cũng có lệnh rút rồi! Chúng ta chỉ có thể lui về cố thủ ở bình độ 1100 trở xuống mà thôi.

Lê Tâm thở dài:

– Chiếm được Núi Đất là điểm huyệt được xương sống Hà Tuyên rồi còn gì! Con cọp khi ăn no rồi, nó sẽ ngủ ngon đến khi đói mới chịu dậy đi săn mồi!

Ông cùng Trung đoàn Bộ binh 982 của Sư đoàn 313 rút lui sau khi tái chiếm rồi được lệnh bỏ cho Trung Quốc để lùi về giữ chốt 1100 trở xuống còn Trung Quốc chiếm từ bình độ 1200 trở lên nên chúng ở thế thượng phong. Lữ đoàn pháo 168 cũng rút. Đánh đấm ở chiến trường núi đồi như ổ ong, dùng bộ binh chỉ là đem bộ đội cho pháo địch nướng thịt. Đánh cao cần pháo. Đánh gần cần quân. Tổ pháo rút có nghĩa là chịu thua. Địch phản pháo theo cho có lệ và hầu như sau đó, con cọp xám lông lá, miệng đầy máu người đã chui vào rừng sâu. Chẳng bao lâu, vị đại tá này đã lĩnh nguyên một mảnh pháo vào đầu khi ông cúi xuống đỡ một thương binh bị pháo tiện đứt một giò đang rên rỉ giữa sườn đồi khi tiến chiếm đỉnh 772. Trung đội trưởng Trung đội 2 Phạm Hữu Tạo thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 876 của Sư đoàn 356 – Quân khu 2 đã bị pháo cày banh xác cùng ba đồng đội khác. Mảnh pháo ghim vào đầu Lê Tâm thật khôn. Nó cắm trúng chỗ mà bạn ông, Đinh Ngọc Đoàn mười năm trước đã trúng. Lê Tâm ngã nhào. Ông lờ mờ thấy: “Cái giếng nước Tổng Chúp năm 1979 ở Cao Bằng tái ức quay tròn trong đầu ông. Ở đó có tiếng kêu khóc của hai mẹ con Lê Cường…”. Những con chim rừng mất chỗ cu ngụ. Chúng kêu thảng thốt trên vùng trời Hà Tuyên bạt ngàn màu xanh giờ đã thành biển lửa. Những con đại bàng núi và kênh kênh không còn được bữa no ăn xác chết. Chúng vội vã trốn khỏi một vùng núi đã bắt đầu quằn quại vì đớn đau lửa bỏng. Người khóc. Núi cũng khóc. Hàng loạt con số tử vong đưa ra chỉ còn là phỏng đoán. Riêng thổ địa, ông biết nhưng chẳng có ai hỏi nên ông cũng không trả lời mãi cho đến sau này. Những bộ đội chốt biên giới đã mãn hạn nhưng vẫn phải cắm mốc ở đó khi chiến sự xảy ra. Phía Hang Dơi, những y, bác sĩ quân y thuộc Trung đoàn 153 lặn lội vòng qua núi đá tránh pháo bên này để vào hang chữa trị cho các thương binh tốt số được tải thương kịp thời. Những người may mắn chưa bị hoại thư được cứu sống và những thương binh không may mắn quằn quại trút hơi thở cuối cùng. Pháo và cối Trung Quốc với đủ loại nổ dòn lúc 3 giờ sáng và chậm lại đến chiều tối. Ít nhất mỗi mỗi cao điểm cũng hứng cà ngàn qủa đạn pháo. Pháo cày trên mặt đất. Pháo xuyên qua cây. Pháo đào huyệt mộ. Vậy mà, phía các bản làng, bộ đội dân quân Việt Nam cứ ẩn mình dưới pháo mà tranh thủ hái chè trên rừng chè 772, kiếm rau tàu bay ở làng Pinh để tự cải thiện bữa ăn trước khi hậu cần tiếp viện cho mắm ruốc. Cuộc sống nơi đẫm máu vẫn cứ phải tiếp tục thể hiện sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

*

Giả Âm Sơn ngày 30 tháng 4 năm 1984

Liao Xilong (Hanyu Pinyin), Sư đoàn trưởng Sư đoàn 31 của Quân khu 2 Lục quân chỉ vào bản đồ nói với chỉ huy các lộ:

– Đây là Gỉa Âm Sơn cao 700 mét thuộc Vân Nam ở cột mốc 9 của chúng ta đã bị Việt Nam chiếm đóng. Nó đang thuộc huyện An Minh. Bổn phận của chúng ta là phải đánh chiếm lại dải núi này. Theo trinh sát của ta từ lòng địch báo cáo là quân địch trấn giữ núi này bao gồm Công an Biên phòng 105, Đoàn 8874, Đoàn 818 thuộc Sư đoàn 31 Hà Tuyên. Các chốt trong 1100 đều có công sự và hào sâu. Các đồng chí sau khi đưa quân vượt qua dây thép gai phải coi chừng các lỗ châu mai trong các sườn núi không lộ thiên. Nữ du kích của địch thường nấp trong đó để bắn tỉa xe tải và xe tăng của ta. Bãi mìn hai địa lôi cài cắm đó đây của địch, lữ đoàn pháo sẽ làm bãi mìn vô hiệu nghiệm. Khi vào được, các đồng chí phải chú ý địch có hàng chục địa đạo mà chúng ta chưa biết địch quân ém binh bao nhiêu trong đó. Các đồng chí muốn biết chính xác thì phải dùng chiến thuật “dương đông kích tây” cho địch lộ nguyên hình và phải chia cắt đội hình địch để dễ đánh. Địch chỉ có pháo 82mm, 62mm, cao xạ, đại liên và rốc két không đáng kể.

– Chúng tôi lo lắng địch có thể sử dụng “vua chiến trường” hay “thần chết” từ chiến lợi phẩm năm 1975 không?

– Các đồng chí yên chí! Pháo M107 175mmm đang ở chiến trường K còn 155mm howitzer cũng không có mặt ở đây. Ta có thể dùng H12 hủy diệt những cao điểm cuối cùng nếu chúng không buông súng. Lọt vào trận địa mà nghe súng bắn một tràng như vãi trấu, vãi đậu là bọn lính mới, ta không ngán. Lính cũ có kinh nghiệm chiến trường nên họ chỉ bắn ba tiếng cầm chừng. Chúng ta đừng nên bắn lại mà lộ vị trí. Các đồng chí cũng đừng chủ quan khi đụng Sư đoàn 313, 314, 345 hay 379 vì dù họ chỉ là sư đoàn kinh tế quốc phòng nhưng cũng thuộc loại thiện chiến của Quân khu 2 Việt Nam khi có dịp… thử tay nghề.

Hanyu Pinyin nhận tin từ tình báo khá chính xác nhưng hắn đã không hề biết “vua chiến trường” đang ở trong tay Lữ đoàn Pháo 368 thuộc Quân khu 1 từ Lạng Sơn sẽ viện trợ nhanh chóng. Trong khi đó, “thần chết” cũng đang là bửu bối của Lữ đoàn Pháo 168 thuộc Sư đoàn 3 đang ở biên giới.

Qủa nhiên, sau kế “dương đông kích tây”, Trung đoàn 818 và Sư đoàn 314 của Việt Nam đã tự lộ vị trí. Lập tức, Trung Quốc tấn công bằng xe tăng, bộc phá chia cắt và bao vây. Tên lửa chống tăng B-72 (AT-3) của quân đội Việt Nam đã không kịp dùng tới. BM 13, BM 21 của Việt Nam chống không lại H12 của Trung Quốc. Sư đoàn 31 của Trung Quốc có sự tăng cường của Sư đoàn 93 cùng pháo từ Sư đoàn 91 với Tiểu đội, Trung đội Công binh, Hóa học, Đội lính phóng lửa cùng đánh sập lô cốt Sài Sơn. Trung Quốc chiếm Sở chỉ huy 1118 và đài quan sát 1043. Giả Âm Sơn (Núi Bạc) và các cao điểm 1250, 1030, Si Cà Lá thất thủ. Những lều bạt của Trung Quốc sau sườn Núi Đất trắng bóc được căng ra. Hàng chục lô hầm đủ sức chứa hàng ngàn quân san sát nhau với những mái nhà hình chóp nằm tà tà lẫn vào cây cối với hàng chục đến hàng trăm xe tải dùng vận chuyển những thứ phục vụ chiến tranh và chiến lợi phẩm. Khi công binh Trung Quốc làm đường, xây dựng sâu trong biên giới Việt – Trung, Sư đoàn 313 của Quân khu 2 ở đấy đã không có hành động “cảnh cáo” nào dù bằng tiếng pháo cho đến khi giao thông đường bộ cho sự tiếp vận thông thương từ Vân Nam kéo sang được thông suốt tại biên giới Việt Nam như chốn không người. Các cao điểm 1172, 772, 226, khu E, 1509 lần lượt lọt về tay Trung Quốc cho đến tận 1991. Một người lính Trung Quốc tham gia trực tiếp chiến trường ở bình độ1100 đã ghi lại cảm giác khâm phục khả năng quân sự của bộ đội Việt Nam ngày tháng ấy bằng tiếng Anh trên quansuvietnam: “I’ve not known E5 until I got it from your map, where there were quite some fierce fightings in December 1984, January and March 1985. That was a large rock hill, very high and steep, where there was nothing like any cave. The soldiers could only hide in some natural gaps. On 85.5.31 during the fighting at 138 (you call it 685), I observed your side with infrared night vision. Just no more than half a minute after I left the viewing place, a 60 cannon-shot you punched arrived and bombed where I just had stayed. Lucky I picked up and brought back my life however you really precisely played your cannon 60. It’s admirable. It was May 1985 that I came to the area, and stayed around 685 for quite some months, so I’m very familiar with there, the 405 I said is in front of 685 with just a few hilltops between, that was captured on 2/Dec/1985 by us. In mid of that December we handed it over to our brother troop and returned for rest. After Chinese New Year in 1986, we went to area NA LA/THANH THUY, however I didn’t go to frontier any longer in Nala and stayed on same position with command post. Finally in Apr. 1986 we handed over all the positions to other troops and never came back.”
(Tôi không biết E5 cho đến khi có được bản đồ của các anh, tại đó có một số trận đánh dữ dội vào tháng 12-1984, tháng 1 và tháng 3 -1985. Đó là một ngọn núi đá lớn, rất cao và dốc, nơi đó không có cái hang nào. Lính chỉ có thể ẩn trong một số khe núi tự nhiên. Ngày 31/5/85, trong trận tại 138 (các anh gọi là 685), tôi quan sát phía các anh bằng kính hồng ngoại nhìn ban đêm. Chỉ không hơn nửa phút sau khi tôi rời chỗ quan sát, một quả đạn 60 của các anh rơi xuống và nổ tung đúng chỗ tôi vừa đứng. May mắn là tôi sống sót, tuy nhiên, các anh chơi với pháo 60 thật là chuẩn. Thật đáng ngưỡng mộ. Tháng 5-1985 khi tôi đến khu vực đó và đóng quanh vùng 685 trong vài tháng, nên tôi rất quen thuộc với vùng đó. Điềm 495 mà tôi nói nằm ở trước mặt 685, chỉ cách vài đỉnh đồi, chúng tôi chiếm được ngày 2/12/1985. Giữa tháng 12, chúng tôi bàn giao nó cho đơn vị bạn và quay về dưỡng quân. Sau Tết 1986, chúng tôi tới vùng Na La/Thanh Thủy, tuy nhiên, ở Nala tôi không đến tiền tiêu mà ở sở chỉ huy. Cuối cùng, tháng 4 năm 1986, chúng tôi lại bàn giao toàn bộ các vị trí cho các đơn vị khác và không quay trở lại nữa.). Hắn là người lính Trung Quốc đã may mắn thoát chết khi tầm ngắm của Thiếu úy Nguyễn Quang Vinh, Đại đội trưởng Đại đội 9 thuộc Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 9, Sư đoàn 307. Tầm ngắm của vị thiếu úy này đã bị cối 160 ly của Trung Quốc chẻ đôi. Hắn cũng là một trong những người lính xâm lược tận mắt thấy hai tiểu đoàn trưởng Việt Nam bị hạ ngay trong đợt đụng sáp lá cà. Nhìn nền viền cấp hiệu màu đỏ tươi và 3 lon vàng cộng 1 sao vàng, lính trận đều biết đó là cấp đại tá lục quân.

Các đợt pháo kích của Trung Quốc được ghi nhận dài theo năm tháng: 6/1980; 5/1981; 4/1983, 4/1984; 12/7 – 20- 21/12/1984; 15 /1 – 8/03/1985; 19-20/7 – 23/9/1985; 28/11/1986 – 19/10/1986; 6/1 – 23/4/1987 và chúng chìm vào quên lãng như người ta đã từng quên nơi đèo Tài Hồ Sìn đã từng có tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45 và không ai còn nhớ sông Kỳ Cùng – Hà Tuyên – Hà Giang đã từng là chứng nhân lịch sử như sông Bạch Đằng thời Ngô – Trần. Một ngày 28 tháng 4 năm 1984 đã qua và năm 1984 cũng đã hết với 2 lần phản công của Việt Nam vào tháng 6/84 và tháng 11/84 hao binh tổn tướng cũng qua đi. Đại tá Lê Tâm biến mất. Có người nói ông đã bị Trung Quốc bắt đi. Có kẻ cho vì ông phát ngôn bừa bãi nên nhân dịp ông bị thương, cấp trên đã chuyển ông đi biền biệt. Có người đồn rằng Lê Tâm đã bị điên và ra quân ngũ sau đó. Jin Hui, Zhang Hui Sheng and Zhang Wei Ming quan sát chiến trường và săn tin tức sau này. Những điệp viên Trung Quốc trước khi bị tóm bởi Việt Nam, họ cung cấp từng chi tiết cho nhóm phóng viên. Họ ghi vào cuốn sổ từng chi tiết một. Cuốn sách có tựa đề: “他说:山崂山,第二次中越战争战役” (Trận Lão Sơn, Chiến tranh Trung – Việt lần 2 – The Battle of Mountain Laoshan, Second Sino-Vietnamese War). Rồi họ cũng quên đi nó cũng như trên cuộc đời không có Đinh Ngọc Đoàn, Lê Tâm và hàng chục vạn oan hồn tử sĩ trong trận lò bát quái năm 1984. Cho đến 1990, Trung Quốc bắn pháo tím phát tín hiệu rút binh. Cuộc chinh phạt trường chinh 10 năm đã trở thành bước ngoặc lịch sử câm nín. Các hãng thông tấn lớn nhất thế giới như Associated Press (AP) của Hoa Kỳ, Agence France-Presse (AFP) của Pháp và Reuters Group plc (Reuters) của Anh ảnh hưởng bởi lệnh cấm vận của Hoa Kỳ nên cũng im tiếng về cuộc chiến 1979 – 1990. Những người lính Trung Quốc sau năm 1979 đã hồi ký: “上图]在79对越自卫反击作战结束后,我凯旋回国的炮兵部队从广西的友谊关入境。沿途群众夹道欢迎.” – Năm 1979 khi hoạt động tự vệ ở Việt Nam kết thúc chiến thắng, tôi trở về đơn vị pháo binh từ cổng Quảng Tây hữu nghị. Nhân dân dọc theo con đường chào đón nồng nhiệt.”. Thế nhưng sau đó, những người chỉ huy của họ năm 1979 lần lượt được Đặng Tiểu Bình cho vào tù như một kiểu “binh thua chém tướng”. Ở Việt Nam, mộ liệt sĩ chống Trung Quốc vẫn còn ở Đạo Đức – Vị Xuyên nhưng họ không được đi vào trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam cho đến khi lịch sử được viết lại trong tương lai. Kết luận cho sự im lặng của lịch sử này, Dương Danh Dy – cựu Bí thư thứ nhất trong Đại Sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh, biện minh: “Chúng ta không nói lại chuyện cũ là vì nghĩa lớn, chứ không phải vì chúng ta không có lý, không phải vì người Việt Nam sợ hãi hay chóng quên.”. Không ai hiểu nổi “nghĩa lớn” ở đây là nghĩa gì? Những người có học, hiểu lẽ đời nở nụ cười nhếch mép. Nếu vì “nghĩa lớn” mà quên lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm Trung Quốc năm 1979 – 1990, thôi hãy quên luôn lịch sử đấu tranh chống giặc phương Bắc và chỉ để lại chống Pháp, Nhật và Mỹ. Hay tốt nhất, chúng ta cũng vì “nghĩa lớn” mà xóa trắng luôn các thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm là xong. Lịch sử trắng bóc nhưng trắng vành khăn tang! Tư tưởng của Lê Tâm đi trước thời đại. Ông cũng đi “tiên phong” trong vụ việc mất tích một cách bí mật vì tư tưởng vượt thời gian của mình tại Hà Tuyên. Người anh em song sinh Hà Tuyên sau tháng 8 năm 1991 đã được tách đôi để về với cái tên gọi Hà Giang và Tuyên Quang. Mười năm sau nữa, vương triều Hà Giang có một vị tiểu vương họ Nguyễn. Ông ta cầm đầu tiểu triều đình nhưng đắm say trong tửu sắc dâm loạn đã làm ô uế cả vương quốc Hà Giang anh hùng. Trên giảng đường Đại học Quốc gia TP HCM, nhà sử học Trần Nhu sau khi trình bày luận án Tiến sĩ với chủ đề: “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” đã vỗ ngực ăn chắc 100%: “Với luận án tiến sĩ này, tôi thách thức các nhà nghiên cứu các nước, kể cả Trung Quốc, có một đề tài xác lập chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa của các nước ấy trước năm 1909 mang tính khoa học được như tôi”. Phát ngôn viên Bộ ngoại giao Nguyễn Phương Nga ngày đêm hùng hồn khẳng định: “Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Tư lệnh Hải quân Phó đô đốc Nguyễn Văn Hiến đã kêu gọi ngư dân tiếp tục đánh cá bình thường trừ… những nơi có lính Trung Quốc đóng giữ: “Bà con hoàn toàn không nên lo lắng, tàu Hải quân đi vòng quanh Biển Đông, sẽ cấp cứu tất cả tàu gặp nạn”. Đáp trả lại, Trung Quốc bắt thêm hàng trăm tàu đánh cá Việt Nam. Trong khi đó, Ông Phan Huy Hoàng Chủ tịch Hội Nghề Cá Quảng Ngãi than thở: “Hiện nay ngư dân Quảng Ngãi vẫn còn bị giam giữ ở nhiều nước, riêng Trung Quốc không còn giữ người nào, có điều họ giữ tàu, qua đấu tranh hoặc nộp tiền phạt thì từng đợt người ta thả người về nhưng vẫn còn giữ một số tàu.”. Ngư dân vẫn lâm vào thảm cảnh cùng cực trong những sự tuyên bố hùng hồn đó. Người ta nghĩ tới thành ngữ của cha ông: “Miệng hùm gan sứa”! Khi lý thuyết không có thực hành, nó thành mớ giấy lộn và khi chân lý không có sức mạnh quân sự bảo vệ, nó thành chân… không! Nếu Lê Tâm còn sống, ông nhất định phải hiểu điều này.

*

Vợ chồng bà Hai Ngựa sau cú vượt biển suýt ở tù đã coi Lê Tâm như vị ân nhân và càng ngày càng thân thiện với căn nhà màu xanh đọt chuối non. Khi con gái có nơi, có chỗ, hai ông bà không tính chuyện giang hồ bôn ba nữa. Ông già vá xe kỳ cựu Ngô Văn Hai không hiểu ăn trúng môn ngứa hay sao bỗng dưng suốt ngày rên rỉ khoái trá bài “Xích lô hành” của Bùi Chí Vinh – cựu bộ đội chiến trường Nam và cựu… tù trại H39:

Tưởng mình ta đạp xích lô

Nào hay phố xá ngựa thồ như nêm.

Buộc cho ta miếng băng đen

Để cho cặp mắt làm quen mù lòa.

Xỏ giàm vào mõm nữa cha

Để cho số tuổi ta già theo răng.

Giật cương đi, hõi mấy thằng

Ê sao nước mắt chợt lăn xuống cằm.

… “Ba đồng một cuốc, mại dzô”

Có con ngựa đực vừa ho vừa gào.

Ta thồ ngang động hoa đào

Thấy dăm kỹ nữ chém nhau giành bề.

Thồ ngang đống rác thúi ghê

Thấy bầy tiểu tử chửi thề giành moi.

Thồ ngang khách sạn em ơi

Chó ngồi ăn nhậu, còn người ăn xin.

… Vá giùm chút bạn hiền ơi

Chiếc xe cà chớn của thời cà chua!

“Thời ca chua” của Bùi Chí Vinh đánh mòn roi da để mà sống. Ông Hai Ngựa ngâm hai câu thơ có chanh của Chí:

“Trọc đầu Bùi làm sao Chí ở

Nhục còn chưa có lấy gì Vinh”.

Tức khí, ông sửa lại:

– Phải như vầy mới ứ nự chứ:

Đầu Bùi trọc lóc, con Chí khóc

Nhục chưa từng nếm, Vinh cóc khô!

Ông khoái trá nên cười ha hả một mình với cái bánh xe xích lô. Một ngày cuối năm 1986, ông Hai Ngựa bàn với vợ:

– Dép cao su bây giờ hết ăn. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp đã chuyển sang kinh tế hàng hóa rồi. Mình có thể làm kinh tế tư bản tư nhân được khi các trạm kiểm soát hàng hóa lưu thông trên đường đã bị dẹp. Nhưng cũng ngán nhất là bọn quản lý thị trường và thuế vụ.

Bà Hai Ngựa cười ngất:

– Vậy thì chúng ta đi buôn dép Lào coi bộ có ăn hơn dép râu của ông và nước mía của tôi. Gặp họ thì coi như chúng ta mua dùm dép Lào cho họ mà không phải trả tiền cho họ mang tới đời chắt, lép luôn hỉ!

– Bà này! Tui đang nghĩ coi mình buôn thuốc tây thử có ăn không. Con Cúc học xong, tôi buôn thuốc tây cho nó mở tiệm bán.

– Tự dưng hồi nào đến giờ, ông đâu có ý định buôn bán gì răng hôm ni lại bắt chước ai?

– “Phi thương bất phú” bà nợ! Bà không thấy tui với bà ôm cái quán này bao nhiêu năm mà trật bà chìa. Mấy cây vàng để dành chôn trụm lụm với chuyến vượt biên hụt bà không thấy răng? Rốt cuộc, mình bị mấy thằng chủ thuyền lừa lấy hết! Thật ngu.

– Không có ông Lê Tâm, nhà mình ở tù mọt gông.

– Mấy năm nay không thấy ông về. Không hiểu tại sao, ông và má thằng Nam chia tay rồi ông đi biền biệt như con Lý Hai Thơ 7- 8 năm rồi cũng chưa thấy nó về.

– Suỵt! Bà cẩn thận mồm miệng bà nợ. Lý Hai Thơ còn chầm chầm đó chớ có đi mô mà về nữa hẻ?

– Ui da! Lỡ mồm ông nợ! Thôi ông đừng tính chuyện bán buôn mà khổ thân. Còn bao nhiêu, ăn bấy nhiêu. Để tôi dọn quán. Dạo này thấy nét mặt bà con ai cũng giãn ra, chắc là cơ hội làm ăn đã tới ông hỉ?

Bà Hai Ngựa nói phải. Nếu đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 năm vào năm 1951 ở Tuyên Quang với nội dung chính là “Cải cách ruộng đất” với sai lầm lớn là tới 70% địa chủ bị oan dẫn đến cuộc di tản năm 1954, Đại hội Đại biểu Đảng Cộng Sản toàn quốc lần thứ 6 tại Hà Nội bù lại với nội dung “Đổi mới” mở cửa để “Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng. Trông Bắc, trông Nam trông cả địa cầu.”. Sau đại hội, người ta nhắc tới những câu phát biểu “chốt” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, người kế nhiệm Lê Duẩn: “Phải đấu tranh chống cái cũ, chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng. Đây là cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong bản thân từng người chúng ta.”. Những tác phẩm nổi tiếng của ông như “Đổi mới tư duy và phong cách”, “Đổi mới để tiến lên” được tung ra khắp nước như món qùa của thời mở cửa và hàng loạt tác phẩm văn học, báo chí đều được bật đèn xanh. Đó là thời kỳ vàng son ngắn ngủi của những người cầm bút với đầy đủ các thành phần như Nguyên Ngọc, Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Mạnh Hảo, Phùng Gia Lộc, Bùi Minh Quốc, Bùi Chí Vinh, Tạ Duy Anh… rồi chìm dần trong bóng tối như ngọn nến lụi tàn. Trong quân đội, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Văn Tiến Dũng, người hùng cuộc chiến 1975 đã không có vé vào Đại Hội Đảng năm 1986. Vậy đại tướng quân nào trong Quân đội Việt Nam “Trí – Dũng – Nhân – Tín – Liêm – Trung” anh hùng hơn tướng Dũng mà đã giành được cái vé chung cuộc của ông? Cũng năm 1986, những cựu sĩ quan đệ tử trung thành của tướng Lê Trọng Tấn ngậm ngùi trong lặng lẽ ngồi đốt nhà giấy cho ông:

– Suốt cuộc đời làm tướng, ông chưa hề có được cái nhà riêng. Nay ông về bên kia thế giới, hy vọng cái nhà này là cái nhà riêng của ông!

Có người gạt nước mắt khóc chữ Liêm. Có người cười cợt vì chữ Trung. Có người hậm hụi tiếc: “Tiền đốt vàng mã bằng mẹ con tui ăn một tháng trời không hết”! Nhân dân hằng ngày vẫn kiện tụng mất đất, mất nhà cho đến khi họ chết, sẽ có người đốt nhà giấy cho họ. Chẳng biết ở dưới âm tào, có lũ trâu bò mặt ngựa nào cướp nhà hàng mã hay không?

– Mẹ ơi mẹ!

Tiếng Định gọi làm bà giật mình. Bà sựt nhớ ngày mai, bố con nó đưa Bình ra Hà Nội. Bà hỏi con:

– Chuẩn bị hết đồ đạc chưa con? Chị Bắc cũng mới vừa tới đây.

– Rồi mẹ! Nhà con có bầu bụng cũng sắp tới ngày đó mẹ. Mẹ nhớ nhắc nhở Hà ăn uống dùm con mẹ nhé!

– Ừ! Tới bệnh viện cũng đừng thắt chặt hầu bao con nợ. Con đi đường nên nhắc nhở nhau cẩn thận nhất là chú ý tới bố Biên. Trộm cướp hoàng hành khắp nơi, hắc đạo cũng lắm.

Định cười:

– Mẹ khỏi lo! Đâu đó như đã là thủ tục! Bố Biên và Tân ai cũng có nghề. Đông nhân lực vậy mà sợ gì chứ! Con mua cho mẹ mấy trái thu đủ, chuối và bơ. Chị Duyên ở nhà xây sinh tố cho mẹ mỗi đêm. Mấy trái cây này nhà con dặn những người ở dưới quê mang lên bán nên không sợ trái cây Trung Quốc tẩm độc đâu.

– Ui! Ăn vào biết mà. Con hiếu thảo mua, độc mấy mẹ cũng ăn.

– Trời! Mẹ nói như nhân vật chỉ có trong kiếm hiệp ấy! Bye mẹ.

Chờ Định đi ra, người mẹ đóng cửa. Bà bước vào phòng. Cơn buồn ngủ kép sập cánh cửa tâm hồn của bà cũng như những mảnh vụn lịch sử đã được ngủ yên chờ ngày luận xử. Có khi, lịch sử gia đình lại đến phiên luận xử bà cũng nên. Bà không làm điều gì ác nhưng sao giấc ngủ cũng chập chờn, chập chờn khúc “Đồng dao cho người lớn” của Nguyễn Trọng Tạo:

có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời

  • CHƯƠNG 1: ĐÁM CƯỚI VIỆT KIỀU

    Hiệp định Genève (Accords de Genève - Geneva Conference) ngày 21tháng 7 năm 1954 đã cắt Việt Nam làm hai mảnh. Hiệp định Paris (Accords de Paix de Paris - Paris Peace Accords) ngày 27…

  • CHƯƠNG 2: SỢI DÂY VÔ HÌNH THẮT CỔ

    Tại khu biệt thự sang trọng ở Trần Phú, ông Lê Chấn vặn thằng con: - Tại sao đám hỏi cả năm rồi mà chẳng thấy anh cả nói gì tới đám cưới với họ…

  • CHƯƠNG 3: TÌNH TRONG CHIẾN LOẠN

    Tháng 3/1975. Những đợt pháo kích của quân Bắc Việt đã nã vào thành phố Đà Nẵng. Dân chúng chạy theo lính ùn tắc các ngã đường nhất là các con đường chạy xuống cảng…

  • CHƯƠNG 4: LÝ HAI THƠ

    Khoa Sản Bệnh viện Đà Nẵng cuối năm 1975 có hai người đang nhấp nha, nhấp nhỏm chờ bên ngoài. Khi cửa phòng sản hé mở, một y tá gọi tên người nhà sản phụ,…

  • CHƯƠNG 5: CÁI CHẾT BÍ ẨN

      Bà mẹ nhìn tờ lịch. Thời gian chẳng bao giờ chịu dừng lại. Bà thấy ngộp thở. Cái ngộp thở sức khỏe đuối theo thời gian không làm bà ngán ngao bằng cái ngộp…

  • CHƯƠNG 6: HÔN NHÂN ĐỊA NGỤC

    Quyên nghiễm nhiên trở thành vị hôn thê của Tân. Cô biết Tân bây giờ ghét cô tận xương tủy nhưng mục đích của cô đã sắp đi tới kết quả cuối cùng: Cái gia…

  • CHƯƠNG 7: HOÀNG HÔN MÀU TÍM

    Ba mươi năm trước. Mùa hè 1973. Quán vá xe đạp bên kia trường Phan Chu Trinh có hai người khách. Anh vào trước. Chị vào sau. Chủ nhật, đường phố Phan Chu Trinh vắng…

  • CHƯƠNG 8: CHA CON

    Ngồi luôn trong phòng làm việc vì ngao ngán trở về nhà, Tân đang nghĩ về những giây phút êm dịu khi ngồi với Hoàng Liên, điện thoại reo. Tân nghe giọng run run của…

  • CHƯƠNG 9: KẺ GIẤU MẶT

    Phòng Cảnh sát Điều tra. Khi Bảo từ Trúc Lâm Viên về lại Bệnh viện Đà Nẵng, hai cậu thanh niên đi chung với vợ Lê Thành Tân đã bị chận lại khi vượt đèn…

  • CHƯƠNG 10: MẢNH VỤN LỊCH SỬ

    Bà ngoại nghe chuyện chiếc rương được chôn theo dì Lý Thu Thủy bị Thái Thị Quyên cho người đào lên mà bủn rủn tay chân. Bà đã hiểu vì sao con cháu ngoại dâu…

  • CHƯƠNG 11: GIẢI ÁN

    Nhận điện thoại từ Hà Nội báo là người bệnh nhân chung phòng của cô đã chết, Bình thẩn thờ... Bệnh viện Huyết Học - Truyền máu TW. Khoa Ung Thư Máu Chiều xuống. Mặt…

  • CHƯƠNG 12: VĨNH BIỆT HOÀNG HÔN

    Nghĩa trang thành phố Lê Ngọc Bình thất thểu đến nghĩa trang lúc trời chập choạng. Cô không biết mẹ con dì Cúc đã đến đây lúc chiều. Trăng rằm chiếu sáng cả khu nghĩa…